1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ (THÁI NGUYÊN) LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015 Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

190 27 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

quyết của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân huyện được chính quyền cơ sở cụ thể hóa thành chủ trương, giải pháp để tổ chức nhân dân thực hiện, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THỊ QUỲNH NHUNG

ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ (THÁI NGUYÊN) LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC

DÂN VẬN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2015

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số:60 22 03 15

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đăng Tri

Hà Nội-2016

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử nghiên cứu 8

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 10

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11

6 Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn 12

7 Bố cục 13

Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 14

1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Đại Từ 14

1.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ 14

1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Đại Từ đối với công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2005 27

1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2005 34

1.2.1 Chỉ đạo đối với chính quyền 34

1.2.2 Chỉ đạo công tác dân vận của MTTQ và các đoàn thể 39

Tiểu kết 51

Trang 3

Chương 2: ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC

DÂN VẬN TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2015 54

2.1 Yêu cầu mới đặt ra về công dân vận và chủ trương đẩy mạnh của Đảng bộ 54

2.1.1 Những yêu cầu mới đặt ra về công tác dân vận 54

2.1.2 Chủ trương Đảng bộ huyện Đại Từ về công tác dân vận từ năm 2005 đến năm 2015 65

2.2 Sự chỉ đạo đẩy mạnh việc thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ từ năm 2005 đến năm 2015 73

2.2.1 Chỉ đạo đối với chính quyền 73

2.2.3 Chỉ đạo đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể 86

Tiểu kết 95

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 98

3.1 Nhận xét 98

3.1.1 Về ưu điểm và nguyên nhân 98

3.1.2 Về hạn chế và nguyên nhân 109

3.2 Kinh nghiệm và một số vấn đề đặt ra 116

3.2.1 Trong xác định chủ trương 116

3.2.2 Trong chỉ đạo thực hiện 121

Tiểu kết 128

KẾT LUẬN 130

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 135

PHỤ LỤC 148

Trang 4

Lời cảm ơn

Sau quãng thời gian nỗ lực thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã hoàn thành xong bài nghiên cứu của mình Trong quá trình thực hiên đề tài nghiên cứu này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tận tình từ phía các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội; cùng với sự cộng tác với các cán bộ, công chức huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám Hiệu nhà trường cùng quý thầy cô trong khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Đăng Tri, Khoa lịch sử đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ bảo tận tình trong quá trình tôi thực hiện nghiên cứu này

Vì thời gian, kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế vì vậy nghiên cứu này không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến, đánh giá, nhận xét từ các thầy cô giáo và những người quan tâm đến nghiên cứu của tôi để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 5 tháng 11 năm 2016 Phạm Thị Quỳnh Nhung

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công tác dân vận hay dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và đoàn thể đã giao cho

Cách đây hơn 60 năm, ngày 15-10-1949, Bác Hồ viết bài báo “Dân vận” đăng trên báo Sự Thật, cơ quan ngôn luận của Đảng Chỉ cô đọng trong 573 từ nhưng bài báo hàm chứa quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ của Nhà nước ta và về lĩnh vực công tác quan trọng của cách mạng

- công tác dân vận Các vấn đề: Dân vận là gì? Ai phụ trách dân vận? Dân vận

phải như thế nào? đều được Người chỉ rõ và nhấn mạnh: “Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” [60; tr 698-700] Tinh thần bài báo “Dân vận” trở thành kim chỉ

nam cho công tác dân vận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể gần 70 năm qua, để lại bài học vô cùng quý báu cho cách mạng nước ta

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng vì vậy công tác dân vận luôn là vấn đề chiến lược trong mọi thời kỳ cách mạng Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương tập hợp rộng rãi mọi lực lượng quần chúng nhằm tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng Qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào quần chúng được phát động hết sức mạnh mẽ, đã động viên, cổ vũ toàn Đảng,

Trang 7

toàn quân, toàn dân tạo thành sức mạnh tổng hợp, hoàn thành sự nghiệp cách mạng, cả nước thống nhất tiến lên chủ nghĩa xã hội Bước vào thời kỳ đổi mới, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công tác dân vận càng cần được tăng cường, củng cố, góp phần xứng đáng vào thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược - xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Huyện Đại Từ là quê hương cách mạng, là cửa ngõ của Thủ đô kháng chiến Tân Trào, lá chắn an toàn khu thời kỳ 1946 - 1954 và hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ Với truyền thống cách mạng cùng sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân, ngày nay, huyện Đại Từ có nhiều bước tiến quan trọng trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là hòa cùng với cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến đến mục tiêu chung “Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Để thực hiện tốt được những mục tiêu đó, công tác dân vận đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đại Từ nói riêng

Trong những năm qua, công tác dân vận của huyện Đại Từ đã đạt được những thành tựu đáng kể, nhìn chung công tác dân vận của hệ thống chính trị từ

huyện đến cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng “gần dân, hiểu dân,

và có trách nhiệm với dân” Công tác lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về công tác

dân vận ngày càng sát hợp, hiệu quả, đặc biệt hoạt động tuyên truyền đạt hiệu quả cao, đông đảo nhân dân tham gia vào các phong trào của địa phương, các cấp, các ngành nâng cao vai trò, trách nhiệm trong công tác quản lý, điều hành

và dân vận thực hiện nhiệm vụ chính trị gắn với thực hiện quy chế dân chủ theo

phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; các chỉ thị, nghị

Trang 8

quyết của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân huyện được chính quyền cơ sở cụ thể hóa thành chủ trương, giải pháp để tổ chức nhân dân thực hiện, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều tiến bộ, bám sát nhiệm vụ chính trị, tập trung hướng về cơ sở, gắn với chăm lo lợi ích về kinh tế cho đoàn viên, hội viên, chú trọng xây dựng và nhân rộn các mô hình tiên tiến, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, học tập chủ trương, nghị quyết, gắn với phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động tại địa phương

Bên cạnh những thành tựu đó, công tác dân vận của huyện trong thời gian qua vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của các cấp ủy Đảng chưa đổi mới kịp thời với tình hình quần chúng trong giai đoạn cách mạng mới; chưa huy động và phát huy hết sức mạnh của hệ thông chính trị

để tập trung thực hiện; một số vấn đề bức xúc của nhân dân tại địa phương, cơ sở chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa triệt để, việc nắm bắt tư tưởng, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân của hệ thống công tác dân vận và công tác tham mưu còn chậm, công tác tuyên truyền các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phổ biến giáo dục pháp luật trong nhân dân kết quả còn hạn chế; chất lượng đoàn viên, hội viên một số đoàn thể cơ

sở có hiện tượng giảm sút, thiếu lực lượng nòng cốt có uy tín trong nhân dân Xuất phát từ thực trạng đó, với mong muốn được đóng góp phần kiến thức của mình vào việc nâng cao hiệu quả công tác dân vận của huyện mà tôi lựa chọn đề

tài “Đảng bộ huyện Đại Từ (Thái Nguyên) lãnh đạo công tác dân vận từ năm

2001 đến năm 2015

Trang 9

2 Lịch sử nghiên cứu

- Về sách: Cuốn Sơ khảo lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản

Việt Nam / B.s: Hoàng Xuân Đồng, Trần Lương Ngọc, Võ Đình Liên (Nxb Chính trị Quốc Gia,1999): Cuốn sách này nếu rõ quá trình lãnh đạo công tác dân vận

của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ từ 1930 - 1996 và những bài học

lịch sử về công tác dân vận của Đảng ta Cuốn sách Cẩm nang công tác dân vận / Nguyễn Văn Hùng, Hoàng Tiến Cát, Bùi Văn Thu, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 2007 trình bày một số vấn đề về: công tác dân vận, mặt trận, đoàn thể; công

tác dân tộc và công tác tôn giáo Giới thiệu về quy chế dân chủ cơ sở và một số

nghiệp vụ công tác dân vận cùng địa chỉ hệ thống dân vận toàn quốc Cuốn Lịch

sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 2010) / Hoàng Văn Tuệ Hoàng Thị Kim Thanh, Nguyễn Chí Thảo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

(2015) nêu Vai trò của công tác dân vận trong các thời kỳ: Đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975), xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1986), tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện và bước đầu đẩy mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước (1986-2000) Cuốn sách: Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới / Hà Thị Khiết, Nguyễn Duy

Việt, Nguyễn Văn Hùng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015 trình bày cơ sở

lý luận, thực tiễn về dân vận, về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới và trong những năm thực hiện đường lối đổi mới Đồng thời đưa ra những quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của Đảng trong thời kỳ mới Những cuốn

Trang 10

sách trên đây là tiền đề, cơ sở để tác giả luận văn có thể tìm hiểu đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận qua các giai đoạn lịch sử

- Về một số công trình nghiên cứu :

+ Luận án tiến sĩ: Công tác vận động nông dân của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước: LA TS KH Lịch sử/ Lê Kim Việt (Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh); Công tác vận động đồng bào Khmer của các Đảng bộ xã, phường, thị trấn ở Tây Nam Bộ trong giai đoạn hiện nay : LATS Khoa học Chính trị / Đặng Trí Thủ (Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh) ; Công tác dân vận của các đơn vị quân đội ở vùng đồng bào theo đạo trên địa bàn miền Đông Nam Bộ giai đoạn hiện nay: LATS Chính trị học/ Đồng Ngọc Châu (Học viện chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh); Công tác vận động đồng bào công giáo của đảng bộ một số tỉnh ở miền Đông Nam Bộ từ năm

1986 đến năm 2006: LATS Lịch sử/ Đặng Mạnh Trung (Học viện chính trị Quốc

Gia Hồ Chí Minh)

+ Luận văn thạc sĩ: Công tác dân vận của Đảng cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện đường đổi mới 1986 - 1996 (Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2002); Chính sách của Đảng cộng với trí thức trong công cuộc đổi mới đất nước / Đoàn Thị Lịch, 1996; Đảng bộ tỉnh Đắc Lắc lãnh đạo công tác dân vận 1986 - 2002 /

Nguyễn Mậu Linh, 2003

Các bản luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ là những tài liệu tham khảo giúp học viên bước đầu định hình được cách thức triển khai cũng như luận giải các vấn đề trong luận văn của mình

Ngoài ra, hàng tháng Ban Dân vận Trung ương cũng cho phát hành cuốn

Tạp chí dân vận Đến nay tạp chí đã cho xuất bản được hàng trăm số, đây được

Trang 11

coi là cuốn cẩm nang nghiên cứu lý luận và hướng dẫn nghiệp vụ của Ban Dân vận Trung ương Các tổ chức Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ… cũng đã xuất bản những tờ báo, tạp chí làm cơ quan ngôn luận, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và vận động đoàn viên, hội viên của

tổ chức mình

- Về lịch sử Đảng bộ: cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí

dân vận tỉnh Thái Nguyên với các số hàng tháng, Lịch sử Đảng bộ huyện Đại

Từ, Lịch sử Đảng bộ các xã thuộc huyện Đại Từ Trên một số báo, tạp chí của tỉnh cũng có một số bài viết về công tác dân vận, các hoạt động kinh tế - xã hội,

an ninh quốc phòng, văn hóa…

Tuy nhiên, công tác dân vận đề cập một cách hạn chế, chưa mang tính hệ thống Có thể nói, cho đến nay chưa có một công trình nào khai thác sự lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ từ năm 2001 đến năm 2015, do vậy,

tôi quyết định chọn đề tài “Đảng bộ huyện Đại Từ (Thái Nguyên) lãnh đạo công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2015” làm đề tài luận văn

3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

- Mục đích công trình này là trình bày những nhận thức, các chủ trương, biện pháp, kết quả tổ chức, thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại

Từ từ năm 2001 đến năm 2015, từ đó góp phần làm rõ thêm lịch sử Đảng bộ trong thời kỳ này và rút ra những kinh nghiệm để phục vụ hiện tại

- Nhiệm vụ

+ Đề tài tập trung làm rõ những yếu tố tác động đến công tác dân vận của huyện Đại Từ từ năm 2001 đến năm 2015

Trang 12

+ Khôi phục, trình bày quá trình chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ

+ Đưa ra những đánh giá, nhận xét về thành công và hạn chế trong quá trình lãnh đạo của Đảng bộ

+ Trên cơ sở những ưu điểm, hạn chế, rút ra một số kinh nghiệm, góp phần phục vụ quá trình lãnh đạo công tác dân vận của huyện Đại Từ

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đại Từ (Thái Nguyên) đối với công tác dân vận từ năm 2001 đến năm 2015

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Phạm vi nội dung: Công tác dân vận và sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Đại Từ đối với công tác dân vận

+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 đến năm 2015

+ Không gian: huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

- Phương pháp nghiên cứu: Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu đề tài

là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng trong cách mạng Phương pháp nghiên cứu của đề tài là phương pháp lịch sử, phương pháp logic và sự kết hợp của hai phương pháp này Ngoài

ra còn có phương pháp như phân tích, tổng hợp, so sánh…

- Nguồn tài liệu:

+ Các tác phẩm lý luận chung về quần chúng và công tác dân vận của Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang 13

+ Văn kiện Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo tổng kết của Trung ương Đảng, tỉnh Thái Nguyên, huyện Đại Từ về công tác dân vận qua các thời kỳ

+ Các sách báo, tạp chí, các luận văn, luận án và các tư liệu có liên quan cũng được sử dụng làm tài liệu tham khảo

+ Tài liệu do tác giả thu thập được trong quá trình nghiên cứu

6 Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn

- Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu về chủ trương, sự chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ từ năm 2001 đến năm 2015 để bổ sung cho kho tư liệu và đóng góp vào việc nghiên cứu công tác dân vận nói chung, cũng như về Đại Từ nói riêng

- Góp phần làm sáng tỏ quan điểm, chủ trương, quá trình chỉ đạo thực hiện công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ; phục dựng một cách khách quan bức tranh về công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ trong những năm 2001-

2015 Từ kết quả nghiên cứu, luận án góp phần khẳng định vai trò to lớn của Đảng bộ huyện Đại Từ trong việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết nhân dân trong huyện, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng

bộ các nhiệm kỳ đã đề ra

- Đưa ra những đánh giá, nhận xét về những ưu điểm, hạn chế trong quá trình lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ ở giai đoạn luận văn nghiên cứu, rút ra những kinh nghiệm phục vụ việc lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng

và phát triển huyện Đại Từ

Trang 14

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng trong quá trình lãnh đạo công tác dân vận của huyện Đại Từ Luận văn có thể làm tƣ liệu tham khảo để nghiên cứu lịch sử Đảng bộ huyện và lịch sử huyện Đại Từ từ năm 2001 đến năm 2015

Trang 15

Chương 1: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN ĐẠI TỪ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1 Chủ trương của Đảng bộ huyện Đại Từ

1.1.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ

Tình hình dân cư - xã hội

Huyện Đại Từ thời nhà Nguyễn thuộc Phủ Phú Bình, trấn Thái Nguyên Năm 1831, Minh Mạng đổi Trấn thành Tỉnh, Đại Từ và châu Văn Lãng thuộc Phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Ngày 1 - 8 - 1922, Đại Từ và Văn Lãng hợp lại gọi là huyện Đại Từ đến nay Sau Cách mạng Tháng Tám huyện Đại Từ thuộc tỉnh Bắc Thái (cũ), đến ngày 1 - 1 - 1997 tỉnh Bắc Thái được Chính phủ quyết định tách ra thành 2 tỉnh là tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên, huyện Đại Từ thuộc tỉnh Thái Nguyên [31; tr 30]

Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố Thái Nguyên 25km, phía Bắc giáp huyện Định Hóa; phía Nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên; Phía đông giáp huyện Phú Lương; phía Tây Bắc và Đông Nam giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ Trung tâm hành chính huyện đóng tại Phố Đình, thị trấn Đại Từ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên [31; tr 9]

Huyện Đại Từ có nhiều đơn vị hành chính nhất tỉnh với 31 xã, thị trấn, tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.790ha, chiếm 16,58% về diện tích, 16,12% dân số cả tỉnh Thái Nguyên Là huyện có diện tích lúa và diện tích chè lớn nhất tỉnh (Lúa: 12.500ha, chè trên 5.000ha), Đại Từ còn là nơi có khu du lịch

Hồ Núi Cốc được cả nước biết đến, đồng thời cũng là địa phương giàu truyền

Trang 16

thống cách mạng yêu nước với 169 điểm di tích lịch sử và danh thắng[ 31; tr 11] Là đơn vị được Nhà nước hai lần phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang

Về địa hình của huyện, Đại Từ được bao bọc xung quanh bởi nhiều dãy núi: Phía Tây và Tây Nam có dãy núi Tam Đảo ngăn cách giữa huyện và tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, độ cao từ 300 - 600m Phía Bắc có dãy Núi Hồng và Núi Chúa Phía đông là dãy núi Pháo cao bình quân 150 - 300m Phía Nam là dãy núi Thằn Lằn thấp dần từ bắc xuống nam [31; tr 8-9]

Hệ thống sông Công chảy từ Định Hoá xuống theo hướng Bắc - Nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 2km Hệ thống các suối, khe như suối

La Bằng, Quân Chu, Cát Nê cũng là nguồn nước quan trọng cho đời sống và trong sản xuất của huyện [31; tr 8-9]

Hồ Núi Cốc có diện tích mặt nước là 769ha, vừa là địa điểm du lịch nổi tiếng, vừa là nơi cung cấp nước cho các huyện Phổ Yên, Phú Bình, thành phố Sông Công, thành phố Thái Nguyên và một phần cho tỉnh Bắc Giang Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có các đập nước, hồ như: Phượng Hoàng, Đoàn Ủy, Vai Miếu, Đập Minh Tiến, Phú Xuyên, Na Mao, Lục Ba, Đức Lương với dung lượng nước tưới bình quân từ 40 - 50ha/đập và từ 180 - 500ha/hồ [31; tr 8-9]

Do ảnh hưởng của vị trí địa lý, đặc biệt là các dãy núi bao bọc Đại Từ thường có lượng mưa lớn nhất tỉnh, trung bình lượng mưa hàng năm từ 1.800mm

- 2.000mm rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp của huyện đặc biệt là cây chè [31; tr 8-9]

Trang 17

Do mưa nhiều khí hậu thường ẩm ướt độ ẩm trung bình từ 70 - 80% , nhiệt

Toàn huyện Đại Từ có diện tích đất lâm nghiệp là 28.020ha, trong đó rừng

tự nhiên là 16.022ha và rừng trồng từ 3 năm trở lên là 11.000ha Chủ yếu là rừng phòng hộ, diện tích rừng kinh doanh không còn hoặc còn rất ít vì những năm trước đây đã bị khai thác bừa bãi và tàn phá để làm nương rẫy [31; tr 10]

Đại Từ được thiên nhiên ưu đãi phân bổ trên địa bàn nhiều tài nguyên khoáng sản nhất tỉnh, 15/31 xã, thị trấn có mỏ và điểm quặng Bên cạnh đó, Đại

Từ là vùng có mỏ đất sét lớn nhất tỉnh ở xã Phú Lạc, ngoài ra còn có nguồn đá cát sỏi có thể khai thác quanh năm ở dọc theo các con sông Công, bãi bồi của các dòng chảy phục vụ vật liệu xây dựng tại chỗ của huyện

Về du lịch: Khu du lịch Hồ Núi Cốc với câu chuyện huyền thoại về Nàng Công chàng Cốc đã thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước, nằm ở phía Tây Nam của huyện, đây cũng là điểm xuất phát đi thăm khu di tích trong huyện như: Núi Văn, Núi Võ, khu rừng Quốc gia Tam Đảo, di tích lịch sử 27/7 Hiện

đã hoàn thành xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái sườn đông dãy Tam Đảo, hoàn thành quy hoạch chi tiết khu du lịch chùa Tây Trúc xã Quân Chu, Cửa Tử xã Hoàng Nông, quy hoạch chi tiết khu di tích lịch sử Lưu

Trang 18

Nhân Chú Nhìn chung tiềm năng phát triển dịch vụ du lịch ở Đại Từ đã và đang được quan tâm phát triển, đây là tiềm năng lớn của huyện cũng như của tỉnh Thái Nguyên

Về kết cấu hạ tầng: Huyện Đại Từ có mạng lưới điện Quốc gia kéo đến 31

xã, thị trấn Đại Từ có mật độ đường giao thông khá cao so với các huyện trong tỉnh Tổng chiều dài đường bộ trên địa bàn khoảng gần 600km Trong đó, đường Quốc lộ 37 dài 32km, đã được dải nhựa, đường tỉnh quản lý: Gồm 3 tuyến đường: Đán đi Hồ núi Cốc; Đại Từ đi Phổ Yên; Khuôn Ngàn đi Minh Tiến - Định Hoá; Phú Lạc đi Đu-ôn (Phú Lương) [31; tr 21]

Cùng với địa lý tự nhiên thuận lợi, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển là

cơ sở quyết định quan trọng trong sự tồn tại và phát triển bền vững của xã

Về kinh tế, trong suốt hàng nghìn năm lịch sử, cư dân từ nhiều vùng đất trong và ngoài tỉnh đã sớm tụ cư về Đại Từ để lập nghiệp và sinh sống Nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ đã dồn sức đắp đập làm cống, kênh mương, bờ vùng,

bở thửa để tiêu thoát và giữ nước một cách kiên trì, liên tục, đưa sản xuất nông nghiệp đi lên; bên cạnh đó, với địa hình đồi núi phổ biến, huyện Đại Từ còn có điều kiện phát triển cây lâm nghiệp và cây công nghiệp; hoạt động chăn nuôi cũng ngày càng được chú trọng góp phần nâng cao thu nhập đời sống của người dân nơi đây: trên địa bàn xã đã hình thành và phát triển nhiều mô hình gia trại vừa và nhỏ, chủ yếu là các gia trại nuôi lợn, gà

Bên cạnh việc tập trung phát triển nông nghiệp thì tiểu thủ công nghiệp cũng được chú trọng đầu tư như: sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải, sửa chữa cơ khí, trồng chè, chế biến nông - lâm sản… Nhân dân từng bước đước mở rộng

Trang 19

sang kinh doanh các sản phẩm từ cây chè - sản phẩm đặc trưng của vùng đất Thái Nguyên và các hoạt động dịch vụ, thương mại

Công tác dân vận của Đảng bộ huyện Đại Từ trước năm 2001

Đại Từ là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên là vùng đất có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi, phong cảnh hữu tình Nhân dân các dân tộc Đại Từ tụ cư lâu đời, luôn cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm, yêu thương, đoàn kết trong sinh hoạt cộng đồng Năm 1936, Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời ở La Bằng, là

tổ chức cơ sở Đảng thành lập sớm nhất tỉnh Thái Nguyên, đã khơi dậy ngọn lửa yêu nước, tinh thần đấu tranh của nhân dân các dân tộc trong huyện, góp phần quan trọng đưa phong trào đấu tranh lên một bước phát triển mới Đặc biệt từ khi Mặt trận Việt Minh được thành lập (1941), đã trở thành ngọn cờ đoàn kết dân tộc, thu hút hết thảy các giai cấp, tầng lớp có tinh thần chống đế quốc và tay sai, toàn huyện nhiệt tình hưởng ứng phong trào Việt Minh, gấp rút chuẩn bị lực lượng vũ trang chống Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân

Năm 1946, Đảng bộ huyện chính thức thành lập, trở thành ngọn cờ tiên phong lãnh đạo nhân dân Đại Từ Sau khi thành lập, Đảng bộ trực tiếp lãnh đạo nhân dân vượt qua khó khăn, diệt giặc đói, giặc dốt, nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân Cả nước đang nô nức xây dựng đời sống mới thì thực dân Pháp lại tiến hành xâm lược nước ta Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Đảng bộ huyện Đại Từ đã lãnh đạo nhân dân các dân tộc chuẩn bị nơi ăn, chốn ở, đón tiếp chu đáo các cán bộ cũng như cơ quan của Trung ương về sơ tán

Cũng trên mảnh đất này, những trận chiến đấu quyết liệt chống thực dân Pháp năm 1947 đã diễn ra, góp phần bảo vệ các cơ quan đầu não của ta Những

Trang 20

người dân công dũng cảm đã đối đầu với bom đạn của giặc, đoàn kết, giữ vững con đường chiến lược qua Đèo Khế sang Tuyên Quang lên Tây Bắc Các phong trào yêu nước: tòng quân, đóng thuế nông nghiệp, mua công trái, ủng hộ bộ đội diễn ra sôi nổi Từ đầu tháng 8 - 1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số cơ quan đầu não kháng chiến và một số đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, Chính phủ, Quốc hội đã chuyển chỗ ở và làm việc từ ATK Tuyên Quang về ATK Đại Từ (Thái Nguyên), tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan Trung ương và quân đội làm tốt công tác chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô Hà Nội [31; tr 32] Đảng bộ, chính quyền huyện Đại Từ đã lãnh đạo nhân dân làm tốt công tác tổ chức và đón tiếp

Thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đại Từ là nơi bố trí các trận địa đón đánh máy bay Mỹ bắn phá từ thành phố Thái Nguyên, nhất là khu gang thép Thái Nguyên Năm 1966, tại đồi 75 thuộc xã Hà Thượng, dân quân địa phương đã dùng súng bộ binh bắn rơi một máy bay phản lực hiện đại của Mỹ [31; tr 35] Cũng trong những năm tháng hào hùng này, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, tinh thần dân tộc lại khởi dậy mạnh mẽ, lớp lớp thanh niên các dân tộc Đại Từ đã hă

ng hái lên đường đánh giặc Ở hậu phương, phong trào phụ nữ “Ba đảm đang” và các phong trào sôi nổi khác đều hướng về tiền tuyến, tinh thần “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt” trở thành động lực to lớn, góp phần chi viện đầy đủ sức của cho công cuộc đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, đồng thời xây dựng quê hương giàu mạnh

Sau khi đất nước được thống nhất (1975), Đảng bộ và nhân dân Đại Từ tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Quán triệt đường lối xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa của Trung ương Đảng, trước mắt là kế

Trang 21

hoạch 5 năm (1976-1980), Đảng bộ huyện Đại Từ đã đề ra phương hướng nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội là: “Ra sức giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao ý chí chiến đấu của cán bộ đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động nhằm thực hiện được bốn thế mạnh là lương thực, chăn nuôi, cây công nghiệp và nghề rừng theo hướng: tập trung chuyên canh và thâm canh, đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất -

kỹ thuật; củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật

tự trị an xã hội, đảm bảo thật tốt yêu cầu của Nhà nước và đời sống của nhân dân phải được cải thiện rõ rệt cả về ăn ở, sức khỏe và học hành, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa và sau kế hoạch 5 năm này Đại Từ phải trở thành pháo đài của nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa” [31; tr 243] Đặc biệt từ

năm 1986, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng (tháng 12 - 1986), quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, “xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động - cơ sở để khởi nguồn động lực từ nhân dân”, Đảng

bộ huyện Đại Từ đã lãnh đạo nhân đoàn kết, vận động quần chúng tiến hành đổi mới toàn diện các mặt về đời sống, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đồng thời đổi mới hình thức và phương pháp đoàn kết, tập hợp, vận động quần chúng nhân dân để đảm bảo tính thực chất và hiệu quả

Thực hiện Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị về tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, năm 1994, huyện đã triệu tập Hội nghị gồm các già làng, trưởng bản, những người có uy tín cao ở các làng Tại Hội nghị, Huyện ủy động viên các già làng, trưởng bản vận động con cháu, bà con xóm làng tăng cường đoàn kết, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng cụm dân cư có nếp sống văn minh tiến bộ, đấu tranh chống lại kẻ xấu xuyên tạc chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo đúng

Trang 22

đắn của Đảng, thiết thực góp phần xây dựng quê hương Tiếp tục quán triệt Nghị quyết 8B ngày 27-3-1990 của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, Huyện ủy chỉ đạo Mặt trận và các đoàn thể nhân dân bám sát nhiệm vụ chính trị của huyện, tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Đại Từ triển khai nhiều cuộc vận động và phong trào như “Thực hành tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội”, “Ông bà, cha mẹ mẫu mực, con trung hiếu, cháu thảo hiền”, quyên góp ủng hộ quỹ “Vì người nghèo”, “Đền ơn đáp nghĩa”, vận động đồng bào Công giáo “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “Sống tốt đời đẹp đạo”… Các cuộc vận động và phong trào trên góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế -

xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Trong thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư”, 100% xã, thị trấn trong huyện đều thành lập Ban chỉ đạo Kết quả, năm 1996, toàn huyện có 7.346 gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”, 19 khu dân cư đạt 8 mục tiêu của cuộc vận động, 62 làng, 8 cơ quan đạt danh hiệu làng, cơ quan văn hóa Đến năm

2000, huyện Đại Từ có 16.012 gia đình đạt danh hiệu “Gia đình văn hóa”, 320 khu dân cư tiên tiến, 76 làng, 72 cơ quan đạt danh hiệu làng, cơ quan văn hóa [31; tr 319]

Việc nhân dân tố cáo, khiếu nại về vấn đề tệ nạn xã hội, về đất đai đền bù,

về quy hoạch xây dựng chợ đã được giải quyết những thắc mắc của dân theo thẩm quyền, còn những vấn đề vượt thẩm quyền đã được chuyển lên cấp trên đủ thẩm quyền giải quyết

Trang 23

Về hoạt động của MTTQ và các đoàn thể

Nhân ngày những ngày lễ tết, MTTQ đã phối hợp với các ban ngành tổ chức lễ kỷ niệm, tổ chức cho nhân dân học tập luật, tuyên truyền nhân dân tham gia phòng chống tệ nạn xã hội duy trì hoạt động của các CLB phòng chống tệ nạn xã hội phòng chống tệ nạn xã hội từ gia đình Xây dựng đời sống văn hóa với phong trào “Toàn dân tham gia xây dựng chính quyền” UBMTTQ đã kết hợp Đảng ủy - HĐND - UBND và các ban ngành đoàn thể lãnh đạo thành công các cuộc bầu cử HĐND đúng thủ tục, đúng cơ cấu, đúng thành phần Đảm bảo

đủ số lượng và chất lượng của các vị thành viên hội đồng trong thời gian tiến hành xây dựng nhân sự cũng như trong tổ chức bầu cử không có tập thể cá nhân nào có đơn thư khiếu kiện

Trong dịp hè đoàn kết hợp với các chi đoàn hoạt động hè có tổ chức hội trại và thi văn nghệ cho các em trong dịp hè và tổ chức đón đoàn thanh niên tình nguyện các trường đại học về làm công tác tình nguyện tại phương

Mặc dù có nhiều cố gắng, song công tác dân vận ở Đảng bộ huyện Đại Từ thời kỳ trước 2001 vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Cụ thể như: việc chỉ đạo sơ tổng kết các Nghị quyết chuyên đề về công tác quần chúng theo từng đối tượng chưa chặt chẽ kịp thời, thiếu những giải pháp tích cực để động viên, khơi dậy mạnh mẽ tiềm năng của phong trào quần chúng Các cơ quan nhà nước chưa thực sự quan tâm tới công tác dân vận, nhiều cán bộ công chức chưa nâng cao ý thức trách nhiệm phục vụ dân, có những biểu hiện phiền

hà, sách nhiễu nhiễu dân Tổ chức và cán bộ của Mặt trận, các đoàn thể, hội quần chúng tuy đã được củng cố, nâng cao nhưng chưa tương xứng với yêu cầu của

Trang 24

tình hình mới Hệ thống dân vận mới được thành lập nên gặp nhiều khó khăn, còn lúng túng trong hoạt động

Nguyên nhân của những tồn tại trên là do nhận thức của một số cấp ủy, cán bộ, đảng viên về công tác quần chúng của Đảng, nhất là các quan điểm chỉ đạo đổi mới công tác quần chúng chưa thực sự sâu sắc, nên còn biểu hiện xem nhẹ Sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận của các cấp ủy một số nơi còn coi nhẹ, buông lơi Công tác dân vận của chính quyền, cán bộ, công chức nhà nước còn nhiều yếu kém, bất cập Năng lực, trình độ, nhất là trình độ chuyên môn, lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ dân vận còn nhiều hạn chế; chưa làm tốt chức năng tham mưu cho cấp ủy về lĩnh vực công tác này Hơn nữa, việc đầu tư kinh phí và các điều kiện khác cho hoạt động của hệ thống dân vận còn chưa thỏa đáng Những nỗ lực của Đảng bộ huyện Đại Từ trong công tác dân vận những năm trước 2001 là đáng ghi nhận, song những hạn chế thiếu sót cần được kiểm điểm, đánh giá một cách nghiêm túc, để có định hướng phù hợp cho các thời kỳ tiếp theo

Chủ trương của Trung ương

Để đưa đất nước phát triển và hội nhập, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

IX (năm 2001) đã đề ra chiến lược: “Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, lứa tuổi, mọi vùng miền của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và lòng tự hào dân tộc Khối đại đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn được củng cố và phát triển sâu

Trang 25

rộng trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [39; tr 123-124]

Cụ thể hóa chủ trương của Đại hội IX, ngày 8-1-2002, BCT ra Nghị quyết

09-NQ/TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cựu chiến binh Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới” Nghị quyết khẳng định: „Công

tác cựu chiến binh là một trong những công tác dân vận quan trọng của Đảng, là trách nhiệm của hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, của toàn xã hội, trong

đó, Hội Cựu chiến binh là nòng cốt, nhằm tập hợp, đoàn kết, phát huy sáng tạo của cựu chiến binh đóng góp thiết thực vào sự nghiệp công hóa, hiện đại hóa đất nước” [21; tr 89]

Ngày 28-03-2002, BBT TW Đảng ra Chỉ thị số 10-CT/TW “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” BBT yêu cầu: tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, sự phối hợp thực hiện của các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc đẩy mạnh xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Coi việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ

ở cơ sở là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội Đi đối với đó là hoàn chỉnh các quy chế đã ban hành, nghiên cứu ban hành và hướng dẫn thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ

sở khác, trước hết là khu vực kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài, các cơ quan quản lý các chương trình kinh tế - xã hội, giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ bản, nghiên cứu khoa học [17, tr 2]

Ý thức được tầm quan trọng của xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất là trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hội

nghị lần thứ bảy BCH TW đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW Về phát huy

Trang 26

sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh (12-03-2003) Đây là Nghị quyết quan trọng thể hiện sự quan tâm

lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, cụ thể, thiết thực đối với công tác dân vận của Đảng, đối với từng giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo theo hướng “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, đồng thời cũng là một biện pháp hiệu quả để khắc phục nạn quan liêu, xa rời quần chúng Nghị quyết nhấn mạnh mục tiêu: “Củng cố tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, giữ vững độc lập, thống nhất Tổ quốc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” [19; tr 5]

Ngoài ra, Hội nghị lần thứ Bảy BCH TW Đảng khóa IX còn ra Nghị

quyết số 24-NQ/TW ngày 12-3-2003 Về công tác dân tộc và Nghị quyết số NQ/TW ngày 12-03-2003 Về công tác tôn giáo Đây là những nghị quyết quan

25-trọng, có chi phối toàn bộ công tác dân tộc và công tác tôn giáo của Đảng trong những năm đầu thế kỷ XXI

Trong Hội nghị Dân vận toàn quốc ngày 9-3-2005, Bí thư TW Đảng, Trưởng ban Dân vận TW Tòng Thị Phóng đã chỉ ra 10 nhiệm vụ cụ thể mà ngành dân vận phải thực hiện trong năm 2005 Trong đó, đặc biệt đáng lưu ý là nhiệm vụ tham mưu cho Đảng, giúp Ban chỉ đạo TW thực hiện Quy chế dân chủ

cơ sở hoàn chỉnh các quy định, nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế; gắn việc thực hiện quy chế với cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh, thực hành tiết kiệm, đẩy lùi tham nhũng và tệ nạn

Trang 27

xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc và đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân

Chủ trương của Tỉnh ủy Thái Nguyên

Từ ngày 3 đến ngày 5-1-2001, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI tại thành phố Thái Nguyên Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ gồm 47 uỷ viên Trước những thuận lợi, khó khăn và yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên đã đưa ra nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội nói chung và nhiệm vụ đối với công tác dân vận giai đoạn 2001-2005 là: Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phải được chú trọng, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của các cấp chính quyền, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận

và các đoàn thể nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trên cơ sở đó, Tỉnh ủy Thái Nguyên ra các Chỉ thị, Nghị quyết: Chỉ thị Số

32 - CT/TU năm 2000, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Về “Tăng cường lãnh đạo công tác thanh niên nhân dịp Năm thanh niên Việt Nam”, Chỉ thị số 12-CT/TU

Về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với hoạt động của Hội nông dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn”, Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 14-5-2003 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong tỉnh vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Nghị quyết số 09-NQ/TU thực hiện Nghị quyết Trung ương Bảy (khóa IX) về công tác dân tộc, tôn giáo”

Tỉnh ủy Thái Nguyên còn ra một số Chỉ thị chuyên sâu về các mặt của

công tác dân vận: Đề án số 304 ngày 15-1-2003 Về Tiếp tục đổi mới và nâng cao

Trang 28

chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, Nghị quyết số 08 - NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về một số mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đối với công tác thanh niên đến năm 2005, Chỉ thị số 43- CT/TU ngày 9-6-2004 Về tổ chức kỷ biệm 15 năm ngày thành lập Hội Cựu chiến binh Việt Nam

1.1.2 Chủ trương của Đảng bộ huyện Đại Từ đối với công tác dân vận từ năm

2001 đến năm 2005

Bước vào thế kỷ XXI, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ đã tạo được nhiều thành tựu mới Cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư củng cố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ đã tạo nhiều thành tựu mới Cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư củng cố theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do đó tạo được động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển theo hướng phát huy các tiềm năng thế mạnh của địa phương Nhưng những khó khăn, thử thách mà Đảng bộ và nhân dân Đại Từ phải đương đầu trong giai đoạn mới cũng không nhỏ: Kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế, tốc độ tăng trường kinh tế còn chậm, chưa

có bước đột phá mới, một số vấn đề xã hội chưa được giải quyết tốt; chất lượng giáo dục chưa vững chắc, công tác xã hội hóa giáo dục chưa sâu rộng; chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn nhiều hạn chế; tình hình an ninh - chính trị, trật tự an toàn xã hội còn nan giải; công tác đánh giá, quy hoạ ch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có mặt còn bất cập, việc kiện toàn, đổi mới tổ chức bộ máy từ huyện đến cơ sở còn chậm; công tác kiểm tra của cấp ủy còn thiếu tập trung, kỷ luật chưa nghiêm; chất lượng giám sát của Hội đồng nhân dân trên một số mặt

Trang 29

còn yếu; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể còn nặng về hành chính, tỷ lệ tập hợp hội viên thấp, nhiều hội viên chưa nhiệt tình với công việc chung của tập thể và xã hội

Trước những thuận lợi, khó khăn và yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, Đảng bộ và nhân dân Đại Từ cần nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ đạo của Trung ương; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn thể nhân dân trong huyện, khai thác mọi tiềm năng sẵn có trong huyện, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương và bên ngoài từ đó tạo ra những khâu đột phá về kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề xã hội (việc làm, xóa đói giảm nghèo, các tệ nạn xã hội ) củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững trật tự an toàn

xã hội

Nhiệm vụ của công tác dân vận giai đoạn 2000 - 2005 của Đảng bộ và

nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ là: “Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phải được chú trọng, nâng cao sức chiến đấu của các tổ chức Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của các cấp chính quyền, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong các lĩnh vực đời sống xã hội” [31; tr 336-337]

Căn cứ vào chủ trương của Đảng về công tác dân vận trong tình hình mới

và xuất phát từ thực tiễn tình hình công tác dân vận ở Đại Từ, Đại hội Đảng bộ

huyện lần thứ XX đã chủ trương: “Tiếp tục tuyên truyền quán triệt quan điểm về công tác quần chúng của Đảng, củng cố hệ thống dân vận từ huyện đến cơ sở, tăng cường mối quan hệ hệ giữa Đảng với nhân dân, Tăng cường lãnh đạo Mặt trận và các đoàn thể, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, thông qua đó tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn

Trang 30

dân, phát động phong trào thi đua yêu nước, tuyên truyền nhân rộng các điển hình tiên tiến” [31; tr 337] Các cấp chính quyền theo định kỳ phải công khai

hoạt động của mình để dân biết dân làm, dân kiểm tra, lắng nghe ý kiến của nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia đóng góp xây dựng và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh, tích cực đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực

Đối với Mặt trận, các đoàn thể, hội quần chúng, Đại hội nhấn mạnh: Cần bám sát sự lãnh đạo và nhiệm vụ chính trị của các cấp ủy để xây dựng chương trình hành đọng của tổ chức mình sao cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu, lợi ích thiết thực, chính đáng của đoàn viên, hội viên Mặt trận và các đoàn thể phải thường xuyên bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ có năng lực

về dân vận, chăm lo xây dựng, củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở vững mạnh, thu hẹp cơ sở yếu Đổi mới phong cách chỉ đạo, đổi mới nội dung, phương thức tập hợp quần chúng, hướng mạnh về cơ sở, động viên hội viên, đoàn viên chấp hành tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Hướng mạnh hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể vào những hoạt động thiết thực tránh mang tính hình thức và nặng về hành chính Đẩy mạnh các cuộc vận động xóa đói giảm nghèo, thực hành tiết kiệm, ủng hộ đồng bào bị thiên tai, giúp

đỡ các gia đình chính sách, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, phòng chống tệ nạn xã hội, bài trừ các hủ tục lạc hậu Chú ý tổng kết, biểu dương các phong trào, mô hình để nhân rộng, đồng thời xây dựng các mô hình mới nhằm thu hút đông đảo quần chúng tham gia Xây dựng quản lý và sử dụng có hiệu quả các loại quỹ vốn của các đoàn thể, các hội Tham gia giải quyết những vụ việc

Trang 31

phức tạp trong nội bộ nhân dân, tăng cường hoạt động hòa giải ngay ở cơ sở, khu dân cư [31; tr 340]

Các cấp ủy Đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, các đoàn thể, hội quần chúng vững mạnh Theo định kỳ, cấp ủy phải nghe các đoàn thể báo cáo tình hình, đồng thời định hướng nhiệm vụ trong thời gian tiếp theo cho các đoàn thể; đảng viên còn tuổi Đoàn phải tham gia sinh hoạt thường niên Bồi dưỡng đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận và công tác đoàn thể, có chính sách khuyến khích động viên cán bộ dân vận, đoàn thể yên tâm công tác

Quán triệt và thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX về công tác dân vận sẽ là tiền đề quan trọng để duy trì, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong tỉnh, tạo ra sức mạnh cần thiết vượt qua những khó khăn thử thách, thực hiện thắng lợi những mục tiêu mà Đại hội đề ra

Ngày 20-7-2001, Huyện ủy Đại Từ ra Kế hoạch số 06-KH/HU về việc thực hiện Chỉ thị 59-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Kế hoạch nêu rõ sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với Hội Nông dân; trách nhiệm của các cấp chính quyền đối với phong trào nông dân và Hội Nông dân, đồng thời tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của các cấp Hội sao cho bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, đáp ứng nhu cầu và lợi ích chính đáng của hội viên nông dân [4; tr 24]

Trang 32

Từ năm 2001 - 2005, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tập trung thực hiện

Đề án 304 của Tỉnh ủy Thái Nguyên về “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở”; xây dựng kế hoạch phối hợp cùng với các ngành triển khai đến cơ sở, chi hội quán triệt mục tiêu và nội dung Đề án Từ đầu năm 2001, Mặt trận Tổ quốc huyện đã triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch số 01/2001 giữa Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Công an huyện Đại Từ về phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc

Thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12 - 3 - 2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì

“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Huyện ủy Đại Từ

đã ra Nghị quyết tiếp tục “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc” Chỉ thị và Nghị quyết đã đánh giá tình hình: Những năm vừa qua các cấp ủy Đảng đã coi trọng lãnh đạo thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, về đại đoàn kết dân tộc, về dân tộc, tôn giáo, về MTTQ, các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng Huyện ủy luôn xác định nhiệm vụ xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong huyện là nhiệm vụ của toàn Đảng bộ và nhân dân trong huyện, của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở Trên cơ sở phân tích tình hình khối đại đoàn kết toàn dân trong huyện để thấy

được những mặt được và chưa được, Nghị quyết đã chỉ ra mục tiêu: “Củng cố tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong huyện nhằm phát huy sức mạnh và tiềm năng sáng tạo của nhân dân, thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp đề ra, góp

Trang 33

phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần xây dựng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [5, tr.34]

Quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết số 23-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy BCH TW khóa IX, Huyện ủy Đại Từ đề ra nhiệm vụ và giải pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong huyện nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của huyện:

Một là, khuyến khích động viên và phát huy có hiệu quả vai trò của mỗi

giai cấp, tầng lớp nhân dân trong huyện vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đại Từ Trên cơ sở chính sách của Nhà nước, Đảng

bộ huyện Đại Từ đã có những quy định cụ thể khơi dậy và phát huy vai trò giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, người cao tuổi, các nhà doanh nghiệp, đồng bào các tôn giáo, nhằm đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng quần chúng, góp phần thực hiện các nhiệm

vụ kinh tế - xã hội, an ninh của huyện

Hai là, đẩy mạnh việc thực hiện dân chủ, đồng thời coi trọng, giữ gìn kỷ

cương, kỷ luật; phát huy mạnh mẽ vai trò của chính quyền trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh; xây dựng phong cách công tác cán bộ, công chức chính quyền “của dân, do dân, vì dân”

Ba là, mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao

vai trò Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, các hội quần chúng trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân

Trang 34

Bốn là, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao trách nhiệm

công dân, xây dựng sự đồng thuận xã hội, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước

Năm là, xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh làm hạt nhân lãnh

đạo khối đại đoàn kết toàn dân, đồng thời phát huy hơn nữa vai trò của Mặt trận

Tổ quốc trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân trong huyện [5, tr.23-25]

Kế hoạch số 21/KH-HU ngày 18-6-2002 của Huyện ủy Đại Từ về tiếp tục việc đẩy mạnh xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Bên cạnh đó, Đại hội Đảng bộ lần thứ XX cũng nêu rõ cần tiếp tục: “Đẩy mạnh thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với giữ kỷ cương, kỷ luật và tăng cường pháp chế

xã hội chủ nghĩa Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện chức năng giám sát, tuyên truyền phổ biến đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh Chú trọng bồi dưỡng, nâng cao năng lực hoạt động của đội ngũ dân vận các cấp” [33; tr 8]

Đại hội cũng nhấn mạnh cần tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết TW VII (khóa IX) về công tác tôn giáo, dân tộc: “Quán triệt và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào theo đạo Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, dân tộc Thực hiện có hiệu quả chính sách

ưu đãi, hỗ trơ phát triển kinh tế, kết cấu hạ tầng, văn hóa, giáo dục, y tế không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho đồng bào dân tộc”.[33; tr.4]

Trang 35

1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện công tác dân vận từ năm 2001 đến năm

có tỷ lệ hộ nghèo 10 - 20%, 19 xã có tỷ lệ hộ nghèo dưới 10%, số hộ nghèo toàn huyện là 3.368 hộ (17,3%) Đến năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5% theo tiêu chí mới [33, tr.18]

1.2.1 Chỉ đạo đối với chính quyền

Chính quyền từ huyện đến cơ sở đã tích cực trong việc cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước và các chương trình công tác của Tỉnh ủy, Huyện ủy, đã triển khai thực hiện nhiều chương trình dự án phát triển kinh tế -

Trang 36

xã hội, phục vụ dân sinh, phát triển dân trí, xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục, y

tế, thể dục thể thao, vệ sinh môi trường, khai thác nhiều nguồn lực trong nhân dân, tạo thành phong trào quần chúng sâu rộng để hoàn thành các nhiệm vụ chính trị ở mỗi cơ sở và toàn huyện trong những năm qua Hội đồng nhân dân huyện, xã, thị trấn đã phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nâng cao chất lượng tiếp xúc cử tri, kịp thời giải quyết những vướng mắc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân

Năm 2000, 12 xã của Đại Từ có tỷ lệ hộ nghèo 10 - 20%, 19 xã có tỷ lệ hộ nghèo dưới 10%, số hộ nghèo toàn huyện là 3.368 hộ (17,3%) [31; tr 352] Từ thực trạng trên, Huyện ủy và Ủy ban nhân dân huyện đã xác định cần tiếp tục coi chương trình xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách vừa có tính lâu dài của tất cả các cấp, các ngành, đoàn thể Huyện ủy tập trung chỉ đạo chính quyền tổ chức, động viên nhân dân hăng hái thi đua lao động sản xuất, đồng hỗ trợ việc làm, khuyến nông, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Quán triệt chủ trương của Huyện ủy, Ban chỉ đạo giảm nghèo huyện xây dựng kế phù hợp với từng địa phương Nội dung các chương trình tập trung vào việc giải quyết việc làm, hỗ trợ khuyến nông, xây dựng các trang trại,

hỗ trợ giống, cây trồng, vật tư Ủy ban nhân dân huyện đẩy mạnh tổ chức đào tạo dạy nghề và tư vấn giới thiệu việc làm, hướng nghiệp cho người lao động; khuyến khích các doanh nghiệp, gia đình, cơ sở nhỏ mở rộng sản xuất để tạo thêm việc làm mới cho người lao động; đồng thời tạo điều kiện giải ngân các dự

án cho vay vốn hỗ trợ việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động Năm 2003, trung tâm dạy nghề huyện được thành lập, đáp ứng yêu cầu học nghề của lao động trên địa bàn Với những biện pháp tích cực trên, sau 3 năm (2001 - 2003), toàn huyện

Trang 37

đã có 3.900 lao động được tạo việc làm mới, trong đó có 1.700 lao động được giới thiệu đi làm việc ngoài tỉnh Song song với việc giải quyết việc làm, Ủy ban nhân dân huyện cũng triển khai các dự án cho người nghèo vay vốn ưu đãi Trong 3 năm (2001 - 2003), huyện đã giải ngân 2,9 tỷ đồng cho 991 hộ gia đình, cho hộ nghèo vay 16,8 tỷ đồng [33; tr.23]

Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đẩy mạnh chương trình cải cách hành chính, thực hiện cơ chế “Một cửa”, từ năm 2004, Ủy ban nhân dân huyện đã xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện tới các ban, ngành Rà soát, loại bỏ những thủ tục hành chính không phù hợp, cải tiến lề lối làm việc Chọn cử những cán bộ công chức có phẩm chất năng lực, trình độ chuyên môn,

bố trí làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế “Một cửa” Từng bước nâng cao chất lượng quản lý và điều hành của các cấp chính quyền, thường xuyên bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nghiệp vụ và trách nhiệm của cán bộ công chức, thực hành tốt công tác dân vận theo phương châm “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân và “nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin” [33; tr 18]

Quy chế dân chủ ở cơ sở được đẩy mạnh thực hiện theo tinh thần Chỉ thị 30-CT/TW của BCT (khóa VIII) BTV Tỉnh ủy đã lập Ban Chỉ đạo xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của tỉnh do đồng chí Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy làm Trưởng ban Cùng với việc mở rộng và phát huy dân chủ, các cấp chính quyền, cơ quan pháp luật đã xử lý nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, những hành vi lợi dụng dân chủ để gây rối, làm mất ổn định an ninh trật tự Chính quyền các cấp đặc biệt coi trọng việc thực hiện quy chế dân chủ ở

Trang 38

cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc nảy sinh trong đời sống Thực hiện bước đầu cải cách hành chính với cơ chế “Một cửa” theo quyết định của Chính phủ Tổ chức tốt việc tiếp dân, tích cực giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, nhiều vụ việc phức tạp kéo dài

đã được tập trung giải quyết góp phần ổn định tình hình địa phương

Các cấp chính quyền thực hiện phối kết hợp và cấp kinh phí đảm bảo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân hoạt động, đồng thời chỉ đạo các ngành kí kết, thực hiện tốt các chương trình phối hợp với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Xây dựng chương trình phối hợp và phát huy vai trò của Mặt trận, đoàn thể, nhằm thực hiện chương trình quốc gia về chăm sóc người cao tuổi,

“Chiến lược quốc gia về chăm sóc thanh niên” và “Chương trình chiến lược về chăm sóc, bảo vệ trẻ em”,”Chương trình hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ”,

“Xây dựng cơ chế phối hợp với hội nông dân phát huy vai trò của hội trong việc giải quyết các khiếu nại tố cáo của công dân”

Công tác điều tra, xét xử, thanh tra, tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại,

tố cáo của công dân được thực hiện tốt; số đơn thư nhận được thuộc thẩm quyền

có phiếu chuyển và hướng dẫn công dân đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyêt Do đó, số lượt người đến Ủy ban nhân dân huyện, xã, thị trấn trực tiếp khiếu kiện năm sau giảm hơn năm trước

Phối hợp với Công đoàn đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sáng tạo trong cán bộ công nhân viên chức Đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi các tổ chức MTTQ, các đoàn thể nhân dân phát động rộng khắp các phong trào như: Phong trào thi đua sản xuất kinh doanh sản xuất giỏi, phong trào toàn dân đoàn

Trang 39

kết xây dựng đời sống văn hóa, phong trào toàn dân tham gia đấu tranh phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội, giữ gìn trật tự an toàn giao thông Từ đó góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị ở địa phương, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, tăng cường đoàn kết trong cộng đồng dân cư

Chính quyền các cấp đã tập trung điều hành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội,

an ninh - quốc phòng của địa phương Đảm bảo sản xuất kịp thời vụ; phòng chống dịch bệnh, thiên tai; phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội; tuyển quân đạt 100%; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, giải quyết kịp thời những vấn đề phát sinh trong sản xuất và đời sống Chính quyền cùng với các ngành đã phối hợp với BDV, MTTQ, các đoàn thể tăng cường tuyên truyền, giáo dục về chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân Động viên nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trên các lĩnh vực để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đơn vị Quản lý hướng dẫn các hoạt động tôn giáo, tổ chức các lễ hội theo đúng quy định của pháp luật, tích cực giải quyết các vấn đề tôn giáo Xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết của Huyện ủy về công tác dân tộc và tôn giáo

Lực lượng vũ trang huyện luôn đề cao và coi trọng công tác dân vận là một biện pháp nghiệp vụ nên đã có nhiều chủ trương, giải pháp cụ thể giữ vững

an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Chủ động phối hợp với các cấp, các ngành triển khai, thực hiện các nghị quyết liên quan đến công tác dân vận Nắm vững tình hình địa bàn, kịp thời tham mưu với cấp ủy, chính quyền và phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh

Tổ quốc, xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân;

Trang 40

đấu tranh ngăn chặn và giải quyết có hiệu quả các vụ việc phức tạp xảy ra trên địa bàn

Về công tác dân tộc, tôn giáo: Thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW và

25-NQ/TW, ngày 12-3-2003 (khóa IX) về công tác dân tộc, tôn giáo, các cấp ủy Đảng, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo, làm tốt công tác thăm hỏi động viên các chức sắc tôn giáo, tích cực giải quyết những vấn đề bức xúc mà nhân dân đặt

ra nên tình hình tôn giáo, dân tộc trong huyện tương đối ổn định, nhân dân phấn khởi thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời tích cực tham gia các phong trào của địa phương Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện để các chức sắc, tín

đồ làm tròn bổn phận “Kính Chúa - yêu nước”, thực hiện “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “Tốt đời - đẹp đạo”.[33; tr 32]

Tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết giữa các tôn giáo, đồng bào các dân tộc trong khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp đông đảo nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp, đoàn kết phấn đấu thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Đảng bộ

đề ra, phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền vận động, giáo dục đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo về lòng yêu nước, ý thức tự hào về truyền thống dân tộc và nâng cao cảnh giác cách mạng

1.2.2 Chỉ đạo công tác dân vận của MTTQ và các đoàn thể

Trong quá trình chỉ đạo thực hiện công tác dân vận, Thường trực Huyện

ủy và cơ sở thực hiện định kỳ giao ban với Ban Dân vận, Mặt trận và các đoàn

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w