1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lỗi sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt

105 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về lỗi cũng đã được nhiều tác giả quan tâm tới, trong đó không thể không kể đến các công trình nghiên cứu như: luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn năm 2001 của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-***** -

TRỊNH CÔNG MINH

LỖI SỬ DỤNG GIỚI TỪ TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

Hà nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-***** -

TRỊNH CÔNG MINH

LỖI SỬ DỤNG GIỚI TỪ TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC

Mã số: 60 22 02 40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN KHÁNH HÀ

Hà nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công

bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trịnh Công Minh

Trang 4

Do thời gian có hạn, Luận văn khó có thể tránh khỏi những thiếu sót,

em rất mong nhận được những đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn để Luận văn được hoàn thiện hơn Qua đó, em sẽ có thêm những kiến thức bổ ích để thực hiện tốtt việc giảng dạy và những công trình nghiên cứu tiếp theo

Hà nội – 2014 Tác giả

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

trang

Trang 6

1.2 Lỗi và một số vấn đề lý thuyết liên quan 23

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG GIỚI TỪ TIẾNG

ANH CỦA NGƯỜI VIỆT

33

Trang 7

2.1 Đối tượng và phương thức khảo sát 33

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC LỖI SỬ

DỤNG GIỚI TỪ TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI VIỆT

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay trong quá trình toàn cầu hóa, năng lực sử dụng ngoại ngữ thực sự cần thiết đối với mọi người Những tiến bộ trong khoa học kỹ thuật đã dẫn tới sự bùng nổ về tri thức, trong đó ngoại ngữ là nhân tố chính và là phương tiện hữu hiệu nhất trong việc trao đổi thông tin giữa con người với nhau Tiếng Anh không những là ngôn ngữ chính thức của khoảng 30 quốc gia trên thế giới mà còn là ngôn ngữ chung trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh doanh, và các phương tiện truyền thông Nó cũng là ngôn ngữ của văn học, giáo dục, âm nhạc hiện đại và du lịch quốc tế

Việc dạy và học tiếng Anh ở Việt Nam đã và đang trải qua những sự thay đổi lớn lao song song với công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển của đất nước Nhìn chung lĩnh vực này đã đạt được những kết quả đáng kể, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn trong dạy và học ở các cấp, đặc biệt đối với những người học không học chuyên sâu ngoại ngữ Những thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ học đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các phương pháp hiện đại vào dạy ngoại ngữ Tuy nhiên có thể nói các phương pháp này chưa đem lại kết quả như mong muốn, và số lượng người thành thạo các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết còn hạn chế, đặc biệt là trong các ngành khoa học kỹ thuật, ứng dụng công nghệ Người Việt học tiếng Anh gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt về cấu trúc ngữ âm, cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp Những khác biệt này khiến người học rất dễ mắc lỗi trong quá trình tiếp thu kiến thức và luyện tập Để việc dạy và học đạt kết quả cao, thì một trong những khâu quan trọng nhất là tìm ra nguyên nhân gây lỗi và sửa những lỗi đó

Trong các lỗi mà người học có thể gặp phải, lỗi giới từ được coi là một loại lỗi khá phổ biến đối với học viên người Việt Bởi muốn sử dụng đúng giới

Trang 10

từ thì người học phải chú ý tới các nhân tố chi phối chúng như: cấu trúc, ngữ nghĩa, cách nhận thức thế giới của mỗi dân tộc,…song điều này không dễ dàng Chính vì thế, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chọn các lỗi sử dụng giới từ trong tiếng Anh của người Việt làm đối tượng nghiên cứu với hi vọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học tiếng, hạn chế tối đa lỗi sử dụng giới từ của sinh viên Việt Nam khi học tiếng Anh

2 Lịch sử nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu về lỗi của người học ngoại ngữ đã xuất hiện

từ rất lâu trên thế giới bởi các nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà tâm lý học và các giáo viên trực tiếp giảng dạy Tại Việt Nam đề tài này cũng được đề cập qua nhiều công trình nghiên cứu khác nhau

Tại Anh, Mỹ, việc nghiên cứu lỗi của người nước ngoài học tiếng Anh như một ngoại ngữ đã xuất hiện từ lâu, tiêu biểu là các công trình của Pit Corder

như Error Analysis (1974), Common Error in Language Learning; Error

Analysis, Interdisciplinary của H.V.George (1972); Principle of Language Learning and Teaching của H Douglas (1994)… Nhìn chung, các công trình này

ở những mức độ phân tích, tiếp cận khác nhau đã chỉ ra được các nguyên nhân mắc lỗi của người học tiếng, đồng thời qua việc thống kê, phân loại, dự báo lỗi, các tác giả cũng đã đưa ra những giải pháp khắc phục và đề xuất các phương pháp giảng dạy tiếng Anh hiệu quả Kết quả nghiên cứu của các tác giả kể trên là rất quan trọng và giúp ích cho những người nghiên cứu vấn đề này ở các góc độ khác nhau

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu về lỗi cũng đã được nhiều tác giả quan tâm tới, trong đó không thể không kể đến các công trình nghiên cứu như: luận án tiến

sĩ khoa học ngữ văn năm 2001 của Nguyễn Thiện Nam Khảo sát lỗi ngữ pháp

tiếng Việt của người nước ngoài; luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học năm 2003 của

Trang 11

Trần Thị Mai Đào Lỗi phát âm phụ âm Tiếng Anh của sinh viên Việt Nam; luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học năm 2004 của Dương Thị Ngọc Thúy Lỗi phát âm

trọng âm từ Tiếng Anh của học sinh Việt Nam; luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học

năm 2008 của Đào Thị Thanh Huyền Khảo sát lỗi ngữ âm của người Trung

Quốc học Tiếng Việt và cách khắc phục,…

Chúng ta không thể phủ nhận rằng những đóng góp của các công trình nghiên cứu kể trên rất quý báu và đáng được trân trọng Kết quả nghiên cứu của các công trình đó giúp cho việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung, giảng dạy tiếng Anh nói riêng của các giáo viên đạt được hiệu quả cao, đồng thời cũng giúp cho người học nhận ra được lỗi và đạt được tiến bộ trong việc học ngoại ngữ

Tóm lại, vấn đề nhận biết lỗi và chữa lỗi trong học ngoại ngữ, cụ thể là trong việc sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt thực sự cần thiết cho những người học ngoại ngữ, nhất là ở trình độ cơ sở Nghiên cứu vấn đề này là việc làm cần thiết nhằm nâng cao chất lượng của dạy và học ngoại ngữ

3 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các lỗi sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt, cụ thể là sinh viên năm thứ nhất không chuyên ngoại ngữ của Trường Cao đẳng Công nghiệp Phúc Yên, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ cụ thể sau:

1 Xác định, thống kê, mô tả các dạng lỗi mà sinh viên thường mắc phải trên cơ sở khảo sát các bài tập về giới từ tiếng Anh của sinh viên trường Cao đẳng Công Nghiệp Phúc Yên, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 12

2 Lý giải các nguyên nhân gây lỗi thông qua việc tìm hiểu những đặc điểm của hệ thống giới từ tiếng Anh và tiếng Việt, nhìn nhận chúng trên các phương diện cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng

3 Qua việc khảo sát lỗi giới từ của sinh viên Việt Nam học tiếng Anh, chúng tôi đưa ra một số giải pháp khắc phục lỗi sử dụng giới từ Các giải pháp này có tính đến những đặc điểm việc dạy và học ngoại ngữ, cụ thể trong việc dạy

và học giới từ

4 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tiến hành khảo sát các lỗi sử dụng giới từ của người Việt khi học tiếng Anh thông qua việc khảo sát 300 sinh viên của Trường Cao đẳng Công nghiệp Phúc Yên

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Ngoài hai phương pháp trên, chúng tôi còn tiến hành đối chiếu cách sử dụng giới từ trong tiếng Anh và tiếng Việt để tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ khác loại hình

Trang 13

Đồng thời để tìm hiểu và phát hiện các đặc trưng ngữ nghĩa, chức năng của giới từ trong tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi sẽ áp dụng các thủ pháp phân tích khác khi cần thiết

6 Ý nghĩa đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Việc nghiên cứu đề tài này giúp hiểu rõ nguồn gốc, quá trình hình thành lỗi, đồng thời cũng vạch ra một số điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ Anh- Việt để từ đó có thể tham gia vào định hướng phương pháp luận cho việc nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ thứ hai

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Tìm hiểu việc sử dụng giới từ, luận văn hướng tới việc nâng cao chất lượng giảng dạy, nhằm hoàn thiện phương pháp dạy tiếng Anh trong nhà trường Bên cạnh đó, luận văn cũng có những tác dụng thực tế đối với việc dạy và học tiếng Anh cho học viên người Việt, giúp các học viên rút ngắn thời gian học tập

và có thể đi sâu vào nghiên cứu, ứng dụng các kết quả nghiên cứu đã đạt được

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, phần chính của luận văn được chia thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Khảo sát lỗi sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt

Chương 3: Một số giải pháp khắc phục lỗi sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Giới từ

1.1.1 Định nghĩa về giới từ

1.1.1.1 Giới từ tiếng Anh

Trong ngôn ngữ học đại cương, vấn đề phân định từ loại đã được đề cập từ thời Hy Lạp cổ đại Nhưng phải đến thế kỉ thứ IV trước công nguyên thì từ loại giới từ mới được chú ý đến, mà người đầu tiên là Aristote (384 – 322 tr.CN) Trong số các từ loại mà ông phân định, giới từ cùng với liên từ được gộp vào một loại là từ nối Một trường phái khác của triết học Hy Lạp, tiêu biểu là Stoic cũng phân biệt bốn thành phần của lời nói: danh từ, động từ, liên từ và mạo từ Dựa trên các công trình của trường phái Stoic, các học giả thuộc trường phái Alexandria đã phân chia thành tám từ loại khác nhau, trong đó có giới từ Theo

đó, từ loại này được định nghĩa như sau: "Giới từ là những từ phụ đứng trước

các từ khác" [ Đinh Văn Đức 1986: 10]

Theo quan điểm của ngữ pháp truyền thống, giới từ chỉ được xem như một thành phần phụ của danh từ hay đại từ Vì thế, trong tiếng Anh, giới từ cũng chỉ được coi là tên gọi của một từ loại đối lập với các từ loại khác như danh từ, động

từ, tính từ, trạng từ, v.v Đến thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều nhà ngôn ngữ học như: Ronald Langacker với ngữ pháp tri nhận (Cognitive Grammar), Joan Bresnan với ngữ pháp từ chức năng (Functional Lexical Grammar), Hudson với ngữ pháp từ (Word Grammar),… đã mở rộng danh sách giới từ theo hai hướng:

(1) Giới từ không bắt buộc phải có bổ ngữ theo sau, và (2) Bổ ngữ của giới từ không nhất thiết phải là danh từ Chính vì sự mở rộng này mà nhiều từ được xếp

vào các từ loại khác nhau như “giới từ”, “trạng từ”, “liên từ phụ thuộc” hay “tiểu từ” Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học chức năng như: Talmy Givón,

Trang 15

Sylvia Chalker, Angela Downing, Philip Locke,… các tác giả này cũng vẫn chỉ

coi giới từ là một lớp từ nhỏ Chalker định nghĩa giới từ như sau “Giới từ là một

tiểu loại từ Chúng được dùng để kết nối các loại từ với các thành phần khác trong câu Một số giới từ còn lệ thuộc vào các loại từ khác Nhưng giới từ là loại

từ khép kín về nghĩa và chúng ta không thể tạo mới ra những giới từ đơn nữa”

[Chalker, S 1992:102]

Các nhà ngữ pháp học hiện đại, khi nghiên cứu về giới từ tiếng Anh, cũng đưa ra nhiều quan niệm khác nhau, nhưng nhìn chung đều khá thống nhất về những đặc điểm cơ bản của giới từ Dưới đây, chúng tôi điểm qua một số định nghĩa về giới từ tiếng Anh

Trong cuốn Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current Engllish,

các tác giả A.S Hornby, E.V Gatenby và H Wakefield (Oxford University

Press, 1970) định nghĩa: “Giới từ là một từ hay nhiều từ được dùng với một danh

từ hay đại từ để chỉ mối quan hệ của nó với những từ khác” [A.S Hornby, E.V

đại từ với những từ khác trong câu Giới từ thường đứng trước danh từ hay đại

từ mà nó chi phối” [J B Heaton 1965: 1]

W S Allen, trong cuốn Living English Structure (Cấu trúc tiếng Anh hiện hành) cho rằng: “Giới từ luôn được đặt trước từ mà nó chi phối, chỉ ra mối quan

hệ giữa các từ hay cụm từ, mà thông thường là các mối quan hệ về thời gian, vị trí và phương hướng, các quan niệm về tinh thần hay xúc cảm Giới từ cũng

Trang 16

đứng sau các từ mà nó chi phối, đặc biệt là trong câu hỏi và các mệnh đề quan

hệ hoặc nghi vấn” [W S Allen 1958: 292]

Penelope Choy và James R.Mc Cormick, trong công trình Basic Grammar

and Usage (Ngữ pháp cơ bản và cách dùng) quan niệm: “Giới từ là những từ ngắn trong ngôn ngữ của chúng ta được dùng để chỉ vị trí và mối quan hệ của một tân ngữ nào đó với tân ngữ kia” [Penelope Choy and James R.Mc Cormick

1998: 25]

Các tác giả R Quirk, S Greenbaum, G Leech và J Svartvik, trong công

trình A comprehensive grammar of the English language (Ngữ pháp tiếng Anh tường giải) cho rằng: “Theo cách nói khái quát nhất, giới từ biểu thị mối quan hệ

giữa hai tổng thể, trong đó một được diễn tả bằng bổ ngữ giới từ” [R Quirk, S

Greenbaum, G Leech and J Svartvik 1985: 657]

Sylvia Chalker, một nhà ngôn ngữ học chức năng lại định nghĩa: “Giới từ

là một loại tiểu từ Chúng được dùng để nối các từ loại (thường là danh từ) với các thành phần khác trong câu Một số giới từ còn lệ thuộc vào các từ loại khác (VD: trạng từ, liên từ, tính từ) Nhưng giới từ là từ loại khép kín về nghĩa và chúng ta không thể tạo mới ra những giới từ đơn nữa” [Downing A and Locke

Trang 17

các kiểu nghĩa tồn tại trong giới từ) thì A.S Hornby, E.V Gatenby và H Wakefield, J H Heaton, Penelope Choy và James Mc Cormick, R Quirk, S Greenbaum, G Leech và J Svartvik, M.A.K Halliday,… lại quan tâm tới mối quan hệ của giới từ với những từ khác trong câu Còn nhà ngôn ngữ học chức năng Sylvia Chalker thì quan tâm tới cả chức năng, ngữ nghĩa của giới từ lẫn mối quan hệ của nó với các từ loại khác, cho rằng giới từ không thể đứng một mình mà tồn tại trong giới ngữ Từ sự thống nhất tương đối trong cách định nghĩa của các tác giả nói trên, chúng tôi rút ra một số điểm đặc trưng của giới từ tiếng Anh như sau:

(1) Về hình thức, giới từ có thể là từ đơn hay từ ghép; không thể độc lập làm

thành phần của cụm từ và câu

(2) Về ngữ nghĩa, giới từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, chủ yếu mang

ý nghĩa ngữ pháp Các kiểu nghĩa tồn tại trong giới từ có thể là thời gian,

vị trí, phương hướng, xúc cảm,…

(3) Về vị trí, giới từ thường đứng trước danh từ hoặc đại từ mà nó chi phối (4) Về chức năng, giới từ làm thành tố phụ để kết nối các thành phần trong

câu, xác định mối quan hệ giữa các từ mà chúng liên kết

1.1.1.2 Giới từ tiếng Việt

Trong giới Việt ngữ học, một số tác giả không thừa nhận việc phân định từ loại trong tiếng Việt Theo đó, các tác giả này cũng phủ nhận sự tồn tại của giới

từ Phần lớn các nhà nghiên cứu khác đều thừa nhận sự tồn tại của giới từ trong tiếng Việt, mặc dù cho đến nay nó vẫn không được coi là từ loại quan trọng Hơn nữa, các quan niệm xung quanh từ loại này cũng có những điểm khác biệt nhất định giữa các nhà Việt ngữ học nên việc đưa ra bộ tiêu chí để xác định giới từ cũng chưa có sự thống nhất cao

Trang 18

Với công trình Văn phạm Việt Nam (1956), Bùi Đức Tịnh coi giới từ cũng

là một loại từ loại trong chín loại từ loại khác: “Giới từ và giới ngữ là những từ

dùng để chỉ sự tương quan giữa ý nghĩa của hai từ và hai mệnh đề Giữa hai từ

ta còn dùng một giới từ Giữa hai mệnh đề, ta dùng một giới từ” [Bùi Đức Tịnh

1956: 319]

Trong cuốn Việt Nam văn phạm, Trần Trọng Kim cho rằng “Giới từ là

tiếng dùng để liên lạc một tiếng với tiếng túc từ của nó” [Trần Trọng Kim 1960:

31]

Khác với những tác giả trên, không chỉ tập trung vào việc chỉ ra chức năng của giới từ, tác giả Nguyễn Kim Thản (1984) làm rõ vị trí của giới từ trong hệ thống, cụ thể là giới từ là một loại hư từ thuộc nhóm quan hệ từ Ông cho rằng:

“Giới từ là một loại hư từ (trong nhóm quan hệ từ) có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với chính (hoặc từ tổ chính) biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa hai đơn vị đó” [Nguyễn Kim Thản 1984: 330]

Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Đinh Văn Đức coi giới từ cùng với liên

từ thuộc hư từ cú pháp “Hư từ cú pháp, theo đó cũng là công cụ diễn đạt các

quan hệ logic, các quan hệ trong cách thức phản ánh của người bản ngữ Các

hư từ cú pháp không làm trung tâm và cũng không làm thành tố phụ đoản ngữ, chúng là một thứ phương tiện liên kết “xúc tác” thành tố phụ với trung tâm đoản ngữ, các đoản ngữ, các mệnh đề với nhau trong cấu trúc phát ngôn” [Đinh Văn

Đức 1986: 179]

Nguyễn Minh Thuyết trong bài Thảo luận về vấn đề xác định hư từ trong

tiếng Việt cho giới từ là một từ loại năm trong hư từ chân chính, nó “(1) Không

có ý nghĩa chân thực; (2) Không có khả năng làm thành phần câu và khả năng một mình làm nên một câu độc lập” [Nguyễn Minh Thuyết 1986: 39]

Trang 19

Tác giả Vũ Văn Thi cũng cho rằng: “Giới từ là một loại hư từ thuộc nhóm

quan hệ từ, có chức năng thể hiện mối quan hệ cú pháp giữa thành phần chính

và thành phần phụ trong câu” [Vũ Văn Thi 1995: 25]

Trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý đưa ra định nghĩa về giới từ: “Giới từ - từ loại có ý nghĩa phạm trù đặc trưng là

biểu thị quan hệ của đối tượng với đối tượng, hiện tượng, cảnh huống Ý nghĩa này được biểu hiện không phải bằng ý nghĩa từ vựng chân thực mà bằng đặc điểm hoạt động của chúng với tư cách là các từ hư chỉ quan hệ” [Nguyễn Như Ý

1996: 104]

Cũng nhấn mạnh vào chức năng của giới từ, Phan Khôi quan niệm: “Giới

từ dùng để giới thiệu danh từ hoặc đại danh từ đến với động từ, danh từ hoặc đại danh từ khác để tỏ ra sự quan hệ giữa chúng nó với nhau” [Phan Khôi 1997:

195]

Đề cập đến giới từ, Diệp Quang Ban không gọi là “quan hệ từ” mà gọi từ loại này là “kết từ” Ông cũng phân chia kết từ thành hai lớp: lớp kết từ chính

phụ (giới từ) và lớp từ đẳng lập (liên từ) Tác giả này quan niệm: “Kết từ chính

phụ dùng để nối kết thành tố phụ vào thành tố chính (nối kết từ phụ với từ chính, thành phần phụ với thành phần chính của câu” [Diệp Quang Ban 1998: 137]

Cũng giống như Nguyễn Kim Thản xếp giới từ vào nhóm quan hệ từ,

trong Ngữ pháp tiếng Việt, tác giả Nguyễn Hữu Quỳnh cho rằng “quan hệ từ là

những từ chỉ các quan hệ ngữ pháp dùng để nối các thành phần trong câu hay các thành tố trong cụm từ Quan hệ từ cũng như phó từ không có ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa thực, mà chỉ có ý nghĩa ngữ pháp và không bao giờ đứng làm chức năng chủ ngữ, vị ngữ trong câu” [Nguyễn Hữu Quỳnh 2001: 161] Ông chia

quan hệ thành hai tiểu loại: quan hệ từ chính phụ (giới từ) và quan hệ từ liên hợp (liên từ)

Trang 20

Từ những quan điểm trên của các nhà Việt ngữ học, có thể thấy rằng giới

từ tiếng Việt, được hầu hết các nhà nghiên cứu khẳng định sự tồn tại của nó Giới từ tiếng Việt từng được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau, chẳng hạn “hư

từ” hay “hư từ chân chính” như Nguyễn Anh Quế (trong Hư từ trong tiếng Việt

hiện đại), Nguyễn Minh Thuyết (trong Thảo luận về vấn đề xác định hư từ trong tiếng Việt), “hư từ cú pháp” như Đinh Văn Đức (trong Ngữ pháp tiếng Việt), Lê

Biên (trong Từ loại tiếng Việt hiện đại), hay “quan hệ từ” như Nguyễn Kim Thản (trong Lược sử ngôn ngữ học), Nguyễn Hữu Quỳnh (trong Tiếng Việt hiện đại),

“kết từ” như Diệp Quang Ban (trong Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng

Việt) Nhìn chung, giới từ tiếng Việt được các nhà Việt ngữ học định nghĩa dựa

trên các khía cạnh ngữ nghĩa và chức năng

Về ngữ nghĩa, giới từ không có ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa chân thực, chỉ

có ý nghĩa ngữ pháp

Về chức năng, giới từ biểu thị mối liên hệ/ nối kết/ liên kết giữa thành

phần chính và thành phần phụ trong câu (hay giữa đối tượng này với đối tượng khác)

1.1.2 Đặc điểm giới từ

Do đặc trưng loại hình nên giới từ tiếng Việt và tiếng Anh có những đặc điểm riêng biệt Các đặc điểm này cũng được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, có thể thêm hay bớt một số nội dung nào đó Dưới đây, chúng tôi xin nêu ra cách quan niệm mà theo chúng tôi là khá toàn diện và có thể nêu bật được những đặc trưng cơ bản nhất của giới từ

1.1.2.1 Giới từ tiếng Anh

Trong tiếng Anh, giới từ là tên gọi của một loại từ đối lập với các loại từ

khác như danh từ, tính từ, trạng từ, v.v…., những từ như of, in, on, at, by,…

Trang 21

được coi là giới từ Theo ngôn ngữ học truyền thống, giới từ trong tiếng Anh có bốn đặc trưng nổi bật:

(1) Giới từ có danh từ làm bổ ngữ Chúng được gọi là “pre-position” bởi vì

vị trí của chúng là đứng trước danh từ (ví dụ: in Hanoi, by car)

(2) Giới từ được dùng như một “hậu định ngữ” hay bổ ngữ cho hầu hết các

từ loại khác, kể cả danh từ (ví dụ: picture of John, think about Mary)

(3) Với những câu hỏi WH- trang trọng chúng có thể được đặt ở vị trí đầu câu trước đại từ WH- ví dụ:

- Of whom are you thinking?

(Bạn đang nghĩ về ai vậy?)

- In which city do you live?

(Bạn sống ở thành phố nào?)

(4) Về mặt ngữ nghĩa, giới từ có vai trò xác định quan hệ giữa các từ mà

chúng liên kết Ví dụ, trong picture of John (bức tranh của John) giới từ of xác

định mối quan hệ sở hữu giữa picture và John và, dĩ nhiên, khác với quan hệ tạo

nên bởi các giới từ khác, chẳng hạn như for trong picture for John

Từ những tiêu chí nói trên, các nhà ngữ pháp đã xác định được hơn 100 giới từ trong tiếng Anh [Trần Quang Hải 2001: 8-9]

1.1.2.2 Giới từ tiếng Việt

Nói về đặc điểm giới từ tiếng Việt, có thể nêu ra năm điểm đặc trưng sau: (1) Giới từ là một hư từ thể hiện ý nghĩa quan hệ

(2) Giới từ hầu như không có khả năng bổ sung một ý nghĩa nào đó cho trung tâm, do vậy giới từ không phải là yếu tố có quan hệ một chiều mà có quan

hệ hai chiều

(3) Giới từ thể hiện mối quan hệ cú pháp chính phụ, nối trung tâm với thành phần phụ

Trang 22

(4) Giới từ có khả năng làm dạng thức hóa cụm từ, cụm từ tạo nên các giới ngữ để chúng có khả năng giữ chức vụ cú pháp là thành phần phụ

(5) Về mặt vị trí, vị trí phổ biến của giới từ là đứng giữa thành phần chính

và thành phần phụ Tuy có quan hệ hai chiều với hai thành phần chính và phụ, nhưng giới từ có xu hướng gắn với thành phần phụ nên còn có vị trí tách cùng với thành phần phụ đứng đầu câu [Vũ Văn Thi 1995: 27]

Trên đây là những đặc điểm cơ bản nhất mà các tác giả thường nêu ra để khu biệt giới từ với các từ loại khác trong hệ thống Khi nghiên cứu ở mức độ sâu và cụ thể hơn, chúng ta sẽ hiểu được những đặc điểm này chi phối ra sao tới cách sử dụng và ảnh hưởng thế nào tới quá trình dạy và học tiếng

1.1.3 Phân loại giới từ

Có nhiều cách phân loại giới từ mà các nhà Việt ngữ học hay Anh ngữ học

đã đưa ra dựa trên những tiêu chí khác nhau Chẳng hạn, dựa vào dạng cấu tạo của giới từ, người ta có thể chia giới từ thành: giới từ đơn và giới từ kép; dựa vào

ý nghĩa/ chức năng của giới từ, có thể chia thành các loại: giới từ chỉ địa điểm, giới từ chỉ thời gian, giới từ chỉ nguyên nhân, giới từ chỉ cách thức, giới từ chỉ mục đích,…

Để thuận tiện trong quá trình nghiên cứu, luận văn lựa chọn cách phân loại dựa vào ngữ nghĩa của giới từ và lấy đó làm cơ sở để thực hiện đề tài Sự lựa chọn này cũng dựa trên các tiêu chí phù hợp với cả hai ngôn ngữ, nói cách khác

là có thể sử dụng cách phân loại này để phân chia tiểu loại giới từ trong cả tiếng Anh và tiếng Việt Theo cách đó, giới từ có thể chia thành các loại chính sau:

(1) Giới từ chỉ địa điểm

Ví dụ:

Trong tiếng Anh: in, on, at, under, beside, among, behind,…

He sits in the corner of the room

Trang 23

The picture is on page 10

Trong tiếng Việt: trên, dưới, trong, ngoài, trước, sau,…

Anh ấy đang nằm trên giường

Bọn trẻ đang tắm dưới sông

Trong nhóm giới từ chỉ địa điểm tiếng Anh, tác giả Randolph Quirk phân chia nhóm giới từ chỉ địa điểm trong tiếng Anh thành ba nhóm nhỏ [Randolph Quirk 1973: 146]

- Nhóm AT gồm các giới từ chỉ địa điểm: to, at, (away) from, away from

do danh từ biểu đạt

- Nhóm ON gồm các giới từ: on, off, along chỉ ra rằng địa điểm được bổ

ngữ diễn đạt nằm trên một trục không gian/ bề mặt (surface) hay một đường thẳng (line)

- Nhóm IN gồm các giới từ: in, into chỉ ra rằng địa điểm do bổ ngữ biểu

đạt thường nằm trên một diện tích/ vùng (area) hoặc thể tích / hình khối (volume)

Trong tiếng Việt, khi xem xét các nghĩa tương đương với tiếng Anh, ta thường thấy việc sử dụng giới từ không tuân theo những khái niệm được phân

định theo phương chiều kể trên Ví dụ, có thể dùng giới từ trên trong mọi trường hợp: trên phố (on the street), trên thế giới (in the world), trên bản đồ (in the map), trên điện thoại (over the phone),…

Trong giới từ chỉ địa điểm tiếng Anh, ngoài ba nhóm chính kể trên, còn một số lớp giới từ khác cũng được sử dụng phổ biến, đó là các giới từ chỉ vị trí:

below (dưới), beneath (ở dưới), by (kề, cạnh), over (ở trên), under (ở dưới); giới

từ chỉ khoảng cách: by (kề, cạnh), over (ở trên), along (dọc theo), through (qua); giới từ chỉ hướng: beyond (bên kia), down (phía dưới), over (phía trên), up (lên

trên); giới từ chỉ địa điểm những được dùng với ý nghĩa trừu tượng, luôn luôn có

Trang 24

mối liên quan ẩn dụ với cách dùng chỉ nơi chốn của chúng: under, in, above,…

Những giới từ này, khi chuyển sang tiếng Việt hầu như không có cấu trúc tương ứng, trong nhiều trường hợp cấu trúc giới ngữ đó được chuyển thành một cấu

trúc khác có động từ mà thôi Ví dụ: in danger – bị đe dọa, out of danger – thoát hiểm, out of gasoline – hết xăng, in difficulties – gặp khó khăn, amidst a mass of income – trong muôn vàn khó khăn, above one’s income – trên mức thu nhập,

below one’s income – dưới mức thu nhập,… [Nguyễn Cảnh Hoa 2001: 114-116] (2) Giới từ chỉ thời gian

Ví dụ:

Trong tiếng Anh: on, after, at, during,about, since, for,…

She often goes fishing on Sunday morning

I have learned English since I was a small child

Trong tiếng Việt: vào, lúc, trong khoảng,…

Anh ấy gọi cho tôi lúc 8 giờ sáng

Tôi thường đến thăm cô ấy vào cuối tuần

Trong tiếng Anh, giới từ chỉ thời gian thường được phân biệt thành hai nhóm chính phân theo đặc điểm ngữ nghĩa:

- Nhóm giới từ chỉ thời điểm: at, on, in

- Nhóm giới từ chỉ khoảng thời gian: for, during, about, around, over, (all)

through, throughout, from…to (till, until),…

Các giới từ chỉ thời điểm: at, in, on trong tiếng Anh khi dịch sang tiếng Việt có thể có nghĩa tương đương với: vào, về, trong… Khi những giới từ này

dùng với các từ khác tạo nên cụm từ chỉ thời điểm hoặc thời đoạn thì câu tiếng

Anh bắt buộc phải sử dụng giới từ Còn đối với tiếng Việt, giới từ vào, về,

trong… có thể xuất hiện hoặc có thể được lược bỏ trong một số cấu trúc, chẳng

Trang 25

hạn: trong cụm động từ chỉ thời gian, khi bổ ngữ chỉ thời gian do động từ biểu

thị: học hai giờ, làm việc ba tháng, nghỉ một tuần, ngủ trưa, ăn tối,…

(3) Giới từ chỉ nguyên nhân

Ví dụ:

Trong tiếng Anh: because of , for, from, out of, due to, owing to, in fear

of,…

He succeeded for many reasons

Unfortunately you won't succeed from hard work alone

Trong tiếng Việt: vì, do, tại, bởi, nhờ, bởi vì,…

Hắn ta gây tai nạn do say rượu

Anh ấy đã vượt qua kỳ thi bởi vì anh ấy học chăm chỉ

Khi dịch sang tiếng Việt, các giới từ nguyên nhân trong tiếng Anh:

because of, of thường được dịch là vì, vì được đặt sau động từ hay tính từ trong

cụm động từ hay cụm tính từ Ví dụ: chết vì bệnh, hi sinh vì tổ quốc, yêu vì nết,

chết vì tình, người đẹp vì lụa, răng đen vì thuốc,… Trong một số trường hợp ở

tiếng Việt, không nhất thiết phải dùng giới từ vì, nhưng tiếng Anh giới từ này lại

là bắt buộc, ví dụ: die of hunger – chết đói, die from a disease – chết bệnh, die

in battle – chết trận, die of cold – chết rét,… Các giới từ kép chỉ nguyên nhân

trong tiếng Anh như: because of, on account, out of, due to, owing to… khi dịch sang tiếng Việt, từ có nghĩa tương đương chỉ là một giới từ đơn: vì, nhờ, do,…

Nếu như người Anh thường dùng các giới từ chỉ nguyên nhân để diễn tả nguyên nhân xảy ra sự việc, đó là nguyên nhân vật chất và nguyên nhân tâm lý, thì người Việt lại chú trọng đến việc phân biệt nguyên nhân dẫn đến kết quả tốt, xấu hoặc

trung hòa, ví dụ: nhờ - dùng trong câu chỉ kết quả dẫn đến kết quả tốt đẹp, còn

tại – dẫn đến kết quả không mấy tốt đẹp cho chủ thể hành động,…

(4) Giới từ chỉ mục đích

Trang 26

Ví dụ:

Trong tiếng Anh: for, to, at,…

The police fired at the bank robbers

Victor is applying for the post of Senior Technician

Trong tiếng Việt: vì, để, cho, đặng, nhằm, hòng,…

Nam cố gắng học để có một tương lai tốt

Tôi tặng hoa nhằm lấy lòng cô ta

Để chỉ mục đích, trong tiếng Anh thường chỉ dùng mỗi giới từ for nhưng trong tiếng Việt có thể dùng nhiều giới từ khác nhau: vì, cho, để,… Trong tiếng

Anh, khi muốn diễn đạt một mục đích dự kiến, người Anh thường dùng giới từ

at, nhưng đối với tiếng Việt, giới từ vào (at) lại không nhất thiết phải có mặt

trong cấu trúc, ví dụ: She is looking at the picture – Cô ta đang ngắm bức tranh;

Don’t laugh at him – Đừng có cười nó

(5) Giới từ chỉ cách thức

Ví dụ:

Trong tiếng Anh: with, by, in, like,…

He travels by train

I accept your invitation with pleasure

Trong tiếng Việt: với, bằng, từ…

Nam đi làm bằng xe máy

Tôi nói với cô ấy về gia đình tôi

Cả trong tiếng Anh và tiếng Việt, nhóm từ này thường dùng để diễn tả

cách thức hay vật liệu sử dụng, trả lời cho câu hỏi how (thế nào? bằng cách

nào?) Để chỉ cách thức, trong tiếng Việt có một số cụm động từ không cần sự

có mặt của giới từ chỉ cách thức, ví dụ: ăn đũa = ăn bằng đũa, đi xe máy = đi

bằng xe máy,…

Trang 27

Ngoài các nhóm giới từ kể trên, còn có một số loại giới từ khác, do mức

độ phổ biến ít hơn các loại trên nên chúng tôi không đề cập kĩ, chẳng hạn như: giới từ chỉ công cụ, giới từ chỉ sự sở hữu, giới từ chỉ kích thích, giới từ chỉ ủng

hộ - phản đối, giới từ chỉ nhượng bộ, giới từ chỉ quy chiếu, giới từ chỉ ngoại lệ, giới từ chỉ chủ đề, giới từ chỉ thành phần, giới từ chỉ phản ứng,…

Như vậy, có thể tóm tắt những điểm tương đồng và khác biệt của các nhà

nghiên cứu giới từ tiếng Việt và tiếng Anh như sau Về sự tương đồng, quan

niệm về giới từ tiếng Việt hay tiếng Anh của các nhà nghiên cứu đều dựa trên

một số tiêu chí chung, đặt chúng trong mối quan hệ với các thành phần khác hay

xét nội dung ngữ nghĩa của nó Đa phần đều thống nhất rằng giới từ là từ biểu thị

mối quan hệ chính phụ, kết nối giữa thành phần chính và thành phần phụ trong câu, và thường có xu hướng gắn với thành tố phụ hơn gắn với thành tố chính Giới từ không mang nghĩa từ vựng, chỉ mang nghĩa ngữ pháp và chúng không có khả năng một mình làm thành phần câu Về sự khác biệt, tiếng Việt và tiếng Anh

do không cùng loại hình nên những điểm dị biệt về từ loại giới từ trong hai ngôn ngữ này là điều tất yếu Chẳng hạn, trong tiếng Việt, kết hợp của giới từ với các

thành phần khác được dùng như vị ngữ của câu (Ví dụ: sách này của tôi, mẹ

trong nhà, kẹo cho bạn), nhưng trong tiếng Anh giới từ không có khả năng kết

hợp với các thành phần khác (tạo thành giới ngữ) đảm nhiệm chức năng vị ngữ

như vậy (Ví dụ: * The man in the room) Cụm giới từ tiếng Anh và tiếng Việt

đều có thể làm định ngữ nhưng khả năng đảm nhiệm chức năng này cũng không hoàn toàn giống nhau, và sự tương ứng về mặt vị trí giới từ không phải bao giờ

cũng là 1:1, có thể là sự vắng mặt ở một trong hai ngôn ngữ (Ví dụ: tiếng Anh: a

cup of tea, a series of film; trong tiếng Việt chỉ nói: một chén trà, một loạt phim

– không có giới từ),… Những điểm tương đồng và khác biệt về cách sử dụng giới từ trong hai ngôn ngữ Anh và Việt sẽ chi phối việc tiếp nhận ngôn ngữ có

Trang 28

thể theo các hướng tích cực hay tiêu cực Việc khảo sát lỗi giới từ cũng nhằm hướng đến việc khắc phục những chuyển di tiêu cực mà người Anh học tiếng Việt hay người Việt học tiếng Anh thường mắc phải

1.2 Lỗi và một số vấn đề lý thuyết liên quan

1.2.1 Khái niệm về lỗi

1.2.1.1 Một số quan niệm về lỗi

Trong giới ngôn ngữ học, “lỗi” chỉ thực sự được quan tâm và đánh giá đúng mức vào những năm 60 của thế kỉ XX – khi lý thuyết về vấn đề thụ đắc ngôn ngữ của N Chomsky ra đời Cũng có nhiều ý kiến đưa ra cách giải thích về

“lỗi” Có người cho lỗi trong quá trình nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ chỉ đơn giản là một biểu hiện sự thất bại của người học Có người cho

đó là bằng chứng của sự thiếu chú ý, thiếu tích cực hay chứng tỏ năng lực ngoại ngữ không tốt Các cách hiểu này chỉ nôm na coi lỗi là chướng ngại, vật cản trong quá trình thụ đắc ngoại ngữ, gây ảnh hưởng tới tinh thần và thái độ của

người học mà không đưa ra được một cái nhìn toàn diện về lỗi

Đến năm 1967, nhà nghiên cứu Pit Corder của trường Đại học Edinburgh tạo bước đột phát trong nghiên cứu lỗi Theo ông, lỗi là kết quả tất yếu của việc học và khám phá ngoại ngữ đang học một cách tích cực, là sự thể hiện những chiến lược, phương pháp mà người học áp dụng khi học ngoại ngữ Lỗi chính là thước đo chính xác nhất trình độ ngoại ngữ của người học tại một thời điểm nhất định trong quá trình học Cả người dạy và người học có thể căn cứ để điều chỉnh

và đưa ra phương pháp học hợp lý và hiệu quả nhất Chúng ta tuyệt đối không nên coi lỗi là dấu hiệu của sự thất bại khi học ngoại ngữ mà nên coi lỗi là cơ hội,

là điều kiện để người học không mắc ở những lần sau

Ở Việt Nam, vấn đề về lỗi và cách sửa lỗi cũng được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm Định nghĩa về lỗi cũng được nêu trong một số cuốn từ

Trang 29

điển Theo Từ điển tiếng Việt thì lỗi là “Chỗ sai sót do không thực hiện đúng quy

tắc; Là điều sai sót không nên, không phải trong cư xử, trong hành động Hoặc

là “lỗi” là điều sai phạm, khuyết điểm tương đối lớn” [Hoàng Phê 2000: 581]

Cách định nghĩa của Từ điển tiếng Việt chỉ đi vào giải thích nghĩa của “lỗi”

chung chung, không tập trung vào lỗi ngôn ngữ

Nhìn chung, viêc học tập về mặt bản chất là một quá trình bao gồm các lỗi Lỗi, sự phán đoán sai, tính toán sai, giả định sai luôn tồn tại trong quá trình học bất cứ một kỹ năng nào đó hoặc việc thu thập thông tin Ví dụ như khi chúng

ta học bơi, lần đầu tiên ta nhảy xuống nước và đập chân tay loạn xạ cho tới khi ta nhận ra rằng có sự kết hợp giữa các động tác đó, chính sự thành công đó giúp ta nổi trên mặt nước Các lỗi đầu tiên của việc học bơi có thể rất lớn nhưng nó sẽ dần dần giảm đi khi ta nhận ra được các nguyên nhân gây ra lỗi Việc học ngoại ngữ cũng giống như vậy Xét theo ngôn ngữ của người lớn thì khi trẻ em bắt đầu học nói cũng tạo lên vô số các lỗi Đa số các lỗi này là hợp lý trong hệ thống ngôn ngữ hạn chế mà trẻ em sử dụng, nhưng qua quá trình học nói trẻ em sẽ dần dần tạo ra ngôn ngữ có thể chấp nhận được trong hệ thống ngôn ngữ mẹ đẻ Học ngoại ngữ là quá trình chắc chắn không giống như học ngôn ngữ mẹ đẻ Các học viên chắc chắn sẽ mắc lỗi trong quá trình tiếp thu và quá trình này sẽ bị cản trở nếu họ không thừa nhận các lỗi và sau đó tận dụng các hình thái đa dạng của các lỗi và sửa lỗi

1.2.1.2 Phân biệt error và mistake

Trong cuốn 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nguyễn Thiện Giáp phân biệt

error và mistake như sau:

Lỗi (error): Khi một đơn vị ngôn ngữ được sử dụng như là kết quả học tập còn thiếu sót hoặc chưa đầy đủ thì học viên được coi là phạm lỗi Lỗi là hình thức không đúng về ngữ pháp

Trang 30

Lầm: (mistake): Lầm xuất hiện khi ngôn ngữ đúng về ngữ pháp nhưng không thích hợp trong một hoàn cảnh giao tiếp Trong khi các lỗi luôn đi với người học ngôn ngữ thì những lầm lẫn cũng có thể có ở những người bản ngữ

Pit Corder nhấn mạnh tính hệ thống, lặp lại nhiều lần của error và tính hệ thống ngẫu nhiên của mistake Ông cho rằng: chỉ có error mới đáng quan tâm, còn mistake là hiện tượng ngẫu nhiên, không có chiều sâu hệ thống nên không được coi là đối tượng của phân tích lỗi

Jack Richard, Platt và Weber trong cuốn Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng

(Dictionary of Applied Linguistics) vẫn xếp loại mistake này vào hệ thống lỗi và những tác giả này gọi chúng là lỗi thể hiện (performance error) [Jack Richard, Platt and Weber 1985: 127]

Theo W.T.Little Wood trong cuốn Học ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ (Foreign and Second Language Learning): “Tiêu chí đáng tin cậy nhất là tính

xuất hiện thường xuyên- chứng cứ tốt nhất mà một lỗi (error) phản ánh hệ thống chiều sâu của người học là khi nó xuất hiện đều đặn trong lời nói của người học” [W.T.Little Wood 1989: 31-32] Tuy nhiên, ông cũng khẳng định ngay sau

đó: “Bất cứ cố gắng nào muốn vạch một đường ranh giới dứt khoát giữa error

và mistake dường như đều không thành công” [W.T.Little Wood 1989: 32]

Theo Douglas Brown trong Principles of language learning and teaching

thì rất khó có thể xác định trường hợp nào là lỗi (error) và trường hợp nào là lầm (mistake) trong ví dụ sau: Một người học tiếng Anh nói “He cans sing” và người khác nói “He can sing” thật khó để nói là “cans” là lỗi (error) hay lầm (mistake) [Douglas Brown 2000: 258]

Vì vậy trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu nghiên cứu sự khác biệt giữa lỗi và lầm mà chỉ lấy đó làm cơ sở để tiến hành khảo sát Cụ thể chúng tôi

Trang 31

tập trung vào những “lỗi” xuất hiện thường xuyên với tần suất lớn trên các bài khảo sát của sinh viên, và không quan tâm nhiều tới “lầm”

1.2.2 Giả thuyết về nguồn gốc và sự hình thành phát triển lỗi

Trong cuốn Principles of language learning and teaching, Douglas Brown

đã đưa ra các giả thuyết về nguồn gốc và sự hình thành lỗi Bằng việc nhận biết nguồn gốc lỗi chúng ta có thể tiến thêm một bước tìm hiểu quá trình tri nhận của người học như thế nào để hiểu hệ thống ngôn ngữ và để hiểu một cách chính xác quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai Ông đưa ra hai giả thuyết về nguồn gốc như sau [Douglas Brown 2000: 263-264]:

1.2.2.1 Lỗi giao thoa (interlingual transfer)

Chuyển hóa liên ngôn ngữ - giao thoa là một trong những nguồn gốc chính tạo nên lỗi của người học Quá trình bắt đầu học một ngôn ngữ thứ hai được xem

là quá trình dễ mắc lỗi nhất khi chuyển hóa liên ngôn ngữ từ bản địa sang một ngôn ngữ mới hay còn gọi là sự giao thoa giữa hai ngôn ngữ Trong quá trình này, trước khi hệ thống ngôn ngữ thứ hai trở nên quen thuộc với người học thì ngôn ngữ bản địa được xem như hệ thống ngôn ngữ duy nhất mà người học có

thể mô tả được “Chúng ta đều nghe thấy những người học tiếng Anh nói

“sheep” là “ship” hoặc “the book of Jack” thay vì nói “Jackbook” Tất cả những lỗi này đều là do giao thoa ngôn ngữ tiêu cực” [Douglas Brown 2000:

263-264]

Lỗi giao thoa là những lỗi sinh ra do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ của người học lên sản phẩm ngôn ngữ đích của người học, nhất là những khu vực mà hai ngôn ngữ khác nhau nhiều

Hai ví dụ sau đây là lỗi giao thoa:

- He spoke with me - He spoke to me

- She is very good English - She is very good at English

Trang 32

nhiều các động từ khi chia ở quá khứ đều có dạng “ed” ở cuối như looked,

stayed,…và sau đó anh ta có thể cho rằng tất cả các động từ đều có dạng như vậy

khi được chia ở quá khứ Chính vì vậy anh ta sẽ nhầm lẫn với các động từ bất

quy tắc như speaked, telled,…

Trong lỗi tự ngữ đích, có thể chia thêm một số loại nhỏ hơn như lỗi do chiến lược giao tiếp, lỗi do chuyển di giảng dạy,…

1.2.3 Nguyên nhân tạo lỗi và quá trình phân tích lỗi

1.2.3.1 Nguyên nhân tạo lỗi

Theo quan điểm phân tích lỗi hiện đại, lỗi là kết quả của quá trình người học khám phá tích cực ngôn ngữ đích Vì vậy, các nguyên nhân của lỗi cũng được quy về các chiến lược mà người học áp dụng trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Chiến lược học (learning strategies) và chiến lược giao tiếp (communication strategies) là những chiến lược thường được áp dụng nhất

(1) Chiến lƣợc học (learning strategies)

Hai chiến lược học mà người học thường sử dụng nhất là chuyển di và vượt tuyến

a Chuyển di (Transfer)

Trong quá trình học nói chung, chuyển di là sự áp dụng những hiểu biết có trước trong tình huống này vào việc học trong tình huống khác Chuyển di tích cực là việc học trong tình huống A tạo điều kiện thuận lợi cho việc học trong

Trang 33

tình huống B Chuyển di tích cực là những hiểu biết trong tình huống A ảnh hưởng không tốt tới việc học trong tình huống B

Chuyển di ngôn ngữ là chiến lược mà người học áp dụng trong những tri thức có sẵn về ngôn ngữ nguồn vào việc hình thành những giả thuyết về ngôn ngữ đích Hai dạng của chuyển di đều có thể xuất hiện

Chuyển di tiêu cực, được biết đến như là sự giao thoa, là việc áp dụng những mẫu hoặc quy tắc của ngôn ngữ nguồn để tạo nên những câu mới, kết cấu mới của ngôn ngữ đích nhưng dẫn đến lỗi hoặc hiện tượng không phù hợp

Tuy nhiên trong quá trình chuyển di này cũng có sự thay đổi như sau: lỗi giao thoa thường xuất hiện nhiều với sinh viên bắt đầu học hơn là sinh viên ở trình độ trung cấp Người mới bắt đầu học do có ít tri thức về ngôn ngữ đích nên

ít chịu ảnh hưởng từ những quy tắc của ngôn ngữ đích Vì vậy, người học sẽ ứng dụng nhiều tri thức tiếng mẹ đẻ của mình, đó là nguyên nhân gây ra lỗi giao thoa

b Vượt tuyến (Overgeneralization)

Vượt tuyến là chiến lược mà người học nới rộng việc sử dụng những quy tắc ra khỏi phạm vi cho phép

Tuy nhiên, vượt tuyến là một chiến lược cơ bản có thể xuất hiện trong tất

cả các lĩnh vực chứ không chỉ trong ngôn ngữ Trong logic học, hiện tượng này gọi là hiện tượng loại suy Để tìm hiểu thế giới chúng ta cần quy các đơn vị vào một số phạm trù, trên cơ sở phạm trù này, chúng ta sẽ xây dựng nên các quy tắc

có thể tiên đoán được những đơn vị khác nhau sẽ tác động đối với nhau như thế nào Tuy nhiên, đôi khi những tiên đoán này sẽ sai, có thể vì ta không tính đến trường hợp ngoại lệ hoặc một quy tắc khác cho trường hợp mà ta đã nhầm tưởng

là giống với trường hợp của quy tắc trước

Trong cuốn Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu đã nhận xét rằng

“Quan sát ngôn ngữ của trẻ em ở giai đoạn học nói, chúng ta sẽ thấy nhận thức

Trang 34

của các em chỉ thực sự vững chắc khi các em đã nắm chắc các tên gọi của các

sự vật ngoại giới Một cách không tự giác người lớn bắt đầu việc dạy dỗ cho trẻ nhỏ bằng việc dạy các tên gọi Và chính trẻ nhỏ cũng dường như bị thúc đẩy một cách không cưỡng nổi bởi nhu cầu đặt tên cho các sự vật mà các em muốn nhận thức hoặc đã nhận thức được” [Đỗ Hữu Châu 1998: 158]

(2) Chiến lƣợc giao tiếp

Chiến lược giao tiếp là cách người học thường áp dụng khi họ chưa có đủ tri thức ngôn ngữ cần thiết Để cố gắng giao tiếp, một người học có thể tạo ra những câu sai ngữ pháp nhưng vẫn phục vụ được mục đích giao tiếp tức thời của mình Chiến lược giao tiếp thông thường là: Giải thích, Vay mượn, Yêu cầu trợ giúp, Ngôn ngữ cử chỉ và Tránh nói

1.2.3.2 Quá trình phân tích lỗi

Pit Corder đã nêu ra ba giai đoạn trong quá trình phân tích lỗi

(1) Nhận diện lỗi

Pit Corder đã đưa ra nhận định “tất cả các câu trong ngôn ngữ của người

học đều coi là có thể sai cho đến khi xác minh được chúng” Ví dụ với câu hỏi

“Where are you from?” mà người học lại trả lời là “I am a student” Những câu trả lời sai như vậy được gọi là sai tiềm tàng trái với câu sai lộ rõ Việc giải nghĩa những câu sai tiềm tàng phải được đặt dưới ánh sáng của ngữ cảnh Đối với trường hợp câu sai lộ rõ, tức là một câu sai về quy tắc hình thức của ngôn ngữ đích, chúng ta phải hiểu được người học muốn nói gì Trong trường hợp ta chưa hiểu người học muốn nói gì thì ta phải biết người học muốn nói gì bằng tiếng mẹ

đẻ của họ Nếu chúng ta có thể biết được người học muốn nói gì bằng tiếng mẹ

Trang 35

đẻ của họ, câu đó lại được dịch sang ngôn ngữ đích một cách chính xác cả về nội dung lẫn hình thức Như vậy ta có thể so sánh câu này với câu gốc mà người học

đã sai Theo Pit Corder, tại điểm cuối của giai đoạn nhận diện câu sai và đưa ra câu được chữa ta có hai câu: một câu sai và một câu đúng- đã được chữa, mà về bản chất thì chúng cùng muốn biểu thị chung một ý nghĩa

(2) Miêu tả lỗi

Trong giai đoạn một chúng ta có một cặp câu: một câu sai và một câu được chữa hay nói theo cách khác là một câu trong ngôn ngữ trung gian và một câu trong ngôn ngữ đích Đây chính là ngữ liệu để miêu tả Phương pháp so sánh song ngữ sẽ được dùng chủ yếu để miêu tả Theo Nguyễn Thiện Nam thì ngôn ngữ trung gian và ngôn ngữ đích được miêu tả bằng những phạm trù chung và quan hệ chung

(3) Giải thích lỗi

Pit Corder cho rằng: “Chúng ta không thể sử dụng bất cứ nguyên tắc nào

trong các câu của ngôn ngữ người học để cải tiến việc giảng dạy trừ phi chúng

ta hiểu được vì sao chúng xuất hiện và xuất hiện như thế nào” [Corder, S.P

1973:169] Có hai cách giải thích về nguyên nhân của các câu trong ngôn ngữ trung gian: cách thứ nhất cho rằng người học mang sang ngôn ngữ thứ hai những thói quen trong tiếng mẹ đẻ của họ Những thói quen này ngăn cản người học trong việc thụ đắc những thói quen mới Cách giải thích này thuộc quan điểm coi ngôn ngữ như một loại cấu trúc hành vi Cách thứ hai cho rằng việc học ngoại ngữ là một hoạt động tri nhận, hình thành các giả thuyết và xử lý ngữ liệu Theo quan điểm này, lỗi là dấu hiệu của những giả thuyết, là chiến lược mà người học

áp dụng để cấu trúc ngôn ngữ đích Quan điểm này cho rằng lỗi là bộ phận đương nhiên, không thể thiếu trong quá trình học ngoại ngữ Như vậy việc miêu

Trang 36

tả các câu sai nếu tiến hành được tốt sẽ đóng góp trực tiếp vào việc đo lường tri thức ngôn ngữ đích của người học tại một thời điểm trong quá trình học

1.3 Tiểu kết

Trong ngôn ngữ học, giới từ là từ loại được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Ở tiếng Anh cũng như tiếng Việt, giới từ đều được coi là lớp từ không có ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa chân thực, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp; dùng để biểu thị mối liên hệ nối kết giữa thành phần chính và thành phần phụ trong câu Tuy nhiên, do đặc trưng về loại hình nên giới từ tiếng Việt và giới từ tiếng Anh cũng

có những đặc điểm riêng biệt bên cạnh những điểm chung Điều này chi phối ít nhiều tới cách sử dụng, đặc biệt là trong quá trình dạy và học tiếng như một ngoại ngữ Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau mà các nhà Việt ngữ học hay Anh ngữ học phân chia giới từ thành các nhóm khác nhau, song đa phần đều khá thống nhất trong việc phân chia giới từ thành các tiểu loại dựa vào chức năng của chúng Theo đó, giới từ được chia thành các nhóm chính: giới từ chỉ địa điểm, giới từ chỉ thời gian, giới từ chỉ nguyên nhân, giới từ chỉ mục đích, giới từ chỉ cách thức,…

Trong việc dạy học ngoại ngữ, vấn đề về lỗi – error (phân biệt với lầm -

mistake) được coi là vấn đề trung tâm trong thụ đắc ngoại ngữ Đó là vật cản tất

yếu của một người đang trong quá trình học Về nguồn gốc tạo lỗi, có thể là do lỗi giao thoa hoặc lỗi tự ngữ đích Về nguyên nhân tạo lỗi, có thể là do chiến lược học (chuyển di, vượt tuyến), chiến lược giao tiếp khi chưa đủ tri thức ngôn ngữ cần thiết Do đó, việc nhận diện, miêu tả, giải thích các lỗi ngôn ngữ nói chung, lỗi giới từ nói riêng sẽ giúp người học xây dựng được những chiến lược học tập hiệu quả, tích cực, rút ngắn thời gian tìm hiểu và tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai

Trang 37

Trên cơ sở quan niệm về giới từ, về lỗi trong quá trình học ngoại ngữ, chương tiếp theo của luận văn sẽ đi vào tìm hiểu và đánh giá thực trạng mắc lỗi giới từ của sinh viên Trường Cao đẳng công nghiệp Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 38

Chương 2 KHẢO SÁT LỖI SỬ DỤNG GIỚI TỪ TIẾNG ANH

CỦA NGƯỜI VIỆT 2.1 Đối tượng và phương thức khảo sát

2.1.1 Đối tượng khảo sát

Dựa trên những cơ sở lí thuyết có liên quan trong Chương 1, chúng tôi tiến hành việc khảo sát lỗi sử dụng giới từ của người Việt học tiếng Anh, cụ thể là của sinh viên năm thứ nhất không chuyên ngữ tại trường Trường Cao đẳng Công nghiệp Phúc Yên, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là những sinh viên mới vào học tại một trường chuyên nghiệp, trình độ tiếng Anh chưa cao, mới ở mức

sơ cấp Sau đây là số lượng sinh viên các khoa tham gia khảo sát:

(1) 50 sinh viên khoa Công nghệ thông tin

(2) 50 sinh viên khoa Điện tử- Viễn thông

(3) 50 sinh viên khoa Tài nguyên- Môi trường

(4) 50 sinh viên khoa Điện- Tự động hóa

(5) 50 sinh viên khoa Cơ khí

(6) 50 sinh viên khoa Động lực

2.1.2 Phương thức khảo sát

Thông qua các câu hỏi khảo sát, chúng tôi tiến hành thống kê các kết quả thu được, từ đó phân tích, đánh giá tình hình sử dụng giới từ tiếng Anh của người Việt

Do đối tượng khảo sát là sinh viên có trình độ tiếng Anh thấp cho nên câu hỏi khảo sát của chúng tôi gồm ba mục kiểm tra, chia theo hai dạng bài với các giới từ cơ bản ở mức độ sơ cấp (Xem Phụ lục):

Trang 39

- Dạng 1: Chọn đáp án đúng vào chỗ trống: Giới từ được để trống để học viên đọc câu lựa chọn giới từ thích hợp vào chỗ trống để phù hợp nghĩa và cấu trúc cụm từ kèm theo để nhận diện lỗi về cấu trúc

- Dạng 2: Dịch tiếng Việt sang tiếng Anh: Các câu tiếng Việt chứa những từ loại tương đương dịch nghĩa sang giới từ tiếng Anh được sắp xếp theo độ khó tăng dần để học viên lựa chọn giới từ và cụm từ phù hợp để chuyển dịch qua đó nhận diện lỗi về ngữ nghĩa

Chúng tôi sử dụng hai dạng bài này vì: (a) Dạng bài thứ nhất giúp chúng tôi phát hiện các lỗi sai về cấu trúc của sinh viên Thông qua các câu hỏi cho sẵn đáp án lựa chọn để sinh viên dễ trả lời và tạo tiền đề để tiếp tục cho các câu hỏi ở dạng hai; (b) Dạng bài thứ hai đưa ra yêu cầu cao hơn khi sinh viên không những không có các đáp án lựa chọn mà còn phải dịch một câu tiếng Việt sang một câu tiếng Anh chứa giới từ tương đương Các câu hỏi sẽ tăng dần độ khó để giúp chúng tôi phân loại

2.2 Kết quả khảo sát

Trang 40

170 171

226

165 156

294

192

174 180 176

189 215

171 221

2 Nhầm Since-for 56%

3 Sai

At ( Thời gian ) 57%

4 Nhầm Because - because of 75%

5 Nhầm Although - Inspite of 55%

8 Nhầm

To - with 64%

9 Sai

On ( Địa điểm ) 58%

10 Nhầm Between - among 60%

11 Nhầm

In - to 58%

12 Nhầm

On - under 63%

13 Nhầm

On - in 71%

14 Thừa

In ( địa điểm ) 57%

15 Nhầm

On - at 74%

16 Thiếu Thiếu giới từ 54%

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w