1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SINH VIÊN VÀ MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK: MỘT PHÂN TÍCH VỀ SỰ TIẾN TRIỂN VỐN XÃ HỘI (Khảo sát tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông)

146 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu và phân tích, tác giả xin được đi vào phân tích tổng quan nhất những nghiên cứu xã hội cả ở trong nước và ngoài nước các vấn đề liên quan đến mạng lưới

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN THÙY DƯƠNG

SINH VIÊN VÀ MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK: MỘT PHÂN TÍCH VỀ SỰ TIẾN TRIỂN VỐN XÃ HỘI

(Khảo sát tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH XÃ HỘI HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN THÙY DƯƠNG

SINH VIÊN VÀ MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK:

MỘT PHÂN TÍCH VỀ SỰ TIẾN TRIỂN VỐN XÃ HỘI

(Khảo sát tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông)

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian làm việc tích cực và nghiêm túc, luận văn “Sinh viên và mạng xã

hội Facebook: Một phân tích về sự tiến triển vốn xã hội”(Khảo sát tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) đã được

hoàn thành Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Đào Thanh Trường, người đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học đã dạy dỗ và truyền đạt những tri thức quý báu trong suốt những năm qua, để tôi có thể hoàn thành tốt khóa học của mình

Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì thời gian có hạn, trình độ năng lực của bản thân còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những góp ý của các thầy cô giáo khoa Xã hội học để tôi được rút kinh nghiệm trong những nghiên cứu sau đạt kết quả tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Học viên

Đoàn Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan nghiên cứu 3

2.1 Các tài liệu về việc sử dụng Internet của sinh viên 3

2.2 Các tài liệu về mạng xã hội 5

2.3 Tình hình nghiên cứu về vốn xã hội 6

2.4 Tình hình nghiên cứu mối quan hệ giữa internet và vốn xã hội 10

3 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 13

3.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài 13

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 14

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 14

4.1 Mục đích nghiên cứu 14

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 14

5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 14

5.1 Đối tượng nghiên cứu 14

5.2 Khách thể nghiên cứu 14

5.3 Phạm vi nghiên cứu 15

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 15

6.1 Câu hỏi nghiên cứu 15

6.2 Giả thuyết nghiên cứu 15

7 Phương pháp nghiên cứu 15

8 Khung lý thuyết 19

9 Tính mới của đề tài 20

PHẦN NỘI DUNG 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 21

1.1 Các khái niệm 21

1.1.1 Khái niệm mạng xã hội 21

1.1.2 Khái niệm mạng xã hội Facebook 26

1.1.3 Khái niệm “Sinh viên” 32

1.1.4 Khái niệm “Vốn xã hội” 32

Trang 5

1.1.5 Khái niệm “Lối sống” 35

1.1.6 Khái niệm “Quan hệ xã hội” 35

1.1.7 Khái niệm “Tiến triển” 36

1.2 Lý thuyết áp dụng 36

1.2.1 Lý thuyết vốn xã hội 36

1.2.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội 39

1.2.3 Lý thuyết về tương tác xã hội 43

1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 48

1.3.1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 48

1.3.2 Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông 49

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY 50

2.1 Tình hình sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên hiện nay 50

2.1.1 Thời gian, tần suất sử dụng Facebook của sinh viên 51

2.1.2 Cách thức chia sẻ thông tin trên Facebook của sinh viên 58

2.1.3 Số lượng bạn bè trên Facebook của sinh viên 62

2.2 Mục đích, nguyên nhân sử dụng Facebook của sinh viên 65

2.2.1 Mục đích sử dụng Facebook của sinh viên 65

2.2.2 Nguyên nhân sử dụng Facebook của sinh viên 69

CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA MẠNG XÃ HỘI FACEBOOK ĐẾN SỰ TIẾN TRIỂN VỐN XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN 71

3.1 Tác động tích cực của Facebook đến quá trình tiến triển vốn xã hội của sinh viên 71

3.1.1 Facebook là nhân tố tích cực góp phần thúc đẩy quá trình tương tác xã hội, hỗ trợ tương tác trong việc trao đổi thông tin, cung cấp thông tin đa chiều, phong phú cho sinh viên 71

3.1.2 Facebook giúp sinh viên mở rộng các mối quan hệ xã hội cả trên mạng và thực tế 75

3.1.3 Facebook góp phần củng cố và xây dựng nên một cộng đồng ảo với đông đảo những “cư dân mạng” thường xuyên tương tác với nhau 82

3.1.4 Mạng lưới xã hội ảo và khả năng tạo ra vốn xã hội thực 84

Trang 6

3.1.5 Đánh giá về tác động tích cực của Facebook đối với sinh viên 91

3.2 Tác động tiêu cực của Facebook đối với quá trình tiến triển vốn xã hội của sinh viên 92

3.2.1 Tương tác trong thế giới ảo ảnh hưởng đến tâm lý khẳng định mình, khả năng hoàn thiện bản thân trong thực tế của sinh viên 92

3.2.2 Những thói quen tốt bị mất đi và thay vào đó bởi nhiều thói quen không tốt 93

3.2.3 Lãng phí thời gian, gây nên những tương tác dạng cạnh tranh 94

3.2.4 Thay đổi cách thức giao tiếp với những người xung quanh 95

3.2.5 Đánh giá về tác động tiêu cực của Facebook đối với sinh viên 98

KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Cơ cấu mẫu nghiên cứu 17 Bảng 2.1: Tương quan giữa trường học với hành động đầu tiên khi vào Internet 54 Bảng 2.3: Tương quan giữa trường học với tần suất truy cập Facbook trong

1 ngày 56 Bảng 2.2: Những mục thông tin bản thân được sinh viên điền chính xác trên

Facebook 59 Bảng 2.3: Quan niệm của sinh viên về việc kết bạn trên Facebook 62 Bảng 2.4: Tương quan giữa trường học với số lượng bạn bè trên Facebook 64 Bảng 2.5: Tương quan giữa trường học với mục đích tìm kiếm thông tin phục

vụ học tập 67 Bảng 2.6: Tương quan giữa giới tính và việc sử dụng Facebook để kết bạn với

người mới 67 Bảng 2.7: Tương quan giữa yếu tố năm học và mục đích sử dụng Facebook 68 Bảng 3.1: Tương quan giữa năm học với mức độ ảnh hưởng của các thông tin

trên Facebook 72 Bảng 3.2: Mức độ tin tưởng của sinh viên với các thông tin trên Facebook 73 Bảng 3.3: Mức độ chia sẻ các thông tin khi nói chuyện với những người bạn

không quen trên Facebook 80 Bảng 3.4: Tương quan giữa giới tính với sự thay đổi các mối quan hệ xã hội

thực của sinh viên sau khi dùng Facebook 81 Bảng 3.5: Tương quan giữa trường học với sự thay đổi các mối quan hệ xã hội

thực của sinh viên sau khi dùng Facebook 82 Bảng 3.7: Tương quan giữa giới tính với việc tìm được nơi ở qua các mối quan

hệ trên Facebook 86 Bảng 3.8: Tương quan giữa trường học với vai trò của mối quan hệ xã hội trên

Facebook đối với đời sống của sinh viên 87 Bảng 3.9: Tương quan giữa học lực với vai trò của các mối quan hệ xã hội trên

Facebook đối với đời sống của sinh viên 88 Bảng 3.10: Tương quan giữa nơi ở với vai trò của các mối quan hệ xã hội trên

Facebook đối với đời sống của sinh viên 89 Bảng 3.11: Tương quan giữa giới tính với cách thức trao đổi của sinh viên sau

khi dùng Facebook 96 Bảng 3.12: Tương quan giữa trường học với cách thức trao đổi của sinh viên

sau khi dùng Facebook 97 Bảng 3.13: Mức độ gặp gỡ trực tiếp ngoài thực tế sau khi sử dụng Facebook 97 Biểu 3.8: Đánh giá về mặt tiêu cực khi sử dụng Facebook 98

Trang 8

DANH MỤC BIỂU

Biểu 1: Thống kê lượng người dùng Facebook 28

Biểu 2.1: Số người sử dụng mạng xã hội Facebook 50

Biểu 2.2: Thời gian sử dụng Facebook 51

Biểu 2.3: Tương quan giữa trường học và thời gian sử dụng Facebook của sinh viên 52

Biểu 2.4: Một số số liệu thao khảo về thói quen làm việc đa nhiệm đồng thời trên Internet của người dùng Internet việt Nam 53

Biểu 2.5: Hành động đầu tiên khi vào Internet 54

Biểu 2.6: Tần suất sinh viên truy cập vào Facebook trong một ngày 55

Biểu 2.7: Tương quan giữa nơi ở hiện tại của sinh viên với tần suất truy cập vào Facebook trong một ngày 56

Biểu 2.8: Tương quan giữa năm học của sinh viên với tần suất truy cập vào Facebook trong một ngày 57

Biểu 2.9: Thời điểm vào Facebook của sinh viên 57

Biểu 2.10: Tương quan giữa trường học với thời điểm vào Facebook 58

Biểu 2.11 : Tương quan giữa giới tính với mục thông tin giới tính trên Facebook 60

Biểu 2.12: Thành phần bạn bè trong danh sách của sinh viên 63

Biểu 2.13: Số lượng bạn bè trên Facebook của sinh viên 64

Biểu 2.14: Mục đích sử dụng Facebook của sinh viên 65

Biểu 2.15: Nguyên nhân sử dụng Facebook của sinh viên 69

Biểu 3.1: Mức độ ảnh hưởng của các thông tin trên Facebook đến sinh viên 72

Biểu 3.2: Sự tham gia của sinh viên vào các hội, nhóm trên Facebook 75

Biểu 3.3: Nguyên nhân sinh viên tham gia vào các hội, nhóm trên Facebook 76

Biểu 3.4: Tương quan giữa giới tính với mức độ chủ động nói chuyện với những người không quen trên Facebook của sinh viên 79

Biểu 3.5: Sự thay đổi các mối quan hệ xã hội thực của sinh viên sau khi dùng Facebook 80

Biểu 3.6: Đánh giá về mặt tích cực khi sử dụng Facebook 91

Biểu 3.7: Lựa chọn của sinh viên về cách thức trao đổi sau khi dùng Facebook 95

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, khoa học và công nghệ đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của con người Trong đó, có thể kể đến sự ảnh hưởng của internet trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị Internet đã và đang kết nối mọi người trên thế giới với nhau, nó phá vỡ mọi khoảng cách về biên giới, không gian, thời gian, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc giao tiếp xã hội Từ khi có internet thì cũng xuất hiện các loại hình tìm kiếm thông tin, giải trí, kết nối

xã hội, trong đó không thể thiếu được các mạng xã hội đang được rất nhiều người

sử dụng như: Google+, Facebook, Yahoo, Skye, Myspace… Mạng xã hội ở đây được hiểu là một loại hình dịch vụ trên internet mới phát triển trong kỷ nguyên số, ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin Mạng xã hội là dịch vụ kết nối các thành viên cùng sở thích trên internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian, đồng thời nó được tạo nên thông qua các tương tác giữa các thành viên trong cộng đồng mạng

Một trong những đối tượng sử dụng mạng xã hội nhiều nhất chính là sinh viên Mạng xã hội trở thành một xu hướng không thể thiếu đối với thanh niên nói chung và đối với sinh viên nói riêng Với đặc thù là những người trẻ tuổi, có tri thức, có tính năng động nên sinh viên là đối tượng rất dễ dàng tiếp cận những cái mới Vì vậy, việc thường xuyên sử dụng internet và mạng xã hội, trở thành công dân mạng có thể làm thay đổi các hoạt động giao tiếp và một số quan niệm của họ

về giá trị của các quan hệ xã hội mà họ tiếp xúc và đối xử với quan hệ đó

Facebook là một mạng xã hội lớn được rất nhiều người sử dụng trên thế giới Mạng xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến những lối sống, quan hệ xã hội của con người Những ảnh hưởng đó có tính chất pha trộn, mang tính hai mặt (cả mặt tích cực và tiêu cực) Đặc biệt, việc tìm kiếm và thiết lập mạng lưới bạn bè trên Facebook sẽ giúp cho người sử dụng tạo lập và duy trì một lượng “vốn xã hội” của mình Vốn xã hội từ Facebook có thể là cơ sở tạo ra những loại hình vốn xã hội khác như vốn tài chính, vốn con người nhằm giúp cá nhân đạt được mục đích nhất định mà cá nhân đó mong muốn Có thể nói, trong những năm gần đây mạng xã hội

Trang 10

Facebook đã trở thành một hiện tượng xã hội điển hình, thể hiện nhu cầu giao tiếp

xã hội và giải trí Nó tạo ra cho mỗi người một cộng đồng xã hội bao gồm những người quen biết và không quen biết, sự đa dạng về môi trường xã hội trên Facebook, sự tự do trong việc trao đổi thông tin, tâm tư tình cảm…hoặc ngay cả các yếu tố công việc, kinh tế cũng được đưa vào Facebook để trao đổi Nhìn chung, Facebook dần trở thành một công cụ xã hội không thể thiếu đối với nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, nhóm sinh viên Song bất kỳ một vấn đề, hiện tượng xã hội nào xuất hiện đều mang trong nó hai mặt: tích cực và tiêu cực, vấn đề đặt ra là chủ thể

sử dụng công cụ Facebook này như thế nào thì tác động ngược trở lại của nó đối với con người, xã hội sẽ như vậy Bởi vậy, nghiên cứu mạng xã hội Facebook trở thành một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là ngôi trường với những đặc thù riêng như: Sinh viên được đào tạo, nghiên cứu các ngành khoa học xã hội, văn hóa (lịch sử, văn học, báo chí, xã hội học, công tác xã hội, đông phương học…) Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông là trường chuyên đào tạo, nghiên cứu về công nghệ thông tin, công nghệ điện tử là hai khách thể nghiên cứu được lựa chọn

để nghiên cứu trong đề tài Mỗi một môi trường sẽ tạo nên những đặc thù riêng, điều đó sẽ ảnh hưởng tới các tri thức, hiểu biết, phương pháp tiếp cận các vấn đề của sinh viên ở từng trường là khác nhau, trong đó có phương pháp tiếp cận, mục đích sử dụng Facebook cũng là khác nhau Đồng thời, nghiên cứu lựa chọn sinh viên của hai trường trên là cơ sở để có sự so sánh giữa sinh viên của hai khối trường

có đặc thù khác nhau (giữa khối xã hội và khối kỹ thuật) đồng thời xem xét sự ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook đến sinh viên của mỗi trường có những vấn đề nào đặt ra

Với những lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm xã hội học

với đề tài Sinh viên và mạng xã hội Facebook: Một phân tích về sự tiến triển

vốn xã hội (Khảo sát tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông) Nhằm phân tích và nhìn thấy được hiện

trạng sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên hiện nay Những tác động của

nó đối với mạng lưới quan hệ xã hội của sinh viên hiện nay Từ đó có cái nhìn khái quát nhất về vấn đề trong một khía cạnh tiếp cận mới, đánh giá và đưa ra được xu

Trang 11

hướng sử dụng mạng xã hội Facebook của một bộ phận sinh viên trong một vài năm tiếp theo

Đề tài là sự kết hợp giữa các kiến thức của xã hội học lối sống, xã hội học

khoa học và công nghệ Vì vậy các nghiên cứu, bài viết có liên quan đến đề tài này

dựa trên những tài liệu về lối sống của thanh niên, ảnh hưởng của Internet đến sinh viên và đặc biệt là những đề tài liên quan đến mạng xã hội, đánh giá vấn đề dưới góc độ xã hội học khoa học công nghệ

2 Tổng quan nghiên cứu

Là một hiện tượng xã hội, một trào lưu xã hội nảy sinh trong hơn thập kỷ qua không chỉ ở cấp độ lãnh thổ mà là trên toàn thế giới, mạng xã hội Facebook đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu dưới những cách tiếp cận khác nhau Sự phát triển này đã đánh dấu mạnh mẽ những biến đổi xã hội, sự mở rộng không biên giới các mối quan hệ và sự tự do của con người trong một khía cạnh xã hội nhất định Mạng

xã hội Facebook đã đáp ứng một nhu cầu lớn của con người trong đời sống xã hội hiện đại Nghiên cứu về mạng xã hội, mạng lưới xã hội là một vấn đề đã được nghiên cứu xuyên suốt trong nhiều thập kỷ qua Mỗi một thời điểm, mạng lưới xã hội của con người lại có những biến đổi khác nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó

có sự tác động mạng mẽ của yếu tố khoa học công nghệ Để làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu và phân tích, tác giả xin được đi vào phân tích tổng quan nhất những nghiên cứu xã hội cả ở trong nước và ngoài nước các vấn đề liên quan đến mạng lưới

xã hội, khoa học công nghệ trong mối quan hệ mật thiết với sự biến đổi mạng lưới xã hội…từ đó có thể thấy được những biến đổi trong nghiên cứu, trong hành vi, lối sống của con người, đặc biệt là nhóm sinh viên trong việc tiếp cận khoa học và công nghệ,

sử dụng khoa học và công nghệ như một công cụ gắn kết và mở rộng mạng lưới xã hội của cá nhân, phục vụ một phần nào đó nhu cầu của họ Hay nói cách khác, đây là phần trả lời cho câu hỏi, thế giới nghiên cứu những gì, Việt Nam nghiên cứu những

gì liên quan đến mối quan hệ giữa con người và khoa học công nghệ (mạng Facebook), với tư cách như một công cụ để phát triển vốn xã hội của con người

2.1 Các tài liệu về việc sử dụng Internet của sinh viên

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của Internet đối với thanh niên Hà Nội” của Bùi

Hoài Sơn đã đi vào làm rõ hơn lý thuyết về mối quan hệ giữa bối cảnh xã hội và việc

Trang 12

sử dụng Internet; lý thuyết về vốn xã hội và việc sử dụng Internet; quan điểm về sự khác biệt trong sử dụng Internet và lý thuyết về sự bắt chước Nghiên cứu đã chỉ ra những thay đổi văn hóa và xã hội do việc sử dụng Internet mang lại như sự hình thành thế giới ảo, những giá trị xã hội mới hoặc các loại tội phạm mới ra đời như môi giới mại dâm, lừa đảo trên mạng, phá hủy dữ liệu, ăn cắp thông tin…Cuối cùng nghiên cứu

đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao tính tích cực khi sử dụng Internet

Đề tài “Tác động của Internet đến lối sống của sinh viên” của Nguyễn Quý

Thanh đã phân tích như sau: Internet là một phương tiện truyền thông kiểu mới, có tác động đa chiều, thậm chí trái ngược nhau đến hoạt động học tập, giải trí và định hướng giá trị của sinh viên Việt Nam hiện nay Qua Internet làm cho lối sống của sinh viên trở lên năng động hơn, hướng ngoại nhiều hơn, định hướng giá trị mang tính tự do hơn so với các thế hệ sinh viên trước kia Cuốn sách Internet - Sinh viên - Lối sống, nghiên cứu xã hội học về phương tiện truyền thông kiểu mới vớí các nội dung về tác động xã hội của Internet tới hoạt động học tập, hoạt động giải trí, những quan điểm về lối sống của sinh viên hiện nay

Nghiên cứu của Huỳnh Văn Thông về “Một số vấn đề về lối sống Internet

và ảnh hưởng của nó đến hoạt động giao tiếp của người dùng Internet Việt Nam” cho thấy những ảnh hưởng của Internet đến thời gian sử dụng Internet và

phân tích lối sống di động xã hội Internet

Đề tài nghiên cứu khoa học “Bước đầu nghiên cứu về thực trạng nghiện internet của học sinh THCS trên địa bàn Quận Hải Quân và Liên Chiểu - Thành phố Đà Nẵng” của Bùi Thị Huệ (Trường ĐH Sư Phạm Đà Nẵng) đã chỉ ra một số

tác động tiêu cực của Internet đến giới trẻ hiện nay Theo nghiên cứu cho thấy thời gian mà giới trẻ dành cho Internet càng nhiều sẽ gây nên tâm lý lo lắng cho phụ huynh càng lớn Nghiên cứu cũng chỉ ra những ảnh hưởng tiêu cực của việc sử dụng quá nhiều thậm chí là lạm dụng phương tiện internet trong đời sống của giới trẻ như: mạng Internet dễ dần tới sự say mệ, lôi cuốn quá đà, ảnh hưởng đến sức khỏe, học tập và có những cách cư xử lạ, rơi vào chứng bệnh “nghiện Internet” Đây là những tác động tiêu cực mà con người phải đối mặt khi có sự xuất hiện của một phương tiện truyền thông mới, đồng thời cho thấy một khía cạnh về lối sống của

tầng lớp thanh niên hiện nay trong xã hội hiện đại

Trang 13

Nghiên cứu có tên “Tác động của Truyền thông đại chúng đến lối sống của sinh viên hiện nay” của Đinh Quang Hùng tại Học viện Cảnh sát Nhân dân cho

thấy vai trò của truyền thông đại chúng trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Các thông tin của phương tiện truyền thông đại chúng tác động vào trí thức sinh viên hình thành nên tri thức, thái độ hành vi mới thay thế thái độ hành vi cũ theo hai chiều hướng tiêu cực (xa rời thực tế và các giá trị truyền thống, coi trọng địa vì và tiền bạc…) và tích cực (tìm hiểu nhiều kiến thức, thông tin, mạng lưới quan hệ xã hội được mở rộng) Đây cũng là một thực tế xã hội phải đối mặt trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa như hiện nay Hay nói cách khác, nó là một mặt khác của

quá trình biến đổi xã hội, phát triển xã hội ở Việt Nam thời gian qua

2.2 Các tài liệu về mạng xã hội

Nghiên cứu “Ảnh hưởng của mạng xã hội đến thanh niên trong thời đại

đa truyền thông” của Lê Thị Dung và Mai Thanh Thảo (Viện Nghiên cứu và Phát

triển Thanh niên TP Hồ Chí Minh) đã đưa ra những vấn đề nảy sinh của mạng xã hội trong thời đại hiện nay Và nghiên cứu cũng đưa ra mặt tích cực khi sử dụng mạng xã hội như: đó là nơi gắn kết cộng đồng, giúp đỡ chia sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn Mặt tiêu cực như: lợi dụng sự phát tán thông tin của mạng xã hội nhiều người đã sử dụng mạng xã hội để đưa các clip, hình ảnh sex, những thông tin có nội dung lệch lạc Bên cạnh đó có nhiều thanh thiếu niên nghiên game online, game sex… làm giảm thể lực và tinh thần của thanh thiếu niên

Tác phẩm “Thế giới phẳng” của Thomas Fredman cho thấy sự phát triển

mạnh mẽ của công nghệ thông tin và kết nối mọi người với nhau thông qua các phương tiện thông tin (đặc biệt là Internet) và tạo ra một thế giới phẳng, không có

sự cản trở về mặt địa lý, không gian, thời gian hay nói cách khác nó giúp con người

có những mối quan hệ trên nhiều khía cạnh của đời sống xã hội vượt qua khả năng của con người về vấn đề đại lý, không gian, trình độ xã hội Hay nói cách khác

Tác phẩm “Hiệu ứng Facebook và cuộc cách mạng toàn cầu của mạng xã hội” của David Kirkpatrick ghi lại thành một câu chuyện chân thực vè cội nguồn,

sự ra đời và quá trình hình thành của Facebook, những khó khăn và những thành công của nó Yếu tố đưa đến sự phát triển của mạng xã hội này không phải ở chỗ đơn thuần chỉ là yếu tố thương mại trực diện mà chính là sự chia sẻ, truyền nhiệt từ

Trang 14

tất cả những con người có chung mối quan tâm, niềm đam mê để tạo ra hiệu ứng tích cực trong cộng đồng, tổ chức và doanh nghiệp

Qua những đề tài, nghiên cứu, các bài viết trên đều nêu lên những ảnh hưởng của Internet đối với đời sống của giới trẻ hiện nay Tuy nhiên để phân tích kỹ hơn

về một chiều cạnh đối với một nhóm đối tượng cụ thể và nội dung cụ thể như phân tích việc sử dụng mạng xã hội (Facebook) đến vốn xã hội của sinh viên, đặc biệt là mạng lưới quan hệ xã hội của họ (nghiên cứu tại trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn và Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn thông) thì vẫn chưa có nghiên cứu nào đề cập và triển khai

2.3 Tình hình nghiên cứu về vốn xã hội

Khái niệm về vốn xã hội nhận được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khoa học xã hội Có thể chia các bài viết ra thành hai khuynh hướng: Một là những nghiên cứu thiên về hướng tổng kết giúp cho sự tìm hiểu về mặt lý thuyết một cách vững chắc và hai là các nghiên cứu áp dụng lý thuyết vốn xã hội vào nghiên cứu thực tiễn của mình

Về hướng nghiên cứu các lý thuyết chính về vốn xã hội, đầu tiên là các bài viết được dịch từ những nghiên cứu của thế giới về vốn xã hội Một số bài viết được dịch sang đó là: “Nguồn vốn xã hội và sự phát triển: chương trình nghị sự tương lai” (Francis Fukuyama), bài viết đề cập tới mối quan hệ giữa vốn xã hội và thiết chế kinh tế, trong đó tập trung phân tích làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản như: Vốn

xã hội là gì? Vai trò, chức năng của vốn xã hội trong thị trường dân chủ, tự do? Làm thế nào để tăng cường vốn xã hội… Bài viết đã gợi ra những vấn đề quan trọng về mối quan hệ của vốn xã hội với xã hội dân sự, vai trò, vị trí, chức năng chính trị, kinh tế của vốn xã hội đối với sự phát triển của xã hội dân sự

Một bài viết khác được dịch đó là bài viết “Vốn xã hội: Nguồn gốc và những

sự áp dụng nó trong xã hội học hiện đại” của Alejandro Portes, tác giả đưa ra quan điểm của những người đi trước, so sánh chúng với nhau, sau đó qua phân tích vài nghiên cứu gần đây ông đưa ra những nhận xét sắc sảo và chỉ ra sự vận dụng lý thuyết vốn xã hội trong các nghiên cứu này

Trong bài viết có tên “Vốn xã hội và kinh tế” của tác giả Trần Hữu Dũng

(Trần Hữu Dũng, 2003 đã lược duyệt và đánh giá một số quan niệm khác nhau về

Trang 15

vốn xã hội Tác giả đề cập đến các quan điểm lý thuyết của Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Hernando de Soto Ông cho rằng cần phải làm rõ hơn đặc điểm của vốn xã hội trong mối quan hệ với các loại vốn khác

Trong một bài viết khác với tên gọi: “Vốn xã hội và phát triển kinh tế” (Trần Hữu

Dũng, 2006), tác giả này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa vốn xã hội và phát triển kinh

tế, vốn xã hội và chính sách kinh tế Bằng cách điểm lại các luận điểm đã có, Trần Hữu Dũng nhấn mạnh rằng vốn xã hội giúp tiết kiệm phí giao dịch, nâng cao mức đầu tư Ông cũng cho biết vốn xã hội có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng và tốc độ tích lũy vốn con người

Những bài viết mang tính tổng hợp lý thuyết, đầu tiên có thể nhắc tới đó là tác giả Trần Hữu Dũng với những bài viết tổng kết các lý thuyết vốn xã hội của nhiều tác giả trên thế giới Trong bài viết “Phát triển bền vững” nhìn từ góc độ xã hội và văn hóa” (Trần Hữu Dũng, 2004) được đăng trên tạp chí Tia sáng 11/2004, bằng lập luận chặt chẽ của mình, Trần Hữu Dũng đã chứng minh sự phát triển bền vững không thể chỉ là phát triển về kinh tế mà thiếu đi thành tố xã hội và văn hóa

Từ đây, nhà nghiên cứu đưa ra một số quan điểm thế nào là một phát triển xã hội bền vững? Một phát triển văn hóa bền vững? Do đây là bài tập viết đề cập, đan xen quan điểm về những ba khái niệm: phát triển bền vững, vốn xã hội và vốn văn hóa nhằm mục đích chỉ ra mối liên hệ giữa hai yếu tố sau tới phát triển bền vững; Bởi vậy việc phân tích lý thuyết vốn xã hội mới chỉ dừng lại ở mức đưa ra lý thuyết đại diện của Coleman và Fukuyama, những người mà trong các tác phẩm của họ có đề cập tới so sánh vốn xã hội, vốn tài chính/vật thể và vốn con người Tuy vậy, trong mức độ nào đó, chúng ta cũng có thể coi bài viết trên đây là một sự suy tưởng rộng hơn của tác giả về chức năng của xã hội

Tác giả Trần Hữu Quang với bài viết “Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội”

(Trần Hữu Quang, 2006) Trong bài viết này Trần Hữu Quang bàn về quan điểm vốn xã hội của nhiều tác giả nước ngoài như Bourdieu, Putnam, Fukuyama, qua đó

nhấn mạnh rằng “vốn xã hội là một hiện thực đặc trưng của những mối dây liên kết

giữa con người với nhau trong một cộng đồng hay một xã hội” Theo quan điểm

của Trần Hữu Quang thì cần bàn về vốn xã hội trong mối quan hệ với chuẩn mực,

sự cố kết, và hợp tác Ông lưu ý đến việc phân tích vốn xã hội trong bối cảnh văn hóa - xã hội và các định chế xã hội

Trang 16

Bài viết “Vốn xã hội và đo lường vốn xã hội” của Lê Minh Tiến (2006), Đại học Mở, Thành phố Hồ Chí Minh đã khái quát một số quan niệm về vốn xã hội, trình bày một số cách vận dụng các nghiên cứu nước ngoài xây dựng các chỉ báo đo lường vốn xã hội Từ đó, định hướng các chỉ báo đo lường vốn xã hội ở Việt Nam Bài viết cung cấp những thông tin về vốn xã hội giúp các nhà nghiên cứu tiếp sau trong việc xây dựng các chỉ báo đo lường vốn xã hội ở Việt Nam

Hướng nghiên cứu thứ hai là hướng nghiên cứu thực nghiệm về vốn xã hội Trong hướng nghiên cứu thực nghiệm về vốn xã hội này, chúng ta có thể thấy các bài viết sử dụng khá linh hoạt những phương pháp điều tra thực nghiệm Đó có thể

là phương pháp phân tích dữ liệu định lượng như bài viết “Quan hệ xã hội và nguồn vốn xã hội ở Việt Nam” của nhóm tác giả Russell J.Dalton, Phạm Minh

Hạc, Phạm Thành Nghị, Thụy Như Ngọc (2002), đề cập đến các mô hình quan hệ

xã hội và nguốn vốn xã hội ở Việt Nam dựa trên phân tích kết quả điều tra giá trị thế giới (WVS) ở Việt Nam năm 2001 Số liệu được so sánh giữa các nước như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Phillipn để xem xét mối tương quan giữa các yếu tố dân số, xã hội và sự tham gia vào các mạng lưới xã hội giữa các nước

Trong bài viết Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất dưới góc nhìn vốn xã hội ở một lãng Bắc Trung bộ (Nguyễn Tuấn Anh, Fleur Thomése, 2007: 3 - 7), tác giả sử dụng kết quả nghiên cứu định tính và định lượng, bài viết đã chỉ ra được sự khai thác hiệu quả vốn xã hội (với biểu hiện cụ thể là tinh thần trách nhiệm và sự tin cậy lẫn nhau giữa những người có quan hệ họ hàng) để nhận chung ruộng đất cùng nhau khi dồn điền đổi thửa, hay thuê/mượn ruộng của nhau sau dồn điền đổi thửa Đồng tác giả TS Nguyễn Tuấn Anh có một bài viết

“Vốn xã hội và sự cần thiết nghiên cứu vốn xã hội ở nông thôn Việt Nam hiện nay” (bài viết trong khuôn khổ đề tài “Vốn xã hội và vai trò của nó trong việc thích

ứng và phát triển kinh tế ở nông thôn Bắc Trung Bộ trong thời kỳ đổi mới”) Dường như những phát triển ở nông thôn, nơi mà sự cố kết cộng đồng còn diễn ra chặt chẽ,

là đề tài nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh trong bài viết “Tiếp cận nông thôn Việt Nam từ mạng lưới xã hội và vốn xã hội cho phát triển” đã chỉ ra sự biến đổi của mạng lưới xã hội và vốn xã hội ở nông thôn trong khoảng nửa cuối thế kỷ XX và một số vấn đề đặt ra những kiến nghị có cơ sở khoa học cho các chính sách xã hội tại nông thôn

Trang 17

Bàn về vốn xã hội còn có thêm các tác giả khác như Lê Ngọc Hùng, Hoàng Bá Thịnh Lê Ngọc Hùng (2008) giới thiệu khái quát lí thuyết về vốn xã hội từ tiếp cận kinh tế để bàn sâu về vốn xã hội và mạng lưới xã hội ở Việt Nam Hoàng Bá Thịnh tập trung phân tích quan niệm về vốn xã hội, mạng lưới xã hội và nhấn mạnh đến chức năng của vốn xã hội Đồng thời, tác giả này cũng bàn sâu về những phí tổn để duy trì vốn xã hội và mạng lưới xã hội (Hoàng Bá Thịnh, 2009) Khi thực hiện các điều tra xã hội học về vốn xã hội, tác giả Lê Ngọc Hùng khá chú trọng tới việc áp dụng các phương pháp phân tích mạng lưới xã hội, phân tích “biến số” (variable analysis) được

dùng trong các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm khác Trong bài viết “Vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội ở Việt Nam” (Lê Ngọc Hùng, 2008: 45 - 54), tác

giả sau khi đưa ra một số khái niệm lý thuyết chính, đưa ra phần viết “Một số phát hiện

về vốn xã hội, vốn người và mạng xã hội lưới xã hội ở Việt Nam”, là tổng hợp của các nghiên cứu về mạng lưới xã hội của người lao động, của doanh nghiệp; vai trò của các loại vốn trong xóa đói giảm nghèo cũng như vai trò của nó trong việc tìm kiếm việc làm của sinh viên Lấy ví dụ về phương pháp phân tích của tác giả này trong phần viết

về tìm kiếm việc làm của sinh viên - xuất phát từ nghiên cứu “Lý thuyết và phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội: trường hợp tìm kiếm việc làm của sinh viên” (2003)

Phần viết tập trung vào: Thứ nhất, trình bày một số vấn đề lý thuyết mạng lưới xã hội;

Thứ hai, vận dụng phương pháp tiếp cận mạng lưới xã hội để xem xét trường hợp tìm

kiếm việc làm của sinh viên Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra rằng: Mạng lưới xã hội có vai trò trực tiếp làm cầu nối và hỗ trợ tìm kiếm việc làm Về mặt lý thuyết có thể nêu khái quát ba kiểu mạng lưới xã hội (1) Kiểu truyền thống: cá nhân chủ yếu dựa vào các quan hệ gia đình để tìm kiếm việc làm, (2) Kiểu hiện đại: Cá nhân chủ yếu dựa vào mối quan hệ chức năng giữa các cơ quan, tổ chức và các thiết chế của thị trường lao động

để tìm kiếm việc làm, và (3) Kiểu hỗn hợp, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại Mặc

dù kiểu hỗn hợp là phổ biến ngày nay nhưng cùng với sự phát triển của thị trường lao động xã hội với các yếu tố mang tính dịch vụ chuyên nghiệp và chuyên môn hóa ngày càng cao, kiểu mạng lưới hiện đại sẽ chiếm ưu thế trong đời sống xã hội cụ thể và ở đây là trong tìm kiếm việc làm

Đặng Nguyên Anh (1998) cũng ứng dụng quan điểm mạng lưới xã hội và vốn xã hội để xem xét vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư Nghiên

Trang 18

cứu đã sử dụng số liệu của cuộc khảo sát “Di cư và sức khỏe” của Viện xã hội học, với 1864 cá nhân thuộc 4 trung tâm đô thị lớn: Hà Nội, Đà Nẵng, Buôn Ma Thuột Tác giả đã lần lượt tìm hiểu vai trò của mạng lưới xã hội đến quyết định di chuyển

và lựa chọn nơi chuyển đến, quá trình thích ứng cuộc sống ở thành thị cũng như thu nhập và tiền chuyển về của người di cư

2.4 Tình hình nghiên cứu mối quan hệ giữa internet và vốn xã hội

Internet có liên quan tới cả sự tăng và giảm trong nguồn vốn xã hội Nie (2001: 420 - 435) cho rằng việc sử dụng internet lấy mất của chúng ta những khoảng thời gian giao tiếp mặt đối mặt với nhau và điều này làm giảm lượng vốn xã hội của một cá nhân Hay nói cách khác, sử dụng internet làm cho con người sử dụng ngày càng nhiêu loại hình giao tiếp gián tiếp, làm hạn chế một số hành vi của con người mà chỉ khi giao tiếp trực tiếp mới có thể nhận ra Tuy nhiên, cũng có những nhà nghiên cứu không đồng quan điểm trên chẳng hạn: một vài nghiên cứu còn chứng minh rằng những tương tác trực tuyến còn làm tăng thêm hoặc thay đổi những mối quan hệ, tương tác giữa các cá nhân và chính điều này khiến cho việc trực tuyến càng hữu ích hơn chứ không phải mất thời gian (Wellman, Haase, Witte

& Hampton, 2001: 436) Như vậy, có thể thấy rằng, có rất nhiều cách tiếp cận, góc

độ nhìn nhận vấn đề khác nhau cả theo hướng tích cực và tiêu cực Song dù tiếp cận theo hướng nào thì internet vẫn được coi là một công cụ xã hội được nhiều người sử dụng trong mọi hoạt động xã hội Tác động làm tăng hay giảm nguồn vốn xã hội của internet nguyên nhân một phần là do mục đích và hành vi sử dụng của con người gây ra

Gần đây, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Internet đã hình thành những liên kết yếu trong mạng lưới xã hội, thuộc loại vốn xã hội “vươn

ra ngoài” (bringing social capital) Các mối quan hệ qua mạng được duy trì bởi các công nghệ, ví dụ như thông qua các nhóm mail, thư viện ảnh, khả năng tìm kiếm… (Resnick, 2001: 247 - 274) Điều này cho thấy khả năng sẽ có những dạng thức mới của vốn xã hội các kiểu quan hệ xã hội mới được xây dựng trên nền tảng các trang web mạng xã hội Phương thức hoạt động của các trang web mạng xã hội này dường như cũng rất khuyến khích người tham gia tạo các mối liên kết bắc cầu với nhau, cho phép người sử dụng tạo ra và duy trì một mạng lưới xã hội ngày càng

Trang 19

rộng lớn của mình, và từ đây họ có thể có được những nguồn vốn xã hội dồi dào tiềm năng (Donath và Boyd 2004: 71; Resnick, 2001: 247 - 272) Donath và Boyd (2004: 71) đặt ra giả thuyết rằng các trang mạng xã hội có khả năng hình thành và làm gia tăng một cách mạnh mẽ các mối liên kết yếu giữa các cá nhân bởi cách thức, kỹ thuật duy trì thích hợp, vừa dễ dàng lại vừa tiết kiệm chi phí Song những hình thức liên kết xã hội dựa vào công nghệ như vậy cũng góp phần khiến cho các mối quan hệ giữa con người với nhau ngảy càng trở nên lỏng lẻo, song cũng tạo điều kiện cho sự phát triển các mối quan hệ mới, mở rộng vốn con người, vốn xã hội trong mọi hoạt động sống

Trong bài viết của Putnam (2000), kiểu vốn xã hội “co cụm” (bonding social capital) phản ánh những nút thắt chặt - mối quan hệ với gia đình và bạn bè thân thiết Những người này có vị trí quan trọng mang đến sự ủng hộ trên về mặt tinh thần, tình cảm hay giúp cá nhân tiếp cận tới được tới những nguồn lực đặc biệt, khó kiếm Kiểu vốn xã hội này cho thấy những mối quan hệ thân thiết, thắt chặt không chỉ ở phương diện quan hệ tình cảm mà còn là các mối quan hệ thắt chặt ở phương diện lợi ích giữa con người với con người trong xã hội Williams (2006) chỉ ra rằng không có nhiều nghiên cứu thực nghiệm kiểm chứng được một cách rõ ràng ảnh hưởng của Internet đến nguồn vốn xã hội co cụm mặc dù cũng có một số nghiên cứu đặt ra câu hỏi: Liệu internet đến làm cho nguồn vốn xã hội thân thiết tăng lên hay bị giảm đi? (Bargh & McKenna, 2004: 537 - 590) Rõ ràng là internet làm đơn giản hóa cách thức liên lạc, vì thế nó cung cấp một cách thức mới thay thế cách thức

cũ, để kết nối mọi người với nhau, giúp họ chia sẻ những lợi ích, mục tiêu (Ellison, Heino & Gibbs, 2006; Horrigan, 2002; Park & Floyd, 1996) Những cách thức liên kết mới này có thể đưa đến kết quả là làm tăng thêm vốn xã hội Một báo cáo điều tra về internet của tổ chức Pew năm 2006 đã cho biết người có sử dụng internet có khả năng có một mạng lưới xã hội với nhiều nút thắt chặt (close ties) hơn những người không truy cập mạng và những người dùng internet cũng có khả năng nhận được nhiều sự giúp đỡ từ các thành viên chủ chốt trong hệ thống mạng lưới xã hội này hơn những người không truy cập (Boase, Horrigan, Wellman & Rainie, 2006) Nhìn chung, những báo cáo trước đây nghiên cứu về internet thường xem xét đối với những hoạt động mà sự liên hệ trên mạng và trực tiếp giữa các cá nhân thường

Trang 20

tương đối tách biệt (như chơi game trực tuyến, tham gia diễn đàn, đọc báo mạng…) chứ không có sự liên hệ chặt chẽ như các mối quan hệ ngoài đời thực và trực tuyến như trên các trang mạng xã hội mà Facebook là một ví dụ

Các công cụ mạng xã hội trực tuyến dường như là phương tiện đặc biệt thiết thực hữu ích cho những cá nhân nào gặp phải khó khăn trong việc tạo ra và duy trì các mối nối (quan hệ) từ chặt chẽ đến lỏng lẻo Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng internet có ý nghĩa tích cực cho những người mà họ ít có thỏa mãn tâm lý từ việc có

ít mối nối với bạn bè, hàng xóm (Bargh & McKenna, 2004: 537 - 590) Kiểu giao tiếp gián tiếp thông qua công cụ máy tính có thể làm giảm sự cản trở trong tương tác và khuyến khích việc bộc lộ bản thân (Bargh, McKenna & Fitzsimons, 2002);

Từ đó, những công cụ máy tính này có thể tạo ra khả năng kết nối và tương tác mà nếu thiếu chúng, có thể các cá nhân sẽ không có được

Mạng xã hội thay đổi theo thời gian tùy theo việc các mối liên hệ bị bỏ quên hay mới được hình thành, nó sẽ tạo ra những mối nối bị loại bỏ và những mối nối được thêm vào, những mối quan hệ lỏng lẻo hay chặt chẽ Hay nói cách khác, mạng

xã hội của con người luôn biến đổi tùy vào sự thay đổi của xã hội và chủ thể của mạng xã hội đó Càng ở những nút thắc lớn gần với chủ thể trung tâm của mạng lưới xã hội thì mối quan hệ với chủ thể càng mật thiết và có ảnh hưởng đến các nút thắt trong mạng lưới ở cấp độ thấp hơn Đặc biệt, những sự thay đổi quan trọng trong mạng lưới xã hội của một người sẽ làm ảnh hưởng và thay đổi toàn bộ các mối thắt trong mạng lưới xã hội lớn của họ, từ đó nó có thể ảnh hưởng đến vốn xã hội của người đó Putnam (2000) cho rằng một trong những nguyên nhân khiến cho

sự suy giảm vốn xã hội là việc các cá nhân/ gia đình di cư để tìm việc; nhưng những người khác thì tìm hiểu vai trò của Internet đối với sự thay đổi vốn xã hội này

Đề tài khoa học có tên “Facebook và sinh viên: Một phân tích xã hội học

về vốn xã hội” của Đặng Hoàng Lan (Nghiên cứu trường hợp sinh viên trường

ĐHKHXH&NV) đã mô tả việc sử dụng Facebook và ảnh hưởng của Facebook tới vốn xã hội của sinh viên hiện nay Tìm hiểu khả năng phát triển vốn xã hội của Facebook Tìm hiểu khả năng của những hoạt động phát triển vốn xã hội của Facebook tác động đến sự tự tin, thỏa mãn với cuộc sống ở trường đại học của sinh viên

Trang 21

Qua các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan tới đề tài đã cho thấy những nghiên cứu lý luận và áp dụng lý thuyết “vốn xã hội” vào phân tích một số

vấn đề của đời sống xã hội Nghiên cứu “Sinh viên và mạng xã hội Facebook: Một phân tích về sự tiến triển vốn xã hội” đã dựa trên những nghiên cứu trước đây về

vốn xã hội, về lối sống của thanh niên, về mối quan hệ giữa internet và vốn xã hội

để làm cơ sở cho việc thực hiện nghiên cứu này Nghiên cứu là sự phối hợp của nhiều góc độ tiếp cận nghiên cứu xã hội học, đó là sự kết hợp giữa nghiên cứu lối sống, nghiên cứu lý thuyết mạng lưới xã hội, mạng xã hội, vốn xã hội với sự ảnh hưởng của một công cụ mạng xã hội nằm trong hệ thống các công cụ truyền thông internet đang được sử dụng nhiều hiện nay Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả sẽ phân tích sâu hơn những tác động của Facebook tới vốn xã hội của sinh viên 2 trường đại học (Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông), tìm hiểu những tác động dương tính, âm tính của mạng xã hội Facebook với tư cách như một công cụ phát triển vốn xã hội của sinh viên

3 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa lý luận của đề tài

Đề tài này tiếp cận những kiến thức của xã hội học, trong đó vận dụng những kiến thức của xã hội học lối sống, xã hội học khoa học và công nghệ; giúp

bổ sung và làm rõ thêm hệ khái niệm của xã hội học và đặc biệt là xã hội học khoa học và công nghệ Bên cạnh đó, nghiên cứu còn áp dụng những kiến thức của lý thuyết vốn xã hội, mạng lưới xã hội, tương tác xã hội để lý giải vấn đề nghiên cứu

về ảnh hưởng của việc sử dụng mạng xã hội facebook đến vốn xã hội của sinh viên hiện nay

Như vậy, việc vận dụng lý thuyết, phương pháp của xã hội học vào đề tài này

đã giúp cho nghiên cứu có hướng tiếp cận phù hợp với nội dung mà vấn đề đặt ra

Đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ, chứng minh thêm cho các lý thuyết phát triển, biến đổi xã hội như: lý thuyết tương tác xã hội, lý thuyết về vốn xã hội, mạng lưới xã hội Từ đó, góp phần củng cố và làm đa dạng thêm cho hệ thống ứng dụng các lý thuyết xã hộivào nghiên cứu xã hội và giải quyết vấn đề Đóng góp và bổ sung vào

hệ thống các nghiên cứu mới về vấn đề xã hội, không làm mất đi tính mới, và sự biến đổi xã hội thông qua một vấn đề nghiên cứu được lặp đi, lặp lại

Trang 22

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đề tài phân tích và chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của mạng xã hội (facebook) đến vốn xã hội của sinh viên hiện nay Qua đó đưa ra những kết

luận, khuyến nghị hướng tới mục tiêu cao nhất là quản lý việc sử dụng Facebook sao cho hiệu quả

Đề tài còn giúp người nghiên cứu vận dụng được những kiến thức, kỹ năng, phương pháp trong xã hội học để triển khai một vấn đề cụ thể và có thêm kinh nghiệm trong nghiên cứu xã hội học

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài phân tích về sự tiến triển vốn xã hội của sinh viên qua việc sử dụng Facebook Qua đó đưa ra những đánh giá về ảnh hưởng của Facebook đến sự thay đổi về vốn xã hội của nhóm sinh viên và đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao tác động tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực trong việc sử dụng Facebook

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thứ nhất, là hệ thống hóa các hệ thống lý luận, về quá trình phát triển vốn

xã hội của sinh viên trong sự tác động của khoa học và công nghệ (việc sử dụng Facebook với tư cách là bằng chứng cho sự phân tích này)

- Thứ hai, là việc sử dụng Facebook có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của sinh viên Đặc biệt là đến vốn xã hội của nhóm đối tượng này

- Thứ ba, là đánh giá hiện trạng sử dụng Facebook của sinh viên, những cơ hội và thách thức của một loại hình mạng xã hội mới đối với đời sống và việc xây dựng các mối quan hệ xã hội của sinh viên

- Thứ tư, là đánh giá tác động của mạng xã hội Facebook đến sự hình thành, tiến triển vốn xã hội của sinh viên Đồng thời thấy được những tác động tích cực và tiêu cực của Facebook đến sinh viên

5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự tiến triển vốn xã hội của sinh viên khi sử dụng mạng xã hội Facebook

5.2 Khách thể nghiên cứu

- Sinh viên hệ Đại học chính quy là những người sử dụng mạng xã hội Facebook

- Giảng viên là những người sử dụng mạng xã hội Facebook

Trang 23

5.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi thời gian: Từ ngày 09/3/2013 đến ngày 10/5/2014

- Phạm vi không gian: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Học

viện Công nghệ Bưu Chính Viễn thông

- Phạm vi nội dung: Đề tài chủ yếu tập chung nghiên cứu các tác động (dương

tính, âm tính, ngoại biên) của việc sử dụng Facebook đến vốn xã hội (các mạng lưới quan hệ xã hội hữu hình, quan hệ xã hội vô hình, quan hệ xã hội ảo) của sinh viên

6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

6.1 Câu hỏi nghiên cứu

- Hiện nay, sinh viên đang sử dụng mạng xã hội Facebook như thế nào?

- Việc sử dụng facebook ảnh hưởng như thế nào đến sự tiến triển vốn xã hội

của sinh viên?

6.2 Giả thuyết nghiên cứu

- Tác động tích cực của Facebook đến quá trình tiến triển vốn xã hội của sinh viên: thúc đẩy quá trình tương tác xã hội, hỗ trợ tương tác trong việc trao đổi thông tin, cung cấp thông tin đa chiều, phong phú cho sinh viên; giúp cho việc trao đổi, nắm bắt thông tin được diễn ra nhanh chóng và thuận lợi, đồng thời giúp mở rộng mạng lưới quan hệ xã hội của sinh viên

- Tác động tiêu cực của Facebook: giảm khả năng giao tiếp thực, dễ bị ảnh hưởng bởi những dư luận trên mạng, giảm khả năng xử lý tình huống, khó chia sẻ các vấn đề của mình trong thực tế; ảnh hưởng đến tâm lý khẳng định mình, khả năng hoàn thiện bản thân trong thực tế; nhiều thói quen tốt bị mất đi và thay vào đó bởi nhiều thói quen không tốt; gây Lãng phí thời gian

- Sinh viên nữ thường sử dụng các mối quan hệ trên Facebook để học tập, tìm kiếm nơi ở, mua sắm nhiều hơn sinh viên nam

- Sinh viên thuộc khối khoa học xã hội sử dụng các mối quan hệ xã hội trên Facebook để phục vụ việc học tập, tìm kiếm nhà ở, kết bạn mới tốt hơn sinh viên Khối kỹ thuật

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu trên các sách báo, tạp chí, các đề tài, bài viết đã nghiên cứu có liên quan tới vấn đề tác động của internet và cách

Trang 24

thức, mục đích khi sử dụng Internet Thông qua việc tìm hiểu tác động của Internet để

đi vào nghiên cứu sâu hơn một nội dung khi sử dụng Internet, đó là sử dụng mạng xã hội Các tài liệu sẽ cung cấp cho nghiên cứu những cách tiếp cận, các số liệu có liên quan… để giúp cho nghiên cứu có thêm cơ sở thông tin và hoàn thành

7.2 Phương pháp quan sát

Nghiên cứu sử dụng phương pháp quan sát có sự tham gia tức là quan sát hành vi sử dụng mạng xã hội (Facebook) của sinh viên trong đời sống, quan sát và tham gia trực tiếp vào mạng xã hội Facebook để hiểu được những nội dung, cách thức chia sẻ thông tin, và tìm hiểu sâu hơn về những ứng dụng, các thông tin được đưa lên mạng xã hội (Facebook), đồng thời biết được cách mạng xã hội này tìm kiếm, giới thiệu bạn bè như thế nào Hay nói cách khác, đề tài sử dụng cả phương pháp quan sát tham dự và không tham dự vào để nghiên cứu và phân tích vấn đề

7.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến

Phương pháp trưng cầu ý kiến là phương pháp chủ yếu được dùng trong nghiên cứu này, đây là phương pháp định lượng Nghiên cứu đưa ra bảng hỏi với các phương án cho người trả lời để phục vụ cho việc thu thập thông tin cho đề tài Tôi sử dụng một bảng hỏi đã được chuẩn hóa bao gồm 36 câu hỏi và các câu thu thập thông tin từ người trả lời Những thông tin thu được trong bảng hỏi sẽ được tiến hành xử lý qua phần mềm thống kê dành cho khoa học xã hội SPSS 16.0 Các kết quả đưa ra sẽ làm căn cứ chính để nghiên cứu phân tích Trong nghiên cứu này, tôi phát ra 350 bảng hỏi (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là 175 bảng hỏi; Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông 175 bảng hỏi) và thu về được 310 bảng hỏi hợp lệ

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện Đây là cách chọn mẫu phù hợp với dạng nghiên cứu trường hợp, thuận tiện cho người nghiên cứu về mặt thời gian, chi phí và công tác phát bảng hỏi cũng được diễn ra dễ dàng hơn nhưng vẫn đảm bảo được tính đại diện của mẫu Thu thập thông tin qua việc hỏi sinh viên đang đi học tại hai trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

và Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông

Trang 25

310 phiếu hợp lệ có cơ cấu theo các biến số như sau:

Bảng 1: Cơ cấu mẫu nghiên cứu STT Tiêu chí Số lƣợng Tỷ lệ %

hệ xã hội họ đang có Nghiên cứu phỏng vấn 10 trường hợp trong đó có 4 nữ và 6

Trang 26

nam: 4 sinh viên (từ năm thứ nhất đến năm thứ tư) thuộc trường Đại học Khoa học

Xã hội và Nhân văn, 4 sinh viên thuộc Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn thông Việt (từ năm thứ nhất đến năm thứ tư) và 2 giảng viên (1 giảng viên nam thuộc trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và 1 giảng viên nam thuộc Học viện Công nghệ Bưu Chính Viễn thông) 8 sinh viên được phỏng vấn đều có sự khác biệt

về quê quán, năm học, giới tính, trường học Qua đó giúp cho việc tìm hiểu sự khác biệt giữa năm học, giới tính, quê quán, trường học trong hành vi sử dụng Facebook Nội dung phỏng vấn sâu tìm hiểu mức độ sử dụng Facebook của sinh viên, các hoạt động của họ trên Facebook; quan điểm, đánh giá của họ từ khi sử dụng Facebook

Trang 27

8 Khung lý thuyết

Tác động

âm tính

Tác động dương tính

Tác động ngoại biên

Điều kiện Kinh tế - Văn hóa - Xã hội

Đặc điểm nhân khẩu của sinh viên:

- Độ tuổi

- Giới tính

- Tình trạng hôn nhân

Vốn xã hội của sinh viên

Trang 28

- Biến can thiệp: điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội

9 Tính mới của đề tài

Từ những phân tích và định hướng nghiên cứu ở trên, đề tài hướng đến nghiên cứu và phân tích vấn đề dưới góc độ tiếp cận của xã hội học khoa học và công nghệ, xã hội học lối sống để đánh giá những biến đổi và phát triển của vốn xã hội ở một nhóm xã hội nhất định là sinh viên

Đề tài đi vào phân tích thực trạng và đánh giá những tác động theo cả hai chiều dương tính và âm tích để thấy được những một cách nhìn tổng quan nhất về

sự tiến triển của vốn xã hội của sinh viên hiện nay, từ đó chỉ ra một khía cạnh khác

về lối sống của sinh viên, khác hẳn với những lý giải trước đó về sự thay đổi lối sống của nhóm này

Một điểm mới khác mà đề tài mang đến là: đã có rất nhiều những nghiên cứu liên quan đến các phương tiện truyền thông đặc biệt là internet, cũng có nhiều nghiên cứu về vốn xã hội, vốn con người, mạng lưới xã hội song hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra những ảnh hưởng, những vấn đề tổng quan, chung cho một xã hội hay một nhóm xã hội nhất định mà thiếu đi sự tiếp cận vi mô, đi vào nghiên cứu và phân tích chi tiết một khía cạnh nhỏ trong cả một hệ thống tiếp cận Song đề tài này

đã đáp ứng được phần nào đó yêu cầu này: với một góc độ nghiên cứu nhỏ là vốn

xã hội của sinh viên song được qui chuẩn và khống chế trong những tác động của yếu tố mạng xã hội Facebook, sẽ làm cho đề tài trở nên sâu sắc, chi tiết và rõ ràng hơn về vấn đề nghiên cứu Đóng góp vào hệ thống nghiên cứu vấn đề những nghiên cứu chi tiết, vi mô lý giải rõ hơn vấn đề khi ở cấp độ vĩ mô thường mờ nhạt và mang tính chung chung, đồng thời thay thế dần và tiếp cận phương pháp nghiên cứu vấn đề ở cấp độ vi mô nhằm giải quyết vấn đề nhanh chóng và khả thi hơn thông qua hệ thống lý thuyết và những kinh nghiệm của các nghiên cứu vĩ mô mang lại

Trang 29

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm mạng xã hội

Mạng xã hội, theo nghĩa rộng chỉ những tập hợp người cùng sống trong những cộng đồng khác nhau, có liên kết, tương tác với nhau để thực hiện những chức năng nhất định Theo nghĩa hẹp, chỉ một loại hình dịch vụ trên Internet mới phát triển trong kỷ nguyên số, ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin

Khái niệm mạng xã hội được tác giả đề cập đến trong khóa luận này được hiểu theo nghĩa hẹp với ý nghĩa là một thành tựu của công nghệ thông tin tác động đến con người trong các mối quan hệ xã hội Và ở đây, các thuật ngữ như mạng xã hội, social network hay social network site đều được hiểu theo cùng một ý nghĩa

Mạng xã hội (social network) là khái niệm phổ biến trong thời đại Internet và được người dùng nhắc đến như một trong những dịch vụ thông dụng nhất hiện nay trong thế giới ảo Vậy mạng xã hội là gì?

Theo từ điển mở Wikipedia, “Mạng xã hội, hay gọi là mạng xã hội ảo,

(tiếng Anh: social network) là dịch vụ nối kết các thành viên cùng sở thích trên Internet lại với nhau với nhiều mục đích khác nhau không phân biệt không gian và thời gian” Theo đó, có thể hiểu mạng xã hội là một loại hình dịch vụ thực hiện

chức năng kết nối cộng đồng Các đối tượng tham gia mạng xã hội là những người

có cùng sở thích và phạm vi tác động của dịch vụ này là rộng lớn, không giới hạn

Khoản 14, Điều 3, Chương I NĐ 97/2008/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử

dụng dịch vụ Internet và thông tin điện tử trên Internet định nghĩa: “Dịch vụ mạng

xã hội trực tuyến là dịch vụ cung cấp cho cộng đồng rộng rãi người sử dụng khả năng tương tác, chia sẻ, lưu trữ và trao đổi thông tin với nhau trên môi trường Internet, bao gồm dịch vụ tạo blog, diễn đàn (forum), trò chuyện trực tuyến (chat)

và các hình thức tương tự khác”

Một số định nghĩa khác nhận định: “Social Network site hay mạng xã hội là

mạng được tạo ra để tự thân nó lan rộng trong cộng đồng thông qua các tương tác của các thành viên trong chính cộng đồng đó Mọi thành viên trong mạng xã hội cùng kết nối và mỗi người là một mắt xích để tạo nên một mạng lưới rộng lớn

Trang 30

truyền tải thông tin trong đó” (nguồn: xa-hoi-la-gi/) Định nghĩa này nhấn mạnh vai trò của chủ thể tham gia mạng lưới xã

http://seo.iclick.vn/mang-xahoi/tu-van/mang-hội như là nhân tố quyết định sự lan tỏa của mạng xã http://seo.iclick.vn/mang-xahoi/tu-van/mang-hội Ở đó, cộng đồng tham gia tương tác với nhau, tạo thành các mắt xích của một mạng lưới rộng lớn Đồng thời, định nghĩa này cũng đề cập đến hoạt động truyền tải thông tin trong cộng đồng cũng như chức năng tương tác thông tin của người dùng khi sử dụng mạng xã hội

Như vậy có thể thấy, tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về mạng xã hội Tuy

nhiên trong đề tài này, mạng xã hội được cho là một dịch vụ phát triển trên nền

Internet đưa lại nhiều ứng dụng phổ biến cho người dùng với những đặc trưng cơ bản như tính lan tỏa, tính tương tác mạnh mẽ giữa các thành viên Trong đó, các thành viên được kết nối với nhau trên một phạm vi rộng lớn, ở một môi trường không giới hạn Trong môi trường đó diễn ra các tương tác đa dạng của các thành

viên, đặc biệt trong hoạt động truyền tải thông tin

* Một số đặc điểm, tính năng của mạng xã hội

Như đã đề cập ở trên, tuy mới ra đời cách đây gần 20 năm nhưng đến nay mạng xã hội đã trở nên phổ biến với mức độ bao phủ gần như toàn cầu Vậy do đâu

mà loại hình truyền thông này có sức hút mạnh mẽ đến vậy? Ở đó có những đặc điểm, tính năng nào mà có thể làm say mê hàng tỷ người trên thế giới như thế? Tuy mạng xã hội có rất nhiều tính năng nhưng có ba tính năng nổi bật là:

Trước tiên, cần phải đề cập đến khả năng kết nối mạnh mẽ của mạng xã hội

Có thể nói mạng xã hội là môi trường mở dành cho tất cả mọi người Không phân biệt tuổi tác, ngành nghề, giới tính, khu vực, bất kế bạn là ai bạn cũng có thể gia nhập cộng đồng mạng xã hội chỉ với một vài thao tác đơn giản Ở đó mọi người

có thể chia sẻ hình ảnh, cảm xúc, những vấn đề hay trong cuộc sống Mạng xã hội kết nối những con người xa lạ ở khắp nơi trên thế giới với điều kiện đơn giản: Bạn chỉ cần có tài khoản trên một trang mạng xã hội nào đó Bạn cũng không cần gặp mặt hay biết quá nhiều về những người bạn xa lạ miễn là bạn có cùng sở thích hay một điểm tương đồng nào đó Chưa bao giờ con người có thể kết bạn dễ dàng như bây giờ Chưa bao giờ cộng đồng lại trở nên gói gọn và xích lại gần nhau như trên trang mạng xã hội hiện có Có thể nói hiện nay mạng xã hội là cầu nối liên kết con người một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất

Trang 31

Thứ hai: Khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khống lồ

Với sự phổ biến và những tính năng chia sẻ mạnh mẽ, mạng xã hội là công

cụ đắc lực để truyền tải và lưu trữ thông tin Với hàng tỷ thành viên, lượng thông tin được chia sẻ trên mạng xã hội mỗi ngày là cực kỳ lớn Ở một số quốc gia, lượng người theo dõi thông tin trên các trang báo điện tử đã giảm đáng kể bởi họ đã chuyển hướng sang thu nhận thông tin trên mạng xã hội với lượng thông tin được

cập nhật liên tục, rất đa dạng

Nhờ khả năng truyền tải và lưu trữ lượng thông tin khổ lồ như vậy của mạng

xã hội, người dùng có thể cập nhật thông tin một cách nhanh chóng, bao quát được toàn cảnh bằng cách ghé thăm một vài trang Facebook hay các link chia sẻ

Thứ ba: Tính tương tác mạnh mẽ

Tính tương tác mạnh mẽ là một trong những tính năng nổi bật thu hút lượng lớn người tham gia của các mạng xã hội và tạo nên sự khác biệt của mạng xã hội với những loại hình truyền thông khác Mạng xã hội khác biệt với cộng đồng web (diễn đàn, web chia sẻ nội dung) ở tính kết nối các thành viên Các diễn đàn, các web là nơi cung cấp thông tin đơn thuần, tuy có thu hút các thành viên tham gia nhưng sự tham gia, tương tác còn hạn chế Ở đó, các thành viên chỉ dừng lại ở mức bình luận, đăng ý kiến và khó có thể tùy biến Tuy nhiên với mạng xã hội, sự tương tác của các thành viên được tạo dựng một cách tối đa Sự giao tiếp giữa các thành viên của mạng xã hội diễn ra nhiều chiều Tại đó, các thành viên tạo profile (trang

tự thuật thông tin cá nhân) và có thể thường xuyên thay đổi Những người bạn cũ có thể gặp nhau (trên mạng) để trò chuyện và theo dõi tình trạng của nhau thậm chí cập nhật trạng thái để hiểu được tâm lý đối phương Người dùng có thể ghé thăm các trang khác gửi lời mời kết bạn và có thể trở thành bạn của bất cứ nhân vật nổi tiếng nào có tài khoản Facebook hoặc dễ dàng tham gia vào một diễn đàn hay một hội nhóm nào đó và cùng bình luận, bày tỏ ý kiến về một vấn đề quan tâm Ngoài ra người dùng cũng có thể tương tác với chính mình khi xem lại bản thân qua hệ thống thông tin trên trang cá nhân (chẳng hạn như ứng dụng Timeline của Facebook)

Gia nhập cộng đồng mạng xã hội là cơ hội để mỗi thành viên tự thể hiện mình, kết bạn, giao lưu với khối lượng bạn bè khổng lồ Trong Profile cá nhân người dùng có thể tùy chỉnh các thông tin, tự “đánh bóng” bản thân để thu hút bạn

Trang 32

bè, thúc đẩy tương tác Các thông tin đó mang tính tùy biến cao, có thể thay đổi hoàn toàn do ý muốn chủ quan của chủ tài khoản

Nhờ những tương tác mạnh mẽ như vậy nên các mạng xã hội có khả năng

mở rộng thành viên cao hơn bất kỳ loại hình mạng nào khác Việc các thành viên tham gia, kêu gọi bạn bè tham gia như hiệu ứng Domino, dễ dàng tạo thành hiệu ứng rộng lớn Một khi tham gia mạng xã hội, xây dựng các mối quan hệ (không hoàn toàn là ảo) các thành viên rất khó thay đổi hoặc từ bỏ bởi họ đã tự tạo dựng nên một cộng đồng riêng tuy trên mạng nhưng có đầy đủ các mối quan hệ và ít nhiều ảnh hưởng đến đời thực Đây cũng chính là lý do các trang mạng xã hội thu hút và giữ chân thành viên

* Các loại mạng xã hội phổ biến và một số mạng xã hội tiêu biểu

Theo nhiều nhận định, dựa vào tiêu chí đối tượng là trung tâm, hiện nay các mạng xã hội được chia thành 3 nhóm chính là nhóm lấy cá nhân làm trung tâm (Ego centric); lấy mối quan hệ làm trung tâm (relationship centric); và nhóm lấy nội dung làm trung tâm (content centric)

Lấy cá nhân làm trung tâm (Ego centric)

Các mạng xã hội lấy cá nhân làm trung tâm thường tập trung vào các ứng dụng hỗ trợ cá nhân thể hiện bản thân một cách tối đa, trong đó người sử dụng có quyền can thiệp vào cấu trúc và giao diện của trang cá nhân Có thể kể đến một số đại diện như: MySpace, VietSpase, Mash của Yahoo, Yahoo!360

MySpace là đại diện tiêu biểu cho các mạng xã hội thuộc nhóm Ego centric

Ra mắt vào tháng 8 năm 2003 MySpace đã từng là mạng xã hội giữ ngôi vị số 1 trong danh sách các mạng xã hội lớn trên thế giới Các tính năng của MySpace cho phép người dùng tùy biến giao diện trang cá nhân Trang mạng này cũng cung cấp nhiều tính năng phong phú như Myspace TV, Myspace Music giúp cá nhân trải nghiệm các loại hình giải trí đa dạng; khả năng tạo playlist cho các bài hát của người dùng; đặc biệt khả năng tích hợp tốt với các mạng xã hội khác như Twitter, Facebook giúp các thành viên mở rộng tối đa quyền tương tác của mình

Lấy mối quan hệ làm trung tâm (relationship centric)

Đặc điểm chung của các mạng xã hội loại này là xây dựng những ứng dụng thu hút thành viên tương tác với nhau, tạo dựng quan hệ, liên kết với nhau Nó giúp

Trang 33

cho các cá nhân biết người có quan hệ với mình đang làm gì và ngược lại ở đó việc thể hiện bản thân nhằm mục đích tạo lập nhiều mối quan hệ Đặc điểm của loại mạng này là các mối quan hệ càng chặt càng tốt, các tính năng của mạng cũng phải

hỗ trợ cho nhu cầu quan hệ này

Đại diện tiêu biểu cho loại mạng xã hội này là hai mạng xã hội phổ biến nhất

hiện nay: Facebook và Twitter

Twitter là mạng xã hội mini cho phép người dùng chia sẻ thông tin bằng nhiều hình thức thông qua web hay qua SMS trên các thiết bị di động cầm tay Twitter rất đơn giản và dễ sử dụng, được sử dụng phổ biến ở Mới đây, Twitter đã thay đổi hoàn toàn giao diện và bổ sung một số tính năng như hỗ trợ chia sẻ video, ảnh trực tiếp trong tin nhắn của người dùng Với các tính năng như: Dễ dàng cập nhật và chia sẻ thông tin; khả năng kết nối rất mạnh; thành viên được quyền tự do follow người mình thích trừ khi bị chặn; tin nhắn sẽ được gửi tới tất cả mọi người; không cần login để đọc cập nhật mới; có thể dùng phần mềm đọc RSS thay thế mà khả năng tương tác, tạo dựng quan hệ trên Twitter vô cùng mạnh mẽ

Lấy nội dung làm trung tâm (content centric)

Điểm nhấn của nhóm mạng xã hội này là lấy sản phẩm nội dung tạo ra cho cộng đồng mạng làm trung tâm Sản phẩm được thể hiện theo một dạng đa phương tiện nào đó như bài viết, ảnh, audio/video… Ở Việt Nam dạng này có các mạng như Tamtay, Chacha, Mp3, Zing, LiveSpace, phần MyPage của Yahoo!360

Ngoài ra còn nhiều loại khác là sự tổng hợp của các đặc trưng trên cũng như các mạng chuyên biệt cho từng nội dung, đối tượng, công nghệ Những nhóm này

có sự tổng hợp nội dung, không tách bạch rõ ràng các đặc trưng cụ thể và tùy mục đích, thời điểm lại được xếp vào các nhóm khác nhau Chẳng hạn các mạng xã hội được xây dựng để phục vụ các cá nhân tạo dựng hình ảnh (cá nhân làm trung tâm), xây dựng nhiều mối quan hệ đa dạng nhưng khi họ tham gia vào các hội nhóm với phần nội dung thông tin được chú trọng thì lại thiên về nội dung làm trung tâm Do

đó, sự phân chia trên đây chỉ mang tính chất tương đối nhằm nâng cao nhận thức về mạng xã hội Điều quan trọng cần lưu tâm chính là những lợi ích cũng như hiệu quả của việc sử dụng mạng xã hội đến người dùng không chỉ trong thế giới ảo mà còn trong đời thực

Trang 34

Như đã đề cập ở trên, trong nhóm mạng xã hội lấy mối quan hệ làm trung tâm Facebook là một đại diện tiêu biểu Hiện nay, Facebook đang là mạng xã hội có sức ảnh hưởng lớn đến cộng đồng người dùng Internet trên toàn cầu Do đó, việc tìm hiểu đặc trưng cũng như các yếu tố làm nên sức hút của mạng xã hội này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn mà tiết 1 2 dưới đây sẽ làm rõ

1.1.2 Khái niệm mạng xã hội Facebook

Facebook là khái niệm quen thuộc với tất cả mọi người dùng Internet trên khắp thế giới Đây là mạng xã hội ra đời ngày 4/2/2004 do Mark Zuckerberg sáng lập với chức năng chính là kết nối bạn bè và chia sẻ thông tin Facebook có những đặc điểm nổi bật như:

- Khả năng kết nối phong phú

- Nhiều tính năng hấp dẫn: Kết bạn, tìm bạn, tạo Groups, Fanpage

- Khả năng chia sẻ hình ảnh/ video dễ dàng

- Nhiều ứng dụng, games đa dạng

* Lịch sử ra đời, phát triển Facebook

Facebook mở đầu là phiên bản Hot or Not của đại học Harvard với tên gọi Facemash Ngày 28/10/2003 Mark Zuckerberg ra mắt website Facesmash.com

Ít ngày sau website đã phải đóng cửa do sự phản đối của các sinh viên trong trường bởi Mark đã đánh cắp dữ liệu trong database của trường Harvard

Ngày 13/9/2003 ý tưởng “the face book” tính năng mới nhất của houseSYSTEM- một hệ thống giúp định vị nhanh chóng thông tin của các sinh viên lần đầu tiên được Greespan phát đi rộng rãi tới các sinh viên thông qua email HouseSYSTEM là một dịch vụ trên web thu hút trên 7000 sinh viên Harvard trong

đó có Mark Zuckerberg Sau đó 2 tháng, theo lời mời của hai anh em sáng lập Greespan, Mark bắt đầu làm việc tại HarvardConnection.com Tuy nhiên sự hợp tác này không mang lại kết quả như mong muốn bởi trong thời gian hợp tác Mark Zuckerberg đã âm thầm tạo dựng một trang mạng mới của riêng mình dẫn đến vụ kiện cáo đánh cắp ý tưởng sau này với những người thành lập HarvardConnection.com

Ngày 11/1/2004 Mark đăng ký tên miền thefacebook.com và đến 4/2/2004 một website tương tự Friendster ra đời tại phòng trọ của Zuckerberg Sau đó

Trang 35

Eduardo Saverin (kinh doanh), Dustin Moscovitz (lập trình viên), Andrew McCollum (đồ họa) và Chris Hughes nhanh chóng tham gia cùng Zuckerberg để quảng bá website Trong vòng 24 giờ đã có 1200 sinh viên đăng ký và trong vòng 1 tháng đầu tiên đã có 1 nửa sinh viên Harvard tham gia dịch vụ này

Vào tháng 3/2004 Facebook mở rộng sang Standford, Columbia và Yale Ngay sau đó mở rộng ra tất cả các trường đại học, cao đẳng tại Mỹ Đến tháng 6/2004 website thu hút khoảng 30 trường với hơn 15 000 sinh viên đăng ký Cũng trong tháng đó, Facebook nhận được khoản đầu tư đầu tiên từ Peter Thiel (500 000USD) đổi lại 10,2% cổ phần Facebook

Mặc dù vào tháng 9/2004 những người sáng lập HarvardConnection đệ đơn kiện Facebook vì tội ăn cắp ý tưởng nhưng Facebook vẫn chứng tỏ sức hút của mình khi đến thời điểm 30/12/2004 đã có 1 triệu thành viên tạo profile trên Facebook

Facebook tiếp tục phát triển mạnh mẽ bằng việc mở rộng thêm ở các trường đại học thuộc Úc, New Zealand và nhận thêm nhiều khoản đầu tư Facebook cũng

mở rộng hệ thống với sự tham gia của các nhân viên làm việc tại Apple, Microsoft… Cuối năm 2005 hệ thống Facebook bao gồm hơn 2000 trường cao đẳng

và 25 000 trường cấp 3 ở Mỹ, Anh, Mexico, Canada, Úc,…

Ngày 26/9/2006 Facebook chào đón tất cả thành viên trên 13 tuổi và sở hữu 1 email hợp lệ Đây là cú hích quyết định sự gia tăng thành viên mạnh mẽ của Facebook Cuối năm 2007 Facebook đã có khoảng 100.000 trang kinh doanh đồng thời tiếp tục nhận thêm hàng trăm triệu USD từ các chủ thể đầu tư, trong đó

có Microsoft

Tháng 6/2008 ConnectU, mạng xã hội thành lập năm 2004, đã cáo buộc Mark Zuckerberg ăn cắp ý tưởng và sử dụng mã nguồn, công nghệ của mình để xây dựng Facebook Vấn đề đã được đưa ra toà nhưng vụ kiện đã không được giải quyết

và Facebook vẫn tiếp tục phát triển với những cải tiến, nâng cấp không ngừng Tháng 5/2009 Facebook lần đầu tiên vượt qua Myspace về lưu lượng truy cập tại

Mỹ Sau đó một thời gian ngắn Facebook mua lại FriendFeed Tháng 9/2009 là thời điểm Facebook bắt đầu thu được những khoản lời đầu tiên cùng với việc tiếp tục thực hiện nhiều thương vụ mua bán và không ngừng phát triển Tháng 6/2010 giá trị của Facebook được định giá khoảng 11,5 tỷ USD

Trang 36

Nhờ nhận thêm đầu tư, tháng 1/2011 giá trị của Facebook được nâng lên 50

tỷ USD Facebook cũng không ngừng mở rộng hợp tác để phát triển các ứng dụng Tháng 4/2012 mua lại Instalgram với giá 1 tỷ USD Tháng 5/2012 phát hành hơn

420 triệu cổ phiếu (IPO) đem về cho Facebook hơn 16 triệu USD và nâng giá trị của Facebook lên 104 tỷ USD Tháng 10/2012 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong tiến trình đi lên của Facebook khi mạng xã hội này đạt ngưỡng 1 tỷ người dùng

(nguồn: Theo Pandora, 10 năm hình thành và phát triển của Facebook,

http://techdaily.vn/khoi-nghiep/lich-su-10-nam-hinh-thanh-va-phat-trien-cua-facebook/) chứng tỏ năng lực, sức hút mạnh mẽ của mạng xã hội phổ biến nhất thế giới Trên đà phát triển, năm 2013 Facebook tiếp tục phát triển ứng dụng, thu hút người dùng thông qua phát triển thêm ứng dụng Graph search tính năng tìm kiếm nội dung với mức độ cá nhân hóa cao Hiện nay, Facebook đang là mạng xã hội phổ biến nhất thế giới với hơn 1 tỷ người dùng trên thế giới

Biểu 1: Thống kê lượng người dùng Facebook (đơn vị: triệu người)

(Nguồn: [22; tr 31])

*Một số đặc điểm, tính năng nổi bật của Facebook

(1) Đơn giản, dễ sử dụng

Đối với người dùng Internet, việc đăng ký và tham gia Facebook không phải

là một trở ngại lớn bởi sự tiện dụng và đơn giản của nó Chỉ cần có một tài khoản mail đang sử dụng và một vài thao tác bạn sẽ nhanh chóng tạo lập được một tài khoản Facebook Mọi hướng dẫn trên trang Facebook của bạn đã được Việt hóa nên không khó để bạn trải nghiệm những tính năng được khởi tạo Sau khi đã có tài khoản cá

Trang 37

nhân người dùng có thể tùy ý sử dụng các tính năng như kết bạn, đăng ảnh, chia sẻ tin tức nổi bật và tự hoàn thiện thêm cho homepage (trang cá nhân) của mình

(2) Khả năng kết nối phong phú

Được minh chứng bằng tần suất xuất hiện mọi nơi của Facebook Các trang báo mạng hầu hết đều có mục chia sẻ trên Facebook giúp người dùng chia sẻ ngay thông tin vừa đọc cho bạn bè Không chỉ xuất hiện trong thế giới ảo mà trong các cuộc nói chuyện bạn bè các đề tài được nói đến có thể là sự tiếp nối những bình luận trên Facebook Bây giờ Facebook đã trở thành một trong những công cụ liên lạc chính của nhiều người, đặc biệt là giới trẻ Ở đó có đầy đủ thông tin của đối tác

mà việc tìm hiểu thuận tiện, đơn giản hơn việc trao đổi số điện thoại rất nhiều Người dùng có thể gửi lời mời kết bạn tới bất kỳ tài khoản Facebook nào và dễ dàng có thêm một người bạn chỉ với một cú nhấp chuột đồng ý Với Facebook, khoảng cách tuổi tác, nghề nghiệp hay mức độ quen biết không còn là vấn đề quá lớn Bố mẹ có thể “kết bạn” với con cái, thầy cô có thể “kết bạn” với học sinh, nhân viên “kết bạn” với sếp Ngoài ra người dùng còn có thể tham gia các hội, nhóm (Group) cùng sở thích hay có một điểm tương đồng nào đó Hiện nay có rất nhiều hội, nhóm trên Facebook cho bạn lựa chọn như: câu lạc bộ tiếng anh, quà tặng cuộc sống, các hội đồng hương, nhóm lớp cũ hỗ trợ các thành viên tìm được tiếng nói chung tại các cộng đồng của họ Với Facebook việc kết bạn, trao đổi thông tin trở nên giản tiện và thuận lợi hơn rất nhiều

(3)Nhiều tính năng hấp dẫn như: Kết bạn, tìm bạn, tạo Groups, Fanpage, trả lời bình luận

Để thu hút người dùng, Facebook tung ra nhiều tính năng phổ cập nhằm giúp người dùng có thêm nhiều trải nghiệm khác nhau Các tính năng như kết bạn, tìm bạn, tạo Groups, fanpage, trả lời bình luận là những điểm hấp dẫn người dùng Kết bạn là tính năng đầu tiên của Facebook và là một trong những tính năng tiên quyết góp phần quảng bá, phổ biến mạng xã hội này Một người gia nhập Facebook ngay lập tức có xu hướng tìm bạn bè cũ để nối lại liên lạc, mời bạn bè cùng tham gia các Group của mình Nhờ tính năng tìm bạn mà nhiều người dùng đã nối lại liên lạc với bạn bè thất lạc nhiều năm một cách đơn giản và nhanh chóng cũng như dễ dàng kết thêm nhiều bạn mới Chính vì vậy, khi có thêm một người dùng Facebook thì sẽ kéo

Trang 38

theo sự tăng lên đáng kể về lượng thành viên Thêm vào đó, tính năng tạo Groups hay Fanpage giúp người dùng tập hợp những người cùng chung sở thích hay chia sẻ thông tin, tình cảm với nhau hoặc với một đối tượng khác (thần tượng âm nhạc, một người đáng kính ) Trên diễn đàn này họ có thể cập nhật thông tin khá đầy đủ, thường xuyên mà không mất quá nhiều công sức Họ có thể bày tỏ quan điểm, thái

độ, nhận định thoải mái hơn so với gặp mặt trực tiếp Tính năng “trả lời” các bình luận (comment) trên một chủ đề nào đó là tính năng mới nhất vừa được người đứng đầu Facebook công bố đầu tháng 5 năm 2013 Thay vì như trước đây để trả lời những nội dung bình luận, người dùng phải đăng một đoạn bình luận mới ngay bên dưới bình luận mới nhất, điều này sẽ gây khó khăn trong việc cùng thảo luận về một chủ đề nào đó trên Facebook nếu chủ đề đó có quá nhiều người tham gia bình luận Giờ đây, với tính năng trả lời bình luận, người dùng có thể trả lời một bình luận khác ngay bên dưới đoạn nội dung bình luận mà người dùng muốn trả lời Điều này

sẽ giúp các cuộc thảo luận dễ theo dõi hơn và biết rõ được ai đang bàn luận về vấn

đề gì Điều này sẽ giúp dễ dàng hơn trong việc tương tác và giao tiếp với từng cá nhân và tạo nên những cuộc hội thoại có liên quan, kết nối với nhau

Có thể thấy mạng xã hội này giúp người dùng thiết lập các mối quan hệ, thể hiện bản thân và dễ dàng chia sẻ cảm xúc, ý kiến cá nhân từ đó xác lập nên một mạng lưới trao đổi thông tin đa dạng

(4) Khả năng chia sẻ hình ảnh, video dễ dàng

Không chỉ chia sẻ thông tin, cảm xúc, Facebook còn hỗ trợ chia sẻ hình ảnh, video một cách dễ dàng Mỗi ngày hàng nghìn bức ảnh được chia sẻ trên Facebook khiến người dùng có cái nhìn sinh động nhất về cuộc sống của bạn bè và xã hội Người dùng có thể upload hình ảnh theo từng album (chủ đề) hoặc upload thông thường Thậm chí, Facebook còn cho phép chụp ảnh từ webcam của mình Ngoài ra Facebook còn hỗ trợ upload những hình ảnh từ di động lên album trên Facebook để chia sẻ hay tải các hình ảnh đẹp về máy Nhằm thiết lập sự riêng tư, người dùng có thể tùy chọn để cho phép album được xem bởi những ai (bởi tất cả mọi người, bởi những ai là bạn bè, hay bạn bè của bạn bè…)

(5) Nhiều ứng dụng, games đa dạng

Với những người thường xuyên dùng Internet, các Games trên Facebook là

sự lựa chọn khá tốt Ở đó có hàng trăm trò chơi miễn phí để lựa chọn với những

Trang 39

games phổ biến như: Top Eleven, Dragon City, Poker Texas Hold’s em Việt Nam thuộc các thể loại: hành động, phiêu lưu, nhập vai, sòng bạc, đánh bài, Gia đình, tìm vật, câu đố, mô phỏng, thể thao, chiến lược, kiến thức và từ vựng…Đồng thời người dùng còn có thể đưa ra yêu cầu cho bạn bè cùng chơi Đây là kênh giải trí tiện lợi cho người dùng nhưng cũng là lý do khiến chủ tài khoản lãng phí nhiều thời gian hơn vào các hoạt động

(6) Thiết lập quyền riêng tư

Mặc dù với Facebook người dùng có thể theo dõi khá sát sao tình hình của nhau nhưng với những thông tin không muốn công khai, người dùng có thể dễ dàng thiết lập quyền riêng tư Đây là một trong những tính năng hỗ trợ bảo mật thông tin người dùng của Facebook, giúp chọn lọc thông tin trước khi công khai Chủ tài khoản có thể lựa chọn các chế độ bảo mật như công khai, bạn bè, chỉ mình tôi, tùy chỉnh …tùy theo mức độ muốn công khai thông tin của mình Nhờ tính năng này người dùng vẫn có thể tương tác với người khác đồng thời vẫn đảm bảo được quyền riêng tư của mình Tuy nhiên tính năng bảo mật này chỉ mang tính tạm thời và không thực sự an toàn nếu người dùng không thận trọng Đây cũng là vấn đề nhiều người dùng lo ngại nhất khi sử dụng Facebook

Với nhiều tính năng đa dạng và tiện dụng như vậy không quá ngạc nhiên khi Facebook trở nên phổ biến trên phạm vi toàn thế giới và cả ở Việt Nam Facebook

du nhập vào Việt Nam trải qua một quá trình không phải chỉ có những thuận lợi nhưng nay mạng xã hội này đã có chỗ đứng khá vững chắc trong cộng đồng người dùng Việt Nam với tốc độ tăng trưởng người dùng nhanh nhất thế giới

* Sự du nhập của Facebook vào Việt Nam

Facebook du nhập vào Việt Nam (VN) từ những năm 2008 - 2009 Tuy nhiên Facebook được cho là tình cờ chiếm được ưu thế ở VN kể từ sau khi Blog

360 của Yahoo ngừng hoạt động vào tháng 7/2009 Tuy du nhập khá muộn và phải cạnh tranh với nhiều trang mạng khác nhưng lượng người truy cập của Facebook đã nhanh chóng tăng đáng kể, từ 1,8 triệu người vào cuối năm 2009 lên đến 2,9 triệu người vào tháng 10/2010

Theo số liệu từ các công ty nghiên cứu thị trường, VN được ghi nhận là nước

có lượng người dùng Facebook tăng nhanh nhất thế giới với 146% chỉ trong sáu

Trang 40

tháng Cụ thể hơn, có thời điểm lượng người dùng Facebook ở VN tăng thêm 500.000 người chỉ trong hai tuần Vào tháng 10/2012, Facebook vượt qua Zing Me trở thành mạng xã hội số một tại VN (tại thời điểm này Facebook có 8,5 triệu người dùng, trong khi Zing Me có 8,2 triệu) Hiện giờ Facebook vẫn tiếp tục có thêm thành

viên nhưng Zing Me lại có vẻ đang chững lại (nguồn: http://www.tienphong.vn/ Gioi-Tre/619993/Mang-xa-hoi-Cuoc-choi- khong-don-gian-tpol.htm)

Không thể phủ nhận sức lan tỏa mạnh của mạng xã hội Facebook là nhờ những tiện ích và các tính năng vượt trội của nó Một trong những tính năng vượt trội của Facebook chính là tính lan tỏa và khả năng tương tác mạnh mẽ đến người dùng Hiện nay Facebook đang đóng vai trò quan trọng trong đời sống người Việt, đặc biệt là trong giới học sinh- sinhviên và có ảnh hưởng đáng kể đến những tương tác xã hội của người dùng Những tương tác xã hội nói chung và những tương tác xã hội ảnh hưởng bởi việc sử dụng mạng xã hội Facebook nói riêng sẽ được làm rõ trong tiết 1.3 dưới đây

1.1.3 Khái niệm “Sinh viên”

Thuật ngữ “Sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La tinh “Student” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được dùng cùng nghĩa tương đương với từ “Student” trong tiếng Anh “Sinh viên” là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông

Theo quy chế công tác Học sinh Sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ giáo dục và Đào tạo thì: “sinh viên” là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng”

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng

cấp đạt được trong quá trình học (Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Sinhviên)

Từ đó ta có thể hiểu khái niệm “sinh viên” là những người đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng - nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của xã hội

1.1.4 Khái niệm “Vốn xã hội”

Có nhiều khái niệm về “Vốn xã hội”, tuy nhiên trong bài chỉ xét đến một số khái niệm cơ bản của các nhà nhà nghiên cứu đã nêu ra về “Vốn xã hội” như sau:

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w