Xu thế hòa dịu trong đối thoại, nhu cầu hòa bình và ổn định của các quốc gia ASEAN cùng sự điều chỉnh chính sách đối ngoại, các mối quan hệ giữa hai nước đã góp phần mở một hướng đi mới
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 22
Cụng trỡnh được hoàn thành tại: Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa
học Xó hội và Nhõn văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thiện Thanh
Phản biện 1: PGS TS Đinh Cụng Tuấn
Phản biện 2: PGS TS Văn Ngọc Thành
Luận văn sẽ đ-ợc bảo vệ tr-ớc Hội đồng chấm luận thạc sĩ họp tại:
Hà Nội, 18h ngày 28 tháng 5 năm 2013
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Theo quy luật phát triển của lịch sử nhân loại, bất kỳ quốc gia nào cũng có nhu cầu phát triển quan hệ với bên ngoài Đó không chỉ là điều kiện để con người tồn tại và phát triển mà còn là cơ sở để quốc gia hình thành và vận động Trong bối cảnh ngày nay, quan hệ đối ngoại là hoạt động mang tính sống còn, tác động đến sự tồn vong và phát triển của từng quốc gia Chính vì vậy, các nước luôn chú trọng, điều chỉnh linh hoạt chính sách đối ngoại phù hợp với thực tiễn đất nước và xu hướng vận động của bối cảnh quốc tế, khu vực Malaysia, Singapore - hai nước
có nền kinh tế phát triển so với các nước khác trong khu vực Đông Nam
Á không nằm ngoài quy luật phát triển đó của lịch sử nhân loại
Malaysia, Singapore không chỉ chung biên giới mà còn có mối quan hệ đặc thù giữa hai nước láng giềng Điều đó được thể hiện trong tiến trình phát triển lịch sử của hai nước Mối quan hệ tác động qua lại diễn ra trong tất cả các lĩnh vực: sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, xã hội , song vốn trước đây là một, hai nước có quá nhiều điểm chung và nhiều
vấn đề tồn tại dai dẳng
Khi trở thành thành viên của ASEAN, quan hệ Malaysia – Singapore vừa mang tính chất song phương giữa hai quốc gia, vừa mang tính chất đa phương trong quan hệ với các thành viên khác Do vậy, mối quan hệ Malaysia – Singapore cũng là một trong những động lực góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của khu vực Xu thế hòa dịu trong đối thoại, nhu cầu hòa bình và ổn định của các quốc gia ASEAN cùng sự điều chỉnh chính sách đối ngoại, các mối quan hệ giữa hai nước đã góp phần mở một hướng đi mới trong khu vực
Nghiên cứu “Quan hệ Malaysia-Singapore từ năm 1965 đến năm 2010” là đề tài vừa có ý nghĩa khoa học vừa có ý nghĩa thực tiễn Thông qua việc tái hiện diễn trình của mối quan hệ Malaysia – Singapore, luận văn sẽ giúp vạch ra những cơ sở cũng như đặc điểm của mối quan hệ này Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện chính sách đổi mới đất nước và thiết lập quan hệ đa dạng hóa, đa phương hóa với tất cả các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, việc nghiên cứu về quan hệ Malaysia - Singapore sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về hai đối tác quan trọng của Việt Nam trong khối ASEAN, từ đó có thể rút ra những kinh nghiệm tham khảo trong việc đánh giá diễn trình của một trong những mối quan hệ quan trọng trong quan hệ khu vực Đông Nam Á hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở trong nước:
Khi xu hướng mở rộng trong quan hệ đối ngoại giữa các nước trong khu vực ngày càng tăng, cũng là thời điểm các học giả trong nước
Trang 44
quan tâm nhiều hơn đến lịch sử, quan hệ đối ngoại của các nước trong tổ chức ASEAN Malaysia, Singapore đều là những nước có nền kinh tế phát triển, có tác động quan trọng đến tình hình kinh tế trong khu vực, vì vậy việc nghiên cứu về đất nước, lịch sử, văn hóa chính trị và xã hội của hai nước Malaysia, Singapore luôn được quan tâm Tuy nhiên, trên thực
tế, việc nghiên cứu về Malaysia, Singapore chỉ được đẩy mạnh hơn ở nước ta vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX
Các tác phẩm nghiên cứu về Malaysia:
Nghiên cứu về Malaysia, Singapore ở trong nước chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và tôn giáo Trong lĩnh vực kinh tế có các công
trình như “Kinh tế Malaixia” của Trần Lan Hương xuất bản năm 2001
Cuốn sách nêu một cách khái quát về đất nước, con người, lịch sử Malaysia; tập trung vào phân tích chiến lược và 3 giai đoạn phát triển kinh tế của Malaysia Các lĩnh vực kinh tế nông nghiệp, công nghiệp, tài chính – ngân hàng, thương mại – đầu tư, giao thông – bưu điện được phân tích cụ thể Bên cạnh đó là thông tin về khủng hoảng đồng Ringgit
và các giải pháp phục hồi nền kinh tế trong những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI
Cuốn “Malaixia trên đường phát triển” của Phạm Đức Thành xuất
bản năm 1993 cũng nêu khái quát về đất nước và con người Malaysia trong lịch sử Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Malaysia trong những năm 1957 – 1990 và chính sách mở cửa mềm dẻo linh hoạt của Malaysia và những thành tựu của đất nước này được tác giả thể hiện chi tiết
Cuốn “Malaixia kế hoạch triển vọng lần thứ hai 1991- 2000” của
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1997 Nội dung chính của cuốn sách là đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch triển vọng lần thứ nhất 1971-1990, chính sách kinh tế mới, nội dung cơ bản của kế hoạch triển vọng lần thứ hai 1991-2000, đẩy mạnh quá trình xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội, điều chỉnh cân đối thu nhập và mức sống giữa các vùng và các nhóm sắc tộc… của Malaysia Các tác phẩm này tập trung nêu bật những thay đổi trong nền kinh tế Malaysia và những tác động xung quanh sự biến đổi nền kinh tế
Về lĩnh vực văn hóa, tôn giáo có tác phẩm “Hồi giáo trong đời sống chính trị, văn hóa – xã hội của Malaysia” của Phạm Thị Vinh xuất
bản năm 2001 Tác phẩm đề cập đến vị trí và ảnh hưởng của Hồi giáo đối với đời sống chính trị và văn hoá xã hội của Malaysia Tác động của Hồi giáo đối với các chính sách đối nội, đối ngoại của nước này, đặc biệt là trong việc phát triển văn hoá dân tộc
Tác phẩm “Liên bang Malaysia: Lịch sử văn hóa và những vấn đề hiện đại” của Nguyễn Huy Hồng xuất bản năm 1998 Cuốn sách đã cung
Trang 5cấp một số kiến thức cơ bản về lịch sử, đất nước, con người, ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, phong tục tập quán, giáo dục, kinh tế xã hội, đối ngoại của Malaysia Đặc biệt là vai trò của Hồi giáo trong nền chính trị và tác động của Hồi giáo đến đời sống xã hội Malaysia
Các tác phẩm nghiên cứu về Singapore:
Cuốn “Xingapo đặc thù và giải pháp” của tác giả Dương Văn
Quảng xuất bản năm 2002, là tác phẩm nghiên cứu mang tính tổng quan
về đời sống xã hội, chính trị, văn hóa… về Singapore Cuốn sách giới thiệu chung về thương cảng Singapore, về hệ thống chính trị, chiến lược phát triển, chiến lược đối ngoại của Singapore Cuốn sách cũng đề cập đến mối quan hệ giữa Singapore với hai nước láng giềng là Malaysia và Indonesia, mối quan hệ với các nước Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam Tuy nhiên, trong phần viết về quan hệ song phương với Malaysia, tác giả chỉ nêu khái quát quan hệ giữa hai nước theo từng lĩnh vực, từng vấn đề còn tồn tại giữa hai nước mà chưa hệ thống những biến đổi trong quan hệ song phương giữa Malaysia và Singapore trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội
Công trình “Thành công của Singapore trong phát triển kinh tế” xuất bản năm 1996 và “Cộng hòa Xingapo 30 năm xây dựng và phát triển” xuất bản năm 1995 của Trần Khánh, chủ yếu đề cập đến sự phát
triển kinh tế của Singapore, những đột phá trong việc phát triển và xây dựng quốc gia dân tộc Bên cạnh đó, hai cuốn sách phác họa đôi nét về đất nước, con người, lịch sử của Singapore, tiếp đó tập trung đề cập đến những thành tựu về kinh tế vươt bậc mà Singapore đã đạt được
Như vậy, việc nghiên cứu Malaysia và Singapore của các tác giả trong nước chủ yếu là về lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội Đến thời điểm hiện tại, trong nước chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về quan hệ Malaysia – Singapore từ 1965 đến 2010, nếu có thì chủ yếu nghiên cứu về một khía cạnh nào đó trong mối quan hệ Malaysia – Singapore tại một thời điểm nhất định, hoặc một giai đoạn ngắn
Ở ngoài nước:
Có thể kể đến các tác phẩm đã được biên dịch sang tiếng Việt như
“Hồi ký Lý Quang Diệu” xuất bản năm 2001 Cuốn sách đề cập đến tình
hình kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội… và những biện pháp lãnh đạo đất nước của chính phủ Singapore và những đóng góp quan trọng của Lý Quang Diệu cho sự phát triển ở Singapore những năm 1965 – 2000
“Bí quyết hóa rồng: Lịch sử Singapore 1965-2000” của Lý Quang
Diệu xuất bản năm 2001 Tác phẩm đề cập những sự kiện quan trọng trong lịch sử Singapore từ khi độc lập đến năm 2000 Cuốn sách giới thiệu tình hình chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa… và chính sách ổn định xây dựng đất nước ở Singapore Tác phẩm cũng nói về việc chuyển giao
Trang 66
quyền lực của chính phủ Singapore và đôi nét về gia đình của Lý Quang Diệu Các quan hệ khu vực và quốc tế của Singapore, Lý Quang Diệu cũng “mô tả” những thăng trầm trong mối quan hệ giữa Malaysia và Singapore qua các sự kiện cụ thể Tuy nhiên, đó chỉ là quan điểm riêng, mang tính chất khái quát của ông xung quanh mối quan hệ về chính trị giữa hai nước
Bên cạnh đó, có khá nhiều tác phẩm nghiên cứu về mối quan hệ của Malaysia và Singapore trong lịch sử, có thể kể đến các tác phẩm như
“Singapore – Malaysia relation: under Adbullah Badawi” của Saw Swee Hock, “Malaysia – Singapore Relations” của Abdullah bin Haji Ahmad Badawi, hay “Across the Causway” của Takashi Shiraishi…
“Across the Causway” của Takashi Shiraishi xuất bản năm 2009,
là tác phẩm tổng hợp các bài viết nghiên cứu về lịch sử, chính trị, an ninh khu vực, pháp luật và nền kinh tế giữa Malaysia và Singapore Tuy nhiên, mỗi khía cạnh được tác giả nghiên cứu riêng và không theo trình
tự thời gian, không bao quát mối quan hệ giữa Malaysia – Singapore trong giai đoạn 1965 đến 2010
“Singapore – Malaysia relation: under Adbullah Badawi” của
Saw Swee Hock xuất bản năm 2006, bao gồm 8 chương chính, đề cập đến nhiều vấn đề như giải quyết các vấn đề song phương, tăng cường các chuyến thăm chính thức giữa hai bên, phát triển mối liên hệ nhân thân giữa hai nước, liên kết trong kinh tế, mở rộng khu vực liên kết tư nhân, các vấn đề trong giáo dục và thể thao, tinh thần cải thiện trong quan hệ tương lai giữa hai nước và các bài phát biểu của Thủ tướng Malaysia – Singapore trong giai đoạn cầm quyền của Thủ tướng Malaysia Badawi Cuốn sách cung cấp thông tin quan trọng về sự phát triển trong quan hệ song phương giữa Malaysia và Singapore từ 2003 đến năm 2006
Cuốn “Malaysia’s foreign policy the first fifty years: Alignment, Neutralism, Islamism” của Jayaratnam Saravanamuttu xuất bản năm
2010 Nội dung chính của cuốn sách nói về chính sách đối ngoại của Malaysia từ năm 1963 đến năm 2009, bên cạnh đó cuốn sách phân tích tình hình khu vực và thế giới đã có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của Malaysia
Cuốn “Malaysia: Recent trends and challenges” của Saw Swee
Hock xuất bản năm 2006, với nội dung chủ yếu là ghi lại các xu hướng
và thách thức đang diễn ra trong các lĩnh vực quan trọng của Malaysia Các chương trong cuốn sách bao gồm các chủ đề chính như dân số, hồi giáo, chính trị, cuộc tổng tuyển cử năm 2004, tác động của toàn cầu hóa
về kinh tế, quan hệ với Singapore Dự báo những tác động của khu vực ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ của Malaysia với các nước láng
Trang 7giềng trong tương lai Cuốn sách cung cấp cho độc giả cái nhìn sâu sắc hơn về Malaysia đang trong quá trình thay đổi
Cuốn “Malaysian foreign policy in the Mahathir Era, 2003: Dilemmas of development” của tác giả Karminder Singh Dhillon
1981-xuất bản năm 2009 Nội dung chính là chính sách đối ngoại của Malaysia
từ 1981-2003, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Mahathir Cuốn sách đi sâu vào nghiên cứu và nhận xét các chính sách đối ngoại của Malaysia, tác động của khu vực và quốc tế đến các chính sách Tác giả giải thích tầm quan trọng của các chính sách đối với sự phát triển của Malaysia Ngoài ra còn một số tác phẩm nghiên cứu về lịch sử Malaysia và
Singapore như “A history of Malaysia” của Barbara Watson Andaya xuất bản năm 2001, “Crossroads: A popular History of Malaysia, Singapore”
của Jim Baker xuất bản năm 2010
Tuy nhiên, các tác phẩm này chỉ nghiên cứu mối quan hệ của Malaysia – Singapore trong một giai đoạn nhất định Hiện chưa có tác phẩm sách nào nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai nước trong giai đoạn
1965 – 2010
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quá trình vận động mối quan
hệ Malaysia – Singapore Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian là từ năm
1965 đến năm 2010
Năm 1965 là mốc quan trọng, đánh dấu việc Singapore từ một nước nằm trong liên bang Malaysia, có quan hệ phụ thuộc về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội trở thành một quốc gia độc lập với Malaysia, có hướng đi riêng để xây dựng và phát triển đất nước
Năm 2010, đánh dấu nhiều sự kiện trong mối quan hệ song phương giữa Malaysia và Singapore Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long và Thủ tướng Malaysia Dato Naijb Abdul Razak mối quan hệ song phương được cải thiện rõ rệt, quan hệ hợp tác giữa hai nước được tăng cường trên nhiều lĩnh vực Đặc biệt, những mâu thuẫn, xung đột kéo dài hàng chục năm đã được giải quyết trong hòa bình, thiện chí Vì vậy, tôi chọn mốc năm 2010 là năm kết thúc nghiên cứu về quan hệ Malaysia – Singapore trong luận văn của mình
4 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hóa tư liệu, luận văn đề cập khái quát tiền đề của quan hệ Malaysia – Singapore và phân tích mối quan hệ Malaysia – Singapore trong các giai đoạn 1965-1981, 1981-2003, 2003-2010, thể hiện trên các lĩnh vực chính như chính trị, xã hội, kinh tế và những vấn
đề nổi trội trong quan hệ giữa hai nước Trong mỗi giai đoạn cụ thể, luận văn nêu và phân tích những nhân tố tác động tới quan hệ Malaysia - Singapore, rút ra đặc điểm của mối quan hệ trong mỗi giai đoạn Từ mối
Trang 88
quan hệ nghi kị, tồn tại nhiều bất đồng trong giai đoạn 1965 – 1981, sang giai đoạn 1981 – 2003 mối quan hệ trở nên căng thẳng và bế tắc kéo dài Nhưng đến giai đoạn 2003 – 2010, trước sự tác động của nhiều yếu tố, mối quan hệ Malaysia – Singapore được cải thiện và xác lập quan hệ hữu nghị song phương
Trên cơ sở nhận thức những thuận lợi, khó khăn và các vấn đề đang tồn tại trong mối quan hệ hai nước, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển mối quan hệ giữa hai nước Malaysia – Singapore
5 Phương pháp nghiên cứu
“Quan hệ Malaysia – Singapore từ năm 1965 đến năm 2010” là một đề tài lịch sử Vì vậy, các phương pháp nghiên cứu lịch sử được sử dụng chủ yếu trong luận văn Phương pháp nghiên cứu lịch sử: nghiên cứu mối quan hệ lịch sử giữa hai nước trong bối cảnh quốc tế - khu vực,
và trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội giữa hai nước
Phương pháp logic: khái quát, đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm về quan hệ giữa hai nước
Phương pháp duy vật biện chứng: nghiên cứu quan hệ giữa hai nước một cách hệ thống, theo tiến trình lịch sử, từ đó rút ra những nhận xét đặc điểm quan hệ giữa hai nước
Phương pháp duy vật lịch sử: phân tích quá trình phát triển quan hệ giữa hai nước, những diễn biến chính trị xã hội xung quanh, các mối quan hệ đặc trưng và những tác động của khu vực, thế giới đến mối quan hệ đó Quan hệ Malaysia – Singapore cũng là một hiện tượng quan hệ quốc tế Vì vây, việc nghiên cứu được kết hợp với các phương pháp nghiên cứu quốc tế Ví dụ như lý thuyết về hợp tác và hội nhập, nguyên nhân xung đột quốc tế, quan điểm về hệ thống quốc tế và lợi ích trong quan hệ hợp tác quốc tế…
Bên cạnh đó, luận văn cũng sử dụng các phương pháp như phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp Phương pháp thống kê: tiến hành tập hợp và phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về mối quan hệ Malaysia – Singapore Phương pháp tổng hợp: tổng hợp các dữ liệu về các sự kiện lịch sử, chính sách đối ngoại, các vấn đề song phương nổi bật trong quan hệ giữa hai nước
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Quan hệ Malaysia – Singapore 1965-1981: quan hệ nghi kỵ tồn tại nhiều bất đồng
Chương 2: Quan hệ Malaysia 1981-2003: quan hệ căng thẳng và
bế tắc
Chương 3: Quan hệ Malaysia – Singapore 2003-2010: sự cải thiện
và xác lập quan hệ hữu nghị song phương
Trang 9Chương 1: QUAN HỆ MALAYSIA – SINGAPORE 1965 – 1981: QUAN HỆ NGHI KỲ TỒN TẠI NHIỀU BẤT ĐỒNG
1.1 Tiền đề của quan hệ Malaysia - Singapore
1.1.1 Vị trí địa lý
Malaysia nằm ở vị trí trung tâm của Đông Nam Á, gần xích đạo,
giữa 10
và 70 vĩ bắc, 1000 và 1190 kinh đông, với diện tích hơn 330.000
km2 Malaysia có phần lãnh thổ tách biệt: Bán đảo Malaysia còn gọi là Tây Malaysia kéo dài từ eo đất Kra tới eo biển Johor, chiếm gần 4% diện tích đât nước và bắc Borneo – Đông Malaysia với hơn 60% tổng diện tích, cách nhau 750 km đường biển Đông Tây Malaysia gồm 11 bang trong đó 4 bang phía bắc có đường biên giới với Thái Lan, còn phía Nam được nối với Singapore bằng một chiếc cầu nhân tạo bắc qua eo biển Đông Malaysia gồm bang Sarawak và Sabah, giáp với Indonesia về phía nam và với Brunei ở phía bắc
Singapore là hải đảo gồm 54 đảo, nằm ở cuối cực nam của bán
đảo Malacca, cách xích đạo về phía Bắc khoảng 137 km Đất nước này bao gồm nhiều đảo khác nhau Đảo Singapore là đảo chính, với chiều dài 42km, rộng 23km với diện tích khoảng 583 km2 Tổng diện tích các đảo
là 642 km2
1.1.2 Điều kiện tự nhiên
Malaysia là đất nước với ¾ diện tích là đồi núi Đất là một trong
những nguồn tài nguyên lớn của Malaysia, phân hóa chủ yếu theo địa hình Nằm gần xích đạo nên khí hậu ở Malaysia nóng quanh năm và độ
ẩm không khí khá lớn
Do các hoạt động kiến tạo và quá trình bồi tụ lâu dài mà Malaysia
có rất nhiều khoáng sản quý với trữ lượng cao như: thiếc – tập trung nhiều ở các bang bờ biển phía Tây như Perak, Selango; dầu hỏa, khí đốt
là nguồn tài nguyên quan trọng hàng đầu của Malaysia, tập trung ở Đông Malaysia và bờ biển phía Đông bán đảo (bang Terengganu) Ngoài ra còn
có sắt (Perak, Terengganu, Johor), đồng, bô xít, than đá, vàng, cao lanh Sông ngòi ở Malaysia có hệ thống chi lưu khá dày đặc với lượng dòng chảy lớn do mưa nhiều và lượng bốc hơi ít Ngoài ra, Malaysia còn
có vùng biển rộng lớn với nhiều tài nguyên biển phong phú, nhiều bãi tắm với tiềm năng du lịch và nghỉ ngơi, đặc biệt có nhiều cảng kín và thuận lợi cho giao thông
Singapore quanh năm đều có mưa Lượng mưa khá lớn, bình quân
năm là 2350mm Tài nguyên thiên nhiên của Singapore có thể gọi là nghèo, chỉ có trữ lượng nhỏ than chì, nham thạch pha lẫn đất sét, đất đai
ít màu mỡ Nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu hiện nay là nguồn cá biển và nước biển Nhưng nguồn biển bạc này cũng đang bị cạn kiệt dần
Trang 1010
1.1.3 Dân cƣ
Một trong những đặc điểm nổi bật của Malaysia là quốc gia đa dân tộc Tính “đa dạng” này được tăng thêm chủ yếu từ thế kỷ XIX khi thực dân Anh khuyến khích lao động từ các nước di cư tới, đặc biệt là từ Trung Quốc và Ấn
Độ
Thành phần dân cư của Malaysia tương đối phức tạp Các cư dân lâu đời ở đây như các tộc người Semang, Senoi, Jakun (ở bán đảo Malacca), Dusune, Bajan, Murut, Iban, Klemantan, Melamam, Kelabit, Katasan…(ở bắc Kalimantan) cùng với người Melayu được coi là người bản xứ và có tên gọi theo tiếng Melayu là Bumiputra
Do đặc điểm phát triển của lịch sử dần dần trong thành phần cư dân của Malaysia hình thành ba cộng đồng dân tộc chính: cộng đồng người Melayu (gồm bản thân người Melayu và các tộc người bản địa khác), cộng đồng người Trung Quốc và cộng đồng người Ấn Độ
Dân số Singapore vào năm 1819 với một làng bé nhỏ gồm khoảng
100 người (đa số là người Mã Lai) đến năm 1852 đã lên đến 52.000 người, đến năm 1901 tăng tới 230.000 và năm 1947 là 940.000 [37, pg.9], bất chấp những thăng trầm của Đại chiến Thế giới II và sự chiếm đóng của Nhật Bản Số lượng và thành phần dân số của Singapore chịu ảnh hưởng bởi sự di cư và gia tăng dân số tự nhiên Trong suốt thế kỷ XIX, di cư là yếu tố chính trong tăng trưởng dân số Trong thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dân số Singapore bao gồm phần lớn là nam giới, số lượng này tăng chủ yếu qua nguồn nhập cư
1.1.4 Văn hóa
Ở Malaysia đạo Hồi được coi là quốc giáo và đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị và văn hóa của đất nước 9 trong 13 bang của Malaysia do các vua Hồi giáo Sultan đứng đầu, các vua thay nhau làm quốc trưởng và quốc trưởng lại chỉ định thủ lĩnh của 4 bang còn lại Trong khi các ông vua đồng thời là người đứng đầu Hồi giáo ở các bang thì quốc trưởng là người trực tiếp đứng đầu Hồi giáo ở 4 bang còn lại Ngoài đạo Hồi mà chủ yếu tín đồ là người Mã Lai, một số ít người
Ấn Độ và người Hoa, đa số người Hoa theo đạo Phật, đạo Khổng, đạo Giáo, hay thờ cúng tổ tiên Người Ấn Độ phần lớn theo đạo Hindu và một phần theo đạo Sikh Một số người Hoa, người Ấn, người Âu – Á và dân bản xứ theo đạo Cơ đốc Như vậy, hầu hết các tôn giáo chính trên thế giới đều có mặt tại Malaysia Tính đa tôn giáo phần nào bị chi phối bởi tính đa dân tộc của đất nước này Tôn trọng và tự do tôn giáo, tín ngưỡng
là đường lối cơ bản của Malaysia nhằm thúc đẩy quá trình hòa hợp dân tộc trong điều kiện Hồi giáo là quốc giáo Luật pháp Malaysia không cho phép tuyên truyền các tôn giáo khác trong những người theo đạo Hồi Song vì chính quyền Malaysia có chính sách tôn giáo đúng đắn và cư dân
Trang 11Malaysia không kỳ thị tôn giáo nên so với các nước Ả rập thì Hồi giáo ở Malaysia có tính khoan dung cao hơn
Singapore có 5 tôn giáo lớn là: Tin Lành và Công giáo 14,6%,
Phật giáo 42,5%, đạo Lão 8,5%, Hồi giáo 14,9%, Ấn Độ giáo 4%, còn lại 0,6% dân số theo các tôn giáo khác và 14,8% dân số không theo tôn giáo, ngoài ra còn có các loại hình tín ngưỡng dân gian [23] Như vậy, 85,2% dân số Singapore theo tôn giáo, các tôn giáo sống trong đoàn kết và hòa hợp
Các nhóm tộc người sinh sống ở Singapore hiện nay vẫn giữ được những nét đặc trưng về nền văn hóa và tiếng mẹ đẻ của mình Đại đa số người Hoa theo đạo Phật, thờ cúng tổ tiên và thuộc thành viên của từng dòng họ, nói tiếng Hoa phổ thông (tiếng Bắc Kinh) và tiếng địa phương Người Mã Lai theo đạo Hồi, nói tiếng mẹ đẻ (Mã Lai – Poninedi), người
Ấn Độ theo đạo Hinđu nói tiếng Tamil
Singapore từ trước đến nay không có một tôn giáo, tín ngưỡng nào được công nhận là quốc giáo Từ sau ngày tuyên bố độc lập, tiếng Mã Lai tiếng Hoa phổ thông, tiếng Tamil và tiếng Anh được nhà nước công nhận là ngôn ngữ chính bình đẳng như nhau và sử dụng rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy thế, trên thực tế tiếng Anh được nhà nước công nhận là ngôn ngữ phổ thông ở Singapore và được sử dụng
là ngôn ngữ chính trong thương mại, hành chính và giáo dục Đại bộ phận nhân dân Singapore ngày nay thông thạo hai thứ tiếng (tiếng mẹ đẻ
và tiếng Anh) Chính sách hòa nhập và liên kết dân tộc mà chính phủ Singapore theo đuổi trong gần 30 năm qua đã đưa đến sự hình thành một quốc gia – dân tộc mới – dân tộc Singapore với bản sắc riêng của mình
1.1.5 Những mối liên hệ trong lịch sử
Bán đảo Malaysia đã từng phát triển thịnh vượng nhờ vị trí trung tâm trên những con đường thương mại trên biển giữa Trung Quốc, Ấn
Độ và Trung Đông Ngay từ sớm, bán đảo Malaysia đã được thể hiện trên tấm bản đồ với tên gọi Bán đảo vàng, Eo Malacca được gọi là Sinus Sabaricus Từ giữa tới cuối thiên niên kỷ thứ nhất, đa số bán đảo cũng như quần đảo Malaysia nằm dưới tầm ảnh hưởng của Đế chế Srivijaya Năm 1511, Melaka (tên gọi bán đảo Malaysia thời bấy giờ) rơi vào tay người Bồ Đào Nha Năm 1795, một lực lượng của quân Anh đã vào lấy Melaka từ tay chính quyền Hà Lan
Từ năm 1874 đến năm 1888, bốn tiểu bang Perak, Selangor, Negri Sembilan và Pahang lần lượt lọt vào tay người Anh dưới hình thức đất bảo hộ Năm 1889, chính quyền khu định cư Eo Biển thành lập liên bang gồm Perak, Selangor, Negeri Sembilan và Pahang
Sau năm 1914, Mã Lai được chia thành 3 đơn vị chính trị: khu định cư
Eo Biển là thuộc địa của Anh, bao gồm Singapore (có cả đảo Christmas và
Trang 1212
đảo Cocos), Penang và tỉnh Wellesley, Melaka và Labuan; các nước Liên bang Malay bao gồm Perak, Selangor, Negeri Sembilan và Pahang; các nước không Liên bang Malay bao gồm Kelantan, Terengganu, Kedah, Perlis và Johor
Vào tháng 10/1945, người Anh đã công bố một quyết định chấm dứt sự cai trị gián tiếp của họ ở các nước Malaysia bằng cách hợp nhất tất
cả các nước này thành Liên minh Malaysia dưới một chính quyền, Singapore sẽ trở thành một thuộc địa riêng Liên minh Malaysia và Singapore sẽ có chính quyền riêng
Ngày 27/5/1951, Thủ tướng Malaysia Tunku Abdul Rahman đưa ra một đề nghị hợp tác chặt chẽ về chính trị và kinh tế trong một liên hiệp bao gồm Liên bang Malaysia, Singapore, Sarawak, Bắc Borneo và Brunei Những nguyên tắc Liên hiệp đã được Rahman và Lý Quang Diệu chấp thuận, theo đó quốc phòng, ngoại giao và an ninh thuộc chính phủ trung ương còn giáo dục và công ăn việc làm thuộc chính quyền địa phương Một cuộc trưng cầu dân ý đã được thực hiện tại Singapore và cử tri hoàn toàn ủng hộ kế hoạch liên hiệp này
Ngày 8/7/1963, đại diện Liên bang Malaysia, Singapore, Sarawak, Sabah và Chính phủ Anh đã ký kết thỏa thuận về việc thành lập một quốc gia mới Liên bang Malaysia
Ngày 7/8/1965, Thủ tướng Malaysia Tunku Abdul Rahman tham mưu cho Quốc hội Malaysia bỏ phiếu tách Singapore ra khỏi Liên bang Malaysia, bất chấp nỗ lực mới của các lãnh đạo PAP, bao gồm Lý Quang Diệu giữ Singapore ở lại Liên bang
Ngày 9/8/1965, Singapore chính thức tách khỏi Malaysia và trở thành nhà nước độc lập Cùng ngày, Thủ tướng Lý Quang Diệu tuyên bố Singapore là một đất nước có chủ quyền, độc lập dân tộc riêng, tuyên bố tách khỏi Liên bang Malaysia và ông đảm nhận vai trò Thủ tướng của một quốc gia mới
1.2 Những nhân tố tác động tới quan hệ Malaysia – Singapore 1.2.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Giai đoạn 1965 – 1981, quan hệ Malaysia – Singapore bị chi phối bởi
sự phân liệt chung trên trường quốc tế và chịu tác động can thiệp và chia rẽ
từ bên ngoài Mâu thuẫn Đông – Tây với hai cực đối đầu Xô – Mỹ, sự cạnh tranh giữa Liên Xô và Trung Quốc, sự câu kết Trung – Mỹ và chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc là những lực chia rẽ chủ yếu Mâu thuẫn và tính chất phức tạp của mối quan hệ Xô – Mỹ - Trung ngày càng đè nặng lên quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á
Trên bình diện khu vực đó là sự nổi lên của các nước trong khối ASEAN Sự phối hợp của Trung Mỹ nhằm chống lại Việt Nam và ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô ở Đông Nam Á Sự phân liệt ở Đông Nam Á
Trang 13trở nên rõ ràng Trong tình hình đó các nước Đông Nam Á bắt đầu chủ động
và độc lập hơn trong việc thúc đẩy đối thoại khu vực Ban đầu, xu hướng này còn yếu ớt, song xu hướng đối thoại ngày càng được định hình và ảnh hưởng nhiều đến quan hệ Malaysia – Singapore
1.2.2 Chính sách đối ngoại song phương giữa Malaysia và Singapore
1.2.2.1 Chính sách đối ngoại của Malaysia
Đối với Singapore, chính phủ Malaysia vẫn duy trì mối quan hệ với Singapore Tuy nhiên, mối quan hệ được duy trì trên tư tưởng nước lớn – nước nhỏ Mặc dù Singapore là một nước độc lập, Malaysia vẫn có những động thái can thiệp vào chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Singapore
Malaysia sử dụng chính sách áp đặt đối với Singapore trên lĩnh vực quân sự, kinh tế, nước Tuy nhiên, với mục đích ổn định nền hòa bình và an ninh để phát triển đất nước, Malaysia chỉ gây sức ép, tạo ra mối quan hệ căng thẳng giữa hai nước nhưng không sử dụng đến vũ trang Malaysia luôn tin tưởng rằng vấn đề sống còn của Singapore phụ thuộc vào Malaysia Malaysia phản đối gay gắt khi Singapore tuyên bố ủng hộ Indonesia và các nước mà Malaysia đang có mối quan hệ căng thẳng
Malaysia cũng sử dụng chính sách tác động vào tâm lý, phát hành báo chí mang tính chất phân biệt chủng tộc làm ảnh hướng đến các cộng đồng tộc người của cả hai nước Chính sách của Malaysia đối với Singapore là áp đặt từ chính trị đến nền kinh tế, chính điều này gây ra mối quan hệ căng thẳng giữa hai nước Malaysia tố cáo Singapore can thiệp vào công việc chính trị, gây bất ổn trong Malaysia
Sự hình thành chính sách đối ngoại của Malaysia trong thời kỳ
1971 -1976 dựa trên nguyên tắc là: giữ khoảng cách cân bằng và không liên kết
1.2.2.2 Chính sách đối ngoại của Singapore
Đối với Malaysia, trong giai đoạn này Singapore nỗ lực hàn gắn mối
quan hệ giữa hai nước Trước sức ép trên nhiều lĩnh vực từ phía Malaysia, Singapore luôn duy trì chính sách mềm dẻo, linh hoạt nhưng cũng cứng rắn Singapore cũng bày tỏ thiện chí khi hợp tác với Malaysia và các nước khác trên lĩnh vực quân sự, chính trị Khi nền kinh tế đạt được bước phát triển vượt bậc, Singapore cũng thực hiện chính sách đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoại với Malaysia, sẵn sàng hỗ trợ về mặt công nghệ, khoa học cho Malaysia
1.3 Quan hệ Malaysia – Singapore giai đoạn 1965-1981
1.3.1 Chính trị, xã hội
Trang 1414
Mặc dù có những căng thẳng vốn có giữa Singapore và Malaysia trong quá trình lịch sử, sự liên kết hay những mối liên hệ tương tự như mối quan hệ phức tạp “anh em sinh đôi” không thể tách rời Có nhiều lý
do dẫn đến mối quan hệ thân ái xen lẫn căng thẳng giữa hai nước, nhiều yếu tố kết hợp khiến cho mối quan hệ cũng phức tạp và tinh tế
Theo Thủ tướng Lý Quang Diệu, Malaysia đã sử dụng ba đòn bẩy
để áp đặt ý muốn của họ đối với Singapore: quân sự, kinh tế và nước Để cưỡng lại mọi sức ép từ phía Malaysia, Singapore chỉ có một giải pháp duy nhất là phải phát triển một cách tự chủ để không bị lệ thuộc
Sau khi giành độc lập, Singapore không những tồn tại mà còn phát triển nhanh và bền vững hơn nước láng giềng Ở Malaysia, từ tâm lý coi thường Singapore dần dần xuất hiện tâm lý ghen tỵ Thậm chí nhiều ý kiến cho rằng Singapore “vô cảm”, “ngạo mạn”, “ích kỷ”, “tính toán thiệt hơn và không thiện chí” trong cách xử lý quan hệ song phương với Malaysia Với tâm lý này, những vấn đề giữa hai nước như tôn giáo, sắc tộc, nội bộ vốn đã rất nhạy cảm thì lại càng dễ bùng nổ, nếu cả hai bên không tỉnh táo và tự kiềm chế Vấn đề tâm lý còn bị chi phối bởi thông tin và báo chí
Một vấn đề nữa cũng thường tác động đến tâm lý của người dân hai nước, đó là vấn đề sắc tộc Ở Singapore, 76% số dân là gốc Hoa Ngược lại, ở Malaysia, người Hoa là thiểu số và luôn tồn tại sự nghi kỵ
từ chính quyền Malaysia đối với cộng đồng người Hoa Do vậy, mọi chính sách mà chính phủ Singapore đưa ra nhằm vào người Hoa ở Singapore đều rất dễ hiểu lầm Đã có lúc Malaysia tố cáo Singapore là “ nước Trung Quốc thứ ba”
Theo Thủ tướng Lý Quang Diệu, nhiều vấn đề dai dẳng không được giải quyết vì hai nước: "hoàn toàn đối lập trong cách tiếp cận những vấn đề mà một xã hội đa sắc tộc như Singapore và Malaysia phải đối mặt" Đó là vấn đề dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo
1.3.2 Kinh tế
Sau khi giành được quyền “quốc gia tự trị”, Singapore đứng trước những thách thức to lớn đối với sự tồn tại và phát triển Singapore thực hiện giai đoạn công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu trong bối cảnh nước láng giềng Malaysia thi hành chiến lược kinh tế hướng nội và thực hiện chính sách bảo hộ nội địa
Từ những năm 1960 và 1970, Singapore là trạm trung chuyển hàng hóa quan trọng của Malaysia, Singapore cũng là nước nhập khẩu một lượng hàng hóa rất lớn của Malaysia và Indonesia (chủ yếu là nguyên liệu thô và hàng sơ chế) để sau đó chế biến và tái xuất
Tuy nhiên, giai đoạn này do ảnh hưởng bởi mâu thuẫn trong mối quan hệ giữa hai nước, sự cạnh tranh giữa các cảng và do hai nước đang