Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Đề tài nhằm phác họa một cách toàn diện, chân thực về các hoạt động của danh nhân Bùi Kỷ và những đóng góp của ông trong lịch sử dân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội –2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS NGND Nguyễn Văn Khánh
Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, thông tin trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng./
Hà Nội, ngày 15 tháng 1 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hợp
Trang 4Tôi xin trân trọng cám ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo Khoa Lịch
sử – Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, cán bộ các trung tâm lưu trữ, các thư viện đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin trân trọng cám ơn đại diện gia đình, dòng họ Bùi Châu Cầu – Mễ Tràng của danh nhân Bùi Kỷ (Hà Nam) đã cung cấp cho tôi nhiều tư liệu hữu ích Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã khích lệ, tạo những điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Trân trọng!
Hà Nội, ngày 15 tháng 1 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hợp
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Bố cục luận văn 6
NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ GIA ĐÌNH VÀ THÂN THẾ CỦA BÙI KỶ 8
1.1 Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX 8
1.2 Quê hương, dòng họ và gia thế của Bùi Kỷ 12
1.2.1 Xã Châu Cầu, huyện Kim Bảng - Quê hương của Bùi Kỷ 12
1.2.2 Khái quát về dòng họ Bùi và gia thế của Bùi Kỷ 15
1.3 Quá trình lập thân của Bùi Kỷ 19
Tiểu kết chương 1 21
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA BÙI KỶ TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA – GIÁO DỤC 23
2.1 Người thầy tâm huyết với sự nghiệp giáo dục 23
2.2 Bùi Kỷ với phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ (1934 - 1945) 30
2.2.1 Bối cảnh xuất hiện phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ đầu thế kỉ XX 30
2.2.2 Vai trò của Bùi Kỷ trong phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ (1934 - 1945) 33
2.3 Bùi Kỷ với sự nghiệp văn chương 37
Tiểu kết chương 2 50
CHƯƠNG 3 HOẠT ĐỘNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG CỦA BÙI KỶ 51
3.1 Cuộc gặp gỡ với Phan Châu Trinh và Nguyễn Tất Thành 51
3.2 Bùi Kỷ với phong trào truyền bá Quốc ngữ (1938 – 1945) 57
3.3 Bùi Kỷ với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 61
Tiểu kết chương 3 68
Trang 6CHƯƠNG 4 ĐÓNG GÓP CỦA BÙI KỶ ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG, ĐẤT NƯỚC 69
3.1 Đối với dòng họ Bùi, quê hương Hà Nam 69
3.2 Đối với dân tộc 71
Tiểu kết chương 4 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 87
Trang 7sự chuyển biến trong tư tưởng, nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ trí thức Nho học Nhiều người cảm thấy chán nản, đau buồn trước nỗi nhục mất nước, lạc lõng giữa buổi giao thời của hai chế độ, nhưng lựa chọn những cách ứng
xử khác nhau: Có người đỗ đạt ra làm quan phục vụ triều đình, có người từ quan về quê ở ẩn, gửi gắm những trăn trở thời cuộc qua văn thơ, lại có người tập hợp lực lượng chuẩn bị cho các cuộc khởi nghĩa vũ trang Và cũng có người khước từ làm quan để rồi suốt đời gắn bó với nền giáo dục, nền văn học nước nhà như một định mệnh Bùi Kỷ là một người như thế Ông là một trong số ít những nhà nho sống, làm việc dưới cả 3 chế độ: Phong kiến, Pháp thuộc và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Đó là kết quả của một quá trình chuyển biến sâu sắc về mặt tư tưởng của ông, từ yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản
Với các hoạt động giảng dạy, biên khảo, sáng tác thơ văn, cách mạng Bùi Kỷ
đã có những đóng góp to lớn đối với nền văn hóa - giáo dục và cách mạng Việt Nam Vì vậy, thân thế, sự nghiệp của Bùi Kỷ đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm tìm hiểu Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện và khách quan về sự nghiệp cũng như những đóng góp của ông
Trang 82
Xuất phát từ thực tế trên, tôi lựa chọn đề tài “Bùi Kỷ với sự nghiệp văn hóa -
giáo dục và cách mạng Việt Nam thế kỉ XX” làm đề tài luận văn thạc sĩ với mong
muốn góp phần làm sáng tỏ thêm về thân thế, hoạt động và những cống hiến của ông đối với quê hương, đất nước
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Bùi Kỷ là một phó bảng, một nhà sư phạm, một nhà văn, một nhà nghiên cứu văn hóa có ảnh hưởng, đóng góp lớn vào việc hình thành tri thức về ngữ văn Việt và Hán Việt, tri thức về lịch sử văn học Việt Nam Vì vậy, thân thế và hoạt động của ông đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập, giới thiệu
Tiểu sử, sự nghiệp của Bùi Kỷ đã được một số nhà nghiên cứu biên soạn trong các bộ từ điển và các bộ sách mang tính chất từ điển về lịch sử, văn học, khoa cử
Tiêu biểu là cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q Thắng và
Nguyễn Bá Thế (Nxb Tổng hợp, Tp Hồ Chí Minh, 1991) Trong cuốn này, tác giả giới thiệu khái quát tiểu sử và các tác phẩm chính của Bùi Kỷ, đồng thời khẳng
định: “Bùi Kỷ là một trí thức yêu nước, một học giả uyên thâm, có công với văn học
nước nhà đầu thế kỉ XX, nhất là thời chữ Quốc ngữ có tư thế trên văn đàn” Bên
cạnh đó, cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 2 của Trần Văn Giáp chủ biên
(Nxb Khoa học xã hội, 1971), đã giới thiệu qua tiểu sử, hoạt động và một số tác
phẩm của Bùi Kỷ Ngoài ra, các cuốn như Khoa cử và các nhà khoa bảng triều
Nguyễn do Phạm Đức Thành Dũng - Vĩnh Cao chủ biên (Nxb Thuận Hóa, 2000),
cuốn Nhân vật lịch sử văn hóa Hà Nam của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam (2000), Từ điển văn học (bộ mới) của Đỗ Đức Hiểu chủ biên, Các nhà khoa bảng
Việt Nam 1075 - 1919 của tác giả Ngô Đức Thọ (Nxb Văn học, 2006) đã cung
cấp nguồn thông tin khái quát về tiểu sử, hoạt động và một số tác phẩm của danh nhân Bùi Kỷ Tuy vậy, một số sự kiện liên quan đến ông vẫn chưa có sự thống nhất
và chưa chính xác, cần phải được nhìn nhận, xem xét lại
Các công trình nghiên cứu trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục, có thể kể tới cuốn
Thầy giáo Việt Nam mười thế kỉ của tác giả Vũ Ngọc Khánh (Nxb Thanh niên,
2000) Trong cuốn này, tác giả đã trình bày về nhân cách, tư tưởng của Bùi Kỷ qua
Trang 93
những kỷ niệm hồi tác giả còn học ở Trường tư thục Thăng Long Bên cạnh đó,
luận án tiến sĩ của Lê Tâm Đắc với đề tài “Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc
Kỳ” năm 2008, khẳng định Bùi Kỷ là một trong số 11 vị có ảnh hưởng và đóng góp
lớn nhất cho hoạt động chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ trước năm 1953 Hoạt động
truyền bá Quốc ngữ của Bùi Kỷ cũng được đề cập trong cuốn Hội Truyền bá Quốc
ngữ trong sự nghiệp chống nạn thất học của Nxb Giáo dục năm 1988 Ngoài ra là
một số bài viết đăng trên Thông báo Hán Nôm học (Viện Nghiên cứu Hán Nôm)
như: “Bút tích của Phó bảng Bùi Kỷ và bản dịch thơ của nhà văn Nguyễn Tử Siêu tại nhà thờ Hoàng giáp Lê Huy Trâm” (năm 2004) của hai tác giả Đặng Bằng - Lê Liêm, “Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của nhà biên khảo Bùi Kỷ (1887 - 2007)” của tác giả Thế Anh (năm 2007)
Không chỉ là một nhà sư phạm, Bùi Kỷ còn là một nhà văn, nhà thơ Bởi thế, giới nghiên cứu cũng đặc biệt quan tâm đến việc sưu tầm, giới thiệu, phân tích, phê bình các công trình biên khảo, hiệu khảo, sáng tác thơ văn của ông Tiêu biểu là
cuốn Văn thơ của Ưu thiên Bùi Kỷ của Lê Tư Lành xuất bản năm 1982, trong đó,
tác giả đã thu thập, dịch thuật tổng cộng 77 bài của Bùi Kỷ, gồm: 14 bài thơ chữ Hán, 63 bài thơ Quốc ngữ, và được chia thành 4 nhóm: Thơ tức cảnh, thơ tự sự, các
loại văn, thơ ngắn trong cuốn Quốc văn cụ thể Tuy nhiên, công trình được đánh giá
là đầy đủ nhất về sự nghiệp văn chương của Bùi Kỷ đến nay là Thơ văn Bùi Kỷ của
Nguyễn Văn Huyền do Nxb Khoa học xã hội (Hà Nội) ấn hành năm 1994 Trong cuốn này, tác giả đã nêu khái quát thông tin về tiểu sử Bùi Kỷ, tuyển tập 102 trước tác của ông trên các lĩnh vực hiệu khảo, dịch, sáng tác; đồng thời, phân tích tư tưởng của Bùi Kỷ thể hiện qua các trước tác văn học đó Ngoài ra còn một số công
trình mang tính chất tuyển chọn, giới thiệu thơ văn của Bùi Kỷ như: Tuyển tập thơ
Hà Nam do Nguyễn Thế Vinh chủ biên (Nxb Hội Nhà văn & Hội Văn học nghệ
thuật Hà Nam, 2000), Tuyển tập văn Hà Nam của Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam (Nxb Hội Nhà văn, 2000), Nhà văn hiện đại, tập 1 của Vũ Ngọc Phan (Nxb Văn học, 1994), Danh nhân họ Bùi của Bùi Xuân Ngật (Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2013), Phủ Lí thơ của nhóm tác giả Vũ Ngọc Phác - Phạm Vĩnh - Nguyên Xuân
Vân (Nxb Văn học, Hà Nội, 1995)
Trang 104
Qua những công trình nghiên cứu kể trên, chúng ta thấy việc nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp của Bùi Kỷ trước nay mới chỉ được tiến hành ở mức độ khái lược,
chưa toàn diện Riêng trong cuốn Thơ văn Bùi Kỷ, tác giả Nguyễn Văn Huyền đã
dành nhiều công sức giới thiệu về tiểu sử, trình bày tư tưởng của Bùi Kỷ qua một số sáng tác thơ văn của ông Tuy nhiên, hành trạng và hoạt động của Bùi Kỷ cả trước
và sau năm 1945 chưa được tìm hiểu, phân tích kỹ lưỡng Vì vậy, thiết nghĩ, việc nghiên cứu một cách toàn diện về thân thế, hoạt động và đóng góp của Bùi Kỷ dưới góc độ sử học là điều vô cùng cần thiết
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm phác họa một cách toàn diện, chân thực về các hoạt động của danh nhân Bùi Kỷ và những đóng góp của ông trong lịch sử dân tộc thế kỷ XX, đặc biệt
là trên các lĩnh vực văn hóa - giáo dục và cách mạng
Nhiệm vụ nghiên cứu
Thu thập các nguồn thông tin khác nhau về danh nhân Bùi Kỷ Trên cơ sở đó, tiến hành phân loại, sắp xếp, phân tích và xử lý các nguồn tư liệu để có được những thông tin, dữ liệu đúng đắn về hành trạng, hoạt động của ông Đồng thời, khái quát những đóng góp và đánh giá vai trò của Bùi Kỷ đối với quê hương, đất nước
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động của Bùi Kỷ trên các lĩnh vực văn hóa - giáo dục, cách mạng cũng như những đóng góp của ông đối với lịch sử Việt Nam trong thế kỷ XX
Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu của đề tài là những nơi có liên quan đến cuộc đời và hoạt động của Bùi Kỷ, trước hết là Hà Nam, Hà Nội… là những nơi ông sinh sống
Trang 115 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu lưu trữ có liên quan đến Bùi Kỷ và địa danh Hà Nam trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945 hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia I và Trung tâm Lưu trữ quốc gia III Đây là nguồn tư liệu quan trọng để chúng tôi tìm hiểu về thân thế, hoạt động của ông
Nguồn tài liệu sưu tầm thực địa như: Bút tích của Bùi Kỷ và bản dịch thơ của nhà văn Nguyễn Tử Siêu tại nhà thờ Hoàng giáp Lê Huy Trâm (Hà Nội), bài thơ
“Yết Nhị Trưng từ” được khắc tại Đền Hai Bà Trưng (Phường Đồng Nhân, Hai Bà Trưng, Hà Nội) Bên cạnh đó, các các tư liệu về gia phả, dòng họ sẽ giúp chúng tôi tìm hiểu về thân thế, cuộc đời, quê hương Bùi Kỷ trên cơ sở đối chiếu so sánh với các nguồn tư liệu khác
Nguồn tư liệu tham khảo khác như các sách từ điển, sách tổng hợp, sách chuyên khảo, các bài nghiên cứu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Bùi Kỷ Có thể kể
đến như cuốn Thơ văn Bùi Kỷ của Nguyễn Văn Huyền, Văn thơ của Ưu Thiên Bùi
Kỷ của Lê Tư Lành, Danh nhân họ Bùi của Bùi Xuân Ngật (cb)…
Nguồn tư liệu internet là website của Họ Bùi Việt Nam, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Cổng thông tin điện tử Hà Nam cũng giúp chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
Trang 126
Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phương pháp lịch sử cho phép chúng tôi tiến hành nghiên cứu và trình bày sự hiểu biết về danh nhân Bùi Kỷ theo một quá trình có hệ thống, trong mối liên hệ với bối cảnh lịch sử chung của đất nước nhằm đạt được những thông tin khách quan, chính xác
Do là một đề tài nghiên cứu nhân vật lịch sử nên chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích, so sánh Dựa trên các nguồn tư liệu thu thập được, đề tài sẽ tiến hành phân tích các yếu tố liên quan đến con người, tư tưởng và hoạt động của danh nhân Bùi Kỷ Đồng thời, liên hệ với một số nhân vật lịch sử khác nhằm làm nổi bật tính cách, phẩm chất, tài năng của ông
Ngoài ra, đề tài khai thác triệt để phương pháp hồi cố thông qua việc phỏng vấn những người thuộc thế hệ sau của Bùi Kỷ Các phương pháp khác như khảo sát thực địa, logic cũng được sử dụng nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu của đề tài
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sang tỏ them hoạt động của Bùi Kỷ trên các lĩnh vực văn hóa – giáo dục và cách mạng từ năm 1917 đến năm 1960 Đồng thời, phân tích những đóng góp của Bùi Kỷ đối với dòng họ Bùi, quê hương Hà Nam và đất nước Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu lịch sử văn hóa Việt Nam hiện đại; giúp nâng cao hiểu biết về nhân vật Bùi Kỷ, góp phần làm phong phú thêm truyền thống tốt đẹp của dòng họ Bùi và quê hương Hà Nam
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 4 chương:
Chương 1 Vài nét về gia đình và thân thế của Bùi Kỷ
Trang 137
Trong chương này, luận văn trình bày các đặc điểm nổi bật của bối cảnh lịch sử dân tộc cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX; truyền thống quê hương Hà Nam, dòng họ Bùi Châu Cầu – Mễ Tràng và gia đình của Bùi Kỷ - Những chất xúc tác có tác động đến quá trình học tập và lập thân của ông
Chương 2 Hoạt động của Bùi Kỷ trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục
Chương 2 của luận văn nêu và phân tích các hoạt động chủ yếu của Bùi Kỷ trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục, bao gồm các hoạt động: Giảng dạy, tham gia phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ 1934-1945, sự nghiệp văn chương
Chương 3: Hoạt động yêu nước và cách mạng của Bùi Kỷ
Trong chương này, luận văn trình bày rõ ràng hoạt động yêu nước và cách mạng của Bùi Kỷ trong sự liên hệ với các trí thức cách mạng tiêu biểu và phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Chương 4 Đóng góp của Bùi Kỷ đối với quê hương, đất nước
Đây là phần đánh giá của tác giả luận văn về những đóng góp của danh nhân Bùi
Kỷ đối với quê hương, đất nước thông qua những hoạt động sự nghiệp của ông
Trang 148
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 VÀI NÉT VỀ GIA ĐÌNH VÀ THÂN THẾ CỦA BÙI KỶ
1.1 Bối cảnh Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX
Sau những tính toán, thăm dò, ngày 1-9-1858, với những phát súng đầu tiên tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), thực dân Pháp chính thức phát động cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam Tuy vậy, phải cho đến năm 1897, về cơ bản, Pháp mới hoàn thành công cuộc bình định nước ta và bắt đầu tập trung khai thác thuộc địa Chính sách, thủ đoạn khai thác và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp là toàn diện trên tất
cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa Điều này đã có những tác động sâu sắc, làm thay đổi cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX
Kỳ là xứ thuộc địa, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, còn Trung Kỳ là xứ nửa bảo hộ Vua Nguyễn vẫn tồn tại nhưng không có thực quyền mà chỉ là bù nhìn, phải tuân theo mệnh lệnh của Toàn quyền Đông Dương Dưới quan Toàn quyền có quan người Pháp trực tiếp cai quản các xứ: Thống sứ (Bắc Kỳ), Khâm sứ (Trung Kỳ) và Thống đốc (Nam Kỳ)
Như thế, về mặt chính trị, Pháp luôn quán triệt thực hiện chính sách “chia để trị”; đồng thời, cử nhiều quan lại người Pháp đến làm việc tại Việt Nam cũng như
áp dụng chính sách “Dùng người Việt trị người Việt” Với các chính sách đó và bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, thực dân Pháp đã từng bước thiết lập bộ máy chính quyền thực dân tại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung
Về kinh tế
Bản chất của chủ nghĩa thực dân là tranh giành thị trường và thuộc địa Do đó, mục tiêu tối thượng của Pháp là biến Việt Nam trở thành thuộc địa nhằm độc quyền
Trang 159
về thị trường, khai thác tài nguyên và bóc lột sức lao động để thu được nguồn lợi nhuận tối đa Ngay sau khi hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, nhà cầm quyền Pháp đã nhanh chóng tiến hành các chương trình khai thác thuộc địa Các chính sách về kinh tế của Pháp được thực hiện với tốc độ nhanh, nguồn vốn lớn và tăng dần qua các năm Nếu như trong Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 - 1914), số tiền tư bản Pháp đầu tư vào Việt Nam là trên 500 triệu Phrăng, thì nguồn vốn này đã tăng gấp nhiều lần trong Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai (1919 - 1929) Nguồn vốn của Pháp tập trung trong các ngành khai mỏ, sản xuất nông nghiệp, kỹ nghệ, giao thông vận tải và thương nghiệp Đó là điều kiện dẫn tới
sự ra đời của hàng loạt các đồn điền, công ty khai mỏ, cơ sở công nghiệp và thương nghiệp
Dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của Pháp, nền kinh tế Việt Nam có những chuyển biến rõ rệt và ngày càng sâu sắc Bên cạnh một nền kinh tế què quặt, phụ thuộc vào chính quốc Pháp là một nền kinh tế mang tính chất tư bản chủ nghĩa Sự chuyển biến về cơ cấu và tính chất nền kinh tế đã làm thu hẹp và biến dạng các quan hệ kinh tế cũ, thúc đẩy nhanh quá trình đưa nền kinh tế Việt Nam vào quỹ đạo phát triển tư bản chủ nghĩa, xu hướng phát triển tự nhiên và tất yếu của nhân loại
Cùng với đó, Pháp cũng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Hệ thống đường xá gồm đường bộ, đường thủy, đường sắt được sửa chữa, xây mới nhằm phục vụ đắc lực cho việc vận chuyển vũ khí, nhân lực, tài nguyên, hàng hóa Ngoài ra, hệ thống viễn thông với khoảng 14.000km đường dây điện thoại, nhiều bến cảng, kho tàng… được đưa vào hoạt động Cũng nhờ vậy, quá trình hiện đại hóa của Việt Nam được thúc đẩy nhanh hơn, bớt dần sự lạc hậu so với thế giới bên ngoài
Về văn hóa, giáo dục
Sau khi chiếm được 6 tỉnh Nam Kỳ, Pháp đã tìm cách xóa bỏ chế độ thi cử Hán học ở đây Kể từ sau khoa Giáp Tý 1864 tại trường thi An Giang, kỳ thi Hương ở Nam Kỳ không còn được tổ chức nữa Thay vào đó, Pháp bắt đầu thiết lập hệ thống giáo dục mới ở Nam Kỳ Trong khi đó tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ, thực dân Pháp tỏ ra
dè dặt hơn, bên cạnh hệ thống giáo dục mới, họ vẫn tiếp tục duy trì chế độ khoa cử
Trang 16Từ cải tổ chế độ khoa cử, Pháp tiến tới xóa bỏ hoàn toàn nền giáo dục Hán học tại Việt Nam Khoa thi Hương ở Bắc Kỳ đã bị bãi bỏ vào năm 1915, còn ở Trung
Kỳ là năm 1919 Ngày 21-12-1917, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut đã ban hành một văn bản cải cách giáo dục ở Đông Dương, mang tên Quy chế chung về giáo dục ở Đông Dương (thường được gọi là Học chính tổng quy) Nội dung chủ yếu của quy chế này là quy định các cấp học và những vấn đề có liên quan như thi cuối cấp, bộ máy quản lý, tiêu chuẩn giáo viên Bản quy chế quy định rõ là giáo dục Đông Dương chủ yếu là giáo dục phổ thông và giáo dục thực nghiệp Trường học chia thành 2 loại: Trường Pháp và trường Pháp - Việt Hệ thống giáo dục phân chia thành 3 cấp: Đệ nhất cấp (tức Tiểu học), Đệ nhị cấp (Trung học), Đệ tam cấp (Cao đẳng) Ngoài ra, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, Pháp còn lập ra một số
cơ sở nghiên cứu khoa học như Viện Vi trùng học, Trường Viễn Đông Bác cổ, Nha Khí tượng, Viện Nghiên cứu nông nghiệp và kỹ nghệ Sài Gòn, Trường Cao đẳng Y khoa Hà Nội…
Những chính sách về văn hóa, giáo dục của thực dân Pháp đã làm cho đời sống
xã hội và văn hóa Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX đã có những chuyển biến Nền giáo dục mới không chỉ làm xuất hiện một đội ngũ trí thức Tây học am hiểu
Trang 1711
nhiều lĩnh vực chính trị, tư tưởng, triết học, văn học nghệ thuật phương Tây, mà còn tác động tới cả một bộ phận trí thức phong kiến cũ, biến họ trở thành những trí thức phong kiến tư sản hóa Trong điều kiện của một xã hội thuộc địa, chính tầng lớp trí thức vừa mới vừa cũ này đã trở thành lực lượng quan trọng trong việc tiếp thu và truyền bá những tư tưởng mới trong nhân dân, chống lại hệ tư tưởng phương Đông
đã lỗi thời, lạc hậu Tuy vậy, thực dân Pháp vẫn tìm cách tuyên truyền một nền văn hóa lai căng, mị dân Thống sứ Bắc Kỳ trong báo cáo ngày 1-3-1899 gửi Toàn
quyền Đông Dương, viết: “Kinh nghiệm của các dân tộc châu Á khác đã chỉ rõ
rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột”
[55, tr 109]
Về xã hội
Dưới tác động của các chính sách của thực dân Pháp, cơ cấu xã hội Việt Nam có
sự biến chuyển sâu sắc: những giai cấp cũ bị phân hóa và xuất hiện thêm những giai cấp mới
Hai giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất phong kiến là địa chủ và nông dân đã có sự phân hóa mạnh mẽ Trong khi giai cấp địa chủ với khuynh hướng tư sản kiêm địa chủ, đặc biệt là tầng lớp đại địa chủ Nam Kỳ ngày càng giàu có, thì nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa và phá sản hàng loạt bởi chính sách chiếm đoạt ruộng đất của thực dân và địa chủ cũng như chính sách tô thuế nặng nề của Pháp
Sự thay đổi quan trọng nhất trong cơ cấu xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX là sự xuất hiện của các tầng lớp và giai cấp mới đại diện cho phương thức sản xuất mới tư bản chủ nghĩa Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời từ trước Chiến tranh thế giới I
đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng Trong những năm 1925 -
1930, do những hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, giai cấp công nhân đã có sự chuyển mình nhanh chóng Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu thời kỳ mới trong lịch sử cách mạng nước ta Những hoạt động tích cực của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau là Đảng Cộng sản Đông Dương) đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ sau năm 1930
Trang 1812
Sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp vào Việt Nam cũng làm xuất hiện giai cấp tư sản và tiểu tư sản Tuy nhiên, tư sản Việt Nam bị tư sản nước ngoài chèn ép nên có nhiều hạn chế về thực lực kinh tế và ý thức chính trị Tiểu tư sản Việt Nam bao gồm những nhà tiểu công nghệ (thợ thủ công), tiểu thương, học sinh, sinh viên… So với công nhân và nông dân, giới trí thức và công chức có thu nhập và đời sống vật chất dễ chịu hơn, nhưng vẫn bấp bênh và bị khinh rẻ Cùng với quá trình phát triển của kinh tế xã hội và quá trình đô thị hóa, tiểu tư sản ngày một đông, trong đó, giới trí thức chiếm một bộ phận đông đảo Họ là những người năng động, nhạy cảm với thời cuộc, đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá những tư tưởng tiến bộ đến nhân dân
Cũng dưới tác động của hai cuộc khai thác thuộc địa, ở nước ta đã diễn ra quá trình đô thị hóa khá mạnh mẽ Các giai cấp công nhân, tư sản, tiểu tư sản tập trung ngày càng đông đảo ở thành thị chính là cơ sở cần thiết cho việc truyền bá những tư tưởng mới, lối sống mới vào Việt Nam
1.2 Quê hương, dòng họ và gia thế của Bùi Kỷ
Cuộc sống của mỗi cá nhân luôn chịu sự tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Nói cách khác, quê hương, dòng họ, gia đình chính là nơi nuôi dưỡng tạo dựng nhân cách mỗi con người Đó đã là một quy luật không thể phủ nhận Bởi vậy, khi tìm hiểu về danh nhân Bùi Kỷ, không thể không xét đến truyền thống lịch sử của quê hương Châu Cầu, rộng hơn là huyện Kim Bảng rồi tỉnh Hà Nam cũng như nền giáo dục của gia đình Những yếu tố đó hẳn có ảnh hưởng nhất định tới việc hình thành ý thức tự học, tình yêu quê hương, đất nước của Bùi Kỷ
1.2.1 Xã Châu Cầu, huyện Kim Bảng - Quê hương của Bùi Kỷ
Hà Nam là vùng đồng bằng chiêm trũng với hệ thống sông ngòi dày đặc gồm các con sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Giang, sông Nhuệ… Điều kiện tự nhiên như vậy đã tạo cho Hà Nam những thuận lợi trong canh tác nông nghiệp, mà nghề trồng lúa nước là rất phổ biến Ngoài ra, nhờ gần sông, đất được bồi đắp phù sa nên người dân còn sớm tìm kiếm các cây trồng, ngành nghề khác để
bổ trợ cho nông nghiệp lúa nước như trồng hoa màu, chăn nuôi gia súc, nghề chài lưới Mặt khác, Hà Nam còn được xem là cửa ngõ phía nam của kinh thành Thăng
Trang 19Kim Bảng thời các vua Hùng có tên là Cổ Bàng nằm trong quận Vũ Bình thuộc
bộ Giao Chỉ Đến đời Trần, Kim Bảng thuộc châu Lỵ Nhân, lộ Đông Đô Năm
1466, Lê Thánh Tông đổi tên Cổ Bàng là Kim Bảng thuộc phủ Lỵ Nhân của Sơn Nam thừa tuyên1 Cuối thế kỷ 15, Thừa tuyên được đổi thành Xứ, phủ Lỵ Nhân thuộc xứ Sơn Nam Đến thế kỉ XVIII, triều đình bỏ Xứ đặt Lộ thì phủ Lỵ Nhân thuộc lộ Sơn Nam Thượng Thời Tây Sơn (1788-1802), đổi Lộ thành Trấn, phủ Lỵ Nhân thuộc trấn Sơn Nam Dưới thời Gia Long, phủ Lỵ Nhân thuộc trấn Sơn Nam Thượng Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), đổi cách viết chữ Lỵ thành chữ Lý Năm
1831, vua Minh Mệnh tiến hành cải cách hành chính, Sơn Nam Thượng đổi làm tỉnh Hà Nội và Nam Định, phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội [85, tr 29] Mãi cho đến năm 1890 (đời vua Thành Thái), tỉnh Hà Nam2
mới được thành lập, bao gồm 5 huyện: Nam Xương (Nam Sang), Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục, Kim Bảng Năm 1908, châu Lạc Thủy được sáp nhập vào tỉnh Hà Nam3
Xã Châu Cầu trước cuộc cải cách của vua Minh Mệnh thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng Xã Châu Cầu nằm ở bên bờ
đê Quai Mễ, cạnh sông Châu Giang Phía đông giáp với xã Mễ Tràng (huyện Thanh
1 Năm 1466, Lê Thánh Tông chia nước ta làm mười hai đạo Thừa tuyên
2 Về tên gọi Hà Nam, nhiều người cho rằng, vì nằm ở phía Nam của Hà Nội nên được đặt tên là Hà Nam Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, do nằm xen giữa hai tỉnh Hà Đông và Nam Định nên khi tách ra được gọi là
Hà Nam
3 Từ năm 1953, Lạc Thủy được chuyển lại cho tỉnh Hòa Bình
Trang 2014
Liêm), phía tây giáp với sông Châu Giang, phía nam giáp xã Hùng Phú và phía bắc gần giáp với xã Lạc Trường [91, tr 1] Sau cải cách hành chính của vua Minh Mệnh năm 1831, xã Châu Cầu thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, tỉnh
Danh mục các làng xã Bắc Kỳ, cho rằng làng Châu Cầu thuộc xã Mễ Tràng, huyện
Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam [56, tr 55]
Năm 1933, xã Châu Cầu đổi thành Thị xã và 4 thôn cũ lần lượt được đổi thành 4 phố tương ứng là Bảo Thôn, Thi Thôn, Quy Lưu và Tân Khai [109, tr 2] Ngày 30-11-1950, Thủ hiến Bắc Việt ra Nghị định số 6537- THP/NĐ hợp nhất hai xã Châu Cầu và Hùng Phú thuộc tổng Mễ Tràng thành xã Châu Hùng [65, tr 859] Đến năm
1965, xã Châu Cầu thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Nam Hà [65, tr 859] Năm 1977, tỉnh Hà Nam Ninh5 được thành lập, xã Châu Cầu thuộc huyện Kim Thanh trên cơ
sở hợp nhất hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng và thị xã Phủ Lý Năm 1981, khi hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng được tách về như cũ thì xã Châu Cầu thuộc huyện Thanh Liêm Năm 1991, khi tỉnh Hà Nam Ninh được tách thành 2 tỉnh Nam Hà và Ninh Bình như cũ thì Châu Cầu thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Nam Hà Đến năm
1997, khi tái lập tỉnh Hà Nam thì xã Châu Cầu thuộc huyện Thanh Liêm Hiện nay, Châu Cầu là tên một con phố thuộc phường Lương Khánh Thiện, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam [65, tr 859] Theo ông Bùi Cộng Hòa, Tổng Thư ký Ban liên lạc dòng
họ Bùi Mễ Tràng - Châu Cầu, người dân sinh sống ở khu vực phố Châu Cầu hiện nay chủ yếu là người từ nơi khác đến, còn người dòng họ Bùi đã phiêu tán từ thời
4
Đại lý là một cấp hành chính lớn hơn huyện nhưng nhỏ hơn tỉnh
5 Tỉnh Hà Nam Ninh được thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình
Trang 2115
kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, phần lớn là đến Hà Nội và TP Hồ Chí Minh
Hà Nam nổi tiếng là quê hương xuất thân của nhiều nhân tài qua các thời kỳ lịch
sử như: Hoàng Thuần đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Quý Dậu năm 1453 đời vua Lê Nhân Tông, Phạm Viết Tuấn đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Tuất đời vua Lê Huyền Tông năm 1670, Bạch Đăng Ôn đỗ Hoàng giáp đời Minh Mệnh năm 1835, Vũ Duy Tuân đỗ Hội nguyên khoa Mậu Thìn đời Tự Đức năm 1868, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến năm 1871… Đối với tên gọi Kim Bảng, theo tác giả Lại Quang Phục6, có nghĩa là cái bảng mới, cái bảng vàng ở trên
đó ghi tên các sĩ tử đỗ đạt (đăng khoa) trong các kỳ thi do các triều đại phong kiến
tự chủ Đại Việt xưa tổ chức, lựa chọn Đó là sự khao khát đỗ đạt để tiến thân bằng con đường khoa bảng (học vấn) [118] Như vậy, việc thay đổi tên huyện Kim Bảng đời vua Lê Thánh Tông có lẽ cũng vì dụng ý đó Tên gọi Kim Bảng với ý nghĩa như vậy đã tác động, làm thay đổi nếp nghĩ, nhận thức của người dân nơi đây, chú tâm vào việc rèn luyện, đào taọ nhân tài, mong muốn cho con cháu thông minh, cần cù ham học, làm lợi cho quê hương, đất nước Đặc biệt, ngoài dòng họ Bùi, xã Châu Cầu xưa cũng nổi tiếng với nhiều dòng họ hiếu học như họ Lương, họ Trần…
1.2.2 Khái quát về dòng họ Bùi và gia thế của Bùi Kỷ
Thủy tổ dòng họ Bùi của Bùi Kỷ là Bùi Viết Cung, quê gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay là thôn Triều Đông, xã Tân Minh, huyện Thường Tín, TP Hà Nội) Theo các cụ thuộc hậu duệ họ Bùi giải thích, “thôn Triều Đông” tức là thôn có đông người làm quan trong triều
Từ đầu thế kỷ XVIII, cụ Bùi Viết Cung đã về bến Mễ, thôn Thượng, tổng Mễ Tràng, huyện Thanh Liêm, phủ Lỵ Nhân, trấn Sơn Nam Thượng lập nghiệp Theo gia phả của dòng họ, cụ Bùi Viết Cung sắm được thuyền đi buôn muối từ biển về, mang hàng gốm sứ, lương thực thực phẩm xuống trao đổi giao thương Khi Tây Sơn phất cờ khởi nghĩa, cụ đã dùng thuyền của mình chuyên chở lương thực cho nghĩa quân nên được triều đình nhà Lê thụ phong hàm: Tướng sĩ lang Ích quang điện trị
6
Lại Quang Phục sinh ngày 22-8-1953 tại xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Nam Định
Trang 2216
sự Cụ qua đời ngày 18-3-1786 và được con cháu đưa về Triều Đông an táng trên gò Văn Chỉ phía nam lăng cụ Lý Tử Tấn Từ bao đời nay, dòng họ Bùi vẫn còn truyền nhau câu ca dao về gốc tích của mình:
Vốn xưa Tổ ở Triều Đông Thuận buồm xuôi gió tới dòng sông Châu
Thoạt tiên bến Mễ đỗ đầu Thái Bình xuôi ngược bấy lâu cùng người
Cơ duyên đâu cũng bởi trời Sông Châu, bến Mễ định nhời phân cư [4, tr 2]
Sinh thời cụ Bùi Viết Cung là người thông minh khoáng đạt, có chí tiến thủ nên
cụ đã kết giao với hào mục trong làng, sớm định hướng nghề nghiệp cho hai con trai Con trưởng của cụ là Bùi Viết Kính nhập tịch vào thôn Thượng, tổng Mễ Tràng, huyện Thanh Liêm (nay là thôn Mễ Tràng, xã Liêm Chính, thành phố Phủ
Lý, tỉnh Hà Nam) là tổ chi Giáp của họ Bùi Mễ Tràng Con trai thứ Bùi Viết Quý nhập tịch xã Châu Cầu, tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng (nay là phố Châu Cầu, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) là tổ chi Ất của họ Bùi Châu Cầu
Dòng họ Bùi Châu Cầu nổi tiếng là dòng họ có truyền thống tự trọng, hiếu học, yêu nước Nhiều người thuộc dòng họ Bùi Châu Cầu đã đỗ đạt, làm quan phục vụ đất nước Bùi Viết Quý làm một quan nhỏ trong quân đội, cụ sinh được 6 người con, trưởng nam Bùi Hữu Sỹ làm chức Huyện thừa Cụ Bùi Hữu Sỹ có 6 người con, trong đó, rạng danh nhất là con trai thứ tư Bùi Viết Phố, làm Kỳ lại kiêm Hội Lão văn hội Bùi Văn Hanh, người con trai thứ tư của Bùi Viết Phố, và cũng là cụ (theo quan hệ dòng tộc) của danh nhân Bùi Kỷ được triều Nguyễn truy tặng “Hàn lâm viện, Thị độc học sĩ” Đặc biệt, ông nội của Bùi Kỷ là Bùi Văn Quế (đời 6) sinh năm 1837, đỗ Cử nhân năm 1864, đỗ Phó bảng năm 1865 khi mới 29 tuổi Từ năm
1868 - 1875, Bùi Văn Quế giữ chức Tri huyện, rồi Tri phủ Tới năm 1876, ông về làm quan ở bộ Hộ7, đến năm 1879 thì được vua Tự Đức ban sắc khen ngợi: “Hỡi
người Hồng Lệ Tự khanh Bùi Văn Quế dáng điệu nho nhã, tướng mạo hiên
7 Bộ Hộ là một trong những cơ quan cao cấp trong Lục Bộ thời phong kiến, chịu trách nhiệm các việc đất đai,
hộ khẩu, kho tàng, tiền tệ, lương thực và các việc bổng lộc, thuế khóa, cống nộp, muối mắm, gang sắt trong nước, bình chẩn việc phát ra, thu vào để điều hòa của cải của nhà nước
Trang 2317
ngang đủ mọi tài văn họa, chính sự, làm việc gì cũng nên, phục chức lâu ngày, hành sự chặt chẽ ; khen thay tài làm việc của người nên thưởng công, nay đặc cách thăng thu cho người hàm “Gia Nghi đại phu Hữu thị lang bộ Hộ” [66, tr 384]
Năm 1880, Bùi Văn Quế là quan Duyệt Quyển chấm thi tiến sĩ Đến tháng 3-1881, ông được vua Tự Đức trọng dụng, bổ nhiệm chức Tuần phủ 4 tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Thuận - Khánh Hòa Nhờ có Bùi Văn Quế, một vị quan thanh liêm, cương trực, tài đức nên dân tình 4 xứ đều ổn định Nhưng khi đất nước bị rơi vào tay thực dân Pháp, cụ đã dâng sớ xin cáo quan về quê dạy dỗ con cái, mở hiệu thuốc, sống cuộc sống giản dị, chan hòa Cụ Bùi Văn Quế mất ngày 9-1-1913, thọ
76 tuổi
Cùng kỳ thi Đình với cụ Bùi Văn Quế năm 1865 có cụ Bùi Văn Dị8, người anh con bác trong nội tộc, đỗ Phó bảng Vì vậy, dân gian đã có câu đối mừng hai cụ:
Bùi thị đồng khoa song Hội bảng
Châu Cầu nhất nhật lưỡng vinh quy
Tạm dịch là:
Họ Bùi hai người cùng đỗ một khoa thi Hội
Làng Châu Cầu, một ngày đón vinh quy hai cuộc [28, tr 8]
Cụ thân sinh của Bùi Kỷ là Bùi Thức (1859 - 1915), con trưởng của cụ Bùi Văn Quế Cụ Bùi Thức từ nhỏ đã nổi tiếng chăm học, đỗ cử nhân năm 27 tuổi (1886) và
đỗ Tiến sĩ đệ tam giáp năm 1898 lúc 40 tuổi Theo gương cha, dù hai lần được triều đình nhà Nguyễn mời ra làm quan nhưng Bùi Thức đều cương quyết từ chối Cụ ở nhà phụng dưỡng cha mẹ, dạy dỗ các con, đồng thời mở trường dạy học và viết sách Cụ Bùi Thức vốn văn hay, dạy giỏi nên trường của cụ đã thu nạp đông đảo học trò gần xa Nhiều người trong số đó đã đỗ đạt như: cử nhân Phan Duy Tiếp (Sơn Tây), cử nhân Văn Lâm (Thanh Liêm), Kép Trà Hoàng Thụy Phương (Duy Tiên)
8 Bùi Văn Dị (1832 - 1895) tức Bùi Ân Niên, người xã Châu Cầu, tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội Bùi Văn Dị làm quan đến Nhất phẩm nên được truy tặng Triều liệt đại phu, Hàn lâm viện thị giảng học sỹ, Thụy linh ứng phủ quân
Trang 2418
Như vậy, họ Bùi Châu Cầu của Bùi Kỷ đã sớm đi theo con đường học hành thi
cử, đỗ đạt làm quan, có tiếng nói tại địa phương Khen cho truyền thống hiếu học đó của dòng họ Bùi Châu Cầu, vua Tự Đức đã có chiếu ban rằng:
Thiên hạ đệ nhất Gia
Tam đại đồng đường đạt đại khoa [21, tr 2]
Cũng theo địa lý địa phương, vùng Hà Nam có hai thế đất: một là thế Khuyên Ngọa ở Đồng Mễ, hai là thế Ngũ Mã Thành quân ở đồng Châu Cầu Thế đất ở Châu Cầu trong sách vở sau này thường ghi là kiểu Giáp Khoa:
Mưa bay ngoài cửa thần đồng hiện
Trăng chiếu bên sông ngọc nữ truyền
Bằng có sóng to vòng trước án
Cha con khoa Giáp nối liền liền [66, tr 383]
Cụ Bùi Thức sinh được tất cả 8 người con Bùi Kỷ là con trai lớn của cụ Bùi Thức Bùi Kỷ có 5 người em trai là Bùi Khải, Bùi Lương, Bùi Xâm, Bùi Nam, Bùi Nhung; chị gái Bùi Thị Dậu và em gái là Bùi Thị Tuất Bà Bùi Thị Tuất về sau lấy chồng là nhà chính trị Trần Trọng Kim
Theo các cuốn như Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Quang Thắng
và Nguyễn Bá Thế, Từ điển văn học (bộ mới) của Đỗ Đức Hiểu, Từ điển địa danh
văn hóa lịch sử Việt Nam của Nguyễn Như Ý (cb), Lược truyện các tác gia Việt Nam (tập 2) của Trần Văn Giáp, Văn thơ của Ưu Thiên Bủi Kỷ của Lê Tư Lành, Thơ văn Bùi Kỷ của Nguyễn Văn Huyền, Bùi Kỷ sinh năm Đinh Hợi 1887 Tuy nhiên,
cuốn Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn của Phạm Đức Thành Dũng - Vĩnh Cao (cb) thì lại cho rằng ông sinh năm 1888 Cuốn Quốc triều đăng khoa lục của Cao Xuân Dục, cuốn Danh nhân họ Bùi của Bùi Xuân Ngật hay các cuốn Nhân
vật lịch sử văn hóa Hà Nam, Tuyển tập thơ Hà Nam, Tuyển tập văn Hà Nam của
Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam theo thuyết này Như vậy, các tài liệu ghi chép năm sinh của Bùi Kỷ không thống nhất Sau khi khảo cứu các nguồn tư liệu, chúng tôi cho rằng, các tác giả như Trần Văn Giáp, Lê Tư Lành đều là những người có thời gian làm việc gắn bó với Bùi Kỷ nên sự hiểu biết về thân thế của Bùi Kỷ rõ
Trang 25Dựa vào việc phân tích các nguồn tư liệu trên, có thể khẳng định: Bùi Kỷ tự là
Ưu Thiên, hiệu là Tử Chương, sinh ngày 5-1-1887 tại xã Châu Cầu, tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội (nay là phố Châu Cầu, phường Lương Khánh Thiện, TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam)
Bùi Kỷ kết hôn với bà Lê Thị Sáu, con gái ông Tri phủ Ngái Trì và sinh được 5 người con là: Bùi Đen (mất sớm), Bùi Viêm (mất sớm), Bùi Anh, Bùi Thị Ngọc Tiêu và Bùi Diễm Về sau, Bùi Kỷ còn lấy thêm một vợ nữa tên là Trần Thị Quý (bà Bảng Hai), người làng Tây Mỗ, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Đông, nhưng hai ông
bà không có con chung
1.3 Quá trình lập thân của Bùi Kỷ
Bối cảnh lịch sử của đất nước, truyền thống của quê hương, dòng họ chính là chất xúc tác cho quá trình phấn đấu, lập thân của Bùi Kỷ sau này
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Châu Cầu, trong một gia đình có truyền thống khoa bảng nên từ nhỏ, Bùi Kỷ đã được tiếp nhận vốn kiến thức Nho học sâu rộng từ ông nội Bùi Văn Quế và người cha là Bùi Thức Ngoài ra, cũng giống như nhiều trí thức khác của giai đoạn này, ông đã chịu sự ảnh hưởng của hai nền giáo dục: Giáo dục Nho học và giáo dục Pháp - Việt, nên ngoài học chữ Nho, Bùi Kỷ còn tích cực tìm học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp Vốn là những người có học thức nên cha cũng như ông nội của Bùi Kỷ hoàn toàn ủng hộ, tạo điều kiện cho Bùi Kỷ đi theo con đường học hành thi cử Hơn nữa, truyền thống hiếu học của quê hương, dòng họ cũng khuyến khích “cậu ấm” Bùi Kỷ nỗ lực học tập, rèn luyện thành tài
Ngày 31-5-1906, vua Thành Thái ra Chỉ dụ cải cách thi Hương, thi Hội, đưa vào chương trình một số môn thi mới như địa lý, pháp luật Đông Dương, chính trị, luận
Trang 26Sau khi ông nội và cha qua đời (vào các năm 1913, 1915), ông sang Quảng Châu (Trung Quốc) hai năm Về nước khi đã 30 tuổi, từ năm 1917, ông ra Hà Nội dạy
9 Thi Đình năm 1910, quan Duyệt quyền là Lễ bộ Thị lang Mai Dực, Phủ doãn phủ Thừa thiên Từ Thiệp Kỳ thi này có những thay đổi lớn về đề thi, nội dung đề thi, cách chấm thi so với trước Theo đó: 20 điểm (Trạng nguyên), 18-19 điểm (Bảng nhãn), 16-17 điểm (Thám hoa), 13-14-15 điểm (Hoàng giáp), 10-11-12 điểm (Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân), 7-9 điểm (Phó bảng) Kết thúc kỳ thi, triều đình nhà Nguyễn lấy đỗ 19 phó bảng và 4 Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân
10 Huấn đạo là viên học quan trông coi việc học hành tại phủ, huyện, châu Lệ thuộc quan Bản khảo, Khảo hạch các sinh đồ, rèn tập các học sinh Thời Nguyễn năm Gia Long thứ 2 (1803) bắt đầu đặt chức Huấn đạo ở các huyện, phẩm cấp cho ba hạng: hạng Nhất (Chánh thất phẩm), hạng Nhì (Tòng thất phẩm), hạng Ba (Chánh bát phẩm Văn ban)
11
Trường Thuộc địa do Auguste Pavie thành lập năm 1885 nhằm đào tạo 13 thanh niên Khmer được đưa sang Pháp Từ năm 1889 trở đi Trường trở thành nơi đào tạo các viên chức Pháp để đưa đi cai trị các thuộc địa và từ năm 1896 trở đi sinh viên phải qua thi tuyển để vào như các trường lớn khác Do nguồn gốc thành lập, Trường vẫn duy trì một ngạch bản xứ dành cho các thanh niên được Phủ Toàn quyền Đông Dương đặc biệt cấp học bổng gửi sang Pháp
12 Tuần phủ là chức quan thuộc hàng Đốc phủ các tỉnh thời Nguyễn (quan đầu tỉnh) Tại một số tỉnh, các quan này kiêm lĩnh cả ấn triện Bố chính, Án sát Thời Gia Long còn đặt chức Lưu thủ, Trấn thủ Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), bỏ các chức này mà đặt Tổng đốc, Tuần phủ
Trang 2721
học Ông dạy tại các trường Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Pháp chính theo lối ký hợp đồng từng năm chứ không vào biên chế viên chức của “nhà nước bảo hộ” Ngoài ra từ năm 1932, ông còn dạy cho hai trường tư thục là Văn Lang và Thăng Long Bên cạnh đó, ông tích cực biên khảo, sáng tác, cộng tác với một số tờ báo ở
Hà Nội như Nam Phong tạp chí, Khai Trí Tiến Đức tập san, Trung Bắc tân văn
Ông còn hăng hái tham gia các hoạt động văn hóa xã hội của giới trí thức Hà thành như: Lễ truy điệu chí sĩ Phan Chu Trinh ở Hà Nội (1926), phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ (1938 – 1945)…
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Bùi Kỷ là một trong số những nhân sĩ trí thức được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tin tưởng giao nhiều trọng trách Năm 1945, ông được Chính phủ mời giảng dạy cho sinh viên của Đại học Văn khoa mới được thành lập Năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh cử Bùi Kỷ làm Ủy viên nhân dân Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu 3, Hội trưởng Chi hội Liên Việt Liên khu 3, Hội trưởng Hội Văn hóa kháng chiến Liên khu 3 Sau khi hòa bình lập lại, ông là Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy viên Ủy ban bảo vệ hoà bình thế giới, Hội trưởng Hội Việt - Trung hữu nghị Với những đóng góp to lớn cho cách mạng, Bùi Kỷ đã được chính phủ tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất Ông mất ngày 19 tháng 5 năm 1960 tại Hà Nội, thọ
73 tuổi Mộ của ông được xây cất tại Nghĩa trang Yên Kỳ, xã Phú Sơn, huyện Ba
Vì, Tp Hà Nội
Tiểu kết chương 1
Đầu thế kỉ XX, dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, Việt Nam có sự chuyển biến sâu sắc về tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong bối cảnh đó, phủ Lý Nhân (từ năm 1890 là tỉnh Hà Nam) cũng chịu sự thống trị của thực dân Pháp, đứng đầu là Thống sứ Bắc Kỳ Cho đến đầu thế kỉ XX, một số thanh thiếu niên ở Hà Nam, ngoài nền giáo dục Nho học còn được tiếp xúc với nền giáo dục Pháp - Việt
Trong điều kiện chung đó của đất nước, lại được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Châu Cầu, trong một gia đình có truyền thống hiếu học, nên ngay từ nhỏ, Bùi Kỷ đã
Trang 2822
có ý thức học tập Bùi Kỷ tích cực học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp Nhờ
đó, ông đã đỗ Cử nhân năm 1909, rồi đỗ Phó bảng năm 1910 Mặc dù đỗ đạt nhưng trước thực tế đất nước đã mất độc lập vào tay thực dân Pháp, lại chịu sự ảnh hưởng con đường hoạn lộ của ông nội Bùi Văn Quế và cha Bùi Thức, Bùi Kỷ đã mạnh dạn
từ chối làm quan dưới triều Nguyễn cũng như chính quyền thực dân Pháp
Từ đầu thế kỉ XX, ông đã tham gia vào các hoạt động giáo dục – văn hóa rồi từng bước dấn thân vào con đường cách mạng, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp văn hóa kháng chiến và kiến quốc trong những năm kháng chiến chống Pháp
Trang 2923
CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA BÙI KỶ TRÊN LĨNH VỰC
VĂN HÓA – GIÁO DỤC
2.1 Người thầy tâm huyết với sự nghiệp giáo dục
Năm 1910, vượt qua nhiều thí sinh khác, Bùi Kỷ đỗ Phó bảng và trở thành một trong số 23 vị đại khoa của kì thi Đình do nhà Nguyễn tổ chức Hầu hết các nho sĩ
đỗ đạt cùng đợt với ông đều ra làm quan phục vụ triều đình như: Tiến sĩ Vương Hữu Phu (người Nghệ An) giữ chức Thừa chỉ trường Hậu bổ, Tiến sĩ Nguyễn Hàm (người Quảng Trị) giữ chức Thừa chỉ, Tòng sự trường Hậu bổ, Phó bảng Nguyễn Hồi (người Hà Tĩnh) làm Tri huyện Nam Đàn, Phó bảng Vũ Hành (người Quảng Nam) làm Tri phủ Hàm Thuận Còn Phó bảng Bùi Kỷ lại từ chối chức Huấn đạo, một quyết định trái hắn với lệ thông thường vào thời đó Lý do trực tiếp đưa đến quyết định này của Bùi Kỷ chính là vì ông nội và cha đã già yếu, nhưng nguyên nhân sâu xa là do ông không muốn làm quan trong hoàn cảnh đất nước đã bị thực dân Pháp đô hộ Cũng cần thấy rằng, khước từ làm quan đã là “nếp nhà” từ ông nội Bùi Văn Quế đến cha Bùi Thức, nên quyết định của Bùi Kỷ được gia đình tán thành
Sau 2 năm du học ở Pháp, mặc dù đỗ bậc Thành Chung và được Tòa Thống sứ Bắc Kỳ cử giữ chức Tuần phủ nhiều lần nhưng ông đều từ chối Điều này một lần nữa khẳng định tâm nguyện của ông muốn sống một cuộc đời thanh bạch, không màng tới quyền chức, danh lợi Có thể nói, việc hai lần từ chối con đường “hoạn lộ”
đã tạo ra ngã rẽ quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp của ông Hòa mình vào phong trào thực nghiệp đang sôi nổi của trí thức Việt Nam những năm đầu thế kỉ
XX, Bùi Kỷ quyết định bước vào con đường kinh doanh thực nghiệp Nhưng do hoạt động sản xuất kinh doanh không đạt được kết quả, lại có những hoài bão riêng, nên năm 1915, ông đã đi sang Trung Quốc mong tìm một hướng đi phù hợp Trở về nước vào năm 1917, với trình độ học vấn sâu rộng, Bùi Kỷ hoàn toàn có thể nghĩ tới những vị trí nghề nghiệp cao trong xã hội Tuy nhiên, là người thích phóng khoáng,
ưa hoạt động tự do nên ông đã chọn nghề sư phạm
Thời gian đầu sau khi từ Trung Quốc trở về, ông đã tổ chức dạy học ngay tại quê nhà Năm 1917, Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut thực hiện cải cách giáo
Trang 3024
dục, cho phép tăng các trường học cũng như số lượng học sinh, sinh viên theo học Trong điều kiện đó, Bùi Kỷ đã quyết định rời quê hương Hà Nam ra Hà Nội dạy học Ông dạy Hán văn và Việt văn tại Trường Cao đẳng Pháp chính13 và Cao đẳng
Sư phạm14
Mặc dù mỗi tuần các trường chỉ tổ chức dạy Việt văn vài giờ học nhưng các buổi học của thầy Bùi Kỷ vẫn để lại ấn tượng sâu sắc đối với các thế hệ học trò, đặc biệt là đối với sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương Đây là ngôi trường được thành lập tại Hà Nội năm 1917, chuyên đào tạo giáo viên trong đó có ngành văn khoa cho bậc trung học Trong thời gian đầu hoạt động của Trường, giảng viên phần lớn là người Pháp, Bùi Kỷ lúc đó là giảng viên người Việt duy nhất GS Nguyễn Lân15 nhớ lại: Trường “có tất cả 13 giáo sư, mà chỉ có một người
Việt Nam là cụ Phó bảng Bùi Kỷ ”[54, tr 12]
Ngoài việc giảng dạy tại các trường cao đẳng, từ khoảng năm 1932 trở đi, thầy Bùi Kỷ còn tham gia giảng dạy ở các trường tư thục, trong đó gắn bó nhất với Trường tư thục Thăng Long Năm 1934, Hoàng Minh Giám cùng với một số nhà trí thức đương thời như Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Đặng Vũ Xích, Phạm Hữu Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Dương thành lập "Hội mở mang nền tư thục" Tên gọi này không mang tính chính trị nên Hội không bị chính quyền thực dân nghi ngại Thực chất, đây là tập hợp một số nhà trí thức có tinh thần yêu nước và có thái
độ phản kháng đối với chế độ thực dân đương thời Họ quyết định mở trường dạy học để từ đó truyền bá tư tưởng của mình cho các trí thức trẻ Vì vậy, nhóm bàn với Phạm Hữu Ninh khi đó đang là Hiệu trưởng Trường tư thục Thăng Long tiến hành
mở mang hoạt động của Trường, nâng từ bậc Thành chung lên bậc Tú tài Về sau,
13
Trường Hậu bổ được thành lập tại Hà Nội từ năm 1903, đến năm 1912 thì đổi tên thành Trường Sĩ hoạn, đến năm 1917 thì được đổi tên lần nữa thành Trường Pháp chính Đông Dương Mục đích của Trường này là nhằm đào tạo quan lại theo “ngạch Tây” Người theo học Trường này sau khi tốt nghiệp sẽ được bổ chức Tham biện (tức chuyên viên hành chính cao cấp) làm việc tại tòa Công sứ (tỉnh), tòa Khâm sứ (Trung Kỳ), tòa Thống sứ (Bắc Kỳ) hoặc tại dinh Toàn quyền Đông Dương
14 Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương được thành lập năm 1917, có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên giảng dạy các trường trung học
15 Nguyễn Lân (1906 –2003) là nhà giáo, nhà biên soạn từ điển, nhà văn Ông là người có công trong việc xây dựng bộ môn và khoa Tâm lí học, Giáo dục học của hệ thống các trường sư phạm ở Việt Nam
Trang 3125
Hoàng Minh Giám lên làm Hiệu trưởng, đã mời nhiều trí thức yêu nước đến tham gia giảng dạy như Phan Thanh, Nguyễn Bá Húc, Phan Mỹ, Khuất Duy Các, Lâm Đăng Dụ, Trương Đình Sửu, Vũ Bội Liên, Hoàng Như Tiếp, Vũ Như Trình, Võ Nguyên Giáp và có cả Phó bảng Bùi Kỷ Điều này không có gì khó hiểu bởi Thầy Bùi Kỷ vốn nổi tiếng là người có kiến thức uyên thâm, chuẩn mực mô phạm, tính tình cương trực, yêu nước nên được Nhà trường hết sức tin tưởng
Bùi Kỷ còn nổi tiếng bởi phong cách riêng Trong lịch sử nền giáo dục Việt Nam hơn mười thế kỉ, đã chứng kiến nhiều phong cách dạy học rất lạ thường, như Thầy Sư Lộ có cách dạy học ngoài đường, Thầy Nhữ Phương dạy các môn khoa học ít phổ biến, còn thầy Bùi Kỷ lại dạy theo lối ký hợp đồng từng năm chứ không vào biên chế của Nhà nước bảo hộ Như vậy, trước sau như một, Thầy vẫn muốn được là người tự do, không muốn dính líu đến chính quyền thực dân Pháp cho dù công việc dạy hợp đồng có phần bấp bênh hơn so với dạy biên chế
Trên cương vị là một người thầy, Bùi Kỷ đã đem hết tài sức, trí tuệ của mình để góp phần vào mục tiêu chung của toàn dân tộc Ông đã để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng các thế hệ học sinh, sinh viên, đồng nghiệp Thầy Hoàng Gia Lịnh, giáo viên Trường tư thục Thăng Long từ năm 1938-1945 vẫn nhớ người bạn đồng nghiệp Bùi Kỷ có tính tình hài hước, lại am hiểu nho giáo [75, tr 74] Còn đối với
Vũ Ngọc Khánh16, Thầy Kỷ là một người lưu tâm giữ gìn nét văn hóa truyền thống
trong cách diện trang phục rất gần gũi, giản dị với “chiếc khăn đen đội đầu, cái áo
dài trắng, giữa bao nhiêu thầy giáo trẻ Âu phục chững chạc, hình ảnh thầy Bùi Kỷ
là hình ảnh con người nho nhã, ung dung, gợi nhớ đến những vị tôn sư thời nho học ” [32, tr 529] Chính sự gần gũi, ân cần của thầy Kỷ đã giúp xóa tan khoảng
cách giữa thầy và trò Cũng từ đó, ông thường tranh thủ về Hà Nội, đến thăm Thầy
và học Thầy
Ông Hoàng Văn Môn17
có kể với chúng tôi câu chuyện mà ông được nghe người
đời nói về thầy Bùi Kỷ như sau: Hồi thầy Bùi Kỷ còn giảng dạy tại Hà Nội, có tên
16 Vũ Ngọc Khánh (1926 –2012), là một nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, đặc biệt là văn hóa dân gian
17
Hoàng Văn Môn (Bắc Môn), Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hà Nam, là người có nhiều nghiên cứu
về truyền thống lịch sử, văn hóa Hà Nam Hiện, ông đang sống tại thành phổ Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Trang 32Theo tác giả, một phần vì nể viên quan Thống sứ, phần vì tình cảm thầy trò nên Bùi Kỷ nhận lời giúp đỡ và đã đặt một câu hỏi kiểm tra đơn giản cho Alphonse Tuy vậy, qua việc đặt một câu hỏi “vừa dễ vừa khó” như vậy đối với một học sinh ngoại quốc cho thấy sự nghiêm nghị mà cũng rất thâm thúy của thầy Bùi Kỷ, khiến học trò dù có bị đánh trượt vẫn phải tâm phục khẩu phục
Điều nổi bật nhất ở Thầy Bùi Kỷ chính là sự uyên thâm về Hán văn và Việt văn, nói như GS Đặng Thai18 Mai thì thầy là bậc “Hán Pháp tinh thông” Qua từng bài giảng của thầy, bao thế hệ học sinh, sinh viên đã được vun đắp tình yêu đối với tiếng Việt, với nền văn hóa dân tộc Đó cũng chính là tâm nguyện, trăn trở lớn nhất của Thầy bởi hơn ai hết, Thầy Kỷ hiểu rất rõ âm mưu nô dịch văn hóa của thực dân Pháp tại các nước thuộc địa (trong đó có Việt Nam) Trong báo cáo tại Hội nghị
thuộc địa năm 1906 có đoạn viết: “Giáo dục là một công cụ chắc chắn và mạnh
nhất trong tay người đi chinh phục Chúng ta (tức là người Pháp) phải làm cho họ (tức là người Đông Dương) tiêm nhiễm tư tưởng của chúng ta, dạy cho họ biết tiếng nói của chúng ta và, do đó, phải bắt đầu làm việc này từ nhà trường, trước hết là cho trẻ em” [87, tr 10] Do vậy, nếu người Việt Nam không sáng suốt trong việc
đào tạo thế hệ trẻ thì rất dễ làm mất đi nền tảng căn bản, truyền thống cội nguồn của dân tộc Đối với Thầy, giảng dạy Việt văn và Hán văn lúc ấy là lựa chọn một phương tiện giúp cho các học trò sinh trưởng trong chế độ thực dân, đang đi vào
18
ĐặngThai Mai (1902 – 1984), là một nhà giáo, nhà văn, nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của Việt Nam trong thế kỉ XX
Trang 3327
Tây học, có nguy cơ bị cắt đứt liên hệ với các giá trị tinh thần truyền thống của cha ông, cũng là một cách duy trì, bồi dưỡng ý thức dân tộc cho họ Có thể thấy, ở mặt này, Bùi Kỷ có chung tư tưởng, cách nghĩ với Nguyễn Ái Quốc bởi Người từng
nêu: “Thực dân Pháp lại cố tâm hủy bỏ Hán học, vì chúng thấy là nguy hiểm cho sự
thống trị của chúng, vì chúng biết rằng, Hán học có thể đưa vào Việt Nam những tư tưởng tiến bộ phương Tây thông qua Trung Quốc và Nhật Bản ” [87, tr 12]
Khi giảng dạy Việt văn, Bùi Kỷ không chỉ dạy cho sinh viên những kiến thức cơ bản về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của tiếng Việt, các phương pháp nghiên cứu văn học Việt Nam một cách có hệ thống mà còn giáo dục cho họ ý thức
về trách nhiệm của người trí thức đối với việc giữ gìn tiếng mẹ đẻ Về phần văn học chữ Hán, trong khi nhiều nhà văn nước ta và một vài nhà nghiên cứu người Pháp cho rằng, các tác phẩm của bao nhiêu nhà nho Việt Nam ngày xưa đều chỉ là những thế phẩm của các thể loại văn chương Tàu, thì thầy Bùi Kỷ lại lưu ý các sinh viên
về tính độc đáo của một số nhà văn Việt Nam nổi tiếng hay chữ, nhất là về những
đề tài, những chủ đề có nội dung đặc sắc Việt Nam Nhờ vậy, sinh viên đã bắt đầu
“chú ý đến văn thơ thời kì đầu của nhà Lý, nhà Trần, thời kỳ mà theo Cụ, nho giáo
chưa chiếm được địa vị độc tôn và học khoa cử chưa phải là “khuôn vàng thước ngọc” của học thuật nước nhà” [60, tr 272]
Nhờ sự uyên thâm cộng thêm phương pháp dạy học chủ động với lối dẫn dắt thu hút mà mỗi giờ giảng của Thầy đều được học trò trông ngóng, yêu thích Ông Võ Thuần Nho19, người từng học ở Trường tư thục Thăng Long đã viết về người thầy
dạy Việt văn của mình như sau: “Tôi nhớ mãi các bài giảng tiếng Việt như Truyện
Kiều, truyện Trê Cóc của cụ Bùi Kỷ Tuy mỗi tuần chỉ có một hai giờ với Cụ mà sao chúng tôi trông chờ giờ đó đến thế và sau mỗi giờ chúng tôi càng yêu mến tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ và càng thấy tính phong phú, trữ tình của tiếng Việt chúng ta…”
[28, tr 13] Ông Vũ Ngọc Khánh cũng dành cho thầy Bùi Kỷ sự kính phục: “Tôi
càng nhận ra vốn tri thức của thầy rất uyên bác, cả cổ kim đông tây, chứ không phải chỉ riêng về nho học mà thôi Thầy rất hiểu những từ cổ, mỗi lúc hỏi đến chữ nào là sẵn sàng giảng giải đến hàng giờ, nghe rất lý thú mà hào hứng” [32, tr 529]
19 Nguyên Thứ trưởng Bộ giáo dục nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Trang 3428
Nguyễn Văn Biên, một học sinh của Trường tư thục Thăng Long (niên khóa 1941) đã bồi hồi khi nhớ về môn lịch sử của thầy Võ Nguyên Giáp, chủ nghĩa nhân văn và các quan điểm văn học tiến bộ của thầy Đặng Thai Mai Đối với mảng tiếng
1937-Việt và chữ nho của thầy Bùi Kỷ, ông nhận xét: “Các bài giảng của Cụ đã giúp tôi
cảm thụ được phần nào cái đẹp của tiếng Việt và thêm yêu mến nền văn học dân tộc Cụ đã gây trong tôi lòng hứng thú về các nền chính trị qua các thời đại, về các ứng xử của người xưa, về cảm khái và tài hoa của các vị tiền bối Đối với tôi đó là một mạch kiến thức rất quý, góp phần đem lại trong tôi rất nhiều sự cân bằng giữa hai miền Đông Tây, giữa cảm thụ văn học dân tộc và văn học nước ngoài” [5, tr
288]
Không chỉ gây cho học sinh tình yêu nước qua từng bài giảng, Thầy Bùi Kỷ còn tận dụng mọi cơ hội để truyền cho họ khát vọng đấu tranh và cống hiến Biết một học sinh tên là Bình (tức Phạm Duy Bình, học sinh Trường tư thục Thăng Long niên khóa 1938-1942), Thầy Bùi Kỷ đã ghi vào sổ lưu niệm của học trò 6 chữ nho
“BÌNH THIÊN HẠ KHI BẤT BÌNH” Đó là một cách gián tiếp thầy nhắc nhở cho các học trò về trách nhiệm đối với đất nước giữa những ngày ngột ngạt,“một cổ hai tròng” dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật Sau này, Phạm Duy
Bình vẫn thường tự hào mỗi khi nhắc tới kỷ niệm quý báu đó: “Các bạn học trong
lớp được xem lời ghi cho tôi của thầy Bùi Kỷ đều trầm trồ khâm phục thầy: Đến những ngày cuối khóa học sắp bế giảng mà thầy vẫn không bỏ lỡ dịp giáo dục, nhắc nhở học sinh của mình” [5, tr 314] Cách giáo dục đó của thầy Kỷ tưởng chừng dễ
dàng mà lại rất sâu sắc!
Trong dịp được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, GS Nguyễn Lân có dịp bày tỏ lòng tri ân đối với người khai tâm về chữ Hán cho ông khi còn nhỏ là cụ Dương Quảng Hàm rồi đến cụ Bùi:
Ở trường Cao đẳng dạy văn ta
Cụ Kỷ là gương sáng thứ ba
Phó bảng nhưng khinh vòng hoạn lộ
Mong truyền vốn quý của ông cha [28, tr 12]
Trang 3529
Những vần thơ chân thật mà sâu sắc của Nguyễn Lân đã phần nào cho thấy tính cách, phẩm chất và vị trí đặc biệt của thầy Bùi Kỷ trong sự nghiệp giáo dục nước ta lúc bấy giờ Trong những trang hồi ký của mình, Nguyễn Lân không giấu giếm lòng
mến mộ và biết ơn đối với người thầy giáo cũ đã bày tỏ: “Tôi vô cùng cảm ơn cụ
Bùi Kỷ, vì trong 3 năm, cụ đã dạy cho tôi tất cả lịch sử văn học của nước nhà, với mọi sự nhiệt tình đặc biệt Đây là một cụ phó bảng không thích làm quan, chỉ chọn nghề dạy học để trau dồi cho chúng tôi tinh thần yêu tiếng Việt và yêu nền văn học phong phú của nước nhà” [54, tr 12] Đó có lẽ cũng là tâm tình của nhiều học sinh,
sinh viên từng là học trò của thầy Bùi Kỷ trong thế kỉ XX Đối với họ, được học thầy Kỷ - một nhà sư phạm mẫu mực là điều may mắn trong cuộc đời
Bên cạnh đó, Bùi Kỷ còn tham gia công tác quản lý giáo dục và giảng dạy ở bậc đại học Trước Cách mạng tháng Tám 1945, ông từng là thành viên của Hội đồng cải cách giáo dục trong Chính phủ Trần Trọng Kim Sau khi đất nước giành được độc lập, ông tiếp tục được Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cử làm cán bộ cao cấp của ngành giáo dục Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, cùng với “giặc đói”, “giặc ngoại xâm” thì “giặc dốt” là một trong những kẻ thù nguy hiểm trước mắt của dân tộc ta Vì vậy, ngay từ những ngày đầu tiên, chính quyền cách mạng đã xác định giáo dục là quốc sách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ngày 8-10-1945, Đại học Quốc gia Việt Nam được thành lập Nhận thấy cần thiết phải đào tạo giáo sư văn khoa ban trung học và nâng cao nền khoa học nhân văn cho xứng với một nước độc lập và theo kịp bước các nước tiên tiến trên thế giới, ngày 10-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí Sắc lệnh số 45/SL, thành lập Ðại học Văn khoa, trực thuộc Đại học Quốc gia Việt Nam
Ðể chuẩn bị cho năm học mới, năm học đầu tiên dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đầu tháng 11-1945, Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đã kí một loạt các Nghị định công bố chương trình đào tạo đội ngũ giáo sư, quy chế thi cử của Trường Đại học Văn khoa Căn cứ vào ý kiến của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Quốc gia Giáo dục đã kí Nghị định cử các giáo sư giảng dạy cho Trường Đại học Văn khoa,
gồm các ông Cao Xuân Huy, Hồ Hữu Tường, Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Nguyễn
Trang 3630
Mạnh Tường, Nguyễn Văn Huyên làm giáo sư Đại học Văn khoa và các ông Đào Duy Anh, Cù Huy Cận, Trần Văn Giáp, Ngô Xuân Diệu, Trần Khánh Giư (Khái Hưng), Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ, Nguyễn Đình Thi, Đoàn Phú Tứ giảng về những vấn đề đặc biệt trong chương trình Văn khoa Chính phủ giao cho ông Giám đốc Đại học Quốc gia thảo luận với những vị trên về nội dung giảng dạy và về số giờ
mà những vị ấy nhận dạy trong niên khóa 1945 – 1946 [17, tr 52] Trong số các vị
có tên kể trên, chỉ có 4 người được Chính phủ đánh giá là có học vị cao: Bùi Kỷ đỗ Phó bảng; còn Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Phạm Duy Khiêm đều đã bảo vệ xuất sắc luận án ở Pháp những năm 1930 Điều đó không chỉ cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng đến việc sử dụng và đào tạo nhân tài mà còn một lần nữa khẳng định năng lực, trình độ học vấn, uy tín của thầy Bùi Kỷ
Như vậy, sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi ấy đã gần 60 tuổi nhưng thầy Bùi Kỷ vẫn được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng giao nhiệm vụ giảng dạy Việt văn cho sinh viên Trường Đại học Văn khoa, tiền thân của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Ngoài ra, ông còn là một thành viên của Hội đồng giáo dục Việt Nam theo Sắc lệnh số 102/SL ngày 4-9-1949 của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Có thể nói, trong suốt mấy chục năm cống hiến cho nền giáo dục nước nhà, dù
là một người thầy đứng lớp giảng dạy hai môn Việt văn và Hán văn hay thực thi chức vụ quản lý thì Bùi Kỷ vẫn mãi mãi là một người thầy đáng kính trong lòng các thế hệ học sinh, sinh viên! Cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời, ông vẫn gắn
bó hết mình với sự nghiệp giáo dục, với nền văn hóa dân tộc
2.2 Bùi Kỷ với phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ (1934 - 1945)
2.2.1 Bối cảnh xuất hiện phong trào chấn hưng Phật giáo ở Bắc Kỳ đầu thế kỉ
XX
Từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, hầu hết các quốc gia ở châu Á đều rơi vào hoàn cảnh bị thực dân xâm chiếm, mất chủ quyền và trở thành thuộc địa của các nước phương Tây Thực tế đó dẫn đến một hệ quả tất yếu: Các yếu tố chính trị, văn hóa và tôn giáo (chủ yếu là Công giáo) châu Âu ồ ạt tràn vào các nước châu Á Bước sang thế kỉ XX, song song với quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, tại
Trang 3731
các nước châu Á đã xuất hiện những tư tưởng, hoạt động chống lại các yếu tố của nền văn hóa phương Tây, coi đây như một mặt trận chống thực dân Sự “đối thoại” giữa các bộ môn khoa học và tôn giáo nói chung, Phật giáo nói riêng được mở rộng
ở tầm mức thế giới Nằm chung trong cuộc đối thoại học thuật và tư tưởng Đông Tây, sự cọ xát giữa các tôn giáo và triết thuyết lớn phương Đông (chủ yếu là Phật giáo) với các tôn giáo và triết thuyết phương Tây (đạo Công giáo, tư tưởng triết học Ánh Sáng…), đã khiến Phật giáo có điều kiện để hình thành một nền Phật giáo mới
có thể đáp ứng được trước sự biến đổi của xã hội Cuộc đối thoại về học thuật và tư tưởng này đã thu hút nhiều nhà lý luận Phật giáo xuất chúng Bên cạnh đó, sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội với sự ra đời của nhà nước Xô viết, đã có tác động rất lớn đến phong trào giải phóng dân tộc cũng như tư tưởng Phật giáo các nước châu Á đương thời Từ đó tạo tiền đề cho sự xuất hiện của phong trào chấn hưng Phật giáo
ở các nước châu Á Trong phong trào đó, nổi bật lên 3 nhân vật tiêu biểu là: Henry Steel Olcott (Hoa Kỳ), pháp sư Angarika Dharmapala (Sri Lanka) và hòa thượng Thái Hư (Trung Quốc)
Từ Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc với sự hoạt động tích cực của các nhân vật Phật giáo xuất chúng nêu trên, ngọn gió chấn hưng Phật giáo, bằng nhiều con đường và nhiều cách thức, đã ảnh hưởng tới các nước châu Á như Nhật Bản, Mianma, Việt Nam… Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ nhất và trực tiếp từ phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc, đặc biệt là tư tưởng cải cách Phật giáo của hòa thượng Thái Hư20
Cùng với bối cảnh chung của thế giới, tình hình trong nước cũng tác động tới sự
ra đời phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ Sau các cuộc khởi nghĩa chống Pháp thất bại, nhiều trí thức yêu nước Việt Nam đi đến nhận thức rằng, muốn đánh đuổi thực dân xâm lược phải vận động duy tân đất nước theo tư tưởng dân chủ tư sản Bên cạnh các tân văn, tân thư của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, các thuyết về nhân đạo, nhân quyền của Rút-xô, Mông-tes-ki-ơ, Vôn-te thì nhiều chí sĩ đánh giá cao vai trò của tôn giáo đối với sự phát triển của xã hội Trong các tôn giáo tại Việt
20
Thái Hư (1889 – 1947), họ Lữ, tên húy Duy Tâm, là người có công lớn trong phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc đầu thế kỉ XX
Trang 3832
Nam, Phật giáo được đánh giá cao nhất, cho nên, việc chấn hưng Phật giáo được các nhà cách mạng như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi ủng hộ
Theo họ, cùng với nỗ lực cải cách văn hóa, xiển dương quốc học… thì chấn hưng
Phật giáo cũng là một hình thức đấu tranh ôn hòa trong khuôn khổ “thỏa hiệp” với phe thống trị [15, tr 31] Tại sao họ lại ưu tiên chọn Phật giáo? Đó là bởi Phật giáo
đã từng đạt được những thành tựu to lớn và có vai trò quan trọng đối với các nhà nước phong kiến Việt Nam, mà không phải tôn giáo nào cũng làm được Trong khi
đó, cho đến đầu thế kỉ XX, Nho giáo thực sự rơi vào tình trạng lạc hậu và suy tàn, còn Công giáo thì lại có sự dính líu đến thực dân Pháp xâm lược Do vậy, đây là điều kiện thuận lợi để Phật giáo trỗi dậy như một ưu tiên và lựa chọn hợp lý để duy trì truyền thống văn hóa dân tộc trước nguy cơ bị văn hóa thực dân làm cho suy yếu Mặt khác, sự xuất hiện của nhiều hiện tượng tôn giáo mới, tiêu biểu là đạo Cao Đài ở Gò Kèn (Tây Ninh) năm 1925 đã thúc đẩy mạnh mẽ sự ra đời của Phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ Đạo Cao Đài đã thu hút nhiều người theo, trong đó có
nhiều tín đồ Phật giáo Đạo Cao Đài còn tuyên bố: Các tôn giáo lớn mang tính
truyền thống của Việt Nam đương thời đều đã đến thời kỳ mạt pháp Do vậy, đạo Cao Đài được thành lập ra là để cứu độ [15, tr 33] Điều này khiến nhiều nhà sư
Phật học phản ứng mạnh mẽ Vả lại, bản thân Phật giáo cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế, suy thoái như: Xu hướng thần bí hóa biểu tượng cũng như giáo lý Phật giáo, xa rời pháp giáo ngày càng tăng, suy đồi đạo đức trong giới Tăng già, sự chia rẽ, mất đoàn kết giữa các môn phái Vì vậy, họ nhận thấy cần phải nhanh chóng chỉnh đối, chấn hưng Phật giáo nếu muốn tiếp tục tồn tại và phát triển
Cũng cần nói thêm rằng, phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ phát triển là nhờ sự “tiếp sức” của chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương Mặc dù thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là có sự trợ giúp của giáo hội và nhà thờ Công giáo, nhưng bộ máy quan lại của Pháp tại Đông Dương càng ngày càng có xu hướng muốn thoát khỏi sự kiểm soát của nhà thờ, của các linh mục Chính vì vậy, bên ngoài thì chính quyền thực dân Pháp vẫn ưu ái cho Công giáo phát triển tại Việt Nam, nhưng thực tế bên trong lại tìm mọi cách hạn chế ảnh hưởng của Giáo hội Do
đó, chính quyền thực dân Pháp không những không có biện pháp cấm đoán đối với
Trang 3933
hoạt động chấn hưng Phật giáo, mà ở khía cạnh nào đó còn tạo điều kiện cho phong trào này phát triển ở cả 3 xứ Bắc, Trung và Nam Kỳ nhằm tạo ra một đối trọng với Giáo hội Công giáo
Trước những tiền đề về mặt chính trị, xã hội và tôn giáo đó, nhiều nhà sư và trí thức Phật học Bắc Kỳ mong muốn chấn hưng Phật giáo, góp phần vào phong trào chấn hưng văn hóa dân tộc, một sự chấn hưng dựa trên cơ sở của ý thức tự tôn dân tộc Phong trào có sự tham gia tích cực của nhiều nhân giới học phật và Phật giáo,
cả phía xuất gia lẫn tại gia (cư sĩ Nguyễn Hữu Kha, nhà sư Tố Liên, nhà sư Trí
Hải…) Cuối năm 1932, Phật học tùng thư đặt tại chùa Mai Xá (Hà Nam) được
thành lập với các thành viên ban đầu, phía xuất gia gồm các nhà sư Thái Hòa, Trí Hải, Hải Châu và phía tại gia có Lê Toại, Trần Văn Giác và Nguyễn Hữu Kha Mục
đích của Phật học tùng thư là biên dịch kinh sách Phật giáo Hán ngữ ra Quốc ngữ
để ấn hành và truyền bá sâu rộng trong phật tử và quần chúng nhân dân với mong muốn sẽ thành lập Hội Phật giáo khi đã được nhiều người hiểu biết tán thành, khi nhân duyên đầy đủ và cơ hội thuận tiện
Ngày 8-4-1934, Phật học tùng thư chính thức chuyển về chùa Quán Sứ (Hà
Nội) Đến ngày 6-11-1934, Thống sứ Bắc Kỳ Auguste Tholance đã ký Nghị định số
4283, cho phép thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ Trên cơ sở pháp lý đó cùng với quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, ngày 16-11-1934, Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập, gồm 32 người, trong đó có 27 vị là cư sĩ và nhà Phật học Sự kiện này đánh dấu một bước phát triển mới của phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ bởi sau 10 năm vận động (1924 - 1934), Phật giáo từ đây đã có sự thống nhất toàn miền về lãnh đạo, tổ chức, phương hướng nhằm tiến hành công cuộc chấn hưng Cùng với
đó, Nhà in Đuốc Tuệ và báo Đuốc Tuệ cũng được ra đời để ấn hành kinh sách Phật giáo chữ Quốc ngữ nhằm phổ biến sâu rộng trong giới Phật tử và quần chúng nhân dân
2.2.2 Vai trò của Bùi Kỷ trong phong trào chấn hưng Phật giáo Bắc Kỳ (1934 - 1945)
Vốn là một trí thức yêu nước, có tinh thần dân tộc và tâm huyết với nền văn hóa
- giáo dục nước nhà nên khi phong trào chấn hưng Phật giáo xuất hiện, Bùi Kỷ đã
Trang 4034
nhiệt tình hưởng ứng Thời gian này, ông vừa giảng dạy tại các trường, vừa sôi nổi
tham gia Phong trào Ngay từ khi được thành lập tại Hà Nam, Phật học tùng thư đã
thu hút được sự ủng hộ của nhiều nhân sĩ, trong đó có Bùi Kỷ
Sau khi Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập theo Nghị định số 4283 của nhà cầm quyền Bắc Kỳ, ngày 18-11, đại hội đồng họp dưới sự chủ tọa của ông Nguyễn Năng Quốc đã bầu Ban Quản trị chính thức, ghi tên sáng lập hội viên đều là vĩnh viễn cố vấn hội viên của Hội Theo đó, Hội đồng Quản trị gồm: Tổng đốc trí sĩ Nguyễn Năng Quốc (Chánh Hội trưởng), Đốc học Hà Đông Nguyễn Văn Ngọc và Tuần phủ trí sĩ Trần Văn Đại (Phó Hội trưởng), Phiên dịch Phủ Toàn quyền Lê Dư (Quản lý), Phán sư hưu trí Lê Toại (Chánh Thủ quỹ), Phán sự hưu trí Nguyễn Hữu Lộc (Phó Thủ quỹ), Tham tá Trường Bắc cổ Trần Văn Giáp (Chánh Thư ký), Sư cụ Tuệ Chiêu và Tham tá Tòa Thượng phẩm Nguyễn Nhún làm Phó Thư ký, Đốc học Nguyễn Quang Oánh, Phó bảng Bùi Kỷ và Cử nhân Dương Bá Trạc làm Cố vấn [16, tr 44-45]
Ngoài chức vụ cố vấn Hội đồng Quản trị Trung ương, Bùi Kỷ còn được bầu làm thành viên Ban Khảo cứu Phật giáo và Diễn giảng, thành viên Ban Biên tập báo Đuốc Tuệ Là một Phó bảng tinh thông cả Hán học và Tây học, Bùi Kỷ tiếp xúc với giáo lý đạo Phật khá nhanh và trở thành một nhà nghiên cứu Phật học Tuy viết không nhiều và chỉ viết vào những năm 1935 - 1937, nhưng những bài viết của Bùi
Kỷ chứng tỏ ông là một người có sự hiểu biết sâu sắc về đạo Phật Chủ đề Phật giáo
mà ông tập trung giải thích là một số vấn đề căn bản của Phật học và giáo lý Phật giáo Các bài viết của ông thường là bài nhiều kỳ đăng trên Đuốc Tuệ
Bùi Kỷ nhận thấy rằng, muốn chấn hưng Phật giáo trước hết cần phải giúp cho giới Phật học, nhất là phái tại gia hiểu được căn bản về tôn chỉ chân chính và thiết thực của đạo Phật Bởi vậy, ông đã dành nhiều tâm sức để viết bài “Tôn chỉ đạo
Phật” đăng trên báo Đuốc Tuệ từ số 7 đến số 12 Ông cho rằng: “Loài người vì có
lòng dục vọng mà đi vào đường mê, cho nên tôn chỉ đạo Phật cốt là đưa người ở trong con đường mê ra con đường tỉnh ngộ, tỉnh ngộ tức là giác vậy” [41, tr 16]
Song ông cũng khẳng định, cắt nghĩa chữ “giác” không khó mà thực hành chữ
“giác” mới khó Vì vậy, song song với việc giải thích chữ “giác”, ông còn chỉ ra các