ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---***--- TRẦN VĂN HIẾU NÂNG CẤP LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG BÌNH ĐÀ Những đa dạng biểu hiện quyền của chủ thể văn hóa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
TRẦN VĂN HIẾU
NÂNG CẤP LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG BÌNH ĐÀ
(Những đa dạng biểu hiện quyền của chủ thể văn hóa)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Nhân học
Hà Nội-2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
TRẦN VĂN HIẾU
NÂNG CẤP LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG BÌNH ĐÀ
(Những đa dạng biểu hiện quyền của chủ thể văn hóa)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Nhân học
Mã số: 60.31.03.02
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lương Hồng Quang
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, bản luận văn thạc sỹ
NÂNG CẤP LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG BÌNH ĐÀ
(Những đa dạng biểu hiện quyền của chủ thể văn hóa)
là do tôi viết và chƣa công bố Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
DANH MỤC CÁC BẢNG 3
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN 11
1.1 Cơ sở lý thuyết 11
1.2 Tổng quan về làng Bình Đà 19
Tiểu kết chương 1 24
Chương 2: THỰC TRẠNG NÂNG CẤP LỄ HỘI 25
2.1 Lễ hội truyền thống 25
2.2 Quá trình nâng cấp lễ hội 31
2.3 So sánh lễ hội truyền thống và lễ hội đương đại 34
2.4 Các đánh giá của người ngoài cuộc 37
Tiểu kết chương 2 43
Chương 3: NHỮNG ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH 44
3.1 Phương thức tổ chức lễ hội 44
3.2 Sự tham gia của người dân vào nâng cấp lễ hội 54
3.3 Tiếng nói của người dân về các yếu tố mới 58
3.4 Các câu chuyện xung quanh nâng cấp lễ hội 67
3.5 Quyền của chủ thể văn hóa: các đánh giá 72
Tiểu kết chương 3 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC………91
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 BQL : Ban quản lý
2 BVHTTDL : Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
3 ĐHQG : Đại học quốc gia
13 UBND : Ủy ban nhân dân
14 VHTT : Văn hóa thông tin
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lễ hội truyền thống là một hình thái văn hóa biểu thị những giá trị tiêu biểu của một cộng đồng, một dân tộc Từ lâu, lễ hội truyền thống đã trở thành đối tượng của nhiều ngành khoa học như lịch sử, văn hóa học, nghệ thuật học,… đặc biệt là Nhân học Nghiên cứu lễ hội truyền thống trong tương quan với đời sống văn hóa đương đại còn ít, đặc biệt còn thiếu những nghiên cứu
có tính ứng dụng
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế, ngày càng nhiều lễ hội được phục dựng nâng cấp, đáp ứng nhu văn hóa tinh thần chính đáng của người dân… Tuy nhiên, những động thái trên được xã hội tiếp nhận
và phản hồi với nhiều tâm thức khác nhau Chính từ những phản hồi khác nhau từ giới lãnh đạo, truyền thông và các nhà khoa học đã xuất hiện những cuộc tranh luận sôi nổi về vấn đề này Quan điểm về bảo tồn nguyên gốc (giữ
y nguyên) và bảo tồn phát triển lễ hội trong xã hội đương đại là hai khuynh hướng cơ bản trong thời gian gần đây
Không nằm ngoài quy luật trên, lễ hội Làng Bình Đà (xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, Hà Nội) thờ hai vị thần: Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân tại đền Nội và Linh Lang đại vương tại đình Ngoại Hàng năm, từ ngày 3 đến 6-3
âm lịch, làng lại mở lễ hội tưởng nhớ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân Năm
2014, lễ hội thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân đã được Bộ Văn hóa Thể thao
và Du lịch cấp bằng Di sản phi vật thể quốc gia Lễ hội được tổ chức quy mô hơn và thêm nhiều yếu tố mới so với mọi năm Theo các phương tiện truyền thông thì đa số người dân tỏ ra đồng thuận và hào hứng về những thay đổi đó Tuy nhiên những phản hồi của người dân về phương pháp tổ chức lễ hội hết
Trang 8sức đa dạng, phản ứng của họ về các yếu tố mới tới đâu, đến mức độ nào và nguyện vọng của cộng đồng thì chưa được chú ý đến
Sở dĩ có vấn đề như vậy là do chúng ta chưa có những nghiên cứu khoa học để thấy được những tiếng nói của người dân trong suốt quá trình tổ chức nâng cấp lễ hội Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài: NÂNG CẤP LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG LÀNG BÌNH ĐÀ (Những đa dạng biểu hiện quyền của chủ thể văn hóa) làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn này
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá quá trình nâng cấp lễ hội của người dân với tư cách là chủ thể văn hóa Ở đây chúng tôi tập trung vào những người có ảnh hưởng đến tiến trình tổ nâng cấp lễ hội và cộng đồng dân làng Bình Đà Bên cạnh đó, những người dân ngoài làng cũng thuộc diện nghiên cứu của đề tài này
- Phạm vi nghiên cứu:
Trong luận văn này chúng tôi nghiên cứu lễ hội Bình Đà từ tháng 3 năm
2014 đến nay Chúng tôi chọn thời gian này nghiên cứu bởi vì từ năm 2014 diễn ra nâng cấp lễ hội Bình Đà
+ Không gian nghiên cứu: Làng Bình Đà và các làng xung quanh Bình Đà
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu về lễ hội không phải là một đề tài mới Từ trước tới nay, đã
có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này Những nghiên cứu của họ có thể tập hợp và phân loại theo các nhóm sau:
- Nhóm các công trình theo khuynh hướng miêu thuật từng lễ hội cụ thể:
khuynh hướng sưu tầm nghiên cứu và miêu thuật từng lễ hội cụ thể là khuynh hướng trội nhất và có số lượng các công trình nhiều nhất như các công trình của các tác giả Thạch Phương – Lê Trung Vũ [18], Nguyễn Chí Bền (trưởng ban tuyển chọn) [2], Trương Thìn (chủ biên) [24] … Theo nhóm các tác giả
Trang 9tuyển chọn, 212 lễ hội truyền thống đã được miêu thuật [42] Điều đáng quan tâm, các công trình trên chủ yếu dừng ở việc miêu thuật và giải nghĩa các lễ hội chứ chưa nhấn mạnh vào những phân tích về mối liên hệ của các lễ hội truyền thống với xã hội đương đại
- Nhóm công trình theo khuynh hướng nghiên cứu sự biến đổi của lễ hội
chủ yếu nhìn nhận theo phương pháp định tính Một trong những tác giả tiêu
biểu cho khuynh hướng này là Đoàn Minh Châu với Cấu trúc lễ hội đương
đại [4], đã khái quát, so sánh về cấu trúc-chức năng giữa lễ hội đương đại và
lễ hội truyền thống; Vũ Ngọc Khánh trong Lễ hội cổ truyền trong quá trình
thích nghi với đời sống xã hội hiện đại [37] đã phân tích những biến đổi của
lễ hội truyền thống thích ứng với đời sống mới như thế nào; Đáng lưu ý là năm 1993, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn (nay là Viện Khoa học
Xã hội Việt Nam) tổ chức một hội thảo khoa học quốc tế về Lễ hội truyền
thống trong đời sống xã hội hiện đại [12] Các tác giả tham gia hội thảo này
đã đóng góp nhiều ý kiến về vai trò của lễ hội truyền thống trong xã hội đương đại, trong đó tác giả Vũ Ngọc Khánh cho rằng lễ hội không phải là một hiện tượng văn hóa bất biến mà nó có sự biến chuyển qua thời gian Sự thay đổi và tiếp tục của các lễ hội chính là sự hài hoà hoá của nó đối với
không gian và thời gian nhất định Năm 2010, hội thảo quốc tế Bảo tồn và
phát huy lễ hội cổ truyền trong xã hội Việt Nam đương đại (trường hợp hội Gióng), các tham luận tập trung cách thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản
trong xã hội đương đại, kinh nghiệm một số nước trên thế giới về vấn đề này Đáng chú ý, tác giả Lương Hồng Quang [40] nêu ra các thách thức cho bảo tồn và phát huy di sản khi thêm các yếu tố mới vào lễ hội truyền thống
Đánh giá về vai trò của lễ hội đối với sự phát triển của xã hội, về những giá trị của lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội đương đại, tác giả Ngô
Đức Thịnh trong bài viết Những giá trị văn hoá của lễ hội cổ truyền và nhu
Trang 10cầu của xã hội hiện đại [53] cho rằng, trong xã hội đương đại, lễ hội truyền
thống còn giữ năm giá trị cơ bản là 1/ giá trị cộng đồng, trong đó, lễ hội chính
là “sự biểu dương sức mạnh của cộng đồng” và là chất kết dính tạo nên “sự cố kết cộng đồng” Lễ hội là môi trường góp phần quan trọng tạo nên niềm cộng
mệnh và cộng cảm của sức mạnh cộng đồng [53, tr.7]; 2/ giá trị hướng về
nguồn, đó là nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc cộng đồng, và chính vì vậy, lễ
hội thường gắn với hành hương - du lịch[53, tr.7]; 3/ giá trị cân bằng đời
sống tâm linh, theo đó lễ hội góp phần làm thoả mãn nhu cầu về đời sống tâm
linh của con người; 4/ giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa , trong đó, các lễ
hội do nhân dân tự tổ chức, làm tái hiện các sinh hoạt văn hóa cộng đồng, và cũng chính bản thân họ là những người hưởng thụ các sinh hoạt văn hóa đó
[53, tr.8]; và 5/ giá trị bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Lễ hội truyền thống là một bảo tàng sống về văn hóa dân tộc, nhờ đó, nền văn hóa ấy được hồi sinh, tái tạo và truyền giao qua các thế hệ
- Nhóm các công trình nghiên cứu về Bình Đà: Nổi bật có tác giả
Nguyễn Doãn Trường với Miền đất cố Bình Đà [28] với lịch sử hình thành và
phát triển của vùng đất này Đồng thời tác giả cũng nêu bật đất và con người
vùng quê có truyền thống làm pháo nổi tiếng trong lịch sử Hội làng Bình Đà
của Lê Trung Vũ miêu tả chi tiết về lễ hội làng Bình Đà truyền thống [56,
tr.741-745] Lễ hội lịch sử ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ của Lê Hồng Lý
(chủ biên) [16] đã trình bày nội dung và ý nghĩa của lễ hội lịch sử Giới thiệu một số lễ hội lịch sử ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ trong đó có Lễ hội thờ
Lạc Long Quân và Âu Cơ Đỗ Thị Hoa Thủy với Thử nghiệm tiếp cận nhân
loại học văn hóa trong nghiên cứu lễ hội thông qua lăng kính chủ thể: Trường hợp lễ hội làng Bình Đà 2003 [55] và Nguyễn Tiến Dục với Biến đổi cơ cấu kinh tế xó hội ở làng Bình Đà – Hà Tây trong thời kỳ 1994 – 1998 [33] là hai
nghiên cứu với những khái quát tình hình cơ cấu kinh tế xã hội tại địa phương
Trang 11và mô tả ban đầu về lễ hội tại đây Đáng chú ý là khóa luận tốt nghiệp khoa Lịch Sử (ĐH KHXH&NV Hà Nội) của Đỗ Văn Cường [32] với “Về việc tu
sửa quần thể di tích đền Nội Bình Đà” là nghiên cứu độc lập về quá trình
trùng tu quần thể Đình Nội ở làng Bình Đà Việc tu sửa quần thể di tích đền Nội Bình Đà là một việc làm có tầm quan trọng và ảnh hưởng rất lớn tới đời sống văn hóa của nhân dân nơi đây Cùng với sự phát triển chung của đất nước, việc tu tạo các di tích lịch sử - văn hóa khi đã bị xuống cấp là rất cần thiết Tuy nhiên, việc tu tạo ấy cần phải được nghiên cứu tỉ mỉ, dù sửa sang lại
mà vẫn giữ được những nét truyền thống vốn có của nó là thách thức với nhiều phía tại đây Gần đây UBND huyện Thanh Oai cho phát hành cuốn sách
Đền Thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân di tích và lễ hội [30] đã giới thiệu tổng thể
về lịch sử và quần thể di tích đền thờ Lạc Long Quân ở bình đà Bên cạnh đó cuốn sách cũng giới thiệu lễ hội truyền thống làng Bình Đà là một lễ hội đặc sắc ở Bắc Bộ Nhìn chung chưa có công trình nghiên cứu nào nói về những biến đổi lễ hội ở Bình Đà và các vấn đề liên quan Các tác giả mới chỉ khái lược/giới thiệu về Bình Đà trong đó có lễ hội truyền thống-nét đẹp văn hóa của quê hương Thanh Oai
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu, nghiên cứu quá trình nâng cấp lễ hội và các câu chuyện xung quanh, những đánh giá, tranh luận học thuật có liên quan Từ đó, luận văn phân tích, đánh giá nâng cấp lễ hội có ảnh hưởng như thế nào đối với quyền chủ thế văn hóa
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Quá trình nâng cấp lễ hội ở Bình Đà và ghi nhận những phản ứng/ý kiến của người dân về quá trình này
Trang 12- Có những đánh giá dưới góc nhìn quyền văn hóa và dựa trên ý kiến của chủ thể văn hóa
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Tác giả luận văn cho rằng: trên một giai đoạn của tiến trình lịch sử, khảo sát quá trình nâng lễ hội lễ hội truyền thống, quá trình biến đổi, tác động của bối cảnh xã hội, chúng ta nhìn nhận biến đổi lễ hội thông qua vai trò chủ thể văn hóa và quyền văn hóa
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Với phương pháp nghiên cứu định tính, một số kỹ thuật của phương pháp này được sử dụng để đạt mục tiêu sau:
- Phương pháp phỏng vấn cá nhân nhằm thu thập các phản hồi của người dân về nâng cấp lễ hội so với lễ hội truyền thống của họ
- Phương pháp thống kê: thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu liên quan đến kinh tế xã hội, văn hóa, lễ hội ở Bình Đà phục vụ cho quá trình phân tích các luận điểm được trình bày trong luận văn
- Phương pháp chuyên gia: tham khảo xin ý kiến chuyên gia về các vấn đề có liên quan đến nâng cấp lễ hội bao gồm chuyên gia của địa phương và trung ương
- Phân tích tổng hợp: Phương pháp này phải dùng nhiều kiến thức khác nhau thuộc nhiều lĩnh vực để tập hợp các thông tin tài liệu đã thu thập được, xây dựng các vấn đề có liên quan đến lý luận và thực tiễn về lễ hội, nâng cấp
lễ hội và đưa ra các đánh giá chung trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị
lễ hội
Trang 136 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu (7 trang), Kết luận (02 trang), Tài liệu tham khảo (7 trang), Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về làng Bình Đà (15 trang)
Chương 2: Thực trạng nâng cấp lễ hội Bình Đà (19 trang)
Chương 3: Những đánh giá quá trình nâng cấp lễ hội Bình Đà (38 trang)
Trang 14Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN
1.1 Cơ sở lý thuyết
1.1.1 Khái niệm Cộng đồng
Khái niệm cộng đồng xuất hiện vào những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh Đến năm 1950, Liên hiệp quốc công nhận khái niệm phát triển cộng đồng như một công cụ để thực hiện các chương trình dự án phát triển của quốc gia Về sau này các tổ chức phi chính phủ triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế, xã hội ở các địa phương cần có sự tham gia gia đóng góp của cộng đồng địa phương thì khái niệm cộng đồng trở nên phổ biến hơn
Theo Keith và Ary 1998 thì “Cộng đồng là một nhóm người, thường sinh
sống trên cùng một khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một nhóm Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống hay hôn nhân, và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính trị”[55, tr.14] Khái niệm này nhấn mạnh đến các yếu tố con người, cùng có
một số đặc điểm trong trong mối quan hệ về cư trú, địa lý, dân tộc, huyết thống, văn hóa, tôn giáo,v.v
Cộng đồng là một trong những khái niệm xã hội học mang nhiều ý nghĩa khác nhau, được sử dụng một cách rộng rãi Theo nghĩa rộng, khái niệm này dùng để chỉ cộng đồng các quốc gia theo lãnh thổ như cộng đồng châu Âu, châu Á Theo nghĩa hẹp, khái niệm này được dùng để chỉ một dạng xã hội, căn cứ vào những đặc điểm tương đối như sắc tộc, văn hóa, tôn giáo có các cộng đồng Hồi giáo, cộng đồng người da đen và nhỏ hơn nữa nó được dùng
để chỉ những đơn vị xã hội cơ bản như làng, xã, gia đình có những đặc điểm chung về địa lý, văn hóa, lứa tuổi, nghề nghiệp
Theo giáo sư Tô Duy Hợp“Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu
tổ chức, là một nhóm người cùng chia sẻ và cùng chịu sự ràng buộc bởi các
Trang 15đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên” [7, tr.10]
Để hiểu rõ hơn khái niệm cộng đồng cần phải chỉ ra được các thành tố tạo nên cộng đồng Theo tác giả Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang trong
cuốn “Phát triển cộng đồng: lý thuyết và vận dụng” (2000), đã chỉ ra các yếu
tố cấu thành nên cộng đồng bao gồm1
:
- Địa vực: Theo tác giả, địa vực là yếu tố đầu tiên và quan trọng bậc nhất
được coi là cơ sở để ta xác định ranh giới của cộng đồng để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác
- Yếu tố kinh tế: Yếu tố kinh tế không chỉ đơn thuần là các hoạt động
kinh tế mà mà nó là yếu tố quan trọng về mặt vật chất để duy trì sự tồn tại của cộng đồng Đồng thời kinh tế còn là thước đo, là đòn bẩy đánh giá sự phát triển
- Yếu tố văn hóa: Đây là yếu tố rất quan trọng để nhận biết cộng đồng,
trong đó đặc biệt chú ý đến các khía cạnh truyền thống, lịch sử, tộc người, tôn giáo – tín ngưỡng, phong tục tập quán, hệ thống giá trị chuẩn mực
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới thiệu trong lĩnh vực giáo dục ở các tỉnh phía Nam Tuy nhiên, hiện nay khái niệm cộng đồng đang gây nhiều tranh cãi Bởi nội hàm của từ này trong thực tế cũng cần được xem xét cẩn trọng
Đối với lễ hội hiện nay, cộng đồng/chủ thể văn hóa của lễ hội cần xem xét lại ở đây là ai? Quan niệm thường thấy về cộng đồng là người dân trong làng hoặc địa vực văn hóa diễn ra lễ hội Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó, cộng đồng có thể chỉ là 1 cá nhân trong cộng đồng nhiều người Ở đây chúng
ta nhìn nhận vai trò cá nhân lớn tới mức ảnh hưởng đến cả quyết định của người dân trong làng và địa vực nơi có lễ hội Với vị thế như vậy, khái niệm
Trang 16cộng đồng cần được hiểu và phân tích thấu đáo ở từng trường hợp và hoàn cảnh khác nhau
1.1.2 Nâng cấp lễ hội
Những năm gần đây, cụm từ nâng cấp lễ hội được các phương tiện truyền thông và các nhà khoa học thường nhắc đến Các phương tiện truyền thông cho rằng nâng cấp lễ hội là một quá trình đưa lễ hội từ nhỏ đến lớn, từ bình thường trở thành hoành tráng hóa, với sự tham gia của nhiều thành phần trong đó có các sự kiện để thu hút khán giả Quan điểm của một số nhà khoa học cho rằng nâng cấp lễ hội như tổ chức một sự kiện [66] hay cho Lễ hội -
"nâng" đến "cấp" nào? [57] nhưng trong nhiều trường hợp, việc bổ sung những yếu tố mới khi tổ chức lễ hội là điều không thể né tránh Nhưng điều quan trọng là phải tìm được sự dung hòa, tiếp nối với truyền thống Bên cạnh
đó dù nâng cấp lễ hội với mục đích gì hay với cách làm như thế nào thì vai trò của cộng đồng vẫn được coi trọng, trung tâm của lễ hội Bên cạnh đó, dù có thêm các hoạt động các yếu tố của nghệ thuật hiện đại trong lễ hội nhằm thu hút sự quan tâm của người dân nhưng tinh thần, các giá trị của lễ hội phải được gìn giữ và phát huy mới được coi là nâng cấp lễ hội
Theo quan điểm của TS Đoàn Minh Châu trong Cấu trúc lễ hội đương
đại [4, tr.119-132], chúng tôi sơ đồ hóa cấu trúc lễ hội truyền thống và nâng
cấp lễ hội như sau:
Bảng 1.1: Nâng cấp lễ hội
Stt Lễ hội truyền thống Lễ hội hiện đại (nâng cấp)
Trang 17Nhìn vào sơ đồ trên có thể thấy quá trình nâng cấp lễ hội hiện nay không thay đổi nhiều về các bước Sự thay đổi nằm ở hình thức của lễ hội Về cơ bản, lễ hội vẫn giữ được các nghi thức của diễn xướng truyền thống Tuy nhiên, khi nâng cấp lễ hội, người ta thường thêm các phần, các tiết mục, các tích trò nhằm thu hút người dân vào các hoạt động của lễ hội Bên cạnh đó, có thể nhận thấy, xu hướng hành chính hóa lễ hội cũng được xem như biểu hiện của nâng cấp lễ hội hiện nay
Nâng cấp lễ hội hiện nay thường được hiểu ở phạm vi quy mô của lễ hội
và các hoạt động liên quan đến lễ hội Ở phạm vi quy mô lễ hội: Một xu hướng phổ biến hiện là nâng cấp từ lễ hội của làng lên thành lễ hội của huyện của cả vùng Mục đích của nâng cấp lễ hội này là thu hút sự tham gia của người dân trong làng và ngoài làng Nói cách khác, là nâng cấp lễ hội từ lễ hội của một cộng đồng nhỏ thành lễ hội của cộng đồng lớn hơn, đông đảo hơn Một xu hướng nâng cấp nữa của nâng cấp lễ hội hiện nay là thêm các hoạt động liên quan Đối với các lễ hội truyền thống có hoạt động đơn điệu thì nay thêm vào các hoạt động mới như: đá gà, kéo co, bắt vịt hay lễ tam sinh (đồ dâng cúng), làm cho lễ hội ngày càng phong phú hơn nữa và thu hút nhiều đối tượng tham dự vào lễ hội Thêm vào đó, một xu hướng nữa là phục dựng lại các nghi lễ, các tích trò đã bị mai một của cộng đồng Đây cũng là một biểu hiện của nâng cấp lễ hội hiện nay
Tất cả các xu hướng nâng cấp lễ hội này phải có sự chấp nhận của cộng đồng Bởi vì họ là người gìn giữ và tổ chức những hoạt động này trong lai Như vậy, theo chúng tôi, nâng cấp lễ hội là biến đổi quy mô và các hoạt động liên quan đến lễ hội mà không mất đi bản chất vốn có của lễ hội truyền thống
Đối với lễ hội Bình Đà năm 2014, cụm từ nâng cấp lễ hội được sử dụng khi lễ hội có thêm nhiều yếu tố mới (chúng tôi xin trình bày cụ thể ở chương
Trang 182) Chẳng hạn như thêm nghệ thuật đương đại: tiệc ánh sáng 3D, nghệ thuật thư pháp tại sân đình làng Bình Đà Chính vì vậy nâng cấp lễ hội, việc bổ sung những yếu tố mới khi tổ chức lễ hội là điều không thể né tránh Nhưng điều quan trọng là phải tìm được sự dung hòa, tiếp nối với truyền thống Điều
đó được thể hiện ở lễ hội Bình Đà năm 2014 khi thêm các yếu tố mới vào phần hội, không can thiệp vào phần lễ truyền thống của dân làng
1.1.3 Các quan điểm lý thuyết về bảo tồn di sản
Ở nước ta hiện nay, nhiều nhà quản lý và nhiều học giả có thẩm quyền trong lĩnh vực di sản ở nước ta vẫn đang bảo vệ và cổ súy cho những quan điểm bảo thủ đối với bảo tồn di sản và vì thế, những mô hình bảo tồn di sản khác với quan điểm trên thường chưa được họ chấp nhận như là một trong những mô hình bảo tồn di sản
Thực ra, những tri thức mới về các mô hình bảo tồn di sản đã được phổ biến trong giới nghiên cứu văn hoá ở Việt Nam: Đã có hẳn một luận văn tiến
sỹ trình bày về những vấn đề lý luận này [22]
Ashworth [31]- một học giả có uy tín hiện nay - đã tổng kết từ thực tế bảo tồn di sản ở nhiều nước trên thế giới thành ba quan điểm và tương ứng với nó là ba mô hình bảo tồn di sản:
Bảo tồn y nguyên
Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tồn văn hoá vật thể của các nhà bảo tàng học Quan điểm này cho rằng, các sản phẩm của quá khứ cần được bảo tồn nguyên dạng như nó vốn có Quan điểm này phát triển từ năm
1850 và thịnh hành một thời gian dài Các nhà bảo tàng học nước ta cũng chịu ảnh hưởng khá mạnh bởi quan điểm này
Đối với lễ hội truyền thống - một loại hình văn hoá phi vật thể - thì việc xác định đâu là các yếu tố nguyên gốc sẽ gặp phải những khó khăn Một mặt, những thay đổi lịch sử tác động đến sự biến đổi về chức năng của các lễ hội
Trang 19dẫn đến biến đổi cấu trúc lễ hội, mặt khác, bất cứ một lễ hội nào cũng tự tích hợp những yếu tố văn hoá của thời đại hoặc ngoại lai (dù vô tình hay hữu ý)
để thích nghi với từng thời đại
Điều quan trọng hơn là: bản chất của truyền thống nói chung và lễ hội nói riêng là sự lựa chọn và sáng tạo của từng cộng đồng Các nhà bảo tồn hãy thử hình dung: Nhiều cộng đồng làng mà lễ hội của họ xưa kia không được đầy đủ lệ bộ, không có quy mô lớn đã học hỏi những nghi thức, diễn xướng
ở những lễ hội khác để làm cho lễ hội làng mình "hoành tráng" hơn, thu hút khách thập phương hơn? Chẳng lẽ điều đó là sai? Là không nguyên gốc và như thế là di sản như vậy không có giá trị ư?
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa
Quan điểm này thừa nhận sự biến đổi của di sản, nhưng lại cực đoan: Quan điểm này cho rằng mỗi di sản văn hoá có nhiệm vụ lịch sử ở những không gian và thời gian cụ thể, những mặt tích cực của chúng phải được phát huy cho phù hợp với nhu cầu thời đại, ngược lại những mặt tiêu cực phải bị loại bỏ
Di sản, nhất là di sản văn hoá phi vật thể luôn là một thực thể hữu cơ không thể chia cắt thành những yếu tố tích cực/tiêu cực; tiến bộ/lạc hậu; tốt/xấu Vì thế khi chúng bị chia cắt một cách siêu hình thì lập tức bị biến dạng và tiêu vong Thực tiễn ở Việt Nam đã cho thấy, với quan điểm bảo tồn này nhiều lễ hội chỉ còn lại phần "hội", nhiều hình thái văn hoá gắn với tín ngưỡng cổ xưa, nhiều diễn xướng dân gian có giá trị bị coi là dị đoan và bị cấm thực hành Rõ ràng bảo tồn di sản theo quan điểm này sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu là nhiều hình thái văn hoá cổ truyền mà dưới con mắt của người đương thời là không phù hợp sẽ bị gỡ bỏ và di sản sẽ không còn toàn vẹn nữa
Bảo tồn - phát triển
Trang 20Chúng tôi lấy quan điểm này làm cơ sở nghiên cứu cho luận văn Đây là quan điểm hiện nay đang chiếm vị trí chủ đạo trong giới học thuật cũng như giới quản lý văn hoá ở nhiều nước phát triển trên thế giới
Quan điểm này không bận tâm với việc tranh cãi nên bảo tồn y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong đời sống đương đại
Hạt nhân của quan điểm lý thuyết này là khái niệm "tính xác thực" (hay
“tính chân thực”) của di sản (Authenticity of Heritage): Nếu như các quan điểm truyền thống cho rằng độ chân thực là cốt lõi của di sản thì ngày nay người ta lại đánh giá thấp vai trò của tính chân thực này: Chân thực hay không không phải là một giá trị khách quan mà nó được đo bằng trải nghiệm
1.1.4 Lý thuyết về Quyền văn hóa
Quyền văn hóa thường được coi như kém phát triển trong các vấn đề về nhân quyền Thuật ngữ này đã được chọn làm tiêu đề của cuộc Hội thảo được
tổ chức vào năm 1991 tại Đại học Fribourg và sau đó nó đã được chấp nhận rộng rãi Nó cho thấy rằng, so với các thể loại khác về quyền con người: dân
sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa quyền là kém phát triển nhất như phạm
vi, nội dung quy phạm pháp luật và các biện pháp thực thi có liên quan Một cách hiểu đơn giản về Quyền văn hóa thể hiện ở 3 nội dung sau[23]:
Thứ nhất, quyền văn hoá bao gồm quyền được hưởng thụ văn hoá hay nói một cách ngắn gọn, người dân và cộng đồng có quyền đòi hỏi được hưởng thụ các sinh hoạt văn hoá Văn hoá là sáng tạo và thành tựu của con người trong quá trình lịch sử và chung sống Những sáng tạo và thành tựu ấy
của con người cần được truyền bá cho mọi người Đó là lý do tại sao, người ta phải chiếu đi chiếu lại những bộ phim nổi tiếng, phải dịch những cuốn sách hay ra nhiều thứ ngôn ngữ, phải đưa các đoàn văn hoá - nghệ thuật đi lưu diễn
ở nhiều nơi v.v Mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân đều có quyền được hướng thụ
Trang 21văn hoá, và Nhà nước, với tư cách là một chính thể, cần đáp ứng những nhu cầu ấy của cộng đồng và người dân Chính vì quyền văn hoá này, các hàng hoá văn hoá cần có những lôgíc đi riêng, không tuân theo hoàn toàn với các lôgíc hàng hoá thông thường khác
Thứ hai, quyền văn hoá là quyền được thể hiện và thực hành văn hoá hay nói cách khác các cá nhân và cộng đồng có quyền được bày tỏ, thể hiện những sáng tạo mang tính riêng, cá nhân của mình Đây là một quyền đang
được rất nhiều quốc gia, tổ chức và các nhà nghiên cứu quan tâm đến, đặc biệt trong bối cảnh thế giới đề cao tính đa dạng của văn hoá lẫn sự lên ngôi của học thuyết hậu hiện đại
Trong một xã hội đa dạng, tiếng nói hay sự thể hiện của mỗi cá nhân và các cộng đồng, dù quan trọng hay ít quan trọng, dù lớn hay nhỏ, cần được lắng nghe và tôn trọng Đây là một bài học mà thế giới đã phải trả giá rất nhiều cho việc áp đặt những tư tưởng, ý kiến của nhóm đa số, tầng lớp thống trị xã hội cho những nhóm nhỏ hơn
Quyền được thể hiện và thực hành văn hoá giúp kích thích tính sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng Ở trường hợp làng Bình Đà, lễ hội truyền thống thể hiện rất rõ tính sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng Các cá nhân
và bản thân cộng đồng tự sáng tạo ra các hoạt động văn hoá cho chính mình (và bản thân họ cũng là người hưởng thụ văn hoá ấy) Trong trường hợp như vậy, họ có quyền được thể hiện văn hoá của mình, và Nhà nước cần tạo điều kiện cho họ thể hiện tính sáng tạo đó
Thứ ba, quyền văn hoá là quyền được tôn trọng và thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử, hay những sự khác biệt về văn hoá
Do văn hoá được hình thành qua lịch sử và sự thích nghi của con người nên nhiều người cho rằng không có văn hoá cao và văn hoá thấp Sự tôn trọng đối với văn hoá của mỗi tộc người, nhóm người nói chung và mỗi cá nhân nói
Trang 22riêng cũng là một phần của quyền văn hoá Mỗi cá nhân có quyền theo hoặc không theo tôn giáo nào, có quyền theo hoặc không theo một phong tục nào,
có quyền được thừa nhận về sở thích văn hoá của mình một cách không bị phân biệt đối xử
Ở nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng lý thuyết Quyền văn hóa nhằm mục đích nghiên cứu tiếng nói/phản ứng đa chiều của người dân-chủ thể văn hóa lễ hội Bình Đà về nâng cấp lễ hội năm 2014 Chúng tôi ý thức được rằng, ngoài những giá trị của cộng đồng được tôn trọng và thừa nhận, ở đâu đó, vẫn tồn tại cách nhìn nhận áp đặt, đánh giá thiếu khách quan, không có cơ sở khoa học về nâng cấp lễ hội hiện nay
Nghiên cứu này cố gắng cùng với người dân địa phương đưa ra được những phản hồi trung thực nhất về lễ hội làng Bình Đà Ở đây, chúng tôi quan tâm đến hậu hiện đại luận đối với chủ thể văn hóa và hậu hiện đại luận có liên quan đến quyền văn hóa của cộng đồng Từ đó luận giải các vấn đề liên quan đến ảnh hưởng của nâng cấp lễ hội đối với cộng đồng và những quyền của họ Trong suốt quá trình nghiên cứu tại Bình Đà có những hợp tác chặt chẽ trong suốt quá trình khảo sát và phỏng vấn sâu các các nhân trong cộng đồng nhằm thấy được những tiếng nói đồng thuận và mâu thuẫn trong suốt quá trình nâng cấp lễ hội
May mắn cho chúng tôi khi tham gia nghiên cứu đề tài này là được
quan sát tham dự từ đầu đến cuối quá trình nâng cấp lễ hội tại làng Bình Đà Cùng với những diễn tiến của lễ hội trong suốt năm 2014, quá trình cùng người dân tham dự và tất cả các hoạt động nghi lễ và phần hội, cũng như ý thức được quyền tham gia và tiếng nói của người dân vào tất cả các việc của làng họ Từ đây chúng ta mới có đánh giá về mô hình bảo tồn nào phù hợp với lễ hội thông qua ý kiến của người dân/chủ thể lễ hội hiện nay
1.2 Tổng quan về làng Bình Đà
Trang 23Từ trung tâm Hà Nội xuôi chéo qua quận Hà Đông, theo quốc lộ 6 khoảng 3 km, tới Ba La, rẽ trái theo đường 21B (trục đường đi Vân Đình, Chùa Hương) chừng 7 km qua tổng Xốm là tới Bình Đà
Làng Bình Đà hiện nay có 7 thôn, bao gồm thôn Thượng, thôn Chằm, thôn Chợ, thôn Chua, thôn Quyếch, thôn Đìa (xóm Phượng Trì) và thôn Dộc Với diện tích gần 2 km2, Bình Đà phía bắc giáp làng Thanh Lương và Kỷ Thủy, phía nam giáp thị trấn Kim Bài, phía đông giáp làng Khê Tang, phía tây giáp các làng Ninh Dương, Thượng Thanh và Đàn Viên Xuyên giữa làng Bình Đà là con sông Đỗ Động cổ xưa, nay thành tử giang, vạch đôi làng thành
Tả ngạn và Hữu ngạn Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước cùng đất Việt, Bình Đà đã nổi danh là vùng quê nằm giữa một quần thể di tích lịch
sử và văn hóa lâu đời, là cái nôi của những huyền thoại gắn với Quốc Tổ Lạc Long Quân cùng nhiều vị Thánh hiển linh, được tôn thờ qua nhiều thế hệ, là một vùng Địa linh cần được quan tâm khai thác, nghiên cứu và quảng bá, vinh danh
Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, Bình Đà xưa thuộc địa phận đất
Cổ Nõi - bao gồm cả làng Thạch Bích và làng Bình Đà, sau này làng Thạch Bích được tách ra mang tên Kẻ Nõi, còn Bình Đà mang tên Kựu Đà rồi Bảo
Đà Nơi đây từng được nhắc đến trong lịch sử là nơi đóng quân của sứ quân
Đỗ Cảnh Thạc, một vị tướng tâm phúc của Ngô Quyền và là nơi dựng thành lũy của ông trong cuộc “loạn 12 sứ quân” (942 – 967)
Làng Bảo Đà sớm nhất phải có tên từ đầu thời Trần vì vào khoảng năm 1310, triều Trần Anh Tông Nhà sư đạo sỹ Nguyễn Bình An (Đức Thánh Bối) hưng công tu bổ lại chùa Quảng Nghiêm (tục gọi là So Sở) thuộc huyện Quốc Oai Thần tích dẫn ra nhà sư có về quê thuộc làng Bối Khê, Thanh Oai, để lấy cà (cà pháo hoặc cà na) cho thợ ăn cơm, khi đi qua làng có địa danh là Bảo Đà, đánh rơi một quả xoáy thành giếng Âm, giếng
Trang 24này rất tròn và sâu, nước trong (hiện giếng này trước cửa chùa Âm nay đã xây bao làm thắng cảnh di tích) Chuyện này mang màu sắc Pháp thuật của Đạo Phật, nhưng về mặt thời gian thì địa danh Bảo Đà đã có trước thời Trần Anh Tông (1293 – 1341) [28, tr 12-13]
Từ năm 1821, vào đầu triều Minh Mệnh, Bảo Đà mới mang tên Bình Đà Tên Bình Đà vừa là tổng, vừa là xã, vừa là làng nhưng cũng chỉ được dùng trong các giấy tờ hành chính, còn trong dân gian, người dân vẫn gọi là Bảo Đà Việc này do tác động của các giáo sỹ phương Tây khi đến truyền đạo tại đây đã không thể áp đặt được Thiên Chúa giáo vào vùng này vì trước đó nơi đây vốn đã sùng bái đạo Phật, có tới năm chùa thờ Phật trong cùng một làng, đó là các chùa mà tên Nôm các chùa ấy là: chùa Cả, chùa Gã, chùa Âm, chùa Chợ và chùa Bụt Mọc Điều đó cho thấy sức mạnh của đạo Phật đã cắm rễ ở đây không thể lay chuyển được, cho nên họ đã dùng áp lực tác động gián tiếp tới vua Minh Mạng đổi tên Bảo Đà (Bảo vệ đạo Phật, bảo vệ Đức Phật Di-đà) thành Bình Đà để giảm bớt tính “bảo thủ” của vùng đất Phật này với ý đồ “bình định” được Bảo
Đà sẽ thuận lợi lớn có tầm quan trọng cho việc truyền đạo Thiên Chúa mà không vấp phải sự chống đối của người dân [28, tr.15-16]
Làng Bình Đà gồm 7 xóm (27 giáp) Tên nôm các xóm là xóm Chợ, xóm Chằm, xóm Thượng, xóm Quyếch, xóm Chùa (xóm Chua), xóm Đìa và xóm Dộc Làng có nhiều đình chùa: đình Ngoại, đình Nội, chùa Cả (ngày nay chùa không còn) chỉ còn giếng chùa Cả (còn gọi là giếng Rước Bánh Thủy), chùa
Gã, chùa Âu, chùa Bụt Mọc, đền Quán Ông.… Trong đó, Đức Quốc tổ Lạc
Long Quân được thờ ở đền Nội Triều Lý đã có sắc phong ghi rõ: “Lý triều
hiến sắc Thánh tổ tiên vương, nhất bào bách noãn, sinh hậu bách thần, hộ quốc cứu dân, vạn dân an lạc” [16, tr 39] Nghĩa là: “Triều Lý dâng sắc lên
Đức Thánh tổ tiên vương (sinh ra) một bọc trăm trứng, sau đó nở ra trăm thần, giữ nước cứu dân, trăm họ yên vui” Đình Ngoại Bình Đà thờ thành
Trang 25hoàng làng là Linh Lang Đại Vương – một thủy thần, tương truyền ông là con trai vua Lý Thái Tông tên là Hoằng Chân, sau khi dẹp giặc Tống, một thời gian sau ông bị bệnh qua đời Ông được thờ chính tại đền Voi Phục (một trong Tứ trấn của Thăng Long – Hà Nội) phía Tây thành Thăng Long cũ, nay thuộc phường Ngọc Khánh (Ba Đình – Hà Nội) Trong thần phả tại đền Nội
có ghi: “Thần Linh Lang Đại Vương là thủy thần theo tích Lạc Long Quân Ngài là con trưởng thuộc Bộ Hải Âu (thủy phủ) 50 người con theo Lạc Long Quân về thủy phủ, sau đó phân đi các nơi đến các miền đồng bằng và hải đảo chăm lo và khai hóa cho dân (Phân trị) Ngài ở hạ lưu Hoàng Giang vì sự hiển linh nên quân dân cảm kỳ, lập đền thờ hiệu là LINH LANG ĐẠI VƯƠNG Những khi cầu đảo đều có sự giúp sức Đến đời Lý Thái Tông, đêm nằm mộng thấy LINH LANG, có đem đơn bái yết xin làm con Sau đó vua được biết trong cung sinh được đứa con trai tuấn tú thông tuệ, lúc 8 tuổi bị bệnh đậu mùa và chết hóa thành con Giải vượt sông nước vào Tô Lịch hóa thân Vua rất thương tiếc cho lập đền thờ tại làng Già Kiều Vua lại phong nguyên hiệu là LINH LANG ĐẠI VƯƠNG Từ sự linh ứng của thần, nên có nhiều gia tặng Đến đời vua Lê Nhân Tông vào hai năm Kỷ Tỵ và Canh Ngọ do hạn hán cầu đảo Ngài có sự linh ứng, nên sắc tặng: “ĐẢO VŨ ANH LINH”; Ngài còn giúp việc hoạn trừ tai, nên được tôn là “Nam quốc chi linh thần” Sắc cho các nơi thờ cúng, tùy thấy sự hiển linh thần trong bốn tối linh Hương lửa ức ngàn năm đến nay vẫn gia tặng DIỆU HÓA HIỆP LINH TRỢ THUẬN HỮU CHÍNH HIỂN PHU HẤP THƯỢNG ĐẲNG TÔN THẦN…”[28, tr 30-34] Trước khi đình Ngoại trở thành nơi thờ thành hoàng Linh Lang Đại Vương,
“nơi đây đã từng là đền thờ Thái sư Nguyễn Nỏ tức là Lý Long Cảnh hay Lý Lang Công, em thứ 3 của Đế Minh, chú của Kinh Dương Vương
Tại đình Ngoại trong văn tế có đoạn: “Lý triều truy phong Đại vương Linh Lang, húy Hoằng chân Hùng Uyên Hoằng Hiệp” cùng một bức Hoành
Trang 26Phi bốn chữ đại tự: Đế tử phương danh Cứ theo nội dung này thì Đức thánh thành hoàng Linh Lang Đại Vương là con vua Lý Thái Tông, là tướng tiên phong, dưới sự chỉ huy của Thái úy Lý Thường Kiệt, chiến đấu phòng tuyến sông Như Nguyệt đến núi Nhân Biền chống giặc Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy, đã anh dũng hy sinh vào tháng chạp năm Bính Thìn 1076 Vì có nhiều công lao nên được nhiều nơi thờ làm thành hoàng Ở đây có lẽ sự ghi nhận của người xưa giữa Thủy thần hiển ứng và Nhân thần vị Hoằng Chân, đều là con vua Lý Thái Tông, nên chép cả vào thần phả và thần tích Do vậy đình Ngoại gốc thờ họ Lý sau chuyển sang thờ thành hoàng làng Bình Đà Đình Ngoại Bình Đà là việc hợp thức hóa hai nhân vật một là nhân vật lịch sử (hoàng tử Hoằng Chân) và một là nhân vật thần thoại (Thái sư Lý Lang Công)
để được thờ cùng một nơi và cùng được sắc phong “Linh Lang Đại Vương thượng đẳng thần” Đến năm 1909, triều vua Duy Tân thứ 3 và năm 1918 triều vua Khải Định thứ 3 đều được sắc phong là “Dực Bảo Trung Hưng Linh Lang Thượng Đẳng Thần”
Như vậy, Bình Đà – một làng cổ còn lưu giữ được hàng trăm câu chuyện thần thoại có liên quan tới lịch sử Việt Nam như chuyện Lạc Long Quân khai hoang lập ấp, chuyện tướng quân Đỗ Cảnh Thạc, huyền thoại giếng quả Cà với sự tích đức thánh Bối (Nguyễn Bình An), hay Linh Lang Đại Vương cắm cây trúc mọc ngược… đã để lại dấu ấn sâu đậm nơi vùng đất Đỗ Động – Bảo
Đà này Trong một ngôi làng, ta bắt gặp những tín ngưỡng đậm tính dân gian,
có dấu ấn của “Tam giáo đồng nguyên” thời Lý – Trần, một hệ thống đình, chùa, miếu mạo dày đặc đã ảnh hưởng rất lớn tới tín ngưỡng và văn hóa của
cư dân trong làng Bình Đà đang chuyển mình đổi mới cùng sự đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển kinh tế, người dân có điều kiện hơn trong việc thực hành tín ngưỡng dân gian, trong đó có lễ hội của làng
Trang 27Tiểu kết chương 1
Bình Đà xưa kia là một làng nghề nổi tiếng, nơi đây có bề dầy lịch sử và truyền thống văn hóa Đây là vùng đất hiếm hoi trên đất nước ta thờ hai vị thành hoàng làng Một là, Quốc Tổ Lạc Long Quân được thờ tại đền Nội Vị thành hoàng làng thứ hai là Linh Lang Đại Vương được dân tôn là Đường cảnh Thành Hoàng, người dân lập thờ tại đình Ngoại
Quyền văn hóa, quyền được biểu thị, thực hành và sáng tạo- những tiếng nói của người dân về câu chuyện nâng cấp lễ hội Bình Đà được chọn là lý thuyết tiếp cận nghiên cứu của luận văn Do đó, được chúng tôi sử dụng là lý thuyết nghiên cứu này nhằm làm sáng rõ quá trình nâng cấp lễ hội, sự tham gia của người dân và phản ứng của họ về các yếu tố mới xuất hiện trong lễ hội truyền thống
Trang 28Chương 2: THỰC TRẠNG NÂNG CẤP LỄ HỘI
Trong chương này chúng tôi tập trung làm sáng tỏ quá trình nâng cấp lễ hội Bình Đà từ nhiều phương diện, từ đó so sánh những thay đổi của lễ hội này với truyền thống từ đối tượng thờ cúng, các nghi thức cúng tế, lễ rước, tổ chức lễ hội, cơ chế vận hành lễ hội,…Để thấy được những thay đổi đó, trước hết, chúng
ta phải thấy được lễ hội truyền thống làng Bình Đà diễn ra như thế nào
án và đồ thờ
Ngày 25 tháng Hai: Tổ chức tế cáo Tiền Nhật, gia đình được chọn chuẩn
bị bò tế cùng dân làng đón ra sân miếu làm lễ tế sống cho các Thánh Sau đó đem về các giáp (được phân công) giết mổ để hôm sau có “ngưu nhục”- (thịt trâu/ bò) và “trư nhục” – (thịt lợn đen) dâng lễ tế ở đình Ngoại
Ngày 26 tháng Hai: được truyền là ngày hóa của Đức Thánh Linh Lang, cũng là ngày Đệ niên kỷ niệm Đương Cảnh Thành Hoàng Ngay từ sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, dân chúng 7 thôn/xóm trong làng phải cùng nhau rước
lễ thôn mình ra đền Nội, mỗi thôn biện 2 lễ, trong đó chỉ có 1 lễ chay (oản, hoa quả, trầu cau và rượu) được phép dâng tiến ban thờ Đại bái đền Nội Tế xong, cả 7 thôn/xóm mới rước lễ mặn ra dâng ở đình Ngoại Từ năm 1077 trở
về trước, Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân được tôn vinh là Thành Hoàng làng, phụng thờ ở đền Nội và từ 1077 đến sau này, Đại Vương Linh Lang cũng được tôn vinh là Thành Hoàng làng, phụng thờ ở đình Ngoại
Trang 29Ngày mùng 1 tháng Ba, tổ chức các tục lệ dâng Mã, rước Mã, đón Mã rất long trọng và trang nghiêm Theo thông lệ hàng năm, các giáp, dòng họ hoặc gia đình đăng ký cúng tiến theo thứ tự Hội đồng trưởng lão của làng xét duyệt Ai được duyệt mới được cung tiến Mã có cây vàng, cây bạc ra nhà văn chỉ, đợi đến chiều có 6 kiệu được rước ra nhận Mã Sau đó mới cùng nhau rước về ban thờ Quốc Tổ ở đền Nội và Đương Cảnh Thành Hoàng ở đình Ngoại làm lễ tế Mã dâng được thờ tròn một năm, đến kỳ hội sau mới hóa
Ngày mùng hai tháng Ba làm lễ Nhật luân nhập tịch kỳ phước Thôn nào được chọn, phải chuẩn bị 2 lễ Lễ chay rước kiệu vào đền Nội và lễ mặn rước kiệu ra đình Ngoại để làm lễ tế cầu phúc Buổi chiều, các dòng họ, quan khách, các nhóm và cá nhân cùng nhau dâng hương, cầu phúc cầu an trước ban thờ Ngày mùng ba tháng Ba, tiếp tục làm lễ Nhật luân nhập tịch kỳ phước Chủ yếu dành cho các phật tử, con hương và các sư thầy của các chùa làm lễ cầu phúc, lần lượt từ đền Nội xong mới ra đình Ngoại
Ngày mùng bốn tháng Ba, tiếp tục làm lễ Nhật luân nhập tịch kỳ phước Ngày này chủ yếu đón dân chúng và cán bộ chính quyền, đoàn thể các làng quanh vùng đến dâng lễ và dự lễ hội cổ truyền của làng Bình Đà
Ngày mùng năm tháng Ba, tổ chức lễ phần Mã ký hoàn Thôn được chọn đứng tu lễ ra đền Nội, làng tế lễ xong lại tiếp tục làm lễ hóa Mã của năm trước Sau khi hóa mã xong, dân làng cử người rước sắc ba kiệu Long đình, Giá cỗ và Bát cống (trong kiệu Bát cống có bát hương đại diện Quốc Tổ) ra đình Ngoại Đến nơi, bát hương và lễ vật được dâng tiến vào Đại đình Tế lễ xong, hóa Mã năm trước tại đền Buổi chiều, lễ hội diễn ra náo nhiệt Các kiệu của đền Nội hợp cùng ba kiệu của đình Ngoại hành tiến giữa rợp trời
cờ thần, chấp kích, và náo nhiệt tiếng trống chiêng, phường bát âm, tiếng dân làng hò reo rước Đương Cảnh Thành Hoàng Linh Lang Đại Vương về đền Nội dự hội
Trang 30Tối mùng năm, tiến hành làm lễ Trào Theo tục, chập tối, cửa đền tạm khép, nội bất xuất, ngoại bất nhập sau một tuần nhang Chỉ có quan tế chủ hai đền Nội - Ngoại và người đứng đầu chính quyền dự lễ Quan tế hai đền hành lễ mật cúng, thỉnh mời các bậc thánh hiền và truyền thông điệp khẩn cầu của dân tới các Thành Hoàng và bách thần, cầu phúc, cầu an cho bàn dân thiên hạ
Ngày mùng sáu tháng Ba diễn ra các cuộc đại tế Khởi đầu là lễ tế cộng đồng trước hương án có bát nhang Đức Quốc Tổ và Đương Cảnh Thành Hoàng Sau đó làm lễ tế Thiên Quan, bao gồm tế lễ trời đất và lễ khao quan, khao các vong hồn phiêu lạc Lễ bánh Thánh theo tục hèm của làng từ xa xưa với hình thức mật cúng, sau đó rước thả xuống Giếng Ngọc (giếng Chùa Cả) Thả bánh Thánh xong, nhà đền tổ chức lễ dâng hương cho các cấp chính quyền, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn, hướng về Đức Quốc Tổ và những bậc tổ tiên có công với dân với nước”
Buổi chiều, ba kiệu đình Ngoại tổ chức long trọng rước Đương Cảnh Thành Hoàng hoàn cung và làm lễ tế yên vị tại đình Ngoại Ngày mùng bảy tháng Ba, dân làng làm lễ cất kiệu ở đền Nội và tổ chức lễ tạ, kết thúc hội Những năm gần đây, theo Quy chế tổ chức lễ hội của Chính phủ, hội đền Quốc Tổ Lạc Long Quân ở Bình Đà, xã Bình Minh, Thanh Oai chỉ dồn
mở trong 3 ngày, từ mùng 4 đến mùng 6 tháng Ba âm lịch hàng năm, chung cho cả hai đình
Mồng bốn giáp hội, từ sáng sớm cửa đền đã rộng mở để cử hành lễ mộc dục Thánh vị (lau bụi và lau nước thơm ngũ hương) Buổi chiều làm lễ
tế sống bò tại đình Ngoại Lễ tế bò cũng được chuẩn bị theo tục lệ xưa Gia đình được chọn chuẩn bị bò phải không có bụi, sống hòa thuận, ăn nên làm
ra, được làng xóm yêu quý Bò mua về nuôi phải là bò đực, khỏe mạnh, độ tuổi sung sức Trước ngày làm lễ, gia đình sở tại phải chăm cho bò loại cỏ tươi
Trang 31thơm, hàng ngày đun nước cây thơm (hương nhu, xả,…) để tắm cho bò Bò dẫn
đi hành lễ phải được phủ dọc thân tấm vải điều rực rỡ Đến trước hương án, gia đình chăm bò phải túc trực bên cạnh, không để bò sổng dây chạy đi chỗ khác Chủ tế làm lễ tế xong, gia đình có bò trịnh trọng bàn giao cho Ban khánh tiết dẫn bò đến chỗ mổ thịt để lấy thịt làm cỗ tế hôm sau
Mùng năm, ngay từ sáng sớm, trống chiêng nổi ba hồi chín tiếng báo cuộc thi xôi chè làm vật phẩm dâng Thánh Cỗ nhất làm lễ phẩm đền Nội, cỗ nhì lễ phẩm đình Ngoại Tiếp theo là hóa mã năm cũ và lễ đại tế
Sau đó trống chiêng lại nổi âm vang Mọi người sửa soạn cuộc rước kiệu “giao hoàn” Đây là việc rước sắc từ đền Nội ra đình Ngoại Người dân cho rằng, trong cuộc rước này, sắc của bố (Lạc Long Quân - Quốc tổ) gửi con
đi đánh giặc giữ nước Con (Linh Lang) là biểu tượng của thế hệ tiếp nối dòng dõi Quốc Tổ Đám rước náo nhiệt với đội kiệu trang nghiêm kèm theo
có đội múa rồng, múa lân lượn lên, lượn xuống như đón như đưa
Xế chiều, sau khi hoàn tất các cuộc tế lễ công đồng, tế Thiên Quan, cuộc rước tiếp thêm ba kiệu của đình Ngoại mới từ đình Ngoại quay về đền Nội Đây là đám rước lớn nhất trong suốt diễn trình lễ hội Trống chiêng “tùng dinh” cùng nhạc phường bát âm rền vang Cờ đủ loại, đủ màu rực rỡ khắp nẻo đường Múa sênh tiền xen tiếng trống cơm hòa nhịp Rồi giá trống giá chiêng, bát bửu đèn lồng sáng rực một nền đa sắc
Để nghênh đón cuộc rước diễu qua, nhà dân hai bên đường đều kê bàn thờ có mâm ngũ quả, hương hoa ra cổng đón hội với hình thức lễ vọng Hòa vào chiêng trống, sênh tiền, đàn sáo là tiếng reo hò vang dội của dân làng dự hội, vừa dân dã vừa linh thiêng, vừa ồn ào vừa hùng tráng Tất cả như dấy lên một không khí tươi vui mà cổ sơ, như muốn lôi con người về quá khứ xa xưa, tưởng như đây là cuộc hành hương của đoàn người ngoan đạo thành tín trở về đất Tổ của mình
Trang 32Vào khoảng giữa giờ Tuất (19-21 giờ), đoàn rước kiệu về tới cổng đền Nội, tất cả tạm dừng kiệu để chào đón đám rước của bản hội và con nhang đệ
tử các chùa trong làng vừa tới Với vẻ tôn kính, nghiêm nghị, đoàn rước nhà chùa giương những lá phướn dài - cờ nhà Phật - cùng đoàn sư sãi trầm lặng, khiêm nhường, vừa đi vừa lần tràng hạt, miệng tụng những bài kinh cầu phúc, cầu an của nhà Phật
Theo quy định, vật phẩm nhà chùa đều là cỗ chay, bao gồm 100 phẩm oản, 100 quả chuối, 100 miếng cau đậu, 100 ghế chéo, được xếp ngăn nắp trên những mâm đồng do sãi đội Số lượng giống nhau giữa các loại vật phẩm mang tính biểu tượng, gợi nhớ tới vị Quốc Tổ của nòi giống Lạc Hồng tượng trưng hình ảnh 100 quả trứng, 100 người con trai trong buổi xẻ đôi, kẻ lên rừng, người xuôi biển cùng cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ
Giữa không gian mênh mông của tòa Đại bái, đèn nến sáng trưng, khói hương nghi ngút, ngan ngát toả thơm Vật phẩm dâng trình vừa xong thì mâm bánh trôi thờ gọi là bánh Thánh cũng vừa rước tới Chủ tế nhận dâng ngay vào hậu cung dành cho nghi lễ đặc biệt hôm sau
Cũng vào thời khắc này, cửa đền lần lượt đóng lại Sự yên lạc bên trong khiến không khí trở nên trầm lắng, thiêng liêng Chỉ còn hai chủ tế đền Nội, đình Ngoại và đại diện chính quyền tiến hành lễ trong đền, thỉnh bách thần về phù hộ cho dân làng, làm ăn phấn chấn, mùa màng thịnh vượng Phía ngoài sân đền, dân chúng chen vai thích cánh bên nhau, hò reo vang dậy trong những trò chơi dân gian tràn đầy sức sống
Cây bông đã phát sáng lấp lánh đủ màu với nhiều trò vui trên mỗi tầng của cây pháo: người đi cầy, người múa côn, cảnh đấu vật hoặc các trò chơi Thạch Sanh đánh trăn tinh, cô Tấm đi chơi hội Mỗi trò thường kèm theo một loại pháo Vào ngày chính hội mùng 6, từ sáng sớm, trống chiêng gọi hội dõng dạc vang lên lan rộng như nhắc nhở, giục dã dân làng Chủ tế xem xét từng
Trang 33mâm, đặt vào đúng nơi thờ như ngọc phả quy định Rồi, cửa đền đóng lại Lễ cầu cúng diễn ra như đêm hôm trước
Khoảng một giờ sau, lễ xong, cửa đền mở rộng, chiêng trống, đàn nhị nổi lên hòa tấu, báo hiệu nghi lễ mới: lễ múa cờ, múa bông náo nhiệt, rộn vang, như cùng nhau vui mừng đón mời và cầu nguyện Quốc Tổ Lạc Long Quân nhân ngày Đại Kỳ Phước Kết thúc chầu múa hát, reo hò, cuộc đại
tế được cử hành long trọng, thành kính trước ban thờ Quốc Tổ Phía ngoài sân đền, đồng thời tổ chức tế lễ cầu ở Thiên Quan, ở đàn tế trời đất Các giáp theo
sự điều hành của chủ tế giáp mình, mang lễ lợn đen (lợn cả con, sạch lông, sạch lòng) bày quanh đài và khấn lễ
Vào khoảng giờ Thìn sau hồi trống chiêng âm vang kéo dài, nghi thức đặc sắc nhất của lễ hội được cử hành với cuộc rước bánh Thánh qua cầu Thiên Quan Hàng nghìn người dõi theo một nghi lễ bí hiểm nhưng hấp dẫn, cho dù không ai được nhìn thấy bánh, để trong đài đậy kín Đài đựng bánh được đặt lên kiệu, có lọng, tàn, quạt hầu hai bên Trống khẩu đi theo đám rước giữ nhịp và quỳ thăng bằng Sau kiệu bánh là hai ông quan tế đền Nội, đình Ngoại cùng cụ ông cao niên nhất làng (Tiên chỉ), đại diện gia đình làm bánh, theo sát kiệu rước, chuẩn bị làm lễ bánh Thánh bên giếng Ngọc
Xung quanh giếng Ngọc (chùa Cả), cả ngàn người khấp khởi chen nhau chờ đợi Nhạc trống chiêng “tùng rinh” cùng phường bát âm reo vui đưa đám rước tới bên giếng Một người cầm đuốc dẫn đường Tàn, cờ, quạt, vải phủ kín đài bánh Ba người yên lặng, thành kính, chậm rãi bước tới sát mép nước Tại đây đã quây sẵn một đài nhiễu điều Đọc thần chú xong, quan tế mở đài lấy từng chiếc bánh bóp nát thả xuống nước Theo tục hèm, khi thả bánh xong, bánh chìm hết xuống giếng mới tốt và người hành lễ mới tròn trách nhiệm Đám rước lại náo nhiệt trở về đền Nội thực hành các nghi lễ khác Buổi chiều có cuộc rước kiệu từ đền Nội về đình Ngoại với ý nghĩa hoàn cung
Trang 34Trải qua ba ngày hành hội với đủ các nghi thức trọng đại lẫn các cuộc chơi vui tươi, náo nhiệt, người dân 7 thôn Bình Đà nói riêng và du khách hành hội nói chung, ai ai cũng chung một niềm tin vào sự anh minh cao cả của Đức Quốc Tổ và Thánh Vương thành hoàng đã tiếp nhận tấm lòng mình,
và cầu mong các bậc Thánh nhân sẽ phù hộ, độ trì cho quốc thái dân
2.2 Quá trình nâng cấp lễ hội
Lễ hội Bình Đà là lễ hội truyền thống có từ lâu đời của người dân Việt Nam gắn liền với Lễ Quốc tổ Lạc Long Quân Từ xa xưa, người dân đã lập đền thờ Quốc tổ Lạc Long Quân tại Bình Đà để ghi nhớ công ơn của người khai sinh ra đất Việt Trong dân gian Việt Nam vẫn lưu truyền câu chuyện: Quốc Tổ Lạc Long Quân kết duyên cùng Quốc mẫu Âu Cơ, sinh ra bọc trăm trứng, nở thành 100 người con Khi trưởng thành, 50 người con theo mẹ ngược đường về đất Phong Châu, 50 người con theo cha xuôi đường lần ra Nam Hải Đến đất Bình Đà bây giờ, cách biển không xa thấy đất đai màu mỡ, sông suối lượn quanh, nhiều dáng đất cao mang dáng rồng chầu hổ phục ngài bèn chọn đất này làm nơi sinh cơ lập nghiệp Tương truyền, Quốc Tổ Lạc Long Quân hóa tại Bình Đà vào một ngày cuối tháng Hai lịch trăng, và mộ của ngài được đặt tại Ba Gò (hay còn gọi là gò Tam Thai)
Mặc dù là một lễ hội có giá trị lịch sử và nhân văn sâu sắc, trải qua rất nhiều năm, lễ hội Bình Đà không được nhiều người biết đến là bởi chiến tranh trong thời gian dài đã khiến cho lễ hội không được tổ chức Bên cạnh đó, người dân và các cụ cao niên trong làng cũng chỉ duy trì tế tự ở phạm vi hẹp
mà không mở hội lớn Chính vì vậy, di tích và lễ hội Bình Đà dần đi vào ký
ức về một đền thờ và lễ hội lớn của người dân trong vùng
Những năm gần đây, dân làng Bình Đà mới nỗ lực phục dựng và nâng cấp lễ hội Đến nay lễ hội Bình Đà đã trở thành lễ hội cấp huyện
Trang 35Lễ hội Bình Đà được tổ chức trong khoảng thời gian từ 25 tháng 2 đến mùng 5 tháng 3 âm lịch với nhiều nghi lễ truyền thống còn được gìn giữ Cũng như nhiều lễ hội truyền thống khác, lễ hội Bình Đà có phần lễ và phần hội Phần lễ với nhiều lễ độc đáo như lễ Mã hoàn ký, lễ chào, lễ tạ…vẫn được gìn giữ đến ngày nay Đặc biệt lễ rước bánh Thánh qua cầu Thiền Quang và thả bánh xuống giếng Ngọc là một nghi lễ thiêng liêng, kỳ bí rất thu hút nhiều người tham gia và là điểm nhấn riêng của lễ hội Bình Đà
Chính vì những yếu tố đó mà Lễ hội Bình Đà, xã Bình Minh, huyện Thanh Oai đã chính thức trở thành Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày
01 tháng 4 vừa qua theo Quyết định số 959/QĐ-BVHTTDL ngày 01/4/2014 Năm 2014, UBND huyện Thanh Oai phối hợp với các đơn vị chức năng
đã triển khai kế hoạch tổ chức lễ hội đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân với quy mô hơn, bên cạnh việc nâng cấp những phong tục, nghi thức truyền thống ban tổ chức còn phát huy những giá trị về vật thể và phi vật thể bằng hình thức trình diễn ánh sáng vào ban đêm bằng công nghệ hiện đại và trình diễn nghệ thuật thư pháp [62] và phục dựng nghi lễ tế bò khao quân đã bị thất truyền trên dưới 70 năm
Để được công nhận lễ hội Bình Đà là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong thời gian qua, huyện Thanh Oai đã tích cực trùng tu, tôn tạo và bảo
vệ các hạng mục công trình di tích đền thờ Tổ Lạc Long Quân Trong quần thể đền có hai khu là đền Nội và đình Ngoại Những công trình này đều được xây dựng khang trang mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Đặc biệt, đền còn lưu giữ được những cổ vật quý như thần phả, sắc phong, bia ký, chuông đồng, hoành phi câu đối…Đặc biệt là bức phù điêu miêu tả cảnh Lạc Long Quân cùng văn võ bá quan xem hội đua thuyền Với những giá trị văn hóa vật thể hiếm có như vậy quần thể đền Nội đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ VHTT&DL) cấp bằng di tích ngày 13/3/1985
Trang 36Có thể thấy, tổ hợp di tích và lễ hội Bình Đà có từ lâu đời biểu trưng giá trị văn hóa truyền thống của toàn vùng Năm 2014, Nhà nước công nhận lễ hội làng Bình Đà là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (ảnh 8, phụ lục IV) Chính vì vậy, tổ chức lễ hội năm nay cũng có nhiều thay đổi so với những năm trước Cụ thể lễ hội được nâng cấp ở 2 mục lớn là phần lễ và phần hội, cụ thể như sau:
Lễ hội diễn ra từ ngày 3/4/2014 đến ngày 6/4/2014 (tức từ mùng 3 đến mùng 6/3 năm Giáp Ngọ) Những hoạt động chính của lễ hội gồm [62]:
1 Nâng cấp/ nâng cao chất lượng những nghi lễ/ lệ cổ truyền vốn có của
2 Nâng cao chất lượng các hoạt động nhằm tạo bản sắc cho lễ hội
+ Nghi lễ dâng hương Quốc Tổ Lạc Long Quân
+ Trình diễn ánh sáng bằng công nghệ hiện đại tại khu di tích đền Quốc
Trang 37với quy mô cấp vùng Chính vì vậy mà quy mô và cách thức tổ chức so với những năm trước đó có sự thay đổi Bên cạnh đó, năm 2014 lễ hội Bình Đà được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đây là dịp lễ hội được tổ chức to lớn hơn và có cơ hội để nâng cấp nhằm phục dựng các lễ nghi truyền thống (lễ tế bò khao quân) đã bị mai một và tổ chức các sự kiện mới (ánh sáng 3D và nghệ thuật thư pháp) cho người dân địa phương và du khách đến thăm quan đi lễ
2.3 So sánh lễ hội truyền thống và lễ hội đương đại
Lễ hội truyền thống là sự kiện vô cùng quan trọng đối với cộng đồng, chính vì vậy rất nhiều nghi thức mang tính bắt buộc Các nghi thức này được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ, nghiêm ngặt từ khi chuẩn bị lễ hội cho đến khi hết hội Thông thường một lễ hội có các nghi lễ: lễ mộc dục, lễ tế gia quan, lễ rước, lễ tế khai hội và tế giã đám Lễ hội Bình Đà năm 2014 đã có những sự thay đổi so với lễ hội truyền thống vốn có Những thay đổi về quy
mô, tính chất và cơ chế vận hành đã làm cho lễ hội hiện nay biến đổi không ngừng Chúng tôi nghiên cứu và hệ thống thành bảng so sánh như sau:
Bảng 2.1: So sánh lễ hội truyền thống và lễ hội đương đại
STT Nội dung Lễ hội truyền
3 Lễ rước Cộng đồng Cộng đồng (thay đổi đội hình rước) Nhà nước có tác động mạnh vào đoàn rước
4 Tổ chức lễ hội Cộng đồng Ban tổ chức lễ hội BTC bao gồm chính quyền, các đoàn thể, các nhà
chuyên môn, cộng đồng
5 Cơ chế vận hành Cộng đồng Cộng đồng và nhà nước
Nhìn vào bảng trên chúng ta thấy đã có những điểm giống nhau và khác biệt giữa lễ hội truyền thống và lễ hội đã được nâng cấp Nếu như đối tượng
Trang 38được phụng thờ của lễ hội truyền thống là thánh, thần- người có công với đất nước, là thành hoàng làng của Bình Đà được thờ cúng trong đình, đền Nâng cấp
lễ hội Bình Đà 2014 không có sự thay đổi đối tượng thờ Ở đây, đối tượng thờ là Đức Quốc tổ Lạc Long Quan ở đền Nội và Linh Lang đại vương ở đình Ngoại
Về nghi thức cúng tế, về nghi lễ và thể thức, nâng cấp lễ hội Bình Đà năm 2014 không có sự thay đổi nào đối với các nghi lễ truyền thống của làng Được sự đồng ý của cộng đồng, năm 2014, dân làng Bình Đà phục dựng lại nghi lễ tế bò khao quân ở đình Ngoại Đây là nghi lễ đã bị thất truyền trên 70, người dân cùng với các nhà khoa học đã nghiên cứu, phục dựng lại nghi lễ này theo nguyện vọng của cộng đồng Ngoài ra, các nghi thức tế tự khác như
lễ mộc dục Thánh vị, lễ tế (tế nam, tế nữ), rước "giao hoàn" từ đền Nội ra đình Ngoại rồi lại quay trở về đền Nội, lễ rước, thả bánh vía ở giếng ngọc không có sự thay đổi so với truyền thống
Đối với lễ rước trong lễ hội Bình Đà năm 2014 đã có sự thay đổi so với nghi lễ truyền thống Nếu như trước kia, cộng đồng là người đứng ra tổ chức, xếp sắp đội hình đoàn rước thì lễ hội năm 2014 đoàn rước có sự thay đổi do tác động của chính quyền Chẳng hạn, người ta thấy có sự thay đổi đoàn rước
từ Đoàn rước từ đền Nội như sau: trong truyền thống người Bình Đà xếp cờ đi trước tiên sau đó đến các kiệu và dân làng Lễ hội năm 2014 có sự điều chỉnh chuyển trống đi đầu tiên trong đoàn rước Với quan niệm: trống dong cờ mở nên các chuyên gia đã có những tư vấn để thay đổi trật tự, cấu trúc đoàn rước
ở lễ hội Bình Đà Bên cạnh đó, các đội trống của 7 thôn trong làng cũng có những thay đổi so với những năm trước đó Nếu như truyền thống ở làng Bình
Đà, cộng đồng thường dùng 4 đội trống trong đoàn rước thì nay trong lễ rước chỉ sử dụng một đội trống tượng trưng
Sự thay đổi trong chủ thể tổ chức: trong lễ hội truyền thống, cộng đồng đứng ra tổ chức và điều hành lễ hội Lễ hội năm 2014 thành lập Ban tổ chức
Trang 39lễ hội với nhiều thành phần khác nhau Sự thay đổi này đi kèm với sự thay đổi
về cơ chế tổ chức, với sự hiện diện với các thành phần hỗn hợp bao gồm các cấp chính quyền, Ban khánh tiết, các đoàn thể xã hội Trong lễ hội Bình Đà, trên thực tế, đứng về mặt tổ chức là bao gồm các chủ thể sau: Ban tổ chức; các cụ Thượng (nóc làng) với vai trò tiên chỉ, quyết định việc nghi lễ và các duyệt các vấn đề hành chính chủ yếu, có quyền lực tối thượng (gồm các cụ từ
80 trở lên), Ban Bộ lễ (gồm các cụ trên 70 và dưới 80, còn khỏe) chỉ dẫn các vấn đề về nghi thức cho Ban khánh tiết); Ban Khánh tiết (gồm các ông tuổi 50 hay 51), vừa mới ra gánh vác việc làng, tuổi còn khỏe, lo việc tu lễ theo chỉ dẫn của bậc cao niên hơn, ngoài ra còn vai trò của chính quyền xã, vai trò của thôn (xóm) hay một vài tổ chức xã hội nào đó, như ở Bình Đà là Hội Đồng niên, Hội Phụ lão, Hội Cựu chiến binh, Hội vãi Bên cạnh đó là vai trò của của cơ quan tư vấn nâng cấp lễ hội Đây là một phức hợp nhiều tổ chức xã hội
có vai trò và vị trí khác nhau trong tổ chức lễ hội
Đối với cơ chế vận hành lễ hội Bình Đà: Nếu như trong truyền thống cộng đồng có vai trò quyết định trong toàn bộ diễn trình của lễ hội, từ đầu chí cuối Cộng đồng cắt cử vai trò theo lớp tuổi trong làng: các cụ thượng có vai trò tối thượng, thường chỉ dẫn các việc tế lễ cho các ông trong ban khánh tiết của đền, đình Ban khánh tiết chuyên lo việc sửa lễ, lớp trẻ tuổi hơn thì lo các công việc trong đoàn rước như cầm cờ, trống, khiêng kiệu thánh, lo các phần việc được Ban khánh tiết chỉ đạo, sai khiến,…Có thể nói trong lễ hội truyền thống, ý thức tự quản của các cộng đồng được đề cao Mặt khác, chính yếu tố trao truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác không làm xáo trộn về mặt tổ chức cũng như vận hành lễ hội hàng năm Điều này lý giải tại sao các nghi lễ vẫn còn được bảo lưu và duy trì nhiều năm mà không bị thay đổi
Đối với lễ hội năm 2014, cơ chế vận hành lễ hội có sự thay đổi theo hướng vừa cộng đồng vừa nhà nước điều hành Nhà nước có vai trò chủ chốt
Trang 40trong việc tổ chức thuê các đơn vị phối hợp nâng cấp lễ hội (thể hiện qua nghệ thuật ánh sáng 3D và thư pháp) Ngoài ra chính quyền còn giữa vai trò
tổ chức lễ đón nhận công nhận lễ hội Bình Đà là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Điều đó minh chứng cho cơ chế vận hành đã có sự thay đổi theo hướng cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong các nghi lễ truyền thống, nhà nước đóng vai trò chủ chốt trong các sự kiện mới trong lễ hội
Như vậy, so với lễ hội truyền thống, lễ hội Bình Đà năm 2014 đã có những thay đổi trong nghi lễ rước, cơ cấu tổ chức lễ hội và cơ chế để vận hành lễ hội Nếu như trong truyền thống, cộng đồng là người tổ chức, vận hành các nghi lễ và trò chơi trong lễ hội thì nay vai trò đó đã bị thay đổi bởi Nhà nước Nhà nước đã can thiệp nhằm thay đổi vai trò của cộng đồng bằng các cơ chế, chính sách và bằng nguồn lực tài chính Chính những can thiệp này là nội dung nâng cấp lễ hội Bình Đà Nâng cấp lễ hội Bình Đà đem lại nhiều hiệu quả, bên cạnh đó cũng còn nhiều hạn chế Do đó, đây là nguyên nhân gây là những tranh luận trong thời gian qua
2.4 Các đánh giá của người ngoài cuộc
Trước và sau khi lễ hội Bình Đà diễn ra năm 2014 đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ dư luận, cụ thể là các nhà khoa học và truyền thông Bởi
lẽ, năm 2014, lễ hội Bình Đà đón nhận danh hiệu Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia do Bộ Văn hóa thể thao và du lịch trao tặng Có thể nói, đây là sự kiện quan trọng đối với người dân làng Bình Đà nói riêng và huyện Thanh Oai nói chung Không ngạc nhiên khi quy mô tổ chức lễ hội năm 2014 được
tổ chức lớn hơn các năm trước đó Điểm đặc biệt là lễ hội do UBND huyện Thanh Oai phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội (nay là sở Văn hóa thể thao Hà Nội) tổ chức kết hợp với sự hỗ trợ tư vấn của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam (BVHTTDL) nên đã có nhiều thay đổi so với lễ hội truyền thống những năm trước đó