Nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh cho thấy, mặc dù Người không có tác phẩm chuyên khảo nào liên quan đến lĩnh vực GĐ, nhưng những luận điểm cơ bản mà Người đề cập đến, thực sự là kim chỉ nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
GS.TS Hoàng Chí Bảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của cố PGS.TS Phạm Ngọc Anh và GS.TS Hoàng Chí Bảo Các số liệu, tư liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, khách quan, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn theo quy định
Tác giả
Nguyễn Thị Việt Hà
Trang 4vụ học tập, nghiên cứu tại nhà trường
Xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hoc tập
Mặc dù tác giả có nhiều cố gắng, song bản luận án không thể tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các nhà khoa học, đồng nghiệp, đồng chí và bạn đọc để luận án được bổ sung, hoàn thiện hơn
Trang 6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 3.1: Mức độ cần thiết xây dựng văn hóa gia đình 95 Biểu đồ 3.2: Mức độ quan tâm của địa phương đối với công tác xây
Biểu đồ 3.3: Lý do cần thiết xây dựng văn hóa gia đình 108
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 3.1: Người quyết định hôn nhân trong gia đình 98 Bảng 3.2: Kênh thông tin mà người trả lời biết đến những chính sách
Bảng 3.3: Mức độ trở ngại trong công tác xây dựng văn hóa gia đình 122
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do lựa chọn đề tài 4
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Cơ sở lý luận, cách tiếp cận của đề tài và phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của luận án 9
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án 9
7 Kết cấu của luận án 10
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 11
1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài 11
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về văn hóa gia đình Việt Nam 11
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và văn hóa gia đình 20
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng gia đình và văn hóa gia đình Việt Nam 23
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài và những vấn đề đặt ra cho luận án 25
1.2.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu đề tài 25
1.2.2 Những vấn đề đặt ra cho luận án 26
Tiểu kết chương 1 29
CHƯƠNG 2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH 30
2.1 Một số khái niệm liên quan 30
2.1.1 Gia đình 30
2.1.2 Văn hóa gia đình và gia đình văn hóa 32
2.1.3 Xây dựng văn hóa gia đình 39
2.1.4 Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình 40
2.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình 41
2.2.1 Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình 41
Trang 82.2.2 Những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia
đình 52
2.3 Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình 77
2.3.1 Giá trị lý luận 78
2.3.2 Giá trị thực tiễn 86
Tiểu kết chương 2 94
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 95
3.1 Thực trạng xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 95
3.1.1.Thành tựu và nguyên nhân của thành tựu 95
3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 108
3.2 Những vấn đề đặt ra trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 123
3.2.1 Quan hệ hôn nhân, quy mô, cơ cấu gia đình thay đổi nhưng chất lượng dân số chưa đảm bảo 123
3.2.2 Đất nước độc lập, xã hội phát triển nhưng tệ nạn xã hội vẫn không ngừng tăng, luôn là nỗi lo cho các gia đình 125
3.2.3 Văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay chưa phát triển tương xứng với những biến đổi tích cực của gia đình, xã hội 127
3.2.4 Nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về xây dựng gia đình, gia đình văn hóa nhưng vẫn thiếu tính thực tế, tính đồng bộ, hệ thống và hiệu quả khi đi vào chiều sâu xây dựng văn hóa gia đình 128
Tiểu kết chương 3 130
CHƯƠNG 4 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 131
4.1 Những yếu tố tác động đến xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay 131
4.1.1 Yếu tố khách quan 131
4.1.2 Yếu tố chủ quan 137
Trang 94.2 Quan điểm xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí
Minh 142
4.2.1 Xây dựng văn hóa gia đình luôn trở thành nền tảng của văn hóa dân tộc 142
4.2.2 Xây dựng văn hóa gia đình trở thành động lực phát triển gia đình 142
4.2.3 Đảm bảo những điều kiện vật chất và tinh thần cơ bản cho gia đình – nền tảng của văn hóa gia đình 143
4.2.4 Các thành viên trong gia đình là chủ thể chính trong xây dựng văn hóa gia đình, đồng thời, cần có sự giúp đỡ của cộng đồng, sự quan tâm hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể và các tổ chức xã hội 144
4.2.5 Kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiến bộ của gia đình trong xã hội hiện đại 145
4.3 Các nhóm giải pháp chủ yếu xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh 147
4.3.1 Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức 147
4.3.2 Nhóm giải pháp về tổ chức xây dựng văn hóa gia đình 151
4.3.3 Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội 159
4.3.4 Nhóm giải pháp về phát huy vai trò của chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng và từ chính gia đình 167
4.3.5 Nhóm giải pháp về công tác giám sát, kiểm tra, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm 173
Tiểu kết chương 4 174
KẾT LUẬN 176
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 179
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 180
Trang 10mọi mặt cho đời sống nhân dân, trong đó có lĩnh vực GĐ Người từng nói: “Có người
nghĩ rằng Bác không có gia đình, chắc không hiểu vấn đề này Bác tuy không có gia đình riêng nhưng Bác có một đại gia đình rất lớn đó là giai cấp công nhân toàn thế giới, là nhân dân Việt Nam Từ gia đình lớn đó, Bác có thể suy đoán được gia đình nhỏ” [104, tr 300] Trong bài nói chuyện tại Hội nghị thảo luận dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình (tháng 1/1959), Hồ Chí Minh khẳng định: “Rất quan tâm đến gia đình là đúng và nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội mà phải chú ý đến hạt nhân cho tốt” [104, tr 300]
Nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh cho thấy, mặc dù Người không có tác phẩm chuyên khảo nào liên quan đến lĩnh vực GĐ, nhưng những luận điểm cơ bản
mà Người đề cập đến, thực sự là kim chỉ nam cho Đảng và dân tộc ta định hướng xây dựng GĐ nói chung và xây dựng văn hóa gia đình (XDVHGĐ) ở Việt Nam nói riêng hiện nay, rất cần được khai thác và vận dụng Đó cũng là một minh chứng biểu hiện chiều sâu nhân văn trong triết lý phát triển mang đậm tính bền vững của
Hồ Chí Minh Tuy đã có một số công trình nghiên cứu đến những luận điểm mang tính định hướng này nhưng vẫn còn ở từng nội dung đơn lẻ, tính hệ thống và khái quát còn hạn chế Vì thế, việc triển khai thực hiện một công trình nghiên cứu có hệ thống về xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam (XDVHGĐVN) hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một đòi hỏi cấp thiết đáp ứng yêu cầu lý luận và thực tiễn
Ngày nay, vấn đề GĐ được thế giới rất quan tâm Nối tiếp quan điểm trong
Tuyên ngôn về quyền con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày
Trang 1110/12/1948: “Gia đình là một yếu tố tự nhiên cơ bản của xã hội, có quyền được hưởng sự bảo vệ của xã hội”, đến năm 1994, Liên Hợp quốc đã lấy làm “Năm Quốc
tế gia đình”, với tư tưởng chủ đạo là: Sự thay đổi thế giới cần gắn liền với sự tiến bộ,
sự tăng cường các phúc lợi cho cá nhân và thúc đẩy sự phát triển ổn định của GĐ
Ở Việt Nam, để hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc (ĐLDT) và chủ nghĩa
xã hội (CNXH), phát triển vững chắc GĐ là một trong những nhân tố quan trọng Trong vấn đề GĐ, VHGĐ là yếu tố cơ bản, vừa là mục tiêu, giá trị hướng tới, vừa là động lực bền vững thúc đẩy sự phát triển và ổn định xã hội VHGĐ là một bộ phận cấu thành văn hóa dân tộc, thể hiện nét đặc sắc của văn hóa dân tộc nên XDVHGĐ hiện nay là làm gia tăng sức hấp dẫn của văn hóa Việt Nam trong thế giới hội nhập
Vì vậy, Đảng và Nhà nước ngay khi bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế,
đã rất quan tâm đến vấn đề này Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII năm 1998, đã nhấn mạnh đến trách nhiệm của GĐ trong việc “giữ gìn và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam, nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ, coi trọng xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng mối quan hệ khăng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội” [35, tr 60] Ngày 4/5/2001, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 72/2001/QĐ-TTg
về ngày Gia đình Việt Nam Quyết định nêu rõ: Lấy ngày 28/6 hàng năm là ngày Gia đình Việt Nam, nhằm đề cao trách nhiệm lãnh đạo các ngành, các cấp, các đoàn thể và tổ chức xã hội cùng toàn thể các GĐ thường xuyên quan tâm xây dựng GĐ
no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày Gia đình Việt Nam 28/6 thật sự là một sự kiện VH lớn nhằm tôn vinh những giá trị VH truyền thống của gia đình Việt Nam (GĐVN), là dịp để các GĐ giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng gia đình văn hóa (XDGĐVH), hướng tới sự phát triển bền vững của GĐ trong thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng xác định phải: “Thực hiện chiến lược gia đình Việt Nam Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” [40, tr.128] Trên cơ sở đó, Đảng gắn VH với xây dựng con người, cụ thể là xây dựng môi trường VH lành mạnh, trong đó có mỗi GĐ Hội nghị Trung ương 6 khóa XII đã đưa ra Nghị quyết số 20 - NQ/TW về tăng cường công tác bảo
Trang 12vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới và Nghị quyết số
21 - NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới Để việc bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khoẻ và các vấn đề dân số có hiệu quả thì cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội đều phải có trách nhiệm, mà quan trọng nhất vẫn là ở chiều sâu VH của người dân trong mỗi GĐ Đây không chỉ là chủ trương mang tính cấp thiết của hiện tại, nó còn góp phần quyết định đối với tương lai của đất nước
Như vậy, qua hơn 30 năm đổi mới, nhận thức của Đảng và Nhà nước về XDVHGĐ đã có bước phát triển Chính điều này đã, đang và sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đời sống cho đại bộ phận GĐ cũng như tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, quá trình XDVHGĐVN hiện nay cũng bộc lộ nhiều bất cập, nảy sinh không
ít vấn đề từ toàn cầu hóa và mặt trái của kinh tế thị trường Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy, tăng trưởng kinh tế không gắn liền với phát triển hài hòa các mối quan hệ xã hội sẽ dẫn đến những khủng hoảng và đổ vỡ các quan hệ GĐ Hiện nay, mặc dù GĐVN đang phát triển theo chiều hướng tích cực, phù hợp với GĐ hiện đại nhưng VHGĐ có nhiều biến đổi theo chiều hướng phức tạp: mức độ quan tâm, khả năng tiếp thu, vận dụng và sáng tạo các tri thức khoa học cũng như nhu cầu thẩm
mỹ đối với mọi mặt của cuộc sống chưa thật sự được các GĐ quan tâm; tâm lý ngại đổi mới, ngại lao động vẫn tồn tại; không ít các chuẩn mực GĐ bị nhiễu loạn, tình trạng hôn nhân thiếu bền vững, mối quan hệ giữa các thành viên trong GĐ lỏng lẻo
và nhất là hiện tượng phi nhân tính trong gia đình cùng số trẻ em phạm các tội đặc biệt nguy hiểm như cướp, cưỡng đoạt, hiếp dâm, giết người… có xu hướng gia tăng Các hiện tượng nêu trên đã tác động tiêu cực đến đời sống GĐ và xã hội, làm cho một bộ phận không nhỏ các thành viên trong GĐ cảm thấy không hạnh phúc khi sống trong chính GĐ của họ Do đó, nếu không sớm phát hiện và có những giải pháp đủ mạnh để khắc phục và ngăn chặn các hiện trạng tiêu cực VHGĐ và XDVHGĐVN hiện nay thì hạnh phúc của từng GĐ và vận mệnh chung của cả dân tộc sẽ đứng trước những nguy cơ, hậu quả khó lường
Xuất phát từ tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của những vấn đề nêu trên,
tác giả chọn đề tài “Xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng
Hồ Chí Minh” làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học
Trang 13Với đề tài đã lựa chọn, tác giả luận án xác định một số giả thuyết nghiên
cứu sau đây: Thứ nhất, Hồ Chí Minh tuy không có gia đình riêng nhưng Người lại
có cả một gia đình lớn là giai cấp công nhân toàn thế giới và nhân dân Việt Nam mà suốt đời Người tận tụy, hy sinh vì dân, vì nước Do đó, từ gia đình lớn mà Người
suy ra những vấn đề rất đỗi thiết thân của mỗi gia đình Việt Nam Thứ hai, trong di
sản Hồ Chí Minh, có hệ thống những quan điểm của Người về GĐ và XDVHGĐ
Thứ ba, thực tiễn nhất là tình cảm của Hồ Chí Minh đối với GĐ, đối với nhân dân
và dân tộc Việt Nam là những sở cứ đáng tin cậy để xác nhận giả thuyết nêu trên
Thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh về XDVHGĐ không chỉ có giá trị lý luận mà còn có
ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với đời sống văn hóa của mỗi GĐVN và thế giới Mặt khác, tư tưởng của Người về XDVHGĐ còn là hệ quy chiếu, là cơ sở để đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác XDVHGĐVN hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về XDVHGĐ và đánh giá thực trạng XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng của Người, luận án đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao hiệu quả công tác XDVHGĐVN hiện nay nhằm hướng đến XDGĐVN phát triển bền vững theo tư tưởng của Người
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Khảo cứu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, từ đó rút ra
nhận xét, đánh giá và xác định các vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu;
- Làm rõ một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài luận án;
- Hệ thống hóa và phân tích những quan điểm chủ yếu của Hồ Chí Minh về XDVHGĐ;
- Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh;
- Xác định những yếu tố tác động tới XDVHGĐVN hiện nay, trình bày quan điểm và đề xuất các nhóm giải pháp chủ yếu XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa gia đình và vấn đề
XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng của Người
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về XDVHGĐ thể hiện qua các tác phẩm, sự kiện
và hoạt động thực tiễn của Người trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, đặc biệt
là trên lĩnh vực VH
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về XDVHGĐ vào việc XDVHGĐVN, tác giả đặc biệt chú trọng vào giai đoạn từ năm 2006 đến nay, khi nước ta đã bước vào thời kỳ phát triển mới và đẩy mạnh hội nhập quốc tế
4 Cơ sở lý luận, cách tiếp cận của đề tài và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam và các nghiên cứu lý thuyết về GĐ, VHGĐ và XDVHGĐ
4.2 Cách tiếp cận của đề tài
Luận án tiếp cận từ lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất không tách rời, bởi hai lý do sau:
Thứ nhất, Hồ Chí Minh rất chú trọng tổng kết thực tiễn để kiểm nghiệm tính đúng đắn của lý luận và phát hiện lý luận mới
Thứ hai, Hồ Chí Minh đề cao việc thực hành lý luận trong thực tiễn
Xuất phát từ đặc điểm trên, đề tài lựa chọn cách tiếp cận hệ thống, cách tiếp cận các mối quan hệ, nhất là quan hệ chủ thể với đối tượng
4.3 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp cận khảo sát tài liệu về các vấn đề có liên quan đến GĐ, VHGĐ và XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử cùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp logic và lịch sử, phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu, so sánh, chứng minh, phân tích văn bản học (tập hợp trích
Trang 15dẫn tài liệu) kết hợp với các phương pháp của một số ngành khoa học như VH học,
xã hội học, tâm lý học…
Trong đó, đối với điều tra xã hội học bằng phương pháp định lượng thông qua bảng hỏi, nghiên cứu này áp dụng chọn mẫu ngẫu nhiên, thông tin mang tính khái quát, không đi sâu tìm hiểu từng địa phương Tổng số phiếu là 600, phân bổ ở các tỉnh: Hà Nội, Thái Nguyên, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Thuận, Gia Lai Địa bàn điều tra được chia theo tiêu chí ba miền Bắc, Trung, Nam và đại diện cho các vùng, khu vực trong cả nước
Mỗi tỉnh điều tra chọn hai huyện/thành phố, mỗi huyện chọn 50 phiếu (100/tỉnh) đại diện cộng đồng phân theo các nhóm giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, học vấn, đảm bảo việc tính toán cơ cấu mẫu đại diện cho con người Việt Nam và sự phân bố của các nhóm xã hội ở Việt Nam hiện nay
Toàn bộ số phiếu điều tra được tổng hợp, làm sạch, mã hóa và xử lý bằng chương trình thống kê chuyên dụng trong khoa học xã hội SPSS, trong đó sử dụng theo số liệu %, phương pháp mô tả và theo tính điểm trung bình
Bên cạnh đó, tác giả còn tiến hành điều tra xã hội học bằng phương pháp định tính với 20 mẫu phỏng vấn sâu
Trang 16Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ và sâu sắc thêm những vấn
đề về GĐ và XDVHGĐ trong di sản Hồ Chí Minh Nội dung này chưa được nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống trong chuyên ngành Hồ Chí Minh học Đó sẽ là một trong những cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về GĐ, VHGĐ và XDVHGĐVN, đóng góp vào các nghiên cứu lý luận về GĐ ở Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp những luận cứ khoa học cho các nhà lãnh đạo, quản lý về công tác
GĐ hoạch định đường lối, chính sách, dịch vụ xã hội có liên quan đến GĐ và VHGĐ nhằm giúp mỗi GĐVN nâng cao hiệu quả trong việc XDVHGĐ của chính mình
- Là tài liệu tham khảo và gợi mở cho những công trình nghiên cứu, giảng
dạy, tuyên truyền và giáo dục về tư tưởng Hồ Chí Minh, về VHGĐ…
- Tác giả luận án mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc làm
phong phú thêm bức tranh nghiên cứu XDVHGĐVN hiện nay
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương, 10 tiết
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tình hình nghiên cứu đề tài
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về văn hóa gia đình Việt Nam
Nghiên cứu sự phát triển của xã hội, không thể nào bỏ qua vấn đề con người, GĐ và VHGĐ Điều đó cũng dễ hiểu tại sao ở Việt Nam cũng như trên phạm
vi toàn thế giới, vấn đề GĐ nói chung và VHGĐ nói riêng đã được các nhà nghiên cứu chú ý tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu như một đối tượng của nhiều bộ môn khoa học VHGĐ đã được tiếp cận từ nhiều góc độ và mức độ khác nhau để đánh giá và khẳng định
Theo khảo sát của tác giả, cho đến hiện nay, ở Việt Nam có 5 đề tài khoa học cấp Nhà nước và 29 đề tài cấp Bộ về vấn đề GĐ, trong đó, đề tài liên quan trực
tiếp đến VHGĐVN được nghiên cứu đầu tiên và sớm nhất ở nước ta là Văn hóa gia
đình Việt Nam, năm 1992, do Lê Minh chủ nhiệm [112] Đây là đề tài khoa học cấp
Nhà nước, thuộc chương trình “Văn hóa, văn minh vì sự phát triển và tiến bộ xã hội”, mã số KX.06.11 Đề tài hoàn thành vào đúng thời gian diễn ra năm Quốc tế về gia đình ở Việt Nam - năm 1994 Nhân dịp này, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội đã
xuất bản hai quyển sách: Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển xã hội; Thực
trạng văn hoá gia đình Việt Nam Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho tác
giả khi thực hiện luận án
Thành công của đề tài Văn hóa gia đình Việt Nam là đã trình bày được
những vấn đề lý luận về VHGĐ, VHGĐ và sự phát triển xã hội, các hệ giá trị của VHGĐ, khía cạnh VH trong các mối quan hệ GĐ, vai trò và vị trí người phụ nữ và đặt các vấn đề đó ra trước tư duy của xã hội Tất cả những điều này trước đó xã hội chưa quan tâm, chưa đầu tư suy nghĩ, nghiên cứu Các công trình nghiên cứu sau này cơ bản đều triển khai theo mạch tư duy này Các tác giả của đề tài đã khẳng định rất đúng rằng: “Gia đình, với tư cách một nhân tố phát triển lịch sử và một thể chế xã hội (thậm chí đó là thể chế xã hội đầu tiên và cũng là cuối cùng của đời sống con người), tất nhiên phải mang nội dung văn hóa, phải là “vật tải” văn hóa Vả chăng, ngay cả sự hình thành và phát triển của gia đình đã là sản phẩm của văn hóa Khi nói tới “Văn hóa gia đình”, trước hết cần hiểu đó là một bộ phận của văn hóa
Trang 18chung của xã hội… Văn hóa chung của xã hội có nhiều vật chứa, nhiều vật chuyển tải khác nhau, nhưng bền vững nhất (do đó có sức bảo thủ nhất) vẫn là văn hóa gia đình” [112, tr 9] Nghĩa là, coi VHGĐ như một trong những lĩnh vực căn bản của
VH chung của xã hội Từ đó, các tác giả đề cập đến khái niệm gia học, gia lễ, gia phong, gia pháp và hệ giá trị của VHGĐ Bên cạnh khái niệm VHGĐ, hệ giá trị VHGĐ là một trong những điểm mạnh nhất về lý luận trong công trình nghiên cứu này Có một nhận định trong đề tài rất đáng để chúng ta suy nghĩ là xã hội đang đứng trước sự lựa chọn giữa ba hệ giá trị VHGĐ khác nhau: Hệ giá trị VHGĐ bảo thủ, hệ giá trị VHGĐ hãnh tiến, hệ giá trị VHGĐ kế thừa – phát triển Mặc dù ngắn gọn, thậm chí rất cô đọng, nhưng các tác giả đã phát triển một ý tưởng quan trọng,
đó là mối quan hệ giữa VHGĐ và sự phát triển xã hội với đầy đủ tính lịch đại và tính đồng đại của nó Đồng thời, họ cũng đã chú ý đến một vấn đề rất thú vị nhưng khá phức tạp, đó là những khía cạnh VH trong các mối quan hệ GĐ Từ sự phân tích đó, các tác giả đã nhấn mạnh vai trò, vị trí của người phụ nữ trong GĐ và ảnh hưởng to lớn của họ trong việc hình thành, duy trì, phát triển VHGĐ Đây đều là những vấn đề mà luận án quan tâm
Cùng với đề tài Văn hóa gia đình Việt Nam do Lê Minh chủ nhiệm, cũng đã
có những công trình khác như: cuốn Văn hóa gia đình Việt Nam, của Vũ Ngọc Khánh [65]; cuốn Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ
em, của Lê Như Hoa [50]; Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, do tập thể tác giả Khoa Văn hóa xã hội chủ nghĩa thuộc
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn [51]; cuốn Sách xanh gia đình
Việt Nam, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch [18]; cuốn Văn hóa gia đình, của
Bùi Đình Châu [26] hay một số bài viết: “Chủ đề văn hóa gia đình trong nghiên cứu
văn hóa” của Hồ Liên [76]; “Văn hóa gia đình và gia đình văn hóa” của Tạ Văn
Thành [166, tr 76]; “Có một hệ giá trị văn hóa gia đình Việt Nam” của Phạm Tùng
Thư [142]; “Gia đình – Từ cách tiếp cận văn hóa” của Nguyễn Hồng Mai [85]; “Vài
khái niệm về văn hóa gia đình” của Huyền Giang [166, tr 5]; Lê Ngọc Văn với bài
“Nghiên cứu gia đình Việt Nam những vấn đề đặt ra hiện nay” [152] và “Văn hóa gia đình” [155]…, đã ít nhiều đề cập đến khái niệm VHGĐ, chỉ rõ cơ cấu và hệ giá
trị VHGĐ, góp phần trả lời cho câu hỏi “có văn hóa gia đình không?”
Trang 19Trong những tài liệu trên, đáng chú ý nhất là cuốn Văn hóa gia đình Việt
Nam của Vũ Ngọc Khánh [65] Tác giả đã trình bày VHGĐVN dưới những góc độ
khác nhau nhằm tìm hiểu bản sắc văn hoá Việt Nam qua khía cạnh GĐ Với cuốn sách này, chúng ta sẽ có thêm những kiến thức về VH trong GĐVN, được tác giả viết bằng chính những câu chuyện có thật để người đọc có thể cảm nhận, tự hào, gìn giữ những truyền thống vốn có, những đặc trưng VH của GĐVN Tuy một số nội dung trong cuốn sách còn nặng tính liệt kê, chưa có sự khái quát, không chỉ ra được những đặc trưng bản chất của khái niệm VHGĐ nhưng đây vẫn là một tài liệu khoa học có giá trị tham khảo tốt đối với tác giả khi tìm hiểu lý luận về VHGĐVN
Bài viết “Gia đình – Từ cách tiếp văn hóa” của Nguyễn Hồng Mai [85] đã chỉ rõ bản chất VH của GĐ chính là nền tảng lý luận cơ bản cho các nhà nghiên cứu tiếp cận VH Có hai thuật ngữ thường được nhắc đến khi tiếp cận GĐ từ góc độ VH,
đó là “Văn hóa gia đình” và “Gia đình văn hóa” Giữa hai khái niệm này tuy có mối
quan hệ gần gũi, nhưng thật ra đó lại là những đối tượng nghiên cứu của các khoa học khác nhau “Nếu gia đình văn hóa là loại gia đình được xã hội tôn vinh vì đã đạt được một phẩm chất giá trị nào đó theo quy ước thì văn hóa gia đình là một trong những thuộc tính khách quan của mọi gia đình Theo đề nghị của UNESCO, mọi kiểu văn hóa đều cần được tôn trọng Vì thế, chấp nhận sự đa dạng và khác biệt của các kiểu văn hóa gia đình cũng như các kiểu văn hóa tộc người là một cách tiếp cận khoa học và hợp lý” [85, tr 4]
Với hai bài viết “Nghiên cứu gia đình Việt Nam những vấn đề đặt ra hiện nay” [152] và “Văn hóa gia đình” của Lê Ngọc Văn [155], tác giả cũng cho thấy mặc dù VHGĐ là chủ đề được nhiều người đề cập đến, nhưng lâu nay việc nghiên cứu VHGĐ thường mang tính chủ quan, phiến diện Ngay cả khái niệm VHGĐ vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng và có quá nhiều cách hiểu khác nhau Kết quả
là, tuy có nhiều người nói đến VHGĐ, thảo luận việc XDVHGĐ nhưng VHGĐ là gì thì chưa được trả lời một cách thỏa đáng Do đó, bản sắc VHGĐVN là gì, về căn bản, câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ Từ hướng tiếp cận xã hội học về VH, tác giả đưa ra cách hiểu về khái niệm VHGĐ Tác giả khẳng định những biến đổi kinh tế xã hội, công nghiệp hóa và hội nhập tạo nên những giá trị mới của GĐ nhưng không làm mất đi những giá trị tốt đẹp của GĐVN truyền thống Đó là tính liên tục và sự biến
Trang 20đổi của VHGĐ Việc hiểu rõ các đặc trưng của VHGĐ, tính liên tục và xu hướng biến đổi của VHGĐ là cơ sở XDVHGĐVN hiện đại Quan điểm này được tác giả đề
cập lại trong cuốn Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam [156]
Tiếp cận từ góc độ xã hội học còn có bài “Văn hóa gia đình trong các chiều cạnh của cơ cấu xã hội” của Đặng Cảnh Khanh [62] Tác giả đã luận giải VHGĐ từ việc phân tích chiều cơ cấu - chức năng, chiều lịch đại của cơ cấu GĐ trong xã hội
và những vấn đề của VH truyền thống của dân tộc trong GĐ Từ đó, với cách nhìn biện chứng, theo tác giả, có thể vượt qua được một cách đúng đắn những mâu thuẫn giữa việc phát triển cơ chế thị trường với việc duy trì những giá trị VH truyền thống, xây dựng sự thống nhất biện chứng giữa chúng nhằm tạo ra đường hướng cho sự phát triển của những giá trị VH truyền thống, trong đó, có các giá trị về VHGĐ, lẫn những quy luật của cơ chế thị trường Điều quan trọng là cần phải tìm thấy được phương thức đúng đắn để bảo đảm cho sự tồn tại thống nhất và biện chứng giữa hai mặt đối lập đó: mặt các giá trị truyền thống và mặt cơ chế thị trường Đây là một gợi mở rất quan trọng cho luận án
Tìm hiểu VHGĐ qua từng giai đoạn lịch sử có bài viết “Về văn hóa gia đình Việt Nam” của Đào Hùng [55] Các công trình nghiên cứu những chuẩn mực truyền thống của VHGĐ người Việt đều nhìn nhận VHGĐ truyền thống dưới góc
độ đề cao như những chuẩn mực mà con người hiện đại cần đạt tới Có thể kể đến
cuốn Nếp cũ - Con người Việt Nam của Toan Ánh [8]; Đất lề quê thói: Phong tục
Việt Nam của Vũ Văn Khiếu [68]; Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh
[3]; Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm của Trần Quốc Vượng [165]; Lễ tục
trong gia đình người Việt của Bùi Xuân Mỹ [115]; Giáo dục truyền thống văn hóa gia đình cổ xưa của Dương Thu Ái, Nguyễn Kim Hạnh [7]
Xem xét mức độ ảnh hưởng của Nho giáo đối với VHGĐ có cuốn Nho giáo
và gia đình của Vũ Khiêu, Lê Thị Quý, Đặng Nhứ [66] Các tác giả đã trích dẫn, xếp
đặt, phân loại các quan điểm chung về đạo đức, chuẩn mực, giá trị, VH Nho giáo xung quanh các mối quan hệ GĐ, quan hệ cha con, anh em, vợ chồng và phân tích nó
trong khung cảnh Việt Nam Các tác giả đã chọn lọc những quan điểm hợp lý của
Nho giáo về GĐ và VHGĐ cho việc XDVHGĐVN truyền thống Đây là những bài học kinh nghiệm cho quá trình XDVHGĐ hiện nay ở Việt Nam mà luận án quan tâm
Trang 21Bài viết “Văn hóa gia đình Việt Nam” của Phan Ngọc [116] cũng đã chứng minh hệ
tư tưởng Nho giáo trong VHGĐ thực tế không phải sâu sắc như người ta tưởng, mà chỉ là một lớp sơn mỏng trên VH dân gian của làng xã Việt Nam Chính điều này đã giúp cho Việt Nam xây dựng con người có ý thức trách nhiệm với cộng đồng và với tinh thần đó, đã giúp cho Việt Nam bảo vệ được nền độc lập bên cạnh đế chế đông người nhất, có lực lượng quân sự hùng mạnh hơn, và không ngừng theo đuổi tham vọng thôn tính Việt Nam Điều này cũng có ý nghĩa trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Nói cách khác, VHGĐ mà Phan Ngọc muốn
bàn đến là theo xu hướng nhân cách luận Việc xây dựng đất nước bắt đầu bằng
việc tạo dựng những con người mới từ trong chính VHGĐ theo con đường nhân cách luận như kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc thực sự có ý nghĩa quan trọng trong thời đại mới Quan trọng là VHGĐ phải luôn đổi mới theo xu hướng tiếp thu những yếu tố lành mạnh và loại bỏ những mặt hạn chế xuất hiện trong thời đại mới
Quan điểm này phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án Bên cạnh đó, cuốn Gia
đình học của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý [64] cập nhật nhiều thông tin lý
thuyết về nghiên cứu GĐ trên thế giới và Việt Nam Cuốn sách là một trong những công cụ nghiên cứu giúp tác giả có cái nhìn khá hệ thống về vấn đề GĐ, trong đó, có những đặc trưng của GĐVN truyền thống qua việc tìm hiểu dấu ấn cộng đồng trong GĐVN truyền thống, làm rõ mối quan hệ giữa VHGĐVN bản địa và VHGĐ Nho giáo, xem xét GĐVN trong sự tiếp xúc với VHGĐ phương Tây…
Giữa VHGĐ và sự phát triển xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Đó là nội dung nhiều công trình nghiên cứu quan tâm trong thời gian gần đây Điển hình
là cuốn Văn hóa gia đình và sự phát triển xã hội có mối liên hệ hữu cơ [158]; cuốn
Gia đình và dân tộc của Nguyễn Thế Long [77] Bài báo “Giá trị văn hóa gia đình –
Tế bào lành mạnh của sự phát triển” của tác giả Hoàng Bá Thịnh [141] Thông qua bài viết, tác giả lưu ý chúng ta rằng VHGĐ, bên cạnh cái chung là nền VH Việt Nam, nó còn có nét riêng do sự chi phối bởi những giá trị của dòng họ, của VH làng
xã, cộng đồng cùng những phong tục, tập quán riêng tạo nên VH vùng/lãnh thổ hay còn gọi là “địa – văn hóa” VHGĐ là một thành tố quan trọng của VH xã hội, VHGĐ vừa chịu sự chi phối của các giá trị, chuẩn mực xã hội nhưng cũng góp phần làm giàu thêm các giá trị VH dân tộc, xã hội Do đó, khi xã hội bước vào thời kỳ đổi mới,
Trang 22VHGĐ cũng có những biến đổi nhất định, bên cạnh những mặt tích cực, thì cũng có những mặt tiêu cực Cùng với hướng nghiên cứu này, Phan Thị Cẩm Lai đã có bài
“Gia đình và văn hóa gia đình Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế hiện nay” [73] Điểm đáng chú ý ở bài viết này là tác giả khẳng định VHGĐ
là một bộ phận, là cái gốc của VH làng, VH nước Vì vậy, hiện nay, một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển đất nước, chính là sự vững mạnh từ bên trong của mỗi GĐ trên cơ sở phát triển VHGĐ và XDGĐVH
Trên tinh thần đó, tác giả luận án rất chú ý đến những công trình nghiên cứu
về sự biến đổi VHGĐVN, các yếu tố tác động đến sự biến đổi đó cùng với những
định hướng, giải pháp để XDVHGĐVN hiện nay Cuốn Phát huy truyền thống văn
hóa gia đình trong xây dựng nông thôn mới của Ngô Quang Hưng [57] Nội dung
cuốn Gia đình Việt Nam trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
từ cách tiếp cận so sánh của Nguyễn Hữu Minh [108] góp phần nhận diện rõ hơn
những xu hướng phát triển mới của GĐVN và có đóng góp tích cực vào hoàn thiện
chính sách về GĐ Cuốn Tìm hiểu Di sản văn hóa gia đình Việt Nam của Nguyễn
Song Tùng [150], tác giả tâm sự: Vấn đề trăn trở trong tôi là làm thế nào khôi phục được di sản quý báu của GĐVN trong thời kỳ đất nước đổi mới và tiến vững chắc
trong thế kỷ XXI? Theo tác giả, nền tảng của GĐ hạnh phúc là VHGĐ
Ngoài ra, có các bài viết đăng trên sách, tạp chí như Lê Thi với bài “Gia đình Việt Nam, các trách nhiệm, các nguồn lực trong sự đổi mới của đất nước” [147,
tr 51] Trong bài viết này, Lê Thi cho rằng, việc XDVHGĐ – bộ phận quan trọng của nền VH dân tộc, thì sự hình thành VHGĐ mới không thể diễn ra bằng sự đứt đoạn với VH truyền thống, cũng như sự chối bỏ các giá trị VH hiện đại mà là sự kết hợp đúng đắn hài hòa, đó là điều chúng ta cần khẳng định và hướng dẫn cho các GĐ Mặt khác, tác giả cũng đưa ra nhận định rằng tương lai GĐVN còn biến đổi nhiều khi bước sang thế kỷ XXI, nhưng chúng ta có thể dự đoán nó sẽ không rập khuôn theo một mô hình GĐ Âu Mỹ hiện nay Với đặc điểm địa lý, VH dân tộc, GĐVN trong tương lai sẽ mang những bản sắc dân tộc riêng biệt, cần phải xây dựng GĐ hiện đại mang bản sắc Việt Nam Một số bài viết khác liên quan đến nội dung này như: Thành Duy với bài “Văn hóa gia đình và nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường ở Việt Nam” [166, tr 34]; “Tôn vinh văn hóa gia đình” của Văn Kỳ Thanh [136]; khi
Trang 23tiếp cận “Văn hóa gia đình từ điểm nhìn lịch sử và bản sắc”, có bài của Trường Lưu
[78]; Ngô Quốc Đông viết về “Văn hoá gia đình bảo lưu và thách đố” [41]; nhìn theo chiều lịch đại, Trần Thị Thu Nhung đi tìm hiểu những biến đổi trong “Văn hóa gia đình truyền thống và hiện đại” [120]; bài “Vai trò của văn hóa gia đình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Dương Quốc Hùng [56], bài “Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập” của Trần Thị Tuyết Mai [88] và bài “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực xay dựng gia đình văn hóa” của Dương Thị Minh [113] Bài “Những biến đổi của văn hóa gia đình trong giai đoạn đổi mới ở nước ta hiện nay” của Vũ Thy Huệ - Vũ Phương Hậu [53]
Về luận văn có Văn hóa gia đình Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện
nay của Hồ Thị Ngọc Sao [134] Luận án Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay của An Thị Ngọc Trinh
[146] đã trình bày được quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trong việc xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam…
Số lượng công trình liên quan đến XDVHGĐVN không hẳn là ít, nhưng có
giá trị tham khảo lớn hơn cả, liên quan trực tiếp đến đề tài, đó là: Thứ nhất, đề tài cấp bộ về Văn hóa gia đình Việt Nam trong thời đại mới của Trần Đức Ngôn [117]
Đề tài đã đánh giá được những ưu điểm và hạn chế của VHGĐVN trong quá khứ và hiện tại Đưa ra những dự báo xu hướng biến đổi trong VHGĐ, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm định hướng XDVHGĐ hiện nay phù hợp với xu thế hội nhập,
phát triển, đồng thời vẫn giữ được giá trị truyền thống của GĐVN Thứ hai, cơ sở lý
luận và phương pháp luận cho việc kế thừa và phát huy các giá trị của VHGĐVN truyền thống trong việc xây dựng GĐ và sự ảnh hưởng của hội nhập quốc tế, truyền
thống, giao lưu VH tới VHGĐ trong đề tài Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020 của Lê Thị Quý [15] Tác giả đề tài đã
có nhận xét rất xác đáng rằng: “Ở nước ta, sự hòa trộn giữa bản sắc riêng của dân tộc với đạo lý Nho giáo, ảnh hưởng của Phật giáo và một chút Nho giáo đã tạo ra nền VH gia đình với những nét độc đáo Nền tảng căn bản cho các mối quan hệ gia đình chính là tình thương yêu và ý thức trách nhiệm Nó là nguyên tắc chỉ đạo mọi suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân Điều này rất phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tình yêu là cơ sở đầu tiên của gia đình… Chính gia đình
Trang 24Việt Nam trong môi trường VH làng xã đã tạo nên những đặc điểm truyền thống và
là một bộ lọc đối với VH gia đình của Nho giáo… Gia đình Việt Nam truyền thống nghiêng nhiều về mặt quan hệ tình cảm, tình nghĩa còn gia đình Nho giáo nghiêng
về mặt bổn phận, trách nhiệm, lễ nghĩa” [15, tr 96-100] Tuy nhiên, theo tác giả luận án, điều này không chỉ phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, mà
cả với quan điểm của Hồ Chí Minh Thứ ba, một số bài tham luận tại Hội thảo quốc
tế Thực tại và tương lai của gia đình trong thế giới hội nhập: “Sự biến đổi văn hóa
gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” của Trần Thị Phương Thảo [149, tr 607]; “Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam” của Nguyễn Linh Khiếu [149, tr 351]; “Xây dựng văn hóa gia đình – Động lực phát
triển của gia đình Việt Nam hiện đại” của Hoàng Hồng Hạnh [149, tr 477] Thứ tư, các tham luận xoay quanh chủ đề Hội thảo Xây dựng văn hóa gia đình trong xã hội
đương đại Ví dụ như “Văn hóa gia đình và vấn đề giáo dục các giá trị văn hóa truyền
thống trong gia đình cho thế hệ trẻ” của Lê Thị Quý [20, tr 134]; “Xung đột giá trị trong văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay” của Phạm Đỗ Nhật Tiến [20, tr 139] ;
“Xây dựng văn hóa gia đình hiện nay – từ góc nhìn thực tiễn và pháp lý” [20, tr 57]
Thứ năm, tài liệu Hội nghị - Tọa đàm khoa học Quan niệm về Hạnh phúc của người Việt Nam Một số bài đáng quan tâm như: “Hạnh phúc và sự cần thiết nghiên cứu
hạnh phúc ở Việt Nam” [19, tr 1]; “Nền tảng của hạnh phúc gia đình” [19, tr 47]
Các tác giả nước ngoài khi tìm hiểu về VHGĐVN, chủ yếu bàn về địa vị người phụ nữ trong GĐ Một số nhà luật học người Pháp đã nhận xét: “…Điều mà người Việt Nam tỏ ra hơn hẳn các dân tộc khác ở Viễn Đông là địa vị mà họ dành cho người vợ cả trên thực tế gần như bình đẳng với chồng” (Maitre trong bài tường thuật về công trình nghiên cứu của Briffant năm 1908) hay “…Người phụ nữ Việt Nam có vai trò gần như tự do và rất xứng đáng” (Luco – Giáo trình về nền hành
chính Việt Nam) Solus trong cuốn Về sự tiến triển của địa vị pháp lý của phụ nữ
bản xứ đã thừa nhận: “…ảnh hưởng của phương Tây chỉ làm rõ thêm tầm quan
trọng đã được công nhận về địa vị của phụ nữ trong gia đình” [169, tr 196] Sau
này, hai học giả người Pháp là M.Durand và P.Huard trong công trình Nhận thức về
Việt Nam [170] đã đưa ra công thức của quan hệ vợ chồng trong GĐ người Việt, đó
là: Người chồng trị vì, người vợ quản lý (Le homme gouverne, la femme menage)
Trang 25Tác giả người Hàn Quốc Insun Yu trong công trình Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ
XVII – XVIII đã phát hiện ra sự khác biệt giữa nguyên lý Nho giáo đang giữ địa vị
thống trị với những phong tục tập quán lâu đời trong đời sống VH Việt Nam Đó là, trong quan hệ GĐ, GĐVN có xu hướng tập trung vào quan hệ vợ - chồng hơn quan
hệ cha – con; vợ chồng, con trai, con gái bình đẳng trong phân chia tài sản và “sở dĩ người vợ được vị thế cao trong gia đình là do những hoạt động kinh tế của chính mình…” [75, tr 165]
Trong số những học giả nước ngoài viết về VH, GĐVN nửa đầu thế kỷ XX,
phải kể đến học giả Léopold Cadière Trong tác phẩm Văn hóa, tôn giáo, tín
ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học giả L Cadiere, chủ bút tạp chí Bulletin des amis du vieux Hue Đô thành hiếu cổ, 1914-1944 do Đỗ Trinh Huệ biên khảo [54] đã
phần nào khái quát về GĐ mang đậm bản sắc VH của người Việt qua một số nội
dung như: Thứ nhất, luận giải GĐ theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng, trong đó, ông cho
rằng GĐ theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm người sống, mà cả kẻ chết Như vậy,
do chính việc hình thành của nó, họ tức GĐ theo nghĩa rộng, chủ yếu có tính chất tôn giáo, bởi lẽ nó bao gồm các thành phần siêu nhiên Từ đó, đặt cơ sở cho ông đi
sâu làm rõ việc thờ cúng Tổ tiên, ông bà trong GĐ người Việt Thứ hai, về hôn
nhân, sau khi phân tích các sự kiện, ông đã đưa ra bốn nhận định: hôn nhân là một
bộ phận của tôn giáo (việc thờ tự trong GĐ); Tổ tiên có vai trò ưu đẳng trong các nghi thức hôn lễ; về bản chất, về yếu tố cấu thành của hôn nhân ở người Việt là sự đồng thuận; cuối cùng là vấn đề khai báo trong hôn nhân Như vậy, chúng ta có thể thấy, trong quan điểm của Cadière, GĐ theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, chủ yếu đều
có bản chất tôn giáo Thứ ba, tác giả đi sâu phân tích làm rõ người gia trưởng Việt Nam đóng vai trò gì trên bình diện tôn giáo Thứ tư, tác giả đề cập đến người vợ
trong GĐ và đi đến kết luận rằng người vợ, người mẹ GĐ, tưởng như đứng bên ngoài các cuộc cúng bái chính thức long trọng, Tổ tiên, Thần thánh, tuy vậy vẫn tạo
ra cho mình một đời sống tôn giáo còn rộng rãi hơn đàn ông Cuối cùng, sau khi làm
rõ vai trò của người cha, người mẹ trong GĐ trên phương diện tôn giáo, thì ông bàn đến các người con Trong đó, ông nhấn mạnh đến giáo dục GĐ, nhất là giáo dục chữ Hiếu và với những cách thức giáo dục riêng có của mình, mà GĐ người Việt là một thầy dạy giáo huấn về mặt luân lý đạo đức Gắn bó với Việt Nam từ khi còn trẻ cho
Trang 26tới những năm cuối đời, với tình cảm và cái nhìn sâu sắc của mình sau khi nghiên cứu
GĐ người Việt, thấy được các tính chất vượt trội trong phong hóa đạo đức gia đạo, L
Cadière có một ước nguyện thật chân thành: “ Xin đưa ra một lời ước nguyện là đừng sử dụng bất cứ biện pháp nào có nguy cơ làm suy yếu gia đình tại Việt Nam này, song trái lại hãy củng cố nó bằng mọi cách Than ôi! Liệu có được chăng! Liệu
có kháng cự nổi những biến đổi với biết bao mãnh lực” [24, tr 84]
1.1.2 Tình hình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình và văn hóa gia đình
Hiện nay, chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào đi sâu làm rõ quan điểm hay tư tưởng Hồ Chí Minh về GĐ và VHGĐ Vì vậy, vấn đề này, chủ yếu được khảo sát qua các bài viết đăng trên sách báo, tạp chí và những kết quả nghiên cứu đã đạt được ở các đề tài khoa học
Bài viết “Hồ Chí Minh với vấn đề gia đình” in trong sách Hồ Chí Minh văn
hóa và đổi mới của Đinh Xuân Lâm và Bùi Đình Phong [74], đã luận giải GĐ trong
tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách tiếp cận VH, đi sâu phân tích các chuẩn mực đạo đức GĐ cốt lõi tương ứng với các mối quan hệ cụ thể trong GĐ và khẳng định sự phát triển của GĐ gắn liền với chế độ xã hội chủ nghĩa Do đó, tác giả bài viết cho rằng: “Tìm hiểu Hồ Chí Minh với vấn đề gia đình là nội dung không thể thiếu để thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong giai đoạn hiện nay” [74, tr 162]
Trong bài viết “Góp phần tìm hiểu những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về vấn đề gia đình”, tác giả Đinh Khắc Tuấn [166, tr 52] cho rằng vấn đề GĐ được Hồ Chí Minh nhấn mạnh ở ba nội dung cơ bản: Vị trí, vai trò của GĐ trong xã hội; Quan hệ giữa GĐ và giai cấp; Người phụ nữ trong GĐ Về nội dung thứ nhất
và thứ ba đã rõ, riêng nội dung thứ hai, thì chưa đủ, cần mở rộng và làm rõ ở cả ba mối quan hệ GĐ – giai cấp – dân tộc, bởi lẽ mọi vấn đề trong tư tưởng Hồ Chí Minh không dừng lại ở mối quan hệ giai cấp, mà luôn có sự gắn bó chặt chẽ và nằm trong mối quan hệ dân tộc Bài viết “Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề gia đình” của Lữ Tuyết Mai [86] cũng đã đề cập ba luận điểm chính: Cái chung và riêng qua lăng kính GĐ và xã hội; xây dựng GĐ bình đẳng, hạnh phúc và tiến bộ; GĐ và sự nghiệp cách mạng Trên cơ sở quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của GĐ và
Trang 27VHGĐ đối với đời sống xã hội, Lê Quý Đức trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa gia đình và tính lưỡng diện của văn hóa gia đình” [20, tr 36] đã đi đến nhận định và lý giải VHGĐ có tính độc lập tương đối của nó không chỉ biểu hiện ở sự tác động trở lại VH xã hội mà còn biểu hiện ở tính lưỡng diện của nó Điều đó cũng có nghĩa là trong xã hội có VHGĐ tiến bộ và VHGĐ lạc hậu, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã hội
Để người phụ nữ trong GĐ phát huy được vai trò của mình, cần thực hiện bình đẳng giới Bài “Quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề giới” của Vũ Thị Cúc [29] đã tập trung làm rõ điều này Theo tác giả, sau khi Hồ Chí Minh xác định nguyên nhân của bất bình đẳng giới là xuất phát từ tư tưởng “trọng nam kinh nữ” và sự hạn chế trong nhận thức của người dân, Người đã chỉ ra rằng để đạt được bình đẳng giới phải thực hiện đồng thời hai việc, đó là giải phóng người phụ nữ khỏi những ràng buộc của những lề thói, tập tục lạc hậu trong xã hội và phải thay đổi, nâng cao nhận thức của người đàn ông trong xã hội về phụ nữ, cũng như bản thân người phụ nữ cũng phải tự mình phấn đấu vươn lên để giành quyền bình đẳng cho mình Đây là cuộc cách mạng của toàn dân, chứ không chỉ của riêng người phụ nữ, trong đó, vai trò của Đảng và Nhà nước là hết sức quan trọng
Đi sâu tìm hiểu quan điểm của Hồ Chí Minh về các mối quan hệ trong GĐ (quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - con cái) và tầm quan trọng của giáo dục GĐ,
Lê Thị Hồng Hải đã có bài “Một số quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề gia đình” [46] Bài viết này tìm hiểu quan niệm của Người về GĐ, quan hệ vợ chồng và
quan hệ cha mẹ - con cái Bài viết là một phần của đề tài cấp Viện Quan điểm của
Hồ Chí Minh về gia đình, phụ nữ và bình đẳng giới do Chi đoàn Viện Gia đình và
Giới thực hiện năm 2007 [159] Đề tài đã đề cập đến quan điểm Hồ Chí Minh về
GĐ, phụ nữ và bình đẳng giới, nhưng chỉ mới dừng lại ở việc trình bày, nêu ra các câu nói, bài viết của Người, chưa có sự đánh giá, tổng hợp và phân tích các quan điểm đó Tuy nhiên, các tác giả thực hiện đề tài cũng đã khẳng định: Tư tưởng của
Hồ Chí Minh về vấn đề GĐ, phụ nữ và bình đẳng giới là một kho tàng rất phong phú Cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa đi sâu, phân tích, tìm hiểu xem những tư tưởng này của Người đã được vận dụng vào quá trình hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước trong thực tế như thế nào Từ đó, có những đánh giá đúng đắn
Trang 28hơn vai trò kim chỉ nam của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Để xây dựng và phát triển đất nước đạt hiệu quả cao, Hồ Chí Minh rất quan
tâm đến giáo dục, trong đó có giáo dục GĐ “Bác Hồ với gia đình và giáo dục gia
đình” của Nguyễn Như An [1] đã khái lược qua sự cần thiết, nội dung, phương pháp giáo dục GĐ Theo tác giả, giáo dục GĐ trong tư tưởng của Người luôn gắn với việc giáo dục lòng thương người, yêu nước, thương dân theo sự vận dụng sáng tạo biện chứng quan điểm “chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc” của VH phương Đông Bản thân Hồ Chí Minh và GĐ của Người là tấm gương điển hình về giáo dục GĐ Vì vậy, một trong những kiến nghị của tác giả bài viết đưa ra cho đến nay vẫn có tính thời sự là: phải sưu tầm thật đầy đủ tư liệu về bài viết, lời dạy của Bác về giáo dục GĐ cùng cuộc đời và hoạt động của Bác đối với GĐ và xã hội Từ những tư liệu hoàn chỉnh thể hiện sự thống nhất từ lời nói đến việc làm của Bác, ta giáo dục GĐ mới hiệu quả hơn, sinh động hơn Tránh lối giáo dục thanh thiếu niên theo kiểu “tầm chương trích cú” chỉ nói theo lời Bác dạy mà không sống, học tập, làm việc theo gương Bác Hồ kính yêu Cùng với hướng nghiên cứu này, có bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình
và giáo dục gia đình” của Lê Văn Diệu
Một số đề tài của Lê Thị Quý có đề cập đến quan điểm, tư tưởng Hồ Chí
Minh về hôn nhân và gia đình như: Vấn đề gia đình trong phát triển xã hội và quản
lý phát triển xã hội ở nước ta trong thời kỳ Đổi mới [130]; Nghiên cứu cơ sở lý luận
và thực tiễn xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020 [15] Ở cả hai đề tài, tác giả
đều khẳng định “Hồ Chủ tịch đã kế thừa quan điểm Nho giáo về gia đình, đặc biệt
là giáo dục gia đình và kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về gia đình, phụ nữ và giải phóng phụ nữ Sự hòa quyện tuyệt vời này đã đem lại cho gia đình Việt Nam một sức sống mới và phù hợp với lòng dân” [15, tr 101] Mặt khác, theo tác giả, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu về GĐVN, xét ở khía cạnh VHGĐ, Người đã đề cập đến việc phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc xây dựng GĐ hòa thuận Sự hòa thuận trong GĐ là nhân tố đầu tiên
để tạo nên hạnh phúc Đồng thời, phải luôn chú trọng mở rộng tình cảm GĐ đến tình yêu cộng đồng, đất nước Chúng tôi đều nhất trí với các quan điểm tác giả đã đưa ra, tuy nhiên, nếu chỉ bao gồm ba nội dung trên thì vẫn chưa đủ, chưa đảm bảo
Trang 29được tính hệ thống, toàn diện trong tư tưởng của Người về vấn đề này và nhất thiết cũng cần xét đến những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về GĐ nói chung và giáo dục GĐ, vai trò của người phụ nữ trong GĐ nói riêng đến việc hình thành quan điểm của Người như tác giả của đề tài đã nêu
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng gia đình và văn hóa gia đình Việt Nam
Trên cơ sở khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về GĐ, phân tích sự tác động của đổi mới và hội nhập đến GĐVN, bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng gia đình Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế” của Hà Thị Bắc [11], đã đưa ra năm giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của GĐ; nội dung xây dựng GĐ mang đậm tính VH; và các phương pháp, điều kiện xây dựng GĐ, mà Đảng, Nhà nước, toàn xã hội và mỗi cá nhân cần tập trung nhận thức, hành động cụ thể, thiết thực
Trong xây dựng GĐ, thực hiện bình đẳng giới là một trong những vấn đề có
ý nghĩa thực tiễn rất cao Cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường đưa phụ nữ
Việt Nam đi tới bình đẳng, tự do, phát triển của Lê Thi [138] Luận văn Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ vào việc phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay của Ninh Thị Hồng Hạnh [48] và luận án Tư tưởng
Hồ Chí Minh về bình đẳng nam nữ và vận dụng vào thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay của Trần Thị Huyền [60] đã góp phần làm sáng tỏ quan điểm của Hồ
Chí Minh về quyền bình đẳng đối với người phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, đặc biệt trong GĐ
Bài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng gia đình văn
hoá” của Phan Văn Phờ [122] đã đưa ra bốn nội dung mà mỗi địa phương cần thực hiện, trong đó có ba nội dung sát với vấn đề của luận án Thứ nhất, tác giả nhấn
mạnh phải lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, vận dụng nội dung tác phẩm
Đời sống mới của Người trong việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện xây dựng
GĐVN, vì tác giả cho rằng “trong điều kiện cuộc sống gia đình có nhiều mặt trái như hiện nay, nếu gia đình được giữ gìn và xây dựng theo quan niệm của Hồ Chí Minh thì gia đình sẽ là một tổ ấm, một bộ giảm xóc, một bàn tay nhung sau những
mệt nhọc” [122, tr 45] Thứ hai, xác định cụ thể các giá trị tốt đẹp của truyền thống
Trang 30GĐVN nói chung và đặc thù GĐ ở mỗi địa phương nói riêng để giữ gìn, phát huy
đi liền với việc tiếp thu những giá trị tiến bộ của GĐ hiện đại Thứ ba, cụ thể hóa
các văn bản, các quy định của Nhà nước phù hợp với điều kiện địa phương theo hướng đề cao nhân tố GĐVH tiêu biểu; có chế tài đủ hiệu lực để răn đe những hành
vi vi phạm làm băng hoại hiếu thuận, lễ nghĩa trong GĐ mà các điều khoản luật pháp mới chỉ xác định ở định tính; hướng dẫn các biện pháp cụ thể, mang tính cộng đồng nhằm ngăn chặn có hiệu quả và đấu tranh mạnh mẽ loại trừ các hủ tục trong đời sống xã hội và các tệ nạn đang diễn ra trong đời sống GĐ Còn nội dung để xây dựng GĐ tốt, nhất thiết phải tiếp tục thực hiện quy mô GĐ ít con, theo chúng tôi cần
phải xem xét lại Dưới góc độ triết học, luận văn Tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình
và ý nghĩa của nó đối với xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam hiện nay của
Nguyễn Thị Yến [168] cũng đã giải quyết cơ bản vấn đề này
Đi sâu tìm hiểu quan điểm Hồ Chí Minh về những chuẩn mực của VHGĐ
trong Đời sống mới và đưa ra một số khuyến nghị nhằm XDVHGĐ theo quan điểm
của Người, có bài “Tác phẩm Đời sống mới với vấn đề xây dựng văn hóa gia đình
hiện nay” của Trung Thị Thu Thủy [144] Nội dung cụ thể bao gồm: Một là, khuyến
khích phát triển kinh tế GĐ, tạo điều kiện cho các GĐ ổn định đời sống, phát triển sản xuất, làm giàu chính đáng, thực hiện tốt cuộc vận động xóa đói giảm nghèo, các
GĐ giúp nhau lập nghiệp…; Hai là, thông qua các hoạt động vật chất và tinh thần
hằng ngày trong GĐ, giáo dục các quan hệ huyết thống mang tính nhân bản của con
người; Ba là, bản thân mỗi GĐ cần trở thành một đơn vị kinh tế nhằm tạo ra những
điều kiện vật chất cần thiết để nâng cao chất lượng sống cho GĐ, tạo cơ sở cho sự
phát triển VHGĐ; Bốn là, các GĐ cần tích cực tham gia vào hoạt động VH của
cộng đồng và lôi cuốn các thành viên cùng tham gia
Luận án Xây dựng văn hóa gia đình Việt Nam hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh là sự tiếp nối, mở rộng đề tài tốt nghiệp đại học Vai trò của gia đình trong giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay theo tưởng Hồ Chí Minh và luận văn Thạc sĩ Xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay theo quan điểm Hồ Chí Minh của tác giả
Trong đó, luận văn Xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay theo quan điểm Hồ Chí
Minh đã hệ thống quan điểm Hồ Chí Minh về xây dựng GĐ vốn được Người viết
khá rộng theo những mục đích và nội dung cụ thể khác nhau thành một chủ đề
Trang 31thống nhất: vị trí của GĐ – hạt nhân của xã hội; vai trò của GĐ; vai trò người phụ
nữ trong GĐ; thực hành đời sống mới trong GĐ Luận văn cũng đã tổng kết được phần nào những vấn đề có liên quan đến GĐ hiện nay, gợi mở nhiều suy nghĩ cho việc đi sâu nghiên cứu về vấn đề này trong tương lai Do mục tiêu nghiên cứu, tác giả chưa đi sâu nghiên cứu nội dung XDVHGĐ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nên luận văn chỉ dừng lại ở sự khái quát vấn đề XDVHGĐ trong luận điểm của Người
về thực hành đời sống mới trong GĐ
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn
đề đặt ra cho luận án
1.2.1 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Để tiến hành xây dựng GĐVN hiện nay, trong đó bao gồm cả VHGĐ, chúng ta cần phải dựa vào cơ sở lý luận và phương pháp luận mang tính chất khung
lý thuyết Những công trình nghiên cứu về GĐ, VHGĐ theo quan điểm, tư tưởng
Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của Đảng về lĩnh vực này không nhiều nhưng cũng cơ bản làm rõ tư tưởng của Người ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, xác định được quan niệm của Hồ Chí Minh về GĐ cả nghĩa cũ và
nghĩa mới, nghĩa hẹp và nghĩa rộng, có GĐ to và GĐ nhỏ thông qua câu nói của Người về GĐ tại Đại hội liên hoan phụ nữ “năm tốt” ngày 30/4/1964 và Bài nói tại lớp chỉnh Đảng Trung ương khóa 2 vào tháng 3/1953
Thứ hai, vị trí, vai trò của GĐ và mối quan hệ biện chứng giữa GĐ với xã
hội Các nhà nghiên cứu đều khẳng định, phân tích luận điểm của Hồ Chí Minh về
“Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt” Các tác giả chỉ mới dừng lại ở việc đi sâu làm rõ điều này thông qua vai trò của GĐ trong giáo dục
Thứ ba, vai trò của người phụ nữ trong GĐ Trong xã hội mới, người phụ
nữ khẳng định vị trí của mình trong GĐ, cũng như xã hội nhưng trên cơ sở bình đẳng với nam giới Sự bình đẳng đó được các tác giả chứng minh qua Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 do Hồ Chí Minh chỉ đạo biên soạn
Thứ tư, luận bàn về các mối quan hệ GĐ (quan hệ vợ - chồng, mẹ chồng –
nàng dâu, cha mẹ - con cái ); công cuộc XDVHGĐ cũng đã được đưa ra thông qua cuộc vận động XDGĐVH, thực hành đời sống mới trong một nhà, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của GĐ
Trang 32Như vậy, trong những vấn đề đã được nghiên cứu nêu trên chưa có nội
dung nào đề cập trực tiếp và đi sâu làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về XDVHGĐ và
sự vận dụng tư tưởng đó vào quá trình XDVHGĐVN trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Tuy nhiên, VHGĐ là một trong những nội dung quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu GĐ Qua khảo sát các công trình đã nghiên cứu về VHGĐ nêu trên, cho thấy những vấn đề mang tính lý luận chung về VHGĐ ít nhiều đã được các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội khác đã đề cập đến:
Thứ nhất, về khái niệm VHGĐ Đây là khái niệm mang tính công cụ, nếu
không xác định được VHGĐ là gì thì phạm vi, đối tượng, nội dung nghiên cứu của VHGĐ cũng không được xác định Vì vậy, dưới mỗi góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả lại đưa ra những quan niệm khác nhau về VHGĐ Do đó, dù khái niệm VHGĐ đã được nêu ra, luận bàn nhưng cho đến nay, vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng và thống nhất Đây là một nhiệm vụ quan trọng mà luận án cần phải thực hiện - xác định khái niệm VHGĐ theo quan điểm Hồ Chí Minh
Thứ hai, về vị trí, vai trò, cấu trúc, hệ giá trị và thuộc tính của VHGĐ Các
tác giả gần như thống nhất VHGĐ là một bộ phận của VH dân tộc, không chỉ làm nên bản sắc của GĐVN, thúc đẩy sự phát triển của GĐ, mà còn góp phần làm giàu thêm các giá trị của VH dân tộc, là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự phát triển đất nước Làm rõ những điểm vừa nêu trên giúp chúng ta thấy được những nét tương đồng và khác biệt giữa GĐVN và GĐ các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới
Thứ ba, về thực trạng VHGĐ, mối quan hệ giữa VHGĐ và sự phát triển xã
hội; những yếu tố tác động dẫn đến sự biến đổi VHGĐ; khẳng định giá trị của VHGĐ cùng với những giải pháp XDVHGĐ ngày càng vững mạnh
1.2.2 Những vấn đề đặt ra cho luận án
Về góc độ nghiên cứu, ở Việt Nam các nghiên cứu về GĐ bắt đầu từ khi
nước ta bước vào đổi mới đến nay Vào những năm cuối thế kỷ XX, trong bối cảnh
xã hội Việt Nam bước vào thời kỳ chuyển đổi và hình thành nền kinh tế thị trường, vấn đề VH với GĐ và GĐVH là một tiêu điểm trong khoa học xã hội và nhân văn Vì vậy, chủ đề về GĐ và VHGĐ thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
Trang 33dưới góc độ triết học, VH học, xã hội học, tâm lý học… Những tài liệu này đã giúp ích cho tác giả tham khảo, nghiên cứu trong quá trình hoàn thành luận án Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình khoa học chính trị trực tiếp đi sâu nghiên cứu về vấn đề VHGĐ nói chung và XDVHGĐVN trong di sản Hồ Chí Minh nói riêng Đây là khó khăn cho tác giả khi thực hiện luận án, nhưng cũng tạo nên điểm mới về đối tượng và
phương pháp nghiên cứu Đề tài luận án là một hướng mới trong nghiên cứu VHGĐ ở
góc độ tiếp cận Điều đó là hết sức cần thiết cho việc hiểu tư tưởng của Người một
cách tổng thể, sâu sắc hơn, toàn diện hơn Bên cạnh đó, từ góc độ tiếp cận mới, tác giả
sẽ đặt VHGĐ trong mối quan hệ với chính trị, góp phần đi sâu làm rõ hơn những tác động của chính trị, cụ thể như đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội đến GĐ và vị trí, vai trò, trách nhiệm chính trị của GĐ, VHGĐ đến việc hình thành, phát triển nhân cách con người – nhân cách chính trị, VH chính trị ở Việt Nam hiện nay Đó chính là nghiên cứu sự phân phối lợi ích, là vai trò, chức năng, là quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ giữa GĐ và xã hội
Về tính hệ thống, những công trình khoa học nêu trên cho thấy những
nghiên cứu về VHGĐ của các tác giả Việt Nam là khá phong phú, đa diện nhưng thật sự vẫn thiếu một sự nghiên cứu mang tính hệ thống, toàn diện về VHGĐ, trong
đó, bao gồm cả VHGĐVN trong di sản Hồ Chí Minh Hơn nữa, một trong những
đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống mở Làm rõ được những nội dung trong quan điểm của Người về XDVHGĐ sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện hệ thống
tư tưởng của Người và minh chứng cho đặc điểm vừa nêu Như vậy, việc hệ thống hóa lại tư tưởng Hồ Chí Minh về XDVHGĐ là công việc hết sức cần thiết hiện nay
Về tính lý luận, Ph.Ăngghen từng khẳng định: Một dân tộc muốn đứng
vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận Thế nhưng hiện nay, ở nước ta, nghiên cứu về GĐ, trong đó có VHGĐ vẫn còn thiếu hụt về mặt lý luận Bởi vậy, vấn đề VHGĐ, XDVHGĐ cũng không ngoại lệ, ở cả trong chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Nhìn chung, trong thành tựu nghiên cứu Hồ Chí Minh thì mảng nghiên cứu tư tưởng của Người về GĐ, VHGĐ
và XDVHGĐ theo những tư tưởng đó còn trống vắng Muốn thành công trong sự nghiệp đổi mới Đảng đã khẳng định sự cần thiết phải trở lại nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động Chính
Trang 34vì vậy, việc hoàn thành luận án XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
sẽ là một đóng góp mới về mặt lý luận, góp phần khỏa lấp một “khoảng trống”
trong nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
Về tính thực tiễn, so với nghiên cứu về GĐ nói chung thì XDVHGĐVN hiện
nay đang thật sự thiếu những căn cứ thực tiễn Chưa có công trình nào đề cập đến
những vấn đề XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, chưa chỉ
ra được quan điểm của Người về vai trò của VHGĐ và XDVHGĐ trong phát triển đất nước Khoảng trống mà các công trình trên chưa đề cập đến chính là việc nghiên cứu tổng thể, toàn diện về XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Nhìn
chung, nghiên cứu đề tài XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh là việc
làm có ý nghĩa sâu sắc về mặt thực tiễn Kết quả của luận án sẽ là một trong những căn cứ nền tảng cho việc hoạch định chính sách mới về XDVHGĐVN vừa mang bản sắc dân tộc vừa có thể tiếp thu các tinh hoa của thời đại
Trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các công
trình đi trước, luận án tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề sau:
Thứ nhất, xác định và luận giải một số khái niệm công cụ phục vụ nghiên
cứu đề tài luận án như khái niệm GĐ; VH, VHGĐ; XDVHGĐ; tư tưởng Hồ Chí Minh về XDVHGĐ Tất cả đều gắn với Việt Nam, con người Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập, dưới tác động của những yếu tố khách quan, chủ quan đến những vấn đề này
Thứ hai, hệ thống hóa và phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về
XDVHGĐ Việc hệ thống hóa và phân tích giúp người đọc có cái nhìn khái quát, biện chứng giữa tư tưởng của Người về vấn đề này với toàn bộ hệ thống tư tưởng của Người
Thứ ba, nêu bật và làm sáng tỏ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về
XDVHGĐVN Qua đó, cho thấy sự sáng tạo và đóng góp quan trọng của Người trên lĩnh vực GĐ, VHGĐ và XDVHGĐ ở Việt Nam
Thứ tư, trên cơ sở làm rõ thực trạng XDVHGĐVN hiện nay, luận án chỉ ra
quan điểm và đề xuất giải pháp chủ yếu XDVHGĐVN theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn tiếp theo
Trang 35Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu về VHGĐVN đã được các học giả trong và ngoài nước rất quan tâm với nhiều hướng nghiên cứu, nhưng chủ yếu tập trung vào lý luận chung về VHGĐ dưới góc độ VH học, xã hội học Nguồn tài liệu nghiên cứu về VHGĐVN
đã nêu vô cùng quan trọng, giúp tác giả có thể tiếp cận trên một số phương diện: khái niệm, cấu trúc VHGĐ; các yếu tố tác động và sự biến đổi của VHGĐVN hiện nay; vị trí, vai trò, chức năng của VHGĐ Mặc dù chưa có sự thống nhất về khái niệm VHGĐ, nhưng các kết quả nghiên cứu cơ bản đều nhìn nhận VHGĐ là một dạng VH cộng đồng đặc thù, trong đó bao gồm các hệ thống giá trị, chuẩn mực điều tiết các mối quan hệ trong GĐ, GĐ và xã hội Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng VHGĐ có vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành nhân cách con người, góp
phần phát triển xã hội
Tuy nhiên, tiếp cận VHGĐ dưới góc độ chính trị học, cụ thể là tư tưởng Hồ Chí Minh về XDVHGĐ nhằm XDVHGĐVN hiện nay theo tư tưởng của Người chưa được đề cập một cách cụ thể, có hệ thống qua bất kỳ tài liệu nào Dù tư tưởng
Hồ Chí Minh về GĐ, VHGĐ chưa được bàn sâu nhưng ít nhiều cũng đã được các nhà khoa học tiếp cận dưới các góc độ khác nhau Đây là tư tưởng rất độc đáo của Người Do vậy, việc kế thừa các thành quả nghiên cứu về VHGĐVN nói chung và
tư tưởng Hồ Chí Minh về GĐ, VHGĐ và sự vận dụng tư tưởng của Người vào việc xây dựng GĐ, VHGĐVN nói riêng để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận án là hết sức cần thiết
Với ý nghĩa đó, việc thu thập tài liệu và đánh giá tổng quan các nghiên cứu
có liên quan đến đề tài luận án đã rất được quan tâm Đây là cơ sở để xác định nhiệm vụ nghiên cứu và là nguồn tư liệu chính để tác giả luận án chọn lọc, tiếp thu,
kế thừa, phát triển và hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Trang 36xã hội của mỗi quốc gia, vùng miền, dân tộc v.v Chúng ta xem xét một số quan
điểm về GĐ tiêu biểu sau đây:
Chủ nghĩa Mác - Lênin: Khác với các nhà triết học đi trước, C.Mác và
Ph.Ăngghen nhìn nhận GĐ là một thiết chế xã hội cơ bản, đặc thù, ra đời, tồn tại cùng với lịch sử của xã hội loài người và có độ cố kết tương đối ổn định dựa trên hai mối
quan hệ cơ bản là quan hệ hôn nhân (chồng - vợ) và quan hệ huyết thống (cha mẹ - con cái) Trong Hệ tư tưởng Đức (1846), hai ông cho rằng: “Hằng ngày tái tạo ra đời
sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó
là quan hệ vợ và chồng, cha mẹ và con cái, đó là GIA ĐÌNH” [84, tr 41] Như vậy, chức năng cơ bản của GĐ là tái tạo ra đời sống (sinh học và xã hội) của con người
nhằm đảm bảo sự kế tục nòi giống, sự trường tồn của xã hội Trong tác phẩm Nguồn
gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, năm 1884, Ph.Ăngghen còn
phân biệt khái niệm hôn nhân và gia đình Ông cho rằng, hôn nhân thường nặng về thỏa mãn nhu cầu tình dục và mức độ phát triển của nó dựa vào tình yêu, việc sinh con và giáo dục chúng chỉ như một nhu cầu thứ yếu, có thể có hoặc không Trong khi
đó, GĐ là khái niệm phát sinh từ chính hôn nhân, nhưng GĐ có sự tương hỗ trong hoạt động giữa các cá thể, ở đó, không chỉ có nhu cầu thỏa mãn tình dục, mà bao gồm nhu cầu về yêu thương, sinh sản và giáo dục, về ăn uống, làm kinh tế chung và còn cả con cái thừa hưởng gia tài của tổ tiên
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (viết tắt là
UNESCO), năm 1994, cho rằng: “Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng,
cùng sống chung và có ngân sách chung” [Dẫn theo 139, tr 269] Đây là điểm mới
trong quan niệm về GĐ, khi lưu ý đến một điểm không thể thiếu được của GĐ là
Trang 37cộng đồng về kinh tế Trước đó, trong từ điển “Nhân khẩu học”, Liên Hợp quốc đã
nhấn mạnh đến tính pháp lý của GĐ: “Gia đình là một đơn vị được quy định thông qua mối liên hệ của các cá nhân nói lên sự tái sản xuất thế hệ sau, đặc biệt ở mức độ
mà những mối quan hệ này được những quy phạm và thủ tục pháp lý phê chuẩn” [Dẫn theo 163, tr 96]
Ở nước ta, theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Gia đình là tập hợp
những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau” [127, tr 7] Điều này hoàn toàn đúng với một định nghĩa về GĐ dưới góc độ của khoa học pháp lý và đạo
lý, là cơ sở thực tiễn để quản lý nhà nước về GĐ, nhưng nó chưa đủ cơ sở thực tiễn
về mặt xã hội học, không bao quát thực trạng của nhiều hình thức GĐ khác, những hình thức GĐ có thể bị coi là “bất hợp pháp” nhưng vẫn tồn tại trong cuộc sống xã
hội Trong Từ điển Tiếng Việt, của Trung tâm Từ điển học Vietlex quan niệm: Gia
đình là “tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng,
cha mẹ và con cái” [164, tr 496]
Hồ Chí Minh khi bàn về GĐ đã đưa ra quan niệm:
Gia đình có nghĩa cũ và nghĩa mới, nghĩa hẹp và nghĩa rộng “Gia” là nhà,
“đình” là sân Theo nghĩa cũ thì gia đình chỉ giới hạn hẹp trong một cái nhà, cái sân, nghĩa là chỉ lo toan cho cha mẹ, vợ con trong gia đình mình ấm no, yên ổn ngoài ra
ai nghèo khổ mặc ai, như thế là ích kỷ không tốt Theo nghĩa mới gia đình rộng hơn, tốt đẹp hơn Thí dụ, những người lao động trong cùng một nhà máy, trong một cơ quan… đều phải đoàn kết, yêu thương nhau như một gia đình Rộng hơn nữa là đồng bào cả nước, anh em trong một đại gia đình Ta có câu hát: Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng Rộng hơn nữa chúng ta có đại gia đình xã hội chủ nghĩa [106, tr 311]
Như vậy, GĐ trong quan điểm của Hồ Chí Minh đã được bổ sung thêm các thành viên và mở rộng mối quan hệ trong GĐ từ một tế bào xã hội cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng ăn chung và cùng huyết thống đến nhóm người có cùng quan điểm, cùng hướng phấn đấu Điều quan trọng ở đây là Người đã nhấn mạnh
GĐ “theo nghĩa mới là rộng hơn, tốt đẹp hơn” và quan hệ của họ là bình đẳng, đoàn
Trang 38kết, thương yêu nhau trên cơ sở lập trường giai cấp vô sản Từ đó, giữa GĐ theo nghĩa rộng và GĐ theo nghĩa hẹp có mối quan hệ biện chứng với nhau, Người nói:
“Đến chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản, gia đình chung có được hạnh phúc thì gia đình riêng cũng có hạnh phúc” [100, tr 100] Vì vậy, trong bức tranh GĐ rất
đa dạng như hiện nay, tác giả luận án không lựa chọn một loại hình GĐ cụ thể nào làm đối tượng nghiên cứu Tác giả hướng đến một mẫu GĐVN chung nhất, nhấn mạnh vào những điểm tương đồng, phổ biến; tạm thời loại bỏ những khác biệt, đặc thù Bên cạnh đó, mặc dù luận án đi sâu nghiên cứu việc xác lập VH cho GĐ theo nghĩa hẹp nhưng GĐ đó không tồn tại một cách độc lập hoàn toàn, mà đặt trong mối quan hệ với các GĐ khác và với đại GĐVN, đại GĐ thế giới
Ngoài những quan điểm trên thì các định nghĩa khác về GĐ dưới góc độ
GĐ học, tâm lý học, xã hội học, CNXH khoa học hay luật học, đều thống nhất GĐ
là nhóm xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng cố trên cơ sở hôn nhân,
huyết thống và nuôi dưỡng; tác động lẫn nhau trong các vai trò tương ứng của họ, gắn bó bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung, nuôi dạy con cái và tạo
ra một nền VH chung
Từ những quan niệm nêu trên về GĐ, tác giả cho rằng: Gia đình là một
phạm trù xã hội dùng để chỉ một tập hợp người, một nhóm xã hội hình thành trên cơ
sở hôn nhân và huyết thống; một mắt xích trong chuỗi liên hệ cá nhân – gia đình - làng - nước Các thành viên trong gia đình đều có quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ với nhau và tuân theo các giá trị chuẩn mực nhất định, được dư luận xã hội ủng hộ, được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ
2.1.2 Văn hóa gia đình và gia đình văn hóa
2.1.2.1 Văn hóa gia đình
Để làm rõ thế nào là VHGĐ, trước tiên, cần thống nhất khái niệm VH VH
là một khái niệm đa nghĩa, do vậy, tùy theo cách tiếp cận, khái niệm VH có thể được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau ở cả phương Đông và phương Tây Song, sau đây là những định nghĩa gắn với nội dung nghiên cứu nhất, đó là:
Khái niệm VH theo nghĩa rộng, do ông Federico Mayor, nguyên tổng giám đốc UNESCO đưa ra trong lễ phát động Thập kỷ thế giới văn hóa vì phát triển ngày
Trang 3921/1/1988, có tính định hướng cho các chương trình hành động toàn cầu về VH như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [23, tr 37]
Cùng năm đó, UNESCO cũng đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội Nó không thuần túy bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật, mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống tín ngưỡng” [Dẫn theo 148, tr 16]
Quan niệm của Hồ Chí Minh về VH được Người ghi lại trong Mục đọc
sách ở phần cuối Nhật ký trong tù, Người viết:
Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là
sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh
tồn [95, tr 458]
Căn cứ vào quan niệm nêu trên cùng với những bài nói, bài viết và hoạt động thực tiễn khác của Hồ Chí Minh trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng trên lĩnh vực VH, thì VH dưới góc nhìn của Người là một hệ thống với ba chiều cạnh tiêu biểu trong tiếp cận VH: Hoạt động, giá trị và sáng tạo Nó là sự phát triển tất yếu, là nét riêng trong xã hội loài người và mang tính xã hội cao
Trên quan điểm phát triển, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ VH hình thành là “vì lẽ sinh tồn và mục đích của cuộc sống” Người đã nhấn mạnh đến mục tiêu, ý nghĩa của
VH ở khía cạnh: VH là phương thức tồn tại đặc thù của con người, động lực giúp con người sinh tồn, đồng thời là mục đích của cuộc sống loài người, cùng với quá trình xây dựng và phát triển VH, con người ngày càng hoàn thiện hơn về mặt nhân cách Con người là giá trị cao nhất của VH, VH sáng tạo ra con người và con người lại tiếp cận, thụ hưởng và sáng tạo ra VH Sự tổng hợp về Chân - Thiện - Mỹ trong một con người là thước đo cho sự hoàn thiện về mặt nhân cách
Trang 40Như vậy, Hồ Chí Minh từ rất sớm đã cho rằng VH có vị trí, vai trò to lớn trong cuộc sống Các yếu tố cấu thành VH giữ vai trò vừa là động lực, vừa là mục tiêu, đáp ứng nhu cầu đời sống của con người Điều này giúp nhân loại nhận thức sớm về tầm quan trọng to lớn và ý nghĩa cách mạng sâu xa, bản chất nhân văn của
VH đối với vận mệnh của loài người
Qua đó cho thấy, ở đâu có cộng đồng người là ở đó có VH Giữa VH và GĐ
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau GĐ không chỉ là một cộng đồng người, một nhóm
xã hội nhỏ đặc thù, mà “gia đình ngay từ đầu là một tồn tại văn hoá, một thực thể văn hoá tất nhiên trong mối liên hệ khăng khít với những yếu tố sinh học và giới tính Ở những trình độ phát triển thấp của con người, đã là như thế, ở trình độ phát triển cao hơn, lại càng như thế” [111, tr 23], do đó, tất yếu nó phải là một chủ thể của VH – VHGĐ
Khái niệm VHGĐ được các nhà nghiên cứu đề cập ở những mức độ và phạm vi khác nhau, khá phong phú và đa dạng
Ernest W Burgess, Giáo sư về Xã hội học, Đại học Chicago đã xác định:
“Bất kể sự kế thừa sinh học của nó từ cha mẹ và tổ tiên khác, đứa trẻ cũng nhận được sự kế thừa của thái độ, tình cảm và lý tưởng có thể được gọi là truyền thống gia đình, hoặc văn hoá gia đình” [172] “Truyền thống gia đình, còn được gọi là văn hoá gia đình, được định nghĩa là thái độ, ý tưởng và lý tưởng, và môi trường mà một người được thừa kế từ cha mẹ và tổ tiên” [172]
Định nghĩa nêu trên nhấn mạnh đến tính kế thừa của VHGĐ, chủ yếu là từ cha mẹ, tổ tiên và đồng nhất VHGĐ với truyền thống GĐ
Ở Việt Nam, trong sách Người phụ nữ trong văn hóa gia đình đô thị của Lê
Quý Đức và Vũ Thy Huệ, đã quan niệm: “Văn hóa gia đình là dạng đặc thù của văn hóa cộng đồng bao gồm tổng thể sống động các hoạt động sống của gia đình mang đặc trưng văn hóa bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếu của một cộng đồng mà các thành viên gia đình đã chọn lựa để ứng xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội” [42, tr 33]
Lê Ngọc Văn trong sách Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam định nghĩa:
Văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực khu biệt đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình