Một trong những yếu tố quan trọng để tạo nên tính liên kết của văn bản đó là quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu / phát ngôn trong văn bản, trong đó liên kết bằng phương thức tỉnh lược đóng m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THÚY HẠNH
KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG TỈNH LƯỢC NGỮ DỤNG TRONG CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO HOA HỌC TRÒ TRONG 2 NĂM 2008 – 2009
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THÚY HẠNH
KHẢO SÁT HIỆN TƯỢNG TỈNH LƯỢC NGỮ DỤNG TRONG CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO HOA HỌC TRÒ TRONG 2 NĂM 2008 – 2009
Trang 3MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài 6
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
6 Phương pháp nghiên cứu 12
7 Bố cục của luận văn 13
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CÓ LIÊN QUAN 14
1.1 Khái niệm câu, phát ngôn, văn bản, diễn ngôn, ngữ trực thuộc (NTT) 1.1.1 Phát ngôn 14
1.1.2 Văn bản và diễn ngôn 15
1.1.3 Câu và ngữ trực thuộc (NTT) 18
1.2 Mạch lạc và liên kết trong văn bản 21
1.2.1 Mạch lạc trong văn bản 21
1.2.1.1 Quan điểm về mạch lạc của các nhà nghiên cứu nước ngoài 1.2.1.2 Quan điểm về mạch lạc của các nhà nghiên cứu trong nước 1.2.2 Liên kết trong văn bản 26
1.3 Báo HHT2! và tính liên kết trong văn bản phóng sự 29
1.4 Phép tỉnh lược với tư cách là phương thức liên kết văn bản (Cách nhận diện, định nghĩa) 31
1.5 Tiểu kết 34
CHƯƠNG 2: CÁC DẠNG THỨC TỈNH LƯỢC TRONG CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO HOA HỌC TRÒ 2! 35
2.1 Đặt vấn đề 35
2.2 Cơ sở của phép tỉnh lược 35
2.2.1 Ngữ cảnh cần và đủ 35
Trang 42.2.1.1 Khái niệm ngữ cảnh 35
2.2.1.2 Ngữ cảnh của phép tỉnh lược 36
2.2.2 Phương thức lặp 38
2.2.3 Mối quan hệ giữa chủ ngôn và lược ngôn trong chuỗi phát ngôn tỉnh lược 40
2.3 Khảo sát các dạng thức tỉnh lược trong các bài phóng sự trên báo HHT2! 2.3.1 Tiêu chí để phân loại các dạng thức tỉnh lược và kết quả khảo sát 46
2.3.2 Mối quan hệ giữa chủ ngôn và lược ngôn và mức độ liên kết văn bản 50
2.3.3 Cơ sở cho phép tỉnh lược 51
2.4 Khả năng liên kết của phép tỉnh lược với các phép liên kết khác trong văn bản tiếng Việt 53
2.5 Tiểu kết 61
CHƯƠNG 3: GIÁ TRỊ LIÊN KẾT VÀ NGỮ NGHĨA CỦA CÁC PHÁT NGÔN TỈNH LƯỢC 62
3.1 Đặt vấn đề 62
3.2 Dạng biểu hiện của các thành phần bị tỉnh lược 64
3.2.1 Tỉnh lược đơn 66
3.2.1.1 Tỉnh lược chủ ngữ 66
3.2.1.2 Tỉnh lược vị ngữ 74
3.2.1.3 Tỉnh lược phần chủ đề (vế đầu) của nòng cốt qua lại 75
3.2.2 Tỉnh lược phức 76
3.2.3 Thành phần tỉnh lược chuyển tiếp 76
3.3 Hiệu quả và giá trị liên kết ngữ nghĩa của các phát ngôn tỉnh lược 77
3.4 Tiểu kết 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC
Trang 52 Các cụm ví dụ được đánh số dựa theo số thứ tự trong Phụ lục “Bảng khảo
sát hiện tượng tỉnh lược trên báo HHT2! trong 2 năm 2008 - 2009”
Các ví dụ được chú thích bằng dấu ngoặc vuông [HHT2!, số thứ tự của ví dụ]
3 Phần chú thích tư liệu trích dẫn được đặt trong dấu ngoặc vuông, trong đó thứ tự là: tên tác giả, năm công trình được công bố, số trang trích dẫn Tất cả được ngăn cách bằng dấu hai chấm Ví dụ:
[Phạm Văn Tình 2002:56]: Có nghĩa là: Tác giả Phạm Văn Tình, công trình công bố năm 2002, trang 56
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 61 Lý do chọn đề tài
Văn bản không phải là một chuỗi câu kết hợp với nhau một cách tình
cờ Các phát ngôn / câu trong văn bản luôn có cách sắp xếp, tổ chức chặt chẽ với nhau Việc tạo lập và tiếp nhận văn bản không thể tách rời khỏi tính liên kết - yếu tố được coi là có vai trò quyết định tư cách “là văn bản” của một chuỗi câu (hay phát ngôn) liên tiếp bất kỳ Tính liên kết là một đặc trưng quan trọng nhất của văn bản “Mất tính liên kết văn bản chỉ còn là một tập hợp hỗn độn các câu” [Trần Ngọc Thêm 1981: 42]
Một trong những yếu tố quan trọng để tạo nên tính liên kết của văn bản
đó là quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu / phát ngôn trong văn bản, trong đó liên kết bằng phương thức tỉnh lược đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong nhóm phương thức liên kết về nội dung Sự liên kết trong văn bản tồn tại dưới dạng liên kết hình thức và liên kết nội dung Liên kết nội dung bao gồm liên kết chủ đề và liên kết loogic; còn liên kết về mặt hình thức là dùng các phương tiện như ngữ pháp, từ vựng để biểu đạt liên kết nội dung Chính những phương tiện liên kết ấy biến những câu rời rạc thành một văn bản hoàn chỉnh Hệ thống các phương tiện liên kết đó được coi là các phương tiện liên kết câu
Theo Trần Ngọc Thêm, phương tiện liên kết câu bao gồm: liên kết từ vựng ngữ nghĩa và liên kết ngữ pháp Nhóm liên kết ngữ nghĩa bao gồm: phép lặp từ vựng, phép đối, phép thế, phép liên tưởng; còn nhóm liên kết ngữ pháp bao gồm: phép nối, phép tỉnh lược, phép lặp ngữ pháp và phép liên kết tuyến tính
Trong giao tiếp, văn bản đồng thời xuất hiện nhiều phương thức liên kết Mỗi một phương thức liên kết đều thực hiện chức năng liên kết văn bản;
Trang 7chúng có vai trò hết sức quan trọng trong việc thể hiện nội dung mạch lạc của văn bản
Trong quá trình nói và viết, người nói, viết đồng thời sử dụng những thủ pháp liên kết khác nhau “Người ta luôn chọn cho mình một cách nói tối ưu: đủ lượng mà vẫn đảm bảo tính hiệu quả giao tiếp” [Phạm Văn Tình 2002:24] Trong các phép liên kết, có phép tỉnh lược (hay còn gọi là phương thức rút gọn lâm thời) Muốn hiểu được các phát ngôn tỉnh lược, người ta phải thực hiện một trường liên tưởng phục hồi về ngữ nghĩa với các phát ngôn trước đó
Thuộc nhóm các văn bản được xây dựng theo mô hình mềm dẻo có tính chất thông dụng (theo cách phân chia văn bản thành mô hình nghiêm ngặt và mềm dẻo của Đinh Trọng Lạc), văn bản báo chí ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Đặc biệt trong đó, phóng sự được cho là một thể loại báo chí giàu chất văn học nhất so với các thể loại báo chí khác
Về phương diện nội dung, đặc điểm nổi bật nhất của phóng sự là nó có khả năng phản ánh hiện thực một cách có bề dày và chiều sâu dưới dạng một bức tranh nóng bỏng hơi thở của đời sống hiện thực với những con người và
sự việc xác thực Đồng thời, với tư cách là thể loại hạt nhân trong nhóm các thể ký báo chí, phóng sự còn gắn liền với phong cách tác giả, với sự xuất hiện trực tiếp của tác giả - nhân vật trần thuật trong tác phẩm, với cách viết linh hoạt trong bút pháp, giọng điệu và việc sử dụng ngôn ngữ sinh động, giàu hình ảnh Bên cạnh đó, trong các bài phóng sự thường sử dụng hàng loạt các phép liên kết một cách biến hoá để tạo nên tính mạch lạc cho tác phẩm và góp phần truyền tải thông điệp của tác giả
Bởi vậy, để tìm hiểu rõ hơn các mặt biểu hiện của một phép liên kết cụ thể, tác động đối với việc tạo nên giá trị của tác phẩm và hình thành nên
Trang 8phong cách tác giả, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khảo sát hiện tượng tỉnh lược ngữ dụng trong các bài phóng sự trên báo Hoa Học Trò 2! trong 2 năm 2008 - 2009”
2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát hoạt động của phương thức liên kết tỉnh lược trong các bài phóng sự (Cụ thể là khảo sát các bài phóng sự trên tạp chí Hoa học trò 2! (HHT2) trong 2 năm 2008 - 2009)
Chúng tôi khảo sát các biểu hiện đa dạng, phức tạp của các phát ngôn tỉnh lược xuất hiện trong các bài phóng sự và hoạt động của chúng trong văn bản Trên cơ sở thống kê các phát ngôn tỉnh lược, chúng tôi tìm hiểu tất cả các phương thức tỉnh lược và hoạt động của chúng trong văn bản, tìm hiểu tần số xuất hiện của từng dạng cụ thể trong những ngữ cảnh khác nhau (trên cứ liệu chúng tôi thu thập được)
Bằng kết quả thu nhận được, chúng tôi đưa ra những nhận xét, phân loại và mô tả hoạt động của từng phương thức cụ thể trong các phát ngôn tỉnh lược chúng có đa dạng, phong phú hay không; đồng thời tìm ra những đặc thù của phương thức liên kết tỉnh lược với tư cách là phương thức liên kết trong văn bản Thông qua đó, chúng tôi xem xét phương thức tỉnh lược có ảnh hưởng như thế nào đối với giá trị liên kết và ngữ nghĩa của văn bản, cũng như ảnh hưởng như thế nào đến quá trình tiếp nhận tác phẩm của độc giả
2.2 Ý nghĩa của đề tài
2.2.1 Ý nghĩa lý luận
Phương thức liên kết tỉnh lược là một trong những phương tiện liên kết liên câu trong văn bản tiếng Việt Việc đi sâu nghiên cứu những phương tiện
Trang 9liên kết này là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng trong việc nghiên cứu ngữ pháp văn bản Theo Trần Ngọc Thêm, hệ thống liên kết câu bao gồm liên kết từ vựng ngữ nghĩa và liên kết ngữ pháp Phương thức liên kết tỉnh lược là một trong những phương thức quan trọng trong quá trình tạo lập và tiếp nhận văn bản Thực tế trong quá trình tạo lập văn bản, phương thức liên kết này thể hiện rất phức tạp, đa dạng và linh hoạt
Chúng tôi hi vọng với những kết quả nghiên cứu của mình có thể đóng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu hiện tượng tỉnh lược trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, bổ sung thêm tư liệu và hi vọng đem lại cách nhìn mới hơn và lý thuyết văn bản, ngôn ngữ học văn bản và phân tích diễn ngôn Việc nghiên cứu phương thức liên kết này một cách có hệ thống là một việc làm hết sức cần thiết trong việc nghiên cứu ngữ pháp văn bản
2.2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Khảo sát hiện tượng tỉnh lược ở mức độ liên câu sẽ giúp chúng ta nhìn
ra các mặt biểu hiện của việc liên kết bằng phương thức tỉnh lược Trong giao tiếp hàng ngày, việc sử dụng hiện tượng tỉnh lược không chỉ mang giá trị liên kết các phát ngôn, mà còn đồng thời thể hiện những dụng ý diễn đạt ngữ nghĩa khác nhau của chủ đối thoại trong hiện thực giao tiếp
Nghiên cứu hiện tượng tỉnh lược đồng thời còn giúp cho việc dạy và học tiếng Việt trong nhà trường, nhất là các trường phổ thông Bên cạnh đó, việc nghiên cứu vấn đề này còn giúp hỗ trợ cho việc biên tập sách, trong cách tiếp cận ngôn ngữ và văn hoá
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hầu như trong ngôn ngữ nào cũng có hiện tượng tỉnh lược Vấn đề này
đã được các nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới quan tâm Tỉnh lược tồn tại dưới nhiều dạng tên gọi: câu rút gọn, câu đơn phần, câu tỉnh lược, câu
Trang 10đặc biệt, ngữ trực thuộc Ở Việt Nam, nghiên cứu hiện tượng này phải kể đến các tác giả như: Diệp Quang Ban, Cao Xuân Hạo, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Chí Hoà, Phan Mậu Cảnh, Phạm Văn Tình; các nhà nghiên cứu nước ngoài như: Galperin, M.A.K Halliday & R.Hasan, O.I Moskalskaija, Hướng nghiên cứu của các tác giả mới chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó, hoặc là nghiên cứu bước đầu chứ chưa đi sâu vào vấn đề này Đến năm 2001, tác giả Phạm Văn Tình trong luận án tiến sĩ của mình đã đi sâu nghiên cứu, xem xét hiện tượng tỉnh lược một cách quy mô và có hệ thống Hướng nghiên cứu nà
mở ra nhiều vấn đề mới trong việc tiếp cận hiện tượng tỉnh lược Tuy nhiên trong đó vẫn còn những khía cạnh, nhữn hướng khác nhau cần được mở rộng nghiên cứu hiện tượng tỉnh lược ở nhiều góc độ khác
Các nhà nghiên cứu đã có những kiến giải khác nhau về hiện tượng tỉnh lược Nhìn chung, hướng tiếp cận này được nhìn nhận theo hai xu hướng:
* Thứ nhất là quan niệm thuần tuý cú pháp điển hình như tác giả Nguyễn Kim Thản (1977), Hoàng Trọng Phiến (1980), Nguyễn Minh Thuyết (1988)
Nguyễn Kim Thản (1964) quan niệm: “Câu tỉnh lược là một loại câu
mà người ta có thể dựa vào hoàn cảnh mà khôi phục lại bộ mặt hoàn chỉnh của nó khác với câu một phần”
Nguyễn Kim Thản phân loại cấu trúc câu căn cứ chủ yếu vào thành phần của bản thân mỗi câu đang xét Khi câu bị khuyết, ông dựa vào chức năng ngữ nghĩa của câu để có thể phân loại thành các tiêu loại câu (câu đơn phần, câu danh xưng, câu đặc biệt)
Các tác giả sau này có quan niệm tương tự
Hoàng Trọng Phiến (1980) cho rằng: “Chủ ngữ hiểu ngầm hay là chủ ngữ rút gọn tương ứng với câu có chủ ngữ hiện diện Chủ ngữ rút gọn thường
Trang 11thấy trong các câu có nghĩa miêu tả tính chất và quá trình Chủ ngữ zero có trong câu có ý nghĩa tồn tại” [Hoàng Trọng Phiến 1980:115] Và tác giả cũng nói thêm rằng: “Những câu đơn phần thường do những vị từ đảm nhiệm”
Tuy nhiên, khi xem xét chúng, tác giả lại không đối chiếu về mặt ngữ nghĩa giữa các phát ngôn và gần như thoát li khỏi ngữ cảnh
* Khuynh hướng thứ hai là hướng coi các phát ngôn tỉnh lược thuộc kiểu riêng Các nhà ngôn ngữ học dựa vào tiêu chí phân loại cấu trúc cú pháp hoặc từ loại Theo hướng này, các tác giả xem xét các phát ngôn tỉnh lược trong cả chuỗi phát ngôn đang có mặt nhằm giải quyết triệt để mối liên hệ ngữ nghĩa giữa các phát ngôn Các tác giả theo khuynh hướng này lại phân chia thành 3 quan điểm chính:
- Nhóm thứ nhất gồm các tác giả như M.A.K Halliday, David Nunan, I.P Galperin, Diệp Quang Ban, chia các phát ngôn tỉnh lược thành ba tiểu loại chính:
- Nhóm thứ hai, đại diện là Cao Xuân Hạo (1991) cho rằng: Có hiện tượng tỉnh lược đưa đến loại câu chỉ có một phần thuyết trên bề mặt (câu không đề) Câu không đề không phải là loại câu đặc biệt Ông cũng cho rằng
Trang 12các phát ngôn tỉnh lược chính là các phát ngôn có chứa các ngữ đoạn hồi chỉ (hồi chỉ zero) Ông quan niệm “tỉnh lược không chỉ có tác dụng tiết kiệm” mà còn “thực hiện tính mạch lạc trong câu” và trong một tổ hợp câu”, “tránh lặp lại sự nặng nề của các ngữ đoạn cùng một sở chỉ thường có hại cho tính mạch lạc của văn bản” [Cao Xuân Hạo 1991: 198]
- Nhóm thứ ba, điển hình như tác giả Trần Ngọc Thêm (1985), xem xét tất cả những phát ngôn không hoàn chỉnh về cấu trúc là ngữ trực thuộc Những phát ngôn tỉnh lược nòng cốt (chủ ngữ, vị ngữ) được gọi là những ngữ trực thuộc tỉnh lược Ông là một trong những người để tâm nghiên cứu kỹ nhất hiện tượng tỉnh lược [Trần Ngọc Thêm 2002: 159-162, 185-204, 212-222] Ông không tán thành quan niệm coi phép tỉnh lược là hiện tượng thay thế bằng zero Ông nhấn mạnh đến chức năng liên kết với tên gọi “tỉnh lược liên kết” là chức năng chủ yếu của phép tỉnh lược Tuy nhiên khi đưa ra định nghĩa về tỉnh lược thì lại có sự mâu thuẫn trong chính quan niệm của ông
Các tác giả theo hướng nghiên cứu này, chia phép tỉnh lược làm ba loại:
+ Tỉnh lược chủ ngữ
+ Tỉnh lược vị ngữ
+ Tỉnh lược phức (tỉnh lược nhiều thành phần)
Phép tỉnh lược được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau Điều dễ dàng nhận thấy là các công trình nghiên cứu về phép tỉnh lược cũng như các phát ngôn tỉnh lược rất ít được miêu tả một cách tỉ mỉ
và nghiên cứu sâu Mỗi tác giả có một cách tiếp cận khác nhau do có sự khác biệt về quan điểm nhìn nhận, vì vậy đã đưa ra những kiến giải khác nhau
Trang 13Chỉ đến năm 2001, tác giả Phạm Văn Tình với đề tài “Phép tỉnh lược
và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản tiếng Việt” thì phép tỉnh lược thực
sự được nghiên cứu sâu và có quy mô, hệ thống Tuy nhiên khi nghiên cứu phép tỉnh lược trên nhiều bình diện, tác giả không thể bao quát được hết các ngữ liệu Chúng tôi lựa chọn đề tài “Khảo sát hiện tượng tỉnh lược ngữ dụng trong các bài phóng sự trên báo HHT2” với hi vọng đóng góp một phần nào
đó vào việc nghiên cứu phép tỉnh lược, góp thêm một cách hiểu khi tiếp cận vấn đề này, đồng thời qua đó thấy được vai trò của phép tỉnh lược đối với giá trị liên kết và ngữ nghĩa trong tác phẩm báo chí, và hiệu quả tác động tới sự tiếp nhận của độc giả
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn này của chúng tôi đặt vấn đề “Khảo sát hiện tượng tỉnh lược ngữ dụng trong các bài phóng sự trên báo Hoa học trò 2!” Đối tượng nghiên cứu của luận văn là khảo sát các chuỗi phát ngôn trong các bài phóng sự được đăng trên tờ báo này có liên quan tới hiện tượng tỉnh lược Các phát ngôn này được nối kết, kết hợp với nhau bởi nhiều yếu tố tạo nên cấu trúc ngữ nghĩa của các phát ngôn (ngữ cảnh, thời gian, không gian, mục đích, yếu tố văn hoá,
xã hội, )
Trong khuôn khổ luận văn và do hạn chế về mặt thời gian, chúng tôi mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát hiện tượng tỉnh lược ngữ dụng trong tư liệu
là các bài phóng sự được đăng trên báo HHT2 trong 2 năm 2008 - 2009
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài của chúng tôi tập trung miêu tả hoạt động của phương thức tỉnh lược trong văn bản, các dạng biểu hiện cụ thể và thông qua đó thể hiện giá trị liên kết và ngữ nghĩa của tác phẩm cũng như dụng ý nghệ thuật của tác giả
Trang 14Khảo sát đa dạng các bài phóng sự trên báo HHT2 trong 2 năm 2008 -
2009 nhằm trả lời câu hỏi: Mối quan hệ giữa chủ ngôn và lược ngôn được biểu hiện đa dạng như thế nào? Mức độ liên kết giữa chủ ngôn và lược ngôn? Vấn đề khôi phục các phát ngôn tỉnh lược trong văn bản? Điều này có ảnh hưởng như thế nào tới giá trị của tác phẩm và sự tiếp nhận của độc giả?
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi đã dùng các phương pháp sau:
- Phương pháp chung: Luận văn được thực hiện chủ yếu theo phương pháp quy nạp trên cơ sở thu thập, thống kê, miêu tả và phân tích tư liệu khảo sát Qua đó rút ra kết luận, đánh giá chung
- Phương pháp cụ thể:
+ Thu thập tư liệu:
Chúng tôi tiến hành đọc tư liệu, lập bảng thống kê tư liệu về các mặt: ngày tháng báo ra, tên bài phóng sự, các hiện tượng tỉnh lược xuất hiện trong bài phóng sự đó, phân loại phép tỉnh lược, vai trò của lược tố trong phát ngôn tỉnh lược
+ Xử lý tư liệu: chúng tôi sử dụng các phương pháp:
Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phương pháp phân tích cú pháp – ngữ nghĩa
Đồng thời, chúng tôi kết hợp với các thủ pháp đối chiếu và so sánh cấu trúc
7 Bố cục của luận văn
Cấu trúc của luận văn gồm các phần:
Phần mở đầu
Trang 15Phần nội dung: gồm 3 chương:
Chương 1: Một số cơ sở lý luận có liên quan Chương 2: Khảo sát các dạng thức tỉnh lược trong các bài phóng
sự trên báo Hoa học trò 2!
Chương 3: Giá trị liên kết và ngữ nghĩa của các phát ngôn tỉnh
1.1 Khái niệm câu, phát ngôn, văn bản, diễn ngôn, ngữ trực thuộc (NTT)
1.1.1 Phát ngôn
Lâu nay, người ta coi câu là đơn vị cao nhất, đơn vị thực hiện chức năng thông báo Định nghĩa về câu được xác định theo 3 tiêu chí:
Trang 16- Có nghĩa hoàn chỉnh hoặc “tương đối” hoàn chỉnh (tiêu chí nội dung);
- Được cấu tạo theo những mô hình nhất định với nòng cốt là cấu trúc Chủ - Vị (tiêu chí cấu trúc);
- Có những dấu hiệu hình thức nhất định như ngữ điệu, dấu câu
Một số tác giả có những cách gọi khác nhau Chẳng hạn, V.A Beloshapkova [1977:182] nói đến cấu trúc ngữ nghĩa, tổ chức hình thức và tổ chức giao tiếp V.A.Kochergina [1976:163-164] nói về tính độc lập giao tiếp, tính vị thể và tính tình thái Tác giả Hoàng Trọng Phiến đề cập đến sự biểu hiện tư tưởng, sự trọn vẹn về ngữ pháp và hoàn chỉnh về ngữ điệu [Hoàng Trọng Phiến 1980:19]
Một số tác giả khác khi đề cập đến câu, chỉ nói đến hai dấu hiệu mặc dù
họ đã nhập tiêu chí thứ nhất và thứ hai thành dấu hiệu ngữ nghĩa - cấu trúc (có khi gọi là “tính vị thể” [Vinogadov 1955:270], [Nguyễn Kim Thản 1964], hoặc nhập tiêu chí thứ hai và thứ ba thành một tiêu chí nói chung
Vậy tại sao khi nói đến phát ngôn, các nhà nghiên cứu lại đề cập đến câu? Giữa câu và phát ngôn có mối quan hệ như thế nào? Quan điểm phổ biến, người ta coi phát ngôn là câu được hiện thực hoá trong ngữ cảnh, còn câu là thực thể trừu tượng Dùng thuật ngữ phát ngôn là phù hợp hơn cả
Phát ngôn [ Phạm Văn Tình, Ngữ học trẻ 97: 95] là “một hoặc một chuỗi từ mà trong lời nói nó được giới hạn bằng hai quãng ngắt và trên chữ viết nó được giới hạn bằng hai dấu chấm hoặc các dấu tương đương”
1.1.2 Văn bản và diễn ngôn
Trong thực tế, văn bản (text) và diễn ngôn (discours) là hai khái niệm
có thể được sử dụng thay thế và phân biệt lẫn nhau Văn bản (text) gắn với các thuật ngữ liên kết văn bản, ngữ pháp văn bản, ngôn ngữ học văn bản,
Trang 17Diệp Quang Ban là người để tâm nghiên cứu vấn đề này Ông đã dẫn chứng chi tiết những quan niệm khác nhau về văn bản như sau:
L Hjemslev (1953): “Văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc đoạn”
W Koch (1968): “Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất
kỳ có kết thúc và có liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp”
R Harwey (1968): “Văn bản là chuối nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc diện (trục ngang và trục dọc)”
Bather (1970): “Văn bản là một đoạn lời nói hữu tận bất kỳ, tạo thành một thể thống nhất xét từ phương diện nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này”
Theo W Dressler (1970): “Trong thời đại chúng ta mọi người thừa nhận rằng đơn vị cao nhất, ít lệ thuộc nhất không phải là câu mà là văn bản”
M.A.K Halliday (1960) nhấn mạnh: “Đơn vị cơ bản khi chúng ta sử dụng ngôn ngữ không phải là từ hay câu mà là văn bản”
Nghiên cứu về văn bản, H Harman đến năm 1965 đã cụ thể hơn ý tưởng của Halliday, tác giả cho rằng: “Các ký hiệu ngôn ngữ chỉ bộc lộ mình chừng nào chúng ta là những cái gắn bó với nhau trong văn bản Mọi người dùng ngôn ngữ chỉ nói bằng các từ và bằng các câu, ít ra cũng bằng các câu làm thành từ các từ nằm trong văn bản”
Năm 1966, Wenrich lại bổ sung một nhân tố mới quan trọng trong quan niệm văn bản, đó là nhân tố tình huống: “Bình thường chúng ta không nói
Trang 18bằng các từ rời rạc mà bằng các câu và các văn bản, và lời nói của chúng ta xây dựng trên tình huống”
Chính vị trí quan trọng của văn bản mà nó trở thành đối tượng của ngôn ngữ học và là cơ sở thúc đẩy hình thành môn học mới trong ngôn ngữ học đó
là ngôn ngữ học văn bản Vậy văn bản là gì và thực chất đối tượng của nó được thể hiện như thế nào? Tại sao khi nghiên cứu văn bản người ta lại đề cập đến thuật ngữ diễn ngôn?
Trần Ngọc Thêm (1985): “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một
hệ thống mà tỏng đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan
hệ và liên hệ ấy” Ông khẳng định: “diễn ngôn mới là ký hiệu giao tiếp chứ không phải là câu” [Trần Ngọc Thêm 1985:11] Và ông chứng minh “câu là các ký hiệu giao tiếp ở bậc cao nhất”, “Các lý luận ngôn ngữ học xây dựng trong khuôn khổ câu đã phải trả một giá đắt; chúng ngày càng bộc lộ những hạn chế và bất lực của mình trước những nhu cầu của lý luận và thực tiễn”
Do vậy việc chuyển đối tượng từ câu/ phát ngôn sang diễn ngôn chúng ta mới thấy rõ tính giao tiếp của ngôn ngữ Đó là sự kết hợp của một loạt các yếu tố nội dung sự kiện, các tham tố cũng như là mối quan hệ giữa các tham tố trong
sự tình đó và phương tiện được sử dụng để chuyển tải một nội dung nào đó sẽ mang lại các giá trị giao tiếp khác nhau
Thuật ngữ diễn ngôn (còn được gọi là diễn từ, ngôn bản, ngôn phẩm) thường được hiểu là một chuỗi phát ngôn được hiện thực trong giao tiếp bằng lời Trên cơ sở đó diễn ngôn còn là đối tượng nghiên cứu của lý thuyết hội
Trang 19thoại Bởi vì nhân tố hội thoại và các nhân tố đơn thoại đã tham gia, hoà trộn vào nhiều văn bản
Beller (1971) cho rằng: “Diễn ngôn là chuỗi liên tục những phát ngôn
S1, Sn trong đó việc giải thuyết nghĩa của mỗi phát ngôn Si (với 2 ≤ i ≤ n) là thuộc vào sự giải thuyết những phát ngôn trong chuỗi S1, Si-1 Nói cách khác
sự giải thuyết thoả đáng một phát ngôn tham gia diễn ngôn đòi hỏi phải biết ngữ cảnh đi trước”
Crystal [1922:25] nhìn nhận diễn ngôn là “Một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc” và “Văn bản là một đoạn diễn ngôn nói hay viết, hoặc thể hiện ở dạng ký hiệu, sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích” Tuy nhiên, Crystal chưa phân biệt được sự khác nhau giữa hai khái niệm này
Tác giả Diệp Quang Ban trong nghiên cứu của mình đã khẳng định:
“Đồng thời với quá trình đưa văn bản vào vị trí đối tượng của ngôn ngữ học
và tiếp sau đó một loạt định nghĩa về văn bản đã xuất hiện Số lượng các định nghĩa đã nhanh chóng lớn lên đến mức không thể dễ dàng kiểm điểm được Đằng sau các định nghĩa là các quan niệm, những cách hiểu khác nhau về đối tượng ngôn ngữ học mới mẻ này” Đồng thời ở đây tác giả cũng toongrhowpj một cách ngắn gọn và khá đầy đủ các quan niệm khác nhau về văn bản được
đề cập trong ngôn ngữ học bắt đầu từ L Hjemslev (1953)
Cuối cùng, tác giả giới thiệu định nghĩa trích ra trong một bách khoa thư gần đây nhất, nó được cho là có tính khái quát cao, bao gồm được nhiều quan niệm về văn bản cho đến nay Theo định nghĩa này thì “Văn bản: (1) Một quãng ngắt hay phát ngôn lớn hay nhỏ mà do cấu trúc, đề tài - chủ đề của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường (2) Văn học: trước hết được coi như một tài
Trang 20liệu viết, thường đồng nghĩa với sách (3) Trong phân tích diễn ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho ngôn ngữ nói hoặc diễn ngôn dùng bao gồm cả văn bản”
Thường thì trong những sản phẩm ngôn ngữ viết, và sản phẩm ngôn ngữ nói có mạch lạc nếu ở giai đoạn đầu (giai đoạn của “các ngữ pháp văn bản”) được gọi chung là văn bản Còn ở giai đoạn thứ hai (sau ngữ pháp văn bản) ứng với những năm 80, 90 của thế kỉ XX thì xu hướng dùng văn bản để chỉ sản phẩm ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ nói Hiện nay, diễn ngôn có xu hướng được dùng như tên gọi chung cho các sản phẩm ngôn ngữ nói và viết
Trong thực tế, sự phân biệt giữa văn bản và diễn ngôn không hề đơn giản, thậm chí để rõ ràng cần có những cách nhìn khác nữa coi văn bản là sản phẩm, diễn ngôn là quá trình (Brown & Jule (1983), Halliday (1985))
1.1.3 Câu và ngữ trực thuộc (NTT)
Trong vấn đề nghiên cứu về câu đã có nhiều quan niệm khác nhau Các hướng nghiên cứu chính về vấn đề này có thể quy vào hai hướng chính sau đây:
- Hướng định nghĩa câu dựa vào mặt nghĩa
- Hướng định nghĩa theo quan điểm ngữ pháp duy lí, dựa vào hành động phát ngôn, mặt hình thức và hành động giao tiếp
Tuy nhiên, vào những năm cuối thế kỉ XX, các nhà ngữ pháp học đã nhận thấy những hạn chế của các nhà nghiên cứu khi định nghĩa về câu chỉ dựa vào một trong hai mặt quan trọng hoặc ý nghĩa hoặc hình thức Chính vì vậy họ đã đi theo hướng nghiên cứu mới là nghiên cứu dựa vào cả hai tiêu chí
là hình thức và ý nghĩa Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: Diệp Quang
Trang 21Ban, Lê Cận, Hồ Lê, Đỗ Thị Kim Liên, Hoàng Trọng Phiến, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Văn Thung,
Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Lê Xuân Thại, Diệp Quang Ban, Hoàng Trọng Phiến cho kết cấu chủ - vị là nòng cốt của câu
Diệp Quang Ban cho rằng: “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp bên trong và bên ngoài tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc người truyền đạt tư tưởng, tỉnh cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ”
Tác giả Hoàng Trọng Phiến có đưa ra định nghĩa về câu: “Với tư cách một đơn vị bậc cao của hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là ngữ tuyến được hình thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định, là phương tiện diễn đạt, biểu hiện
tư tưởng về thực tế và về thái độ của người nói đối với hiện thực” Trong định nghĩa này, câu có thuộc tính trọn vẹn Câu biểu hiện vị tính [Hoàng Trọng Phiến 1980:19]
Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp cho rằng câu có ba thành phần là C - V - B (Chủ ngữ - Vị ngữ - Bổ ngữ)
Cao Xuân Hạo cho cấu trúc câu bao gồm Đề + Thuyết, phân loại câu theo cấu trúc thông báo
Định nghĩa về câu của Uỷ ban Khoa học xã hội: “Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn là dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo;
nó có ý nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp”
Câu và phát ngôn có các tiêu chí xác định rõ ràng Chúng tôi lấy tiêu chí quan niệm câu/ phát ngôn có cấu trúc Chủ - Vị để áp dụng vào phân tích
Trang 22phát ngôn và như vậy, câu là một phát ngôn có “cấu trúc hoàn chỉnh, diễn đạt một nội dung thông báo trọn vẹn” Nói như nhiều nhà nghiên cứu tức là “câu phải có tính vị ngữ”
Tuy nhiên, câu không chỉ có tính vị ngữ mà còn có tính tình thái Vì khi đưa vào hiện thực giao tiếp, vào trong ngôn cảnh, giá trị thông báo của nó bắt đầu
có hiệu lực Theo E Benveniste [1966:313]: “Tính tình thái được xác lập theo quan điểm của người nói Nó phản ánh vị trí của người nói với tư cách là chủ thể của hành vi phát ngôn và là sự biểu hiện về sự có mặt của người nói” Tính vị ngữ là căn cứ quan trọng để đánh giá các phát ngôn xuất hiện trong giao tiếp Nếu các phát ngôn bị triệt tiêu tính vị ngữ, rõ ràng chúng chưa có một cấu trúc hoàn chỉnh Chúng tồn tại lệ thuộc vào các phát ngôn khác, trong
đó có ít nhất một phát ngôn độc lập (câu tự nghĩa) Đó chính là các ngữ đoạn trực thuộc Có thể hình dung phát ngôn gọi là câu với phát ngôn gọi là ngữ trực thuộc theo sơ đồ sau:
Trang 23Sơ đồ 1.1 [Phạm Văn Tình 2002:55]
Theo Trần Ngọc Thêm, “ngữ trực thuộc là phát ngôn không hoàn chỉnh
về cấu trúc” Hơn nữa, nó lệ thuộc vào cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa của phát ngôn tự nghĩa đứng làm tiền đề Và do vậy, các phát ngôn trực thuộc có chức năng liên kết vô cùng chặt chẽ với chủ ngôn
1.2 Mạch lạc và liên kết trong văn bản
1.2.1 Mạch lạc trong văn bản
Khái niệm mạch lạc đến nay vẫn có nhiều cách hiểu Đã có nhiều quan niệm khác nhau về mạch lạc Vì vậy để nhận biết tính mạch lạc của văn bản không phải là điều dễ dàng Có nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến hiện tượng này Việc đưa lý thuyết mạch lạc vào nghiên cứu phân tích văn bản nói chung giúp ích rất nhiều cho việc lĩnh hội văn bản với tư cách là một chỉnh thể nghệ thuật
Các nhà nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu
về vấn đề này xuất phát từ những phương diện khác nhau Mỗi quan niệm lại
có một cách hiểu riêng Trước hết, chung tôi xin điểm lại một vài quan điểm
về mạch lạc từ trước đến nay
1.2.1.1 Quan điểm về mạch lạc của các nhà nghiên cứu nước ngoài
David Nunan cho mạch lạc là “cái tầm rộng mà ở đó các lời nói được tiếp nhận là có mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu nói có liên quan với nhau Trong cách xác định mạch lạc này, “tầm rộng” như là một
Trang 24quãng nào đó, có thể là toàn bộ văn bản, có thể là một phần của văn bản, có thể là một chuỗi câu nối tiếp nhau “cố mắc vào nhau”
Theo M.A.K Halliday & R Hasan: “Mạch lạc được coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về một ngữ cảnh tình huống với những dấu nghĩa tiềm ẩn Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiết cho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản”
D Togeby lại cho rằng: Mạch lạc (coherence), hiểu một cách chung nhất là đặc tính của sự tích hợp văn bản, tức là cái đặc tính đảm bảo cho các yếu tố khác nhau trong văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết
Pergamon Press: “Mạch lạc là sự nối kết có tính chất logic được trình bày trong quá trình triển khai một cốt truyện, một truyện kể, lệ thuộc vào việc tạo ra những sự kiện được nối kết với nhau hơn là những dâu liên hệ thuộc ngôn ngữ” (dẫn theo [Nguyễn Thị Thìn 2003: 44-45])
Garror Sanford: Xuất phát từ góc độ của người tạo lập văn bản thì cho rằng: “Một trong những mục tiêu của người viết có kinh nghiệm là làm cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản hoà kết lại với nhau một cách thích hợp để trở thành một chỉnh thể mạch lạc hoàn chỉnh Đặc trưng kết hợp mang tính văn này gọi là mạch lạc”
Đến lượt mình, Galperin đã đưa ra nhận xét về mạch lạc trong văn bản như sau: “Những phương tiện liệt kê của mạch lạc được xem là những phương tiện logic bởi vì chúng được sắp xếp vào những khái niệm logic triết học, những khái niệm về chuỗi liên tục, về quan hệ thời gian, quan hệ không gian, nhân quả Những phương tiện này được giải mã dễ dàng bởi vậy không kìm giữ được sự chú ý của người đọc, chỉ trừ những trường hợp muốn hoặc
Trang 25không muốn vẫn phát hiện ra sự tương ứng giữa các đơn vị đại diện được kết chuỗi với chính những phương tiện mạch lạc”
Galperin đã hệ thống hoá một số dạng thức của mạch lạc trong văn bản nghệ thuật như: mạch lạc liên tưởng, mạch lạc hiện tượng, mạch lạc bố cục - kết cấu, mạch lạc tu từ, mạch lạc tiết điệu,
Như vậy, Galperin khẳng định: “Mạch lạc là một phạm trù đặc trung cho văn bản và định nghĩa mạch lạc là những hình thức liên kết riêng biệt, đảm bảo thể liên tục (về thời gian hay không gian), sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ thể”
1.2.1.2 Quan điểm về mạch lạc của các nhà nghiên cứu trong nước
Liên quan đến việc nghiên cứu mạch lạc, các nhà nghiên cứu về vấn đề này ở Việt Nam chưa nhiều Người đầu tiên khởi xướng đó là Trần Ngọc Thêm với công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”, mặc dù tác giả không đề cập đến mạch lạc trong liên kết nội dung Ngoài ra còn phải kể đến
Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Thị Việt Thanh, Nguyễn Thị Thìn và một số luận văn tốt nghiệp của sinh viên, học viên cao học
Từ điển tiếng Việt phổ thông (Viện Ngôn ngữ học - NXB Tp Hồ Chí Minh) có định nghĩa về mạch lạc như sau: “Sự tiếp nối một trật tự hợp lý giữa các ý, các phần trong nội dung diễn đạt”
Đỗ Hữu Châu viết: “Một văn bản, một diễn ngôn hay một lập luận đơn phức bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào, tính lập luận là một sợi chỉ đỏ đảm bảo tính mạch lạc (coherence) về nội dung bên cạnh liên kết
về hình thức (cohesion)”
Trang 26Tác giả Bùi Minh Toán thì cho rằng : “Phương diện liên kết nội dung được nhận diện với tên gọi là mạch lạc, trong khi đó phương diện liên kết hình thức vẫn được gọi chung là liên kết Mạch lạc trong văn bản được thể hiện cụ thể ra thành sự thống nhất về đề tài, chủ đề và sự chặt chẽ về logic”
Khác với các định nghĩa mang tính hàn lâm, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 - tập 1 (Tài liệu sách giáo khoa thí điểm) định nghĩa như sau: “Văn bản cần phải mạch lạc Một văn bản mạch lạc là một văn bản mà chủ đề của nó được biểu hiện qua các bộ phận theo một trình tự rõ ràng, hợp lý; nhờ thế, người đọc, người nghe thấy dễ hiểu và hứng thú”
Diệp Quang Ban đưa ra quan điểm: “Cái nhìn chung nhất hiện nay là những từ ngữ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu, phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được xếp vào liên kết, còn những mối liên hệ nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc”
Nguyễn Thị Thìn trong bài viết về “Mạch lạc trong văn bản viết” có
đưa ra kiến giải như sau: “Mạch lạc được hiểu là logic của sự trình bày Logic
của sự trình bày có quan hệ chặt chẽ với logic khách quan, logic nhận thức nhưng không đồng nhất Bởi nó còn là kết quả của ý đồ, chiến lược giao tiếp của chủ thể tạo lập văn bản Nó còn được hình thành trong quan hệ với các quy tắc giao tiếp, với phong cách và thể loại văn bản Do vậy, người ta mới
có thể nói tới những nét đặc thù về mạch lạc của từng văn bản thuộc cùng thể loại” Đồng thời, tác giả cũng đưa ra những biểu hiện của mạch lạc trong văn bản viết bao gồm: sự thống nhất của chủ đề và đích giao tiếp của toàn văn bản, trình tự triển khai chủ đề văn bản đảm bảo tính hợp lí, những mối quan
hệ chặt chẽ giữa các thành tố nội dung của văn bản, giải pháp triển khai chủ
đề phù hợp với ý đồ giao tiếp và thể loại văn bản
Trang 27Mạch lạc không chỉ được tạo bởi quan hệ nội dung mệnh đề (nội dung phản ánh hiện thực khách quan) mà cả hệ nội dung dụng học (nội dung bộc
lộ, nội dung hành động, ) của các thành tố tạo nên văn bản ở tầng nghĩa cụ thể trực tiếp và ở cả tầng nghĩa sâu hàm ẩn
Đối với những văn bản nghệ thuật, bên cạnh những thành tố nội dung thường được trình bày theo trật tự trước sau (như sự kiện thời gian) bằng những khúc đoạn lời nói kế tiếp, còn những thành tố được trình bày theo lối đan xen khá phức tạp (như nhân vật văn học, hình tượng cảm xúc, ) Khi xác định mạch lạc văn bản không thể bỏ qua những mối quan hệ đa dạng này
Theo cách hiểu mạch lạc như trên thì khái niệm liên kết chủ đề, liên kết logic (của Trần Ngọc Thêm) giữa các câu, các đoạn trong văn bản là một trong những biểu hiện của mạch lạc
*Nhận xét: Qua những kiến giải về mạch lạc từ đơn giản đến phức tạp,
từ cụ thể đến khái quát, chúng ta nhận thấy rằng có thể nhận biết mạch lạc ở nhiều góc độ khác nhau Và tựu chung có thể quy về những điểm chính sau:
- Mạch lạc là liên kết nội dung giữa các phát ngôn
- Mạch lạc là phần bổ sung cho liên kết, phân biệt với chuỗi phát ngôn hỗn độn Mạch lạc xác định tư cách “chất văn bản” của chuỗi phát ngôn
- Mạch lạc bao trùm lên liên kết nội dung giữa các phát ngôn
1.2.2 Liên kết trong văn bản
Liên kết là hình thức dễ nhận biết nhưng mỗi tác giả lại có một cách hiểu khác nhau
* Tác giả Trần Ngọc Thêm xuất phát từ quan niệm về hệ thống của nhà
ngôn ngữ học V.M Solnsev thuộc trường phái cấu trúc luận ngôn ngữ học Leningrad., cho rằng các yếu tố trong hệ thống ngôn ngữ liên hệ với nhau qua
Trang 28hai loại quan hệ cơ bản là quan hệ dọc và quan hệ ngang (quan hệ ngang: quan hệ tuyến tính; quan hệ dọc: quan hệ liên tưởng) Từ đó, tác giả phân chia liên kết trong văn bản thành liên kết hình thức và liên kết nội dung:
- Liên kết hình thức gồm có: phép lặp, phép đối, phép thế, phép nối, phép liên tưởng, phép tuyến tính và phép tỉnh lược
- Liên kết nội dung gồm có:
+ Liên kết chủ đề (có duy trì chủ đề và triển khai chủ đề) + Liên kết logic (ở cấp độ từ và cấp độ câu)
Tuy nhiên, theo tác giả thì phương diện liên quan trực tiếp đến liên kết hình thức giữa câu với câu là phương diện nghĩa và việc phân loại các câu trong văn bản là một việc làm cần thiết vì nó liên quan đến nhiệm vụ mô tả liên kết hình thức Theo đó, các câu được phân loại thành Câu tự nghĩa, Câu hợp nghĩa và Ngữ trực thuộc (NTT) Các phép liên kết hình thức cũng được chia thành ba loại ứng với khả năng hoạt động của chúng trong 3 loại câu trên:
- Các phương thức liên kết dùng chung cho cả 3 loại câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa và NTT
- Các phương thức liên kết hợp nghĩa: dùng cho loại câu hợp nghĩa và NTT
- Các phương thức liên kết trực thuộc: chỉ dùng cho loại NTT
Liên kết nội dung thể hiện bằng hệ thống các phương thức liên kết hình thức, và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung
* Halliday cùng với những nhà nghiên cứu khác theo quan điểm phi
cấu trúc tính coi các yếu tố nằm trong quan hệ dọc là hệ thống, còn những yếu
tố nằm trong quan hệ ngang có tính chất phụ thuộc, đồng hiện trong văn bản
Trang 29là thuộc về cấu trúc và bản thân cấu trúc đã mang tính liên kết rồi (Dẫn theo Diệp Quang Ban) Vì vậy, quan điểm này chỉ tính đến các phương diện hình thức tạo liên kết, trên cơ sở đó mà phân chia các phương tiện liên kết “Những hiện tượng thuộc về liên kết nội dung không được đặt ra thành đối tượng xem xét trực tiếp bởi lẽ chúng không có các yếu tố ngôn ngữ đánh dấu làm thành những hệ thống có tính chất xác định Hơn nữa, cách liên kết không dùng từ ngữ đánh dấu cũng gặp giữa các hành động nói”
I.O Moskalskaja trong cuốn Ngữ pháp văn bản khẳng định: “Tính liên kết của văn bản không phải là hiện tượng thuần tuý Nó đồng thời được thể hiện dưới dạng hoàn chỉnh về cấu trúc, nghĩa và giao tiếp, những yếu tố này tương ứng với nhau như hình thức, nội dung và chức năng”
Cùng bàn về thuộc tính của liên kết, tác giả Trần Ngọc Thêm nhấn mạnh: “Tính liên kết chính là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng biến một chuỗi câu trở thành một văn bản Không phải vô cớ mà thuật ngữ “văn bản” trong các ngôn ngữ Ấn - Âu là bắt nguồn từ chữ La tinh “textum” có nghĩa là
“sự liên kết” [Trần Ngọc Thêm 1999:27]
* Nhận xét: Như vậy, liên kết là một hình thức dễ nhận biết nhưng mỗi
tác giả lại có một cách hiểu khác nhau Cho đến nay,những cách hiểu này có tác động không nhỏ tới quá trình nghiên cứu Có thể khái quát thành hai quan điểm chính sau đây:
Quan niệm thứ nhất xuất hiện ở giai đoạn “các ngữ pháp văn bản” coi liên kết văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Và liên kết được khai thác ở mặt các phương tiện hình thức lẫn phương diện ý nghĩa
Quan niệm thứ hai (ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XX), liên kết không thuộc về cấu trúc ngôn ngữ Chỉ có các phương tiện hình thức của ngôn ngữ thực hiện chức năng liên kết mới thuộc liên kết Do đó, liên kết không
Trang 30giữ vai trò yếu tố quyết định cái “là văn bản” của sản phẩm ngôn ngữ Cái đó
là mạch lạc (coherence) hay tính văn bản (textuality)
Tình trạng không có mối quan hệ một đối một giữa mặt hình thức từ ngữ với mặt nghĩa trong văn bản kéo theo sự phân biệt mạch lạc với liên kết trong văn bản Mạch lạc ngày nay đã trở thành trung tâm chú ý trong việc tạo nên tính thống nhất đề tài - chủ đề và chức năng của văn bản Liên kết được coi là thuộc vào số các phương tiện hình thức hỗ trợ cho việc tạo tính mạch lạc, nhưng không phải theo kiểu “một đối một”, vì những câu mạch lạc với nhau không nhất thiết phải liên kết với nhau về mặt hình thức; còn những câu
có liên kết hình thức vẫn có thể không mạch lạc với nhau
1.3 Báo Hoa Học Trò 2! và tính liên kết trong các văn bản phóng sự
Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò quan trọng trong đời sống, đặc biệt trong xã hội hiện đại với sự phát triển vượt bậc về mọi mặt kinh tế, văn hóa, công nghệ, kỹ thuật,… Ngoài chức năng cung cấp
và phản ánh thông tin nhanh chóng, kịp thời, báo chí còn góp phần trong công tác tuyên truyền và hướng dẫn dư luận Bởi vậy, Nhà nước ta đã coi báo chí là
“cơ quan quyền lực thứ tư” sau Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp
Báo chí hiện đại có sự phát triển phong phú về thể loại để đáp ứng nhu cầu truyền tải nhiều loại thông tin khác nhau và bắt kịp trình độ nhận thức, hiểu biết ngày càng cao của công chúng Trong đó, thể loại phóng sự đang dần tỏ rõ những ưu thế của mình trong việc phân tích và đánh giá có chiều sâu các vấn đề được dư luận quan tâm, chú ý
Ra đời từ năm 2002, báo Hoa Học Trò 2! (chuyên san của báo Hoa Học Trò) đã trở thành một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với đông đảo bạn đọc trẻ tuổi bởi sự năng động, hiện đại và những sáng tạo riêng độc đáo thể hiện trong nội dung cũng như cách thức trình bày Đặc biệt, chuyên mục
Trang 31Phóng sự luôn là một phần hấp dẫn thu hút sự quan tâm theo dõi không những của các bạn học sinh, sinh viên mà cả các các bậc phụ huynh
Cũng như các loại văn bản khác, phóng sự trên báo HHT2! cũng mang những đặc trưng chung nhất của một văn bản Đó là đặc trưng về:
- Tính chỉnh thể: thể hiện ở sự trọn vẹn về mặt nội dung và hoàn chỉnh
về mặt hình thức thể hiện Mỗi phóng sự ở đây luôn chứa đựng một nội dung trọn vẹn về một vấn đề cụ thể được thể hiện trong một kết cấu hoàn chỉnh
- Mục đích giao tiếp: bất kỳ văn bản nào cũng phải có mục đích giao tiếp của mình Mục đích của hầu hết phóng sự trên báo HHT 2! là nêu lên một vấn đề, một hiện tượng nóng hổi đang được quan tâm trong xã hội, phân tích thực trạng, những ưu, khuyết điểm của nó, từ đó dẫn đến thay đổi trong nhận thức và hành vi của mọi người, đặc biệt là giới trẻ
- Tính liên kết: tính liên kết trong văn bản phóng sự trên báo HHT2! thể hiện ở mối quan hệ chặt chẽ giữa các câu trong văn bản, tức là có sự tham gia của các hình thức, phương tiện liên kết nhằm duy trì chủ đề của văn bản Đây
là cơ sở tạo nên tính chỉnh thể của văn bản Đồng thời tính liên kết cũng nhằm thể hiện chủ đề và mục đích giao tiếp của văn bản
Thêm nữa, với tư cách là văn bản báo chí, phóng sự trên báo HHT2! còn chứa đựng một loạt các tính chất của ngôn ngữ báo chí như: Tính chính xác, Tính cụ thể, Tính đại chúng, Tính ngắn gọn, Tính định lượng, Tính bình giá, Tính biểu cảm, Tính khuôn mẫu Trong đó, tính ngắn gọn là một trong những đặc trưng quan trọng Ngôn ngữ báo chí cần phải ngắn gọn, súc tích
Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc, người nghe, chưa kể đến việc viết dài dễ mắc nhiều dạng lỗi khác nhau, nhất là các lỗi về sử dụng ngôn từ
Trang 32Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi quan tâm tới tính liên kết và tính ngắn gọn trong việc thực hiện Mục đích giao tiếp và tạo dựng Tính chỉnh thể của các bài phóng sự trên báo HHT2! Đây chính là tiền đề cho việc sử dụng phương thức tỉnh lược một cách phổ biến trong các văn bản này, bởi lẽ phép tỉnh lược đáp ứng yêu cầu về việc thể hiện tính liên kết và tính ngắn gọn, đồng thời giúp nêu bật đặc trưng ngôn ngữ độc đáo của báo HHT2!: là
sự pha trộn giữa ngôn ngữ báo chí chính thống và ngôn ngữ “đời thường” đầy sinh động, gần gũi
1.4 Phép tỉnh lược với tư cách là phương thức liên kết văn bản (Cách nhận diện, định nghĩa)
Trong quá trình giao tiếp, con người luôn lựa chọn cho mình một cách nói tối ưu Trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, việc rút gọn (lược bỏ hay tỉnh lược) tiềm ẩn những dụng ý giao tiếp khác nhau Nếu xét trên phương diện hình thức cú pháp, chúng ta thấy rằng khi phát ngôn bị tỉnh lược (hay rút gọn, lược bớt thành phần) người ta thường có cảm giác câu thiếu cái gì đó Tuy nhiên chính những điều đó lại có tác dụng trong việc thể hiện ý đồ giao tiếp của chủ thể, đối tượng tham gia giao tiếp
Ngôn ngữ bao giờ cũng sử dụng phương thức tiết kiệm Tiết kiệm bằng cách lược bớt thành phần có trong cấu trúc hay mạch thông báo, tiết kiệm mà vẫn đảm bảo đầy đủ lượng thông tin, ngữ nghĩa thông báo Tỉnh lược diễn ra
ở nhiều đơn vị ngôn ngữ, nhất là các phát ngôn/ câu Ngắn gọn mà vẫn đủ ý là một trong những yêu cầu quan trọng của bất kỳ thông báo nào Trong ngôn ngữ, hiện tượng rút gọn có 4 phương thức, đó là: Rút gọn từ ngữ (Contraction), Viết tắt (Abbreviation), Thay thế bằng đại từ (Pronouns), và Tỉnh lược (Ellipsis)
Trang 33Theo tác giả Phạm Văn Tình, bốn phương thức trên được quy về hai
phương thức chính, đó là sự rút gọn (reduction) và sự tỉnh lược (ellipsis)
Điều phức tạp nhất đó là hiện tượng tỉnh lược (ellipsis)
Khái niệm phần dư, thiếu được giải quyết như thế nào đó là một trong những nhiệm vụ mà phép tỉnh lược quan tâm
* Định nghĩa phép tỉnh lƣợc
Tỉnh lược được coi là hiện tượng rút gọn văn bản Đó là hiện tượng loại bớt các thành phần trong phạm vi cú pháp và rộng hơn là ngôn bản
Mỗi phát ngôn “chỉ có giá trị khi nó được đưa vào giao tiếp, nơi mà ở
đó nó được “tình thái hoá” để phục vụ cho ý đồ giao tiếp của người nói, thể hiện rõ hiệu lực giao tiếp” [Phạm Văn Tình 2002:28] Chính ở đây các yếu tố tình thái, ngữ nghĩa, ngữ dụng chi phối phép tỉnh lược Chúng ta biết rằng, đặc trưng ngôn ngữ tiếng Việt trật tự từ đóng vị trí rất quan trọng trong việc thể hiện các phạm trù ngữ pháp, nên các dạng thể hiện của phép tỉnh lược rất
đa dạng Vì vậy, khi phân tích phải căn cứ vào nhiều bình diện, nhiều cách thức khác nhau Mục đích cuối cùng là chỉ ra được ngữ nghĩa của cả chuỗi phát ngôn (văn bản) Nhưng để nhận diện nó không phải là một công việc dễ dàng
Văn bản không phải là sự kết hợp ngẫu nhiên giữa các phát ngôn mà giữa chúng có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, có tổ chức, có hệ thống để làm nên ngữ nghĩa thông báo Muốn chỉ ra được những mục đích, ý nghĩa đó chúng ta phải căn cứ vào những nhân tố chi phối, quyết định sự tồn tại của các ngữ đoạn (sản phẩm của phép tỉnh lược) Làm được điều này không phải
là công việc dễ dàng Bởi “chỉ ra được bản chất của sự liên kết giữa các phát ngôn trên văn bản và lần lượt phân lập chúng, tìm cho ra các trường hợp tỉnh
Trang 34lược văn bản” ngoài việc dựa trên bề mặt câu chữ, chúng ta còn phải căn cứ rất nhiều vào những nhân tố chi phối
Vì vậy, trên nhiều bình diện, có thể hiểu “Phép tỉnh lược văn bản là
một dạng tỉnh lược xảy ra giữa các phát ngôn, là sự lược bỏ các yếu tố mà người đọc có thể hiểu được nhờ mối liên hệ giữa các phát ngôn trong một phạm vi ngữ cảnh xác định (ngữ cảnh cần và đủ)” [Phạm Văn Tình 2002:31-
Để miêu tả một cách chuẩn xác, chúng tôi chỉ xét các trường hợp tỉnh lược trong ngữ cảnh cần và đủ Ngữ cảnh cần và đủ là ngữ cảnh rộng, nhờ đó
mà chúng tôi có thể phục hồi các quan hệ liên tưởng ngữ nghĩa của phép tỉnh lược
* Các nhân tố, điều kiện cho phép thực hiện hiện tƣợng tỉnh lƣợc
Văn bản không phải là phép cộng đơn thuần của các phát ngôn mà các chuỗi phát ngôn/ câu có sự tổ chức, cố kết chặt chẽ với nhau để làm nên cấu trúc thông báo Mục đích cuối cùng là chúng ta phải tìm ra ngữ nghĩa của cả chuỗi phát ngôn Muốn thực hiện được điều này, chúng ta phải xem xét chúng trong mối liên hệ liên ngữ nghĩa dựa vào một loạt các yếu tố cấu thành trong quan hệ cú pháp
Theo tác giả Phạm Văn Tình, có thể chỉ ra một loạt các yếu tố cho phép thực hiện phép tỉnh lược trên văn bản như:
Trang 351 Ngữ cảnh giao tiếp;
2 Có mối liên hệ logic - ngữ nghĩa;
3 Ý đồ và chiến lược giao tiếp
Để miêu tả và phân tích vai trò cũng như giá trị biểu hiện của phép tỉnh lược văn bản, phải kết hợp nghiên cứu đồng thời các nhân tố tham gia vào quá trình tạo lập phát ngôn Mục đích chúng tôi khảo sát và miêu tả hiện tượng tỉnh lược trong các bài phóng sự trên báo HHT2 cũng không nằm ngoài việc nghiên cứu các phương diện này
1.5 Tiểu kết
1.4.1 Tỉnh lược là một hiện tượng lược bỏ các ngữ đoạn ở cấp độ phát ngôn trong giao tiếp Nó có thể xảy ra trong nội bộ bản thân mỗi phát ngôn hoặc giữa các phát ngôn với nhau Phép tỉnh lược mà chúng tôi xem xét trong
đề tài luận văn này là phép tỉnh lược giữa các phát ngôn với nhau Xem xét ở mức độ liên câu Đó là phép tỉnh lược liên kết
1.4.2 Việc phục hồi các phát ngôn tỉnh lược căn cứ vào một thao tác liên tưởng phục hồi các cấu trúc giả định của phép tỉnh lược, nhằm xác lập mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các phát ngôn Điều này được mô tả trong chương 3 của luận văn
1.4.3 Mô tả hoạt động của phép tỉnh lược đó là mục đích của chúng tôi trong đề tài này, nhằm tìm ra mối liên hệ ngữ nghĩa giữa các phát ngôn tỉnh lược Các lý luận liên quan tới hướng nghiên cứu của vấn đề là căn cứ để chúng tôi đối chiếu và triển khai thực hiện các nhiệm vụ, định hướng tiếp cận vấn đề của mình
Trang 36
CHƯƠNG 2: CÁC DẠNG THỨC TỈNH LƯỢC TRONG CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO HOA HỌC TRÒ 2!
2.1 Đặt vấn đề
Ở chương 2 này, chúng tôi chủ yếu nghiên cứu các dạng thức (cấu trúc) tỉnh lược trong các bài phóng sự Trong đó, chúng tôi thấy phổ biến nhất là dạng thức tỉnh lược mạnh: tỉnh lược chủ ngữ, tỉnh lược vị ngữ, tỉnh lược chủ ngữ - vị ngữ, tỉnh lược vế đầu của nòng cốt qua lại… và dạng thức tỉnh lược yếu Khảo sát 44 bài phóng sự trên báo Hoa học trò trong hai năm 2008 và
2009, chúng tôi thu được 492 ngữ liệu Qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy dạng thức tỉnh lược chiếm ưu thế hơn cả trong các bài phóng sự là tỉnh lược mạnh, mà chủ yếu là tỉnh lược chủ ngữ (cụ thể sẽ được chúng tôi trình bày trong chương 2 này)
Với tư liệu khảo sát được đó, chúng tôi định hướng tập trung phân tích hiện tượng tỉnh lược các thành phần chính của dạng thức tỉnh lược mạnh như: tỉnh lược chủ ngữ, tỉnh lược vị ngữ, tỉnh lược chủ ngữ - vị ngữ
2.2 Cơ sở của phép tỉnh lược
2.2.1 Ngữ cảnh cần và đủ
2.2.1.1 Khái niệm ngữ cảnh
Gillian Brown - George Yule [9] dùng thuật ngữ "ngữ cảnh" (Context)
và ngôn cảnh (Co-text) Theo tác giả, ngữ cảnh là môi trường phi ngôn ngữ trong đó ngôn ngữ được sử dụng Ngữ cảnh có vai trò đặc biệt quan trọng
trong phân tích ngữ nghĩa
Trang 37Tác giả Nguyễn Thiện Giáp thì đưa ra khái niệm ngữ cảnh tình huống
và ngữ cảnh văn hóa Tác giả cho rằng: "ngữ cảnh văn hóa bao gồm hàng loạt các nhân tố văn hóa như phong tục, tập quán, chuẩn tắc hành vi, quan niệm giá trị, sự kiện lịch sử, những tri thức về tự nhiên và xã hội, về chính trị và kinh tế" Còn "ngữ cảnh tình huống là thế giới, xã hội và tâm lý mà trong đó,
ở một thời điểm nhất định người ta sử dụng ngôn ngữ Nó có thể bao gồm sự hiểu biết về vị trí, thời gian và không gian, sự hiểu biết về phép xã giao trong
xã hội và sự hiểu biết về mã ngôn ngữ được dùng (nói hoặc viết), sự hiểu biết
về nội dung giao tiếp và bối cảnh giao tiếp" Và đôi khi "ngữ cảnh tình huống còn có cả sự chấp nhận của người nói và người nghe"
Trong các phát ngôn tỉnh lược, một yếu tố vô cùng quan trọng cho phép
ta phục hồi cấu trúc trường liên tưởng về nghĩa của các yếu tố bị tỉnh lược là phải dựa vào ngữ cảnh (dựa vào các từ hay nhóm từ bao quanh nó) làm tường minh hóa nội dung của các phát ngôn có thành phần bị tỉnh lược
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp [7, 144] còn cho rằng: "Nghiên cứu văn cảnh còn giúp chúng ta làm sáng tỏ bản chất ngữ nghĩa của hiện tượng tỉnh lược trong lời nói và hiện tượng lây nghĩa (contasion) Tỉnh lược là hiện tượng bỏ bớt các từ trong lời nói, những từ này dễ dàng có thể phục nguyên lại Khi bị tỉnh lược, nghĩa của các từ bị tỉnh lược dường như được bao hàm trong ý nghĩa của các từ còn lại liên hệ với nó"
2.2.1.2 Ngữ cảnh của phép tỉnh lược
Trong tiếng Việt, trật tự từ đóng một vai trò vô cùng quan trọng Các
từ, ngữ trong một chuỗi các phát ngôn liên kết lại với nhau theo một trật tự nhất định tạo nên ngữ nghĩa của một cấu trúc thông báo và tạo sự mạch lạc của câu Muốn hiểu được ngữ nghĩa thông báo của các phát ngôn, chúng ta phải đặt chúng vào trong một tình huống ngữ cảnh cụ thể, đối chiếu nó với
Trang 38phát ngôn mà nó phụ thuộc Ngữ cảnh của phép tỉnh lược là phạm vi bối cảnh cho phép thực hiện tỉnh lược Muốn hiểu được các phát ngôn tỉnh lược này, chúng ta bắt buộc phải đối chiếu, phục hồi lại trường liên tưởng ngữ nghĩa thông qua các yếu tố bị tỉnh lược Trong thao tác này, một điều rất quan trọng không thể bỏ qua đó là việc căn cứ, đối chiếu với ngữ cảnh trong bối cảnh
phép tỉnh lược mà chúng ta đang nói tới Chúng ta phải căn cứ và đặt ra ngữ
cảnh cần và đủ trong phép tỉnh lược đang xét Ngữ cảnh đủ bề rộng mới chỉ
ra được chủ ngôn của phát ngôn tỉnh lược, nếu ngữ cảnh không đủ rộng sẽ không chỉ ra được mối quan hệ giữa các phát ngôn
Chẳng hạn xét ví dụ sau:
(1) Được người quen rỉ tai, Ngọc Mai (năm 4, Đại học KHXH&NV) quyết định "spam" hồ sơ của mình đến một loạt nhà tuyển dụng (2) Nhưng vấn đề là Mai không biết làm sao để viết một cái CV cho đàng hoàng (3) Thậm chí Ø không hiểu chữ "CV" nghĩa là cái gì?
[HHT, 124] Nếu không có phát ngôn (1) và (2) mà chỉ có phát ngôn (3) thì người
đọc sẽ không biết được "Ai?" Là người "không hiểu chữ CV nghĩa là cái gì"
Vì vậy muốn biết được "Ai là người không hiểu chữ CV nghĩa là cái gì" thì
phải đặt cả phát ngôn (3) vào trong ngữ cảnh mà nó tồn tại, hay nói cách khác phải có ngữ cảnh cần và đủ (1) và (2) Ở đây phát ngôn (3) bị tỉnh lược danh
từ làm chủ ngữ của câu
Bởi vậy, trước tiên ta phải tìm được các phát ngôn có vai trò là chủ ngôn mà ngữ trực thuộc liên kết Điều này được thực hiện nhờ vào một dữ kiện quan trọng đó là sự tương hợp về cấu trúc và có sự trùng lặp về từ vựng Nói cụ thể đó là hiện tượng lặp cú pháp và lặp từ vựng giữa chủ ngôn và lược ngôn
Trang 392.2.2 Phương thức lặp
2.2.2.1 Phương thức lặp theo tác giả Trần Ngọc Thêm "là phương thức
liên kết thể hiện việc lặp lại trong kết ngôn những yếu tố đã có ở chủ ngôn" Theo khái niệm này, các câu, phát ngôn nối kết với nhau một cách có hệ thống Trong hai câu liên kết với nhau có một câu làm chỗ dựa (chủ ngôn) và một câu kết nối với chủ ngôn được gọi là câu kết ngôn Phương thức lặp là một trong những là một trong những phép liên kết văn bản mà chúng ta thường hay gặp trong các văn bản Phương thức lặp có ba dạng: lặp từ vựng,
lặp ngữ pháp và lặp ngữ âm
2.2.2.2 Phương thức lặp trong tỉnh lược
Trong chuỗi phát ngôn, các yếu tố bị tỉnh lược trong các phát ngôn tỉnh lược có quan hệ mật thiết với chủ ngôn Cấu trúc của chủ ngôn cho phép ta tiến hành các thao tác liên tưởng phục hồi Căn cứ vào phát ngôn bị tỉnh lược chúng ta có thể phục nguyên lại ngữ nghĩa, xác lập chức năng ngữ trực thuộc khi đối chiếu nó với chủ ngôn (phát ngôn đứng làm tiền đề)
Để thực hiện thao tác này, chúng ta phải tìm ra được các phát ngôn đóng vai trò làm chủ ngữ thuộc ngữ trực thuộc liên kết Hay nói cách khác là phải tìm ra sự tương đồng hoặc trùng lặp về cấu trúc cú pháp Chính hiện tượng lặp này là cơ sở tiền đề cho phép thực hiện phép tỉnh lược
- Lặp ngữ pháp hay nói cụ thể hơn là lặp cấu trúc cú pháp, là một hiện
tượng lặp lại mô hình cấu trúc câu có ở ít nhất hai phát ngôn trở lên trong cùng một bối cảnh giao tiếp [Phạm Văn Tình 2002:66]
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của chủ ngôn và kết ngôn, có thể phân loại phép lặp ngữ pháp thành bốn kiểu sau: lặp đủ, lặp khác, lặp thừa và lặp thiếu Nếu căn cứ vào mức độ lặp thì có thể chia phép lặp ngữ pháp thành hai nhóm là: lặp hoàn toàn và lặp bộ phận Còn nếu căn cứ vào tính cân đối của
Trang 40chủ ngôn và kết ngôn thì cũng chia thành hai nhóm lặp cân và lặp lệch Trong luận văn này, chúng tôi không đi sâu vào khảo sát chi tiết từng phương thức lặp mà chỉ dừng lại ở việc xem xét mức độ chung nhất, mô hình lặp khái quát nhất và hình dung nó là cơ sở, là tiền đề , điều kiện cho phép thực hiện hiện tượng tỉnh lược Mô hình cấu trúc lặp mà chúng tôi tiến hành khảo sát là mô hình cấu trúc nòng cốt chủ ngữ - vị ngữ (C-V) là mô hình cấu trúc chính của câu Nòng cốt câu là một cái khung cơ bản để từ đó có thể phát triển mở rộng câu
Ví dụ:
Một cuộc khảo sát năm 1989 của tổ chức Gallup cho thấy: 85% người
Mỹ cho biết sự tự tin và tôn trọng bản thân là quan trọng số một Và chẳng có
% Ø nào nói rằng yêu thương chính mình là điều vô bổ cả!
[HHT2!, 113] Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, ngoài những cấu trúc nòng cốt, trong mô hình của cấu trúc câu có các thành phần phụ được lặp lại, hoặc không xuất hiện trong các phát ngôn tỉnh lược Trong cấu trúc của nòng cốt, chủ ngôn có thể được lặp lại một phần trong mô hình cấu trúc của lược ngôn
- Lặp từ vựng là một hiện tượng lặp lại một bộ phận từ vựng (danh từ
(danh ngữ), động từ (động ngữ)…) có ở ít nhất hai phát ngôn trở lên trong cùng một bối cảnh phát ngôn [Phạm Văn Tình 2002:67]
Trong mọi bối cảnh giao tiếp hàng ngày hay trong bất kỳ cuộc giao tiếp nào đều thường thấy hiện tượng lặp từ vựng Trong đối thoại các nhân tố tham gia giao tiếp đều dựa trên một chủ thể nào đó, cho phép thực hiện việc quy chiếu vào đối tượng, chủ thể được nói tới