1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC GIÁM KHẢO TRÊN TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TRONG MỘT SỐ CHƢƠNG TRÌNH GIẢI TRÍ TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

193 24 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TRẦN THỊ THANH HƯƠNG NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC GIÁM KHẢO TRÊN TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TRONG MỘT SỐ CHƯƠNG TRÌNH GIẢI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ THANH HƯƠNG

NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC GIÁM KHẢO TRÊN TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TRONG MỘT SỐ

CHƯƠNG TRÌNH GIẢI TRÍ TIẾNG VIỆT

(CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ THANH HƯƠNG

NGÔN NGỮ ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC GIÁM KHẢO TRÊN TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TRONG MỘT SỐ

CHƯƠNG TRÌNH GIẢI TRÍ TIẾNG VIỆT

(CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Khang Những tư liệu và số liệu trong luận án

là trung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu và các kết luận chưa được ai công bố

Tác giả luận án

Trần Thị Thanh Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới Nhà khoa học, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Khang - người đã hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và động viên tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận án Sự hiểu biết khoa học sâu sắc, kinh nghiệm và sự quan tâm của Giáo sư là điểm tựa giúp tôi vượt trở ngại để có được cách làm việc khoa học, đạt được những thành quả và kinh nghiệm quý giá Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Chủ nhiệm Khoa, tập thể các Giáo sư, các Thầy Cô giáo, các cán bộ của Khoa Ngôn ngữ học và Ban Lãnh đạo, các cán bộ phòng Đào tạo trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã giúp đỡ, tạo điều kiện và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và thực hiện luận án

Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Thăng Long, Khoa Ngoại ngữ và Bộ môn Ngôn ngữ Anh, các đồng nghiệp, sinh viên của tôi tại trường Đại học Thăng Long, các nghiên cứu sinh khóa 2014 tại Khoa Ngôn ngữ học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo thuận lợi, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài này

Tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình và những người thân đã chia sẻ những khó khăn với tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện công trình này

Tác giả luận án

Trần Thị Thanh Hương

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Danh mục các chữ viết tắt 4 Danh mục các kí hiệu trong dữ liệu khảo sát 4

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ 6

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 8

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU 9

4 PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU 9

5 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 11

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN 12 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 13

1.2 Cơ sở lí luận của luận án 23

1.3 Tiểu kết chương 1 47 Chương 2 BIỂU THỨC ĐÁNH GIÁ TƯỜNG MINH VÀ KHÔNG

TƯỜNG MINH CỦA GIÁM KHẢO TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TIẾNG

VIỆT (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG ANH) 48

Trang 6

2.1 Tổng quát về sự kiện giao tiếp đánh giá của giám khảo 48 2.2 Biểu thức đánh giá tường minh của giám khảo truyền hình thực tế

tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) 49

2.2.1 Biểu thức đánh giá tường minh của giám khảo truyền hình thực tế

2.2.2 Biểu thức đánh giá tường minh của giám khảo truyền hình thực

2.3 Biểu thức đánh giá không tường minh của giám khảo truyền hình

thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) 64

2.3.1 Biểu thức đánh giá không tường minh của giám khảo truyền

2.3.2 Biểu thức đánh giá không tường minh của giám khảo truyền

2.4 Tiểu kết chương 2 75 Chương 3 BIỂU THỨC ĐÁNH GIÁ THEO THANG ĐỘ VÀ CHỦ ĐỀ

CỦA GIÁM KHẢO TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN

3.1 Biểu thức đánh giá theo thang độ của giám khảo truyền hình thực tế

tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) 77

3.2 Biểu thức đánh giá theo chủ đề của giám khảo truyền hình thực tế

tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) 104

3.2.1 Các chủ đề đánh giá của giám khảo truyền hình thực tế 104

3.2.2 Hình thức biểu thức và chủ đề đánh giá của giám khảo 111

3.2.3 Thang độ đánh giá xét theo chủ đề và kết quả đánh giá của

3.3 Tiểu kết chương 3 117

Trang 7

Chương 4 NHÂN TỐ QUYỀN LỰC TRONG BIỂU THỨC ĐÁNH GIÁ

CỦA GIÁM KHẢO TRUYỀN HÌNH THỰC TẾ TIẾNG VIỆT (CÓ LIÊN

4.1 Dấu hiệu quyền lực trong giao tiếp đánh giá của giám khảo truyền

hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) 119

4.1.1 Dấu hiệu từ vựng chỉ thị quyền lực giao tiếp đánh giá 119

4.1.2 Dấu hiệu diễn ngôn về kiểm soát giao tiếp đánh giá 125 4.2 Sự thể hiện quyền lực trong biểu thức đánh giá của giám khảo

truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh) 136

4.2.1 Quyền hợp pháp 137

4.2.2 Quyền qui chiếu 141

4.2.3 Quyền chuyên gia 142

4.2.4 Sự đấu tranh quyền lực 147 4.3 Tiểu kết chương 4 150

Trang 8

Danh mục các chữ viết tắt

ĐG : Đánh giá

GK : Giám khảo HĐNT : Hành động ngôn từ NNĐG : Ngôn ngữ đánh giá BTĐG : Biểu thức đánh giá THTT : Truyền hình thực tế

TS : Thí sinh

VN : Việt Nam

Danh mục các kí hiệu trong dữ liệu khảo sát

B : Chương trình Bước nhảy hoàn vũ Việt Nam

D : Dance with the stars US (Chương trình Bước nhảy hoàn vũ Mỹ)

G : America's Got Talents (Chương trinh Tìm kiếm tài năng Mỹ)

M : MasterChef US (Chương trình Vua Đầu bếp Mỹ)

N : Chương trình Nhân tố bí ẩn Việt Nam

T : Chương trình Tìm kiếm tài năng Việt Nam

V : Chương trình Vua Đầu bếp Việt Nam

X : X-factor US (Chương trình Nhân tố bí ẩn Mỹ)

[B.01.01] : Nguồn biểu thức đánh giá [Mã Chương trình.Mã Giám khảo

Mã Thí sinh]

= : Nơi xảy ra hiện tượng ngắt lời

Trang 9

Danh mục các bảng

Trang

Bảng 1.1 Tóm tắt ba hướng nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá 15

Bảng 1.2 Tóm tắt hướng nghiên cứu “thẩm định” 19

Bảng 1.3 Thang đo thái độ 35

Bảng 1.4 Các phương tiện điều biến lực ngôn trung 38

Bảng 2.1 Danh sách các từ ngữ đánh giá tiếng Việt có tần suất sử dụng cao 50

Bảng 2.2 Thành tố cấu trúc nghĩa đánh giá theo hiện dạng cú pháp trong

Bảng 2.3 Mười mô hình nghĩa đánh giá phổ biến nhất trong ngôn ngữ đánh

Bảng 3.1 Hình thức đánh giá của giám khảo Việt xét theo tham số giá trị 88

Bảng 3.2 Biểu thức đánh giá không tường minh tiếng Việt xét theo tham số

Bảng 3.3 Phương tiện điều chỉnh lực ngôn trung hướng tới người nói trong

Bảng 3.4 Phương tiện điều chỉnh lực ngôn trung hướng tới nội dung mệnh

Bảng 3.5 Phương tiện điều chỉnh lực ngôn trung hướng tới nội dung mệnh

Bảng 3.6 Hình thức biểu thức đánh giá tiếng Việt xét theo thang độ đánh giá 102

Bảng 3.7 Biểu thức đánh giá tiếng Việt xét theo thang độ và chủ đề đánh giá 113

Bảng 3.8 Biểu thức đánh giá tiếng Việt xét theo thang độ đánh giá và quyết

Bảng 4.1 Số lượng từ ngữ của giám khảo theo giới và tuổi của giám khảo

Bảng 4.2 Số lượng từ ngữ của giám khảo theo giới và tuổi của giám khảo

Trang 10

Danh mục các sơ đồ, biểu đồ

Danh mục các sơ đồ

Trang

Sơ đồ 1.1 Tóm tắt hướng nghiên cứu “lập trường” 16

Sơ đồ 1.2 Tóm tắt hướng nghiên cứu “đánh giá” 17

Sơ đồ 1.3 Minh họa về thang độ đánh giá tích cực và tiêu cực 36

Sơ đồ 2.1 Cấu trúc sự kiện giao tiếp đánh giá của giám khảo 49

Danh mục các biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1 Biểu thức đánh giá biểu cảm và biểu kiến tiếng Việt và tiếng Anh 63

Biểu đồ 2.2 Biểu thức đánh giá không tường minh tiếng Việt theo chức

Biểu đồ 2.3 Biểu thức đánh giá không tường minh tiếng Việt theo

Biểu đồ 3.1 Tỉ lệ biểu thức đánh giá tiếng Việt theo thang độ đánh giá 101

Biểu đồ 3.2 Hình thức ngôn ngữ đánh giá tiếng Việt từ góc độ chủ đề

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Ngôn ngữ sử dụng trên truyền hình nhìn từ góc độ ngôn ngữ học xã hội

là một dạng biến thể với những đặc thù của ngành truyền hình Ngôn ngữ, đặc biệt là dạng thức nói, được hiện thực hóa ở từng chương trình cụ thể Nghiên cứu ngôn ngữ truyền hình sẽ góp phần vào nghiên cứu sự lựa chọn ngôn ngữ trong sử dụng, một nội dung quan trọng bậc nhất của ngôn ngữ học hiện đại nói chung, ngôn ngữ học xã hội nói riêng Tuy nhiên, ở Việt Nam, vấn đề này còn ít được quan tâm Đặc biệt, sự phát triển của các chương trình giải trí dưới dạng truyền hình thực tế phiên bản quốc

tế đem lại một nguồn ngôn ngữ tự nhiên, dễ tiếp cận với hiện trường giao tiếp tương đồng, tạo cơ hội nghiên cứu vấn đề giao tiếp ngôn ngữ liên văn hóa đương đại

1.2 Ngôn ngữ đánh giá (Language of evaluation) xuất hiện thường xuyên trong đời sống giao tiếp của con người và trở thành một nội dung nghiên cứu của ngữ dụng học Gắn liền với những giá trị văn hóa-xã hội của cá nhân và cộng đồng, ngôn ngữ đánh giá có cách biểu đạt đa dạng tùy thuộc vào chủ đề, thậm chí cùng một chủ đề nhưng được nhìn nhận ở các cộng đồng khác nhau Điều này thể hiện rất

rõ trong một số chương trình truyền hình chung cho toàn thế giới nhưng được thực hiện ở các quốc gia khác nhau Ở Việt Nam, các chương trình giải trí trên truyền hình xuất hiện và nở rộ khoảng 10 năm trở lại đây, theo đó, ban giám khảo với những thành viên là “người đánh giá” khá đa dạng và vì thế, ngôn ngữ đánh giá cũng đa dạng Cách thức nói năng, nội dung thông điệp của họ không những có giá trị thực tiễn đối với thí sinh mà còn ảnh hưởng tới khán giả Nghiên cứu ngôn ngữ giao tiếp của giám khảo trên truyền hình thực tế (THTT) ở Việt Nam sẽ làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ đánh giá (NNĐG) tiếng Việt Đồng thời, nghiên cứu liên hệ với

dữ liệu tiếng Anh trong ngữ cảnh giao tiếp tương đương trên THTT ở Mỹ sẽ củng cố thêm kết quả nghiên cứu và cho thấy đặc điểm NNĐG từ góc độ liên văn hóa

1.3 Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu một cách hệ thống về nội

dung này và đặc biệt với những lí do nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Ngôn ngữ

đánh giá của các giám khảo trên truyền hình thực tế trong một số chương trình giải

Trang 12

trí tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)” Nghiên cứu góp phần làm phong phú kho

tàng lí luận về giao tiếp tiếng Việt trong bối cảnh hội nhập quốc tế Đồng thời, kết quả nghiên cứu có thể phục vụ giảng dạy, nghiên cứu ứng dụng có liên quan Do nội hàm và ngoại diên của NNĐG rất rộng, luận án giới hạn xem xét từ góc độ ngôn ngữ học xã hội về một số khía cạnh ngữ pháp-ngữ nghĩa chủ yếu cùng với những biểu đạt về thang độ, chủ đề và quyền lực trong giao tiếp đánh giá của khách thể trên cơ

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích này, luận án đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu như sau:

2.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước nghiên cứu

về ngôn ngữ đánh giá và những vấn đề liên quan đến ngôn ngữ đánh giá

2.2.2 Xây dựng cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài: Tập hợp, hệ thống hóa một số nội dung cơ bản về lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ liên quan đến ngôn ngữ đánh giá từ góc độ ngôn ngữ học xã hội

2.2.3 Khảo sát các biểu thức đánh giá của các giám khảo trên THTT trong một số chương trình giải trí tiếng Việt gần đây Từ đó tìm ra các đặc điểm NNĐG tường minh và không tường minh, có liên hệ với ngữ liệu tiếng Anh từ các chương trình tương đương ở Mỹ để làm rõ kết quả nghiên cứu

2.2.4 Xác định đặc điểm ngôn ngữ đánh giá của các giám khảo qua biểu đạt

về thang độ và chủ đề đánh giá, có liên hệ với ngữ liệu tiếng Anh

Trang 13

2.2.5 Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ đánh giá của các giám khảo qua biểu đạt quyền lực giao tiếp, có liên hệ với ngữ liệu tiếng Anh

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NGUỒN TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án này là ngôn ngữ đánh giá của các giám khảo trên truyền hình thực tế trong một số chương trình giải trí tiếng Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: NNĐG bằng lời của khách thể (các biểu thức đánh giá của giám khảo, các biểu đạt về giá trị, thang độ, nhân tố chủ đề và quyền lực), không xem xét tới những dấu hiệu cận ngôn (ngôn điệu) và phi ngôn (điệu bộ, cử chỉ)

- Về tư liệu: các đoạn trích giao tiếp đánh giá trong một số tập đầu trên 4 chương trình THTT (theo phiên bản quốc tế) phát sóng tại Việt Nam và Mỹ từ 2012-

2014, khi THTT bắt đầu phát triển rộng khắp tại Việt Nam Mỗi chương trình xoay quanh một chủ đề thi đấu: tài năng, khiêu vũ, nấu ăn và ca nhạc (Xin xem Bảng i.1 Phụ lục 1 về các chương trình được khảo sát)

3.3 Nguồn tư liệu nghiên cứu

Tư liệu nghiên cứu được thu thập từ nguồn giao tiếp nói trên các chương trình THTT có uy tín, cung cấp nguồn sinh ngữ chính thống ở Việt Nam và ở Mỹ Luận

án chọn mẫu ngẫu nhiên thuận lợi các đoạn thoại đánh giá của giám khảo đối với thí sinh ở vòng sơ khảo Tổng số đã thu thập 70 đoạn trích đánh giá 70 lượt thí sinh từ

13 giám khảo trên các chương trình tiếng Việt và số lượng tương tự trên các chương trình tiếng Anh Ngoài ra, nguồn tư liệu từ các công trình nghiên cứu có liên quan của các tác giả khác cũng được sử dụng nhằm củng cố các nhận định của luận án và làm sáng tỏ vấn đề đang tìm hiểu

4 PHƯƠNG PHÁP VÀ THỦ PHÁP NGHIÊN CỨU

Nhằm đạt được mục đích và hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận

án sử dụng những phương pháp, thủ pháp sau:

Trang 14

4.1 Phương pháp và thủ pháp của ngôn ngữ học xã hội

Luận án sử dụng phương pháp và thủ pháp của ngôn ngữ học xã hội (như phương pháp thu thập dữ liệu và làm việc với ngữ liệu từ phương tiện truyền thông, một số thủ pháp phân tích dân tộc học giao tiếp, thủ pháp phân tích dữ liệu ngôn ngữ học xã hội, phân tích mối tương quan giữa biến số ngôn ngữ học và biến số xã hội), kết hợp một số phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học khác (phân tích từ vựng, phân đoạn ngữ pháp cục bộ, phân tích cấu trúc ngữ nghĩa theo ngữ pháp cục bộ) nhằm tìm hiểu ngôn ngữ đánh giá của khách thể theo hai biến số chủ đề và quyền lực giao tiếp Biến số chủ đề được xem xét chủ yếu dựa trên các dấu hiệu ngôn ngữ học Biến số quyền lực được nghiên cứu dựa trên sự liên hệ với một số chỉ báo về phân tầng xã hội (giới, tuổi, nghề nghiệp, địa vị ) Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ ngôn ngữ trên truyền hình, vốn là nguồn ngữ liệu sống được ngôn ngữ học xã hội sử dụng rộng rãi [66, tr.180] Việc phiên mã dữ liệu từ phương tiện truyền thông sang ngôn ngữ viết là một thách thức [66, tr.82] và đã được giảm thiểu sai sót bằng cách kiểm tra lại nhiều lần

4.2 Phương pháp phân tích hội thoại

Phân tích hội thoại là một trong số các phương pháp phân tích diễn ngôn được ngôn ngữ học xã hội vận dụng [66, tr.231] Luận án áp dụng phương pháp phân tích hội thoại trong ngôn ngữ học xã hội của Holmes và Hazen (2014) [66, tr.230-245] theo hai bước: (1) tìm hiểu cách sử dụng từ ngữ, ngôn ngữ tường minh, cấu trúc ngữ nghĩa, ngôn ngữ không tường minh trong BTĐG, từ đó tiến hành khảo sát về hình thức, thang độ và chủ đề đánh giá; (2) xem xét hành động ngôn từ, lượt lời và chuỗi phối hợp đánh giá Bước 1 có vai trò quan trọng, cung cấp cơ sở cho việc thực hiện bước 2 nhằm nghiên cứu những biểu đạt quyền lực giao tiếp đánh giá của khách thể

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu ngôn ngữ

Trên cơ sở các phát hiện cơ bản trong dữ liệu tiếng Việt, luận án tiến hành liên

hệ thông qua so sánh, đối chiếu với dữ liệu tiếng Anh để củng cố kết quả nghiên cứu

và tìm hiểu khía cạnh liên văn hóa trong giao tiếp đánh giá Đây là phương pháp bổ trợ cho phương pháp của ngôn ngữ học xã hội

Trang 15

4.4 Phương pháp thống kê

Các phương pháp và thủ pháp nêu trên được sử dụng để phân tích định tính, nghiên cứu theo cách thức diễn dịch nhằm xác định kết quả nghiên cứu dựa trên nền tảng các lập luận kế thừa từ những quan điểm, đường hướng tiếp cận đã được ứng dụng rộng rãi về ngôn ngữ đánh giá, hành động ngôn từ, nhân tố xã hội chủ đề và quyền lực trong giao tiếp ngôn ngữ Để hỗ trợ cho các phân tích định tính, luận án

sử dụng phương pháp thống kê định lượng hóa Tần số sử dụng các phương tiện ngôn ngữ cùng với các biến số xã hội (chủ đề, giới, tuổi) được thống kê phân loại, phân tích quy nạp, xác định mối tương quan giữa các biến số cơ bản, từ đó rút ra các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Thủ pháp thống kê toán học thực hiện trên phần mềm SPSS (IBM SPSS Statistics 20)

5 Ý NGHĨA LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

5.1 Ý nghĩa lí luận

Luận án phân tích, lí giải những đặc điểm của NNĐG thông qua biểu thức đánh giá (BTĐG) của các giám khảo trên THTT, từ đó làm giàu cho lí thuyết NNĐG nói riêng và kiến thức ngôn ngữ học xã hội nói chung Ngoài ra, bằng việc phân tích cấu trúc nghĩa đánh giá, luận án góp phần ứng dụng lí thuyết ngữ pháp cục bộ (Local grammar) vào nghiên cứu ngữ nghĩa trong từng bộ phận ngôn ngữ

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án góp phần nghiên cứu giao tiếp đánh giá bằng tiếng Việt với tư cách

là kết quả của sự lựa chọn ngôn ngữ dưới tác động của các nhân tố xã hội Kết quả nghiên cứu giúp tăng cường hiệu quả trong giao tiếp của người Việt, đặc biệt trong các môi trường có sử dụng đánh giá bằng ngôn ngữ Các đoạn trích sự kiện giao tiếp đánh giá và các BTĐG của giám khảo Mỹ có thể trở thành tư liệu cho người Việt học tiếng Anh Ngoài ra, các phát hiện về dấu hiệu NNĐG tường minh, thành tố cấu trúc ngữ nghĩa đánh giá, tham số giá trị (tích cực-tiêu cực), thang độ đánh giá có thể phục vụ phát triển khung phân tích về NNĐG trong các phản hồi, thăm dò ý kiến,

Trang 16

góp ý,… của học viên tại các cơ sở đào tạo, khách hàng hoặc người sử dụng sản phẩm, dịch vụ; nghiên cứu NNĐG trong trí tuệ nhân tạo

Chương 3 Biểu thức đánh giá theo thang độ và chủ đề của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)

Chương 4 Nhân tố quyền lực trong biểu thức đánh giá của giám khảo truyền hình thực tế tiếng Việt (có liên hệ với tiếng Anh)

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới về ngôn ngữ đánh giá

Hầu hết các nhà ngữ học trên thế giới có thể nhất trí rằng lời nói đi đôi với sự biểu đạt giá trị, bởi vì “mỗi yếu tố trong một phát ngôn sống không chỉ có nghĩa mà

có một giá trị …Việc tách nghĩa của một từ ngữ ra khỏi đánh giá sẽ không tránh được việc loại bỏ nghĩa về vị trí của nó trong quá trình sống của xã hội - nơi nghĩa luôn thấm đẫm sự phán xét về giá trị” [110, tr.105] Do đó, nghiên cứu ngôn ngữ xét cho cùng là tìm hiểu về giá trị, đó là sự đánh giá Và ở chiều ngược lại, thật khó nghiên cứu hệ thống giá trị mà không xem xét ngôn ngữ mà con người sử dụng để bộc

lộ các giá trị ấy Đây chính là chức năng đánh giá của ngôn ngữ - vốn được coi là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngôn ngữ [108, tr.5]

Từ khởi nguyên của những tư tưởng xem xét về giá trị, NNĐG cho tới tận ngày nay luôn được cho là sự bộc lộ hai thái cực hoặc hai trục giá trị của một nội

dung nhất định, chẳng hạn: tốt/xấu, đúng/sai, hay tích cực/tiêu cực [108, tr.5] Tuy

nhiên, NNĐG còn thể hiện ở nhiều phương diện năng động khác Nó có thể công khai hoặc ngầm ẩn; một ngôn từ mà bề mặt tỏ ra trung tính lại có thể ngầm ẩn một đánh giá đối với người thụ ngôn; một nhận xét tỏ ra tích cực có khi ẩn dấu một nhận xét tiêu cực, và ngược lại Do đó, NNĐG càng ngày càng được xem xét trong thế năng động của nó: trong bối cảnh hành chức thực tế [108, tr.6]

Tiếp cận truyền thống về NNĐG trong ngôn ngữ học chức năng thường tập trung ở cấp độ từ vựng-ngữ pháp Ngôn ngữ học vào cuối thế kỉ 20 và đầu thế kỉ 21 trở nên quan tâm nhiều hơn tới tính đánh giá, đặc biệt từ góc độ ngữ dụng học và ngôn ngữ học xã hội với sự xuất hiện và phát triển của nhiều tiếp cận và quan điểm khác nhau [108, tr.4-5] Nhìn chung, NNĐG không đơn giản là một biểu đạt của cá nhân trong đó người nói/viết “nhận xét” về thế giới mà đó là một hiện tượng xã hội liên nhân mà ở đó lí do cơ bản để đưa ra một ý kiến là “để gợi lên tình thân hữu từ

Trang 18

phía người thụ ngôn” [108, tr.4] Trong cố gắng tổng kết các phương pháp tiếp cận về NNĐG, Hunston (2011) [68] đã chỉ ra bốn kiểu quan niệm sau:

- Đánh giá là một hành động cá nhân không tường minh nhưng cũng có khi thể

hiện trong ngôn ngữ Quan niệm này thường có trong đường hướng phân tích hội thoại, chẳng hạn các tác giả Hutchby và Wooffitt (2008)

- Đánh giá gồm “một bộ các từ ngữ” biểu đạt nghĩa đánh giá Do đó, trọng tâm

nghiên cứu là các thành tố ngôn ngữ (từ, ngữ, phạm trù ngữ pháp) Đại diện là các tác giả Hyland và Tse (2004), Conrad và Biber (2000)

- Đánh giá là “một bộ các nghĩa” biểu đạt trong một văn bản “sử dụng một loạt

các tài nguyên ngôn ngữ khác nhau” Đại diện là các tác giả Martin và White (2005)

- Đánh giá là một chức năng mà văn bản hoặc phần văn bản biểu đạt Chính

Hunston và Thompson là đại diện của quan niệm này [68, tr.11]

Hunston cũng nêu ra sáu điểm chung giữa các quan niệm trên về NNĐG, gồm: (1) thừa nhận tính chủ quan và tính chủ quan liên nhân của đánh giá (chức năng tương tác); (2) cho rằng qua đánh giá, một hệ tư tưởng chung giữa người viết/nói và người đọc/nghe được cấu trúc; (3) nhận định có một phạm vi rộng rãi về từ vựng và về những dấu hiệu nghĩa đánh giá, có thể xác định được thông qua xem xét những gì

“mong muốn” hoặc “không mong muốn”; (4) cho rằng NNĐG phụ thuộc mạnh vào ngữ cảnh và có tính tích tụ (tập trung tại một vài vị trí nhất định trong diễn ngôn); (5) xác định rằng nói đến ngôn ngữ đánh giá là nói đến đích, hoặc đối tượng và nguồn đánh giá, bản chất của ngôn ngữ đánh giá phụ thuộc vào bản chất của đối tượng; và (6) khẳng định rất khó để nhận dạng, phân biệt một cách đáng tin cậy những gì mang tính đánh giá và những gì không trong ngôn ngữ [68, tr.12-19]

Hiện nay, có ba hướng nghiên cứu nổi bật về NNĐG và mỗi hướng gắn liền với một thuật ngữ đại diện, lần lượt là: “lập trường”, “đánh giá” và “thẩm định” [38,

68, 108] Nhìn chung, cả ba hướng nghiên cứu này đều xem xét NNĐG dựa trên chức năng của nó trong giao tiếp liên nhân Tuy nhiên, giữa ba đường hướng này có nhiều điểm khác biệt Bảng 1.1 dưới đây tổng hợp những nét chính yếu về ba hướng này xét

về mục đích, trọng tâm, tiếp cận và các tác giả đại diện Các đường hướng này khác

Trang 19

nhau ngay từ trong định nghĩa: Lập trường là “các biểu đạt từ vựng và ngữ pháp về

thái độ, cảm xúc, phán xét và cam kết của tác giả/người nói liên quan đến các nội

dung mệnh đề của thông điệp” [40, tr.1]; Đánh giá là “một thuật ngữ bao trùm rộng

rãi để diễn đạt thái độ hoặc lập trường, quan điểm hoặc cảm xúc của người nói/viết

đối với các thực thể hoặc các mệnh đề mà người đó nói tới” [109]; Thẩm định là “các

tài nguyên ngữ nghĩa được sử dụng để thương lượng những cảm xúc, phán xét và xác định giá trị, cùng với việc khuếch đại và tham gia vào những đánh giá này” [84]

Bảng 1.1 Tóm tắt ba hướng nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá

Hướng

nghiên cứu Quan điểm trọng tâm

Phương pháp tiếp cận Đại diện Lập trường

(Stance)

NN lập trường biểu đạt thái độ, cảm giác, phán xét và cam kết

- Tiếp cận dựa trên khối ngữ liệu (corpus-based)

- Tiếp cận kết hợp

Biber và đồng sự (1999) Đánh giá

(Evaluation)

NNĐG biểu đạt thái độ hoặc lập trường, quan điểm, cảm xúc

- Khung nghiên cứu dựa trên tham số (parameter-based)

- Tiếp cận kết hợp

Hunston và Thompson (2000) Thẩm định

(Appraisal)

NN thẩm định dùng để thương lượng cảm xúc, phán xét và thẩm giá

Tiếp cận phân tích diễn ngôn (discourse analytic)

- Tiếp cận riêng

Martin và White (2005)

(Nguồn: Tóm tắt dựa trên [41, 84, 109])

Dưới đây là miêu tả vắn tắt về các đường hướng này:

Thứ nhất, hướng nghiên cứu NNĐG là sự biểu đạt về “lập trường”:

“Lập trường” do Biber và đồng sự (1999) đề xuất là một tiếp cận đi từ hình thức đến chức năng, gồm ba phạm trù: Lập trường “nhận thức” (Epistemic); “thái độ” (Attitudinal); và “phong cách nói năng” (Style of speaking) Theo các tác giả, dấu hiệu lập trường nhận thức là người nói/viết nhận xét về trạng thái thông tin trong một mệnh đề (chắc chắn/nghi ngờ, thực tế, chính xác, hoặc hạn chế; về nguồn hoặc quan điểm cung cấp kiến thức, thông tin) Dấu hiệu lập trường thái độ gồm hai

nhóm: thái độ (ví dụ: thú vị, thật may mắn) và cảm giác (ví dụ: sợ, yêu) Hai nhóm này không phải lúc nào cũng phân biệt rõ ràng (ví dụ: hy vọng, mong đợi) Các dấu

Trang 20

hiệu lập trường thái độ ít phổ biến hơn các dấu hiệu lập trường nhận thức và cũng hạn chế hơn trong biểu đạt về ngữ pháp Lập trường phong cách nói năng “thể hiện đánh giá của người nói về bản thân việc giao tiếp” (Ví dụ nhận xét về cách thức nói

năng: một cách trung thực, một cách ngắn gọn) [41, tr.972-975] Sơ đồ 1.1 tóm tắt

các nội dung cơ bản của hướng nghiên cứu NNĐG là sự biểu đạt về lập trường

(Nguồn: Tóm tắt từ [41])

Sơ đồ 1.1 Tóm tắt hướng nghiên cứu “lập trường”

So với hai mô hình kia, lí thuyết về “lập trường” dựa trên một quan điểm tương đối khác, cho rằng ngôn ngữ thực hiện những “chức năng” hoặc “nhiệm vụ tư tưởng, văn bản, cá nhân, liên nhân, ngữ cảnh và mỹ học” [41, tr.41] Các đặc điểm ngôn ngữ bộc lộ lập trường nằm trong nhóm “các nhiệm vụ cá nhân”, truyền đạt thái độ, suy nghĩ và cảm xúc của người nói Mô hình lí thuyết này tập trung vào những biểu đạt tường minh về từ vựng-ngữ pháp - thông qua các phương tiện ngữ pháp, từ vựng và các phương tiện cận ngôn [41, tr.965-971] - hầu như không xem xét ngôn ngữ đánh giá gián tiếp như hai mô hình kia Do đó, phạm vi của lí thuyết này hẹp hơn Biber và đồng sự đã đóng góp nhiều bằng chứng định lượng và định tính về các đặc điểm từ vựng-ngữ pháp biểu đạt lập trường qua nghiên cứu khối ngữ liệu Lí thuyết này đã trở thành nền tảng cho nhiều nghiên cứu khác nhau [68] Nó cũng được Thompson và Hunston (2000) vận dụng để nghiên cứu về các dấu hiệu của NNĐG [109]

Thứ hai, hướng nghiên cứu NNĐG là sự phán xét về “giá trị”:

Thuật ngữ “đánh giá” (Evaluation) của Thompson và Hunston (2000) rộng

hơn so với cách hiểu thông thường về các biểu hiện tốt hay xấu trong ngôn ngữ Do

đó, mô hình để nhận dạng nó cũng rất “mở” [38, tr.44] Truyền thống ngôn ngữ học

Lập trường

Xác định dựa trên nghiên cứu khối ngữ liệu

Trang 21

thường nghiên cứu nghĩa đánh giá theo hai lĩnh vực tách rời nhau là ngôn ngữ cảm xúc và tình thái Ở mô hình này, các tác giả đưa hai khía cạnh đó đến cạnh nhau So với mô hình “thẩm định”, khung lí thuyết NNĐG dựa trên tham số sử dụng phương pháp tiếp cận kết hợp, không tách riêng “lập trường cảm xúc” và “lập trường nhận thức” Hơn thế, nó còn nhấn mạnh sự giống nhau giữa “lập trường cảm xúc” và “lập trường nhận thức” [38, tr.35] Ngoài ra, khái niệm “đánh giá” cũng không trùng với

“lập trường” bởi vì ngay trong định nghĩa, Thompson và Hunston đã chỉ rõ NNĐG

tạo nên những biểu đạt về lập trường hoặc thái độ của người nói “Lập trường là khái niệm trừu tượng hơn, và đánh giá là sự hiện thực hóa lời nói hoặc sự biểu hiện thực tế của lập trường” [108, tr.10]

(Nguồn: Tóm tắt từ [109])

Sơ đồ 1.2 Tóm tắt hướng nghiên cứu “đánh giá”

Sơ đồ 1.2 tóm tắt những nét quan yếu của hướng nghiên cứu này Các tác giả dường như đã xem xét NNĐG theo ba tầng: tầng vĩ mô về chức năng của đánh giá trong giao tiếp (bộc lộ ý kiến, duy trì quan hệ và tổ chức diễn ngôn), tầng trung gian

về các dấu hiệu NNĐG, và tầng vi mô về các tham số biểu hiện khuynh hướng của các dấu hiệu đó Các dấu hiệu NNĐG gồm sự so sánh, tính chủ quan và giá trị xã hội Các tác giả có đề cập đến những hình thức biểu đạt tinh tế gần với những giá trị hàm

ẩn nhưng không phân tích cụ thể Mặc dù một số yếu tố trong mô hình này tương đồng với khung “thẩm định” của Martin và White (2005), nhưng Thompson và

Trang 22

Hunston không đề xuất một hệ thống dưới dạng mô hình tổng thể theo tầng bậc như khung “thẩm định” Họ đã đề xuất bốn tham số của NNĐG, chỉ thị khuynh hướng về giá trị (tốt/xấu), trạng thái (chắc chắn/không chắc chắn), sự thích đáng (quan trọng/không quan trọng) và sự mong đợi Các tham số này nhằm đến những chiều đánh giá khác nhau Trong đó phạm trù tốt-xấu, hay tích cực-tiêu cực (để đánh giá về giá trị) là cơ bản nhất, mà các tham số còn lại đều có thể xếp vào [109, tr.22-25]

Hướng tiếp cận này của Thompson và Hunston về NNĐG đi từ chức năng đến hình thức Mô hình phân tích của nó theo khuynh hướng kết hợp, tức là có thể đưa thêm vào mô hình những khung phân tích khác có liên quan Chẳng hạn, Blackwell (2010) [42] kết hợp các dấu hiệu xác định NNĐG của hướng tiếp cận này với khung phân tích về quyền lực của Thomas (1995) để nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá của người kể chuyện về một bộ phim Ví dụ khác về sự kết hợp đó là công trình của Hunston và Sinclair (2000) [69] Các tác giả đã phân tích những biểu đạt của tính từ và danh từ đánh giá trong khung phân tích ngữ pháp cục bộ để tìm ra mô hình ngữ nghĩa của ngôn ngữ đánh giá Cũng dựa trên cơ sở lí thuyết “đánh giá”, Badnarek (2006) [38] đề xuất một khung đánh giá, gồm 9 tham số, tập hợp tất cả các chiều đánh giá của người nói về các khía cạnh của thế giới Nhóm tham số đánh giá cốt lõi gồm: khả năng hiểu, cảm xúc, sự mong đợi, tầm quan trọng, sự cần thiết/có thể, sự tin cậy Nhóm tham số đánh giá ngoại vi gồm: sự chứng thực, trạng thái tâm

lý, và phong cách Tác giả ứng dụng khung trên vào nghiên cứu NNĐG trên báo in ở nước Anh Theo tác giả, việc sử dụng khung phân tích dựa trên tham số giúp tìm hiểu NNĐG linh hoạt hơn mà không phải “lập mã kép” (phân loại bị chồng chéo) và

“phân loại đứt đoạn” (phân loại tách rời những đặc điểm phức tạp có tính nối tiếp về chức năng) như khi sử dụng các tiếp cận “lập trường” và “thẩm định” [38]

Thứ ba, hướng nghiên cứu NNĐG với tư cách là “sự thẩm định”:

Lí thuyết “thẩm định” mà trọng tâm là khung “thẩm định” (Apraisal framework) do Martin và White (2005) phát triển dựa trên đường hướng ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday ở “cấp độ ngữ nghĩa diễn ngôn”, chú trọng đến nghĩa đánh giá của ngôn ngữ ở bình diện giao tiếp liên nhân [84, tr.1-41] Mô hình lí

Trang 23

thuyết này nhận định theo cách hệ thống hóa các lựa chọn ngữ nghĩa và phương tiện ngôn ngữ của người nói/viết trong giao tiếp đánh giá Bảng 1.2 dưới đây tóm tắt các phạm trù của khung “thẩm định” với ba miền ngữ nghĩa chính: “thái độ”, “giao kết”

và “thang độ” Chúng chứa đựng “các tài nguyên NNĐG”, là cơ sở để nhà nghiên cứu xem xét các khía cạnh năng động và phong phú của ngữ nghĩa đánh giá [84]

Thang độ Lực 2 hướng: nâng cao, hạ thấp

Tiêu điểm 2 hướng: sâu sắc thêm, dịu nhẹ đi

(Nguồn:Tóm tắt dựa trên [84])

Trong hệ thống “thái độ”, tiểu hệ thống “cảm xúc” gồm các tài nguyên ngôn

ngữ diễn tả các phản ứng về tình cảm (sốc, lo, mừng,…) Tiểu hệ thống “phán xét” tập

hợp các nguồn tài nguyên ngôn ngữ để đánh giá hành vi của con người theo các qui

ước xã hội (ví dụ: keo kiệt, thân thiện,…) Tiểu hệ thống “thẩm giá” xem xét giá trị

của “sự tình, sự thể bao gồm cả các hiện tượng tự nhiên" (không thuộc về hành vi của con người) dựa trên các nguyên tắc mỹ học và các hệ thống khác về giá trị xã hội (ví

dụ đánh giá về giọng hát: phiêu phiêu, phóng khoáng,…) [84, tr.35-36] Nói chung,

“thái độ” có thể hàm ẩn - mà các tác giả gọi là “được khơi gợi” (invoked), hoặc tường minh - “được khắc ghi” (inscribed), theo cách tích cực hay tiêu cực [84, tr.67]

Hệ thống “giao kết” chỉ các tài nguyên ngữ nghĩa xác định vị trí của người nói/viết trong mối quan hệ với mệnh đề được truyền tải, trong đó người nói/viết không nhận diện hoặc bỏ qua quan điểm và ý kiến khác (tuyến tài nguyên đơn ngữ) hoặc thương lượng để có được một không gian liên nhân cho vị trí của mình (tuyến tài

nguyên đa ngữ, ví dụ: như các bạn đã biết, mọi người đều biết,…) [84, tr.92-104]

Trang 24

Hệ thống “thang độ” được phân chia thành các phạm trù “lực” và “tiêu điểm”, trong đó các giá trị được người nói/viết xác định mức độ theo cách: 1) nâng

cao hoặc hạ thấp những tác động, lực, dung lượng,… lời nói của họ (ví dụ: rất, hơi

hơi,…); 2) làm sâu sắc thêm hoặc làm dịu nhẹ đi tiêu điểm ngữ nghĩa (ví dụ: người bạn thực thụ, một lời kiểu như xin lỗi, ) [84, tr.137-153]

Lí thuyết của Martin và White trở thành cơ sở cho nhiều nghiên cứu về NNĐG, cho phép xem xét NNĐG một cách thấu đáo và toàn diện ở bình diện cấu trúc ngữ nghĩa theo đường hướng ngôn ngữ học chức năng hệ thống Mô hình này cũng được áp dụng rộng rãi để khám phá các khía cạnh của nghĩa đánh giá trong những ngữ cảnh khác nhau, chẳng hạn trong giáo dục hoặc ngôn ngữ đa phương thức [89]

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước về ngôn ngữ đánh giá

1.1.2.1 Nghiên cứu trực tiếp về ngôn ngữ đánh giá

Ở Việt Nam, NNĐG tới nay mới chỉ được nghiên cứu trực tiếp theo tiếp cận

“thẩm định” của Martin và White trong luận án của Nguyễn Hồng Sao (2010) [32] Thông qua đánh giá so sánh ngôn ngữ báo chí tiếng Việt và tiếng Anh, tác giả tìm ra một số điểm giống và khác trong hình thức cấu trúc và nội dung giữa hai ngôn ngữ Theo tác giả, “vốn từ vựng của tiếng Anh phong phú hơn, nhiều màu sắc hơn so với nguồn từ vựng tiếng Việt nên các từ ngữ chỉ thang độ trong tiếng Anh đa dạng hơn” Tác giả cho rằng “ngôn ngữ phóng sự trên báo tiếng Anh phong phú hơn, đa dạng hơn, thể hiện được chiều sâu tri thức của tác giả trên nhiều lĩnh vực khác nhau” [32]

1.1.2.2 Nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ đánh giá

Có thể thấy, ở Việt Nam một số lượng rất lớn các đề tài không nhằm nghiên cứu chủ yếu về NNĐG, mà chỉ đề cập tới chúng trong vấn đề nghiên cứu có liên quan

Các nghiên cứu về tình thái trong Việt ngữ học đã có những kết quả rất đáng

kể liên quan đến NNĐG Trong số đó, cần nhắc tới nhận định về NNĐG dựa trên các biểu hiện chủ quan tính của Nguyễn Văn Hiệp (2009, 2012) Tác giả cho biết những đánh giá mang tính lập trường thuộc các yếu tố chủ quan được mã hóa trong câu [16, 17] Sáu khía cạnh đánh giá được đề cập: đánh giá tích cực/tiêu cực; đánh giá về lượng; về chủng loại; về thời gian sớm/muộn; về tính cùng cực, bất thường; và về tính

Trang 25

mong muốn/không mong muốn [17] Về phương tiện biểu đạt đánh giá chủ quan trong tiếng Việt, các trợ từ tình thái thường được dùng để biểu thị những “đánh giá mang tính lập trường” Nội dung mà các trợ từ tình thái này biểu thị là kiểu hàm ngôn qui ước - có thể khử bỏ, phụ thuộc vào từ ngữ sử dụng, khác với hàm ngôn hội thoại -

có thể bị khử bỏ, phụ thuộc vào ngữ cảnh Đề cập đến những hình thức biểu hiện của tính chủ quan trong câu tiếng Việt, tác giả nêu sáu phương tiện: quán ngữ tình thái thường đứng đầu hoặc cuối câu; phó từ thời, thể; vị từ tình thái tính; tiểu từ tình thái

cuối câu; các từ chêm xen tình thái hay lối nói -iếc hóa; và trợ từ Ngoài ra, theo tác

giả, tính chủ quan còn được thể hiện qua việc lựa chọn những từ ngữ có sắc thái biểu cảm đặc thù Tác giả cũng nhận định “những nội dung thuộc về đánh giá chủ quan có thể được bộc lộ theo lối hiển ngôn, trực tiếp nhưng cũng có thể được bộc lộ theo lối hàm ngôn, gián tiếp” [17]

Ngoài ra, tình thái trong tiếng Việt còn được xem xét ở rất nhiều công trình khác Tổng kết của Nguyễn Thiện Giáp (2014) cho thấy các nhà Việt ngữ học thường quan tâm tới các phương tiện biểu đạt, các phân loại và chức năng ngữ pháp-ngữ nghĩa của các yếu tố tình thái [12] Đáng chú ý là quan điểm của Nguyễn Văn Hiệp và đồng sự (2012, tr.126), cho rằng ở phương diện ngữ dụng, tình thái của hành động phát ngôn là “tình thái của lời được phát ngôn, xác định đặc trưng của hành động ngôn trung, dưới hình thức những cam kết, những đánh giá và những thái

độ của người nói đối với những gì mà anh ta nói ra” [17]

Khen và chê là hai trong những khía cạnh của đánh giá nhận được nhiều sự quan tâm hơn cả, chẳng hạn công trình của Phạm Thị Hà (2013) [13], Nguyễn Thị Hoàng Yến (2007) [37] và Đỗ Thị Bình (2012) [2] Những kết quả nghiên cứu của họ

có nêu một số bình giải về NNĐG Theo Phạm Thị Hà (2013) “khen là những đánh giá tích cực của người nói” Chức năng ngôn ngữ-xã hội của khen là bày tỏ sự ngưỡng

mộ (trường hợp người hâm mộ với nghệ sĩ) Tuy nhiên, lời khen còn có thể bày tỏ những hàm ý khác nữa (chẳng hạn: sự tán thành, sự khuyến khích, ) nếu được nghiên cứu ở ngữ cảnh khác [13] Nghiên cứu hành động chê trong tiếng Việt về ngữ nghĩa, Nguyễn Thị Hoàng Yến (2007) nhận định “chê là hành vi đánh giá tiêu cực,

Trang 26

chủ quan của người nói về một vấn đề nào đó (người/vật/việc) khi nhận thấy vấn đề

đó không đúng, không tốt, không phù hợp hoặc chưa thỏa đáng” “Bên cạnh các kiểu chê trực tiếp, hành vi chê còn xuất hiện gián tiếp dưới các dạng ẩn dụ, nói tránh, nói mỉa hoặc dưới dạng một số biểu thức của các hành vi khác như hỏi, khuyên, khen, Người Việt thường chê nhiều hơn đối với những người thân thuộc, gần gũi, và đối với người dưới vai giao tiếp” [37] Đỗ Thị Bình (2012) đặt lời khen và lời chê bằng tiếng Anh và tiếng Việt cạnh nhau để xem xét Tác giả khẳng định tầm quan trọng của việc

sử dụng hư từ trong khen chê của người Việt Các yếu tố tuổi tác, vai vế, địa vị xã hội can thiệp vào sự chọn lựa lời khen, lời chê theo hướng càng có đặc quyền thì càng tự

do phát ngôn hơn [2]

Ngoài ra, NNĐG cũng được nghiên cứu thông qua việc xem xét các nhóm hành động ngôn từ Chẳng hạn, Lương Thị Hiền (2013) [15], khi nghiên cứu về ngôn ngữ giao tiếp pháp đình, ở cấp độ từ vựng, tác giả nhận thấy các nhân vật tham gia giao tiếp có chiến lược lựa chọn các lớp từ vựng có màu sắc biểu cảm-đánh giá với lớp từ mang “ý nghĩa biểu cảm-đánh giá tiêu cực” và lớp từ mang “ý nghĩa biểu cảm-đánh giá tích cực” Đặc biệt, trong 11 nhóm HĐNT đánh dấu quyền lực cao mà tác giả tổng kết, có nhóm “bình xét” với đích ngôn trung là người nói xử lí, bình xét một nội dung thông tin hoặc một sự kiện, đối tượng Đây là nhóm đe dọa thể diện cao do chúng nhằm vào nhân cách và tiềm tàng định kiến trong nhận xét [15]

Ở lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ liên văn hóa, các tác giả như Nguyễn Quang (1999) [30], Nguyễn Phương Chi (2005) [4], Hoàng Thị Xuân Hoa (2008) [60], Nguyễn Quang Ngoạn (2009) [90], cũng xem xét HĐNT trong mối quan hệ với các biến xã hội như giới, địa vị, quyền lực, nghề nghiệp, Chẳng hạn, Hoàng Thị Xuân Hoa (2008) nghiên cứu hành động phê bình của người Việt và người Mỹ và tìm ra rằng cả hai đối tượng trên đều thấy đây là một HĐNT khó thực hiện Người Mỹ ít phê bình hơn người Việt, đặc biệt là ở các chủ đề cá nhân hoặc khi lời phê bình bao gồm ý kiến cá nhân Khi người Việt phê bình, họ dễ bị ảnh hưởng bởi những nhân tố xã hội

và tình huống hơn người Mỹ Lời phê bình của người Mỹ có khuynh hướng bị ảnh hưởng bởi khoảng cách xã hội trong khi lời phê bình của người Việt bị ảnh hưởng bởi

Trang 27

quyền lực và tuổi tác [60] Nguyễn Quang Ngoạn (2009) nghiên cứu về ngôn ngữ thể hiện “sự bất đồng” giữa những người không bình đẳng về quyền lực và cho thấy Việt Nam là nền văn hóa khoảng cách-quyền lực cao hơn Australia Tuổi tác, khả năng trí tuệ, địa vị thẩm quyền là những khía cạnh chính bộc lộ quyền lực trong hai nền văn hóa nói trên Nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của quyền lực lên cách diễn đạt sự bất đồng, biểu hiện qua cách chọn lựa và kết hợp chiến lược lịch sự trong các tình huống khác nhau về quyền lực [90]

Như vậy, trên thế giới, hiện nay những phương pháp tiếp cận và khung phân tích cụ thể đã được phát triển để xem xét NNĐG trên một số phương diện khác nhau Trong đó, chỉ có khung “thẩm định” đi theo một tiếp cận độc lập, nhưng khung này tập trung chủ yếu vào bình diện ngữ nghĩa Các tiếp cận khác đều có tính tích hợp, nghĩa là chúng đòi hỏi nhà nghiên cứu phải lựa chọn và xây dựng khung phân tích cụ thể để phục vụ mục đích nghiên cứu của mình Tình hình nghiên cứu trong nước cho thấy, NNĐG bằng tiếng Việt còn chưa thu hút được nhiều sự quan tâm và thường xuất hiện nhỏ lẻ thông qua các nghiên cứu về nội dung có liên quan, chẳng hạn nghiên cứu về tình thái, HĐNT khen, chê, phê bình, sự bất đồng, và ngôn ngữ pháp đình Do đó, rất cần nghiên cứu trực tiếp về NNĐG bằng tiếng Việt ở bình diện ngữ dụng và xem xét nó trong tương quan ngôn ngữ-văn hóa-xã hội cụ thể

1.2 Cơ sở lí luận của luận án

Để làm rõ đặc điểm ngôn ngữ của khách thể và trên cơ sở mục đích giao tiếp của họ trong vai trò giám khảo, luận án lựa chọn tiếp cận nghiên cứu đánh giá với tư cách là sự phán xét về giá trị Tiếp cận này cho phép kết hợp nghiên cứu những biến

số xã hội để làm rõ thêm khía cạnh ngôn ngữ học xã hội của NNĐG Nội dung dưới đây trình bày những cơ sở lí luận chính được lựa chọn cho đề tài luận án

1.2.1 Giao tiếp ngôn ngữ trên truyền hình thực tế

1.2.1.1 Khái quát về giao tiếp ngôn ngữ

Giao tiếp ngôn ngữ là tâm điểm của mọi đường hướng nghiên cứu ngôn ngữ học từ thời kỳ đầu cho tới nay Nó được coi là “một hành vi quan trọng bậc nhất của con người” [21] Ngôn ngữ trong sử dụng là kết quả của sự lựa chọn xuất phát từ

Trang 28

những nhân tố ngôn ngữ và xã hội [20] Đó là sự lựa chọn mang tính chức năng [39, tr.27] Do đó, giao tiếp được nhìn nhận là một vấn đề rất phức tạp và sự vận hành của ngôn ngữ đã được xem xét, lí giải theo nhiều cách khác nhau

Giao tiếp ngôn ngữ diễn ra theo một quá trình truyền tin Trong ngôn ngữ học, đã có nhiều tiếp cận khác nhau với nhiều cách sơ đồ hóa quá trình giao tiếp ngôn ngữ của con người, nhưng nhìn chung, một cuộc giao tiếp gồm 4 yếu tố then chốt: 1) Người tham gia giao tiếp; 2) Thông điệp truyền đi; 3) Cách thức/kênh truyền thông điệp; 4) Môi trường truyền thông điệp [21]

Giao tiếp trong xã hội có khuynh hướng được phân loại theo sự kiện (events) hơn là một chuỗi diễn ngôn, với ít hay nhiều những ranh giới được xác định giữa chúng và những qui ước hành vi khác nhau phù hợp cho mỗi loại sự kiện Các ranh giới xác định sự kiện giao tiếp phổ biến nhất là khi có sự thay đổi chủ đề, thành viên, mục đích giao tiếp, hay biến thể giao tiếp Sự kiện giao tiếp là đơn vị miêu tả cơ bản trong nghiên cứu giao tiếp ngôn ngữ [20, tr.353; 96, tr.109]

Việc hiểu được nghĩa của một thông điệp trong cuộc giao tiếp phụ thuộc vào tương tác trong ngữ cảnh văn hóa-xã hội của các tham thể giao tiếp Người nói và người nghe dựa trên “ẩn hiệu ngữ cảnh hóa” (contextualization cues) [20] Trong các tương tác, người nghe cố gắng hiểu ý định của người nói và “ngữ cảnh hóa” hoạt động ngôn từ đang diễn ra Sau đó người nói sử dụng một loạt các “ẩn hiệu ngữ cảnh hóa” để suy diễn được tốt nhất ý định của người nói Để tham gia được vào các trao đổi bằng lời đó, người tham thoại phải có kiến thức và khả năng vượt lên trên năng lực ngữ pháp mà họ cần vận dụng khi giải mã các thông điệp đơn lẻ [56] Các “ẩn hiệu ngữ cảnh hóa” rất đa dạng Chẳng hạn, chúng có thể bao gồm hiện tượng tiết điệu, các lựa chọn về từ vựng và cú pháp, các quá trình chuyển mã, chuyển phương ngữ, chuyển phong cách, các đặc điểm ngôn ngữ phi lời cùng các cách nói quen thuộc, các sáo ngữ, … [20, tr.352; 56, tr.131]

1.2.1.2 Giao tiếp ngôn ngữ trên truyền hình

- Giao tiếp trên truyền hình nói chung: Theo Nguyễn Thế Kỷ (2011), truyền hình có tính chất báo chí, điện tử, chuẩn mực, qui thức và đa kênh Giao tiếp truyền

Trang 29

hình là quá trình giao tiếp ngôn ngữ, với các nhân tố chủ chốt là chủ thể phát, thể

phát, thông điệp, thể nhận và chủ thể nhận Hội thoại trên truyền hình gồm hai bên

tham thoại, tuân thủ nguyên tắc luân phiên lượt lời “Các hình thức hội thoại, kể cả đối thoại trực tiếp, phỏng vấn trực tiếp, xét cho cùng đều là những hình thức, phương tiện biểu đạt, chuyển tải tới người xem những tư tưởng, mục tiêu (về chính trị, văn hóa, giáo dục, nhận thức, thẩm mĩ,…) của đài truyền hình, cao hơn là giai cấp thống trị” [24]

- Giao tiếp trên truyền hình thực tế: THTT là một thể loại truyền hình phi truyền thống, phát triển rất mạnh mẽ trong những thập niên vừa qua và được coi là

“khu vực tiếp xúc” giữa địa phương và toàn cầu, nơi bao chứa những bối cảnh văn hóa-xã hội phong phú, nơi giao tiếp được định hình từ nhiều biến số ngôn ngữ học xã hội như quyền lực, địa vị, giới, … [88] THTT thiết lập dựa trên sự phán xét, được cụ thể hóa trong các cuộc thi, cạnh tranh [93] Trong đó, rõ nét hơn cả là các chương trình có sử dụng vai trò giám khảo, họ trở thành trung tâm của các đánh giá, có quyền lực quyết định đối với thí sinh và các phán xét của họ phản ánh giá trị văn hóa-xã hội Khác với đại đa số chủ thể giao tiếp khác trên truyền hình, vốn phải tuân thủ nghi thức giao tiếp chuyên ngành [24], giám khảo THTT không phải là nhân viên của đài truyền hình, nhưng thực hiện trải nghiệm của những người thật, tương tác không có kịch bản và đưa ra đánh giá thực sự

Các định nghĩa về THTT trải rộng từ định nghĩa rất bao trùm tới định nghĩa cụ thể về đối tượng và phạm vi Cavender và Fishman (1998) cho rằng, THTT là truyền hình mà thể hiện thực tế - một định nghĩa bao trùm tất cả kiểu loại bản tin, phát hình

về trò chuyện, phỏng vấn và tường thuật người thật việc thật [46] Theo A Hill (2005), “Truyền hình thực tế (Reality Television) là một loại hình chung bao gồm một phạm vi rộng các chương trình giải trí về người thật Đôi khi (nó) được gọi là truyền hình dựa trên sự kiện được ưa thích, đây là một thể loại giao cắt giữa thông tin, giải trí, tài liệu và sân khấu” [59] Deery (2004) định nghĩa “THTT thường được coi là trải nghiệm của những con người có thực hoặc bình thường (không phải diễn viên) trong một môi trường thực tế và không có kịch bản” [50]

Trang 30

Hầu hết các chương trình trên truyền hình thực tế là các chương trình giải trí

“Giải trí thường chỉ tới kiểu chương trình có nội dung thể hiện những đặc điểm và phương tiện của những thể loại nhất định, (…) với ý định gây cười và/hoặc thư giãn” [111] Luận án lựa chọn xem xét một số chương trình giải trí trên truyền hình thực tế có sự tham gia của ban giám khảo Mỗi thành viên của ban này nắm giữ một vai trò giám khảo có quyền quyết định ngang nhau Giám khảo có thể được hiểu là

“người quyết định ai chiến thắng trong cuộc thi, cuộc tranh tài” hoặc là “người có đủ trình độ và khả năng để đưa ra một ý kiến về giá trị hoặc phẩm chất của ai/cái gì đó” [91] Hầu hết các chương trình THTT có thi đấu cạnh tranh áp dụng một kiểu qui trình đánh giá nào đó để tìm ra người chiến thắng, trong đó có hình thức đánh giá của ban giám khảo Thành viên của ban này có vai trò quyết định và hữu hình trên truyền hình, các quyết định của họ đem lại kết quả thực tế cho thí sinh và các phán định của họ có tính thể chế [93] Các giám khảo trong nghiên cứu này là những người nổi tiếng, do

đó, ngôn ngữ đánh giá của họ có ảnh hưởng trong xã hội Việt Nam hiện nay

1.2.2 Một số vấn đề lí luận về ngôn ngữ đánh giá

1.2.2.1 Khái niệm “đánh giá”, “ngôn ngữ đánh giá”, “biểu thức đánh giá”

- Khái niệm “đánh giá” và một số khái niệm có liên quan:

“Đánh giá” được định nghĩa là “nhận định giá trị” [36] Nghĩa của thuật ngữ này trong tiếng Việt rất phù hợp với khuynh hướng giá trị học của NNĐG trong các nghiên cứu về ngôn ngữ trên thế giới Khi đưa ra đánh giá, người nói/viết thường

nhận xét, bình luận, khen, chê Do đó, cần thiết phải làm rõ những khái niệm có liên

quan này Trước hết, nhận xét là “đưa ra ý kiến có xem xét và đánh giá về một đối tượng nào đó” [36] Bình luận “đánh giá và bàn luận về một sự kiện, một hiện tượng, một vấn đề nào đó và những điều do vấn đề đó gợi ra” [29] Khen là “nói lên

sự đánh giá tốt về ai, về cái gì, việc gì với ý vừa lòng” [36], là việc biểu lộ sự ca

ngợi, thán phục, tán đồng [13] Ngược lại, chê là “tỏ ra không thích, không vừa ý vì cho là kém, là xấu” [37] Từ những định nghĩa trên, có thể thấy đánh giá là một thành tố của nhận xét và bình luận, nhưng khen và chê thì lại là những thành tố của

đánh giá Bản thân mỗi hành động khen, chê đều là đưa ra phán xét về khía cạnh giá

Trang 31

trị nào đó của đối tượng đích So với khen/chê, nhận xét và bình luận gần hơn với

đánh giá ở chỗ bản thân chúng không mang tính xác định về hướng tham chiếu giá

trị Nhận xét và bình luận nghiêng nhiều hơn về việc đưa ra ý kiến mà trong đó đánh giá là một phần Giữa đánh giá, nhận xét và bình luận có sự chồng lấn, không có đường biên rõ ràng Khen và chê xác định rõ trong nội hàm nghĩa của chúng: khen hướng tới các giá trị tích cực (dương tính), được mong đợi; chê hướng tới các giá trị

tiêu cực (âm tính), không được mong đợi

- Khái niệm “ngôn ngữ đánh giá”:

Hunston (2011, tr.19) [68] cùng với nhiều nhà nghiên cứu khác (Thompson và Alba-Juez, 2014 [108]; Volosinov, 1973 [110]; Martin và White, 2005 [84];…) khẳng định trong ngôn ngữ gần như mọi thứ đều được xem là có tính đánh giá “Thực tế, có thể nói rằng tính chủ quan và giá trị tư tưởng thẩm thấu thậm chí ở những diễn ngôn khách quan nhất Chúng ta có thể lập luận hợp lí rằng mọi văn bản và mọi ngôn từ đều

có tính đánh giá, đến mức mà bản thân hiện tượng này bị khuất lấp, và bị thay thế đơn giản bằng ngôn ngữ” [68, tr.19] Hunston (2011, tr.14) [68] dẫn quan niệm của Du Bois (2007) cho rằng, NNĐG là ngôn ngữ chỉ báo hành động đánh giá hoặc hành động khẳng định lập trường NNĐG tập trung vào sự biểu đạt thái độ, tính chủ quan

và giá trị xã hội “Nó (NNĐG) bộc lộ thái độ đối với một người, tình huống hoặc thực thể khác và vừa mang tính chủ quan, vừa có vị trí trong hệ thống giá trị xã hội” [68, tr.1] Quan điểm trên của Hunston nhất quán với định nghĩa NNĐG của bà và Thompson (2000): “(Ngôn ngữ) đánh giá là một thuật ngữ bao trùm rộng rãi để diễn đạt thái độ hoặc lập trường, quan điểm hoặc cảm xúc của người nói/viết đối với các thực thể hoặc các mệnh đề mà người đó nói tới” [109, tr.5]

Gần đây, Thompson và Alba-Juez (2014) [108] đã nêu NNĐG là “một tiểu hệ thống động của ngôn ngữ, thẩm thấu ở tất cả các cấp độ ngôn ngữ và bao gồm sự bộc lộ thái độ hoặc lập trường của người nói hoặc người viết, quan điểm, hoặc cảm xúc về các thực thể hoặc các mệnh đề mà người đó đang nói tới, mà kéo theo những thứ có liên quan bao gồm phản hồi (phản hồi có thể có và được mong đợi theo khuôn mẫu và phản hồi đến sau) của người nghe hoặc khán giả (tiềm năng) Phản

Trang 32

hồi có liên quan này nhìn chung là có quan hệ với tập hợp các giá trị cá nhân, nhóm hoặc văn hóa của người nói và/hoặc người nghe” [108, tr.13] Định nghĩa trên gợi ý khả năng xem xét NNĐG từ hai chiều: trực tiếp qua những biểu hiện ngôn ngữ của người lập mã, và gián tiếp qua phản ứng của người thụ ngôn khi họ giải mã NNĐG

đó và hồi đáp Nó cũng cho thấy mối quan hệ qua lại giữa NNĐG với hệ thống giá trị văn hóa-xã hội Chúng tôi giới hạn xem xét NNĐG từ phía người lập mã, do đó, luận án sử dụng khái niệm của Thompson và Hunston (2000) [109] về NNĐG

- Khái niệm “biểu thức đánh giá”:

Theo Lyons (1995), trong ngôn ngữ học, thuật ngữ thường xuyên được sử

dụng làm đơn vị đo lường là “biểu thức” (expression) Theo đó, biểu thức được hiểu

là “đơn vị hợp thành mà có cả hình thức và nghĩa” và gồm hai bộ phận: một là “các biểu thức từ vựng đơn giản”, có thể thấy trong từ điển; hai là “các biểu thức từ vựng hợp thành”, có cấu tạo theo các quy tắc ngữ pháp, có thể “bao gồm câu và bất kỳ thành tố cú pháp có thể xác định được” Lyons cho rằng, khái niệm “biểu thức” của ông tương tự như khái niệm “câu lõi” (kernel) để chỉ câu lõi (sentence-kernel) hoặc

chuỗi lõi (kernel-string) của Chomsky “Lõi của câu (hoặc cú) là một biểu thức, mà

có hình thức (không nhất thiết là có thể phát âm được) và nghĩa của nó là (hoặc bao gồm) nội dung mệnh đề của nó” [81, tr.204-205] Coi “biểu thức đánh giá” là đơn vị

phân tích chủ yếu để xem xét đặc điểm ngôn ngữ đánh giá, luận án cho rằng: một

biểu thức đánh giá là một kết cấu cú lõi mang nội dung mệnh đề đánh giá

1.2.2.2 Chức năng của ngôn ngữ đánh giá

Đánh giá chỉ tới sự bộc lộ ý kiến của người nói hoặc người viết về bất cứ trạng

thái vấn đề gì cho dù nó tích cực hay tiêu cực, chắc chắn hay không chắc chắn, v.v NNĐG có ba chức năng chính: 1) bộc lộ ý kiến của người nói/viết, và từ đó phản ánh

hệ thống giá trị của họ và cộng đồng của họ; 2) xây dựng và duy trì các mối quan hệ giữa người nói/viết với người nghe/đọc; 3) tổ chức diễn ngôn [109, tr.6-13]

Biểu đạt ý kiến là “chức năng hiển nhiên nhất của đánh giá”, cho biết suy nghĩ hoặc cảm nhận của người nói/viết về đối tượng mà họ nói tới “Mỗi hành động đánh giá bộc lộ một hệ thống giá trị chung của cộng đồng và mỗi hành động đánh giá lại

Trang 33

hướng đến xây dựng hệ thống giá trị đó” Nếu xác định được người nói/viết nghĩ gì thì

“có thể khám phá hệ tư tưởng mà sản sinh ra văn bản đó” [109, tr.6]

Chức năng thứ hai thường được nghiên cứu trong ba lĩnh vực chính: tác động (manipulation), rào đón (hedging) và lịch sự (politeness) Trong mỗi lĩnh vực, người viết “khai thác các tài nguyên NNĐG để xây dựng một kiểu quan hệ cụ thể với người đọc” NNĐG có thể tác động lên người đọc, thuyết phục họ nhìn nhận gì đó theo một cách cụ thể nào đó Nghiên cứu về ngôn ngữ rào đón cũng chính là nghiên cứu về NNĐG trong việc “điều chỉnh giá trị đúng-sai hoặc sự chắc chắn của ngôn từ” Đây vốn cũng là “một phương tiện để thực hiện chiến lược lịch sự để duy trì mối quan hệ giữa người viết và người đọc” [109, tr.8-10]

NNĐG thực hiện chức năng thứ ba thông qua việc đánh dấu tổ chức của văn bản hay diễn ngôn, giúp người viết/nói và người đọc/nghe theo sát được tiến triển của văn bản hay diễn ngôn NNĐG “có khuynh hướng xuất hiện ở các điểm ranh giới trong một diễn ngôn”, và do đó cung cấp căn cứ về tổ chức của nó (Sinclair, 1987, dẫn theo [70]) Khi NNĐG vừa tổ chức được diễn ngôn vừa chỉ ra tầm quan trọng của nó,

nó có thể cho người đọc biết về “mục đích” (point) của diễn ngôn [109, tr.10-13]

1.2.2.3 Các dấu hiệu xác định ngôn ngữ đánh giá

Thompson and Hunston (2000) [109] đã xác định các đặc điểm ngôn ngữ học của NNĐG và phân thành 3 nhóm (dựa trên các bằng chứng tiếng Anh):

 Nhóm các dấu hiệu về sự so sánh (so sánh đối tượng đánh giá với một thang đo), bao gồm: tính/trạng từ so sánh; chỉ mức độ; phủ định về ngữ pháp và từ vựng

 Nhóm biểu đạt tính chủ quan Đây là một nhóm lớn, gồm: động từ tình thái

và các dấu hiệu khác về sự (không) chắc chắn, tính từ không xác định, những trạng

từ, danh từ, động từ nhất định; các trạng từ bổ nghĩa cho câu và liên từ; các cấu trúc báo cáo và bổ nghĩa; các cấu trúc cú đánh dấu (ví dụ: cú giả chêm xen)

 Nhóm chứa đựng giá trị xã hội (dấu hiệu về giá trị), gồm hai tiểu nhóm: tiểu nhóm “dấu hiệu từ vựng thường được dùng trong môi trường đánh giá”, và tiểu nhóm

“biểu đạt về sự tồn tại của các mục tiêu và (không) đạt được chúng” [109, tr.21]

Trang 34

Các tác giả cho rằng nhóm thứ ba có bản chất từ vựng, nhóm thứ nhất và thứ hai cơ bản là về ngữ pháp Họ qui bản chất mang tính chủ quan của đánh giá tương đương với kiểu “nội đánh giá” (internal evaluation) của Labov, khi ông chỉ sự phản ứng chủ quan của người nói về một sự kiện người đó nói tới [109, tr.22]

Một số từ ngữ mang tính đánh giá rất rõ, do chúng có chức năng và ngữ nghĩa

đánh giá Hunston (2011) [68] đề nghị chúng bao gồm: (1) Tính từ, ví dụ: splendid (tuyệt vời), terrible (kinh khủng); (2) Trạng từ, ví dụ: happily (một cách vui vẻ),

unfortunately (không may); (3) Danh từ, ví dụ: success (sự thành công), failure (sự

thất bại); (4) Động từ, ví dụ: succeed (thành công), doubt (nghi ngờ) [68, tr.13]

Các dấu hiệu từ vựng chỉ báo trực tiếp trạng thái cảm xúc, thái độ của người nói/viết Chúng cũng thể hiện sự đánh giá của họ về một đối tượng là người, vật thể hoặc mệnh đề [41, tr.968] Đây là “các từ ngữ chứa giá trị” (value-laden words), nghĩa đánh giá được gắn liền trong từ ngữ [41, 109] Thompson và Hunston (2000) nhận định trong các tài liệu có sự trùng hợp cao trong việc xác định nghĩa đánh giá của các từ ngữ kiểu như vậy Tuy nhiên, các tác giả cũng thừa nhận rất khó xác định tiêu chí để phân biệt từ vựng có tính đánh giá hay không [109] Theo Hunston (2011, tr.14-15) [68], cần phải có ngữ cảnh khi xác định bản chất đánh giá thực sự của một

từ ngữ Bà đưa ra ví dụ từ điện (electric) trong ngữ cảnh lửa điện (electric fire) hoặc

bão điện (electric storm) là một từ không mang tính đánh giá Nhưng trong ngữ cảnh her performance was electric (“màn biểu diễn của cô ấy sôi động”), từ electric mang

nghĩa đánh giá tích cực [68] Theo Biber và đồng sự (1999, tr.968-969) [41], phần lớn “từ ngữ chứa giá trị” thuộc lớp từ vựng phổ biến trong tiếng Anh, và chúng hay xuất hiện dưới hình thức danh từ, động từ chính và tính từ Sự phân bố của chúng

khác nhau tùy theo ngữ vực: Các tính từ good, (tốt), bad (xấu), nice (hay), và right (phải) xuất hiện nhiều trong hội thoại; trong khi các từ difficult (khó), best (nhất) và

appropriate (thích hợp) rất phổ biến trong diễn ngôn học thuật Các tác giả đưa trạng

từ sang nhóm đánh dấu nghĩa đánh giá bằng ngữ pháp [41, tr.968-969]

Về dấu hiệu ngữ pháp của NNĐG, hầu hết các tác giả thống nhất chúng bao gồm các phương tiện so sánh, phương tiện tăng cường và phương tiện tình thái:

Trang 35

Phương tiện so sánh: Labov (1972, tr.381-386) [75] nhấn mạnh bản chất so

sánh của đánh giá NNĐG bao gồm bất cứ cái gì mà được so sánh hoặc đối chiếu với chuẩn qui ước Phương tiện đầu tiên thể hiện sự so sánh mà Labov nêu ra, sau đó được Thompson và Hunston [109] thừa nhận là sự phủ định Phủ định không nói cho biết cái gì xảy ra mà ngược lại, nó biểu đạt sự gạt bỏ một mong đợi về cái gì đó đáng

lẽ đã xảy ra Các ngôn từ phủ định “cung cấp một cách đánh giá sự kiện qua việc đặt chúng đối lập với nền tảng của các sự kiện khác mà đáng lẽ đã có thể xảy ra, nhưng đã không xảy ra” (Labov, 1972, tr.381) [75] Các phương tiện so sánh khác gồm: so sánh

hơn, so sánh nhất, so sánh sử dụng as (như), like (giống như), ẩn dụ và ví von [75]

Phương tiện tăng cường: Ngoài các phương tiện phi ngôn từ (cử chỉ, điệu bộ)

và phương tiện cận ngôn (ngữ âm, ngữ điệu), Labov (1972) [75] cho thấy lượng từ, phép lặp, và ngôn từ nghi thức (ritual utterances) là các phương tiện tăng cường nghĩa đánh giá Ông khẳng định lượng từ là phương tiện phổ biến nhất giúp tăng

cường một cú đánh giá, ví dụ: all (tất cả) Phép lặp xét về phương diện cú pháp thì

khá đơn giản nhưng nó hiệu quả trong việc biểu đạt nghĩa đánh giá Trong ngôn ngữ

kể chuyện, phép lặp làm sâu sắc thêm một hành động cụ thể và giúp trì hoãn hành động kể, để người nghe có thêm nhiều thời gian tiếp thu điều đang được nói Cũng theo Labov, các ngôn từ nghi thức (trong ngôn ngữ kể chuyện) không chứa bất kì dấu hiệu nhấn mạnh nào “nhưng kiến thức văn hóa báo hiệu cho chúng ta biết rằng những ngôn từ này (…) đánh dấu và đánh giá tình huống” [75, tr.379-380]

Phương tiện tình thái: Phương tiện ngôn ngữ chỉ báo mạnh về sự đánh giá

trong diễn ngôn chính là tình thái [57, 83] Tình thái là “thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay tình trạng mà mệnh đề đó miêu tả” (Lyons, dẫn theo [12]) Nó cũng được hiểu là “thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói ra” (Palmer, dẫn theo [12]) Tình thái bao gồm cả các phương thức từ vựng và ngữ pháp tham gia bộc lộ nghĩa đánh giá

Trong tiếng Anh, tình thái thể hiện qua trợ từ tình thái (can, could, may, might,

must, shall, have to, ought to,…) và cụm từ tình thái (be bound to, be supposed to, be sure to) Ngoài ra, còn có rất nhiều cách diễn đạt khác, chẳng hạn: trạng từ tình thái

Trang 36

(probably “có lẽ”), obviously “hiển nhiên”; ngữ tình thái tính (all being well, but don’t

count on it “không có gì bất thường, nhưng đừng trông chờ vào nó”); và cú tình thái

tính (what they call “cái họ gọi là”); và thời của động từ (ví dụ: thời quá khứ trong I

heard that Harry was dead “Tôi đã nghe nói rằng Harry đã chết” so với thời hiện tại

đơn giản trong I hear that Harry is dead “Tôi nghe nói rằng Harry chết”) [38, tr.69]

Liên quan đến tình thái, hiện tượng rào đón (hedging) được nhìn nhận rất khác nhau trong ngôn ngữ học Theo Bednarek (2006) [38], trong nghiên cứu về rào đón và nghiên cứu về NNĐG ít có đồng thuận về những gì rào đón biểu thị Thậm chí, nó được coi là “thuật ngữ cạnh tranh với tình thái nhận thức” [38, tr.21] Hyland

và Tse (dẫn theo [68]) xếp rào đón vào “những tài nguyên tương tác” Nhóm này

gồm các phương tiện rào đón (tôi đồng ý, thật không may), biểu thức tăng cường, dấu hiệu về thái độ và đề cập đến người viết (tôi, chúng tôi) hoặc người đọc (bạn,

các bạn) Nhóm này phân biệt với nhóm “tài nguyên tác động qua lại (interactive

resources)” - gồm các chỉ thị về mối quan hệ nghĩa giữa các cú, phần văn bản (tuy

nhiên, do đó, trong phần kết luận), và bằng chứng (X nói rằng, theo X) [68, tr.24]

Nghiên cứu về tình thái tiếng Việt rất phong phú với nhiều nhận định khác nhau về những gì tạo nên nghĩa tình thái của phát ngôn Nhìn chung, theo Nguyễn Thiện Giáp (2014, tr.264-265), nghĩa tình thái có thể được thể hiện bằng: vị từ tình

thái (trót, nên, đang, vẫn,…); trợ từ (ngay, chính, à, ); cặp liên từ (nếu … thì, giá…

thì,…); ngữ đoạn (lẽ ra, mới chết chứ, ), cấu trúc đề-thuyết với đề là tôi và thuyết là

vị từ có nghĩa nhận thức (tôi nghĩ, tôi biết, tôi lấy làm mừng,…) [12]

Chi tiết hơn, Nguyễn Văn Hiệp (2012, tr.140) giới thiệu 12 phương tiện bằng lời biểu thị tình thái trong tiếng Việt Đó là: “(1) các phó từ làm thành phần phụ của

ngữ vị từ (đã, sẽ, đang, từng, vừa, mới…); (2) các vị từ tình thái tính làm chính tố trong ngữ đoạn vị từ (toan, định, cố, muốn, đành, được, bị, bỏ, hãy, đừng, chớ,…); (3) các vị từ chỉ thái độ mệnh đề trong cấu trúc chỉ thái độ mệnh đề (tôi e rằng, tôi

sợ rằng, tôi nghĩ rằng,…); (4) các quán ngữ tình thái (ai bảo, nói gì thì nói, ngó bộ, thảo nào, tội gì, đằng thằng ra, kể ra, làm như thể,…); (5) các vị từ (động từ) ngôn

hành trong kiểu câu ngôn hành - với những điều kiện về ngôi, về chỉ tố thời,… (ra

Trang 37

lệnh, van, xin, đề nghị, yêu cầu,…); (6) các thán từ (ôi, eo ôi, chao ôi, ồ,…) ; (7) các

tiểu từ tình thái cuối câu và tổ hợp đặc ngữ (idiom) tương đương (à, ư, nhỉ, nhé, thôi,

chứ, đi, mất, thật, cũng nên, lại còn, thì chết,…); (8) các vị từ đánh giá và tổ hợp có

tính đánh giá (may (là), may một cái (là), đáng buồn (là), đáng mừng (là), đáng tiếc

(là),…); (9) các trợ từ (đến, những, mỗi, nào, ngay, cả, chính, đích thị, đã, mới, chỉ,…); (10) những đại từ nghi vấn dùng trong câu phủ định - bác bỏ (P làm gì? P thế nào được?), các liên từ dùng trong câu hỏi (Hay P? Hay là P?); (11) các từ ngữ

chêm xen biểu thị tình thái (nó biết cóc gì, mua cha nó cho rồi, hỏi cái đếch gì…); (12) kiểu câu điều kiện, giả định (nếu… thì, giá… thì, cứ… thì,…)” [17]

1.2.2.4 Cấu trúc nghĩa đánh giá

Để nhận diện đơn vị và chức năng ngữ nghĩa trong BTĐG, Hunston và Sinclair (2000) [69] đã tiên phong trong việc áp dụng ngữ pháp cục bộ (Local grammar) vào phân tích cấu trúc nghĩa của các biểu thức đánh giá Họ trình bày mô hình cấu trúc nghĩa tương ứng với 6 cấu trúc cú pháp của tính ngữ đánh giá và cấu

trúc của biểu thức đi với danh từ nuisance (điều phiền toái) Phương pháp này của

Hunston và Sinclair cho thấy có thể miêu tả một cách hệ thống các đặc điểm của NNĐG qua chức năng của các thành tố trong hiện dạng cú pháp của chúng Các biểu thức có cấu trúc chức năng nghĩa khác nhau nhưng có thể có hiện dạng cú pháp giống nhau, và ngược lại

Những thành tố cấu trúc nghĩa cơ bản được các tác giả sử dụng khi phân tích

là: (1) Người đánh giá (Evaluator): người chịu trách nhiệm cho sự đánh giá, (2) Sự vật được đánh giá (Thing evaluated): những gì được đánh giá, (3) Hạng đánh giá (Evaluative Category): loại đánh giá được biểu đạt, (4) Phản ứng đánh giá (Evaluative response): phản ứng của cá nhân đối với sự vật được đánh giá, (5) Giới hạn đánh giá (Restriction on evaluation): những gì đánh giá liên quan đến, (6) Người được đánh giá (Evaluation carrier): đối tượng mang sự đánh giá, (7) Bản lề (Hinge):

kết nối giữa các phần của mô hình đánh giá [69]

Dưới đây là một số ví dụ của các tác giả:

Tính ngữ đánh giá là hạng đánh giá [69, tr.87]:

Trang 38

Sự vật đƣợc ĐG Bản lề Hạng đánh giá Giới hạn đánh giá

noun group

(danh ngữ)

link verb (động từ nối)

adjective group (tính ngữ)

adjective group (tính ngữ)

to have to put on new clothes and go out

(khi) phải mặc quần áo mới và đi chơi Các tác giả đã phân đoạn cấu trúc nghĩa đánh giá song hành với mẫu câu (sentence pattern) Mẫu câu này đƣợc phân tích theo quan điểm của ngữ pháp hiện đại, cho rằng “một câu sẽ bao gồm những thành tố cụ thể nhất định xếp trong một trật tự nhất định (…) bao gồm các từ và các phần của từ khi xem xét đến cùng” (F Palmer, dẫn theo [26, tr.310]) Câu bao gồm các từ Các từ gộp lại thành các thành tố nhỏ hơn câu: cụm từ, ngữ và cú [26] Mặc dù các tác giả nhấn mạnh nhiều hơn đến các mô hình cú pháp và các dấu hiệu cú pháp để xác định các thành tố đánh giá, nhƣng họ chƣa phân tích rõ vai trò của chúng trong việc diễn đạt nghĩa đánh giá Tuy nhiên, đây là những cơ sở cho nhiều công trình khác đi sâu vào phân đoạn ngữ nghĩa đánh giá cụ thể hơn Chẳng hạn, Bednarek (2008, tr.70-71) [39] đã phân đoạn ngữ nghĩa cảm xúc, Hunston (2011) [68] phân biệt các thành tố phân đoạn ngữ nghĩa cảm xúc và ngữ nghĩa đánh giá riêng biệt H Su (2015) [105] phân đoạn ngữ nghĩa trong các mô hình bổ ngữ tính từ mang nghĩa đánh giá phán xét

1.2.2.5 Tham số và thang độ đánh giá

Thompson và Hunston (2000) [109] nhận định đánh giá là một chứ không phải một vài hiện tƣợng và có thể nghiên cứu nó theo nhiều tham số khác nhau Trong đó,

Trang 39

tham số tốt-xấu (tích cực-tiêu cực) là cơ bản nhất để nghiên cứu về NNĐG và mọi tham số khác đều có thể xếp vào đó Tham số này phụ thuộc vào hệ giá trị hàm chứa

trong văn bản “Những gì tốt có thể mang vẻ ngoài là những gì đạt được mục tiêu của

chúng ta, và những gì xấu có thể mang vẻ ngoài là những gì cản trở việc đạt được mục tiêu của chúng ta” [109] Tham số này thẩm thấu trong toàn bộ NNĐG và “bất cứ

giá trị đánh giá nào đều có thể hiện diện trong phổ tích cực-tiêu cực và do đó cũng có thể được tìm thấy ở bất kì điểm nào trên chuỗi tiếp biến này” [109] Do đó, BTĐG tích cực thể hiện các giá trị dương tính, tốt (good), được ngưỡng mộ, ca ngợi,… và BTĐG tiêu cực biểu đạt các giá trị âm tính, xấu (bad), bị phê phán, lên án,…

Nhiều nhà nghiên cứu, chẳng hạn Martin và White (2005) [84], Blackwell (2010) [42], Thompson và Alba-Juez (2014) [108], Nguyễn Văn Hiệp (2012) [17],

đã sử dụng tham số tích cực-tiêu cực để xem xét tính đánh giá của ngôn ngữ nhưng theo các tiếp cận khác nhau Cũng dựa trên tham số này, Đỗ Thị Bình (2012) [2] xây dựng 50 thang độ cụ thể cho lời khen và lời chê Anh-Việt, trải từ cực âm đến cực dương Tuy vậy, tác giả không xác định một thang độ chung cho HĐNT đánh giá

Một thang đo khái quát hơn với 3 mức cao/giữa/thấp (high/median/low) đã được

Halliday (1994), Martin và White (2005), Sue Hood sử dụng (dẫn theo [84]); và được Martin và White (2005) [84] áp dụng để nghiên cứu NNĐG Chẳng hạn, thang

đo thái độ được Martin và White (2000) [84] minh họa như sau:

Bảng 1.3 Thang đo thái độ

cầu thủ xuất sắc (brilliant player) cầu thủ chơi được

(reasonably good player)

cầu thủ chơi khá (quite good player)

cầu thủ chơi rất tốt (very good player)

cầu thủ cực giỏi (extremely good player)

Cảm

xúc

bằng lòng (contentedly)

hạnh phúc (happily)

vui mừng (joyously)

sướng mê li (ecstatically) hơi bối rối

(slightly upset)

có vẻ bối rối (somewhat upset)

rất bối rối (very upset)

cực kì bối rối (extremely upset)

rất bề bộn (very untidy)

hoàn toàn bề bộn (completely untidy)

(Nguồn: Martin và White, 2005, tr.136) [84]

Trang 40

Đó là một số căn cứ để chúng tôi xây dựng thang độ cao/vừa/thấp dựa trên tham số đánh giá tiêu cực-tích cực cho luận án, với 6 mức biểu đạt (Sơ đồ 1.3)

(a1) xuất sắc, điểm 10, …

(b1) hay, phù hợp, tốt…

(c1) có vẻ ổn, hình như đúng,…

(a1) spectacular, really great,

(b1) good, nice, right,…

(c1) probably high, it seems fine,… (c2) hơi chông chênh một tí, hơi bị

tanh một chút,…

(b2) xấu, dở, khó…

(a2) điểm 1, thật là tệ hại, …

(c2) a little bit shocking, may look like a

mess,…

(b2) bad, difficult, dry,…

(a2) too wet, absolutely disgusting,…

Sơ đồ 1.3 Minh họa về thang độ đánh giá tích cực và tiêu cực

- Các mức độ tích cực-cao (a1) hoặc tiêu cực-cao (a2), BTĐG chứa các giá trị

dương/âm tính ở mức độ cao; hoặc các giá trị dương/âm tính kèm theo các biểu thức tăng cường lực ngôn trung của BTĐG

- Các mức độ tích cực-vừa (b1) hoặc tiêu cực-vừa (b2), BTĐG biểu đạt các giá

trị dương/âm tính ở mức vừa phải Đánh giá ở mức độ vừa phải có chỉ báo về sự tồn tại của mức cao hơn và thấp hơn nó trong ngữ cảnh

- Các mức độ tích cực-thấp (c1) hoặc tiêu cực-thấp (c2), BTĐG thể hiện các

giá trị dương/âm tính ở mức thấp; hoặc các giá trị dương/âm tính mức độ vừa kèm theo các từ ngữ làm giảm thiểu sự tích cực hoặc tiêu cực của BTĐG

Đánh giá tích cực của các giám khảo trên THTT bao gồm các chỉ báo về việc giám khảo đánh giá “tốt” về thí sinh, cho rằng họ đạt yêu cầu, khen ngợi họ và các khuynh hướng tương đương như thế Ngược lại các chỉ báo trong BTĐG của giám khảo cho thấy thí sinh chưa đạt yêu cầu, có sai sót, hoặc bị chê bai sẽ là những đánh giá tiêu cực Những ý kiến nhất trí với đánh giá tiêu cực của giám khảo khác sẽ thuộc về các đánh giá tiêu cực và những ý kiến phản bác đánh giá tích cực của giám khảo khác sẽ là những đánh giá tiêu cực, và ngược lại

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w