Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ làm sâu sắc thêm giá trị truyền thống dân tộc và phương Đông về văn hóa lãnh đạo, quản lý .... Tư tưởng Hồ Chí Minh về phon
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Ngọc Liêu
Hà Nội-2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung trình bày trong luận văn này là kết quả thu hoạch tài liệu và nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa được công bố trên các công trình khác Tôi cũng xin khẳng định luận văn đã được trích dẫn đầy đủ, cụ thể chính xác kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những thông tin, dữ liệu đã công bố trong luận văn này./
Hà Nội, ngày 10 tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
1 Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Khoa học Chính trị, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi đã cho tôi thêm những kiến thức khoa học để tôi có thể nâng cao trình độ của mình trong con đường học tập và nghiên cứu khoa học
2 Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Ngọc Liêu – Người đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản Luận văn này Thầy
đã thường xuyên động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi, tiếp thêm cho tôi nghị lực
và niềm tin để tôi cố gắng tiếp tục học tập và nghiên cứu
3 Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các Thầy giáo,
Cô giáo đã quan tâm giúp đỡ tôi trên hành trình khoa học Xin cảm ơn những người mà tôi chưa hề gặp mặt, nhưng những tư tưởng, công trình nghiên cứu của họ đã có sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc tới tôi, tới quá trình nghiên cứu của tôi, giúp tôi có niềm tin và động lực để hoàn thành công trình khoa học này
4 Cuối cùng, tôi xin gửi tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè lời biết ơn sâu sắc đã cổ vũ, khích lệ và ủng hộ tôi trong quá trình thực hiện bản Luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3.1 Mục đích nghiên cứu 8
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
5.1 Cơ sở lý luận 9
5.2 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Kết cấu của luận văn 10
Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ CỦA CÁN BỘ 11
1.1 Khái niệm cán bộ và phong cách làm việc dân chủ của cán bộ 11
1.1.1: Khái niệm cán bộ 11
1.1.2 Khái niệm phong cách làm việc dân chủ của cán bộ 14
1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ 19
1.2.1 Tầm quan trọng của phong cách làm việc dân chủ của cán bộ 20
1.2.2 Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ trong quá trình ra quyết định 27
1.2.3 Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ trong quá trình tổ chức thực hiện quyết định 35
Trang 61.2.4 Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ trong công tác kiểm tra,
giám sát, đánh giá thực hiện quyết định 41
Tiểu kết chương 1 49
Chương 2 GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC DÂN CHỦ CỦA CÁN BỘ 50
2.1 Giá trị lý luận 50
2.1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ làm sâu sắc thêm giá trị truyền thống dân tộc và phương Đông về văn hóa lãnh đạo, quản lý 50
2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ góp phần phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về lãnh đạo, quản lý56 2.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ là cơ sở lý luận để xây dựng nguyên tắc, phương pháp và phong cách làm việc cho hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay 60
2.2 Giá trị thực tiễn 66
2.2.1 Đối với quá trình xây dựng phong cách làm việc của cán bộ trước thời kỳ đổi mới 66
2.2.2 Tiếp tục xây dựng phong cách làm việc dân chủ của cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong 30 năm đổi mới(1986-2016) 73
2.2.3 Những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xây dựng phong cách làm việc dân chủ của bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh 76
Tiểu kết chương 2 84
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phong cách là bộ mặt của tâm hồn là trang phục của tư tưởng, là cách thức riêng, độc đáo của mỗi người khi thực hiện công việc Phong cách làm việc của cán bộ khiến người ta cảm nhận được cái đời thường, dung dị trong mỗi con người cán bộ, song nó lại phản ánh tâm hồn, đạo đức, tư tưởng đồng thời thể hiện năng lực, phẩm chất, trí tuệ, tính cách và bản thân người cán bộ Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ nói chung là sự thể hiện bản chất và tính cách của một con người, là cái chung biểu hiện thông qua phương pháp, cách thức và biện pháp để giác ngộ và tổ chức nhân dân hiểu và thực hiện tốt quyền làm chủ của mình thông qua việc thực hiện các nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng một xã hội dân chủ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ là một bộ phận rất quan trọng trong di sản Hồ Chí Minh: là sản phẩm của sự kết hợp, kế thừa, phát triển những yếu tố và hình thức dân chủ trong văn hóa truyền thống Việt Nam, ảnh hưởng của văn hóa lãnh đạo dân chủ phương Đông đồng thời tiếp nhận giá trị tư tưởng và hình thức dân chủ phương Tây, những tinh hoa di sản dân chủ của nhân loại
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ, chúng ta sẽ nắm bắt một cách hệ thống những quan điểm cũng như sự chỉ đạo thực tiễn của Hồ Chí Minh trong quá trình ra quyết định, tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện quyết định quản lý qua các giai đoạn lịch sử thấy được ý nghĩa to lớn của tư tưởng ấy đối với việc xây dựng khung lý thuyết về phong cách làm việc dân chủ cho đội ngũ cán bộ thời kỳ mới, góp phần làm phong phú thêm các giá trị mà phong cách làm việc dân chủ mang lại Đồng thời, chúng ta cũng có điều kiện học tập, vận dụng, phát triển những vấn đề cụ thể về mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương
Trang 8pháp, phong cách làm việc dân chủ theo quan điểm Hồ Chí Minh trong điều kiện xây dựng, kiện toàn hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản
lý thời kỳ đổi mới
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới đã trải qua hơn 30 năm (1986 – 2017) Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập và phát triển với mục tiêu xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm
2020 Từ thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cấp thiết xây dựng đội ngũ cán bộ “có đạo đức cách mạng, trình độ, năng lực, trí tuệ cao, phương pháp, phong cách làm việc dân chủ, khoa học đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cuộc sống qua các thời kỳ phát triển”[31, tr.263] Đặc biệt là Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, là một nước dân chủ nên rất cần những cán bộ có phong cách làm việc dân chủ đưa ra những quyết định đúng đắn mang tầm chiến lược, tổ chức thực hiện hiệu quả và chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết kết quả thực hiện quyết định lãnh đạo, quản lý trong và sau quá trình làm việc
Quá trình cải cách hành chính xây dựng phong cách làm việc dân chủ ở nước ta hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cả về lý luận và thực tiễn
Làm thế nào để xây dựng được phong cách làm việc dân chủ của đội ngũ cán bộ phù hợp với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay Những cơ sở lý luận và thực tiễn là gì? Những nhân tố tác động ảnh hưởng ra sao? Đó là những câu hỏi đang đặt ra và tìm kiếm câu trả lời
Trong các hướng tìm kiếm để giải đáp những câu hỏi đang đặt ra nêu trên, nghiên cứu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ là một hướng tìm tòi rất đáng quan tâm Đứng trước tình hình
đó việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ nhằm phát huy cao độ nhân tố con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay được coi là một yêu cầu cấp thiết, góp phần đưa công cuộc đổi mới của đất nước ta đi đến thắng lợi
Trang 9Về phương diện khoa học cho đến nay, việc nghiên cứu vận dụng “tư
tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ”, ngoài một
số bài viết đăng trên tạp chí và trên các báo điện tử, chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu, dưới góc độ mã ngành Hồ Chí Minh học đề
tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ _ nội
dung và giá trị” Thực tế đó đặt ra yêu cầu cần phải tiếp tục nghiên cứu làm
sáng tỏ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học, thực tiễn và tính thời sự của việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ
của cán bộ, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc
dân chủ của cán bộ - Nội dung và giá trị” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu
Trong khoảng 27 năm trở lại đây, từ năm 1990 cho tới nay việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam được đẩy mạnh và đạt được những thành tựu khả quan Có thể nói nghiên cứu và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới được chú trọng như một trong những lĩnh vực chủ yếu nghiên cứu lý luận về khoa học xã hội – nhân văn Từ đó đến nay, hàng loạt các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã được triển khai và công bố trong thời gian qua Nghiên cứu về vấn đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ nói riêng là đề tài nhận được nhiều sự chú ý của các học giả
Xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau các nhà nghiên cứu đã công bố rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Các công trình đã đề cập những quan điểm của Hồ Chí Minh về các phong cách, phương pháp và
Trang 10đưa ra những nhận định về giá trị tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ
Nhóm tác giả với các công trình nghiên cứu tính lý luận và thực tiễn về phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, gồm các tác giả tiểu biểu như: Phạm Ngọc Anh, Hoàng Chí Bảo, Đặng Xuân Kỳ, Bùi Đình Phong, Nguyễn Thế Thắng, Mạch Quang Thắng, Song Thành,…
+ Cuốn sách Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ của Bùi
Đình Phong, Nxb Lao Động, Hà Nội, 2002 Cuốn sách gồm 4 chương khái quát những nội dung mang tính lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành, tư tưởng
Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ của Đảng, vị trí, vai trò của cán bộ và công tác cán bộ, những yêu cầu đối với người cán bộ, đặc biệt là phong cách làm việc dân chủ và việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán
bộ hiện nay Tác phẩm này có thể coi là công trình nghiên cứu toàn diện và sâu sắc mang tính hệ thống, khái quát được những vấn đề cơ bản trong công tác cán
bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
+ Cuốn Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc của Song Thành, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2009 gồm ba phần lớn trong đó phần thứ hai: Tư tưởng
Hồ Chí Minh - những nội dung cơ bản, gồm 14 chương, đã tập trung phân
tích các nội dung chính trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh trên nhiều lĩnh vực triết học, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa – đạo đức Người nắm vững
và vận dụng sáng tạo lý luận và phương pháp luận Mác-Lênin để tổng kết lịch
sử và tổng kết thực tiễn Hồ Chí Minh nhận định: Thời đại mới đã chấm dứt
sự tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra mối quan hệ quốc tế ngày càng rộng lớn, làm cho vận mệnh mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh chung của cả loài người Người đã khai phá ra con đường cách mạng chưa từng có trong lịch sử, trong cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa và
Trang 11phụ thuộc, con đường gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, từ đó khơi dậy sức mạnh dân tộc và thời đại đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc ở Việt Nam và mở ra cao trào giải phóng dân tộc trên thế giới trong thế kỷ XX Muốn đi tới thắng lợi phải có phong cách làm việc dân chủ
+ Cuốn Phương pháp và Phong cách Hồ Chí Minh của Đặng Xuân
Kỳ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 Cuốn sách với 3 chương, tác giả
đã trình bày một cách hệ thống kết quả nghiên cứu lý luận chung về phương pháp và phương pháp cách mạng, hệ thống phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh và phong cách Hồ Chí Minh Từ đó, tác giả đã phân tích khá cặn kẽ nội dung, ý nghĩa của phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, đề cập đến các khái niệm, quan niệm và nội dung về phương pháp, phương pháp cách mạng
và phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh; chỉ ra hệ thống phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh, hệ thống phong cách Hồ Chí Minh trong đó có phong cách làm việc dân chủ Song trong cuốn sách tác giả chủ yếu trình bày những phong cách làm việc của Hồ Chí Minh, ít đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh
về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ Mặc dù vậy, đây là cuốn sách tham khảo rất có giá trị
+ Hoàng Chí Bảo, Tìm hiểu phương pháp Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 2011 Cuốn sách chia làm 2 phần chính, Phần 1, tác giả nêu lên 10 nội dung chính từ dẫn luận cho đến mấy vấn đề và thực tiễn về phương pháp giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh Phần 2 với 17 nội dung tác giả xuất phát từ cách nhìn của văn hóa và văn hóa chính trị Hồ Chí Minh nêu ra những vấn đề về xây dựng Đảng, tầm quan trọng của nhân tố con người trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Phong cách, phương pháp Hồ Chí Minh được tác giả tiếp cận từ việc phân tích nội dung các tác
phẩm của Người: “di chúc”, “sửa đổi lối làm việc”, “đường cáck mệnh”,
“nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” Từ đó làm nổi
Trang 12bật nét đặc sắc phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh và việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Cũng có nhiều tác giả và các công trình tiếp cận trên lĩnh vực văn hóa
như: GS Nguyễn Khắc Mai: Dân chủ - di sản văn hóa Hồ Chí Minh, Đỗ Huy:
Tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh, GS.Song Thành: Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất,… các công trình nói trên chỉ tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về
phong cách làm việc một cách gián tiếp nhưng cũng cố gắng làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề cụ thể, đặc sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ thông qua văn hóa dân chủ
Trong các cuốn sách nêu trên, các tác giả coi tư tưởng – phương pháp – phong cách Hồ Chí Minh tuy gắn bó hữu cơ với nhau nhưng không đồng nhất, vẫn có thể và cần phải nghiên cứu độc lập Các công trình nghiên cứu đã đưa ra được hệ thống lý luận về phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh Song, trong các công trình nghiên cứu kể trên các tác giả tiếp cận từ phương pháp, phong cách của Hồ Chí Minh đã sử dụng ít đề cập đến những quan diểm của Người về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
Hiện nay, phong cách làm việc dân chủ của cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ và tác động đến hiệu quả thực hiện quyết định của tổ chức, phong cách của cán bộ cấp dưới, lợi ích của nhân dân Sử dụng phong cách làm việc nào trong quá trình công tác luôn là vấn đề đặt ra cho mỗi cán bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý Vì vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng phong cách làm việc của cán bộ đặc biệt là phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tiêu biểu như:
+ Cuốn sách: “ Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng phong
cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay” của Nguyễn
Trang 13Thế Thắng (Chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2010 Cuốn sách gồm
2 chương, sách đã nêu lên tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý và vận dụng tư tưởng ấy trong việc xây dựng phong cách quản lý của cán bộ nước ta Sách có ưu điểm là xây dựng phong cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay theo phong cách làm việc, lãnh đạo quản lý của Hồ Chí Minh
+ Cuốn “ Đổi mới văn hóa lãnh đạo và quản lý ở Việt Nam hiện nay”
của Phạm Ngọc Thanh (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013 Cuốn sách đã làm rõ những vấn đề lý luận chủ yếu về văn hóa lãnh đạo, quản
lý, phân tích những kinh nghiệm, thực trạng văn hóa lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới Trên cơ sở đó làm rõ các nhân tố tác động đến xu hướng biến đổi của văn hóa lãnh đạo, quản lý, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp đổi mới văn hóa lãnh đao, quản lý trong giai đoạn mới
Ngoài ra, còn có rất nhiều công trình nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ với đề tài tư tưởng Hồ Chí Minh
và vận dụng các tư tưởng ấy trong cuộc sống hiện nay Bên cạnh những đề tài
đó nhiều cuộc hội thảo khoa học lớn gắn liền với những sự kiện tiêu biểu mang đậm dấu ấn tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhìn chung, dưới nhiều góc độ nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách, phương pháp, nghệ thuật làm việc đã bước đầu làm rõ tư tưởng
Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ Tuy nhiên, qua khảo cứu các ấn phẩm đã công bố cũng cho thấy trong các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc các tác giả thường tiếp cận theo hệ thống phong cách Hồ Chí Minh, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc nói chung và phong cách làm việc dân chủ của cán bộ nói riêng vẫn còn chưa được quan tâm đúng mức Nhiều vấn đề chưa được đề cập một cách cụ thể ví dụ như: Các khái niệm cốt lõi về phong cách,
Trang 14phong cách làm việc dân chủ của cán bộ Các công trình chưa tập trung làm
rõ các giá trị và sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ trong giai đoạn hiện nay
Do vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán
bộ là mảng đề tài rất cần sự chú ý, quan tâm của các học giả và đặc biệt là các nhà nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích, nhiệm vụ đề tài cần giải quyết là:
- Làm rõ những khái niệm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
- Phân tích và làm rõ nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
- Luận giải về những giá trị lý luận và giá trị thực tiễn của phong cách làm việc dân chủ của cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp tiếp tục xây dựng phong cách làm việc dân chủ của cán bộ ở Việt Nam hiện nay
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ và giá trị lý luận và thực tiễn của nó đối với việc xây dựng phong cách làm việc dân chủ của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ có nội dung rộng, phong phú, đa dạng, trong luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ những đặc trưng cơ bản của phong cách quản lý dân chủ trên các phương diện: Ra quyết định; Tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra, giám sát, đánh giá thực hiện quyết định quản lý
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, toàn diện Trong khuôn khổ của luận văn theo hướng nghiên cứu cơ bản nên những giá trị về lý luận và thực tiễn được tiếp cận dưới góc độ vĩ mô
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Thực hiện đề tài, tác giả dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phong cách làm việc của cán bộ
- Kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về tư tưởng Hồ
Chí Minh về phong cách làm việc của người cán bộ đặc biệt là phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tác giả vận dụng các phương pháp chung, các phương pháp liên ngành và chuyên ngành để thực hiện mục đích đề tài đã đặt ra, như: Phương pháp lôgic
Trang 16- lịch sử, phương pháp phân tích,tổng hợp; Phương pháp quy nạp, diễn dịch; Phương pháp nghiên cứu tài liệu…
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách
làm việc dân chủ của cán bộ
- Luận giải giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách dân chủ đối với việc tiếp tục xây dụng phong cách làm việc dân chủ của cán bộ ở Việt Nam hiện nay
- Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ, công tác cán bộ nói chung,
tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ nói riêng
- Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong công tác chỉ đạo thực tiễn của các cơ quan Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng phong cách của cán
bộ nói chung và phong cách làm việc dân chủ nói riêng trong điều kiện hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
Chương 2: Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
Trang 17Khái niệm “cán bộ” được hiểu theo cách phổ biến nhất là: Người làm có
chức vụ lãnh đạo quản lý, hoặc nhà chuyên môn, khoa học hay công chức,
viên chức làm việc tại các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị, hưởng lương hay phụ cấp từ ngân sách nhà nước Từ điển Tiếng Việt giải thích,
“Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước hay người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ”[106 Tr 234]
Luật cán bộ công chức 2008 quy định tại điều 4: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”
Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện trong các văn kiện thì: Cán bộ bao gồm tất cả cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các tổ chức của hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập; những người được bầu cử, phê chuẩn,
bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý và những người làm công tác chuyên
Trang 18môn, nghiệp vụ trong các tổ chức thuộc phạm vi công tác tổ chức và cán bộ của Đảng
Luận văn này tôi xin phép được đi sâu nghiên cứu phong cách làm việc dân chủ của cán bộ lãnh đạo, quản lý
* Khái niệm cán bộ lãnh đạo
Cho đến nay, chưa có một quan điểm đầy đủ và chính thức về cán bộ lãnh đạo Xuất phát các hướng nghiên cứu được tiếp cận và từ quan điểm riêng của cá nhân, tác giả nêu lên nhận thức ban đầu về nội hàm khái niệm cán bộ lãnh đạo, như sau:
Cán bộ lãnh đạo là những người đứng đầu, phụ trách đơn vị, địa phương, phong trào nào đó do dân bầu cử hoặc chỉ định Cán bộ lãnh đạo có trách nhiệm đề ra phương hướng, chủ trương, quyết định, trước hết là những quyết định có tính chiến lược của tổ chức, địa phương, đơn vị mình Cán bộ lãnh đạo là những người có quyền đề ra những quyết định có tầm quan trọng nhất Cán bộ lãnh đạo là những người dẫn dắt, tổ chức phong trào theo một hướng
đi cụ thể, là người điều hành, chỉ đạo bằng quyền hành qua các mệnh lệnh Họ còn điều chỉnh những quyết định cho phù hợp với những thay đổi của điều kiện khách quan
Về phẩm chất cá nhân, cán bộ lãnh đạo phải là người có uy tín, là người đại diện cho số đông, cho tập thể Cán bộ lãnh đạo phải là người có khả năng
thu phục nhân tâm, nhân tài, có khả năng sử dụng “đúng người, đúng việc” là
người có tri thức, có kinh nghiệm ở những lĩnh vực phụ trách, có tầm nhìn, biết quy tụ nhân tài, vật lực
Cán bộ lãnh đạo là người chịu trách nhiệm cụ thể hay một bộ phận cụ thể trong hệ thống tổ chức quản lý, là người đại diện và là đại biểu đại diện cho lợi ích của Đảng, Nhà nước, tập thể, tổ chức nào đó Dựa vào bộ máy quản lý, vào hệ thống tổ chức, tập thể, vào những nhiệm vụ được giao phó Cán bộ
Trang 19lãnh đạo chịu trách nhiệm cá nhân về giải quyết kịp thời những vấn đề cơ bản, phối hợp hoạt động với các hệ thống quản lý
Một số cán bộ lãnh đạo được gọi là lãnh tụ tiêu biểu như Hồ Chí Minh, chính khách_ là những cán bộ lãnh đạo xuất sắc, có ảnh hưởng lớn, có uy tín rất cao trong cộng đồng xã hội Lê nin chỉ rõ : “thường thường trong phần nhiều các trường hợp, hay ít ra trong những nước văn minh hiện nay thì các giai cấp đều do các chính đảng lãnh đạo của các nhóm có ít nhiều tính chất ổn định, gồm những người có uy tín nhất, được bầu ra giữ trách nhiệm trọng yếu nhất và nhân dân gọi là các lãnh tụ”[6; tr.30]
Trên đây là những quan niệm chung nhất, rõ ràng và dễ hiểu nhất về cán bộ lãnh đạo Song trải qua các thời kỳ ngoài yêu cầu chung thì những yêu cầu về phẩm chất, trí tuệ, năng lực của cán bộ lãnh đạo sẽ khác nhau
Nhằm làm tốt công việc quản lý của mình cán bộ quản lý cần phải giỏi chuyên môn, có năng lực, phẩm chất điều khiển, tổ chức công việc và đoàn thể tập thể Họ trực tiếp làm việc với các đối tượng quản lý, trực tiếp tổ chức thực hiện các quyết định của các lãnh đạo nên các cán bộ quản lý phải thường xuyên thu nhận các thông tin từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên Cán
bộ quản lý còn cần có khả năng nhìn nhận đúng – sai, phải – trái trong các
Trang 20chủ trương chính sách khi tổ chức thực hiện Do vậy, cán bộ quản lý cũng là những người tham mưu cho lãnh đạo chấn chỉnh, điều chỉnh và hoàn thiện quyết định cũ hoặc ra quyết định mới Cán bộ quản lý có thể phân loại theo nghề nghiệp, năng lực và chức vụ
Trên thực tiễn việc phân định cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý chỉ
là tương đối Trong một số lĩnh vực và phạm vi quy mô nhỏ cán bộ lãnh đạo đồng thời là cán bộ quản lý hoặc ngược lại Khi vừa làm cán bộ lãnh đạo, vừa làm cán bộ quản lý, cán bộ đó vừa có quyền ra quyết định vừa tổ chức thực hiện quyết định đó
Trên tầm vĩ mô, sự phân chia giữa lãnh đạo và quản lý tương đối rõ ràng nhất là khi nói về vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của nhà nước
Như vậy, đối tượng cán bộ mà luận văn nghiên cứu thông qua cách tiếp cận khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đề cập cả cán bộ lãnh đạo cũng như cán bộ quản lý và cả trường hợp song, trùng nhiệm vụ lãnh đạo quản lý trong một người cán bộ
1.1.2 Khái niệm phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
Khái niệm “phong cách” đã được bàn đến từ rất lâu ở cả Phương Tây và
Phương Đông Khái niệm này có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Stylus và từ
tiếng Hy Lạp là Stylos Ở Phương Tây, khái niệm “phong cách” được hiểu
theo nghĩa hẹp, chỉ giới hạn trong giới văn hóa, nghệ thuật Phong cách không phải là hiện tượng phổ biến mà là hiện tượng cá biệt và chỉ những nghệ sĩ lớn, những người có tài năng lớn mới có phong cách
Tìm hiểu theo nguồn gốc Hán Việt thì “phong” có nghĩa là phong thái,
“cách” có nghĩa là cách điệu Phong cách có nghĩa là phong thái cách điệu Trong các cuốn Từ điển tiếng Việt Nam, khái niệm “phong cách”
được diễn giải ra thành bốn cách hiểu:
Trang 21- Thứ nhất, “Phong cách” được hiểu là vẻ đẹp riêng biệt trong làm
việc,trong lối sống con người Phong cách mang đậm dấu ấn cá nhân
- Thứ hai, “Phong cách” được hiểu là phiên dạng ngôn ngữ có những
đặc điểm trong lựa chọn, kết hợp và tổ chức các phương pháp ngôn ngữ liên quan tới giao tiếp
- Thứ ba, “phong cách” được hiểu là toàn bộ các thủ pháp sử dụng phương
tiện ngôn ngôn ngữ đặc trưng cho từng nhà văn, cho tác phẩm, cho thể loại
- Thứ tư, “phong cách” được hiểu là việc lựa chọn phương tiện ngôn ngữ
Trang 22thấm nhuần sâu sắc quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa cá nhân và quần chúng nhân dân của chủ nghĩa Mác-Lênin và từ yêu cầu của người cán
bộ”
“Dân chủ” là một khái niệm mang tính lịch sử, có quan hệ mật thiết với
sự phát triển xã hội dân chủ là thước đo của sự phát triển và tiến bộ ocủa xã hội Khái niệm dân chủ ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước phản ánh khát vọng – nhu cầu khách quan của nhân dân trong xã hội có giai cấp và thể hiện một nấc thang nhận thức của con người về thân phận của họ trong quan hệ với quyền lực
Thuật ngữ dân chủ ra đời vào thế kỷ thứ VI, VII trước công nguyên Theo đánh giá của Aristotle (384 – 322 trước công nguyên) thì Solon (khoảng 638 – 588 trước công nguyên) là người đầu tiên đặt nền tảng cho nguyên lý dân chủ Solon mong muốn xây dựng một nhà nước riêng trên cơ
sở một nền dân chủ thông qua tuyển cử và hòa nhập vào sức mạnh với pháp luật
Trong tiếng Hy Lạp, dân chủ ( Decokratia) được cấu thành từ gốc là: Demos tức là nhân dân và Kratia nghĩa là nhân dân cai trị Sau này các nhà
chính trị học giản lược mệnh đề đó thành “ tất cả quyền lực thuộc về nhân
dân”
Như vậy, có thể thấy, thuật ngữ dân chủ chỉ xuất hiện trước đó đã tồn tại
ba yếu tố đó là nhân dân, quyền lực cộng đồng và mối quan hệ giữa chúng Trong lịch sử hy lạp cổ đại, hình thức quyền lực công cộng đầu tiên của các quốc gia, đô thị được sử sách ghi lại chính là nhà nước Do vậy có thể khẳng định, dân chủ là khái niệm dùng để chỉ tính chất của mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư với nhà nước Theo đó cộng đồng là chủ thể và có quyền năng áp đặt lên nhà nước
Trang 23Theo Lênin “dân chủ” nghĩa là bình đẳng, là mọi người có quyền ngang
nhau trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý
Theo quan niệm của Abraham Lincoln trong bài diễn văn Gettysburg huyền thoại ngày 19.11.1863, dân chủ là : “chính quyền của dân, do dân, vì dân”
Theo từ điển Tiếng Việt, dân chủ có hai nghĩa Thứ nhất, dân chủ có tính chất của chế độ dân chủ Thứ hai, dân chủ là phương thức công tác tôn trọng và
thực hiện quyền mọi người tham gia bàn bạc và quyết định công việc chung.Theo từ điển luật học, dân chủ là chế độ chính trị trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, do nhân dân thực thi hoặc thông qua các đại biểu mình bầu
Tóm lại:
Thuật ngữ “dân chủ” xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử gắn với thời kỳ
Hy Lạp cổ đại Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về dân chủ song có hai nguyên tắc mà bất ký định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào Nguyên tắc thứ nhất là: tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng Thứ hai là: tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng quyền tự do, được công nhận rộng rãi Như vậy, theo tác giả nhận định: “Dân chủ là quyền của nhân dân tự mình quyết định hoặc tham gia với nhà nước quyết định những vấn đề nhất định Nói cách khác dân
chủ là nhân dân làm chủ tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân.”
Dân chủ là giá trị văn hóa và giá trị đạo đức cao đẹp nhất mà loài người đã sáng tạo và đấu tranh để giành lấy, là thước đo của văn minh nhân loại Dân chủ vừa biểu hiện là giá trị xã hội mà con người và loài người đạt được trong tiến trình đấu tranh để tự giải phóng mình từng bước vươn tới tự do và làm chủ, lại vừa là hình thức và tính tổ chức thể chế nhà nước Trình độ dân chủ của cán bộ đi đôi với trình độ văn minh và tiến bộ xã hội Đồng thời, dân chủ
Trang 24phản ánh các giá trị phổ quát như tự do cá nhân, bình đẳng về điều kiện, thống nhất trong tính đa dạng và cơ chế thực hiện các giá trị đó trong đời sống thông
qua các mối quan hệ “Nhà nước – Pháp luật – Xã hội công dân” “Dân chủ” được luận bàn trong khái niệm “phong cách làm việc dân chủ của cán bộ”
theo tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp cận theo chiều cạnh chính trị của dân chủ
Khái niệm “Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ” được tác giả nhận
thức là: “Tổng hợp những phương pháp, biện pháp cách thức làm việc riêng, tiêu biểu và ổn định mà người cán bộ sử dụng thường xuyên (hàng ngày) để thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm hướng tới mục tiêu chung là vì lợi ích của nhân dân và dân tộc, phát huy tối đa quyền làm chủ và là chủ của nhân dân” Khi nghiên cứu phong cách làm việc dân chủ của cán bộ cần lưu ý:
Thứ nhất, Phong cách được quy định bởi chức năng nhiệm vụ, phẩm
chất, tri thức, điều kiện chính trị và sinh sống của người cán bộ
Thứ hai, Phong cách làm việc là khái niệm rộng hơn khái niệm phương
pháp, khái niệm cách thức và khái niệm biện pháp, tác phong Phong cách làm việc không đồng nhất với tác phong, phương pháp và cách thức, từng biện pháp làm việc
Thứ ba, Phong cách làm việc là cái biểu hiện bên ngoài nhưng luôn phản
ánh phẩm chất bên trong của con người
Thứ tư, Phong cách làm việc bao hàm cả hai mặt ổn định tương đối và
linh hoạt mềm dẻo
Như vậy, phong cách làm việc dân chủ của cán bộ là cái chung biểu hiện thông qua phương pháp, cách thức và biện pháp để giác ngộ và tổ chức nhân dân hiểu và thực hiện tốt quyền làm chủ của mình thông qua việc thực hiện các nghị quyết, chính sách của Đảng và nhà nước nhằm xây dựng một xã hội dân chủ
Trang 251.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
Cho đến nay, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ chưa có được một nội hàm rõ ràng Tuy nhiên, từ những quan niệm bước đầu của các nhà nghiên cứu, trên cơ sở kế thừa và phát triển, tác giả luận văn đưa ra cách hiểu cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ, như sau: Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về lề lối, cung cách, cách thức làm việc có tính hệ thống, trở thành
nề nếp ổn định của cán bộ mà đối tượng đó là cấp dưới, quần chúng nhân dân
để thực hiện mục tiêu nhằm hướng tới mục tiêu chung là vì lợi ích của nhân dân và dân tộc, phát huy tối đa quyền làm chủ và là chủ của nhân dân, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân lao động, hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, phấn đấu vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới Khái niệm nêu trên đã tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ là hệ thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc của Người về lề lối, cung cách, cách thức làm việc có tính hệ thống, trở thành nền nếp ổn định của cán bộ
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán
bộ góp phần tổ chức các lực lượng xã hội để thực hiện quyết sách chính trị hiệu quả, đúng đắn, dân chủ
Thứ ba, tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán
bộ, nhằm đạt mục tiêu chung là vì lợi ích của nhân dân và dân tộc, phát huy tối đa quyền làm chủ và là chủ của nhân dân, không ngừng cải thiện và nâng
Trang 26cao đời sống của nhân dân lao động, tiến bộ xã hội và phù hợp với xu thế thời đại
1.2.1 Tầm quan trọng của phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
Hồ Chí Minh là người tham gia các sự kiện trọng đại nhất của dân tộc Việt Nam, luôn là người dấn thân vào cuộc sống thực tế, trở thành nhân vật cốt yếu nhất, một nhà chính trị, nhà tư tưởng, một vị lãnh tụ mẫu mực hoạt động Dưới ánh sáng của Chủ Nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy cần có một hệ thống chính trị vững mạnh, một đội ngũ cán bộ
có đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ và phong cách làm việc chuẩn mực để lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu chung Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò của cán bộ: “là gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại
là do cán bộ tốt hay kém”[62; tr.235] Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cây thì phải có gốc, không có gốc thì cây héo, sông thì phải có nguồn, không có nguồn thì sông cạn Vì vậy trong mọi việc mà không có cán bộ thì không thể hoàn thành
Cán bộ còn được hiểu "là cái dây chuyền của bộ máy" Trong cỗ máy công nghiệp, dây chuyền liên quan đến nhiều bộ phận, nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt Sự chuyển động của xã hội được coi như một "cỗ máy" khổng lồ Trong "cỗ máy" đó, cán bộ là dây chuyền, "cầu nối" giữa Đảng, Chính phủ với nhân dân Đây là một "dây chuyền" đặc biệt Bởi vì, cán bộ phải đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi hành trong nhân dân, giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng Như vậy, nếu cán
bộ dở thì một mặt chính sách không thể thực hiện được, mặt khác việc hoạch định, xây dựng chính sách mới sẽ sai lầm hoặc không phù hợp
Trang 27Trong mối quan hệ giữa cán bộ và nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm dân như nước, cán bộ như cá Lực lượng bao nhiêu là nhờ dân hết Người chỉ rõ "cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng thì không làm gì được"[62; tr.275] Từ đó, Người khẳng định nước lấy dân làm gốc, "cán bộ quyết định mọi việc" Sự "quyết định" ở đây là cán bộ phải đi trước, làm gương về tư tưởng, đạo đức, thái độ, lề lối làm việc Muốn phát huy được đầy đủ tính sáng tạo của hàng chục triệu người, thì cán bộ phải đi trước, tự cải tạo mình, tự nâng cao mình Cán bộ phải có lập trường giai cấp
vô sản vững chắc, giác ngộ về chủ nghĩa xã hội cao; phải rửa sạch ảnh hưởng
tư tưởng của giai cấp bóc lột, rửa sạch chủ nghĩa cá nhân, rèn luyện tinh thần
và ý thức tập thể
Phong cách làm việc là sản phẩm của con người, vì vậy phong cách làm việc của mỗi cán bộ sẽ mang sắc thái riêng Tuy nhiên, xuất phát từ phương pháp tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán
bộ theo chiều cạnh chính trị của dân chủ Cán bộ có phong cách làm việc dân chủ phải có đầy đủ các đặc trưng:
- Mỗi cán bộ phải biết biết phân chia quyền lực, lãnh đạo quản lý của mình, phải gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, đặt mình trong tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể Đồng thời phải lắng nghe, tranh thủ ý kiến cấp dưới, của nhân dân đưa họ tham gia vào việc thảo luận các quyết định, tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân
- Cán bộ phải mở rộng dân chủ để phát huy sức mạnh của tập thể Cán
bộ phải biết giác ngộ và tổ chức nhân dân thực hiện chủ chương chính sách của Đảng và Nhà nước vì mục tiêu chung của Dân tộc, vì lợi ích của nhân dân
- Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát, tổng kết trong quá trình tổ chức thực hiện Theo phong cách dân chủ Hồ Chí Minh là nhận trách nhiệm cá
Trang 28nhân, hoàn thành tốt nhiệm vụ được tập thể giao phó và tuyệt đối tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
Như vậy, phong cách làm việc dân chủ là phong cách được đặc trưng bằng việc Người cán bộ phân chia quyền lực quản lý, lãnh đạo của mình, tranh thủ ý kiến cấp dưới, đưa họ tham gia vào việc khởi thảo các quyết định Cán bộ có phong cách này còn tạo ra những điều kiện thuận lợi cho cấp dưới, nhân dân được phát huy sáng kiến, tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, đồng thời tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực trong quá trình quản lý Theo phong cách này cán bộ sẽ không hành động khi không có sự đồng thuận của cấp dưới hoặc người cán bộ tự quyết định hành động nhưng
có tham khảo ý kiến của cấp dưới của mình
Ưu điểm của phong cách làm việc dân chủ của cán bộ đó là cấp dưới thích lãnh đạo hơn, không khí trong tổ chức thân thiện, định hướng nhóm, định hướng nhiệm vụ rõ ràng Mỗi thành viên trong tổ chức đều thấy sự cần thiết phải gắn bó với nhau để cùng làm việc nhằm đem lại kết quả chung, hiệu quả công việc cao, kể cả khi không có mặt của người cán bộ lãnh đạo, quản
lý Phong cách làm việc dân chủ giúp cán bộ phát huy được năng lực và trí tuệ của tập thể, phát huy được tính sáng tạo của cấp dưới, quyết định của người cán bộ lãnh đạo, quản lý được cấp dưới tin tưởng và làm theo
Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của dân nên đồng thời khẳng định sức mạnh và vai trò của thực hành dân chủ và phong cách làm việc dân chủ của cán bộ Phong cách này như một sức mạnh giải phóng ý thức tư tưởng, mọi tiềm năng xã hội, nhờ đó phát huy được mọi khả năng sáng tạo, làm nở rộ những tài năng, sáng kiến của nhân dân, tạo ra những nguồn lực dồi dào cho tiến bộ và phát triển Phong cách làm việc dân chủ là đặc trưng cơ bản của phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nó sẽ khơi dậy được mọi sự tham gia nhiệt tình và những đóng góp sáng tạo của quần chúng
Trang 29Hồ Chí Minh viết: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó rất quan hệ với
nhau Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”[58; tr.345] Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ” nghĩa là nhân dân làm chủ và nhân dân là chủ Cán bộ, Đảng viên sẽ là người đầy tớ trung thành của nhân dân, vừa đi trước quần chúng, vừa hòa mình vào quần chúng Làm sao cho cán bộ cấp dưới, cán bộ bình thường và nhân dân có ý kiến thì giám nói ra, dám phê bình, không sợ bị trù dập, phát huy tối đa quyền làm chủ
và là chủ của nhân dân Như vậy là cán bộ lãnh đạo, quản lý đã đạt được tầm cao của phong cách làm việc dân chủ
Theo Hồ Chí Minh, phong cách làm việc dân chủ của cán bộ sẽ có tác dụng thúc đẩy, phát triển để hướng tới tiến bộ, văn minh của dân chủ được thể hiện trên nhiều lĩnh vực: Sản xuất, làm kinh tế vì ích nước lợi nhà, thoát được đói nghèo, dần dần trở nên giàu có Nhờ có dân chủ mà thể chế, luật pháp, bộ máy nhà nước mới có sức mạnh, mới hướng vào mục tiêu phục vụ dân, bảo
vệ dân Nhờ có phong cách làm việc dân chủ của cán bộ mà Đảng mới phát huy được uy tín, ảnh hưởng xã hội rộng lớn trong dân Quan hệ gần gũi, mật thiết giữa Đảng và Nhà nước thì phải có dân chủ, dân sẽ dám nói, dám nghĩ, dám làm Cán bộ Đảng viên thì có gan nói, gan làm, dám chịu trách nhiệm
Có làm việc theo phong cách dân chủ, thực hiện tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tranh luận để tìm ra chân lý thì sẽ khắc phục được thói áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh Bảo đảm và phát huy được dân chủ thì quyền tự do tư tưởng hóa
ra quyền tự do phục tùng chân lý Đây là một tác dụng vô cùng to lớn, kích thích mọi khả năng sáng tạo, nhất là đối với giới trí thức
Do đó, Nhà nước phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân Chính phủ là chính phủ của toàn dân, chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành, tận tụy của dân Sức của dân rất lớn Lực lượng của
Trang 30dân dồi dào Sáng kiến của dân là vô tận Dân có trăm tai nghìn mắt ở cơ sở nên hiểu tình hình, hiểu cán bộ Giám sát thanh tra của dân làm cho những sai trái, khuất tất sẽ lộ ra, nhờ đó mà kịp sửa chữa, chấn chỉnh Bộ máy có trong sạch, cán bộ có liêm khiết thì mới phục vụ được dân Muốn vậy phải dựa vào dân, phải đưa mọi vấn đề cho dân thảo luận và tìm cách giải quyết
Vai trò, tác dụng của phong cách làm việc dân chủ của cán bộ còn ở chỗ
nó thúc đẩy đoàn kết, tăng cường đồng thuận và ngăn chặn quan liêu, tham nhũng Có làm việc dân chủ thực chất, tức là bảo đảm sự tôn trọng, tin cậy và bình đẳng thì mới đoàn kết thực chất được Có làm việc dân chủ và đoàn kết thì xã hội mới đồng thuận, để đồng tâm hiệp lực vào công cuộc xây dựng chế
độ, phát triển kinh tế, văn hóa vì hạnh phúc chung Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ sẽ tạo ra điều kiện thuận lợi để cho cán bộ cấp dưới được phát huy ý kiến, tham gia vào việc lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch, đồng thời tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực trong quá trình quản lý để hiệu quả công việc kể cả không có mặt của cán bộ
Hồ Chí Minh nhấn mạnh một vai trò to lớn của phong cách làm việc dân
chủ như “là cái chìa khóa vạn năng giải quyết mọi vấn đề” Cán bộ nếu có
phong cách làm việc dân chủ luôn xung phong, gương mẫu đi trước giải quyết mọi vấn đề, bàn bạc một cách dân chủ chắc chắn hiệu quả công việc sẽ luôn cao Kinh nghiệm cho thấy, cơ quan nào mà trong lúc khai hội, cán bộ để mọi người nói hết, cái đúng thì nghe, cái ko đúng thì giải thích, sửa chữa, ở những
cơ quan ấy mọi người đều hoạt bát, bệnh “thì thầm, thì thào” cũng hết
Phong cách làm việc dân chủ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến uy tín của cán bộ đặc biệt là cán bộ lãnh đạo, quản lý và tác động đến hiệu quả nhiệm vụ chính trị của tổ chức, phong cách của cán bộ cấp dưới, lợi ích của nhân dân Tư tưởng: “Tất cả vì lợi ích của nhân dân” là kim chỉ nam cho hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ các cấp
Trang 31Năm 1947, Hồ Chí Minh về thăm Thanh Hóa căn dặn: “Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân làm cho dân Trước kia, sức dân, của dân làm lợi cho
đế quốc, nay đem lại lợi ích cho dân” [62; tr 254] Đem tài dân, sức dân, của dân, tức là đem toàn bộ sức người, sức của, tinh thần, vật chất, tài năng, của cải, tài sản trong dân để làm lợi cho dân Nói ngắn gọn, đây chính là triết lý phát huy nguồn lực của dân để đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân Đây
là một triết lý hết sức sâu sắc, có ý nghĩa lớn với việc xây dựng phong cách làm việc dân chủ của đội ngũ cán bộ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh
Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến uy tín và tác động đến hiệu quả của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của tổ chức, phong cách của cán bộ cấp dưới, lợi ích của cán bộ cấp trên Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ góp phần phát huy được uy tín, ảnh hưởng xã hội rộng lớn của Đảng trong dân Phong cách làm việc dân chủ góp phần thực hiện tự do tư tưởng, tự do thảo luận, tranh luận để tìm ra chân
lý thì sẽ khắc phục được thói áp đặt, quan liêu, mệnh lệnh Đây là một tác dụng vô cùng to lớn, kích thích mọi khả năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với giới trí thức
Tuy nhiên, nhược điểm của phong cách này là người cán bộ có thể tốn khá nhiều thời gian để ra được một quyết định, và đôi khi cũng khó đi đến thống nhất ý kiến trong một số vấn đề cụ thể nếu không có người điều hành
đủ chuyên môn, hiểu biết và sự quyết đoán Hồ Chí Minh đã xem phong cách làm việc dân chủ của cán bộ đã góp phần quan trọng đến kết quả của công việc Do đó, cán bộ phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, nâng cao phong cách làm việc dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ đúng đắn là phải kết hợp chặt chẽ giữa cách làm việc dân chủ tập thể với tính quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, kịp thời đưa ra những quyết sách đúng của cá nhân Những hiện tượng coi
Trang 32thường tập thể, hoặc dựa dẫm, ỷ lại tập thể, không quyết đoán, không nêu cao trách nhiệm cá nhân đều làm trì trệ, suy yếu năng lực lãnh đạo của người cán
bộ
Tóm lại:
Phong cách làm việc dân chủ của cán bộ giữ vai trò quan trọng
Thứ nhất, phong cách làm việc dân chủ là một trong những yếu tố cấu
thành nên chất lượng làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý, nó quyết định hiệu quả của công việc lãnh đạo
Thứ hai, phong cách làm việc dân chủ của cán bộ là nhân tố quan trọng
quyết định năng lực lãnh đạo, quản lý và sức chiến đấu của Đảng Đồng thời, phát huy được mọi khả năng sáng tạo, làm nở rộ những tài năng, sáng kiến của nhân dân, tạo ra những nguồn lực dồi dào Dân chủ, sáng kiến, hăng hái_ba điều
đó quan hệ mật thiết với nhau, có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề
ra sáng kiến, hăng hái, tích cực hạn chế những khuyết điểm trong quá trình công tác
Thứ ba, phong cách làm việc dân chủ của cán bộ ảnh hưởng đến mối
quan hệ của Đảng, cán bộ với nhân dân Nhờ có phong cách làm việc dân chủ của cán bộ mà Đảng mới phát huy được uy tín, ảnh hưởng xã hội rộng lớn trong dân Quan hệ giữa Đảng, nhà nước, và nhân dân trở nên gần gũi, mật thiết
Thứ tư, Hồ Chí Minh nhấn mạnh một vai trò to lớn của phong cách làm
việc dân chủ như “là cái chìa khóa vạn năng giải quyết mọi vấn đề” Cán bộ
nếu có phong cách làm việc dân chủ luôn xung phong, gương mẫu đi trước giải quyết mọi vấn đề, bàn bạc một cách dân chủ hiệu quả công việc sẽ luôn cao
Trang 331.2.2 Phong cách làm việc dân chủcủa cán bộ trong quá trình ra quyết định
Hồ Chí Minh_nhà tư tưởng kiệt xuất, với học thuyết giải phóng của mình
đã mở ra một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử của nước ta: Thời đại Hồ Chí Minh, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Thời đại ấy đã làm cho dân ta thoát khỏi ách áp bức bóc lột và tình cảnh nô lệ, thoát khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu, trở thành người chủ, người có quyền làm chủ, thực sự sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc
Theo Hồ Chí Minh, dân chủ là mục tiêu, động lực của cách mạng, nhưng thực hành dân chủ mới có ý nghĩa quyết định: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [46, tr 235] Thực hành dân chủ, trước hết là phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên “ai cũng có quyền hưởng
tự do, dân chủ” Chỉ trên cơ sở phát huy dân chủ mới có thể bày tỏ hết ý kiến của mình và gom góp ý kiến của mọi người để giúp đỡ Trung ương Như vậy,
sẽ huy động, sử dụng có hiệu quả trí tuệ của tập thể, tránh được bệnh chuyên quyền, độc đoán, dẫn đến những quyết định sai lầm Hơn nữa, sứ mệnh cao cả
và nặng nề của cán bộ lãnh đạo, quản lý đòi hỏi phải có năng lực, trí tuệ xứng tầm với yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng Năng lực, trí tuệ ấy không chỉ do một hay một vài cá nhân xuất chúng tạo nên mà phải là
sự đóng góp, sự huy động ở mức cao nhất trí tuệ của tập thể Trong quá trình lãnh đạo, Hồ Chí Minh vạch ra thực trạng: “Cán bộ, đảng viên vẫn ít sáng kiến, ít hăng hái Đó là vì lẽ gì? Vì nhiều lẽ Mà trước hết là vì: Cách lãnh đạo của ta không được dân chủ, cách công tác của ta không được tích cực” [49, tr 283] Muốn khắc phục tình trạng ấy “cần phải nâng cao mở rộng dân chủ ra”, bởi “có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến Những sáng kiến đó được khen ngợi thì những người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo Và trong khi tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm
Trang 34việc, thì những khuyết điểm lặt vặt, cũng tự sửa chữa được nhiều” [48, tr 284]
Chính vì vậy, để quyết định vấn đề cho đúng phải thực hành dân chủ, phải tạo ra trong sinh hoạt nội bộ một khối không khí cởi mở, dễ cho người cán bộ, đảng viên có sáng kiến và trình bày sáng kiến đóng góp với lãnh đạo Không để trong nội bộ u ám uất ức, đảng viên, cán bộ không dám nói, không cả gan có ý kiến Dân chủ không chỉ là mục đích phấn đấu, là quyền của đảng viên mà còn là cách lãnh đạo, là phương thức để tổ chức Đảng ra các quyết định lãnh đạo cho đúng
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Bao nhiêu cách tổ chức và cách làm việc, đều vì lợi ích của quần chúng, vì cần cho quần chúng Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề nghị lên cấp trên để bỏ đi hoặc sửa lại Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị lên cấp trên
mà đặt ra Nếu cần làm thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau, miễn là được việc"[63; tr 235]
Chủ tịch Hồ Chí Minh khuyên cán bộ, đảng viên nói chung và các cán
bộ lãnh đạo, quản lý trong mọi công tác của Đảng, của Chính Phủ, đoàn thể, phong cách làm việc tốt nhất là: "Cách làm việc, cách tổ chức của chúng ta đều phải lấy câu này làm khuôn phép: "Từ trong quần chúng ra Về sâu trong quần chúng"[62; tr.256] Nghĩa là gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống Rồi đem nó ra tuyên truyền, giải thích cho quần chúng và làm cho nó thành ý kiến của quần chúng và làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành ta xem xét lại, coi ý kiến
đó có đúng hay không Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích làm cho
Trang 35quần chúng giữ vững và thực hành Cứ như thế mãi thì lần sau sẽ đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn lần trước Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt” [62;
tr 233]
Để có quyết định đạt tới tầm dân chủ sát quần chúng, hợp quần chúng
trong quá trình ra quyết định Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ phải thường xuyên tiếp xúc làm việc với quần chúng, nắm tâm tư nguyện vọng và thật sự quan tâm tới đời sống mọi mặt của họ Đồng thời phải tin yêu tôn trọng nhân dân, lắng nghe ý kiến đóng góp phê bình xây dựng của nhân dân để ra quyết định
Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng", "không phải dân chúng nói gì, ta cũng cứ nhắm mắt theo"[62, tr 243] Trong cách làm việc với quần chúng cần phải nắm vững tình hình chất lượng quần chúng, phân loại các mức hạng khác nhau để có biện pháp làm việc cho hiệu quả, mặt khác phải nắm rõ đặc điểm nổi bật trong tư tưởng của dân chúng Vì thế, "người cán bộ cũng phải dùng cách so sánh của dân chúng
mà tự mình so sánh"[ 62; tr 214]
Trong xã hội địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Như vậy, đủ hiểu vì sao bài học của cách mạng nước ta là bài học “lấy dân làm gốc” Hồ Chí
Minh hiểu rõ sức dân “dễ mười lân không dân cũng chịu Khó trăm lần dân
liệu cũng xong.” Lịch sử vàng son của dân tộc ta đã chứng minh luận điểm
của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn Nhờ có sự đoàn kết một lòng của toàn Đảng và toàn dân mà đất nước ta đã đánh tháng 2 kẻ xâm lược lớn là Pháp và Mỹ để thống nhất non sông xây nền hòa bình
Hồ Chí Minh nói “Trong bầu trời không gì quý bằng dân… Dân chủ là quý báu nhất của nhân dân” đồng nghĩa Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong xã
hội không có gì tốt đẹp và vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân”
Những luận điểm đó đã nhấn mạnh thêm tính nhân văn sâu sắc trong quan điểm Hồ Chí Minh về phong cách làm việc dân chủ của cán bộ
Trang 36Trong nhiều năm giữ cương vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh đã nêu gương trong việc sử dụng phong cách dân chủ trong quá trình
làm việc, luôn theo đường hướng “ tự do dân chủ để tìm tòi chân lý” Khi
chân lý đã tìm ra rồi thì tự do dân chủ, tự do tư tưởng hóa ra do phục tùng chân lý Thấu hiểu điều này nên Hồ Chí Minh luôn chủ động đến với dân, gần dân, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của dân, tìm hiểu sự thật ở trong dân và từ cuộc sống của dân để kịp thời sửa chính sách, xem lại chủ chương, quyết định, bộ máy tổ chức và cán bộ Vì vậy, đã cắt nghĩa vì sao mỗi lời nói, mỗi việc làm, cử chỉ hành động của Hồ Chí Minh làm cảm động muôn người
Hồ Chí Minh nói nhiều tới “dân” và “ dân chủ” đến vậy cũng chỉ nhằm
mục đích duy nhất là thức tỉnh nhân dân giác ngộ được vai trò và quyền lợi của mình “đem sức ta mà giải phóng cho ta” Tư tưởng của Hồ Chí Minh là
sự phát triển nhất quán hợp logic phát triển từ “dân” đến “dân chủ”, đem sức
dân để làm lợi cho dân, để mưu cầu hạnh phúc cho dân
Thực tiễn Việt Nam trong những năm qua đã chứng minh: ra quyết định
có vai trò rất quan trọng trong công tác lãnh đạo, quản lý bởi vì việc ra quyết định sẽ chi phối toàn bộ quá trình tổ chức, thực hiện một nhiệm vụ nào đó trong thực tế Việc ra quyết định đúng hay sai, chính xác hay không chính xác
dù ở cấp độ nào cũng quyết định đến sự thành công hay thất bại của công việc Ra quyết định nếu như không đúng, không trúng, không khách quan, khoa học, không mang lại lợi ích cho xã hội, cho nhân dân thì hậu quả rất lớn thậm chí gây bất bình trong nhân dân, mất ổn định xã hội
Ở tầm lãnh đạo, quản lý càng cao thì sức nặng của quyết định càng lớn, tầm ảnh hưởng càng rộng Chỉ một quyết định không đúng sẽ dẫn tới những hậu quả khôn lường, điều mà các phương tiện truyền thông hàng ngày đưa tin, trở thành một vấn đề thu hút dư luận hiện nay Nhìn rộng hơn, năng lực ra quyết định sẽ quyết định năng lực lãnh đạo, quản lý của cán bộ ở mọi cấp
Trang 37Theo thống kê chưa đầy đủ, mỗi năm nước ta có hàng nghìn văn bản quy phạm pháp luật và rất nhiều quyết định hành chính của các bộ, ngành, địa phương không được thẩm định kỹ trước khi ban hành Quyết định lãnh đạo, quản lý phụ thuộc vào hai nhân tố cơ bản Một là, tự thân người lãnh đạo, quản lý phải có đạo đức và giỏi chuyên môn, có năng lực, phương pháp lãnh đạo, quản lý Hai là, về khách quan, năng lực ra quyết định lãnh đạo, quản lý chịu sự chi phối rất mạnh của dư luận xã hội mà về thực chất chính là mức độ tham dự của người dân vào quá trình ra quyết định, phụ thuộc vào sức nặng của pháp luật, đây chính là hàng rào để ngăn ngừa các hành vi, hoặc các dấu hiệu thâu tóm quyền lực vì lợi ích cục bộ trong việc ra các quyết định lãnh đạo, quản lý Với cách tiếp cận đó có thể khẳng định, mức độ tham dự của nhân dân có vai trò mang tính quyết định đến chất lượng các quyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp
Hồ Chí Minh chỉ rõ, muốn lãnh đạo đúng, trước hết phải quyết định mọi vấn đề cho đúng, phải điều tra, nghiên cứu rõ ràng Bởi vì: “Đảng có hiểu rõ tình hình thì đặt chính sách mới đúng, mà muốn Đảng hiểu rõ thì cán bộ, đảng viên phải điều tra và báo cáo rõ ràng tình hình từng xã, từng huyện, từng tỉnh, từng khu Nếu không biết rõ tình hình mà đặt chính sách thì kết quả là “nồi vuông úp vung tròn, không ăn khớp gì hết” [62, tr 307] Chính vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu, cán bộ, đảng viên phải giành nhiều thời gian đi xuống địa phương, cơ sở, gần gũi với nhân dân, hoà mình vào đời sống đồng bào, đồng chí, đi thực tế xem xét kỹ tình hình để có những quyết định đúng đắn Đồng thời, với việc điều tra nghiên cứu, nắm vấn đề Hồ Chí Minh xác định, mọi quyết định đều phải dựa trên kết quả của quá trình phân tích, so sánh, đối chiếu, thấy được những mặt mạnh, mặt yếu, những thuận lợi và khó khăn để đưa ra những quyết định đúng đắn, phù hợp Hồ Chí Minh nói: “So đi sánh lại, phân tích rõ ràng là cách làm việc có khoa học” [63, tr 337] Bởi vậy, gặp
Trang 38mỗi vấn đề phải luôn đặt câu hỏi: “Vì sao có vấn đề này? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ lưỡng Chớ hấp tấp, chớ làm liều, chớ gặp sao làm vậy”[62; tr.362] Hồ Chí Minh cũng cho rằng, phải “liên hợp chính sách chung với sự chỉ đạo riêng” vì bất kỳ việc gì nếu không có chính sách chung, kêu gọi chung thì không thể động viên khắp quần chúng Song, nếu cán bộ lãnh đạo, quản lý chỉ làm chung, làm khắp cả một lúc mà không trực tiếp nhằm một nơi nào đó thực hành cho kỳ được rồi lấy kinh nghiệm nơi đó
mà chỉ đạo những nơi khác thì không biết chính sách của mình đúng hay sai Tinh thần cơ bản là cán bộ phải nắm nội hàm và mục tiêu của quyết định để chỉ đạo cụ thể và cũng thông qua chỉ đạo cụ thể mà kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện quyết định đúng hay sai Hồ Chí Minh cho rằng đây là một cách thức vừa lãnh đạo vừa học tập mà “bất kỳ người lãnh đạo nào, nếu không học tập nổi những việc thiết thực, những người thiết thực và những bộ phận thiết thực của cấp dưới, để rút kinh nghiệm, thì nhất định không biết chỉ đạo chung cho tất cả các bộ phận” [63, tr 289] Mặt khác, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra phải tìm việc chính, việc gấp làm trước Trong cả nước, một địa phương, một cơ quan đơn vị lúc này thì vấn đề này nổi lên, lúc khác thì vấn
đề khác nổi lên cần phải tìm ra, khi đã quyết định thì phải thực hiện triệt để
Ra quyết định cần phải chống rập khuôn máy móc, giáo điều, Hồ Chí Minh yêu cầu một trong những nguyên tắc lãnh đạo, quản lý là chớ khư khư giữ theo “sáo cũ”, luôn phải theo tình hình thiết thực của nhân dân nơi đó và lúc
đó, theo trình độ của dân chúng, theo sự tình nguyện của dân chúng
Theo đó, mức độ tham dự của người dân trong quá trình ra quyết định của cán bộ lãnh đạo, quản lý có ý nghĩa rất quan trọng, đặc biệt hiện nay khi dân chủ tiếp tục được mở rộng và bảo đảm, nhận thức của người dân ngày càng tốt hơn, ý thức chính trị của họ được nâng cao hơn, người dân có trách nhiệm hơn và đồng thời đòi hỏi ngày càng cao hơn đối với những người mà họ ủy
Trang 39nhiệm quyền lực Để các quyết định đưa ra phù hợp, một vấn đề có tính nguyên tắc được quy định bằng luật là phải đưa ra trước nhân dân để bàn thảo, lấy ý kiến Tuy nhiên, nhiều quyết định đã mạo danh được sự đồng thuận của nhân dân, không tham khảo ý kiến của nhân dân, không được người dân đồng thuận, thậm chí người dân không đồng tình nhưng vẫn ra quyết định Đây là căn nguyên dẫn tới nhiều bất bình trong xã hội
Tăng cường sự tham dự của người dân trong quá trình ra quyết định đòi hỏi các cán bộ lãnh đạo, quản lý phải chủ động lấy ý kiến nhân dân, thăm dò
dư luận, nâng cao tính thiết thực của hoạt động tiếp dân, của đối thoại dân chủ
ở cơ sở, cung cấp đầy đủ thông tin về lĩnh vực liên quan các quyết định… để nhân dân giám sát, thụ hưởng lợi ích từ các quyết định mang lại Cùng với sự chủ động ấy thì tự thân mỗi người dân phải đề cao trách nhiệm, góp tiếng nói của mình
Chính vì vậy, cán bộ muốn ban hành quyết định phù hợp tình hình thực tiễn, tâm tư nguyện vọng của nhân dân phải thực hành dân chủ, phải tạo ra trong sinh hoạt nội bộ Đảng một khối không khí cởi mở, dễ cho đảng viên có sáng kiến và trình bày sáng kiến đóng góp với cán bộ có quyền ra quyết định Không để trong nội bộ u ám uất ức, đảng viên, cán bộ không dám nói, không
cả gan có ý kiến Công thức của Hồ Chí Minh nêu ra là: “Dân chủ, sáng kiến, hăng hái” Dân chủ là mục đích phấn đấu, là quyền của đảng viên mà còn là cách lãnh đạo, quản lý là phương thức để ra các quyết định lãnh đạo, quản lý cho đúng
Cán bộ ra quyết định phải so sánh, học hỏi kinh nghiệm của nhân dân Theo
Hồ Chí Minh, khi đã có lí luận, nắm vững quan điểm thực tiễn để ra quyết định lãnh đạo, quản lý phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, cán bộ còn cần phải
có kinh nghiệm để kết hợp với kinh nghiệm của nhân dân Hồ Chí Minh cho rằng “dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng Vì vậy, chúng ta phải
Trang 40học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng” [63, tr 233] Mỗi cán
bộ, đảng viên phải nhận thức rằng: “Không học hỏi dân thì không lãnh đạo được dân Có biết làm học trò dân, mới làm được thầy học dân” [60, tr 432] Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra Chính vì vậy,
Hồ Chí Minh đặt niềm tin vào sức mạnh của nhân dân, vào mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ: Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không
đủ lực lượng; nếu không có Chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường Nhưng dân là chủ Dân như nước, mình như cá Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết Nhà nước muốn điều hành, lãnh đạo xã hội có hiệu lực, hiệu quả nhất định phải dựa vào dân Điều đó thể hiện rõ nhất là sau khi giành được chính quyền, chuẩn bị bước vào giai đoạn kiến quốc, Đảng và Chính phủ chưa có kinh nghiệm, Hồ Chí Minh đã viết bài “Nhân tài và kiến quốc” đăng trên báo Cứu quốc đề nghị nhân dân đưa sáng kiến và kế hoạch xây dựng và phát triển đất
nước
Hồ Chí Minh cũng yêu cầu phải thực hiện “liên hiệp người lãnh đạo với quần chúng” Người cho rằng, lãnh đạo không phải “cái gì cũng dùng mệnh lệnh Ép dân chúng làm Đóng cửa lại mà đặt kế hoạch, viết chương trình rồi đưa ra cột vào cổ dân chúng, bắt dân chúng theo” [63, tr 333] Cán bộ phải so sánh kinh nghiệm của dân chúng, gom góp mọi ý kiến rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống, rồi giải thích cho quần chúng, biến nó thành ý kiến của quần chúng, làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó Theo Hồ Chí Minh, đó là “cách lãnh đạo, quản lý cực kỳ dân chủ”
Mặt khác, cán bộ lãnh đạo, quản lý chính quyền các cấp và các cơ quan có trách nhiệm phải đập tan những luận điệu của các thế lực thù địch nhằm xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách, quyết sách lãnh đạo, quản lý các