1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo phát triển công nghiệp giai đoạn 2001 – 2010

112 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các khu, cụm công nghiệp phát triển mạnh trên diện rộng đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp có quy mô vốn đầu tư lớn, nhân lực có trình độ chuyên môn và sản xuất ra sản phẩm có hàm

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2015

Trang 2

C huyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Thế Hanh

Các số liệu, tài liệu tham khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Hoàng Yến

Trang 4

Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể gia đình và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Đoàn Thị Hoàng Yến

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ivii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài 7

7 Ý nghĩa của luận văn 7

8 Kết cấu của luận văn 8

NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN 8

Chương 1: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005 9

1.1 Những điều kiện ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp tỉnh 9

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử 9

1.1.2 Tình hình phát triển công nghiệp tỉnh trước năm 2001 12

1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2005 17

1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển công nghiệp 17

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về phát triển công nghiệp trên địa bàn từ năm 2001 đến năm 2005 21

1.2.3 Quá trình thực hiện phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2005 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31

Trang 6

Chương 2: CÔNG NGHIỆP BẮC GIANG PHÁT TRIỂN DƯỚI SỰ LÃNH

ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 33

2.1 Những điều kiện ảnh hưởng đến việc phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Giang 33

2.1.1 Những biến động của tình hình thế giới, trong nước tác động đến quá trình phát triển công nghiệp ở Việt Nam và Bắc Giang 33

2.1.2 Những yêu cầu cần phát triển công nghiệp tỉnh từ năm 2006 đến năm 2010 36

2.2 Chủ chương mới của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2006 đến năm 2010 37

2.2.1 Chủ trương mới của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển công nghiệp từ năm 2006 đến năm 2010 37

2.2.2 Chủ trương mới của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2006 đến năm 2010 39

2.2.3 Quá trình thực hiện phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2006 đến năm 2010 42

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 47

Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 49

3.1 Đánh giá kết quả lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về phát triển công nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 49

3.1.1 Thành tựu và nguyên nhân 49

3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân 61

3.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 65

3.2.1 Kinh nghiệm về xây dựng chính sách 65

3.2.2 Kinh nghiệm về thực hiện chính sách 67

3.2.3 Kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh 69

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 92

Trang 7

FDI Foreign Direct Investment

(Đầu tư trực tiếp nước ngoài) GTSXCN Giá trị sản xuất công nghiệp

(Tổ chức thương mại thế giới)

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thứ nhất, từ vị trí vai trò của chiến lược phát triển công nghiệp trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp là ngành có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

và nó cũng có vai trò to lớn trong quá trình CNH, HĐH đất nước Phát triển công nghiệp là trực tiếp nâng cao năng lực, chất lượng của lực lượng sản xuất Không thể CNH, HĐH nếu không có sự phát triển công nghiệp; CNH, HĐH không thể thực hiện được khi mà trình độ lực lượng sản xuất thấp kém, chủ yếu dựa vào sức cơ bắp của con người và công cụ lao động thô sơ, thủ công là chính Đồng thời, quá trình CNH, HĐH lại tạo điều kiện cho công nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ Vì vậy, việc nghiên cứu sự phát triển công nghiệp trong quá trình CNH, HĐH là rất quan trọng và cần thiết

Chiến lược phát triển công nghiệp giữ vị trí trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, vì công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế Nó xác định tầm nhìn của một quá trình phát triển dài hạn với sự nhất quán về con đường và các giải pháp cơ bản để thực hiện Xác định cơ cấu công nghiệp theo lãnh thổ và lựa chọn địa điểm phân bố sản xuất là một nhiệm vụ chiến lược có tác động trực tiếp lâu dài đến sự phát triển công nghiệp của mỗi vùng và mỗi doanh nghiệp Với định hướng phát triển vùng kinh tế khác nhau thì định hướng phát triển công nghiệp của mỗi vùng lãnh thổ cũng khác nhau Một chiến lược phát triển công nghiệp có hiệu quả phải đạt được sự duy trì và phát triển vị thế cạnh tranh của ngành công nghiệp

Trong thời kỳ CNH, HĐH, sự phát triển công nghiệp ở địa phương có một

vị trí, vai trò rất quan trọng Nó không chỉ góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ở địa phương mà còn góp phần vào sự phát triển công nghiệp chung của quốc gia theo hướng CNH, HĐH Phát triển công nghiệp là phát triển lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại nhằm nâng cao năng xuất lao động, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ,

Trang 9

công bằng, văn minh

Thứ hai, từ những quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về chiến lược phát triển công nghiệp

Đại hội VIII (1996) của Đảng đề ra mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành “một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại” Mục tiêu này được diễn đạt một cách thận trọng hơn trong văn kiện của Đại hội IX (2001) rằng “đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”

Thứ trưởng Bộ Công nghiệp Bùi Xuân Khu tại Hội nghị “Xúc tiến đầu tư phát triển công nghiệp Bắc Giang” tổ chức vào cuối tháng 4 - 2003 khẳng định: “Bộ Công nghiệp đánh giá cao và khuyến khích các tổng công ty và các doanh nghiệp trong ngành Công nghiệp đi đầu trong việc đầu tư phát triển công nghiệp Bắc Giang” Tại Hội nghị lãnh đạo đại diện cho Văn phòng Chính phủ, Văn phòng Bộ Công nghiệp, các Tổng công ty, Công ty, các Viện nghiên cứu thuộc Bộ Công nghiệp họp bàn cùng các cơ quan hữu quan của địa phương, nhằm đưa ra các giải pháp hữu hiệu xúc tiến đầu tư phát triển công nghiệp Bắc Giang

Thứ ba, từ thực trạng phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Giang

Bắc Giang có điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng, có nguồn lao động dồi dào, có Quốc lộ 1A chạy qua nên rất thuận lợi cho việc kết nối các đô thị, các tiểu vùng kinh tế phát triển trong và ngoài tỉnh Sau 15 năm kể từ khi tái lập tỉnh (1997-2011), bức tranh kinh tế Bắc Giang có thêm bước chuyển lớn nhờ vào sức bật của phát triển công nghiệp Với chính sách thu hút đầu tư thông thoáng, hấp dẫn, công nghiệp Bắc Giang đã có sự bứt phá ấn tượng cả “diện rộng” và “điểm nhấn” Cùng với các khu, cụm công nghiệp phát triển mạnh trên diện rộng đã xuất hiện nhiều doanh nghiệp có quy mô vốn đầu tư lớn, nhân lực có trình độ chuyên môn và sản xuất ra sản phẩm có hàm lượng chất xám cao… Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp thời gian qua đã khẳng định hướng đi đúng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ở một tỉnh vốn thuần nông

Thành tựu nổi bật trong thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp thời gian qua

Trang 10

là động lực để kinh tế tỉnh nhà bứt phá trên bước đường phấn đấu trở thành tỉnh công nghiệp Dù trong mỗi bước phát triển công nghiệp của tỉnh còn những khó khăn, vướng mắc nhưng những định hướng ban đầu cũng như cách làm thời gian qua đã và đang khẳng định bước thành công trên con đường CNH, HĐH

Thành tựu đạt được trong những năm đổi mới đang tạo cho Bắc Giang thế

và lực mới để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội Lãnh đạo tỉnh Bắc Giang xác định huy động các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ, chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH

là yếu tố có tính đột phá Để chủ động đón nhận “làn sóng đầu tư”, Bắc Giang đã thành lập 5 khu công nghiệp với diện tích là 1.209,8 ha Định hướng đến năm 2020, trên địa bàn tỉnh sẽ hình thành 14 khu công nghiệp với tổng diện tích 3.755 ha tập trung gần các trục quốc lộ 1A, 31, 37 và các trục tỉnh lộ 298, 398, 295 và 296 trên địa bàn các huyện: Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa, Tân Yên, Lạng Giang và Lục Nam Đồng thời, đang nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; ưu tiên đầu

tư kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; quan tâm đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp và đặc biệt chú trọng cải cách thủ tục hành chính theo hướng đảm bảo công khai, minh bạch với cơ chế “một cửa liên thông”, nhà đầu tư chỉ cần đến một địa chỉ là Ban quản lý các Khu công nghiệp hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư là được cấp giấy chứng nhận đầu tư, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, mã số thuế và con dấu Công nghiệp trở thành ngành kinh tế có nhiều tiềm năng của tỉnh

Thứ tư, nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh nhằm dựng lại bức tranh về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh đối với nền công nghiệp địa phương (một thành tố trong sự lãnh đạo của Đảng

bộ tỉnh đối với tỉnh Bắc Giang) Trên cơ sở đó rút ra những bài học, những nhận xét góp phần nâng cao hiệu quả lãnh của Đảng bộ tỉnh trong sự nghiệp CNH, HĐH tỉnh nhà

Trong giai đoạn 2001 - 2010, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh (trải qua hai kỳ Đại hội), công nghiệp Bắc Giang đã có những bước chuyển mình mới Điều

Trang 11

đó khẳng định vai trò của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang trong việc đưa ra những chủ trương chính sách đúng đắn để phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt, công nghiệp không phải là thế mạnh của Bắc Giang nên sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh càng cần thiết và cấp bách hơn trong bối cảnh CNH, HĐH hiện nay

Vì những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Bắc Gíang

lãnh đạo phát triển công nghiệp giai đoạn 2001 - 2010” làm luận văn tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Vấn đề phát triển công nghiệp ở Việt Nam nói chung, ở Bắc giang nói riêng

đã được đề cập ở nhiều công trình như:

Cuốn “Công nghiệp nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp phát

triển” của tác giả Nguyễn Văn Phúc do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản

năm 2004 đã đề cập tới những nhận thức về bản chất công nghiệp nông thôn ở nước

ta, kinh nghiệm phát triển lĩnh vực này ở một số nước, thực trạng, nhân tố ảnh hưởng, những vấn đề được đặt ra, xu hướng và giải pháp để thúc đẩy phát triển công nghiệp nông thôn ở Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề công nghiệp nói chung, đặc biệt sự phát triển công nghiệp địa phương dưới sự lãnh đạo của Đảng thì tác giả không đề cập đến

Cuốn sách: “Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển” (Vietnamese industry in 20 years of renovation and development) do Nhà xuất bản Thống kê xuất bản năm 2006 đã đưa ra những khái niệm, nội dung, giải thích chung về các phân tử, chỉ tiêu

và phạm vi số liệu Phân tích tổng quan phát triển công nghiệp thời kì 1985-2005 Các số liệu về sự phát triển ngành công nghiệp từ 1985 - 2005

“Việt Nam - tầm nhìn 2050” của tác giả Trần Xuân Kiên do Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 2006 lại đề cập tới những định hướng và biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung vốn trong nước để phát triển công nghiệp và những phương hướng phát triển kinh tế tới năm 2050

Cuốn sách “Kinh tế và quản lý công nghiệp” của các tác giả Nguyễn Đình Phan, Nguyễn Kế Tuấn do Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản năm

2007 đã đi sâu vào vấn đề xây dựng và phát triển công nghiệp Con đường, chiến

Trang 12

Cuốn sách: “Công nghiệp Bắc Giang - Tiềm năng và triển vọng phát triển” của nhóm tác giả Dương Trọng Tài, Lê Văn Phượng, Lại Thanh Sơn, Nguyễn Công, Nguyễn Khải do Nhà xuất bản Lao động Xã hội xuất bản năm 2005 đã giới thiệu các bài viết về ngành công nghiệp Bắc Giang; tiềm năng và triển vọng phát triển; kinh tế tập thể trước thềm hội nhập và tình hình xây dựng phát triển của tỉnh cũng như các vùng huyện; những ứng dụng khoa học công nghệ và kế hoạch đổi mới, đầu tư

Cuốn “Ngành Công nghiệp Bắc Giang - 62 năm xây dựng và trưởng thành” của các tác giả: Nguyễn Khải, Phạm Văn Thường, Phạm Văn Lợi… do Sở Công nghiệp Bắc Giang xuất bản năm 2007 đã trình bày quá trình xây dựng, phát triển, trưởng thành của ngành công nghiệp Bắc Giang qua các thời kì Cuốn sách đề cập tới các vấn đề như thực trạng, tình hình sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển khu, cụm công nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp, chế biến nông lâm sản, thực phẩm, công nghiệp hoá chất, cơ khí

Ngoài ra còn một số luận văn thạc sĩ, tiến sĩ đề cập tới một vài vấn đề liên quan tới công nghiệp Bắc Giang như:

Luận văn ThS Xã hội học (Mã: 603130): “Thực trạng đời sống của lao động nữ khu công nghiệp Đình Trám Bắc Giang hiện nay” của Phí Hải Anh - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009

đã trình bày vài nét về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Bắc Giang Phân tích thực trạng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của lao động nữ ở khu công nghiệp (KCN) Đình Trám, Bắc Giang Từ đó, làm rõ những yếu tố tác động đến thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của lao động nữ ở khu công nghiệp

Trang 13

Đình Trám Bắc Giang và đưa ra một số giải pháp, kiến nghị…

Luận văn ThS Kinh doanh và quản lý (Mã: 60 34 05): “Hoạt động xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Khanh - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009 đã

hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về xuất khẩu hàng hóa trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Bắc Giang và phân tích thực trạng xuất khẩu hàng hóa của tỉnh giai đoạn 2003 – 2008 Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế về xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang trong thời gian vừa qua Phân tích bối cảnh trong nước

và quốc tế ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang, đưa ra phương hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa của tỉnh Bắc Giang

Các công trình nghiên cứu và luận văn sau đại học nói trên đã đề cập đến những nội dung và phạm vi khác nhau về vấn đề công nghiệp, công nghiệp Bắc Giang Tuy nhiên, công tác lãnh đạo phát triển công nghiệp của đảng bộ tỉnh Bắc Giang, đặc biệt trong giai đoạn 2001 - 2010 chưa được tác giả nào trực tiếp nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ Bắc Giang về quá trình phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến 2010 và những kết quả Rút ra một số kinh nghiệm bước đầu, góp phần vào công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh về phát triển công nghiệp và sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Bắc Giang trong những năm tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Trình bày tình hình công nghiệp ở Bắc Giang trước năm 2001

- Làm rõ quá trình lãnh đạo thực hiện phát triển chiến lược công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc giang từ năm 2001 đến 2010 và kết quả

- Phân tích nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế, rút ra kinh nghiệm về công tác lãnh đạo thực hiện phát triển công nghiệp tỉnh của Đảng bộ

Trang 14

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh

trong phát triển công nghiệp

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2001 - 2010

- Phạm vi không gian: Trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

- Phạm vi nội dung: Tìm hiểu công tác lãnh đạo thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác -

Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về công nghiệp

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn vận dụng các phương pháp lịch sử, lôgíc, thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra

6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài

Luận văn trình bày một cách có hệ thống đường lối, chủ trương và quá trình lãnh đạo thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp của Đảng bộ Bắc Giang từ năm 2001 đến năm 2010 Đưa ra những đánh giá tổng quát về thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm về công tác lãnh đạo thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp của Đảng bộ trên địa bàn

Việc thực hiện luận văn này góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử của Đảng ở địa phương

7 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn góp phần hệ thống những chủ trương, quan điểm, chính sách của Đảng bộ Bắc Giang về công nghiệp, trên cơ sở đó góp phần khẳng định quan điểm của Đảng ta về phát triển công nghiệp trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy và nghiên cứu lịch sử Đảng bộ tỉnh Bắc Giang ở trường chính trị, cao đẳng, đại học và là tài liệu tuyên

Trang 15

truyền, giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức của đảng bộ các cấp ở Bắc Giang

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương (6 tiết)

NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG

NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

CHƯƠNG 2: CÔNG NGHIỆP BẮC GIANG PHÁT TRIỂN DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO

CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010

CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM

Trang 16

Chương 1:

ĐẢNG BỘ TỈNH BẮC GIANG LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2005

1.1 Những điều kiện ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp tỉnh

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, truyền thống lịch sử

Bắc Giang là 1 tỉnh nằm trong vùng trung du miền núi phía Bắc, nằm giữa

2108 và 21038 vĩ độ Bắc, 105050 và 10703 kinh độ Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp với tỉnh Lạng Sơn, phía Tây và Tây Bắc giáp Hà Nội, Thái Nguyên, phía Nam

và Đông Nam giáp tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương và Quảng Ninh

Bắc Giang có diện tích tự nhiên là 3.841,57 km2 Dân số năm 2010 là 1.567.557 người [12,Tr.26] với 26 dân tộc anh em sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc ít người chiếm 12,4% dân số của tỉnh

Về tổ chức hành chính, toàn tỉnh có 09 huyện (huyện Yên Thế, Tân Yên, Việt Yên, Hiệp Hoà, Yên Dũng, Lạng Giang, Lục Ngạn, Lục Nam) và 01 thành phố

(thành phố Bắc Giang) [38, Tr.8]

Vị trí địa lý của Tỉnh tương đối thuận lợi Trung tâm tỉnh chỉ cách Hà Nội 50

km, cách cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng 110 km, cách sân bay Quốc tế Nội Bài 60 km, cách cảng nước sâu Cái Lân 70 km và cách cảng Hải Phòng 140km; nằm cận kề khu vực tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh có hệ thống giao thông thuận tiện cho giao lưu kinh tế Hơn nữa Bắc Giang còn nằm trên trục đường xuyên Á, hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng và gần hành lang Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng Những yếu tố trên tạo thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển công nghiệp nói riêng của tỉnh Bắc Giang trong tương lai

Về tự nhiên, diện tích của Bắc Giang có 70% là đồi núi, trong đó vùng núi

cao chiếm diện tích nhỏ, đa phần Bắc Giang là vùng đồi núi thấp, thuận lợi cho trồng cây ăn quả và phát triển các cây công nghiệp Ngoài diện tích trồng cây lương thực, Bắc Giang còn là tỉnh có trang trại phát triển mạnh, đã hình thành vùng cây ăn

Trang 17

quả tập trung lớn nhất miền Bắc, có ngành chăn nuôi phát triển, có tài nguyên rừng phong phú, có nhiều loại khoáng sản… thuận lợi cho ngành công nghiệp khai

khoáng, chế biến nông lâm sản, thực phẩm phát triển

Bắc Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhìn chung, khí hậu Bắc Giang

tương đối thuận lợi cho việc phát triển một hệ sinh thái đa dạng và bền vững, thuận lợi cho phát triển ngành nông lâm nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi,

là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông, lâm sản và thực phẩm

Bắc Giang là tỉnh nằm trọn trong lưu vực của hệ thống sông Thái Bình Toàn tỉnh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu, sông Thương và sông Lục Nam

Ba sông trên chảy hết địa phận tỉnh Bắc Giang hợp lại thành sông Thái Bình

Đất đai của Bắc Giang đa dạng, gồm 2 nhóm đất chính là nhóm đất hình thành do hoang hoá từ đá mẹ và nhóm đất bồi tụ Đất đai Bắc Giang chỉ có khoảng 1/3 là tương đối màu mỡ, còn lại là đất trung bình, đất xấu và nghèo dinh dưỡng

Khoáng sản Bắc Giang đa dạng, nhưng trữ lượng nhỏ, đủ khả năng phát triển công nghiệp địa phương (Theo số liệu thăm dò địa chất, mỏ than đá ở Yên Thế, Lục Ngạn, Sơn Động với trữ lượng 114 triệu tấn; quặng sắt ở Yên Thế với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn; cao lanh ở Yên Dũng có trữ lượng khoảng 3 triệu tấn) Đặc biệt Bắc Giang có tiềm năng lớn về khoáng sản sét sử dụng làm gạch ngói và sét làm gạch

chịu lửa, với 16 mỏ và điểm mỏ có tổng trữ lượng khoảng 350 triệu m3) [44, Tr.8].

Hệ động thực vật Bắc Giang đa dạng, đan xen cả các loài nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Khí hậu, đất đai cho phép trồng các loài rau màu phục vụ trong nước

và xuất khẩu

Về nguồn nhân lực, Bắc Giang có lượng lao động khá dồi dào Số lao động

trong độ tuổi năm 2010 là 1.019,4 nghìn người, chiếm 65% tổng dân số Số lao động đang tham gia hoạt động kinh tế là 973,9 nghìn người chiếm 62,1% dân số Số lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị có 105,2 nghìn người chiếm 8,6 %; ở khu vực nông thôn có 1.111,3 nghìn người, chiếm 91,4% tổng số lao động trong độ tuổi Số lao động trung bình tăng thêm hàng năm khoảng 25.000 người [39, Tr.13]

Trang 18

Tuy nhiên, chất lượng lao động chưa cao Trên địa bàn tỉnh còn diễn ra tình trạng lao động theo trình độ đào tạo nhiều bất cập về cơ cấu, chủ yếu là đào tạo ngắn hạn, trình độ sơ cấp và lao động đơn giản Người lao động được đào tạo ở trình độ này chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất và dịch vụ Các cơ sở dạy nghề chưa đáp ứng được nhu cầu lao động theo trình độ so với trình độ công nghệ Số học sinh thi

đỗ vào các trường cao đẳng, đại học rất cao nhưng số học sinh tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra trường trở về làm việc tại Bắc Giang rất ít Đây là một bài toán về thu hút, sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh Nếu tăng cường công tác đào tạo và có chính sách hợp

lý thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là một lợi thế cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp của tỉnh nói riêng trong tương lai

Về tình hình kinh tế - xã hội trước năm 2001, Bắc Giang được tái lập (năm

1997) với điểm xuất phát kinh tế thấp, GDP bình quân đầu người 170 USD/năm, nền kinh tế thuần nông, cơ cấu kinh tế lạc hậu, tỷ trọng nông, lâm nghiệp chiếm 55%, công nghiệp còn nhỏ bé; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội yếu kém; lao động

trong nông nghiệp chiếm tới gần 90%, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo lớn

Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, kinh tế Bắc Giang đã có bước phát triển khá; cơ cấu sản xuất chuyển biến tích cực,

tỷ trọng sản xuất nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng sản xuất công nghiệp tăng lên Giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) thời kỳ 1997 - 2000 tăng bình quân hàng năm 6,9%; trong đó nông nghiệp tăng 7,2%, công nghiệp - xây dựng cơ bản 3,8%, dịch

vụ 6,3% GDP bình quân đầu người năm 2000 đạt 208 USD [52, Tr.1]

Sự chuyển biến trong kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang sau tái lập còn nhỏ

bé nhưng có bước phát triển, được Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đánh giá là “đạt một số

kết quả nổi bật”: Nền kinh tế của tỉnh tiếp tục phát triển, nhất là trong lĩnh vực

nông lâm nghiệp…; cơ sở vật chất kỹ thuật được chú trọng đầu tư phát triển khá (Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 1997 - 2000 đạt trên 2.400 tỷ đồng) [52, Tr.4] ; đời sống nhân dân ổn định, một bộ phận cải thiện rõ; sự nghiệp giáo dục, văn hóa và một số lĩnh vực khác về xã hội có chuyển biến tiến bộ (đến năm 2000, toàn tỉnh đã hoàn thành nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu học - chống

Trang 19

mù chữ: 99,6% người trong độ tuổi từ 15 - 35 đạt tiêu chuẩn xóa mù chữ) [52, Tr.6]; chính trị ổn định, an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội giữ vững; hệ thống chính trị ngày càng củng cố, vai trò và hiệu lực lãnh đạo, quản lý của các cấp

ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng cường; quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở ngày càng được phát huy Những kết quả đó đã tạo cơ sở và

tiền đề cho sự phát triển trong giai đoạn tới [52, Tr.13]

Về truyền thống lịch sử, Bắc Giang cũng là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu

đời, in đậm truyền thống văn hiến, yêu nước và cách mạng của dân tộc Việt Nam Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, địa danh Bắc Giang gắn liền với những chiến công vang dội mãi mãi đi vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc như Xương

Giang, Cần Trạm, Yên Thế…

Với địa lý thuận lợi, cùng với con người Bắc Giang có truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng kiên cường trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, trong công cuộc đổi mới và hội nhập, Bắc Giang đang từng bước vươn lên, phấn đấu tạo nên nhiều chuyển biến tích cực làm thay đổi diện mạo kinh tế - xã hội

1.1.2. Tình hình phát triển công nghiệp tỉnh trước năm 2001

Về tốc độ phát triển ngành công nghiệp: Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công

nghiệp trên địa bàn còn khó khăn, một số cơ sở công nghiệp Trung ương vẫn trong tình trạng sản xuất kinh doanh giảm sút; song, CN - TTCN địa phương vẫn có mức tăng trưởng khá Tốc độ tăng bình quân hàng năm của công nghiệp địa phương giai đoạn 1997 - 2000 là 9,2%; trong đó công nghiệp quốc doanh tăng 24,3%, công nghiệp ngoài quốc doanh tăng 7,1% Một số sản phẩm của công nghiệp quốc doanh địa phương như: bao bì nhựa, may mặc, bia hơi tăng khá, được thị trường chấp

nhận [52, Tr.7]

Kinh tế nhà nước được quan tâm tổ chức sắp xếp lại, gắn với đổi mới công tác quản lý sản xuất kinh doanh Tỉnh đã đề ra các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho một số doanh nghiệp công nghiệp quốc doanh địa phương, thành lập mới Công ty May xuất khẩu của tỉnh; tích cực tạo điều kiện để Trung ương khởi công xây dựng

Trang 20

Nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu, dự án cải tạo kỹ thuật Nhà máy Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc tại Bắc Giang, mở rộng cơ sở chế biến nông sản xuất khẩu tại huyện Lục Ngạn Một số doanh nghiệp nhà nước bước đầu thích ứng với cơ chế thị trường, sản xuất kinh doanh có hiệu quả Đã triển khai thực hiện Luật doanh nghiệp, tiến hành cổ phần hóa 5 doanh nghiệp và chuyển đổi hình thức sở hữu 6 doanh nghiệp nhà nước khác, các doanh nghiệp sau khi thực hiện cổ phần hóa, sản xuất

kinh doanh đạt hiệu quả khá

Kinh tế hợp tác và hợp tác xã có bước chuyển biến Toàn tỉnh có 102 hợp tác xã nông nghiệp và 80 hợp tác xã trên các lĩnh vực khác; trong đó chuyển đổi theo Luật 114 hợp tác xã, thành lập mới 68 hợp tác xã

Một số hợp tác xã trong lĩnh vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch

vụ như: Hợp tác xã cơ khí Lạng Giang, Hợp tác xã chế biến hoa quả Kim Biên - Lục Ngạn, Hợp tác xã dịch vụ cung ứng và tiêu thụ sản phẩm mây tre đan Tăng Tiến - Việt Yên, Hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Thắng- Hiệp Hòa hoạt động có hiệu quả, bảo đảm đời sống xã viên và tạo việc làm ổn định cho người lao động Các hình thức hợp tác như tổ liên gia, tổ hợp tác, chi hội nghề nghiệp phát triển đa dạng, phong phú ở nhiều địa phương, cơ sở

Các hình thức kinh tế khác được tạo điều kiện phát triển Toàn tỉnh có 21 doanh nghiệp tư nhân, 59 công ty trách nhiệm hữu hạn; so với đầu năm 1997 tăng 6 doanh nghiệp tư nhân và tăng 28 công ty trách nhiệm hữu hạn Một số doanh nghiệp

tư nhân chủ động, mạnh dạn vay vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, thiết bị, do đó sản

xuất, kinh doanh đạt hiệu quả [52, Tr.5-6]

Công nghiệp ngoài quốc doanh và sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề với các ngành nghề như: chế biến nông lâm sản, thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, cơ khí, may mặc cũng có bước phát triển, đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông thôn

Về cơ cấu ngành công nghiệp: Sự phát triển công nghiệp trên địa bàn đã góp phần

chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,

Trang 21

giảm tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp Năm 1991, công nghiệp chiếm 6,19% GDP thì đến năm 1996 tăng lên 8,21% Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch còn chậm và tỷ trọng công nghiệp trong GDP còn thấp Năm 2000, giá trị nông lâm nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao (51,1%), giá trị công nghiệp- xây dựng và dịch vụ thấp (công nghiệp - xây

dựng: 14,3%, dịch vụ: 34,6%) [52, Tr.14]

Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn bình quân giai đoạn 1997 - 2000 tăng chậm (0,6%); trong đó công nghiệp quốc doanh Trung ương giảm 4% Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp địa phương quy mô nhỏ bé, chậm đổi mới công nghệ thiết bị; chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường kém Một số doanh nghiệp có quy mô và vốn đầu tư tương đối lớn nhưng công tác quản lý chưa tốt, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả Công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển chưa ổn định, mức tăng trưởng thấp Đây là tồn tại và thách thức lớn của công nghiệp địa phương trong quá trình hội nhập và phát triển thời gian tới Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản ở một số địa bàn chưa được quan tâm đúng mức [52, Tr.14-15]

Về hiện trạng cơ sở vật chất, nguồn lực công nghiệp: Mặc dù còn nhiều khó

khăn, nhưng Tỉnh đã tập trung chỉ đạo, huy động mọi nguồn lực để đầu tư xây dựng, nâng cấp nhiều cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của

địa phương, tạo thêm năng lực mới cho nền kinh tế và phục vụ đời sống nhân dân

Hệ thống giao thông đường bộ tiếp tục được đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp, tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng Tính đến năm 2000,

đã rải nhựa được 320 km thuộc các tuyến quốc lộ 31, 37, 279, tỉnh lộ 284, 296, 293,

299 và một số trục đường nội thị của thành phố Bắc Giang… Đã hoàn thành xây dựng Cầu Vát, khởi công xây dựng Cầu Chũ, Cầu Điếm Tổng, Cầu Bố Hạ; xây dựng thêm nhiều công trình phòng hộ trên các tuyến giao thông nhằm bảo đảm an toàn cho các phương tiện tham gia giao thông Phong trào xây dựng quỹ phát triển giao thông nông thôn của tỉnh được đông đảo nhân dân đồng tình hưởng ứng Đã huy động được 150 tỷ đồng và hàng triệu ngày công để xây dựng, nâng cấp giao thông nông thôn, trong đó rải nhựa, đổ bê tông, lát gạch 400 km đường làng ngõ

Trang 22

Tuy nhiên, thực trạng của Tỉnh trong giai đoạn này là: Cơ sở hạ tầng kinh tế

xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển Mạng lưới giao thông đường bộ chất lượng thấp Một số trục đường chính mới được đầu tư nâng cấp nhưng do quản lý không tốt nên có đoạn đã xuống cấp Phần lớn đường giao thông nông thôn vẫn là đường cấp phối; Lưới điện nông thôn nhiều nơi không bảo đảm các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, việc triển khai tiếp nhận lưới điện trung áp ở khu vực nông thôn của ngành điện còn chậm; Trong xây dựng cơ bản, công tác giải phóng mặt bằng gặp nhiều khó khăn do chính sách đền bù của Nhà nước có nhiều thay đổi, cộng vào đó nhận thức của một bộ phận nhân dân chưa đúng đắn, bên cạnh đó một số nơi do chỉ đạo chưa tốt, nên đã ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng thi công công trình

Về nguồn nhân lực, theo số liệu của Cục thống kê Bắc Giang (Niên giám

thống kê - 2004), tính đến năm 2000 tổng số lao động trong toàn ngành công nghiệp

của tỉnh Bắc Giang là 24.242 người Trong đó chiếm số lượng đông đảo nhất là lực lượng lao động trong ngành công nghiệp chế biến [Phụ lục 1] Đây được coi là một thế mạnh nhất định của Tỉnh để thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp Tuy nhiên, Tỉnh cũng cần quan tâm tới công tác giáo dục đào tạo, dạy nghề để nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế - xã hội trong tương lai

Trong sản xuất kinh doanh, các thành phần kinh tế được khuyến khích phát

triển đúng hướng

Công nghiệp quốc doanh trung ương có 7 đơn vị: Công ty Phân đạm hóa chất Hà Bắc; Xí nghiệp gạch Bích Sơn; Xí nghiệp gạch Tân Xuyên; Xí nghiệp gạch chịu lửa Tam Tầng; Nhà máy xi măng Lâm Nghiệp; Xí nghiệp cơ khí xây dựng số 2

Công nghiệp quốc doanh tỉnh có 17 đơn vị: Nhà máy cơ khí Bắc Giang; Xí

Trang 23

Công nghiệp ngoài quốc doanh: 7.415 cơ sở, trong đó tập thể 38, công ty và

doanh nghiệp tư nhân 12 Cá thể 7.387, hỗn hợp 10 [30, Tr.71]

Kinh tế hợp tác và hợp tác xã trong lĩnh vực công nghiệp còn ít nhưng hoạt

động khá hiệu quả, bước đầu tạo việc làm ổn định cho người lao động như: Hợp tác

xã cơ khí Lạng Giang, Hợp tác xã chế biến hoa quả Kim Biên - Lục Ngạn, Hợp tác

xã dịch vụ cung ứng và tiêu thụ sản phẩm mây tre đan Tăng Tiến - Việt Yên, Hợp tác xã vệ sinh môi trường thị trấn Thắng - Hiệp Hòa Các hình thức hợp tác như tổ liên gia, tổ hợp tác, chi hội nghề nghiệp phát triển đa dạng, phong phú ở nhiều địa phương, cơ sở

Tuy nhiên, các thành phần kinh tế phát triển vẫn chưa mạnh Kinh tế nhà nước chưa phát huy tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của địa phương Việc triển khai thực hiện Luật doanh nghiệp tiến hành chậm, chỉ đạo thiếu kiên quyết Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp còn nhiều mặt bất cập Hoạt động sản xuất - kinh doanh của một số doanh nghiệp kém hiệu quả

Kinh tế cá thể, tiểu chủ tuy có phát triển nhưng việc quản lý nhà nước trên địa bàn làm chưa tốt, một số cơ sở vi phạm quy định của Nhà nước trong sản xuất kinh doanh, nhưng việc xử lý thiếu kiên quyết, kịp thời Phát triển kinh tế trang trại chưa gắn với quy hoạch sản xuất chung của địa phương, với xây dựng cơ sở hạ tầng

và chế biến, tiêu thụ sản phẩm Nhiều chủ trang trại thiếu vốn, thiếu kiến thức quản

lý, kỹ thuật, nhưng chưa được Nhà nước quan tâm giúp đỡ, hỗ trợ

Đánh giá tổng quan

Là một tỉnh miền núi nhưng chỉ cách Hà Nội 50 km, lại nằm ở khu vực giao

Trang 24

lưu kinh tế phía Bắc và gần thị trường Trung Quốc, có hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông và Quốc lộ 1A chạy qua Tiềm năng đất đai, nguồn nhân lực còn lớn Đặc biệt nhân dân các dân tộc trong tỉnh có truyền thống cách mạng kiên cường, có lòng yêu nước sâu sắc, tinh thần lao động cần cù, thông minh, sáng tạo Những thuận lợi này cùng với những thành tựu đạt được sau gần 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã tạo cơ sở vững chắc để Bắc Giang phát triển mạnh mẽ hơn

Bên cạnh đó, Bắc Giang cũng còn gặp nhiều khó khăn thử thách đó là: Nền kinh tế còn chậm phát triển, chưa toàn diện và vững chắc; cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, sản xuất nông nghiệp vẫn là chủ yếu; công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ bé; sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường còn yếu, điều kiện thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài trước mắt chưa thuận lợi Điều đó đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh cùng với việc tập trung phát huy những tiềm năng, lợi thế, cần nỗ lực cố gắng khắc phục khó khăn vượt qua thách thức phấn đấu vươn lên trong giai đoạn mới

1.2 Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2005

1.2.1. Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển công nghiệp

Thực tiễn lịch sử đã chỉ rõ rằng để thủ tiêu tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, khai thác tối ưu các nguồn lực và các lợi thế, bảo đảm nhịp độ tăng trưởng nhanh và ổn định, giải quyết cơ bản các vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách, con đường để đạt được nhanh nhất là công nghiệp hóa Chủ trương công nghiệp hóa ở nước ta được bắt đầu

từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960), Đảng xác định: “thực hiện công

nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời gia sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ…” [106, Tr.60]

Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976) đã đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới ở nước ta, trong đó nhấn

mạnh: “Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ

thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát

Trang 25

triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp

cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp” [106, Tr.72]

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng, tại Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ V (3/1982) có nhấn mạnh mục tiêu kinh tế là: “tiếp tục xây dựng

cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng và xuất khẩu, đồng thời tăng thêm trang bị kỹ thuật cho các ngành kinh tế khác, và chuẩn bị cho sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của công nghiệp nặng trong chặng đường tiếp theo” [106, Tr.88]

“Nội dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường trước mắt là tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý” [106, Tr.89]

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng ta đã quán triệt tư tưởng công

nghiệp hóa: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa với nhịp độ tăng trưởng cao, bền vững và

có hiệu quả” [14, Tr.33]

Để tiếp tục những quan điểm, chủ trương chính sách đổi mới, Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991) đã chỉ rõ: Để thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh theo con đường XHCN điều quan trọng nhất là phải cải tiến căn bản tình trạng kinh tế - xã hội kém phát triển, phát triển lực lượng sản xuất công nghiệp hóa theo hướng hiện đại gắn liền với việc phát triển một nền nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của xã hội chủ nghĩa không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân Đại hội Đảng VII cũng xác định mục tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) là đẩy lùi và kiểm soát được lạm phát, ổn định phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xuất xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân và bắt đầu có tích lũy

từ nội bộ nền kinh tế

Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 7 năm 1994) của Đảng Cộng sản

Trang 26

Việt Nam đã ra nghị quyết “Về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000

theo hướng CNH, HĐH đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới”, trong đó chỉ rõ công nghiệp hóa không chỉ đơn giản là tăng thêm tốc độ và tỷ

trọng của công nghiệp trong nền kinh tế mà là quá trình chuyển dịch cơ cấu gắn với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng nhanh hiệu quả cao và lâu

bền của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Đến đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (7/1996) Đảng ta đã quán triệt

tư tưởng công nghiệp hóa: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa với nhịp độ tăng trưởng

cao, bền vững và có hiệu quả” [17, Tr.33] Đại hội xác định mục tiêu của cách

mạng Việt Nam đến năm 2020 là: “Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây

dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, đẩy mạnh CNH, HĐH Mục tiêu của CNH, HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chấ t- kĩ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phong,

an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến năm 2020, ra sức đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”[17, Tr.80]

Đại hội xác định: Phát triển công nghiệp, ưu tiên các ngành chế biến lương thực - thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin Phát triển có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng (năng lượng - nhiên liệu, vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo, đóng và sửa chữa tàu thủy, luyện kim, hóa chất), tăng thêm năng lực sản xuất tương ứng với yêu cầu tăng trưởng kinh

tế, nâng cao khả năng độc lập tự chủ về kinh tế và quốc phòng [17, Tr.88]

Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4/2001) của Đảng đã

xác định: “Đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta

trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [20, Tr.24]

Từ chủ trương đó, Đảng đã đề ra mục tiêu tổng quát của kế hoạch 5 năm

2001 - 2005: “Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững; ổn định và cải thiện đời

sống nhân dân Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng

Trang 27

CNH, HĐH Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế Mở rộng kinh tế đối ngoại Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người Tạo nhiều việc làm; cơ bản xóa đói giảm nghèo; đẩy lùi các tệ nạn xã hội…” [20, Tr.261]

Về phương hướng phát triển công nghiệp, Đại hội IX của Đảng xác định:

“Công nghiệp vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao… Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng quan trọng sản xuất tư liệu sản xuất cần thiết để trang bị cho các ngành kinh tế và quốc phòng” [20, Tr.93] Khai

thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên dầu khí, khoáng sản, vật liệu xây dựng Chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ; xây dựng một số tập đoàn doanh nghiệp lớn đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại hóa

Phát triển nhanh các ngành công nghiệp có khả năng phát huy lợi thế cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu, như chế biến nông, lâm, thủy sản, may mặc, da - giầy, điện tử - tin học, một số sản phẩm cơ khí và hàng

tiêu dùng … [20, Tr.174]

Để hiện thực hóa những phương hướng phát triển công nghiệp giai đoạn (2001 - 2005), Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng còn chỉ ra những giải pháp cụ thể phát triển công nghiệp Trong đó, Đảng nhấn mạnh việc khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào phát triển sản xuất công nghiệp với nhiều quy mô, nhiều trình độ; chú trọng các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phù hợp với định hướng chung và lợi thế của từng vùng, từng địa phương; trước hết, tập trung cho công nghiệp chế biến, công nghiệp sử dụng nhiều lao động và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển mạnh mẽ tiểu thủ công nghiệp

Các quan điểm của Đảng về phát triển công nghiệp qua các kỳ Đại hội đã

và đang đi vào cuộc sống, trước hết là làm thay đổi bộ mặt nền công nghiệp Việt Nam, trong đó có các địa phương, góp phần phát triển kinh tế - xã hội cả nước nói chung, mỗi địa phương nói riêng Cũng từ sau Đại hội IX, những chủ trương của Đảng luôn có ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế đất nước và ảnh hưởng nhất định

Trang 28

tới chiến lược phát triển công nghiệp ở mỗi tỉnh, trong đó có Bắc Giang

1.2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang về phát triển công nghiệp trên địa bàn từ năm 2001 đến năm 2005

Quán triệt và vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp, chủ trương phát triển công nghiệp trên địa bàn trong giai đoạn 2001 - 2005 được Đảng bộ tỉnh Bắc Giang xác định tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh Bắc Giang lần thứ XV (tháng 12 năm 2000) đã đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển của tỉnh trong 5 năm (từ 2001 đến 2005) Trong đó khẳng định, giai đoạn 2001 - 2005 có ý nghĩa hết sức quan trọng, giai đoạn mở đầu cho sự phát triển của thế kỷ XXI Tỉnh cần tích cực huy động các nguồn lực, khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của địa phương để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong đó chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa; đồng thời với phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh trong sản xuất kinh doanh

Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu đến năm 2005 giá trị ngành công nghiệp -

xây dựng tăng bình quân 17%/năm (Trong đó chỉ tiêu đối với giá trị ngành nông - lâm nghiệp tăng bình quân hàng năm là 6%/năm, giá trị các ngành dịch vụ tăng bình quân 7,5%/năm), tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân hàng năm là 8%

Cơ cấu kinh tế trong GDP đến năm 2005 là: Nông lâm nghiệp chiếm 45,5%; Công nghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 20%; Dịch vụ chiếm 34,5%

Như vậy, ngay trong việc xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã xác định tăng trưởng công nghiệp là một trong những mục tiêu quan trọng quyết định tới quá trình CNH, HĐH của tỉnh nhà

Nghị quyết cũng đề ra những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh

phát triển kinh tế, giải quyết có hiệu quả các vấn đề về xã hội

Trong đó, Nghị quyết nhấn mạnh cần tập trung phát triển kinh tế và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Nghị quyết cho rằng, để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong giai đoạn tới

Trang 29

phải tập trung sức khai thác tiềm năng, nội lực, có cơ chế, chính sách khuyến khích, đồng thời tranh thủ sự hỗ trợ của Trung ương tập trung đầu tư phát triển CN - TTCN trên địa bàn Trước mắt, đẩy nhanh tiến độ xây dựng quy hoạch chi tiết và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sớm hình thành khu công nghiệp Đình Trám giai đoạn 1, có kế hoạch khai thác lợi thế hành lang Quốc lộ 1A mới để thu hút đầu tư

Tiến hành quy hoạch các ngành công nghiệp có tiềm năng phát triển trên địa bàn, quy hoạch các CCN, TTCN ở các huyện, thị xã để thu hút, đón bắt đầu tư khi có điều kiện Đầu tư công nghệ mới, mở rộng quy mô sản xuất một số ngành

CN có điều kiện của tỉnh như: may mặc xuất khẩu, bao bì nhựa, chế biến nông, lâm sản, hóa chất, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí Xúc tiến nghiên cứu xây dựng Nhà máy chế biến gỗ trên địa bàn

Chú trọng phát triển CN - TTCN vừa và nhỏ ở nông thôn Khuyến khích phát triển TTCN trên cơ sở tiềm năng nguyên liệu sẵn có của từng vùng như: chế biến nông lâm sản thực phẩm, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, khai thác vật liệu xây dựng, sản xuất gạch ngói Tạo môi trường thuận lợi cho các ngành nghề thủ công truyền thống trong các làng nghề phát triển Phối hợp các ngành Trung ương khai thác hợp lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn, đồng thời chú trọng công tác quản lý bảo vệ môi trường, môi sinh

Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương và các đơn vị liên quan tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các cơ sở công nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn

mở rộng sản xuất - kinh doanh Đồng thời có chính sách cởi mở, khuyến khích, kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước xây dựng các cơ sở công nghiệp mới trên địa bàn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế của địa phương phát triển”

Nghị quyết cũng cho rằng cần tiếp tục phát triển kinh tế đối ngoại và hoạt động xuất nhập khẩu

Mở rộng các hình thức liên doanh liên kết trong và ngoài nước nhằm thu hút vốn đầu tư vào các lĩnh vực phát triển nông, lâm nghiệp, công nghiệp, giao thông Chủ động xây dựng một số dự án gọi vốn ODA để nâng cấp và xây dựng mới cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực: giao thông, thủy lợi, giáo dục, y tế , có cơ

Trang 30

chế chính sách phù hợp nhằm thu hút nguồn vốn này Trước mắt triển khai thực hiện tốt Dự án tiếp nhận vốn vay của tổ chức ngân hàng thế giới để đầu tư cho 41 xã nghèo của tỉnh trong thời gian tới

Tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho các nhà đầu tư để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, các ngành công nghệ cao, vật liệu xây dựng mới, điện tử, tin học Tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu cho một số mặt hàng nông sản thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ, chú trọng những mặt hàng và thị trường mới

Tiến hành quy hoạch vùng sản xuất sản phẩm nông sản xuất khẩu gắn với

cơ sở sơ chế, chế biến hàng xuất khẩu tại địa phương để thúc đẩy sản xuất phát triển Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất- kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu

Khuyến khích tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển Tiếp tục

tổ chức sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trên các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, thương mại dịch vụ và các nông lâm trường quốc doanh Nâng cao chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Luật doanh nghiệp, cổ phần hoá, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước đủ điều kiện

Tạo điều kiện nhằm phát triển đa dạng hóa các loại hình kinh tế hợp tác trong các lĩnh vực Hướng dẫn, tạo điều kiện để các hợp tác xã đã được chuyển đổi hoặc thành lập mới hoạt động theo đúng luật định, tập trung các hoạt động sản xuất

- kinh doanh dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân

Tiếp tục khuyến khích tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển Tạo điều kiện

để các loại hình kinh tế tư nhân trong nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển Chú trọng hình thức liên doanh liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế

tư nhân Động viên mọi người dân đầu tư vốn sản xuất, kinh doanh không hạn chế

Trang 31

mức vốn, khuyến khích làm giàu chính đáng Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là các vùng nông thôn miền núi, đồng thời tăng cường công tác quản lý, hướng dẫn để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, đúng pháp luật

Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc cần tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ

thuật, kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có công nghiệp như:

Tập trung huy động các nguồn lực của địa phương, đồng thời tranh thủ tối

đa sự hỗ trợ của Trung ương, các nguồn vốn của nước ngoài, để đẩy mạnh xây dựng

cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư phải bảo đảm tập trung, dứt điểm để sớm phát huy tác dụng của các công trình

Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư; nâng cấp các trục đường giao thông trong tỉnh, trước mắt tập trung đầu tư rải nhựa, nâng cấp các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ và một số tuyến đường liên huyện quan trọng khác Xúc tiến xây dựng thêm một số cầu trên các tuyến đường như cầu Bến Đám, cầu Lục Nam, cầu An Châu, cầu Bến Tuần và một số cầu khác để tạo thuận lợi trong giao lưu hàng hóa, thúc đẩy kinh tế - xã hội trên địa bàn phát triển, nâng cao đời sống nhân dân

Đề nghị Bộ Giao thông - Vận tải nâng cấp các tuyến đường quốc lộ (giai đoạn 2) mở rộng mặt đường từ 3,5m lên 6m; nâng cấp, xây mới các cầu trên toàn tuyến, trước mắt là xây dựng cầu đường bộ 1A cũ tại thị xã Bắc Giang (nay là thành phố Bắc Giang) để không đi chung với cầu đường sắt

Huy động sự đóng góp của nhân dân, kết hợp với các nguồn vốn của dự án trong và ngoài nước, các chương trình mục tiêu để nâng cấp các tuyến đường liên huyện, liên xã, liên thôn nhất là đối với vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa Phấn đấu đến năm 2005: 100% số xã có đường ô tô vào trung tâm trong mùa mưa lũ Phát triển và quản lý tốt vận tải đường bộ; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển vận tải thủy

Đầu tư nâng cấp, cải tạo các công trình thuỷ lợi hiện có, hoàn chỉnh các công trình dở dang đưa vào sử dụng

Nâng cấp, cải tạo, xây dựng mới hệ thống lưới điện, các trạm biến áp, lưới

Trang 32

Quản lý, khai thác có hiệu quả các công trình cấp nước sinh hoạt hiện có, tiếp tục đầu tư thực hiện chương trình nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, phấn đấu đến năm 2005 có 65 - 70% dân số nông thôn miền núi, 90% dân số trung du được dùng nước sạch Thực hiện tốt các chương trình, dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho vùng miền núi, vùng cao theo chương trình

135 và các chương trình, dự án khác

Bên cạnh đó, Đảng bộ Tỉnh Bắc Giang cũng nhận thấy vai trò của giáo dục

- đào tạo, khoa học - công nghệ và môi trường đối với việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển công nghiệp tỉnh nói riêng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ của tỉnh lần thứ XVI cho rằng, cần phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, đồng thời tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp Bên cạnh đó, cần ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh và công tác quản lý Phát huy mọi nguồn lực, huy động nhiều nguồn vốn đầu tư theo hướng xã hội hoá để bảo vệ môi trường Tiến hành nhanh việc quy hoạch khu đổ rác, xử lý rác thải của thị xã Bắc Giang và các thị trấn; quy hoạch và xử lý ô nhiễm môi trường ở một số cơ sở sản xuất, trong các làng nghề; xây dựng hệ thống xử lý rác thải bệnh viện tại khu vực thị xã Bắc Giang và một số địa phương khác Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ

vệ sinh môi trường, vệ sinh thực phẩm Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị cho các đơn vị làm công tác quản lý khoa học - công nghệ và môi trường để nâng cao hiệu quả hoạt động

Như vậy, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã quán triệt tư tưởng của Đảng ta về

Trang 33

phát triển CN, coi đó là mục tiêu quan trọng Bên cạnh đó, Đảng bộ tỉnh cũng đã nghiêm túc đề ta những nhiệm vụ và giải pháp mang tính định hướng, chỉ đạo xây dựng và phát triển CN nhằm đạt mục tiêu đề ra Trong đó nhấn mạnh tới quy hoạch công nghiệp (ngành, khu, cụm công nghiệp…), tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế xã hội nói chung và CN nói riêng Những chỉ đạo đó hoàn toàn phù hợp với nhu cầu thực tiễn địa phương, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển CN để đạt mục tiêu tăng trưởng đã đề ra của địa phương

1.2.3 Quá trình thực hiện phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh từ năm 2001 đến năm 2005

Để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra trong giai đoạn 2001 - 2005, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã đề ra các chương trình kinh tế - xã hội cần tập trung chỉ đạo thực hiện (gồm 6 chương trình: Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; Chương trình phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; Chương trình phát triển cơ sở hạ tầng; Chương trình nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi gắn với xóa đói giảm nghèo; Chương trình cải cách hành chính, xây dựng và nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước từ tỉnh đến cơ sở)

Sau khi Tỉnh uỷ có Nghị quyết ban hành 6 Chương trình phát triển kinh tế -

xã hội, UBND tỉnh đã có Kế hoạch số 32/KH - UB về việc tổ chức thực hiện 6 Chương trình phát triển kinh tế - xã hội; phân công trách nhiệm cụ thể đối với các đồng chí Thường trực UBND tỉnh, lãnh đạo các sở, cơ quan trực thuộc UBND tỉnh, UBND các huyện, thành phố trong việc tổ chức thực hiện các Chương trình

Các ngành tỉnh, nhất là những ngành được giao chủ trì triển khai thực hiện

6 Chương trình đã phối hợp với các ngành liên quan xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện, cụ thể hoá nội dung các Chương trình thành các đề án, dự án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; đề xuất cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp đã đề ra trong các Chương trình; đồng thời hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương triển khai thực hiện

Các huyện, thành phố căn cứ 6 Chương trình của tỉnh và tình hình, điều

Trang 34

kiện cụ thể của địa phương, đã xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án về phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; đồng thời chỉ đạo các xã, phường, thị trấn xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án thực hiện cụ thể ở cơ sở

Nhìn chung, nội dung các chương trình, đề án, kế hoạch của các ngành, địa phương, cơ sở đã cơ bản bám sát nội dung các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh để đề ra mục tiêu, nhiệm vụ và biện pháp tổ chức thực hiện phù hợp với tình hình, đặc điểm của mỗi địa phương, đơn vị

Trong quá trình tổ chức thực hiện; các cấp, các ngành, địa phương đã tập trung chỉ đạo triển khai tương đối đồng bộ những giải pháp đã xác định trong các Chương trình Tích cực tuyên truyền sâu rộng nội dung các Chương trình để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu và tham gia thực hiện; tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương; đẩy mạnh việc xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách huy động các nguồn lực

để thực hiện các Chương trình; bố trí, khai thác hợp lý nguồn vốn đầu tư tập trung từ ngân sách tỉnh, nguồn vốn tín dụng, vốn vay và huy động sự đóng góp của nhân dân để thực hiện

Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh và cấp uỷ, chính quyền các địa phương thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện Định kỳ 6 tháng, 1 năm; nhiều cấp uỷ, chính quyền đã chú trọng kiểm điểm, đánh giá kết quả triển

khai thực hiện ở cấp mình [56, Tr.1]

Trong Chương trình phát triển CN - TTCN , Đảng bộ tỉnh nhấn mạnh cần triển khai thực hiện sâu rộng Luật Doanh nghiệp, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước nhằm khơi dậy tiềm năng trong khu vực dân doanh Xây dựng và thực hiện một số cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển CN - TTCN Triển khai kế hoạch đầu tư mở rộng ngành may xuất khẩu và một số ngành công nghiệp khác khi có điều kiện phát triển Phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi để cùng các bộ, ngành Trung ương và các đơn vị bạn thực hiện tốt các dự án xây dựng mới và cải tạo nâng cấp kỹ thuật của các nhà máy trên địa bàn đúng tiến độ và đi vào sản xuất kinh doanh có hiệu quả

Trong 5 năm (từ 2001 đến 2005), dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh

Trang 35

đã ban hành và tổ chức thực hiện một số cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích, thu hút đầu tư; ưu tiên đầu tư và tăng cường các biện pháp chỉ đạo điều hành với

chủ đề "Năm phát triển CN - TTCN và ngành nghề nông thôn"; đẩy mạnh các hoạt

động xúc tiến đầu tư và hỗ trợ, khuyến khích phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như: xây dựng, ban hành mới Quy định trình tự thủ tục chuẩn bị đầu tư, Quy định về trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn; triển khai thực hiện cơ chế “một đầu mối” tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường Xây dựng chính sách và lập Quĩ Khuyến công; quy hoạch và đầu tư xây dựng Khu công nghiệp Đình Trám, Song Khê - Nội Hoàng và một số cụm công nghiệp ở các huyện, thành phố Xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư và tổ chức vận động xúc tiến đầu tư [56, Tr.3-4]

UBND Tỉnh cũng chú trọng xây dựng môi trường đầu tư, sản xuất kinh

doanh trên địa bàn thông thoáng, hấp dẫn hơn Luật Doanh nghiệp, Luật Khuyến

khích đầu tư trong nước, các cơ chế, chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư, khuyến khích phát triển CN - TTCN được triển khai đồng bộ, nghiêm túc Các cấp, các ngành đã có sự chuyển biến về nhận thức và quan tâm hơn tới việc lãnh đạo, chỉ đạo phát triển CN - TTCN Công tác thanh tra, kiểm tra được chấn chỉnh, thực hiện có nền nếp, hạn chế tình trạng chồng chéo, gây phiền hà cho doanh nghiệp Định kỳ hàng năm, lãnh đạo tỉnh tổ chức gặp mặt các chủ doanh nghiệp, trao đổi, đối thoại

và giải quyết các ý kiến, kiến nghị của doanh nghiệp [56, Tr.4]

Việc thực hiện cổ phần hoá, đa dạng hoá hình thức sở hữu các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh được quan tâm chỉ đạo Căn cứ kế hoạch số 06 - KH/TU, ngày 4/12/2001 của Ban thường vụ tỉnh ủy và Chương trình hành động số 03/2003/CTr - UB ngày 14/1/2002 của UBND Tỉnh về thực hiện Nghị quyết TW3 Khóa IX về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, Sở công nghiệp đã hoàn thành việc sắp xếp và đổi mới tại tất cả

10 doanh nghiệp nhà nước trực thuộc cụ thể: Chuyển 1 doanh nghiệp là Nhà máy cơ

khí Bắc Giang về Công ty Xuất nhập khẩu rau quả Hà Nội để đầu tư nhà máy chế biến rau quả; Cổ phần hóa 7 doanh nghiệp và một bộ phận của Công ty Giấy xuất

Trang 36

khẩu Bắc Giang là: Công ty Nhựa Bắc Giang; Xí nghiệp Điện cơ Việt - Đức; Nhà máy phân lân; Xí nghiệp cơ khí Lục Ngạn; Công ty bia rượu - NGK Việt Yên; Xí nghiệp hóa chất Baryum; Công ty bia HABADA và Phân xưởng đũa tre thuộc Công

ty giấy xuất khẩu; Bán 2 doanh nghiệp cho cán bộ công nhân viên theo Quyết định 103/CP của chính phủ là Xí nghiệp sứ gốm Bắc Giang và Công ty bia rượu - NGK Việt Yên; Giao 1 doanh nghiệp cho cán bộ công nhân viên theo Quyết định 103/CP

của chính phủ là Công ty giấy xuất khẩu Bắc Giang Các doanh nghiệp Nhà nước

thuộc Sở Công nghiệp sau khi được sắp xếp, cổ phần hóa và đa dạng hóa hình thức

sở hữu đều phát huy được tính chủ động sáng tạo trong đầu tư phát triển và hoạt động sản xuất kinh doanh: huy động được thêm vốn vào đầu tư phát triển; có cơ chế quản lý năng động thích nghi được cơ chế thị trường; kết quả và hiệu quả hoạt động

sản xuất kinh doanh ngày càng được nâng cao [30, Tr.74]

Thực hiện Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn - một trong các Chương trình trọng tâm của Đảng bộ tỉnh

khóa XV, XVI - UBND Tỉnh cũng chú trọng đầu tư phát triển các khu, cụm công

nghiệp Bắc Giang, dành những vị trí thuận lợi nhất cho phát triển các khu, cụm,

điểm công nghiệp như:

Khu công nghiệp Đình Trám đã được Chính phủ phê duyệt; Địa điểm tại

xã Hoàng Ninh, Huyện Việt Yên; Chính thức giao đất tháng 6/2004 Trực thuộc Ban

Quản lý KCN Tỉnh Tổng diện tích qui hoạch 101 ha, các ngành nghề ưu tiên phát

triển: sản xuất hàng điện tử, tin học, tự động hoá, lắp ráp ôtô, dệt may, chế biến

nông sản thực phẩm, bao bì, giấy nhựa

Cụm Công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng, thuộc địa bàn xã Song Khê -

Nội Hoàng, huyện Yên Dũng, nằm ở phía Nam QL1A mới Từ 8/2003 do Ban Quản

lý khu công nghiệp Tỉnh quản lý Tổng diện tích quy hoạch 212 ha; Phía Nam có đất dự trữ mở rộng 130 ha, giáp với sông Thương, hình thành cụm kho -cảng diện tích 30 ha Định hướng phát triển là KCN sản xuất vật liệu xây dựng; may mặc, giầy da xuất khẩu; cơ khí điện dân dụng, điện tử lắp ráp; các ngành công nghiệp

công nghệ cao; kho tàng, bến cảng; đóng tàu - thuyền vừa và nhỏ

Trang 37

Cụm công nghiệp công nghiệp ô tô (Đồng Vàng): Chủ đầu tư là Tổng

công ty công nghiệp ôtô Việt Nam, dự kiến sẽ có 4 nhà máy lắp ráp ôtô và sản xuất phụ tùng ôtô xe máy; Tổng đầu tư trên 3.000 tỷ đồng Sản phẩm là xe máy, ôtô tải,

xe khách…

Một số cụm CN nhỏ ở TP Bắc Giang và các huyện: Cụm công nghiệp

Phố Cốc (xã Dĩnh Trì, Huyện Lạng Giang): diện tích 28 ha được dành bố trí CN May mặc, gia công giầy xuất khẩu; Cụm CN Lạng Giang (Huyện Lạng Giang): diện tích 24 ha được dành bố trí công nghiệp VLXD (SX gạch tuy nen, bê tông đúc sẵn ); Cụm CN Đông Bắc TP Bắc Giang: diện tích 207,5 ha dành bố trí CN - TTCN, sản xuất phân bón, hóa chất, nhựa, chế biến gỗ, dụng cụ thể thao, chế biến

nông sản - thực phẩm [38, Tr.124]

Bằng cơ chế chính sách, Bắc Giang đã tạo dựng được một môi trường đầu

tư ngày càng hấp dẫn, khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển doanh nghiệp sản

xuất công nghiệp trên địa bàn Ngày 01 tháng 01 năm 2005, Trung tâm Khuyến

công và tư vấn phát triển công nghiệp trực thuộc Sở Công nghiệp được thành lập Hoạt động đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh khá đa dạng cả về quy

mô, cơ cấu nghành và thành phần kinh tế [Phụ lục 2]

Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn năm 2001 đạt 931 tỷ đồng, năm 2004 tăng lên 1606 tỷ đồng Nhìn chung Bắc Giang vẫn chủ yếu phân bổ vốn đầu tư nhiều nhất cho ngành nông lâm nghiệp Vốn đầu tư dành cho ngành công nghiệp tuy có chiều hướng tăng dần nhưng vẫn còn rất thấp so với nhu cầu tăng trưởng Năm 2001

vốn đầu tư cho ngành công nghiệp chiếm 5,71%, năm 2004 chiếm tới 12,4%

Quỹ khuyến công được hình thành nhằm tập trung hỗ trợ phát triển TTCN

và nghành nghề nông thôn Trong 3 năm (2003 - 2005), ngân sách Tỉnh đã giành

gần 8 tỷ đồng cùng các nguồn vốn chương trình mục tiêu khác, hỗ trợ cho việc du nhập, khôi phục và phát triển ngành nghề, làng nghề Qua đó TTCN và ngành nghề nông thôn đã có nhiều chuyển biến, nhiều ngành nghề, làng nghề truyền thống được khôi phục, nhiều nghề mới đã được du nhập vào địa bàn, như nghề mây tre giang đan, nghề tre chắp sơn mài, nghề thêu

Trang 38

Việc phát triển TTCN và ngành nghề nông thôn được các cấp uỷ Đảng,

chính quyền quan tâm chỉ đạo thực hiện Các huyện, thành phố đã chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển CN - TTCN ở địa phương; khuyến khích, động viên các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình mạnh dạn khôi phục nghề cũ,

du nhập nghề mới, đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất,

kinh doanh [56, Tr.4]

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến năm 2005, Bắc Giang đã phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh năng động, sáng tạo trong việc cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng vào thực tiễn địa phương; phát huy tiềm năng, thế mạnh, huy động được các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, tạo thế và lực mới để tiến vào thế kỷ XXI

Tuy vậy, đến năm 2005, Bắc Giang vẫn là một tỉnh nghèo, thu nhập bình quân đầu người mới bằng khoảng một nửa so với cả nước (GDP bình quân đầu người năm

2005 của tỉnh đạt 305 USD trong khi GDP bình quân đầu người của cả nước là 637USD); chất lượng tăng trưởng chưa cao; mức tăng trưởng kinh tế còn thấp so với khu vực và chưa tương xứng với tiềm năng; cơ cấu kinh tế còn lạc hậu…

Trong giai đoạn 2001 - 2005, Tỉnh ủy Bắc Giang đã rất nỗ lực trong công tác xây dựng đường lối, chủ trương phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, các văn bản cụ thể hóa chủ trương còn ít, cũng chưa chỉ định rõ việc giao trách nhiệm cho các đơn vị có liên quan như Sở Công thương, Sở Kế hoạch và đầu tư… Ủy ban nhân dân tỉnh cũng còn hạn chế trong việc ban hành các quyết định hỗ trợ phát triển công nghiệp Vì vậy, công nghiệp quy mô nhỏ, tiểu thủ công nghiệp

và ngành nghề nông thôn tiềm năng lớn nhưng chậm phát triển Mức tăng trưởng của ngành công nghiệp còn thấp, không ổn định Các doanh nghiệp nhà nước địa phương sức cạnh tranh yếu Các doanh nghiệp ở địa phương chưa chuẩn bị tốt các điều kiện cần thiết để tham gia hội nhập kinh tế Đa số các doanh nghiệp đều gặp khó khăn về vốn lưu động; Các ngành sản xuất còn phân tán, tản mạn chưa có sự gắn kết chặt chẽ với nhau Các cơ sở CN - TTCN còn nhỏ bé, ít vốn, công nghệ lạc

Trang 39

hậu, chất lượng sản phẩm thấp, sức cạnh tranh yếu; Đổi mới công nghệ trong các cơ

sở sản xuất còn chậm, sản xuất công nghiệp chưa gắn với chuyển giao và phát triển công nghệ nên mức huy động năng lực sản xuất còn thấp, lãng phí nguyên vật liệu dẫn đến hiệu quả không cao; Công tác quy hoạch phát triển công nghiệp chưa kịp thời điều chỉnh, bổ sung sát với tình hình thực tế Quy hoạch các khu, cụm công nghiệp còn lúng túng, hiệu quả chưa cao…

Tìm hiểu quá trình lãnh đạo phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh của Đảng ủy Bắc Giang có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:

Thứ nhất, trong công tác chỉ đạo cần xác định phương hướng, mục tiêu, kế

hoạch phát triển công nghiệp trong từng thời kỳ cụ thể

Thứ hai, cần cải cách mạnh mẽ môi trường đầu tư, có các chính sách ưu đãi

đối với đầu tư trong nước và nước ngoài nhằm tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế này có điều kiện phát triển mạnh trên địa bàn tỉnh

Thứ ba, cần tổ chức thường xuyên, định kỳ các cuộc đối thoại giữa lãnh đạo

tỉnh với giám đốc các doanh nghiệp để bàn và đề ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Thứ tư, cần có sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ sát sao từ trên xuống,

cũng như có sự thống nhất cao giữa các ngành chức năng liên quan và với các địa phương cơ sở trong đầu tư phát triển công nghiệp

Ngoài ra, cần tập trung đẩy nhanh đầu tư một số khu cụm công nghiệp ở một số nơi có lợi thế, gắn với tích cực thu hút đầu tư; đẩy nhanh công tác chuyển đổi, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thú hút vốn đầu tư cho phát triển Đổi mới công nghệ, trang thiết bị và mở rộng sản xuất…

Trang 40

Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các

tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết; khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia có chiều hướng tăng

Cơ chế thị trường mở trở thành nền tảng cho mọi hoạt động kinh tế cả ở cấp

vi mô lẫn vĩ mô Làn sóng tư nhân hóa và cổ phần hóa đang lan rộng toàn cầu Các lĩnh vực kinh doanh độc quyền đang được thu hẹp, bao gồm cả độc quyền nhà nước

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w