Mối quan hệ giữa những người lớn tuổi với trẻ em ngày một mờ dần, sự quan tâm chăm sóc người lớn tuổi ngày một ít đi, hay chăng đó chỉ là quan tâm về mặt vật chất còn về mặt tinh thần, s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRƯƠNG THỊ ĐIỂM
CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CAO TUỔI
Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI (Nghiên cứu tại xã Quỳnh Bá – Quỳnh Lưu – Nghệ An )
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Công tác Xã hội
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Mạnh Lợi
Hà Nội – 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận văn là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Mạnh Lợi
Kết quả nghiên cứu của luận văn dựa trên quá trình thu thập thông tin, khảo sát
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Trương Thị Điểm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Vũ Mạnh Lợi
người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy, cô trong khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong 2 năm qua
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến người cao tuổi, gia đình, cá nhân, các tổ chức, hội, cơ quan chính quyền tại địa bàn nghiên cứu đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn
Học viên
Trương Thị Điểm
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 19
4 Phạm vi nghiên cứu 19
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 19
6 Ý nghĩa của nghiên cứu 20
7 Câu hỏi nghiên cứu 21
8 Giả thuyết nghiên cứu 21
9 Phương pháp nghiên cứu 21
10 Kết cấu luận văn 24
NỘI DUNG 25
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 25
1.1 Các khái niệm công cụ 25
1.1.1 Người cao tuổi 25
1.1.2 Sức khỏe, chăm sóc sức khỏe 26
1.1.3 Nông thôn 28
1.1.4 Công tác xã hội 29
1 2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 29
1.1.5 Thuyết phát triển nhu cầu con người 29
1.1.6 Lý thuyết hiện đại hóa của William Goode 30
1.1.7 Lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parsons 31
1.1.8 Thuyết vị thế vai trò (G.H.Mead) 31
1.3 Đặc điểm tâm sinh lý người cao tuổi 35
1.4 Luật pháp và chính sách của Việt Nam đối với Người cao tuổi 36
1.5 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 39
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở
NÔNG THÔN TẠI XÃ QUỲNH BÁ 45
2.1 Đặc điểm đời sống người cao tuổi tại địa phương 45
2.1.1 Quy mô gia đình và sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi 45
2.1.2 Mối quan hệ giữa người cao tuổi và các thành viên trong gia đình 48
2.1.3 Hoạt động kinh tế và thu nhập của người cao tuổi 54
2.2 Sức khỏe và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi tại địa bàn xã 64
2.2.1 Sức khỏe người cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu 64
2.2.2 Hoạt động của gia đình trong việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi 69
2.3 Tổ chức xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 77
2.3.1 Khám chữa bệnh miễn phí 77
2.3.2 Các tổ chức đoàn thể người cao tuổi tham gia 79
Chương 3: TRIỂN VỌNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI CAO TUỔI VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI 82
3.1 Triển vọng chăm sóc sức khỏe người cao tuổi 82
3.2 Công tác xã hội với người cao tuổi 84
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tỷ lệ độ tuổi 40
Hình 2.2 Tỷ lệ giới tính 41
Hình 2.3 Trình độ học vấn của người cao tuổi 42
Hình 2.4 Tình trạng hôn nhân 43
Hình 2.5 Tỷ lệ góa theo giới (%) 44
Hình 2.6 Quy mô gia đình và cơ cấu thế hệ 45
Hình 2.7 Sắp xếp cuộc sống của người cao tuổi 46
Hình 2.8 Mức độ gặp mặt của những người con không sống cùng hộ người cao tuổi 47
Hình 2.9 Mức độ liên lạc của những người con không sống cùng người cao tuổi (ngoài gặp trực tiếp) 48
Hình 2.10 Người sống cùng hộ mà người cao tuổi tâm sự, trò chuyện theo giới tính 49
Hình 2.11 Người không sống cùng hộ mà người cao tuổi tâm sự, trò chuyện theo giới tính 49
Hình 2.12 Mối quan hệ giữa người cao tuổi với con trai sống cùng hộ 50
Hình 2.13 Mối quan hệ giữa người cao tuổi với con gái sống cùng hộ 51
Hình 2.14 Mối quan hệ giữa người cao tuổi với con dâu sống cùng hộ 51
Hình 2.15 Mối quan hệ giữa người cao tuổi và con rể sống cùng hộ 52
Hình 2.16 Mức độ hài lòng của người cao tuổi với cư xử của mọi người trong hộ gia đình 53
Hình 2.17 Tỷ lệ người cao tuổi tham gia lao động tạo thu nhập 54
Hình 2.18 Đánh giá thu nhập dành cho sinh hoạt cá nhân hàng ngày (%) 57
Hình 2.19 Lý do người cao tuổi không tham gia lao động tạo thu nhập 58
Hình 2.20 Nguồn thu nhập của người cao tuổi không tham gia lao động tạo thu nhập 59
Hình 2.21 Tỷ lệ người cao tuổi tham gia làm việc nhà trong 1 tháng qua 60
Hình 2.22 Nguồn thu nhập chính của hộ gia đình người cao tuổi 62
Trang 7Hình 2.23 Ước tính thu nhập trung bình của mỗi người trong hộ gia đình người cao
tuổi trong 12 tháng qua 63
Hình 2.24 Đánh gia kinh tế hộ gia đình mình so với các hộ khác trong thôn 63
Hình 2.25 Tỷ lệ hộ nghèo theo quy đinh của Bộ LĐTB và XH 64
Hình 2.26 Người cao tuổi tự đánh giá tình trạng sức khỏe theo độ tuổi 65
Hình 2.27 Người cao tuổi tự đánh giá tình trạng sức khỏe theo giới tính 66
Hình 2.28 Tỷ lệ đọc, viết của người cao tuổi 66
Hình 2.29 Mức độ đi lại của người cao tuổi 67
Hình 2.30 Tỷ lệ người cao tuổi có bệnh mãn tính 68
Hình 2.31 Tỷ lệ người cao tuổi mắc 2 bệnh mãn tính 68
Hình 2.32 Hoạt động sinh hoạt của người cao tuổi cần sự hỗ trợ 70
Hình 2.33 Tỷ lệ người cao tuổi có bảo hiểm y tế 79
Hình 2.34 Tỷ lệ người cao tuổi nhận được sự hỗ trợ về chăm sóc sức khỏe trong 12 tháng qua 78
Hình 2.35 Tỷ lệ người cao tuổi tham gia sinh hoạt tại các hội, câu lạc bộ 80
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tỷ lệ người cao tuổi tham gia lao động tạo thu nhập trong các nghề
55
Bảng 2.2 Số giờ lao động trung bình trong 1 ngày trong 1 tháng qua của người cao tuổi tham gia lao động tạo thu nhập (%) (chỉ tính ngày làm việc) 56
Bảng 2.3 Thu nhập trung bình 1 tháng của người cao tuổi từ nghề chính trong 12 tháng qua (%) 56
Bảng 2.4 Tỷ lệ người cao tuổi hỗ trợ con cháu trong hộ gia đình về vật chất trong 12 tháng qua (%) 60
Bảng 2.5 Tỷ lệ người cao tuổi đi khám sức khỏe định kỳ trong 12 tháng qua và người chi trả cho mỗi lần đi khám sức khỏe định kỳ 69
Bảng 2.6 Tỷ lệ người coa tuổi đi bệnh viện trong 3 năm qua 71
Bảng 2.7 Đối tượng đưa người cao tuổi đi bệnh viện trong 3 năm qua 71
Bảng 2.8 Người trả tiền chăm sóc người cao tuổi trong lần đi bệnh viện 72
Bảng 2.9 Tỷ lệ người cao tuổi bị ốm phải nằm ít nhất 1 ngày trở lên trong lần gần đây nhất (%) 73
Bảng 2.10 Thời gian trở lại sinh hoạt bình thường sau lần ốm phải nằm ít nhất 1 ngày trở lên (%) 74
Bảng 2.11 Người giúp đỡ, chăm sóc người cao tuổi trong thời gian ốm phải nằm ít nhất 1 ngày trở lên (%) 74
Bảng 2.12 Dịch vụ khám chữa bệnh người cao tuổi sử dụng trong lần ốm phải nằm ít nhất 1 ngày (%) 75
Bảng 2.13 Tỷ lệ người cao tuổi bị ốm đau hoặc chấn thương cần được điều trị nhưng không nhận được bất kỳ điều trị nào và lý do không nhận được điều trị 76
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang
có xu hướng gia tăng nhanh Theo dự báo của Tổng cục Thống kê năm 2010 (GSO, 2010) cho thấy tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên ở Việt Nam sẽ chạm ngưỡng 10% tổng dân số vào năm 2017, tức là dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 Tiếp đó, cũng theo dự báo này thì chỉ sau hai thập kỷ nữa dân số Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn “già” khi mà chỉ số già hóa tăng từ 35,5 năm 2009 lên hơn 100 vào năm 2032 Già hóa dân số sẽ có những khó khăn, thách thức trong việc thực hiện chính sách, đảm bảo các nhu cầu trong cuộc sống, đặc biệt là nhu cầu chăm sóc sức khỏe
Ở Việt Nam, việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi vừa mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội vừa mang tính nhân văn sâu sắc Từ xưa nhân
dân ta đã có những câu ca dao, tục ngữ như: “uống nước nhớ nguồn” hay “công
cha như núi Thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra ” Người cao
tuổi là tầng lớp đã có nhiều cống hiến cho xã hội vì vậy cần phải có những chính sách phù hợp chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Nhà nước ta đã có những chính sách, sự quan tâm đến đời sống, sức khỏe của người cao tuổi
Vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở thành thị và nông thôn khác nhau do ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất Mô hình gia đình hạt nhân ngày một phổ biến ở nông thôn Ở nhiều gia đình, con cái trưởng thành đi làm ăn xa không thường xuyên đóng góp hay chăm sóc cho cha mẹ đã già Nhiều người cao tuổi không cùng sống với con cái trong một mái nhà, họ tự lo từng bữa cơm, tự chăm sóc Ở nông thôn những gia đình làm nông nghiệp, sau thời gian vào vụ mùa những người nông dân thường nhàn rỗi ít có công việc làm thêm tại địa phương lực lượng lao động chính (là thanh niên; trung niên) ở nông thôn di cư ra những thành phố lớn tìm việc làm để tăng thu nhập, dẫn đến tình trạng hiện nay ở nông thôn chủ yếu chỉ có người già và trẻ em Họ là hai đối tượng cần được chăm sóc thì ngược lại, họ tự chăm sóc lẫn nhau Nhiều người cao tuổi đã đến lúc cần được nghỉ ngơi,
Trang 10phụng dưỡng nhưng vẫn phải làm việc như chăm cháu, làm việc nhà, thậm chí cả những công việc nặng nhọc của đồng ruộng Người dân ở nông thôn thường chú trọng làm kinh tế để đáp ứng các nhu cầu kinh tế thiết yếu của gia đình hơn là chăm sóc sức khỏe cho người già Điều đó ảnh hưởng đến sức khỏe và việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Các cơ sở y tế ở nông thôn, đặc biệt là y tế tuyến xã, thường có điều kiện vật chất nghèo nàn, trang thết bị, dụng cụ y tế, thuốc men còn thiếu thốn nhiều, nên cũng khó đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh đa dạng của người cao tuổi Người cao tuổi mỗi khi có bệnh cũng ngại đến các cơ sở y tế địa phương để chữa trị Nếu phải lên các tuyến bệnh viện cấp trên, việc đi lại rất khó khăn đối với người cao tuổi Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi thường rất tốn kém và kéo dài, thường quá khả năng chi trả của họ Nhiều người cao tuổi không có lương hưu, kinh tế gia đình khó khăn nên thường có tâm lý ngại khám chữa bệnh và không chú trọng đúng mức đến chăm sóc sức khỏe dẫn đến sức khỏe yếu và ngày càng yếu hơn
Tóm lại, gia đình vốn là nơi cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi chính trong quá khứ thì nay không còn làm tốt chức năng này nữa Vai trò của Nhà nước
và các tổ chức xã hội trong việc chăm sóc người cao tuổi ngày một tăng, các trung tâm, viện dưỡng lão ra đời, những chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi ngày càng được chú ý và bổ sung đầy đủ hơn Chính sự quan tâm của xã hội, Nhà nước và các
tổ chức đã giúp người cao tuổi có cuộc sống tốt hơn khi về già, đặc biệt là với những người cao tuổi không nơi nương tựa, giúp họ phát huy vai trò, kinh nghiệm của mình để tiếp tục xây dựng và đóng góp cho xã hội Ngoài ra, đảm bảo chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi còn là vấn đề quyền con người mà Nhà nước phải có trách nhiệm, đó là quyền được chăm sóc Nhận thấy vấn đề chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi ở nông thôn còn nhiều khía cạnh chưa được nghiên cứu,
nên tôi chọn đề tài: Chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam
hiện nay và hoạt động của công tác xã hội(Nghiên cứu tại xã Quỳnh Bá – Quỳnh Lưu – Nghệ An) để tìm hiểu thêm về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông
thôn
Trang 112 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Các nghiên cứu quốc tế và khu vực
2.1.1 Già hóa dân số và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Già hóa dân số đã và đang là vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới, do giảm sinh và tăng tuổi thọ ngày càng có nhiều nước dân số bị già hóa nhanh Giữa năm 2005 và 2050, một nửa số dân tăng trên thể giới là do tăng dân số ở độ tuổi 60 trở lên, trong khi đó số trẻ em (những người dưới 15 tuổi) sẽ giảm nhẹ Hơn nữa, ở những vùng phát triển hơn, dân số 60 tuổi trở lên dự tính tăng gần gấp đôi (từ 245 triệu năm 2005 lên đến 406 triệu vào năm 2050), trong khi dân số dưới 60 tuổi sẽ giảm (từ 971 triệu năm 2005 xuống còn 839 triệu năm 2050).1
Số lượng người cao tuổi ngày một gia tăng nhanh chóng, trong năm 2010 ước tính có khoảng 524 triệu người ở độ tuổi 65, chiếm 8% dân số của thế giới nhưng đến năm 2050, con số đó tăng lên gần 1.5 tỉ và chiếm 16% dân số thế giới Già hóa dân số phát triển nhanh ở các nước kém phát triển.2
Già hóa dân số dẫn đến sự thay đổi trong nhân khẩu học Điều này đặt ra
những thách thức mới cho các gia đình, cộng đồng và các quốc gia nói chung, đặc biệt là mô hình gia đình hạt nhân, ít thế hệ sinh sống trong một gia đình trong việc quan tâm đến người cao tuổi Người cao tuổi sẽ sống lâu hơn và cũng sẽ có rất ít người trẻ để hỗ trợ họ Ngoài ra, điều này cũng tác động đến độ tuổi lao động các
nguồn lực cho dịch vụ y tế và hỗ trợ xã hội (Population ageing and the well-being
of older persons in Thailand: Past trends, current situation and future challenges,
2008, John Knodel Napaporn Chayovan)
Sự gia tăng nhanh chóng về số người cao tuổi đã ảnh hưởng đến các dịch vụ
y tế, đặc biệt là chi phí cho y tế ngày một cao, việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc y
tế của người lớn tăng lên cùng với tuổi tác mặc dù các yếu tố như thu nhập và công nghệ trong y học cũng phát triển Điều này đang đặt áp lực lên vai trò của Nhà nước
và các tổ chức vì với mô hình gia đình hạt nhân, vai trò của gia đình đối với việc
chăm sóc người cao tuổi đã bị thu hẹp đáng kể (Global Health and Aging, WHO)
Trang 12Việc quản lý và chăm sóc sức khỏe người cao tuổi về thể chất và tinh thần của các tổ chức, cộng đồng trong xã hội ngày một phổ biến và đạt hiệu quả Người cao tuổi cảm thấy thoải mái và ấm áp hơn khi được các tổ chức, cộng đồng và xã hội quan tâm, chăm sóc – điều mà hiện nay gia đình ở nhiều nước không còn đóng vai trò chính Xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi có sự tham gia của cộng đồng sẽ đem lại kết quả cao, nâng cao ý thức và trách nhiệm của toàn
xã hội (Developing of Health care manaement for the Elderly by Community
participation in Isan, 2008, Chanitta Soommaht; Songkoon Chantachon và Paiboon
Boonchai)
2.1.2 Sự hỗ trợ giữa các thế hệ trong gia đình
Sự hỗ trợ giữa các thế hệ trong gia đình hiện nay đang rất được quan tâm Không chỉ nghiên cứu về sự hỗ trợ, tương tác giữa các thế hệ trong gia đình mà còn
mở rộng ra về mạng lưới hỗ trợ, quá trình tương tác qua lại giữa các thế hệ , ảnh hưởng của sự già hóa, sự tương tác giữa các thế hệ và những yếu tố kinh tế vĩ mô
(Kinsella and He, 2009).3
Những nghiên cứu về mối liên hệ giữa các thế hệ trong gia đình ban đầu chủ yếu tập trung vào loại gia đình hạt nhân Đến những năm 1980, nghiên cứu về mối liên hệ giữa các thế hệ tập trung nhiều hơn vào mối quan hệ giữa người cao tuổi và
các thành viên trong gia đình Sussman (1991) cho rằng hiện đại hoá là nhân tố
chính ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa các thế hệ trong gia đình Khi mô hình gia đình gia đình hạt nhân ngày một tăng lên thay thế cho gia đình truyền thống, gia đình hai thế hệ ngày một phổ biến, trẻ em ngày càng ít được gặp gỡ thường xuyên với những thành viên lớn tuổi Mối quan hệ giữa những người lớn tuổi với trẻ em ngày một mờ dần, sự quan tâm chăm sóc người lớn tuổi ngày một ít đi, hay chăng
đó chỉ là quan tâm về mặt vật chất còn về mặt tinh thần, sức khỏe không được chú
ý.4
Ge Lin (2002) sử dụng luận điểm về hiện đại hoá của Goode rằng khi một
xã hội hiện đại hoá, cấu trúc gia đình mở rộng sẽ chuyển đổi thành gia đình hạt
3 Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân 4
Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân
Trang 13nhân do đó làm suy yếu mối quan hệ qua lại giữa các thế hệ Sự suy giảm những hỗ trợ từ gia đình, cả về mặt xã hội và kinh tế là chịu tác động của công nghiệp hoá
và hiện đại hoá Quá trình đô thị hoá cũng diễn ra nhanh chóng ở nông thôn, sự suy giảm quyền lực, việc làm của người cao tuổi đã xảy ra trên khắp thế giới.5
Vai trò của gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi cũng ngày càng thay đổi, gia đình có trách nhiệm chăm sóc trẻ nhỏ và người lớn tuổi, nhưng hiện nay với
mô hình gia đình hạt nhân, với sự hiện đại hóa và công nghiệp hóa thì vai trò đó của gia đình lại được Nhà nước và các tổ chức xã hội đảm nhiệm Số lượng, và tỷ lệ phần trăm của những người lớn tuổi sống một mình đang gia tăng ở hầu hết các nước Ở một số nước châu Âu, hơn 40 % phụ nữ trong độ tuổi từ 65 tuổi trở lên sống một mình Ngay cả trong các xã hội có truyền thống mạnh mẽ cha mẹ sống với con cái, như ở Nhật Bản, cuộc sống gia đình truyền thống đang trở nên ít phổ
biến hơn (Global Health and Aging, WHO)
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Những nghiên cứu trong nước về người cao tuổi ngày một nhiều, điều đó thể hiện sự quan tâm của xã hội đến vấn đề giá hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng hiện nay
2.2.1 Sự gia tăng tỉ lệ dân số già
Theo dự báo dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thì tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân số Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “già hóa” từ năm 2017 Với sự thay đổi về cơ cấu dân số sẽ tạo ra những thách thức cũng như cơ hội cho Việt Nam Dự báo dân
số cũng cho thấy tỷ số hỗ trợ tiềm năng giảm nhanh chóng trong thời gian tới khi tốc độ tăng của dân số cao tuổi ngày càng lớn Nếu năm 2009, cứ hơn 7 người trong
độ tuổi lao động sẽ hỗ trợ 1 người cao tuổi thì đến năm 2049, tỷ số này chỉ là 2, tức
là giảm hơn 3 lần Quá trình già hóa dân số ở Việt Nam là sẽ “già ở nhóm già nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng người cao tuổi ở độ tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn
5
Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân
Trang 14Số liệu từ bốn cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở giai đoạn 1979-2009 cho thấy tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm tuổi thấp nhất (từ 60-69) tăng chậm, trong khi tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm cao tuổi trung bình (70-79) và già nhất (80 tuổi trở lên) có
xu hướng tăng nhanh hơn Số liệu dự báo của GSO (2010) cho giai đoạn 2009-2049 cho thấy, khi Việt Nam bước vào giai đoạn dân số “già” cũng là lúc nhóm dân số cao tuổi nhất tăng với tốc độ cao nhất So với các nước khác trên thế giới thì tốc độ già hóa dân số Việt Nam khá cao Thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn „già hóa‟ sang „già‟) là ngắn hơn nhiều nước: Pháp mất 115 năm; Mỹ mất 69 năm, Nhật Bản
và Trung Quốc mất 26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất 20 năm Là một nước thuộc nhóm nước đang phát triển thì đây thực sự là thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với sự già hóa nhanh, ảnh hưởng đến cơ cấu độ tuổi lao động, các hệ thống chính sách và dịch vụ [18, tr.19]
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người cao tuổi
Ngoài những yếu tố về di truyền, lối sống, bệnh tật, khả năng thích ứng với ngoại cảnh còn có những yếu tố ngoại cảnh như môi trường xã hội, thể chế, mức sống, tài chính, đạo đức truyền thống, sự giúp đỡ của gia đình và cộng đồng Dựa vào những yếu tố này có thể biết và hiểu rõ hơn về những tác động đến sức khỏe người cao tuổi và có những biện pháp hỗ trợ hiệu quả Người cao tuổi sau bao nhiêu năm cống hiến cho xã hội, lo cho con cái và khi về già họ cần có sự quan tâm, sự tôn trọng của những người xung quanh để không cảm thấy cô đơn và có cảm giác bị
bỏ rơi Những yếu tố kính trọng, “uống nước nhớ nguồn” sẽ tác động tích cực cho sức khỏe người cao tuổi, ngược lại, sự lãng quên, mâu thuẫn giữa các thế hệ, sa sút
đạo đức tác động tiêu cực đến sức khỏe người cao tuổi (Người cao tuổi và an sinh
xã hội, 1994, Trịnh Duy Luân, Lê Truyền, Bùi Thế Cường)
Số người cao tuổi tăng lên sẽ làm tăng thêm áp lực cho kinh tế, xã hội để duy trì cuộc sống khỏe mạnh cho người cao tuổi, vấn đề tài chính cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ngày càng quan trọng, chi phí khám chữa bệnh tăng Trong báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già của PGS.TS Phạm Thắng và TS Đỗ Thị Khánh Hỷ đã nêu lên những khó khăn, thách thức trong công tác chăm sóc sức
Trang 15khỏe cho người cao tuổi, những bệnh tật, chi phí khám chữa bệnh, dịch vụ chăm sóc sức khỏe
* Sự hỗ trợ về vật chất giữa cha mẹ và con cháu: mỗi người có những nguồn
thu nhập khác nhau nhưng trong đó có một phần quan trọng đó là sự hỗ trợ từ con cháu
Điều tra gia đình Việt Nam 2006 cho thấy 39,3% người cao tuổi cho biết
nguồn sống chính của họ là do con cháu chu cấp 30% là từ lao động của bản thân 29% từ lương hưu hoặc trợ cấp 1,6% từ các nguồn của cải được tích lũy và 3,2% từ các nguồn khác Sự hỗ trợ của con cháu vẫn đóng vai trò chính trong việc chăm sóc người cao tuổi thể hiện trách nhiệm, đạo lý đối với ông bà, các thế hệ trước Ngoài việc hỗ trợ về tiền bạc, con cháu còn hỗ trợ người cao tuổi bằng những vật dụng Người cao tuổi ở thành thị hoặc sống trong gia đình có mức sống cao hơn và thường nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn những người cao tuổi ở nông thôn hoặc
sống trong hộ gia đình có mức sống thấp (Giang Thanh Long và Wade donald Pfau,
2007)6 Đặc biệt là có sự khác nhau rõ rệt về nguồn sống chính giữa nam và nữ So
với nam, phụ nữ cao tuổi phải dựa vào sự chu cấp của con cháu nhiều hơn Kết quả
điều tra gia đình Việt Nam 2006 đã chỉ rõ chỗ dựa chính của người cao tuổi là gia
đình mà trước hết là con cháu Sự giúp đỡ của con cháu có thể là chỗ dựa duy nhất hoặc bổ sung cho các chi phí lớn đối với người cao tuổi tùy vào hoàn cảnh và khoảng cách sống khác nhau, trong khi sự hỗ trợ từ phía Nhà nước và các tổ chức còn hạn chế
Bên cạnh việc cha mẹ nhận sự hỗ trợ từ con cháu thì ngược lại con cháu cũng nhận được sự hỗ trợ từ cha mẹ già Đó có thể là hỗ trợ trong những công việc
gia đình như nội trợ, chăm cháu hay hỗ trợ về kinh tế Theo Điều tra gia đình Việt
Nam, 2006 thì trên 90% người cao tuổi cho biết họ hỗ trợ con cháu mình ít nhất
một trong các hoạt động: kinh tế; truyền đạt kinh nghiệm; chăm sóc gia đình Người cao tuổi ở nông thôn tham gia nhiều vào việc tạo thu nhập và chia sẻ kinh nghiệm làm ăn cho con cháu, 50,3% người cao tuổi ở nông thôn góp phần tạo thu nhập cho
6
Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân
Trang 16gia đình và 50,9% chia sẻ kinh nghiệm làm ăn với con cháu Sự hỗ trợ đối với con cháu vừa thể hiện trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, vừa khiến người được hỏi cảm nhận được bản thân mình vẫn có ích dù đã nhiều tuổi
Sự hỗ trợ, mối tương tác qua lại giữa cha mẹ với con cháu hay giữa con cháu với cha mẹ là thể hiện sự yêu thương, đạo lý từ xưa Việc phát huy tinh thần này trong cuộc sống hằng ngày sẽ giúp cho người cao tuổi có cuộc sống tốt hơn cả về tinh thần và vật chất
* Mối quan hệ tình cảm, tinh thần giữa người cao tuổi và con cháu: “Kính
trên nhường dưới”, kính lão, là truyền thống đạo đức bao đời nay Tuy nhiên với
sự phát triển của kinh tế, xã hội, sự thay đổi của mô hình gia đình, nhiều người cao tuổi sống riêng với con cái, khoảng cách về không gian sống, lối sống đã tác động đến tình cảm giữa người cao tuổi với con cháu và ngược lại
Đối tượng tâm sự, trò chuyện của người cao tuổi là những người thân trong
gia đình Kết quả Điều tra gia đình Việt Nam 2006 cho thấy 37,5% người cao tuổi
thường trò chuyện, tâm sự với vợ hoặc chồng của mình khi vui buồn trong cuộc sống, 24,8% trò chuyện với con cái và 12,5% tâm sự, trò chuyện với bạn bè và hàng xóm Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt giữa người cao tuổi là nam và người cao tuổi
là nữ trong việc trò chuyện, tâm sự Phụ nữ nói chuyện với con cái nhiều hơn nam giới 37% phụ nữ cao tuổi cho biết họ nói chuyện với con, 19,1% với chồng và 12,6% với bạn bè, hàng xóm Trong khi đó, 56% người cao tuổi là nam trò chuyện với vợ, 12% với con cháu và 12,6% với bạn bè hoặc hàng xóm
Không chỉ có con cháu mới hỗ trợ, giúp đỡ cha mẹ, ngược lại cha mẹ cũng
hỗ trợ, giúp đỡ con cháu như trông nom, giáo dục con cháu Trong nghiên cứu của Đặng Cảnh Khanh, người cao tuổi đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục con cái các giá trị truyền thống trong gia đình 1/4 số người cao tuổi được hỏi thường xuyên trao đổi với con cháu, đặc biệt là trong việc giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống Người cao tuổi là nhóm có mực độ quan tâm đến việc giáo dục con cháu cao nhất, chỉ bảo những truyền thống, hiếu, lễ cho con cháu Chính vai trò đó
Trang 17của người cao tuổi đã giúp phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc.7 Điều
tra Gia đình Việt Nam 2006 cũng cho thấy cả nam và nữ giới cao tuổi đều tham
gia nhiều nhất vào việc dạy dỗ con cháu: 90,5% nam và 85,8% nữ Tỷ lệ nam giới cao tuổi tham gia giáo dục con cháu cao hơn so với nữ giới, tùy thuộc vào trình độ, năng lực và sức khỏe mà các nhóm người cao tuổi cũng có những khác biệt nhất định Những người cao tuổi hưu trí, nghỉ mất sức có nhiều điều kiện giáo dục con
cháu hơn những người chỉ làm nội trợ (Lê Ngọc Lân và cộng sự, 2011) 8
Như vậy, trong mối quan hệ tinh thần, tình cảm giữa người cao tuổi với con cháu không chỉ dừng lại ở việc tâm sự, trò chuyện mà còn giúp con cháu trong các công việc hằng ngày như chăm sóc, giáo dục con cháu
Sự quan tâm, thăm hỏi và chăm sóc của con cháu đối với người cao tuổi
cũng có những mức độ khác nhau Theo kết quả Điều tra gia đình Việt Nam 2006
trong 12 tháng qua trước điều tra có 95,9% số người có con đã tách hộ về thăm cha
mẹ Do tác động, ảnh hưởng của kinh tế, tính chất công việc, hoàn cảnh sống khác nhau nên việc thăm cha mẹ cũng khác nhau Có 28% thăm hỏi cha mẹ hàng ngày, 21,5% thăm hỏi một vài lần trong tuần, 17,8% thăm hỏi một vài lần trong tháng, 24,3 % thăm hỏi một vài lần trong năm, 8,1 % thăm hỏi vài năm 1 lần và 3,6% chưa
về thăm bố mẹ lần nào trong năm Nghiên cứu của Hirschman và Vũ Mạnh Lợi cũng cho kết quả tương tự trong số những người con trưởng thành, theo đó khoảng 60% sống gần cha mẹ, thăm nom họ hằng ngày hoặc ít nhất cũng một lần
trong tuần (Hirschman C and Vũ Mạnh Lợi 1996).9
* Sức khỏe người cao tuổi và vấn đề chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Con người khi về già sức khỏe ngày một giảm sút, quá trình già hóa gây rủi
ro tử vong và hạn chế các chức năng trong cơ thể Điều tra gia đình Việt Nam 2006
cho thấy có 50% người cao tuổi có sức khỏe bình thường trở lên Người cao tuổi ở
7 Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân
8 Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân
9 Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân
Trang 18thành thị có sức khỏe bình thường trở lên là 51,2 % còn ở nông thôn là 48,2% Những nơi có mức sống cao thì sức khỏe người cao tuổi tốt hơn
Các cuộc nghiên cứu, điều tra về người cao tuổi cũng đã phản ánh tình hình sức khỏe người cao tuổi nói chung, hay sức khỏe của nam người cao tuổi so với nữ người cao tuổi VNAS thu thập số liệu từ tháng 10 – 12/2011 tại 12 tỉnh, thành phố đại điện cho 6 vùng sinh thái của Việt Nam (bao gồm Thái Nguyên, Hưng Yên, Thanh Hóa, Hà Nội, Nam Định, Huế, Đắk Lắk, Đồng Nai, Sóc Trăng, Tiền Giang
và TP Hồ Chí Minh) Hơn 4.000 người đại diện cho nhóm dân số cận cao tuổi
và cao tuổi (từ 50 tuổi trở lên) đã được mời tham gia cuộc điều tra này Tại thời điểm điều tra, có tới trên 50% số người cao tuổi được phỏng vấn cho rằng, tình trạng sức khỏe hiện tại là yếu hoặc rất yếu Đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau lưng
là các triệu chứng thường gặp nhất người cao tuổi Gần 40% người cao tuổi được chẩn đoán có bệnh huyết áp Trên 30% người cao tuổi được chẩn đoán viêm khớp Tiếp theo là một số bệnh như tim mạch, răng miệng, viêm phế quản hoặc bệnh phổi mãn tính, song tỷ lệ mắc các bệnh này không quá 20% Người cao tuổi ở thành thị mắc tiểu đường cao hơn nông thôn Tỷ lệ người cao tuổi gặp ít nhất một khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo hay đi đại tiểu tiện là 30% Hơn 80% người cao tuổi bị chấn thương trong vòng 12 tháng qua được điều trị bởi cán bộ y tế Trong số người cao tuổi phải trả tiền cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, gần 50% trong số họ không đủ tiền chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Một điểm đáng lưu ý là tỷ lệ người cao tuổi nam được vợ chăm chiếm 65,5%, trong khi đó người cao tuổi nữ được chồng chăm chỉ có 20,1%, đây là một yếu tố về bất bình đẳng giới cần được quan tâm.10
Số liệu Điều tra gia đình Việt nam 2006 cho thấy, khi cha mẹ đau ốm, những người con gái về thăm hỏi cha mẹ đẻ cao hơn con trai (64,4 so với 60,1%), những người con ở nhóm tuổi cao hơn có tỷ lệ về chăm sóc cha mẹ nhiều hơn nhóm tuổi trẻ 11
10 Hội thảo công bố “Điều tra quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, 2012, VNAS
11 Người cao tuổi trong gia đình Việt Nam trong bối cảnh già hóa dân số và biến đổi xã hội, 2014, Lê Ngọc Lân
Trang 19Trong nghiên cứu của Trần Thị Mai Oanh, 2000 kết quả cho thấy có sự khác
biệt giữa cụ ông và cụ bà trong việc mắc một số bệnh như: bệnh đau đầu, chóng mặt, bệnh khớp là những bệnh cụ bà mắc nhiều hơn cụ ông và khi mắc bệnh cả cụ ông cũng như cụ bà đều đầu tiên tìm đến cơ sở y tế tư nhân
Tóm lại gia đình vẫn là chỗ dựa, là yếu tố chính trong việc chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai thì gia đình
có còn là yếu tố chính hay không, hay chức năng chăm sóc người cao tuổi được chuyển sang cho Nhà nước và các tổ chức xã hội đảm nhiệm vẫn là điều còn chưa
rõ Với mô hình gia đình hạt nhân ngày một phổ biến, sự phát triển kinh tế và xã hội, vòng quay cuộc sống sẽ làm cho mối quan hệ giữa các thế hệ ngày một thiếu khăng khít hơn không?
2.2.3 Chính sách và phúc lợi xã hội đối với người cao tuổi
Nhà nước đã và đang có những chủ trương, chính sách, pháp luật dành cho người cao tuổi, để đảm bảo cuộc sống tốt đẹp cả về tinh thần, vật chất và sức khỏe cho họ
Theo điều 17 Luật người cao tuổi (2009), đối tượng được hưởng chính sách bảo trợ xã hội gồm: Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người phụng dưỡng nhưng người này đang được hưởng chế độ trợ cấp chế độ xã hội hàng tháng,
và người đủ 80 tuổi trở lên không thuộc trường hợp trên mà không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hàng tháng Quy định này đã giúp người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi không có thu nhập đảm bảo có được cuộc sống tốt hơn Trong Nghị định 06/2011/NĐ-CP ngày 14/1/2011, xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng đối với người cao tuổi là 180.000 đồng, thay vì 120.000 đồng như quy định cũ Thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với người cao tuổi, góp phần giúp cuộc sống người cao tuổi đảm bảo hơn Hiện tại, người cao tuổi ở nông thôn ở địa bàn nghiên cứu đã được hưởng chính sách về trợ cấp xã hội
Trang 20
Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/ 2004/TT- BYT hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trong đó quy định: người cao
tuổi được… chăm sóc sức khoẻ, được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại địa phương Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuật trong chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi… Tổ chức mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà Trạm y tế xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý sức khoẻ và thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi tại địa phương Trường hợp người cao tuổi bị tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa bị ốm đau nhưng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì trưởng trạm y tế cấp xã
cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở của người cao tuổi hoặc báo cáo Uỷ ban nhân dân địa phương tổ chức đưa người bệnh đến cơ sở khám, chữa bệnh… thực hiện việc ưu tiên khám trước cho người bệnh cao tuổi (Sau trường hợp cấp cứu), phát triển các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc nhất là ở tuyến y tế
cơ sở đối với người bệnh cao tuổi.[8, tr.24]
Thông tư số 35/2011/TT-BYT trong công tác khám, chữa và phòng bệnh cho người cao tuổi; kiểm tra thường xuyên việc thực hiện ưu tiên khám, chữa bệnh cho người cao tuổi ở các bệnh viện; tiếp tục chỉ đạo, hướng dẫn áp dụng các mô hình chăm sóc sức khỏe ban đầu có hiệu quả; triển khai và nhân rộng số tỉnh tham gia Đề
án "Tư vấn và chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng"
Những quy định trong thông tư của Bộ Y Tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho người cao tuổi trong việc khám chữa bệnh Nhưng một số quy định trong Thông Tư vẫn chưa được thực hiện phổ biến tại nông thôn như tổ chức mạng lưới tình nguyện viên chăm sóc sức khỏe tại nhà cho người cao tuổi, việc quản lý chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi của Trạm y tế chưa được chú trọng phát triển
Thông tư số 21/2011/TT-BTC Quy định quản lý và sử dụng kinh phí chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú; chúc thọ, mừng thọ và biểu dương, khen thưởng người cao tuổi Thông tư 71/2011/TT-BGTVT, Thông tư số
Trang 21127/2011/TT-BTC đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, tổ chức xã hội đối với người cao tuổi và nâng cao hơn đời sống tinh thần của người cao tuổi Tuy nhiên, về
cơ sở hạ tầng, phương tiện đi lại chưa chú trọng đến việc thiết kế tạo thuận lợi cho người cao tuổi và rất dễ gây ra tại nạn cho người cao tuổi
Trong ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã tổng kết những thành tựu đạt được và những khó khăn như một số chế độ, chính sách chưa đến với người cao tuổi, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; xã hội hóa trong công tác chăm sóc người cao tuổi còn hạn chế và đề ra những nhiệm vụ đối với các Bộ, ban ngành Thể hiện tính cấp thiết của vấn đề già hóa dân số, đồng thời thể hiện sự quan tâm của các tổ chức, ban ngành trong xã hội đối với người cao tuổi
Phát huy hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi là một nhiệm vụ quan trọng, sau nhiều năm lao động và cống hiến, nuôi dạy giáo dục con cái người cao tuổi cần được đảm bảo vể nơi ăn chốn ở, chăm sóc khi ốm đau, được tôn trọng Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì việc đảm bảo an sinh xã hội cho
người cao tuổi ngày một quan trọng hơn (Bùi Thế Cường, 1992, Người có tuổi và hệ
thống An sinh xã hội) Ở Việt Nam hiện nay có những mô hình an sinh xã hội được
ghi nhận đó là: Mô hình an sinh xã hội truyền thống, trong đó gia đình và dòng họ đóng vai trò chăm sóc chính; mô hình an sinh xã hội được xây dựng theo cấu trúc kinh tế tập trung bao cấp, theo đó trợ cấp nhà nước đóng vai trò chính (trong thời kỳ bao cấp); tiếp đến là bảo hiểm xã hội trong hệ thống an sinh xã hội đóng vai trò (sau đổi mới) và hiện nay là mô hình an sinh xã hội hỗn hợp gồm Nhà nước, gia đình, họ
hàng, cộng đồng (Báo cáo sơ bộ tổng quan vai trò nhà nước và gia đình trong
chăm sóc người cao tuổi, 2014, TS Trần Thị Minh Thi và Cộng sự)
Tóm lại, các nghiên cứu đã nêu lên được quá trình già hóa dân số nhanh chóng với số lượng người cao tuổi gia tăng mạnh mẽ hàng năm, những đặc điểm và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của người cao tuổi, sự quan tâm hỗ trợ từ phía gia đình đối với người cao tuổi và ngược lại Tuy nhiên, sự chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi hiện nay của gia đình đang có những thay đổi trong bối cảnh hạt nhân hóa gia đình truyền thống cũng như dưới tác động của các biến đổi về thể chế,
Trang 22kinh tế, xã hội, văn hóa trong quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa Gia đình có còn đóng vai trò chính trong việc chăm sóc người cao tuổi nữa không hay vai trò đó đang dần được chuyển đổi sang cho nhà nước và các tổ chức xã hội? Luận văn là nỗ lực làm rõ hơn vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn, mức độ quan tâm, hỗ trợ chăm sóc của gia đình
3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: chăm sóc sức khỏe cho người người cao tuổi ở nông thôn
- Khách thể nghiên cứu: Người cao tuổi (có độ tuổi từ 60 tuổi trở lên); gia đình; chính quyền địa phương
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: 4/2014 đến 10/2014
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Quỳnh Bá – Quỳnh Lưu – Nghệ An
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa gia đình và người cao tuổi; sự quan tâm chăm sóc; kinh tế; sự hỗ trợ của chính quyền địa phương đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại xã
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Tìm hiều về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam hiện nay nhằm giúp mọi người nhận thức rõ hơn về tình hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn Việt Nam Tuy nhiên do nguồn lực cho nghiên cứu có hạn nên nghiên cứu này giới hạn tại địa bàn một xã, qua đó có thể đưa ra những gợi mở cho những nghiên cứu tiếp theo về tình hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn hiện nay
+ Nghiên cứu, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi tại xã Quỳnh Bá
+ Tìm hiểu thực trạng gia đình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn xã Quỳnh Bá hiện nay
Trang 23+ Tìm hiểu việc thực hiện chính sách và vai trò của các cơ sở cung cấp dịch vụ (công và tư) đối với vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại xã
+ Tìm hiểu những hỗ trợ xã hội đối với việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại xã
6 Ý nghĩa của nghiên cứu
6.2 Ý nghĩa lý luận
Luận văn cung cấp thêm hiểu biết lý luận và thực tiễn về vai trò gia đình, nhà nước, và các tổ chức xã hội trong việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn Về mặt lý luận, luận văn đóng góp thêm hiểu biết về khía cạnh an sinh của người cao tuổi trong quá trình chuyển đổi mô hình gia từ truyền thống sang hiện đại, vai trò ngày càng gia tăng của Nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi Những thông tin thu được từ thực tế sẽ đóng góp thêm vào nguồn tham khảo cho những nghiên cứu xã hội về người cao tuổi và là tư liệu tham khảo cho các hoạt động thực tiễn trongng lĩnh vực này
6.3 Ý nghĩa thực tiễn
Hiện nay người cao tuổi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang
có xu hướng gia tăng nhanh và đang là mối quan tâm của cộng đồng thế giới Ở Việt Nam, cùng với quá trình hiện đại hóa, công nghiệp hóa và toàn cầu hóa, phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và đa dạng, nhiều chức năng của gia đình đang dần được chuyển cho các thiết chế, tổ chức bên ngoài gia đình đảm nhiệm hoặc cùng đảm nhiệm Trong bối cảnh đó, an sinh xã hội đối với người cao tuổi nói chung cũng như việc chăm sóc người cao tuổi nói riêng ở nông thôn cũng đang trong quá trình chuyển đổi từ chỗ gia đình thực hiện là chính sang hình thức ngày càng có sự tham gia nhiều hơn của cộng đồng, các tổ chức xã hội, nhà nước và
xã hội Những vấn đề về việc làm, thu nhập, tinh thần, sức khỏe đối với người cao tuổi cũng đang được cả gia đình, cộng đồng và xã hội quan tâm một cách toàn diện Chăm lo cuộc sống, sức khỏe cho người cao tuổi không chỉ là trách nhiệm của cá nhân, gia đình mà toàn xã hội Kết quả nghiên cứu sẽ giúp mọi người nhận thức rõ
Trang 24hơn về tình hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở nông thôn Thấy được tầm quan trọng của việc hỗ trợ xã hội đối với người cao tuổi, từ đó phát huy tốt hơn những chính sách đối với người cao tuổi, những dịch vụ hỗ trợ về tinh thần và vật
chất
7 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn hiện nay là như thế nào? Bản thân người cao tuổi (tự chăm sóc và chăm sóc lẫn nhau), các thành viên trong gia đình, và các tổ chức/cơ sở cung cấp dịch vụ (công và tư) có vai trò như thế nào trong việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở nông thôn?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
ở nông thôn?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết thứ nhất: Gia đình không còn là nguồn cung cấp dịch vụ chăm sóc
sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn duy nhất nữa; nhiều người cao tuổi sử dụng các dịch vụ đa dạng từ nhiều nguồn khác nhau ngoài gia đình (trạm y tế, nhân viên y tế, những người hành nghề tư nhân đông y và tây y ở địa phương, Hội người cao tuổi, người khác được gia đình thuê )
Giả thuyết thứ hai: Cơ cấu hộ gia đình và các yếu tố kinh tế gia đình là các
yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn Người cao tuổi trong những gia đình có người trưởng thành đi làm ăn xa, hoặc trong gia đình chỉ gồm có người cao tuổi và/hoặc trẻ em có xu hướng sử dụng dịch
vụ bên ngoài gia đình nhiều hơn (hoặc tự chăm sóc nhiều hơn) người cao tuổi sống cùng con cái đã trưởng thành, đặc biệt trong các gia đình mở rộng; người cao tuổi trong các hộ gia đình khá giả về kinh tế có xu hướng sử dụng các dịch vụ ngoài gia đình nhiều hơn người cao tuổi trong các hộ nghèo
9 Phương pháp nghiên cứu
9.2 Phương pháp luận
Cùng với việc vận dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng, đề tài cũng vận dụng các lý thuyết như:
Trang 25Thuyết nhu cầu: trong thuyết nhu cầu của Maslow tập trung vào thang bậc nhu cầu của con người, tìm hiểu nhu cầu nào của người cao tuổi được đáp ứng và nhu cầu nào chưa
Thuyết hiện đại hóa: Thuyết hiện đại hóa giúp chỉ ra nguyên nhân của sự thay đổi cấu trúc gia đình Trong quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa, có sự thay đổi từ
mô hình gia đình truyền thống sang mô hình gia đình hạt nhân, đồng thời có nhiều gia đình có người trong độ tuổi lao động đi làm ăn xa dài ngày, để lại con cái nhỏ cho cha mẹ già trông nom Điều này ảnh hưởng đến vai trò của gia đình trong việc chăm sóc người cao tuổi Nếu như trước đây gia đình đóng vai trò chăm sóc người cao tuổi là chủ yếu thì nay phần nào chức năng này được chuyển sang cho Nhà nước và các tổ chức xã hội ở địa phương
Thuyết cấu trúc chức năng: xem gia đình như một thiết chế xã hội, một hệ thống con với chức năng, cấu trúc nhất định, với các vai trò, chuẩn mực, giá trị gắn với vị trí của mỗi thành viên, mối quan hệ, gắn kết giữa các thành viên trong gia đình nhằm đảm bảo cho sự vận hành bình thường của hệ thống (trong trường hợp này là gia đình) Cùng với sự thay đổi của xã hội trong quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa, cấu trúc gia đình thay đổi dẫn đến thay đổi trong một số chức năng của gia đình như chức năng chăm sóc các thành viên phụ thuộc là người già và trẻ em Thuyết này gợi ra rằng khi phân tích sự thay đổi trong mô hình chăm sóc người cao tuổi trong gia đình, cần chú ý đến sự thay đổi cơ cấu của gia đình và mối quan hệ của gia đình với các thiết chế khác tại địa phương (nhà nước, tổ chức xã hội tại địa phương)
Thuyết vai trò: vai trò của gia đình trong vấn đề chăm sóc người cao tuổi khi
mà có sự thay đổi về xã hội và mô hình gia đình
9.3 Phương pháp thu thập thông tin
9.3.3 Phân tích, tổng hợp phân tích tài liệu
Thu thập, tìm hiểu những sách báo, bài viết trên các tạp chí, báo cáo, luận văn, tiểu luận, và phương tiện truyền thông về vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi nói chung và chăm sóc sức khỏe cho Người cao tuổi ở nông thôn nói
Trang 26riêng Phân tích các tài liệu có sẵn liên quan đến người cao tuổi như các số liệu thống kê (số liệu các cuộc tổng điều tra dân số), các kết quả nghiên cứu liên quan đến người cao tuổi trong những năm gần đây
9.3.4 Phương pháp điều tra bảng hỏi
Trong nghiên cứu này, người nghiên cứu sử dụng bảng hỏi nhằm thấy được thực trạng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nông thôn hiện nay Dung lượng mẫu nghiên cứu là 250 mẫu/700, áp dụng phương pháp chọn mẫu xã là mẫu thuận tiện thực hiện điều tra trên từng người một (điều tra viên gặp và hỏi từng người cao tuổi để thu được những thông tin chính xác, do họ có những thay đổi về tâm sinh lý,
sự lão hóa nên sẽ gặp khó khăn trong việc tự điền vào phiếu điều tra Do nguồn lực
có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót
9.3.5 Phương pháp phỏng vấn sâu
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm làm rõ hơn nội dung liên quan tới việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi Phỏng vấn sâu 8 đối tượng, cụ thể phỏng vấn sâu 3 người cao tuổi ở những độ tuổi khác nhau, từ 60-69, từ 70-79 và từ
80 tuổi trở lên để qua đó thấy được sự khác nhau về lao động, đóng góp, về sự quan tâm chăm sóc của gia đình đối với họ; Chủ tịch Hội người cao tuổi xã; cán bộ chính sách xã nhằm tìm hiểu việc thực hiện chính sách, hỗ trợ xã hội cho người cao tuổi; phỏng vấn 2 gia đình có người cao tuổi, trong đó 1 gia đình theo mô hình truyền thống và 1 gia đình theo mô hình gia đình hạt nhân để thấy được sự khác nhau của hai mô hình gia đình trong vấn đề chăm sóc người cao tuổi; phỏng vấn 1 cán bộ y tế
xã nhằm tìm hiểu mức độ khám chữa bệnh tại tuyến xã của người cao tuổi Trong phương pháp này cùng đồng thời thực hiện phương pháp quan sát nhằm tìm hiểu trực tiếp các mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng của người cao tuổi Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm bổ sung cho việc nghiên cứu bằng bảng hỏi, là phương pháp quan trọng làm rõ nét và sâu sắc thực trạng vấn đề nghiên cứu
9.3.6 Phương pháp quan sát
Trực tiếp xuống gia đình người cao tuổi, tiến hành quan sát nhằm tìm hiểu rõ hơn về mối quan hệ giữa gia đình và người cao tuổi, cuộc sống của người cao tuổi
Trang 2710 Kết cấu luận văn
Đề tài có kết cấu gồm các phần: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận
và kiến nghị Nội dung chính tập trung trong ba chương là:
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại xã Quỳnh
Bá
Chương 3 Triển vọng chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại địa phương
và hoạt động của công tác xã hội
Trang 28
NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Người cao tuổi
Bước vào tuổi già thì người cao tuổi có những thay đổi về tâm sinh lý, mối quan hệ xã hội, việc làm, hiện tượng lão hóa xuất hiện và có nhiều bệnh tật khác nhau những thay đổi đó khiến cho người cao tuổi gặp một số khó khăn trong cuộc sống Có những người bước vào tuổi già nhưng vẫn hoạt động, khỏe mạnh, nhưng ngược lại có những người mặc dù chưa bước vào giai đoạn của tuổi già đã ốm yếu, bệnh tật Vậy nên có nhiều quan niệm khác nhau về người cao tuổi
Có rất nhiều cách gọi khác nhau về người cao tuổi như: người già, người cao niên Có nhiều quan niệm khác nhau về độ tuổi của người cao tuổi:
Trong cuốn Từ điển Xã hội học của G.Endrweit và G.Trommsdorff trong
phần xã hội học người cao tuổi hay còn gọi là lão khoa nghiên cứu những người cao tuổi trên 65, nhưng trong nhiều trường hợp những người từ 50-60 tuổi cũng được coi là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành này
Trong cuốn Bách khoa quốc tế về xã hội học (International encyclopedia of sociology) phần người cao tuổi và sự quan tâm của các tổ chức xã hội khi đưa ra khái niệm về người cao tuổi, các tác giả có phân chia theo độ tuổi như sau: từ 65 đến 74 tuổi gọi là nhóm người cao tuổi trẻ (Young-old), từ 75 đến 84 tuổi gọi là nhóm trung cao tuổi (Middle-old) và từ 84 tuổi trở lên gọi là nhóm già (Verry-old)
Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới (WHO), người cao tuổi là những người từ 70 tuổi trở lên
Pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam (số 23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28/04/2000) nhận định: "người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội"
Theo luật người cao tuổi (số: 39/2009/QH12, ngày 23/11/2009, người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên
Trang 29Có nhiều quan điểm khác nhau về độ tuổi người cao tuổi Trong luận văn tôi
sử dụng khái niệm người cao tuổi theo Luật người cao tuổi, là những người từ 60 tuổi trở lên Có nhiều người 60 tuổi trở lên vẫn hoạt động, nhưng cũng có người chưa đến 60 tuổi đã trở nên già yếu, phải xem xét trong những trường hợp cụ thể với các chỉ báo về tình trạng sức khỏe, điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường sống
1.1.2 Sức khỏe, chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về sức khỏe theo quan điểm của Tổ chức
Y tế thế giới (WHO) – Tuyên ngôn Alma Ata, năm 1978: “ Sức khỏe là trạng thái
thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng thái không có bệnh hay thương tật”
Từ định nghĩa trên có thể thấy sức khỏe là tổng hợp về tình trạng của cơ thể con người cả về thể chất lẫn tinh thần Sức khỏe không chỉ phản ánh tính chất cá nhân mà còn mang tính chất xã hội Do vậy sức khỏe cũng được xem là mục tiêu, động lực của sự phát triển toàn diện về kinh tế, xã hội
Sức khỏe thể chất: là khả năng hoạt động cơ bắp, có sức nâng, kéo, đẩy làm các công việc chân tay một cách thoải mái như mang vác, sử dụng công cụ, khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, có sự dẻo dai và khả năng chịu được những khắc nghiệt của môi trường
Sức khoẻ tinh thần là cảm thấy có đủ khả năng tự tin, có thể đối mặt với những mức tình trạng căng thẳng ở bình thường, luôn giữ được các mỗi quan hệ một cách thoải mái, có một cuộc sống độc lập, và dễ hồi phục sau những tình huống khó khăn
Sức khỏe xã hội: Sự hoà nhập của cá nhân với cộng đồng được gọi là sức khoẻ xã hội như câu nói của Mác: "Con người là sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội” Sức khoẻ xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ chằng chịt, phức tạp giữa thành viên: gia đình, nhà trường, bạn bè, xóm làng, nơi công cộng, cơ quan Nó thể hiện ở sự được chấp nhận và tán thành của xã hội Càng hoà nhập với
Trang 30mọi người, được mọi người đồng cảm, yêu mến càng có sức khoẻ xã hội tốt và ngược lại
Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những người khác; là sự hòa nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội
Ba yếu tố sức khoẻ thể chất, tinh thần và xã hội liên quan chặt chẽ với nhau
Nó là sự thăng bằng, hài hoà của tất cả những khả năng sinh học, tâm lý và xã hội của con người
Theo WHO, các yếu tố chính quyết định đến sức khỏe như môi trường kinh
tế và xã hội, môi trường vât lý, và đặc điểm và ứng xử của mỗi cá nhân
Cụ thể hơn, các yếu tố chính đã được phát hiện là có ảnh hưởng đến sức khỏe bao gồm:
Thu nhập và địa vị xã hội
Chăm sóc sức khỏe
Chăm sóc sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con nguời Quyền
được chăm sóc sức khỏe nằm trong quyền được có mức sống thích đáng nêu ở Điều
25 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân Quyền (UDHR), theo đó:
“ Mọi người đều có quyền hưởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng như có quyền bảo hiểm trong trường
12
http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB%A9c_kh%E1%BB%8Fe
Trang 31hợp thất nghiệp, ốm đau, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống
do những hoàn cảnh khách quan vượt qua khả năng đối phó của họ”13
Chăm sóc sức khỏe là chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh, bệnh tật,
thương tích, và các khiếm khuyết về thể chất và tinh thần trong con người.14
Theo Từ điển bách khoa Quốc gia “ chăm sóc là hoạt động duy trì, điều chỉnh vào lúc cần thiết để phục hồi khả năng hoạt động bình thường của cơ thể, tạo được trạng thái thoải mái về thể chất, tinh thần cho mỗi người dân” Như vậy, chăm sóc sức khỏe bao gồm cả chăm sóc thể chất và tinh thần Chăm sóc sức khỏe không chỉ là nhiệm vụ của ngành y tế mà còn là nhiệm vụ của bản thân mỗi người, mỗi gia đình
1.1.3 Nông thôn
Có thể định nghĩa “nông thôn” đơn giản là nơi không phải đô thị, không thõa mãn các điều kiện của một đô thị được nêu trong Nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị Nông thôn là vùng người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp
Về lĩnh vực sản xuất: Nét đặc trưng rõ nhất ở nông thông là sản xuất nông nghiệp, trồng lúa và các loại hoa màu Ngoài ra, còn có lĩnh vựa phi nông nghiệp như dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công
Văn hóa ở nông thôn chủ yếu là văn hóa dân gian, có tính truyền miệng Đơn
vị của văn hóa nông thôn là văn hóa làng xã, có các phong tục tập quán, lễ hội riêng của mỗi làng, mỗi vùng Có lối sống cộng đồng làng xã Con người ở nông thôn chất phát, tình cảm, quan hệ hàng xóm thân thiết Gia đình truyền thống nhiều thế
hệ, tuy nhiên hiện nay ở nông thôn cũng đang dần phổ biến mô hình gia đình hạt nhân, vai trò người đàn ông được đề cao
Về quy mô dân số, mật độ dân cư và quy mô dân số ở nông thôn thấp hơn so với thành thị
Nhóm giai cấp và tầng lớp xã hội thì ở nông thôn đặc trưng chủ yếu là nông dân, ngoài ra cũng có những tầng lớp xã hội khác như: viên chức, tri thức, thợ thủ công
Trang 321.1.4 Công tác xã hội
Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó
(Nguồn: vi.m.wikipedia.org/wiki/Công tác xã hội)
Công tác xã hội với người cao tuổi: Với những thay đổi trong tâm sinh lý, trong lao động – thu nhập và cả trong những mối quan hệ, người cao tuổi bị hạn chế
và mất thăng bằng trong việc thực hiện một số chức năng xã hội của mình Người cao tuổi trở thành một đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương và cần sự hỗ trợ của công tác xã hội [ 8,tr15]
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Thuyết phát triển nhu cầu con người
Abraham Maslow (1908 – 1970), nhà tâm lý học người Mỹ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu con người vào những năm 50 của thế kỷ XX
Sơ đồ 1.1 Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow
Nguồn: Abraham Maslow's hierarchy of needs motivational model,
http://en.wikipedia.org/wiki/Maslow's_hierarchy_of_needs
Trong nhu cầu thứ bậc của Maslow, ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước đó Nếu một nhu cầu không được đáp ứng, cá
Trang 33nhân sẽ gặp cản trở trong việc theo đuổi những nhu cầu cao hơn Tầng thấp nhất là nhu cầu về sinh lý, bao gồm các nhu cầu cơ bản như ăn, uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, nghỉ ngơi, an toàn các nhu cầu làm cho con người thoải mái về cơ thể Đây
là những nhu cầu cơ bản và mạnh nhất của con người Lên cao nữa là những nhu cầu được tôn trọng, được khẳng định mình
Ở người cao tuổi, tất cả những nhu cầu này cần được đáp ứng Do đặc điểm tâm sinh lý, cơ thể con người thay đổi theo thời gian và yếu dần, người cao tuổi cơ thể không còn được như lúc trước, xương dễ giòn dễ gãy, các cơ quan trong cơ thể hoạt động yếu dần nhất là hệ tiêu hóa và hệ hô hấp, vì vậy cần chú trọng đến khẩu phần ăn và chế độ luyện tập của người cao tuổi để giúp họ phòng tránh bệnh tật Họ cũng có nhu cầu chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi cũng cần được đáp ứng nhu cầu giao lưu tình cảm, cá nhân không thể tồn tại khi họ thiếu các mối quan hệ từ gia đình, bạn bè, cộng đồng Người cao tuổi, nhất là những người sau khi về hưu, mối quan hệ xã hội của họ bị thu hẹp lại và nếu không được chuẩn bị trước tâm lý họ sẽ cảm thấy sốc và trầm cảm Sau những năm cống hiến, làm việc và nuôi dạy con cháu với những kinh nghiệm, người cao tuổi mong muốn mình được tôn trọng và họ cũng không ngừng hoàn thiện bản thân, tuy tuổi đã cao những vẫn cố gắng hoàn thành những việc còn dang dở Đối với người cao tuổi, để đáp ứng được những nhu cầu, việc làm trên thì trước tiên phải đáp ứng về chăm sóc sức khỏe Có sức khỏe tốt, họ mới có thể làm những việc khác để tiến đến nhu cầu khác
1.2.2 Lý thuyết hiện đại hóa của William Goode
William Goode (1963) đã nhấn mạnh đến tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung về cơ cấu gia đình và các mối quan hệ vợ chồng Theo đó hiện đại hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa khiến gia đình chuyển từ hình thức gia đình mở rộng, vai trò của họ hàng lớn, sang hình thức gia đình hạt nhân, sinh ít con cái đang chiếm ưu thế, người cao tuổi ngày càng sống xa con cháu, quan hệ gia đình ngày càng mang tính tình cảm và việc trợ giúp nhau trực tiếp về kinh tế ngày càng yếu Xu hướng đô thị hóa ở nông thôn đang diễn ra nhanh chóng, nhiều giá trị bị phá vỡ Trong bối cảnh đó, gia đình ngày càng ít có điều kiện chăm sóc người cao
Trang 34tuổi, và người cao tuổi ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào các thiết chế ngoài gia đình, thị trường
1.2.3 Lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parsons
Talcott Parsons (1902-1979) là nhà xã hội học người Mỹ Ông đã đưa ra học thuyết cơ cấu xã hội nổi tiếng về những nguyên lý cấu tạo nên cấu trúc xã hội, ông cho rằng cấu trúc xã hội chi phối toàn bộ xã hội, và hành vi con người tùy thuộc nhiều đến vai trò và địa vị xã hội; học thuyết này được xem như là dòng tư tưởng chủ đạo hình thành chủ nghĩa cấu trúc trong xã hội học Ông cho rằng "hệ thống xã hội được tạo thành từ các hành động của cá nhân” Parsons xác định là mỗi cá nhân
có mong đợi của hành động và phản ứng với hành vi của mình của người khác Parsons đặc biệt quan tâm trong vai trò của các chuẩn mực và giá trị, nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó Ông tập trung vào quá trình xã hội, nhờ đó mà xã hội thấm nhuần trong một triển vọng cá nhân, trong đó nó có thể cho họ để theo đuổi lợi ích riêng của họ trong khi vẫn phục
vụ lợi ích của hệ thống như một toàn thể Ông quan tâm đến vai trò chuẩn mực, nếu như trong xã hội truyền thống con người, gia đình có trách nhiệm và quan tâm lẫn nhau, con cái chăm lo cho cha mẹ, thực hiện những đạo lý, chuẩn mực xã hội đặt ra, thì trong xã hội hiện nay khi mà cấu trúc gia đình thay đổi từ mô hình gia đình nhiều thế hệ chuyển sang gia đình hạt nhân, một số chức năng của gia đình không còn được duy trì như chức năng nuôi dưỡng, chăm sóc các thành viên trong gia đình, đặc biệt là người cao tuổi Điều này đã ảnh hưởng đến đời sống cũng như sức khỏe, tâm lý của người cao tuổi
1.2.4 Thuyết vị thế vai trò (G.H.Mead)
Vai trò là những khuôn mẫu ứng xử khác nhau do xã hội áp đặt cho mỗi chức
vị của con người trong xã hội đó Ví dụ như cha mẹ phải thương con cái, chồng là người trụ cột trong gia đình Mỗi cá thể có nhiều vai trò khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau
Trang 35Vai trò xã hội của mỗi cá nhân được xác định dựa vào vị thế xã hội, để làm tốt vai trò của mình mỗi cá nhân phải thực hiện những chức năng nhất định Vai trò của gia đình được thể hiện rõ nhất trong việc chăm sóc các thành viên trong gia đình; vai trò kinh tế hướng tiếp cận này sẽ cho thấy những sự thay đổi trong gia đình từ mô hình gia đình đến việc chăm sóc các thành viên, đặc biệt là với người cao tuổi trong gia đình Ngoài ra, mặc dù người cao tuổi phải đối mặt với sự thay đổi về thể trạng cơ thể, sự lão hóa nhưng họ vẫn thể hiện vai trò của mình trong gia đình như tham gia lao động, giúp đỡ con cháu công việc nhà, giáo dục con cháu Vận dụng lý thuyết vị thế vai trò vào luận văn để tìm hiểu, chứng minh vai trò của con cháu, gia đình đối với người cao tuổi trong việc chăm sóc sức khỏe
Áp dụng những lý thuyết nêu trên, tôi xây dựng nên khung phân tích cho đề tài của mình:
Các đặc điểm nhân
khẩu của người cao
tuổi: độ tuổi; giới
tính; đặc điểm tâm
lý xã hội; sức khỏe
Gia đình: đặc điểm
nhân khẩu; mô hình
gia đình; kinh tế gia
đình; con cái đi làm
ăn xa
Người cao tuổi vẫn tham gia lao động
Gia đình trong vấn đề hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Các tổ chức xã hội, dịch vụ tư nhân về chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Bối cảnh kinh tế-xã hội hội
Đời sống tinh thần, vật chất
và sức khỏe người cao tuổi
Biện pháp nâng cao vấn đề chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Trang 36Dựa vào khung phân tích ta có thể thấy được những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người cao tuổi
Bối cảnh kinh tế - xã hội là yếu tố bên ngoài tác động đến sức khỏe người cao
tuổi, bao gồm:
Môi trường tự nhiên: các yếu tố như không khí, nước ngày một ô nhiễm, khí hậu biến đổi, người cao tuổi cần biết và phòng tránh để không ảnh hưởng đến sức khỏe
Kinh tế: kinh tế ảnh hưởng đến cuộc sống của người cao tuổi về sức khỏe, về khẩu phần ăn uống Người có kinh tế khả giả sẽ có điều kiện quan tâm, chăm sóc sức khỏe hơn người có kinh tế thấp
Môi trường xã hội: sự phát triển của xã hội cũng ảnh hưởng đến truyền thống của đất nước, việc “kính trên nhường dưới”, “đền ơn đáp nghĩa” là truyền thống lâu đời và được những người cao tuổi rất chú trọng giáo dục con cái Sự mâu thuẫn giữa các thế hệ, sự quên lãng truyền thống đạo đức cũng tác động tiêu cực đến sức khỏe người cao tuổi
Cộng đồng: sự giúp đỡ, quan tâm từ cộng đồng xã hội giúp người cao tuổi không còn cảm thấy cô đơn, vẫn được quan tâm chăm sóc, được tôn trọng.15
Chính sách và việc thực hiện chính sách của nhà nước: Đảng và nhà nước đã đề
ra luật, thông tư, chính sách cho người cao tuổi nhằm đảm bảo quyền lợi của người cao tuổi Tuy nhiên, với sự gia tăng về dân số người cao tuổi sẽ gây những khó khăn trong việc hoạch định và thực hiện chính sách
Yếu tố thị trường: Các dịch vụ y tế tư nhân, dịch vụ chăm sóc người cao tuổi ngày một phát triển, tạo thuận lợi trong việc chăm sóc sức khỏe Gia đình có thể thuê những dịch vụ này để chăm sóc người cao tuổi, còn các thành viên dành thời gian để kiếm tiền Việc này có thể giúp người cao tuổi được chăm sóc khoa học bởi các nhân viên y tế, nhưng cũng làm giảm mối quan hệ tình cảm giữa bố mẹ và con cái Việc chăm sóc cho người cao tuổi dần chuyển sang nhà nước
15
Về sức khỏe người cao tuổi, 1999, Nguyễn Sĩ Quốc
Trang 37Bản thân người cao tuổi cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sức
khỏe như giới tính, di truyền, lối sống, bệnh tật, sự lõa hóa, khả năng thích ứng với môi trường
Di truyền: mỗi con người đều thừa hưởng những đặc tính từ cha mẹ và thế hệ trước nên sức khỏe tốt hay yếu cũng phụ thuộc vào gen di truyền
Lối sống: trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, những thói quen, cách sống cũng ảnh hưởng đến sức khỏe như: ăn uống không hợp lý, sử dụng nhiều các chất kích thích như thuốc lá, rượu bia điều đó rất dễ dẫn đến bệnh tật như bệnh cao huyết áp, béo phì, lượng cholesterol cao
Lão hóa: đây là một quá trình tự nhiên, xảy ra cho tất cả mọi người, cơ thể con người yếu dần, sức đề kháng giảm dễ mắc bệnh
Bệnh tật: bệnh tật có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, có thể là khi còn trẻ hoặc khi về già, việc quan trọng là phải dự phòng, phát hiện và điều trị một cách đúng đắn
Thích ứng với ngoại cảnh: môi trường thay đổi theo mùa, theo sự phát triển của kinh tế - xã hội, người cao tuổi phải giữ được trạng thái thăng bằng, chuẩn bị trước và biết cách bảo vệ mình, đặc biệt là tâm lý
Mối quan hệ trong gia đình, mô hình gia đình, kinh tế gia đình tác động đến
sức khỏe người cao tuổi:
Mô hình gia đình hạt nhân ngày một phổ biến thay thế cho mô hình gia đình truyền thống Người cao tuổi không sống cùng con cháu hoặc sống trong gia đình khuyết thế hệ ngày một gia tăng Điều này ảnh hưởng đến mối quan hệ, tình cảm, sự chăm sóc lẫn nhau giữa con cháu và ông bà, bố mẹ, đặc biệt là người cao tuổi sống một mình
Kinh tế gia đình là yếu tố chính ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, đặc biệt là với những người cao tuổi không có thu nhập Một trong những nguyên nhân chính khiến người cao tuổi có bệnh cần điều trị những lại không điều trị là do kinh tế
Trang 38Các yếu tố về bản thân người cao tuổi và gia đình có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, được thể hiện bằng mũi tên hai chiều Tác động về kinh tế, thu nhập, gia đình, người cao tuổi vẫn tham gia lao động tạo thu nhập để tự lo cho bản thân Gia đình dần sẽ không đóng vai trò chính trong việc chăm sóc người cao tuổi
mà vai trò đó sẽ được chuyển sang cho nhà nước và các tổ chức xã hội Điều đó ảnh hưởng đến đời sống tinh thần, sức khỏe của người cao tuổi Với những yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe người cao tuổi, cần có những biện pháp để nâng cao việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi, đảm bảo quyền lợi, an sinh xã hội cho người cao tuổi
Hiểu rõ những yếu tố tác động đến sức khỏe người cao tuổi để từ đó khắc phục những khó khăn, phát huy những yếu tố thuận lợi để đảm bảo sức khỏe cho người cao tuổi
1.3 Đặc điểm tâm sinh lý người cao tuổi
Bước sang giai đoạn tuổi già, người cao tuổi có những thay đổi về tâm sinh lý:
Đặc điểm về sinh lý:
Cơ thể người cao tuổi trong giai đoạn này có những thay đổi có chiều hướng giảm xuống: tóc bạc, da có nhiều nếp nhăn, bộ răng yếu làm cho người cao tuổi ngại ăn những thức ăn cứng và dai Các cơ quan nghe, nhìn ngày một hoạt động kém đi cùng với sự gia tăng của tuổi tác Các cơ quan nội tạng cũng có những thay đổi theo chiều hướng kém đi Người cao tuổi xuất hiện những bệnh như: các bệnh tim mạch và xương khớp (nhồi máu cơ tìm, suy tim, cao huyết áp ), các bệnh về xương khớp (thoái hóa khớp, loãng xương, bệnh gút…), bệnh về hô hấp (cảm sốt, viêm họng – mũi, cúm, viêm phế quản, viêm phổi, ung thư phổi…), các bệnh về tiêu hóa và dinh dưỡng( rối loạn tiêu hóa, suy dinh dưỡng…) Ngoài ra, người cao tuổi còn hay mắc các bệnh sức khỏe tâm thầm, trầm cảm
Đặc điểm về tâm lý:
Người cao tuổi thường có những biểu hiện tâm lý như::
Trang 39Hướng về quá khứ: người cao tuổi thường tìm về quá khứ, nhớ những việc
đã xảy ra trong quá khứ, hướng về cội nguồn
Mong muốn sự quan tâm, chăm sóc và gần gũi với con cháu Con cháu thường bận rộn với công việc, cuộc sống làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị
bỏ quên, cảm thấy cô đơn
Người cao tuổi cảm thấy bất lực: Đa số người cao tuổi vẫn còn giúp đỡ con cháu những công việc nhà, tự chăm sóc bản thân, tham gia lao đông, tham gia sinh hoạt vào các tổ chức Nhưng cũng có một số người cao tuổi sức yếu, tuổi cao, sinh hoạt hàng ngày phần lớn phụ thuộc vào con cháu Nên người cao tuổi cảm thấy chán nản, bất lực, buồn phiền Đặc biệt là khi có câu nói hay thái độ thiếu tế nhị, nặng lời của con cháu làm cho người cao tuổi cảm thấy tủi thân, bị coi thường, là gánh nặng của con cháu
Người cao tuổi sợ phải đối mặt với cái chết: người cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết đặc biệt là khi những công việc, tâm nguyện của họ chưa được hoàn thành Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết.16
Ở người cao tuổi xuất hiện hội chứng về hưu, khi đang tham gia hoạt động, làm việc và cống hiến, quen với đồng hồ sinh học hàng ngày nay chuyển sang giai đoạn về hưu, không làm những công việc quen thuộc đã gắn bó nhiều năm; họ cảm thấy buồn chán, trống trải, các mối quan hệ xã hội giảm dần Điều đó gây ra sự rối loạn tâm lý, thể chất.17
Những thay đổi về tâm sinh lý làm cho một bộ phận người già thay đổi tính cách, trở nên khó tính hơn, những người trong gia đình cần hiểu và có cách ứng xử phù hợp
1.4 Luật pháp và chính sách của Việt Nam đối với Người cao tuổi
Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống cũng như các vấn đề
về sức khỏe, việc làm của người cao tuổi, những điều đó được thể hiện trong các văn
Trang 40bản, pháp luật đã ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi cũng như tạo điều kiện cho người cao tuổi có cuộc sống tốt hơn Sự quan tâm, tôn trọng người cao tuổi không chỉ đến ngày hôm nay mới giáo dục cho các thế hệ mà điều đó đã được thể hiện rất rõ trong các văn bản từ thời dựng nước và giữ nước, nó đã trở thành truyền thống tốt đẹp từ bao đời nay của dân tộc Việt Nam
Trong các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước, người cao tuổi luôn đóng vai trò
quan trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trách nhiệm của các cụ phụ lão
chúng ta đối với nhiệm vụ đất nước thật là trọng đại Đất nước hưng thịnh do phụ lão gây dựng Đất nước tồn tại do phụ lão giúp sức Nước mất phụ lão cứu, nước suy sụp, phụ lão phù trì” Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã chủ trương thành lập “Phụ lão cứu quốc hội” Nhưng cùng với sự phát triển của
xã hội, kinh tế đã ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các thế hệ, sự mâu thuẫn trong cuộc sống, cách sống, cách làm việc, lối suy nghĩ, sự thay đổi của mô hình gia đình tất cả đã ảnh hưởng đến cuộc sống người cao tuổi Để người cao tuổi có cuộc sống tốt hơn, không bị cô đơn, Đảng và Nhà nước đã ban hành Luật và hiến pháp như:
Hiến pháp 1992 cũng đã quy định “Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái…
Con cái có nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc cha mẹ” (Điều 64)
Bộ luật Hình sự 1999 đã quy định tội danh “ngược đãi hoặc hành hạ ông bà,
cha mẹ… người có công nuôi dưỡng” (Điều 151)
Luật Hôn nhân và Gia đình (năm 2014) cũng có một số điều quy định về
trách nhiệm, nghĩa vụ của con cái đối với cha mẹ: " Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ "(Điều 71) Quyền và nghĩa vụ của con dâu, con rể, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng: “Trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha
mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật này” (Điều 80)