Mới đây nhất, ngày 28 tháng 11, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2014, trong đó tại Điều 4 đã nhấn mạnh vai trò của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
====================
NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
THỰC TRẠNG ĐẢNG VIÊN VI PHẠM KỶ LUẬT ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Bá Thịnh
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Ý nghĩa nghiên cứu 7
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mẫu nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 10
7 Khung lý thuyết 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Khái niệm công cụ 12
1.1.1 Khái niệm đảng viên 12
1.1.2 Khái niệm kỷ luật Đảng 12
1.1.3 Khái niệm Ủy ban Kiểm tra 13
1.2 Lý thuyết áp dụng 14
1.2.1 Lý thuyết Hành động xã hội 14
1.2.2 Lý thuyết Sai lệch xã hội 17
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 20
1.3.1 Quan điểm của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng 20
1.3.2 Về nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp (đối với đảng viên) 26 1.3.3 Một số tài liệu về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng 29
1.3.4 Vài nét về tình hình đảng viên ở Hà Nội hiện nay 32
CHƯƠNG 2: CƠ CẤU ĐẢNG VIÊN VI PHẠM KỶ LUẬT ĐẢNG 34
2.1 Quy mô đảng viên vi phạm 34
2.2 Giới tính và độ tuổi 39
Trang 42.3 Nội dung vi phạm của đảng viên 42
2.4 Chức vụ và lĩnh vực làm việc 46
2.5 Địa bàn công tác 50
2.6 Hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm 53
CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN ĐẢNG VIÊN VI PHẠM
KỶ LUẬT 61
4.1 Nguyên nhân khách quan 62
4.1.1 Tình hình kinh tế - xã hội 62
4.1.2 Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng 65
4.1.3 Sự quản lý của Đảng và Nhà nước 70
4.2 Nguyên nhân chủ quan 72
4.2.1 Đảng viên suy thoái đạo đức, lối sống 72
4.2.2 Đảng viên tham ô, tham nhũng, lãng phí 79
4.2.3 Đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 90
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số liệu tổng số đảng viên vi phạm kỷ luật của 4 năm: 38 Bảng 2.2: So sánh giữa lĩnh vực nghề nghiệp và nội dung vi phạm của đảng viên năm 2013 (Đv: số người) 48 Bảng 2.3: Địa bàn công tác của các đảng viên vi phạm kỷ luật đảng theo các tháng 3, 6, 9 năm 2014 (Đv: số người) 51 Bảng 2.4: Đánh giá của cán bộ làm công tác kiểm tra về địa bàn công tác của các đảng viên có vi phạm năm 2014 52 Bảng 2.5: So sánh giữa hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm với lĩnh vực vi phạm của đảng viên, số liệu năm 2011 (Đv: người) 53 Bảng 2.6: So sánh giữa hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm với lĩnh vực vi phạm của đảng viên, số liệu năm 2012 (Đv: người) 55 Bảng 2.7: So sánh giữa hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm với lĩnh vực vi phạm của đảng viên, số liệu năm 2013 (Đv: người) 56 Bảng 2.8 So sánh giữa hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm với lĩnh vực vi phạm của đảng viên, số liệu 6 tháng đầu năm 2014 (Đv: người) 58 Bảng 3.1: Đánh giá của người dân về nguyên nhân chủ yếu đảng viên vi phạm
kỷ luật đảng (Đv: Số người) 62
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 2.1: Số lượng đảng viên vi phạm kỷ luật đảng theo các tháng năm 2014 34 Biểu 2.2: So sánh số lượng đảng viên vi phạm kỷ luật trong 9 tháng của năm
2013 và 2014(đơn vị: Người) 35 Biểu 2.3 : Đánh giá của đảng viên và quần chúng về cơ cấu lứa tuổi của đảng viên vi phạm kỷ luật đảng (Đv: %) 41 Biểu 2.4: Số lượng và nội dung đảng viên vi phạm bị tố cáo của tháng 3, 6, 9 năm 2014 (Đv: số người) 42 Biểu 2.5: Số lượng và nội dung đảng viên vi phạm bị thi hành kỷ luật của tháng 3, 6, 9 năm 2014 (Đv: số người) 44 Biểu 2.6: Đánh giá của đảng viên và quần chúng về Cơ cấu chức vụ của đảng viên vi phạm kỷ luật đảng (Đv: %) 46
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn khẳng định được
vị trí, vai trò là lực lượng lãnh đạo đất nước và nhân dân ta, khẳng định được tính chất của một Đảng cầm quyền Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc Điều này đã luôn luôn được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng và các bản Hiến pháp qua các thời kỳ Mới đây nhất, ngày 28 tháng 11, Quốc hội
đã thông qua Hiến pháp mới (có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2014), trong đó tại Điều 4 đã nhấn mạnh vai trò của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về
xây dựng Đảng hiện nay là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong
đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao
Trang 8cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc ” Mà thực tế, trong bất kỳ giai đoạn nào, chất lượng đội ngũ đảng viên luôn có tầm quan trọng rất to lớn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam Chất lượng đội ngũ đảng viên và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng - nó quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức
cơ sở đảng từ Trung ương đến địa phương Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên Mọi công việc Đảng đều
do đảng viên làm Mọi nghị quyết Đảng đều do đảng viên chấp hành Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện ”
Chính vì vậy, trước thực trạng trên, việc xử lý nghiêm minh các trường hợp đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng đang là yêu cầu bức thiết, cần triển khai nhanh chóng, chính xác, nhằm làm trong sạch Đảng và đội ngũ đảng viên, đặc biệt là củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và đảng viên Đảng ta cũng luôn khẳng định quan điểm xuyên suốt và nhất quán của mình là: kiểm tra, giám sát là một tất yếu, là nhu cầu không thể thiếu đối với hoạt động của Đảng, từ đó xác định rõ mục tiêu, ý nghĩa, vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát và việc giữ gìn cũng như thi hành kỷ luật trong Đảng; nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp đã luôn được bổ sung, hoàn thiện qua mỗi kỳ Đại hội, để phù hợp với nhiệm vụ từng giai đoạn cách mạng Đảng ta đã nhấn mạnh: kiểm tra, giám sát là chức năng và phương thức, nội dung lãnh đạo quan trọng của Đảng, không có kiểm tra, giám sát thì coi như không lãnh đạo Để khái quát về tình hình vi phạm của đảng viên và vấn đề thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm, tác
Trang 9giả chọn đề tài“Thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng trên địa bàn
thành phố Hà Nội hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp chương trình Cao học
2 Ý nghĩa nghiên cứu
2.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu đề tài là quá trình vận dụng những tri thức, những phương pháp nghiên cứu, hệ thống lý thuyết và một số khái niệm xã hội học nhằm tìm hiểu thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, lấy đó là cơ sở thực nghiệm
và kiểm chứng lý thuyết Từ đó, tác giả kiến giải những nguyên nhân đảng viên vi phạm kỷ luật đảng giúp đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế những tiêu cực trên để xây dựng Đảng bộ Thành phố Hà Nội ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Việc nghiên cứu thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng phục vụ trực tiếp công việc chuyên môn hàng ngày của tôi tại cơ quan, giúp tôi có thể tổng hợp được các số liệu liên quan, tạo thành một tài liệu tham khảo về nghiệp vụ kiểm tra
- Nghiên cứu đề tài này cũng góp phần làm mọi người hiểu hơn về ngành nghề và công việc kiểm tra Đảng, từ đó nâng cao nhận thức của mọi người về vấn đề xây dựng Đảng ta hiện nay
- Qua việc chỉ ra những dấu hiệu vi phạm của một bộ phận đảng viên hiện nay, góp phần giúp các đảng viên có ý thức phấn đấu, giữ gìn phẩm chất,
tư tưởng lập trường kiên định, không mắc phải các điều đảng viên không được làm
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ cấu đảng viên vi phạm kỷ luật đảng theo: số lượng, độ tuổi, giới tính, chức vụ, nghề nghiệp, địa bàn công tác, nội dung vi phạm và hình thức bị kỷ luật
- Phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng một bộ phận đảng viên
vi phạm kỷ luật Đảng
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu, mẫu nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay
4.2 Khách thể nghiên cứu
- Cán bộ của cơ quan Uỷ ban Kiểm tra các cấp thuộc Đảng bộ thành phố Hà Nội, bao gồm 2 cấp: quận/huyện/thị xã, phường/xã/thị trấn
- Đảng viên (trên địa bàn Hà Nội)
- Người dân Hà Nội
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: từ tháng 11/2013 đến tháng 9/2014
- Phạm vi không gian: địa bàn thành phố Hà Nội
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu các tài liệu, báo cáo của nhiệm kỳ 2010-2015
4.4 Mẫu nghiên cứu
- Mẫu định lượng: 320
+ 160 mẫu dành cho cán bộ làm công tác kiểm tra Đảng các cấp
+ 160 mẫu dành cho đảng viên và quần chúng nhân dân, trong đó cơ cấu mẫu như sau:
Trang 11Khách thể Cấp huyện Cấp xã
- Mẫu định tính: 22 mẫu
+ Đối với Uỷ ban Kiểm tra quận uỷ/huyện uỷ: 05 mẫu
+ Đối với Uỷ ban Kiểm tra đảng uỷ phường/xã: 05 mẫu
+ Đối với đảng viên: 05 mẫu;
+ Đối với người dân: 07 mẫu
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, bao gồm chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử được vận dụng một cách cụ thể, khách quan và chặt chẽ
Trong nghiên cứu này, vấn đề được đặt trong bối cảnh toàn đảng, toàn dân, toàn quân ta đang quán triệt sâu sắc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, việc kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đối với đảng viên có dấu hiệu vi phạm ngày càng trở nên quan trọng Xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng, đối tượng nghiên cứu của đề tài được tiếp cận từ mục tiêu làm trong sạch đội ngũ đảng viên, nâng cao uy tín, chất lượng và sức chiến đấu của Đảng, góp phần thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 4
5.2 Phương pháp nghiên cứu xã hội học
5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Sử dụng các tài liệu như Tạp chí Kiểm tra Đảng, Tạp chí Xây dựng Đảng, một số báo cáo của cơ quan Uỷ ban Kiểm tra về công tác kiểm tra, giám sát đảng viên có dấu hiệu vi phạm để xác định số lượng đảng viên vi phạm, nội dung đảng viên hay vi phạm, hình thức đảng viên vi phạm bị kỷ
Trang 12luật Đồng thời có số liệu để so sánh số lượng, nội dung vi phạm, hình thức kỷ luật qua các năm
5.2.2 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu trưng cầu ý kiến
Đây là đề tài nghiên cứu trường hợp, dung lượng mẫu là 160 phiếu dành cho cán bộ làm công tác Kiểm tra Đảng tại quận uỷ/huyện uỷ/thị ủy và
đảng uỷ xã/phường/thị trấn
Phương pháp lấy mẫu là ngẫu nhiên thuận tiện
Phiếu trưng cầu ý kiến được xây dựng nhằm làm rõ những nội dung cơ bản là: thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, bao gồm số lượng, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, địa bàn công tác, nội dung vi phạm, hình thức bị kỷ luật khi vi phạm và những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này
5.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Tiến hành phỏng vấn sâu một số cán bộ làm công tác kiểm tra tại nhiều cấp và địa bàn khác nhau để lắng nghe ý kiến đánh giá của họ về thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng hiện nay, qua đó hiểu và phân tích chính xác hơn về các kết quả định lượng thu được
Đồng thời phỏng vấn sâu một số đảng viên và người dân trên địa bàn
Hà Nội để có cách đánh giá khách quan về thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Những đảng viên nào thường vi phạm kỷ luật Đảng? Họ hay vi phạm
ở những nội dung, lĩnh vực nào?
- Những nguyên nhân nào khiến đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Đảng viên vi phạm kỷ luật đa số là nam giới, giữ các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong cơ quan Họ thường vi phạm nhiều trong lĩnh vực quản lý đất đai, nhà ở, tài nguyên môi trường, đầu tư xây dựng
Trang 13- Hành vi vi phạm kỷ luật Đảng của đảng viên chủ yếu là do nhiều đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi sai trái
7 Khung lý thuyết
Quy mô đảng viên vi phạm Giới tính và độ tuổi Nội dung vi phạm Chức vụ và lĩnh vực làm việc Địa bàn công tác Hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm
Đảng viên vi phạm kỷ luật
- Đảng viên suy thoái đạo đức, lối sống
- Đảng viên tham ô, tham nhũng, lãng phí
- Đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm đảng viên
Theo Điều lệ Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam (được Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XI thông qua ngày 19 tháng 1 năm 2011), có định nghĩa đảng viên như sau:
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng
Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện : thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng (Điều 1)
Đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng là việc đảng viên không tuân theo hoặc Iàm trái Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệ, quy định của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội mà đảng viên là thành viên
1.1.2 Khái niệm kỷ luật Đảng
Kỷ luật là hình thức phạt đối với người hoặc tổ chức vi phạm kỷ luật Trong một tổ chức, khi có đối tượng vi phạm những điều đã quy định thì tổ chức có thẩm quyền áp dụng hình thức kỷ luật đối với đối tượng đó
Trang 15Theo đó, trong Đảng cũng có các hình thức kỷ luật được quy định tại Điều 35 Điều lệ Đảng Việc thi hành kỷ luật trong Đảng được hiểu là các tổ chức đảng có thẩm quyền được quyền thi hành kỷ luật đối với các tổ chức đảng và đảng viên có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: kỷ luật của Đảng ta là kỷ luật sắt, nghĩa là nghiêm túc và tự giác
1.1.3 Khái niệm Ủy ban Kiểm tra
Ủy ban Kiểm tra là cơ quan kiểm tra, giám sát chuyên trách của Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Việt Nam (từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở), thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam; tham mưu, giúp Ban Chấp hành các cấp chỉ đạo thực hiện nhiệm
vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng
Ủy ban kiểm tra các cấp do cấp ủy cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy
Cơ cấu tổ chức và số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra:
- Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương: Số lượng từ
9 đến 11 ủy viên, trong đó có 2 ủy viên kiêm chức; riêng Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh số lượng từ 13 đến 15 ủy viên; Thanh Hóa, Nghệ An số lượng
từ 11 đến 13 ủy viên (do tỉnh ủy, thành ủy quyết định) Trường hợp đặc biệt thì cấp ủy trao đổi với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương để báo cáo Ban Bí thư xem xét, quyết định Các ủy viên chuyên trách gồm: Chủ nhiệm, từ 2 đến 3 Phó Chủ nhiệm và một số ủy viên Trong đó, 1
ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy làm Chủ nhiệm và một cấp ủy viên làm Phó Chủ nhiệm Thường trực (riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành phố
Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy Thanh Hóa, Nghệ An từ 3 đến 4 phó chủ nhiệm) Ủy viên kiêm chức gồm: Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban Tổ chức của cấp ủy là cấp ủy viên và Chánh Thanh tra tỉnh, thành phố
Trang 16- Ủy ban kiểm tra của cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy: Số lượng từ
7 đến 9 ủy viên (do cấp ủy quyết định): trong đó đồng chí Chủ nhiệm là ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy, từ 1 đến 2 Phó Chủ nhiệm (Phó Chủ nhiệm Thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên chuyên trách; 2 ủy viên kiêm chức gồm Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban Tổ chức là cấp ủy viên và Chánh Thanh tra cùng cấp (nơi không có Chánh Thanh tra cùng cấp là đồng chí Phó
Bí thư của cấp ủy trực thuộc)
- Ủy ban Kiểm tra đảng cấp ủy cấp trên cơ sở: Số lượng từ 5 đến 7 ủy viên (do cấp ủy cấp trên cơ sở quyết định), trong đó, đồng chí Chủ nhiệm là
ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy, có từ 1 đến 2 Phó Chủ nhiệm (Phó Chủ nhiệm Thường trực là chuyên trách) và một số ủy viên chuyên trách Ủy viên kiêm chức gồm đồng chí Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban Tổ chức là cấp ủy viên
và Phó Chánh Thanh tra cùng cấp (nơi không có Chánh Thanh tra cùng cấp là đồng chí Phó Bí thư hoặc Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra đảng ủy trực thuộc)
- Ủy ban Kiểm tra đảng ủy cơ sở: Số lượng từ 3 đến 5 ủy viên (do đảng
ủy cơ sở quyết định), trong đó đồng chí Phó Bí thư hoặc ủy viên Ban Thường
vụ, Thường trực cấp ủy làm Chủ nhiệm Trường hợp không có Ban Thường
vụ cấp ủy thì đồng chí Phó Bí thư làm Chủ nhiệm; Phó Chủ nhiệm là cấp ủy viên hoặc đảng viên Các ủy viên khác có thể là cấp ủy viên hoặc đảng viên phụ trách công tác đoàn thể, Bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân Ủy ban Kiểm tra của đảng ủy cơ sở xã, phường, thị trấn; những tổ chức cơ sở đảng trong cơ quan và doanh nghiệp có từ 300 đảng viên trở lên thì bố trí 1 ủy viên chuyên trách làm Phó Chủ nhiệm
1.2 Lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết Hành động xã hội
Max Weber khẳng định: Hành động xã hội là đối tượng nghiên cứu của
xã hội học “ Hành động là một thái độ của con người (tự có, bên ngoài hoặc
Trang 17bên trong, cho phép hoặc không cho phép) khi và chỉ khi chủ thể gắn liền với thái độ của mình một ý nghĩa chủ quan nhất định” Ông đã phân biệt hành động xã hội với những hành vi và hoạt động khác Nói tới hành động xã hội là nói tới việc chủ thể gán cho hành vi của mình một ý nghĩa chủ quan nào đó
Hành động, kể cả hành động thụ động và không hành động được gọi là hành động xã hội khi ý nghĩa chủ quan của nó có tính đến thái độ hành vi của người khác trong quá khứ hiện tại và tương lai Ý nghĩa chủ quan đó định hướng cho hành động Như vậy không phải hành động nào cũng có tính xã hội
Tóm lại Weber tổng quát định nghĩa: hành động xã hội là hành động được chủ thể gán cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác và vì vậy được định hướng tới người khác trong quá trình thực hiện nó
M Weber phân loại hành động xã hội ra làm 4 loại:
- Hành động duy lý công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất
Ví dụ: Hành động của anh kỹ sư xây dựng cầu Mục đích của anh ta là xây dựng được một chiếc cầu với chất lượng tốt và giá thành thấp nhất có thể Anh ta sẽ tìm mọi cách để đạt được mục đích trên Như vậy những hành động của anh ta để hoàn thành chiếc cầu đó là hành động duy lý công cụ
- Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện bởi bản thân hành động Là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ phương tiện duy lý
Ví dụ: Một số hành vi tín ngưỡng Hành động một người thuyền trưởng sẵn sàng chết với con tàu của mình khi nó bị đắm Người thuyền trưởng này
tự nguyện chết chung với con tàu của mình không phải vì tiếc con tàu đó mà
Trang 18là giữ gìn danh dự của mình Như vậy hành động của người thuyền trưởng này nằm ở bản thân hoạt động đó chứ không phải vì thứ khác
- Hành động duy cảm: là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặc tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ phương tiện và mục đích hành động
Ví dụ: hành động của đám đông quá khích hay hành động do tức giận gây ra Khi bị kích động bị người khác làm cho tức giận chúng ta thậm chí có đánh nhau, thậm chí còn giết người
- Hành động duy lý truyền thống là hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán, đã được truyền lại từ đời này qua đời khác
Ví dụ: Các lễ hội, lễ tục trong cưới xin, ăn hỏi…tất cả những cái đó đều
là những thói quen quan niệm của người xưa cố nhân, và chúng ta phải tuân theo từ đời này qua đời khác
Xã hội học nghiên cứu hành động xã hội thực chất là tập trung vào nghiên cứu hành động duy lý công cụ
M Weber phân tích sự thay đổi về vai trò và xu hướng của hành động xã hội để chỉ ra điều kiện tiến trình phát triển lịch sử xã hội hiện đại phương Tây
Thành tố đầu tiên là động cơ và mục đích của hành động Nhu cầu của chủ thể tạo ra động cơ thúc đẩy để thỏa mãn nó Động cơ này sẽ tạo ra tích cực của chủ thể tham gia định hướng hành động, và quy định mục đích của hành động Các động cơ này cũng hướng các hành động xã hội đến việc đạt được những mục đích nhất định hay đến điều kiện sống và làm việc, điều kiện hoạt động nói chung
Yếu tố thứ hai là chủ thể hành động Chủ thể có thể là cá nhân, nhóm hay toàn thể xã hội
Một thành tố nữa trong cấu trúc hành động xã hội là hoàn cảnh hay môi trường của hành động Đó chính là những điều kiện về thời gian, không gian,
Trang 19vật chất và tinh thần của hành động Hành động xã hội đó diễn ra trong hoàn cảnh nào, ở thời điểm nào, diễn ra như thế nào Giữa các yếu tố đó có mối quan hệ hữu cơ với nhau
Vận dụng lí thuyết hành động xã hội vào việc phân tích, xem xét hành
vi vi phạm kỷ luật Đảng của đảng viên là xuất phát từ bối cảnh kinh tế xã hội,
xu hướng hội nhập và toàn cầu hoá khiến cho một bộ phận không nhỏ đảng viên bị thoái hoá biến chất, lạm dụng chức trách, nhiệm vụ được giao; mặc dù những đảng viên vi phạm này biết và hiểu rõ về nguyên tắc, điều lệ Đảng nhưng họ vẫn cố tình có những hành vi vi phạm tinh vi, khó phát hiện để nhằm mục đích mưu lợi cho cá nhân
1.2.2 Lý thuyết Sai lệch xã hội
Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội là một hiện tượng đa dạng và phức tạp Nó tồn tại ở mọi nơi, trong tất cả các giai đoạn phát triển của xã hội loài người Đặc biệt, ở giai đoạn diễn ra những biến đổi xã hội sâu sắc thì hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội lại càng phát triển Nó phong phú hơn về biểu hiện, phức tạp hơn về nguyên nhân, gây ra những tổn thất nặng nề hơn cho xã hội, khó khăn hơn về phương thức khắc phục
Trong giai đoạn hiện nay, khi nước ta đang thực hiện chính sách đổi mới trên mọi lĩnh vực của cuộc sống, cùng với việc đạt được những tiến bộ xã hội đáng kể cũng nảy sinh khá nhiều hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, mà biểu hiện rõ rệt nhất là các tệ nạn xã hội như tham nhũng, buôn lậu, mại dâm, nghiện hút, cướp của, giết người…Đảng và Nhà nước đã đưa ra nhiều biện pháp để ngăn chặn và phòng ngừa tình hình này Nhưng thực tế, các tệ nạn xã hội vẫn diễn ra trên phạm vi rộng hơn và ngày càng tinh vi hơn
Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội đựơc nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu như xã hội học, tội phạm học, tâm lí học, giáo dục học, đạo đức học và có sự thống nhất tương đối khi đưa ra định nghĩa về hành vi sai
Trang 20lệch chuẩn mực xã hội Theo họ, hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội chính là những hành vi lệch chuẩn, hành vi không đựơc xã hội chấp nhận Như vậy, có thể hiểu hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội là bất kỳ hành vi nào không phù hợp với sự mong đợi của nmột nhóm hoặc của xã hội Nói cách khác, hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội hay còn gọi là hành vi lệch chuẩn là hành vi chệch khỏi các quy tắc, chuẩn mực của nhóm hay của xã hội
Để xác định một hành vi có phải là lệch chuẩn hay không, trước hết phải xác định đựơc các quy tắc văn hoá của xã hội (nhóm) mà chủ thể hành vi đang sống Trên cơ sở đó xác định mức độ phù hợp giữa hành vi của cá nhân (nhóm) với quy tắc đó Một hành vi cá nhân (nhóm) bao giờ cũng là một hành
vi xã hội Nó có thể là bình thường hay lệch chuẩn tuỳ thuộc vào giá trị của
nó đối với xã hội
Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội có tính tương đối về văn hoá và lịch
sử Có những hành vi có thể được thừa nhận là đúng đắn trong nền văn hoá của xã hội này, nhưng lại bị coi là lệch chuẩn nếu so với nền văn hoá khác Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội không thể quy vào một hành động mà là
“một hệ thống những hành động: hoạt động, cách ứng xử của con người, lối sống” Khái niệm chuẩn mực xã hội bao trùm lên mọi hoạt động của con người trong đời sống xã hội nên khái niệm hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội cũng rất rộng Nó lớn hơn khái niệm vi phạm pháp vì pháp luật chỉ là một loại chuẩn mực xã hội phù hợp mà thôi
Có nhiều cách phân chia các loại hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội dựa vào các tiêu chí khác nhau Dựa trên mục đích của hành vi, R K Merton đã phân loại hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội thành hành vi lầm lạc chỉ sự sai lệch khỏi cái đã được coi là bình thường và đúng đắn Những người thực hiện hành vi này không có ý thay đổi giá trị của chuẩn mục mà đơn giản chỉ là sự
vi phạm chuẩn mực vì những mục đích cá nhân mà thôi Dựa trên chủ thể
Trang 21hành vi, có thể chia hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội thành hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội tập thể và hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội cá nhân Hành
vi sai lệch chuẩn mực xã hội ở cấp độ tập thể là hành vi của cả tập thể đi lệch khỏi chuẩn mực xã hội, ví dụ như cả tập thể cùng tham ô, cùng buôn lậu…Còn hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội ở cấp độ cá nhân là những hành
vi của cá nhân nhất định Hậu quả của hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội do tập thể thực hiện bao giờ cũng nghiêm trọng bởi nó đã góp phần vào việc giảm bớt đi đáng kể cảm giác tội lỗi của mỗi cá nhân thực hiện hành vi và phá
vỡ trật tự xã hội ở phạm vi rộng hơn Căn cứ vào loại chuẩn mực mà hành vi của các nhân vi phạm, có thể chia thành các loại hành vi sai lệch chuẩn mực
xã hội sau: Các hành vi sai lệch về luật pháp và các quy tắc sinh hoạt công cộng ( nội quy, quy chế, ), các hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức, các hành
vi sai lệch chuẩn mực thẩm mỹ, các hành vi sai lệch chuẩn mực chính trị Dựa vào mức độ nhận thức và chấp nhận các chuẩn mực đạo đức, có thể chia ra hai loại hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội Đó là hành vi sai lệch thụ động và hành vi sai lệch chủ động Hành vi sai lệch thụ động là những hành vi sai lệch
do không nhận thức đầy đủ hoặc nhận thức sai các chuẩn mực đạo đức nên có những hành vi không bình thường so với chuẩn chung của cộng đồng Còn hành vi sai lệch chuẩn chủ động là những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội
do cá nhân cố ý thực hiện dù họ có thể nhận thức được yêu cầu của chuẩn mực xã hội Căn cứ vào tình chất và mức độ của những sai lệch trong hành vi
cá nhân và hành vi xã hội của trẻ em, một số nhà nghiên cứu (Võ Quang Phúc, Lê Như Hoa, Nguyễn Đức Mạnh…) đã đưa ra những khái niệm: trẻ chưa ngoan, trẻ hư và trẻ phạm pháp ( trẻ làm trái pháp luật) Dựa vào phạm
vi ảnh hưởng đến xã hội, một số nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực tâm lí học, xã hội học, xã hội học truyền thống đã chỉ ra một số dạng tiêu biểu của hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội Đó là những sai lệch trong việc dùng ma
Trang 22tuý, dùng rượu, sai lệch trong hành vi tình dục, hành vi phạm pháp, tự tử Với phạm vi ảnh hưởng sâu rộng hơn, một số dạng hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội được xác định là tệ nạn xã hội,cần có phương hướng ngăn ngừa và khắc phục Trong Sổ tay công tác phòng ngừa tệ nạn xã hội thì tệ nạn xã hội được coi là “những hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực
xã hội (chuẩn mực về truyền thống văn hoá, lối sống đạo đức của dân tộc…và những chuẩn mực đã trở thành qui định của pháp luật) mang tính phổ biến, có
xu hướng phát triển trong xã hội, gây ảnh hưởng xấu về đạo đức và những hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế - văn hoá xã hội của nhân dân”
Có thể kể ở đây một số hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội như mại dâm, ma tuý, cờ bạc, buôn lậu, tham nhũng, hối lộ…
Tóm lại, hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội là hành vi chệch khỏi các quy tắc, chuẩn mực của nhóm hay của xã hội
Áp dụng vào đề tài này, có thể nhận thấy các hành vi vi phạm kỷ luật
Đảng của một bộ phận đảng viên là hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, mà cụ thể là vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, vi phạm nhiệm vụ đảng viên, vi phạm những điều đảng viên không được làm Từ hành vi đó, đã gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội: làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, làm phức tạp môi trường sinh sống của dân cư, gây mất đoàn kết trong Đảng và trong quần chúng
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Quan điểm của Đảng về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật
Trang 23Trong bản "Điều lệ vắt tắt của Đảng" tại Hội nghị thành lập Đảng (2/1930), Mục V đã ghi rõ :"Điều tra các việc"; và Mục IX, điểm c đã ghi:
"Cách xử phạt người có lỗi trong Đảng do Hội chấp hành uỷ viên trong cấp đảng hay đại biểu đại hội định" Điều lệ Đảng chính thức được thông qua vào tháng 10/1930 đã quy định: Trách nhiệm của đảng viên và cán bộ là giữ gìn
kỷ luật đảng một cách nghiêm khắc Tất cả đảng viên đều phải chấp hành các nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, của Đảng đại hội, của Trung ương và của thượng cấp cơ quan… Đối với vấn đề phạm kỷ luật thì do toàn bộ chi bộ hoặc cấp đảng bộ tra xét Các cấp uỷ viên có thể đặt ra đặc biệt uỷ viên để tra xét những vấn đề vi phạm kỷ luật đảng Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ I (10/1935) đã khẳng định :"Cần giữ kỷ luật sắt cho Đảng, những phần tử
đi trái đường chính trị chung của Đảng, của Quốc tế Cộng sản mà không chịu sửa lỗi, những kẻ không phục tùng nghị quyết, Điều lệ, phá hoại kỷ luật của Đảng thì nhất thiết phải khai trừ… "; và quy định hình thức kỷ luật trong Đảng là: "a) Đối với đảng bộ: phê bình, giải tán; b) Đối với cá nhân: chỉ trích, cảnh cáo, tạm thời đình chỉ công tác phụ trách, khai trừ tạm thời hay khai trừ vĩnh viễn…"
Việc kiểm tra các vấn đề chung về chấp hành đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng để đôn đốc, uốn nắn việc chấp hành phải do cấp uỷ
và các ban theo chức năng và phạm vi công tác của mình bảo đảm
Công tác kiểm tra các vụ đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng nhằm vào các
vụ vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, vi phạm kỷ luật đảng, kiểm tra tài chính của Đảng … theo quy định của Điều lệ Đảng, phải do Uỷ ban Kiểm tra Trung ương và các cấp thực hiện
Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo"
Bước vào thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, một số đảng viên vẫn còn dao động, thiếu tin tưởng, nhất là đã xuất hiện
Trang 24nhiều tiêu cực trên mọi lĩnh vực Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) tiếp tục khẳng định các quan điểm về
kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng mà Đại hội V đã chỉ ra, đồng thời nhấn mạnh :"Kiểm tra là một chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện Đó cũng là biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu Mọi tổ chức, từ cơ quan đảng, nhà nước đến đoàn thể quần chúng, mọi lĩnh vực hoạt động từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không có ngoại lệ, đều phải đặt dưới sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền Trung ương Đảng và các cấp uỷ đảng phải nắm chắc công tác kiểm tra, sử dụng kết quả kiểm tra vào việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyết Mỗi cấp uỷ, trong từng thời gian, đều phải có chương trình kiểm tra, tập trung vào những công tác chủ yếu, những đơn vị trọng điểm, sử dụng
và phát huy vai trò của uỷ ban kiểm tra và các ban của Đảng, kết hợp chặt chẽ kiểm tra của Đảng với thanh tra của Nhà nước và kiểm tra của quần chúng; kiểm tra phải đi tới kết luận rõ ràng và xử lý đúng đắn"; về việc thành lập uỷ ban kiểm tra: Điều lệ Đảng Đại hội VI quy định :"Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc, thành phố, thị xã, huyện, quận và cấp tương đương cử ra uỷ ban kiểm tra của cấp mình gồm một số uỷ viên trong ban chấp hành và một số uỷ viên ngoài ban chấp hành Ở các tổ chức cơ sở đảng, đảng uỷ cơ sở được cử uỷ ban kiểm tra"; thẩm quyền thi hành kỷ luật của uỷ ban kiểm tra do Điều lệ Đại hội VI quy định như Điều lệ Đại hội IV và Đại hội V
So với Điều lệ Đảng do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V thông qua thì tổ chức và quyền hạn của uỷ ban kiểm tra các cấp trong nhiệm kỳ Đại hội
VI không có gì thay đổi, nhưng về nhiệm vụ thì có sửa đổi, bổ sung từ nhiệm
vụ "kiểm tra những vụ đảng viên (kể cả cấp uỷ viên cùng cấp) vi phạm Điều
Trang 25lệ Đảng …" sang nhiệm vụ "kiểm tra đảng viên (kể cả cấp uỷ viên cùng cấp) chấp hành Điều lệ Đảng…"
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6/1991) diễn ra trong
bối cảnh có nhiều biến động, diễn biến phức tạp, nhất là bối cảnh quốc tế, những thời cơ và thách thức lớn đan xen vào nhau Đảng đứng trước hai tình huống: tiếp tục giữ vững vị thế của đảng cầm quyền, lãnh đạo hoặc là biến chất, đổi màu, mất quyền lãnh đạo như các Đảng Cộng sản ở các nước Đông
Âu và Liên Xô cũ Trong bối cảnh đó, Đảng ta tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; khẳng định sự kiên định, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, năng lực lãnh đạo Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt đảng Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao…Trong xây dựng Đảng, phải coi trọng các mặt công tác, trong đó có công tác kiểm tra, phát huy đến mức cao nhất hiệu quả của công tác kiểm tra
và giữ gìn kỷ luật, kỷ cương của Đảng Báo cáo chính trị tại Đại hội VII đã yêu cầu: "Tổ chức tốt việc kiểm tra các quyết định của Đảng… Tăng quyền hạn của uỷ ban kiểm tra các cấp, chú trọng kiểm tra việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kiểm tra tư cách đảng viên, kể cả cấp uỷ viên cùng cấp, xem xét và xử lý kỷ luật đảng viên và các tổ chức đảng theo quy định của Điều lệ Đảng"
Trang 26Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (7/1996) đã nêu rõ:
"Một vấn đề được nhấn mạnh trong các văn kiện kỳ này là tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra của Đảng Đề cao trách nhiệm kiểm tra của các cấp uỷ đảng, các ban của cấp uỷ Xác định cụ thể nhiệm vụ, tăng cường quyền hạn và trách nhiệm uỷ ban kiểm tra các cấp… Các cấp uỷ và tổ chức đảng phải trực tiếp kiểm tra và sử dụng các ban để kiểm tra Thông qua kiểm tra để phát hiện nhân tố mới, phát huy ưu điểm, ngăn ngừa và khắc phục khuyết điểm; bổ sung, phát triển hoặc điều chỉnh chủ trương, chính sách… Đồng thời, khẳng định: "Công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Kiểm tra và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng… Các tổ chức đảng, trước hết là các cấp uỷ đảng, Bộ Chính trị và các ban thường vụ cấp uỷ, cần tự mình tiến hành kiểm tra và sử dụng các ban
để tổ chức thường xuyên việc kiểm tra… Củng cố kiện toàn bộ máy uỷ ban kiểm tra các cấp, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kiểm tra về đường lối, quan điểm, pháp luật, kinh tế, về nghiệp vụ và phong cách làm việc Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có phẩm chất chính trị tốt, công tâm, trong sạch, đủ năng lực, kể
cả năng lực kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng"
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/2001) đã thẳng thắn
nhận định: "Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết; chất lượng sinh hoạt giảm sút… Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn lúng túng, chưa đi sâu làm rõ đặc điểm và yêu cầu về sự lãnh đạo của Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền…
Tổ chức chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng và pháp
Trang 27luật của Nhà nước còn yếu" và nhấn mạnh phải: "Tăng cường công tác kiểm tra của các cấp uỷ, của uỷ ban kiểm tra các cấp, tập trung vào các nội dung chủ yếu: thực hiện các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; củng cố đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên" Đồng thời tiếp tục khẳng định: "Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra của Đảng
Trên cơ sở tổng kết 20 năm thời kỳ đổi mới về công tác xây dựng đảng
nói chung và công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng nói riêng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) tiếp tục khẳng định tầm quan
trọng đặc biệt của công tác kiểm tra, đồng thời đã xác định: giám sát là chức năng lãnh đạo của Đảng Tổ chức đảng phải tiến hành công tác giám sát Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát của Đảng; các cấp uỷ đảng lãnh đạo công tác giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát các tổ chức đảng, đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Quy định uỷ ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ: Giám sát cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ diện cấp uỷ cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới
về thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp
uỷ và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương
Bước vào giai đoạn cách mạng mới, rất nhiều vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn và cả lý luận; đối tượng, nội dung, phạm vi, phương thức lãnh đạo của Đảng ngày càng phong phú, phức tạp hơn, đòi hỏi vị trí cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng phải ngang tầm với yêu cầu của nhiệm vụ mới Để có chủ chương, chính sách, quyết định đúng, giải pháp thực hiện tối ưu, kịp thời phát hiện sai sót, phát huy những mặt tích cực và hạn chế tiêu cực thì công tác kiểm tra, giám sát càng quan trọng Kiểm tra, giám sát là nội dung, là khâu
Trang 28không thể thiếu trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Kiểm tra, giám sát là công việc, là nhiệm vụ trực tiếp và thường xuyên của toàn Đảng Công tác kiểm tra, giám sát là: một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng; một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện; biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu Kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt, vừa tự giác vừa nghiêm túc Tất cả đảng viên và các tổ chức đảng phải tự giác chấp hành nghiêm kỷ luật đảng; và đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật thì phải xử lý nghiêm minh, dù ở bất cứ lĩnh vực nào và cấp nào…
1.3.2 Về nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp (đối với đảng viên)
* Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên
Xác định dấu hiệu vi phạm của đảng viên thông qua:
- Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra của các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội
- Tự phê bình và phê bình của tổ chức đảng và đảng viên; việc bình xét phân tích chất lượng đảng viên, tổ chức đảng
- Khiếu nại, phản ánh, kiến nghị của đảng viên và quần chúng
- Phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng đã được kiểm chứng
Nội dung kiểm tra: Kiểm tra dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên; tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên Ủy ban kiểm tra căn cứ chức trách, nhiệm vụ được giao và tính chất, dấu hiệu vi phạm của đảng viên để kiểm tra
* Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý
và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách
Trang 29của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương
Nội dung giám sát đối với cấp ủy viên và cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý:
- Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, của cấp ủy cấp trên và cấp mình, pháp luật của Nhà nước
- Việc giữ gìn đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương
- Về tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên
Đối tượng giám sát: Cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý, kể cả bí thư, phó bí thư và tổ chức đảng cấp dưới
* Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc
đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật Căn cứ vào kết quả kiểm tra, đề nghị của tổ chức đảng và kết luận của cơ quan pháp luật, nếu thấy đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì ủy ban kiểm tra quyết định theo thẩm quyền hoặc
đề nghị cấp ủy xem xét, quyết định kỷ luật
* Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ
* Giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng
* Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp
ủy cùng cấp
1.3.2 Về việc thi hành kỷ luật trong Đảng
Đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời
- Đối với đảng viên chính thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ;
- Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo
Trang 30Thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm:
- Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao)
- Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng
bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới
- Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý
- Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp vi phạm nhiệm vụ do cấp uỷ giao
- Ban Thường vụ cấp uỷ quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ chuyên môn được giao
- Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên
Bộ Chính trị
- Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên,
kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; khiển trách, cảnh cáo Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên
Trang 31- Uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp; quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý và cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp
- Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định
- Đảng viên giữ nhiều chức vụ bị kỷ luật cách chức thì tuỳ mức độ, tính chất vi phạm mà cách một hay nhiều chức vụ
1.3.3 Một số tài liệu về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng
Trong những năm qua, vấn đề nâng cao chất lượng công tác kiểm tra nói chung và thi hành kỷ luật đảng viên nói riêng đã được các cấp ủy, UBKT các cấp quan tâm trao đổi Tựu trung nổi lên năm vấn đề nghiên cứu chủ yếu sau:
Loại vấn đề thứ nhất, gồm những chuyên luận bàn về vai trò, tác dụng
của công tác kiểm tra Chẳng hạn, TS.Trần Trung Quang: Kiểm tra - khâu chủ
yếu trong phong cách phương pháp lãnh đạo , Tạp chí Nghiên cứu lý luận số
2/1989; TS Lê Tiến Hào: Công tác kiểm tra của Thành ủy Hà Nội trong giai
đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ lịch sử; Các công trình này đã phác họa,
làm rõ vai trò của công tác kiểm tra, với tư cách là kiến thức nền, gián tiếp và liên quan đến công tác thi hành kỷ luật đảng
Loại vấn đề thứ hai, chủ yếu các bài báo khoa học của các tác giả công tác
trong ngành kiểm tra đã đề cập đến Chẳng hạn, Xuân Phong: Bàn về chất
lượng trong công tác kiểm tra, Tạp chí Kiểm tra, số 2/1995; Lê Trung Thu: Bàn về dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, Tạp chí Kiểm tra, số
2/1998…
Nhìn chung các bài báo này tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về khái niệm đảng viên có vi phạm và phân tích luận giải, so sánh các trường hợp vi phạm với nhau
Trang 32Loại vấn đề thứ ba, các tác giả đi sâu nghiên cứu phương pháp thẩm tra, xác
minh Chẳng hạn, đề tài khoa học cấp ngành do Nguyễn Anh Liên làm chủ
nhiệm: Cơ sở lý luận, thực tiễn đổi mới và nâng cao hiệu quả thẩm tra, xác
minh trong công tác kiểm tra của Đảng (mã số KHBDD), Hà Nội, 2000-2001
Nghiên cứu theo hướng này cung cấp phương pháp giúp các cán bộ kiểm tra
dễ dàng hơn trong quá trình tiếp nhận và xử lý những đảng viên có vi phạm
Loại vấn đề thứ tư, liên quan đến vấn đề tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm
vụ của UBKT các cấp, ví dụ như của TS Đặng Đình Phú: Nhận thức lại tư
tưởng của V.I.Lênin về bộ máy kiểm tra của Đảng, Tạp chí Xây dựng Đảng,
số 5/199; GS.TS Nguyễn Thị Doan: Tăng cường công tác giám sát trong
Đảng, Tạp chí Cộng sản, số 11/2014
Loại vấn đề thứ năm, chủ yếu các chuyên luận đề cập đến vai trò, nội
dung, cơ chế phối hợp giữa các ban, ngành có liên quan, tạo điều kiện cho
UBKT các cấp hoàn thành nhiệm vụ, như: Lê Văn Giảng: Mấy suy nghĩ về
mối quan hệ giữa kiểm tra Đảng và Thanh tra Nhà nước, Tạp chí Thanh tra,
Trang 33+ Quyết định số 68-QĐ/TW, ngày 21/03/2012 của BCH Trung ương ban hành Quy chế giám sát trong Đảng
+ Quyết định số 77-QĐ/TW, ngày 10/4/2012 của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Cơ quan Uỷ ban Kiểm tra Trung ương;
+ Quyết định số 321-QĐ/TW, ngày 06-8-2010 của Bộ Chính trị ban hành Quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư ;
+ Quy định số 55-QĐ/TW ngày 10/01/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên;
+ Hướng dẫn số 11-HD/UBKTTW ngày 24/3/2008 của Ủy ban Kiểm tra Trung ương thực hiện Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15/10/2007 của Bộ Chính trị về xử lý kỷ luật đảng viên;
+ Hướng dẫn số 07-HD/KTTW ngày 11/9/2007 của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương thực hiện “Quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ” (ban hành kèm theo Quyết định số 58-QĐ/TW, ngày 7/5/2007 của Bộ Chính trị
- Các báo cáo hàng tháng, quý, năm về công tác kiểm tra, giám sát của
Uỷ ban Kiểm tra cấp quận/huyện/thị xã, xã/phường/thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội
- Các bài đăng trong Tạp chí Kiểm tra, Tạp chí Xây dựng Đảng về kết quả thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong thời gian qua
Tuy có rất nhiều tài liệu liên quan đến công việc của Uỷ ban Kiểm tra các cấp, nhưng việc có một nghiên cứu cụ thể về thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng là một hướng đi mới, nó vừa mang tính cụ thể, lại vừa mang tính tổng hợp Tuy nghiên cứu này chỉ tập trung ở một số trường hợp, chưa mang tính toàn diện nhưng cũng là một tài liệu hữu ích cho những người
Trang 34làm công tác chuyên môn và là một tài liệu tham khảo cho những người muốn tìm hiểu về công tác kiểm tra của Đảng
1.3.4 Vài nét về tình hình đảng viên ở Hà Nội hiện nay
Trong bối cảnh thực dân Pháp tập trung khủng bố dữ dội phong trào yêu nước và cách mạng, để củng cố xây dựng tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng, Thành bộ Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập (giữa năm 1929) liền bắt tay vào việc tuyên truyền và lãnh đạo quần chúng đấu tranh để củng cố tổ chức thêm vững mạnh
Sau sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (ngày 03/02/1930), ngày 17/3/1930 tại nhà số 42 phố Hàng Thiếc (là nơi ở của đồng chí Đỗ Ngọc Du, đồng thời là trụ sở của Xứ ủy Bắc Kỳ), Ban Chấp hành lâm thời của Đảng bộ Thành phố Hà Nội được thành lập, gồm 03 đồng chí: Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Ngọc Vũ và Lều Thọ Nam Đồng chí Đỗ Ngọc Du làm Bí thư Xứ ủy Đông Dương Cộng sản Đảng Bắc Kỳ kiêm Bí thư Thành ủy Hà Nội
Cuối tháng 4/1930, đồng chí Đỗ Ngọc Du được Trung ương điều đi công tác nước ngoài Tháng 6/1930, đồng chí Trần Văn Lan, Ủy viên Trung ương Đảng triệu tập cuộc họp ở 177 phố Hàng Bông để tổ chức lại Thành ủy Thành ủy Hà Nội được chính thức thành lập do đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ là
Bí thư đầu tiên của Đảng bộ Hà Nội cùng 02 ủy viên là đồng chí Lê Đình Tuyển và đồng chí Đỗ Danh Cưu Văn phòng Thành ủy do đồng chí Tạ Quang Sần phụ trách
Quá trình thành lập Đảng bộ thành phố Hà Nội là quá trình đấu tranh gian khổ, những chiến sĩ cách mạng phải vượt qua và chiến thắng nhiều khó khăn, trở lực, đặc biệt là sự khủng bố ác liệt của kẻ thù Việc thành lập Đảng
bộ Hà Nội là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa to lớn đối với phong trào cách mạng của cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng Sự kiện này gắn bó chặt chẽ, là kết quả trực tiếp của phong trào yêu nước, phong trào công nhân ở Hà
Trang 35Nội trong những năm sôi sục của cuộc vận động thành lập Đảng Nó biểu hiện
sự lớn mạnh của phong trào cách mạng của nhân dân Hà Nội, đánh dấu một thời kỳ đấu tranh mới của Hà Nội, có sự lãnh đạo trực tiếp của đội tiên phong của giai cấp công nhân Những đảng viên đầu tiên của Đảng bộ Hà Nội là những thanh niên yêu nước, trưởng thành trong từng bước đi của cách mạng Việt Nam, được rèn luyện và đào tạo từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng lao động và trở thành những chiến sĩ cách mạng tiêu biểu, những đảng viên cộng sản trung kiên, anh dũng chiến đấu cho lý tưởng cao cả
là độc lập tự do của dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân
Sau khi mở rộng địa giới hành chính Thủ đô ngày 01/8/2008, Đảng bộ
Hà Nội có 58 Đảng bộ trực thuộc (10 Đảng bộ quận, 19 Đảng bộ huyện, thị, 5 Đảng bộ Khối, 21 Đảng bộ cấp trên cơ sở và 03 Đảng bộ cơ sở trực thuộc Thành ủy); có 2.955 tổ chức cơ sở Đảng, 17.432 Đảng bộ bộ phận, chi bộ trực thuộc cơ sở với 367.340 đảng viên Đến nay, Đảng bộ Hà Nội có 59 Đảng bộ trực thuộc (12 Đảng bộ quận, 18 Đảng bộ huyện, thị xã, 5 Đảng bộ Khối, 21 Đảng bộ trên cơ sở, 03 Đảng bộ cơ sở trực thuộc Thành ủy), có 2.920 tổ chức
cơ sở Đảng, 375.058 đảng viên Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng gắn với
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và thực hiện tốt việc kiểm điểm tự phê bình và phê binh theo Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI; thực hiện tốt việc sắp xếp cán bộ, công tác quy hoạch, đào tạo, luân chuyển cán bộ lãnh đạo được thực hiện bài bản, hiệu quả Hết năm 2013 đã tiến hành luân chuyển 229 cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý, giới thiệu cán bộ ứng cử, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại 730 cán bộ Tiến hành đào tạo được 1.957 cán bộ tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị, 8.323 cán bộ tốt nghiệp trung cấp lý luận chính trị, 26 cán bộ bảo vệ thành công luận án tiến sĩ,
80 cán bộ tốt nghiệp thạc sĩ trong và ngoài nước, 1.210 lượt cán bộ được cử đi học tập ở nước ngoài, tổ chức 05 lớp nguồn làm công tác Đảng với 448 học viên và 3 lớp nguồn công chức cấp xã với 273 học viên
Trang 36CHƯƠNG 2: CƠ CẤU ĐẢNG VIÊN VI PHẠM KỶ LUẬT ĐẢNG 2.1 Quy mô đảng viên vi phạm
Hàng tháng, thông qua báo cáo công tác tháng của Uỷ ban Kiểm tra Thành uỷ, ta có thể nắm được số lượng đảng viên vi phạm kỷ luật đảng theo các tháng Để mang tính đại diện cho tình hình của một năm vừa qua, trong luận văn này, chủ yếu tác giả sẽ phân tích cơ cấu đảng viên vi phạm dựa trên
số liệu báo cáo của tháng 3, tháng 6 và tháng 9 năm 2014
Biểu 2.1: Số lượng đảng viên vi phạm kỷ luật đảng theo các tháng năm 2014
6 là 71 và 60 người, các tháng còn lại không có gì đột biến Tháng 1 và tháng
6 là hai tháng mà Uỷ ban Kiểm tra các cấp đang chuẩn bị báo cáo công tác 6 tháng và báo cáo năm vì thế mà đa số các đơn vị đều không đi thực tế kiểm tra giám sát Ở những nơi nào mà tinh thần tự phê bình và phê bình chưa cao, lợi dụng những thời điểm nhạy cảm như trên để vi phạm thì số lượng đảng viên vi phạm sẽ tăng lên đáng kể như chúng ta nhìn thấy trên biểu đồ
Trang 37Bên cạnh đó, để thấy được sự biến đổi về quy mô đảng viên vi phạm kỷ luật trong thời gian gần đây, chúng ta có bảng so sánh sau:
Biểu 2.2: So sánh số lượng đảng viên vi phạm kỷ luật trong 9 tháng của năm
2014, chỉ có duy nhất một tháng có sự ngang bằng về số đảng viên vi phạm kỉ luật (tháng 8), và có 2 tháng 1 và tháng 6 là có số đảng viên vi phạm kỷ luật trong tháng của năm 2014 cao hơn so với năm 2013 Mặc dù vậy thì trong 2 tháng đó số đảng viên vi phạm kỷ luật của năm 2014 tăng không đáng kể so với năm 2013 (tháng 1 là từ 58 lên 71, tháng 6 là từ 45 lên 60) Nhưng ngược
Trang 38lại thì số đảng viên vi phạm kỷ luật trong các tháng đều giảm rất nhiều so với năm 2013 điển hình là tháng 3 và tháng 5 có thể thấy trên biểu đồ tháng 3 của năm 2014 so với năm 2013 đã giảm tới 53.8% tháng 5 của năm 2014 so với năm 2013 đã giảm tới 50.7%
Như vậy ta có thể thấy một tín hiệu đáng mừng là số lượng đảng viên vi phạm kỷ luật qua các năm đang có chiều hướng giảm và cũng qua kết quả so sánh trên ta có thể nhận định rằng sau hơn một năm thực hiện nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng nhận thức trách nhiệm và tính tự phê bình của đảng viên đã được nâng cao Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một
số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” (NQ-12/NQ/TW) được thực hiện trong năm 2012 đến nay đã đạt được những kết quả nhất định
Sau khi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đi vào cuộc sống, chúng
ta thấy rằng: nhận thức về công tác xây dựng Đảng nói chung, tự phê bình và phê bình nói riêng trong cán bộ, đảng viên được nâng lên đáng kể Qua việc
tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết và các chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn của Trung ương đã góp phần củng cố, nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong tư tưởng và hành động của các cấp ủy đảng, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên Hiện nay, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên của Đảng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng trước quần chúng nhân dân Cấp ủy đảng các cấp
và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thấy rõ sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn Đảng để Đảng ta ngày một trong sạch, vững mạnh hơn, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập quốc tế Mỗi cấp ủy đảng và cán bộ, đảng viên phải thấy được trách nhiệm của mình trước vận mệnh của Đảng, của dân tộc từ đó đề cao ý thức tự giác trong việc học tập, thực hiện Nghị quyết của Đảng
Trang 39Các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên viên phải nghiêm túc kiểm điểm, phê bình và tự phê bình, chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của mình, của đồng chí mình để sửa chữa, khắc phục Thông qua việc chuẩn bị báo cáo kiểm điểm, báo cáo giải trình của tập thể, cá nhân một cách kỹ lưỡng
và được bổ sung, hoàn thiện nhiều lần, phải tiếp thu ý kiến đóng góp của các
tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên từ đó nhận ra sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa, có ưu điểm thì cần phát huy Qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình thẳng thắn, chân thành trên tinh thần đồng chí đã tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng; trong nội bộ có sự hiểu biết, cảm thông và chia sẻ với nhau hơn; nhiều người đã nhận dạng rõ hơn, sâu sắc hơn những biểu hiện của
sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm cơ sở để mỗi người đánh giá ưu điểm, khuyết điểm mình chính xác hơn
Trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các cấp ủy có thêm nhiều kinh nghiệm phong phú từ cơ sở trong chỉ đạo thực hiện các nghị quyết về công tác xây dựng Đảng Qua chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, các cấp ủy đảng từ Trung ương đến các địa phương đã rút ra được một số kinh nghiệm trong công tác xây dựng Đảng nói chung, trong chỉ đạo việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình trong Đảng nói riêng Từ đó, phát hiện nhiều điển hình tiên tiến, nhiều cách làm hay để nhân rộng ra khắp cả nước
Có thể nói rằng nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) là một nghị quyết quan trọng, có tính lâu dài, cấp bách, cần thực hiện thường xuyên, liên tục ở các cấp ủy đảng, chứ không chỉ thực hiện một sớm một chiều là có kết quả ngay Việc thực hiện nghị quyết này không chỉ trong một nhiệm kỳ mà cần thực hiện trong nhiều nhiệm kỳ tiếp theo vì nó đưa ra những giải pháp đúng đắn, kịp thời Thực hiện nghị quyết Trung ương 4 phải nghiêm túc, không chỉ
sơ sài, câu nệ, làm cho có hình thức Có như thế Đảng ta mới lấy lại uy tín
Trang 40trong lòng của nhân dân, mới được nhân dân mến yêu, tin tưởng, mới tiếp tục vai trò của một Đảng cầm quyền
Bảng 2.1: Số liệu tổng số đảng viên vi phạm kỷ luật của 4 năm:
kỷ luật, giám sát Đảng của Thành ủy Hà Nội