Đối tượng và phạm vi vấn đề nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố về văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt hiện hữu trong văn bia Lý – Trần nhằm làm rõ góc độ tôn giáo của Phật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ THƠM
VĂN HÓA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
QUA TƯ LIỆU VĂN BIA LÝ–TRẦN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÁN NÔM
HÀ NỘI, 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MAI THỊ THƠM
VĂN HÓA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO
QUA TƯ LIỆU VĂN BIA LÝ–TRẦN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận án Văn hóa tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia
Lí – Trần là kết quả làm việc, nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả
trình bày trong luận án là trung thực Những kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước đã được tiếp thu một cách chân thực, có trích dẫn cụ thể
Hà Nội, ngày … tháng … năm 20…
Tác giả luận án
Mai Thị Thơm
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Kim Sơn là thầy hướng dẫn khoa học – đã tận tình hướng dẫn, chỉ dạy nhiều kiến thức quý báu,
và nhiệt tình động viên, khích lệ trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến các vị lãnh đạo Công ty Cổ phần sản xuất chương trình An Viên và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian tôi công tác, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Xin gửi lời tri ân tới các thầy cô giáo trong bộ môn Hán Nôm, Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn đã chỉ dạy tôi từ những ngày học cao học
Chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành luận án
Hà Nội, ngày … tháng … năm 20…
Tác giả luận án
Mai Thị Thơm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
2.1 Đối tượng và phạm vi vấn đề nghiên cứu: 8
2.2 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu: 8
3 Phương pháp nghiên cứu 8
3.1 Phương pháp văn bản học: 9
3.2 Phương pháp định lượng: 9
3.3 Phương pháp liên ngành: 9
4 Đóng góp mới của luận án 9
5 Bố cục luận án 10
NỘI DUNG 12
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO QUA TƯ LIỆU VĂN BIA LÝ – TRẦN 12
1.1 Tình hình nghiên cứu văn hóa tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần 12
1.1.1 Tình hình sử dụng nội dung văn bia Lý – Trần vào các chuyên đề nghiên cứu 12
1.1.2 Tình hình gợi nhắc hoặc giới thiệu sơ lược về văn hóa tư tưởng Phật giáo trong các tác phẩm chuyên nghiên cứu về Văn bia Lý – Trần 15
1.2 Nhận định về những công trình nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án 17
1.2.1 Nhận định về những công trình nghiên cứu 17
1.2.2 Hướng nghiên cứu của luận án 19
Tiểu kết 24
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA PHẬT GIÁO QUA TƯ LIỆU VĂN BIA LÝ – TRẦN: CHÙA – THÁP- LỄ HỘI 26
2.1 Văn hóa vật thể Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần: Chùa - Tháp 26
2.1.1 Tên gọi của chùa – tháp 26
2.1.2 Không gian tồn tại của chùa - tháp 33
2.1.2.1 Không gian của chùa 33
2.1.2.2 Không gian của tháp 41
2.1.3 Kiến trúc chùa - tháp 43
2.1.3.1 Kiến trúc chùa 43
2.1.3.2 Kiến trúc tháp 56
2.2 Văn hóa phi vật thể Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần: Lễ hội 60
Trang 62.2.1 Loại hình lễ hội 62
2.2.2 Bố cục lễ hội 71
Tiểu kết 75
CHƯƠNG 3 TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO QUA TƯ LIỆU VĂN BIA LÝ – TRẦN: KINH PHÁP HOA – KINH HOA NGHIÊM 77
3.1 Kinh Pháp Hoa trong văn bia Lý – Trần 77
3.1.1 Tư tưởng cơ bản của kinh Pháp Hoa 78
3.1.2 Thí dụ điển hình của kinh Pháp Hoa 83
3.1.3 Nhân vật tiêu biểu của kinh Pháp Hoa 85
3.2 Kinh Hoa Nghiêm trong văn bia Lý – Trần 91
3.2.1 Tư tưởng chủ đạo của kinh Hoa Nghiêm 92
3.2.2 Thí dụ điển hình của kinh Hoa Nghiêm 99
3.2.3 Việc diễn giải, vận dụng kinh Hoa Nghiêm 102
Tiểu kết 111
CHƯƠNG 4 TƯƠNG QUAN TAM GIÁO QUA TƯ LIỆU VĂN BIA LÝ – TRẦN 113
4.1 Tương quan Tam giáo từ góc độ văn hóa 113
4.1.1 Nho gia – Phật gia: Tác giả của những văn bia chùa – tháp 113
4.1.2 Nho gia – Phật gia: Tác giả của những công trình chùa – tháp 119
4.2 Tương quan Tam giáo từ góc độ tư tưởng 125
4.2.1 Nhận thức về đạo vận hành của vũ trụ nhân sinh 125
4.2.2 Nhận thức về vai trò của Tam giáo 130
Tiểu Kết 138
KẾT LUẬN 140
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 145
TÀI LIỆU THAM KHẢO 146
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt Nam là một trong những yếu tố quan trọng không chỉ trong đời sống tôn giáo Phật giáo nói riêng mà còn trong đời sống dân tộc Việt nói chung Văn hóa tư tưởng Phật giáo thời Lý – Trần là một
bộ phận có giá trị đáng nghiên cứu trong toàn bộ nền văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt Nó kế thừa được tinh thần dung hợp văn hóa tư tưởng Phật giáo Nguyên thỉ, Phật giáo Đại thừa sơ khởi Ấn Độ với văn hóa tư tưởng bản địa Việt, văn hóa tư tưởng ngoại lai Nho, Đạo Trung Hoa của Phật giáo thời kỳ Mâu Tử, Khương Tăng Hội Nó tiếp nối và phát huy tinh thần Tổ sư Thiền đặc sắc của Thiền tông Trung Hoa với truyền thống Thiền – Giáo hợp nhất, Thiền – Tịnh – Mật đồng hành, Phật – Đạo – Nho tịnh dụng của thời kỳ Thiền phái Pháp Vân – Kiến Sơ Việt Nam Nó sáng tạo nên một thời kỳ Phật giáo hoàng kim với những yếu tố văn hóa tư tưởng đặc trưng của dân tộc Việt trong thời đại độc lập tự chủ thịnh trị mà cho đến nay giá trị đó vẫn tiếp tục ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống Phật giáo Việt trên lãnh thổ Việt và ngoài lãnh thổ Việt Chính vì thế, việc tìm hiểu, nghiên cứu văn hoá tư tưởng Phật giáo Việt Nam thời Lý – Trần chuyên biệt hoặc lồng ghép trong các yếu tố khác như lịch sử, văn học, mỹ thuật, chính trị, kinh tế… là việc làm được nhiều giới thuộc đương thời và hậu thế quan tâm
Văn bia Hán Nôm Việt Nam là một trong những loại hình văn bản được nhiều giới nghiên cứu khai thác, trong đó có Văn bia Lý -Trần Số lượng văn bia
Lý – Trần hiện còn tuy không nhiều nhưng phần lớn chúng là những văn bản có giá trị thực sự, đặc biệt là giá trị về văn hóa tư tưởng Phật giáo đương thời Điều này không chỉ vì chúng đa phần là những văn bản thuộc Phật giáo (chùa, tháp, chuông ), mà nội dung của chúng ghi nhận một cách sống động, cụ thể về những yếu tố liên quan đến Phật giáo từ góc độ tôn giáo, đến góc độ học thuật
dù không chuyên biệt Nội dung đó thống nhất với những tác phẩm mang tính lịch sử, văn học trong và ngoài Phật giáo viết về Phật giáo, bổ sung thêm những yếu tố văn hóa tư tưởng mà các tác phẩm trên chưa hoặc không đề cập đến Chính những giá trị này, từ rất sớm, chúng được sưu tầm, giới thiệu văn bản chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, chú thích (hoặc một phần ra tiếng Việt hoặc vẫn còn bằng chữ Hán), cũng như giới thiệu chung về hình thức và nội dung của từng văn bản cụ thể hoặc của tất cả văn bản dưới góc độ văn bản học Chúng cũng
Trang 8được trích dẫn, nghiên cứu trong nhiều công trình liên quan đến văn hóa tư tưởng của Phật giáo, văn học Việt Nam
Có điều cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt và đầy đủ yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt trong hệ thống văn
bia Lý – Trần Chúng tôi chọn đề tài Văn hóa tư tưởng Phật giáo qua tư liệu
văn bia Lý – Trần làm hướng nghiên cứu cho luận án tiến sỹ của mình, hy vọng
sẽ góp một mảnh ghép cho bức tranh Phật giáo trong thời kỳ hoàng kim của lịch
sử Phật giáo Việt Nam
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng và phạm vi vấn đề nghiên cứu:
Luận án tập trung nghiên cứu các yếu tố về văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt hiện hữu trong văn bia Lý – Trần nhằm làm rõ góc độ tôn giáo của Phật giáo Luận án cũng nghiên cứu về yếu tố Nho - Phật – Đạo (chủ yếu là Nho – Phật) trong văn bia Lý – Trần nhằm ghi nhận thêm về hiện tượng tương quan Tam giáo như một biểu hiện cụ thể cho sức ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội Việt
2.2 Đối tượng và phạm vi tư liệu nghiên cứu:
Văn bia Lý – Trần, chủ yếu là từ tập Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (tập 1
và tập 2)
Văn bia Lý – Trần trong các tác phẩm Thơ văn Lý – Trần, Văn bia thời
Lý 1 , Văn bia chùa Phật thời Lý là những tư liệu bổ sung
Ngoài ra, chúng tôi kết hợp với các tác phẩm kinh luật luận Phật giáo thuộc hai nhánh Tiểu thừa và Đại thừa như Tứ bộ A Hàm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Bát Nhã, Đại Trí Độ Luận, Luật Tứ Phần… cũng như những tác phẩm liên quan đến văn hóa tư tưởng Phật giáo, tam giáo thời Lý – Trần
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận án chọn tư liệu văn bia Hán Nôm (văn bản cổ) làm đối tượng khảo sát, nghiên cứu về văn hóa tư tưởng Phật giáo Để có định hướng cho việc nghiên cứu và giải mã văn bản, chúng tôi áp dụng lý thuyết Thông diễn học hay còn gọi là Thuyên thích học (Hermerneuties), một lý thuyết hướng tới giải thích, giải mã, cắt nghĩa, làm nổi bật các thông tin từ văn bản một cách tối đa và có
1 (các đoạn trích dẫn văn bia gồm nguyên bản chữ Hán, phần dịch tiếng Việt thời Lý trong luận án hầu hết đều từ tác phẩm này vì tác phẩm đã kế thừa, phát huy giá trị, chỉnh sửa khuyết điểm của các tác phẩm đi trước, bổ sung thêm những giá trị riêng có đáng tin cậy)
Trang 9chiều sâu Theo lý thuyết này, các chi tiết, các yếu tố trong văn bản được xem xét kỹ trong các mối liên hệ, liên hệ trong văn bản và cả liên văn bản
Trên cơ sở lý thuyết đó, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
3.1 Phương pháp văn bản học:
Tuy không phải xác định niên đại, tác giả, hình thức tồn tại, dị bản trong
hệ thống văn bia Lý – Trần vì đã được các công trình nghiên cứu trước thực hiện, nhưng chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm đọc sâu, khảo biện, giải thích, diễn giải các ký hiệu, các mã ngôn ngữ, xâu chuỗi, tổng hợp chúng để khai thác những nội dung cần nghiên cứu, từ yếu tố văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể, đến yếu tố tư tưởng, tương quan Tam giáo vốn có trong văn bia thời kỳ này Ngoài ra cũng nhằm xác định chính xác về mặt văn tự, cụ thể là âm, nghĩa, dịch thuật do sự sai lệch dị biệt trong quá trình chú thích, dịch thuật các thuật ngữ Phật giáo, hoặc chưa chú thích, dịch thuật trong các tác phẩm nghiên cứu văn bia đương thời đã đề cập trên, giúp việc triển khai nội dung được rõ ràng, chuẩn xác
3.2 Phương pháp định lượng:
Gồm các thao tác thống kê, lập biểu bảng, phân tích tổng hợp để rút ra những đặc điểm về văn hóa tư tưởng, tần suất xuất hiện, nhằm định hướng cụ thể những nội dung nổi bật cần nghiên cứu trong khuôn khổ luận án
3.3 Phương pháp liên ngành:
Đây là phương pháp quan trọng, hữu dụng để triển khai các nội dung trong đề tài mang tính đa ngành này Thí dụ chúng tôi áp dụng các phương pháp thuộc ngành văn hóa học để điều tra, khảo sát tính văn hóa của đối tượng nghiên cứu, áp dụng phương pháp loại hình học nhân vật lịch sử để nghiên cứu về lực lượng sáng tác, áp dụng các phương pháp lịch sử tôn giáo học, triết học, tư tưởng học, mỹ thuật học, để phân tích, làm rõ các yếu tố cơ bản hàm tàng trong tôn giáo Phật giáo, các yếu tố tư tưởng, học thuật có trong Nho gia, Đạo gia làm nền tảng cho sự dung hợp, tịnh hành Tam giáo đương thời
4 Đóng góp mới của luận án
Việc xác định tên gọi chùa tháp, kiến trúc chùa tháp, loại hình mặt bằng, ngẫu tượng và bích họa cũng như chủng loại lễ hội, bố cục lễ hội trong hệ thống văn bia Lý – Trần không chỉ làm sáng tỏ các yếu tố văn hóa vật thể, phi vật thể của Phật giáo đương thời, khẳng định giá trị vốn có và riêng có của những yếu
Trang 10tố đó trong ngôi nhà Phật giáo Việt ở một thời kỳ, mà còn góp phần gọi tên, hệ thống, xâu chuỗi những giá trị, những yếu tố văn hóa đó trong toàn bộ nền Phật giáo Việt nói riêng, Phật giáo thế giới nói chung Từ đó góp phần thúc giục sự thâm nhập, nghiên cứu các đặc điểm khác nữa trong văn hóa Phật giáo từng vùng miền, từng thời kỳ, đưa ra một bức tranh toàn diện hơn nữa về Phật giáo
Những tư tưởng cơ bản, thí dụ điển hình, nhân vật tiêu biểu của hai kinh
Pháp Hoa, Hoa Nghiêm được nêu ra trong luận án giúp xác định cụ thể nội dung
đặc biệt nhưng ảnh hưởng sâu rộng của chính hai giáo điển trên trong đời sống
tu học của người học Phật đương thời Khẳng định giá trị của nó trong đời sống của nhiều thành phần xã hội, trong đó có giới tri thức Nho gia Ngoài ra, góp phần khẳng định thêm nét đặc thù của Thiền tông Việt: Thiền – Giáo dung thông, tức không chỉ tu thiền ngộ thiền thông qua các công án, thoại đầu của các tổ sư,
mà luôn chú trọng việc đạt ngộ thông qua các giáo điển giá trị của Phật giáo Hơn thế nữa, nó cũng đóng góp cho việc tìm hiểu tư tưởng Phật giáo thời Lý – Trần, có ý nghĩa trong việc hiểu sâu hơn văn học Phật giáo thời kỳ này nói riêng
và văn học Phật giáo nói chung
Những ghi nhận về tác giả văn bia, tác giả công trình chùa tháp, tư tưởng chủ đạo của Tam giáo, vai trò của Phật – Thánh, vai trò của từng giáo điển Tam giáo góp phần làm rõ hơn những biểu hiện cụ thể của hiện tượng Tam giáo tịnh hành, Tam giáo thịnh hành, Tam giáo hợp sáng ở thời Lý – Trần từ hai góc độ tư tưởng / học thuật, văn hóa/ tôn giáo Từ đó luận án vừa chỉ ra tính chất trọn vẹn
và điển hình của hiện tượng này ở thời Lý – Trần, vừa góp phần cho việc hệ thống những biểu hiện cụ thể của hiện tượng Tam giáo tịnh hành, khẳng định vai trò to lớn của Phật – Đạo - Nho trong toàn bộ nền văn hóa tư tưởng Việt Nam
Những kết luận về hình thức, nội dung, tư tưởng, hoạt động của tôn giáo Phật giáo trong luận án cũng đóng góp thiết thực cho thực tiễn nghiên cứu của ngành Hán Nôm và nghiên cứu khoa học xã hội
Thuật ngữ Phật giáo được chú thích trong 10 văn bia tiêu biểu ở phần Phụ lục cũng góp phần làm sáng tỏ thêm cho việc dịch thuật, nghiên cứu
5 Bố cục luận án
Bố cục của luận án ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung
được tổ chức thành 4 chương cụ thể như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu văn hóa tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần Gồm: Các công trình nghiên cứu chuyên
Trang 11về văn hóa, tư tưởng, lịch sử có trích dẫn, đề cập đến nội dung văn bia Lý – Trần, các công trình nghiên cứu chuyên về văn bia Lý – Trần có gợi nhắc đến yếu văn hóa tư tưởng Phật giáo
Chương 2 Văn hóa Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý - Trần: Chùa - Tháp - Lễ hội Gồm: Văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể Văn hóa vật thể
gồm: Tên gọi chùa tháp, không gian hiện hữu của chùa, tháp, loại hình mặt bằng,
hệ thống tượng pháp và bích họa trong chùa, tháp Văn hóa phi vật thể gồm: Loại hình lễ hội, bố cục cơ bản của lễ hội, chức năng của lễ hội
Chương 3 Tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần: Kinh
Pháp Hoa – Kinh Hoa Nghiêm Gồm: Triết lý cơ bản của Pháp Hoa, Hoa
Nghiêm; thí dụ điển hình của Pháp Hoa, Hoa Nghiêm; Nhân vật tiêu biểu của Pháp Hoa; việc diễn giải kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm; việc vận dụng kinh Hoa Nghiêm qua hình thức truyền giới Bồ tát
Chương 4 Tương quan Tam giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần 2 Gồm: Phật gia, Nho gia là tác giả của những văn bia Phật giáo; Phật gia, Nho gia
là tác giả của những công trình chùa tháp; nhận định của Phật gia, Nho gia về vai trò Phật – Thánh, vai trò của giáo điển Phật - Nho trong đời sống tôn giáo,
xã hội
Sau mỗi chương đều có phần Tiểu kết
Sau phần Tài liệu tham khảo là phần Phụ lục Phần này là bảng Chú
thích thuật ngữ Phật giáo trong 10 văn bia tiêu biểu của nghiên cứu sinh Trước phần chú thích mỗi bia có phần văn bản chữ Hán
2 (Ở đây tuy nói là Tam giáo, nhưng chủ yếu chỉ là hai giáo Phật – Nho)
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HÓA TƯ
TƯỞNG PHẬT GIÁO QUA TƯ LIỆU VĂN BIA LÝ – TRẦN
Văn hóa tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong văn bia Lý – Trần tuy đến giờ vẫn chưa được nghiên cứu Nhưng việc sử dụng nội dung của một số văn bia Lý – Trần trong các tác phẩm mang tính văn hóa tư tưởng của Phật giáo nói riêng, Việt Nam nói chung thì đã khá phổ biến Ngoài ra các yếu tố về văn hóa tư tưởng của Phật giáo cũng được giới thiệu sơ lược hoặc gợi nhắc trong các tác phẩm nghiên cứu chuyên về văn bia Lý – Trần dưới góc độ văn bản học Vì thế, trong chương này luận án xin đề cập đến một số công trình tiêu biểu như vậy Điều này vừa khẳng định thêm giá trị của văn bia Lý – Trần, vừa xác định thêm nguyên nhân phạm vi nghiên cứu ở các chương khác của luận án
1.1 Tình hình nghiên cứu văn hóa tư tưởng Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần
1.1.1 Tình hình sử dụng nội dung văn bia Lý – Trần vào các chuyên
đề nghiên cứu
Nếu Thiền uyển tập anh là tác phẩm nhắc đến tên những bài văn bia và tác
phẩm văn bia để nói về sự nghiệp trước tác của các tổ sư thời Lý thì tác phẩm
Tam tổ thực lục do Thiền sư Tính Quảng Thích Điều Điều (1694 – 1768) và Hải
Lượng Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803) soạn vào năm 1765 lại là tác phẩm sử dụng khá trọn vẹn nội dung văn bia tháp Viên Thông Thanh Mai do Trung Minh
biên tập, thiền sư Huyền Quang khảo đính từ Đoạn sách lục của chính thiền sư
Pháp Loa và được vua Trần Dụ Tông cho khắc vào năm Đại Trị thứ 5 (1363) để nói rõ cuộc đời của Pháp Loa với mọi hoạt động được tính theo năm tháng trong suốt hơn hai mươi năm xuất gia hoằng đạo Việc làm này ngoài giá trị về nội dung, còn góp phần không ít cho việc sưu tập nghiên cứu văn bản này trong các tác phẩm văn bia, văn khắc kể trên vì sự mài mòn theo thời gian của bia đá
Năm 1949, Hoàng Xuân Hãn cho ra đời tác phẩm Lý Thường Kiệt – Lịch
sử ngoại giao và tông giáo thời Lý 3 (NXB Sông Nhị) đã sử dụng nội dung năm bia thời Lý: Bia chùa Báo Ân núi An Hoạch (1100), bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh (1110), bia tháp Sùng Thiện Diên Linh núi Long Đội (1121), bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni (1124), bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn (1126), để nói về gốc tích, việc đánh Chiêm Thành, việc được phong chức tước,
3
Hiện nay tác phẩm này được sưu tập trong bộ La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập 2, NXB Giáo Dục,
1998
Trang 13việc quản trị nhân dân vùng Thanh Hóa Đặc biệt là nói về hoạt động của Lý Thường Kiệt đối với dân tộc và đạo Phật, ảnh hưởng của Lý Thường Kiệt đối với sự sáng lập, trùng tu của những ngôi chùa trên, cũng như giao tình của Lý Thường Kiệt với những thiền sư được nhắc đến trong các văn bia trên như Pháp Bảo, Mãn Giác, Đạo Dung…
Năm 1973, Nguyễn Lang cho ra đời bộ Việt Nam Phật giáo sử luận (NXB
Sài Gòn) Trong tập một phần Đạo Phật và văn hóa tác giả liệt kê danh sách 10
văn bia thời Lý: Chùa Báo Ân núi An Hoạch, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, tháp Sùng Thiện Diên Linh, chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni, chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, chuông chùa Thiên Phúc, tháp Hội Thánh núi Ngạc Già, tháp Lăng Già, chùa Viên Quang, chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt Trong đó, hai tháp Hội Thánh (1092) và Lăng Già (1092) không biết tác giả dẫn từ đâu, tuy tác giả
có nói là phần lớn có trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn và Lý Thường
Kiệt của Hoàng Xuân Hãn Sau đó tác giả có dẫn phần minh văn trong văn bia
chùa Linh Xứng Riêng phần viết về lịch sử cuộc đời của thiền sư Pháp Loa thời
Trần, tác giả dựa vào Tam tổ thực lục mà thực chất chính là văn bia tháp Viên
Thông Thanh Mai để nói lên những sinh hoạt Phật giáo thời Trần, cũng như tư tưởng Thiền học của thiền sư Pháp Loa
Bộ Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục (NXB TPHCM,
1992), phần tư tưởng thời Lý (tập 3) và tư tưởng thời Trần (tập 4), tác giả dẫn
hầu hết số văn bia của Lý Thường Kiệt – Lịch sử ngoại giao và tông giáo thời Lý, bia tháp Viên Thông trong Tam tổ thực lục, cùng ba bia chùa Thiệu Phúc của Lê
Quát, chùa Khai Nghiêm, tháp Linh Tế của Trương Hán Siêu nhằm khẳng định
tư tưởng của võ tướng Lý Thường Kiệt; tư tưởng phồn thực trong văn hóa Việt qua nghệ thuật chùa Một Cột trong bia tháp Sùng Thiện Diên Linh; tinh thần Thiền học kết hợp Mật học của thiền sư Pháp Loa; Tư tưởng hợp sáng của ba giáo Nho – Phật – Đạo đương thời; Sự nhìn nhận hẹp hòi của Nho gia Lê Quát, Trương Hán Siêu… trong việc bài xích Phật giáo
Bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Chủ yếu là tập 3, NXB TP HCM, 2002),
Lê Mạnh Thát dẫn văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh để nói về nền công nghiệp xây dựng chế tạo của Việt thời Lý Nhân Tông, lễ hội đèn Quảng Chiếu,
lễ Phật đản, lễ cầu an, lễ khánh thành, mục đích xây dựng chùa, việc thờ tự trong
Phật điện… thuộc phạm vi sinh hoạt Phật giáo trong mục Lý Nhân Tông và nền Phật giáo thế sự Mục viết về thiền sư Từ Đạo Hạnh, thiền sư Giác Hải,
thiền sư Đạo Dung, thiền sư Mãn Giác, tác giả cũng có nhắc đến văn bia chuông chùa Thiên Phúc, văn bia chùa Báo Ân núi An Hoạch, văn bia chùa Linh Xứng
Trang 14núi Ngưỡng Sơn, văn bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni nhằm làm rõ hành
trạng của các vị đối với Phật giáo và dân tộc Việt Mục Phong trào nữ Phật tử thời Lý, tác giả dẫn các bia chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt, mộ chí Phụng Thánh
Phu nhân, bia chùa Phúc Minh thời Trần để nói đến bốn trung tâm Phật giáo do những người nữ phụ trách: Vùng Phù Đổng với viện Hương Hải của Ni sư Diệu Nhân, vùng Tuế Phong với chùa Phúc Thánh Diên Linh của phu nhân Phụng Thánh, vùng Cổ Việt với chùa Diên Phúc của gia đình Đỗ Anh Vũ, vùng Thanh Hóa với chùa Thánh Ân của tín nữ Diệu Tín, cháu danh tướng Lý Thường Kiệt, cũng như việc nhìn nhận và chuẩn bị về cái chết của những người phật tử đương
thời Mục Hà Hưng Tông với Phật giáo vùng biên cương thời Lý, văn bia
chùa Bảo Ninh Sùng Phúc đã được trích dẫn nhằm giới thiệu mục đích xây chùa,
tư tưởng chân không diệu hữu, việc chăn dắt bách tính của các quan viên theo tinh thần Phật giáo cũng như chính sách hoàng tộc hóa các thủ lĩnh vùng biên trên tinh thần của Phật giáo…
Hà Văn Tấn trong tác phẩm Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam (NXB Nhà
Văn, 2005), mục Chùa Việt Nam dẫn khá nhiều văn bia Lý – Trần từ tên văn
bia cho đến nội dung văn bia Như bia chùa Báo Ân núi An Hoạch, chùa Bảo Ninh Sùng Phúc, chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn, tháp Sùng Thiện Diên Linh, chùa Viên Quang, chùa Diên Phúc thôn Cổ Việt, tự già Báo Ân, chùa Thiệu Long, tháp Linh Tế, tháp Viên Thông… kết hợp cùng các công trình khảo cổ nhằm khẳng định kiến trúc chùa, tháp, tượng thờ, tranh vẽ trong chùa, cũng như
sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý – Trần
Tác phẩm Nghệ thuật điêu khắc Việt Nam thời Lý và thời Trần (NXB
Khoa Học Xã Hội, 1997), Tống Trung Tín đã căn cứ rất nhiều văn bia Lý – Trần
trong tập Thơ văn Lý – Trần, đặc biệt những văn bia có đề cập đến tượng thờ để
nói về sự phát triển của các loại tượng Phật giáo về chủng loại, kích thước lớn nhỏ, chất liệu đồng đá các tượng Phật Thích Ca, Tam thế Phật, A Di Đà, bồ tát Quan Âm, Tứ Thiên Vương, Bát bộ Kim Cang, Long thần hộ pháp
Tác phẩm Văn hóa Thăng Long- Hà Nội hội tụ và tỏa sáng do Trần Văn
Bính chủ biên (NXB Thời Đại, 2009), phần nói về lễ hội đèn Quảng Chiếu của
thời Lý trong các bài viết Về hội đèn Quảng Chiếu ở Thăng Long qua bia tháp Sùng Thiện Diên Linh của Hà Văn Tấn, Diện mạo lễ hội cổ truyền Thăng Long – Hà Nội của Nguyễn Chí Bền đều được căn cứ theo miêu thuật
của văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh Đặc biệt bài viết của Hà Văn Tấn đã
chỉnh lại những chỗ dịch sai của văn bia này trong Thơ văn Lý – Trần nhằm giúp
Trang 15hiểu chính xác về hệ thống bảy Phật hiện hữu trong hội đèn cũng như kinh điển nền tảng xuất hiện của lễ hội này
Chuyên đề Kiến trúc Một cột thời Lý (Suối nguồn 9.T.5/2013), Trần
Trọng Dương căn cứ văn bia tháp Sùng Thiện Diện Linh và các công trình nghiên cứu liên quan để nói rõ về kiến trúc, nguồn gốc, ý nghĩa của biểu tượng Liên Hoa đài (mà xưa nay vẫn gọi là chùa Một Cột) trong hệ thống chùa Diên Hựu thời Lý Qua đó đưa ra nhìn nhận mới về biểu tượng Liên Hoa đài này
Tác phẩm Hà Nội nghìn xưa (NXB Hà Nội, 2009) của Trần Quốc Vượng và
Vũ Tuân Sán đã trích dẫn văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh thời Lý để nói về
chùa Một Cột ở mục Kiến trúc Thăng Long, về lễ hội đua thuyền, múa rối nước…trong mục Hội mùa đông xuân
Ngoài ra còn một số tác phẩm, bài viết riêng cũng trích dẫn phần nào nội
dung văn bia Lý – Trần đáp ứng nhu cầu nghiên cứu của tác giả như Chùa –
Tháp và Phật giáo thời Trần qua những dấu tích hiện còn của Tạ Quốc Khánh
(Trong tác phẩm Phật hoàng Trần Nhân Tông – Con người và sự nghiệp, NXB
KHXH, 2013) Trong bài viết này, mục Vài di vật tiêu biểu còn lại trong chùa thời Trần tác giả liệt kê 8 bệ Phật, 3 chuông đồng, 10 bia đá4 để nói về sự thịnh
hành của Phật giáo cũng như cấu trúc tòa Phật điện của chùa; hoặc Tháp cổ Việt
Nam (NXB KHXH, 1992) của Nguyễn Duy Hinh, Văn hóa Lý Trần kiến trúc và nghệ thuật trang trí chùa tháp (NXB Văn Hóa Thông Tin, 2000) do Hoàng Văn
Khoán chủ biên, 5
1.1.2 Tình hình gợi nhắc hoặc giới thiệu sơ lược về văn hóa tư tưởng Phật giáo trong các tác phẩm chuyên nghiên cứu về Văn bia Lý – Trần
Nếu như các tác phẩm Thiền uyển tập anh, Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến
văn tiểu lục chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tên hoặc 1 phần nhỏ nội dung một số
văn bia Lý – Trần thì các tác phẩm Thơ văn Lý Trần, Văn khắc Hán Nôm Việt
Nam, Văn bia thời Lý, Văn bia chùa Phật thời Lý… đã tiến thêm một bước nữa
là sưu tầm, giới thiệu nguyên văn văn bia (chữ Hán, chữ Việt), dịch nghĩa, chú thích Quan trọng hơn cả là các tác phẩm ấy còn giới thiệu hoặc sơ lược, hoặc tương đối đầy đủ về hình thức lẫn nội dung của văn bia Trong đó các yếu tố về văn hóa tư tưởng Phật giáo đã được gợi nhắc đến
4 Một số văn bia được tác giả dẫn ra hiện không có trong tập Văn khắc Hán Nôm thời Lý – Trần nên
cũng có thể nói là bổ sung thêm về số lượng văn bia cho thời kỳ này
5
Chúng tôi chưa may mắn được đọc những tác phẩm này, chỉ được đọc một số trích dẫn của chúng qua các công trình khác
Trang 16Trong bộ Thơ văn Lý Trần (NXB KHXH, Hà Nội, tập 1, 1977, tập 2,
1989, tập 3, 1978 ) có giới thiệu, dịch chú về 10 bia thời Lý (tập 1), 9 bia thời
Trần (tập 2, 3) Ở phần đầu bộ sách, bài Mấy điều tâm đắc về một thời đại văn học, Đặng Thai Mai viết “ Những ngày hội ở các chùa lớn vẫn tập hợp xung
quanh các vị cao tăng được chỉ định để thuyết pháp trước cả một triều đình, nhà vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa với tăng ni và quần chúng nhân dân Trước đức Phật mọi người đều bình đẳng ” rõ ràng chính là đề cập đến yếu tố văn hóa
tư tưởng Phật giáo Lý – Trần
Tập Văn khắc Hán Nôm Việt Nam giới thiệu nguyên văn và chú thích
bằng chữ Hán 17 văn bia thời Lý, 44 văn bia thời Trần Ở lời tựa của các tập sách đều có phần giới thiệu sơ lược về hình thức tồn tại của văn bia như kích thước, độ dài văn bản, hoa văn trang trí…, cũng như những giá trị có trong nội dung của văn bia như lịch sử các dòng họ lớn đương thời, hoạt động của Phật giáo trong xã hội gồm tổ chức tôn giáo, nghi lễ, chùa chiền và đời sống tăng lữ, thiết chế và thuật ngữ hành chính; Nho gia với vị trí và vai trò, tác động đối với Phật giáo, xã hội; Tình hình sở hữu ruộng đất tư thời Trần, chiến tranh thời Trần
…
Tác phẩm Văn bia thời Lý (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2010) do
Nguyễn Văn Thịnh chủ biên tập hợp được cả thảy 18 văn bia, bổ sung thêm một
văn bản Minh Tịnh tự bi văn (1090) mà trong tập Văn Khắc Hán Nôm Việt Nam phần thuộc thời Lý chưa có Tuy cũng thao tác như bộ Văn Khắc Hán Nôm Việt
Nam nhưng ở đây, các tác giả đã thao tác kỹ hơn, phát huy, bổ sung thêm những
công trình sưu tầm giới thiệu hệ thống văn bia Lý - Trần qua các thời kỳ, phiên
âm, dịch nghĩa, chú giải toàn bộ văn bản ra tiếng Việt Phần Một số đặc điểm chính của văn bia thời Lý trong tác phẩm giới thiệu tương đối rõ nét về nội
dung của văn bia từ bố cục của văn bia đến các giá trị lịch sử nhân vật, triết lý nhà Phật cũng như giá trị văn chương của văn bia
Tác phẩm Văn bia chùa Phật thời Lý của Phân Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam Tại Hà Nội, xuất bản năm 2011 nhân kỷ niệm ngàn năm Thăng Long – Hà Nội cũng là một tác phẩm có hình thức nghiên cứu khá giống tác
phẩm Văn bia thời Lý về mọi phương diện trên, có trình bày kỹ phần hình thức
tồn tại của văn bia, có cả phần so sánh giữa thời Lý và thời Trần cũng như một vài ý liên quan đến thời Lê – Mạc sau này
Tác phẩm Hán văn Việt Nam thuộc bộ Ngữ văn Hán Nôm của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, có phần Văn bia Việt Nam do Trịnh Khắc Mạnh giới
Trang 17thiệu Trong mục Dẫn luận, tác giả đã giới thiệu về số lượng, cấu trúc, thể loại văn học tiểu sử, thơ ca… của văn bia Lý – Trần Đồng thời tác giả cũng gợi nhắc những giá trị có được trong văn bia Lý – Trần như lịch sử tư tưởng, triết học Việt Nam và đặc biệt lịch sử tư tưởng, triết học Phật giáo Việt Nam, sự song tồn, tịnh hành của Nho giáo và Phật giáo, cũng như những mặt trái của Phật giáo đã
bị nhà Nho lên án, văn hóa Phật giáo và văn hóa dân gian Việt Nam… Ở phần
văn bản cụ thể, tác giả giới thiệu chữ Hán, dịch nghĩa, chú thích 2 văn bản An
Hoạch sơn Báo Ân tự bi ký thời Lý và Khai Nghiêm bi ký thời Trần
Năm 2008, Trịnh Khắc Mạnh còn cho ra đời tác phẩm Một số vấn đề về
văn bia Việt Nam (NXB KHXH) Theo tác giả, tác phẩm này dựa trên luận án
Phó Tiến sĩ về văn bia bảo vệ tại Viện Đông phương học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô vào ngày 7 tháng 12 năm 1990 Vì đây là một luận án nên tất
cả những ghi nhận liên quan đến văn bia Lý – Trần tương đối đầy đủ, rõ ràng
hơn so với những trích lục, lược thuật trong phần Văn bia Việt Nam trên, giúp
không ít cho việc nghiên cứu văn bia Lý – Trần
Một số chuyên đề và bài viết khác nữa cũng cần được nhắc ra ở đây về
việc nghiên cứu chung văn bia Lý – Trần là Văn bia thời Lý – Trần – Một số nét
cơ bản về thể thức, nội dung, nghệ thuật (sangdaotrongdoi,vn) của Phạm Văn
Ánh mà một phần của nó đã được đưa vào phần đầu của tác phẩm Văn bia thời
Lý Ở đây, bài viết đề cập đến 16 văn bản thời Lý và 21 văn bản thời Trần Có lẽ
vì chúng là những văn bản đầy đủ giá trị của một văn bia nhất Tác giả giới thiệu chung về tên gọi bi văn, tác giả, cấu trúc văn bia, tiểu sử nhân vật, triết lý Phật giáo, kiến trúc chùa, Tam giáo… vốn có trong những văn bản trên mà trong
phạm vi tên gọi bài viết quy định Bài viết Văn bia chùa Phật thời Trần (Trong tác phẩm Phật hoàng Trần Nhân Tông – Con người và sự nghiệp, NXB KHXH,
2013) của Đinh Khắc Thuân là chuyên đề nghiên cứu chung về văn bia thời Trần giống với phần viết về văn bia thời Lý của chính tác giả trong tác phẩm
Văn bia chùa Phật thời Lý
1.2 Nhận định về những công trình nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án
1.2.1 Nhận định về những công trình nghiên cứu
Có thể thấy, những công trình nghiên cứu trên hoặc gợi nhắc chung chung
về yếu tố văn hóa, tư tưởng Phật giáo có trong văn bia Lý – Trần cần được nghiên cứu, hoặc đề cập thẳng các yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo cụ thể như kiến trúc chùa, tượng thờ, lễ hội thuộc văn hóa, Tam giáo tịnh hành, Thiền, Tịnh, Mật hợp nhất, Chân không diệu hữu thuộc tư tưởng có trong hệ thống văn bia
Trang 18Lý – Trần Điều này giúp ích rất nhiều cho việc định hướng nghiên cứu của luận
án Tuy nhiên, vì là gợi nhắc hay chỉ giới thiệu tên gọi và cũng vì chỉ trích dẫn một số nội dung trong một số văn bia Lý – Trần nên những yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo vốn có trong văn bia chưa được nghiên cứu sâu rộng và trọn vẹn như vốn có
Về phần văn hóa, có thể nói, các tác giả đã phần nào đề cập đến kiến trúc chùa tháp, tượng thờ, tranh vẽ… như tác phẩm của Hà Văn Tấn thì “Nhìn chung, chùa thời Lý thường là những quần thể gồm các kiến trúc đăng đối…, trong các chùa thời Lý còn có nhiều bích họa… Tượng thờ trong các chùa tháp thời Lý cũng là tài liệu quan trọng để tìm hiểu nghệ thuật và Phật giáo thời Lý…” [73, tr
211 – 212], còn Tạ Quốc Khánh thì “Văn bia chùa Thiệu Long cũng cho biết khi
đó chùa đã gồm các hạng mục: Đài cầu, lầu gác, hành lang, nhà Tăng, vườn cảnh… nguy nga tráng lệ…” [58, tr 228] Riêng phần không gian hiện hữu, loại hình mặt bằng, hệ thống tượng pháp và bích họa trong chùa tháp Phật giáo Lý – Trần chưa được đề cập trọn vẹn và giải thích rõ về nguồn gốc, ý nghĩa vốn có trong kinh điển Phật giáo Về lễ hội thì quả thật Lê Mạnh Thát hay Hà Văn Tấn, Nguyễn Chí Bền đều đề cập tương đối rõ ràng về hội đèn Quảng Chiếu, hoặc nêu tên lễ Phật đản, lễ Vu lan… Dẫu vậy các yếu tố như bố cục chung của lễ hội, loại hình lễ hội, chức năng lễ hội… được ghi nhận khá phong phú và rõ ràng vốn
có trong ngần ấy văn bia Lý – Trần thì chưa được đề cập Đặc biệt là chưa nêu bật được giáo điển làm nền tảng tức hệ thống lý thuyết cơ sở cho sự hiện hữu của những yếu tố văn hóa đó
Về phần tư tưởng, trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Lê Mạnh Thát có
nhận định sau khi trích dẫn văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc rằng: “Tư tưởng
chân không diệu hữu mà văn bia chùa Bảo Ninh Sùng Phúc nói tới, chính là đề
cập đến phạm trù sắc không vừa nói Vì thế giữa sắc và không, người Phật tử chỉ
có thể chọn lấy một con đường, đó là trung đạo [84, tr 510] Trong Lịch sử tư
tưởng Việt Nam, Nguyễn Đăng Thục nhìn nhận sau khi dẫn phần đầu của văn
bia chùa Linh Xứng rằng “Cái ấy là nguồn gốc cho tri thức và hành động nhất quán cả khoa học cầu Chân, nghệ thuật cầu Mỹ và luân lý cầu Thiện Cho nên nhà sư Hải Chiếu đã ý thức cái thực tại vừa đồng nhất vừa đa thù, vừa một vừa nhiều, cho nên đã nêu rõ chỗ gặp gỡ giữa hiền tăng Phật với quỹ phạm Nho và tức Đạo và Đời, vũ trụ và nhân sinh, siêu nhiên và hiện thực, Tri và Hành là căn bản tập đại thành của Tam giáo thời Lý vậy” … [101, tập 3, tr 171] Những yếu
tố khác như giáo điển hàm chứa tư tưởng Chân không diệu hữu là gì, những tư tưởng và những thí dụ đặc trưng, những biểu hiện cụ thể trong các tư tưởng
Trang 19đó cũng chưa được đề cập Tư tưởng Tam giáo hợp sáng tuy được nhắc đến nhưng cũng chưa đề cập được triết lý nền tảng cho sự hợp sáng ấy, hoặc vai trò
cụ thể của từng giáo chủ, giáo điển mỗi tôn giáo vốn được các tác giả văn bia ghi nhận tương đối rõ ràng
1.2.2 Hướng nghiên cứu của luận án
Có thể nói, yếu tố văn hóa tư tưởng6 Phật giáo nói chung, Phật giáo thời
Lý – Trần nói riêng thì rất phong phú đa dạng Yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo trong văn bia Lý – Trần càng lại như thế Để có thể triển khai thuận lợi các yếu tố văn hóa tư tưởng trong hệ thống văn bia Lý – Trần, chúng tôi tiến hành các thao tác cụ thể sau
Chọn lựa tác phẩm văn bia nghiên cứu, chúng tôi chủ yếu dựa theo tác
phẩm Văn khắc Hán Nôm Việt Nam (tập 1 và tập 2)7 Tập 1 do Viện Nghiên Cứu Hán Nôm kết hợp với Học Viện Viễn Đông, xuất bản năm 1998 Tập 2 do Viện Nghiên Cứu Hán Nôm kết hợp với Viện Văn Học Đại Học Trung Chính Đài Loan, xuất bản năm 2002 Đây là tác phẩm sưu tầm, tập hợp khá đầy đủ về số lượng văn bia Lý – Trần hiện còn Đây cũng là tác phẩm đã thao tác rất công phu về góc độ văn bản học Cụ thể là đã xác định tương đối thỏa đáng về niên đại văn bia, về tác giả văn bia, về hình thức tồn tại văn bia, về nội dung cơ bản của văn bia
Trong bộ sách này, số lượng văn bia được giới thiệu nguyên văn và chú thích bằng chữ Hán có 17 văn bia thời Lý, 44 văn bia thời Trần Trong số 17 văn bia thời Lý, về chất liệu văn bia gồm có hai loại: Đá, đồng Trong đó chất liệu đá
có 16 văn bản, chất liệu đồng có một văn bản Về nội dung tên văn bản, có: 9 văn bản chùa, 1 văn bản tháp, 1 minh văn chuông, 4 mộ chí, 1 ma nhai, 1 bệ Phật Trong số 44 văn bia thời Trần, về chất liệu có ba loại: Đá, đồng, gỗ Trong
đó, chất liệu đá có: 36 văn bản, chất liệu đồng có 7 văn bản, chất liệu gỗ có: 1 văn bản Về nội dung tên văn bản, có: 11 văn bản chùa, 3 văn bản tháp, 6 mình văn chuông chùa, 1 minh văn chuông quán, 6 ma nhai, 1 trụ đá ruộng đất chùa, 3
bệ Phật, 4 văn bản ruộng đất chùa, 1 trụ gỗ ruộng đất chùa, 1 bia thần đạo, 2 bia
từ miếu, 1 bia gia tộc, 1 thánh chỉ, 1 bia đình, 1 thơ lưu đề, 1 bia động
6
Việc phân chia từng mục văn hóa và tư tưởng ở đây chỉ là cốt dễ dàng cho việc triển khai mà thôi, vì thực sự yếu tố văn hóa tư tưởng khó có thể tách bạch một cách minh nhiên rằng trong văn hóa không có tư tưởng, trong tư tưởng không có văn hóa
7
Hiện thời số lượng văn bia Hán Nôm hai thời cũng đã có sự điều chỉnh, nhưng yếu tố văn hóa và tư tưởng mà chúng tôi nghiên cứu thì cũng không nhiều hơn Vì thế chúng tôi vẫn chủ yếu dựa vào tác phẩm này
Trang 20Chọn lựa số lượng văn bản nghiên cứu Trong hơn 60 văn bản trên, số lượng văn bản liên quan đến Phật giáo chiếm gần như đa số Cụ thể là chùa, tháp, chuông, ruộng đất chùa Số lượng văn bản về chùa, tháp, chuông không chỉ nhiều về số lượng, mà còn có hình thức nội dung tương đối đầy đủ, rõ ràng Dẫu vậy yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo qua văn bia thì rất nhiều nên chúng tôi lại tiếp tục chọn lọc thêm lần nữa để xác định số lượng văn bản phù hợp với hai tiêu chí: “Văn hóa tư tưởng nổi bật” trong “văn bia” Vì thế, các tiêu chí cụ thể được chọn ở đây là:
Thứ nhất, theo định nghĩa “Văn bia (Bi văn) là những văn từ được trình bày trên bia đá”
Thứ hai, những văn bia có tên văn bản là chùa – tháp
Thứ ba, những văn bia có thể thức tương đối đầy đủ Ngoài phần niên đại, người soạn bia, người khắc chữ, người viết chữ, số ruộng hiến cúng cho chùa ,
bố cục trình bày trong mỗi văn bia theo mô típ hai phần: Ký, Minh Phần Ký của mỗi văn bia thông thường gồm: Duyên khởi, tiểu sử nhân vật xây dựng công trình, quá trình xây dựng công trình, hình tượng công trình sau khi được xây dựng, lễ hội diễn ra sau khi hoàn tất công trình Phần Minh là phần tóm lược nội dung phần ký theo thể thức văn vần8
Thứ tư, những văn bia có nội dung thuộc bốn yếu tố tôn giáo Phật giáo: Không gian tôn giáo, thực hành tôn giáo, triết lý tôn giáo (kinh điển tôn giáo), sức ảnh hưởng của tôn giáo đối với xã hội
Từ những tiêu chí trên, NCS chọn ra được 12 văn bản thời Lý, 15 văn bản
thời Trần trong tác phẩm Văn khắc Hán Nôm Việt Nam Ngoài ra, NCS chọn thêm 1 văn bản Minh Tịnh tự bi văn (1090) trong tác phẩm Văn bia thời Lý
(NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2010 do Nguyễn Văn Thịnh chủ biên) đáp ứng
đủ các tiêu chí chúng tôi đã đặt ra trên mà trong tập Văn Khắc Hán Nôm Việt
Nam phần thuộc thời Lý chưa có
Một điều cần nói thêm ở đây nữa là trong số các văn bản về chuông Phật giáo Lý – Trần trên vì là minh văn khắc trên chất liệu đồng, không thuộc tiêu chí minh văn khắc trên chất liệu đá nên không được chọn lựa làm văn bản thống kê chính Nhưng vì nội dung của một số văn bản đó có chứa những nội dung văn hóa tư tưởng Phật giáo được giới thuyết ở trên nên cũng được chúng tôi trích
8
Mô típ này dường như thống nhất trong hầu hết số văn bia thời Lý mà chúng tôi chọn lựa Riêng số văn bia thời Trần được chọn lựa trong luận án thì mô típ này không đầy đủ lắm và cũng ít rõ ràng hơn
Trang 21dẫn thêm khi chứng minh, hoặc giải thích các nội dung liên quan Số văn bản còn lại tuy có một số gắn liền với Phật giáo như những văn bản ghi về số ruộng đất chùa, văn bản về bệ thờ Phật của chùa… nhưng không chứa đựng những yếu
tố văn hóa tư tưởng được giới thuyết trên nên không được chọn lựa
Cũng chính từ những tiêu chí đặt ra trên, chúng tôi có thể phát thảo nội dung các chương nghiên cứu được ghi nhận trong các phần ký và minh của văn bia như sau:
Phần Duyên khởi của mỗi văn bia hàm chứa tương đối rõ ràng các yếu tố thuộc về tư tưởng Phật giáo, cho phép chúng tôi triển khai thành một chương riêng (chương thứ 3) Ở đây chúng tôi chọn hai kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm,
vì hai kinh có những nội dung đặc trưng của một kinh điển Phật giáo: Triết lý cơ bản, thí dụ đặc trưng, nhân vật điển hình Điều này được thể hiện rõ ràng, lặp lại
ở nhiều văn bia Lý – Trần Có ít nhất 8 bia Lý, 1 bia Trần ghi nhận về triết lý Ẩn thực hiển quyền, quy tam vu nhất, mục đích xuất hiện của Phật Thích Ca nói riêng, chư Phật nói chung chỉ có trong phẩm thứ hai kinh Pháp Hoa Lại có ít nhất 7 bia Lý, 1 chuông Trần (tuy không thuộc văn bản được chọn ở đây) ghi nhận về 4 thí dụ rất điển hình của kinh Pháp Hoa (Hỏa trạch dụ, Dược thảo dụ, Hóa thành dụ, Y châu dụ) Ở phần công trình được xây dựng, nhân vật được thờ chính trong hai tháp ở bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, bia chùa Hương Nghiêm núi Càn Ni là Phật Đa Bảo – nhân vật chính trong phẩm 11 của kinh Pháp Hoa, tượng bồ tát Quan Âm thờ chính ở một số chùa Lý – Trần cũng là nhân vật điển hình với 33 hóa thân trong phẩm 25 kinh Pháp Hoa Bên cạnh đó, bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh thời Lý ghi nhận rõ việc giảng kinh Pháp Hoa ngay trong ngày lễ khánh thành chùa (ngôn ngữ trong bia này là giảng Thất dụ diệu ngôn9), chuông chùa Thiên Phúc thời Lý (tuy không thuộc văn bản được chọn ở đây) còn ghi nhận việc trì kinh Pháp Hoa suốt 6 năm ròng của thiền sư Từ Đạo Hạnh,
bia tháp Viên Thông Thanh Mai thời Trần lại ghi nhận về tác phẩm Pháp Hoa
kinh khoa sớ do thiền sư Pháp Loa soạn với mục đích giảng dạy kinh này như
một tác phẩm giáo khoa
Đối với kinh Hoa Nghiêm triết lý Pháp giới vô ngại được ghi nhận bằng các thuật ngữ Chân không diệu hữu, Nhất vạn tương dung, Thể dụng vô ngại có trong các phẩm tiêu biểu: Như Lai thập thân tướng hải, Hoa tạng thế giới, Phật bất tư nghì, Như Lai xuất hiện, Nhập pháp giới của kinh Hoa Nghiêm hiện hữu trong ít nhất 9 văn bia Lý, 3 văn bia Trần Các thí dụ: Pháp giới chứa trong sợi
9 Bảy thí dụ đặc biệt của kinh Pháp Hoa (xem ở phần trình bày chương liên quan)
Trang 22lông, Hoa tạng giới nằm trong hạt bụi, núi Tu Di nằm trong hạt cải, pháp thân nằm trong sợi lông điển hình của kinh này được ghi nhận trong 3 văn bia Lý, 1 văn bia Trần Đặc biệt nhất, văn bia tháp Viên Thông Thanh Mai thời Trần ghi nhận việc diễn giảng kinh Hoa Nghiêm từ ý nghĩa cơ bản, đến 9 hội kinh, lặp đi lặp lại nhiều lần cho nhiều thành phần xã hội của thiền sư Pháp Loa suốt hai mươi năm (từ Hưng Long 18 (1310) đến Khai Hựu 2 (1330)) Kết hợp với việc vận dụng tinh thần kinh Hoa Nghiêm trong việc truyền giới Bồ tát với nhiều hình thức khác nhau ở thời Trần được ghi nhận trong bia tháp Viên Thông Thanh Mai10, tất cả điều này xứng đáng để đặt hai kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm vào vị trí tư tưởng chính trong văn bia Lý – Trần
Cũng ở phần Duyên khởi của văn bia, tư tưởng Thái cực sinh lưỡng nghi,
âm dương ngũ hành, bát quái trong Dịch kinh Nho gia, Vô sinh hữu, hữu sinh vạn vật trong Đạo Đức kinh, Nam Hoa kinh của Đạo gia được lồng ghép một
cách hài hòa, nhuần nhị cùng các tư tưởng hai kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm của Phật gia được ghi nhận ở ít nhất 5 bia Lý, 3 bia Trần Lại có ít nhất 8 bia Trần so sánh sự đồng dị rồi quy về điểm chung giữa tư tưởng: Thận chung truy viễn dân đức quy hậu, hiếu, quân tử tùy thời, tích thiện dư khánh, vì nghĩa quên tài của Nho gia với tư tưởng từ bi, bố thí, nhân quả thiện ác báo ứng của Phật gia Sự xuất hiện của Phật – Thánh và vai trò của họ trong vũ trụ nhân sinh cũng được ghi nhận khá thống nhất và rõ ràng Kết hợp với số tác giả soạn bia Phật giáo Lý – Trần (7 Nho gia, 4 Phật gia thời Lý; 9 Nho gia, 3 Phật gia thời Trần), người đứng ra xây dựng công trình Phật giáo (11 Nho gia, 2 Phật gia thời Lý; 10 Nho gia, 5 Phật gia thời Trần) như một hiện tượng văn hóa đặc biệt đương thời với các yếu tố Phật- Đạo- Nho hàm tàng từ góc độ học thuật, tôn giáo, chính trị, xã hội thể hiện ở những con người ấy đủ để chúng tôi triển khai chương Tương quan tam giáo qua tư liệu văn bia Lý- Trần (chương 4)
Ở phần thuộc về công trình được xây dựng, trùng tu, những yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể, cụ thể là không gian tôn giáo (chùa, tháp) và thực hành tôn giáo (tu tập, hành lễ) được ghi nhận khá đầy đủ và sống động Về không gian hiện hữu của chùa, văn bia vừa ghi nhận về bốn hướng chùa, vừa khẳng định không gian chùa đó vốn là thắng tích cổ (7 bia Lý, 6 bia Trần), là thắng cảnh đặc biệt (5 bia Lý, 5 bia Trần) của đất Việt đương thời Như thế, không chỉ khẳng định giá trị về yếu tố địa lý mà còn khẳng định giá trị về lịch sử, văn hóa của ngôi chùa, đậm chất cội nguồn Ấn, nhưng cũng đủ tính sáng tạo Việt Về kiến trúc chung của ngôi chùa, những đơn nguyên cụ thể có trong loại
10 Tất cả những ghi nhận này đều có bảng thống kê trong phần triển khai chính)
Trang 23hình mặt bằng chung, chữ Tam được ghi nhận ở ít nhất ở 8 bia Lý, 5 bia Trần;
hệ thống tượng pháp (có ở 8 bia Lý, 6 bia Trần), bích họa (có ở 5 bia Lý, 1 bia Trần) đủ cả Hiển giáo, Mật giáo xuất hiện trong Phật điện, ngôi chùa Phật giáo thời Lý – Trần hiện lên thật trang nghiêm, đáng nghiên cứu, đáng trình bày Bảo tháp thờ xá lợi Phật (có cả Phật Đa Bảo, có cả bích họa) – Tổ thuộc Hiển giáo và bảo tháp Mật giáo (với hệ thống 5 hoặc 7 Phật ở hội đèn Quảng Chiếu trong bia tháp Sùng Thiện Diên Linh) với vị trí chính, phụ trong ngôi chùa được ghi nhận trong 1 bia Lý (tháp Sùng Thiện Diên Linh, thêm 2 bia chùa Hương Nghiêm, Viên Quang), 3 bia Trần đủ để phục dựng nên hệ thống tháp Phật thời Lý – Trần
Về lễ hội, tuy chỉ có 7 văn bia Lý, 4 văn bia Trần ghi nhận về lễ hội Phật giáo, và chủ yếu vẫn là lễ khánh thành công trình, nhưng riêng hai bia tháp Sùng Thiện Diên Linh thời Lý, tháp Viên Thông Thanh Mai thời Trần lại ghi nhận khá rõ ràng, cụ thể các loại hình lễ hội chính trong Phật giáo Điều này cho phép chúng tôi tái hiện lại bốn loại hình lễ hội tiêu biểu: Thiết lập tứ chúng, kỷ niệm, cầu nguyện, khánh tán Ngoài ra, cũng ở những văn bia trên, bố cục của một lễ hội, chức năng của lễ hội được ghi nhận tương đối rõ ràng, sống động, cần được nghiên cứu, tìm hiểu nguồn gốc trong Phật giáo Ấn, tìm hiểu giá trị riêng của Phật giáo Việt, giúp phục dựng lại một cách trọn vẹn lễ hội Phật giáo thời Lý – Trần
Tất cả văn bia ghi nhận về những yếu tố nêu trên đều có bảng biểu chi tiết trong các phần viết ở các chương cụ thể của nó phía sau
Bảng 1.1 28 văn bia Lý – Trần đƣợc chọn lựa:
Giác
Trang 248 古越村延福寺碑銘并
序
Trang 25tưởng Chân không diệu hữu, Tam giáo hợp sáng… trong những tác phẩm mang tính văn hóa tư tưởng chuyên biệt về Phật giáo hoặc ngoài Phật giáo, hoặc chỉ gợi nhắc yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo trong các tác phẩm chuyên biệt về văn bia dưới góc độ văn bản học đã phần nào cho thấy được giá trị vốn có trong văn bia Lý – Trần Chính những điều này đã gợi mở và giúp xác định hướng nghiên cứu các yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo trong luận án
Song, từ những câu văn cụ thể trong mỗi văn bia, được lặp lại nhiều lần trong nhiều văn bia Lý – Trần, tác giả luận án quyết định chọn nghiên cứu các yếu tố văn hóa tư tưởng Phật giáo trong văn bia theo góc độ tôn giáo Cụ thể là không gian tôn giáo, thực hành tôn giáo, triết lý tôn giáo và sức ảnh hưởng của tôn giáo đối với xã hội đương thời Không gian tôn giáo tái hiện lại ngôi chùa, ngôi tháp của thời Lý – Trần với loại hình mặt bằng, tượng thờ, tranh vẽ đặc trưng của Phật giáo đương thời; thực hành tôn giáo cho phép phục dựng lại hình thức tu hành, cụ thể ở đây là các lễ hội tiêu biểu trong Phật giáo; triết lý tôn giáo ghi nhận rõ ràng sự hiện hữu của kinh điển cụ thể Pháp Hoa, Hoa Nghiêm của Phật giáo đương thời, xác định rõ yếu tố lý thuyết gắn liền với yếu tố thực hành của một tôn giáo; sức ảnh hưởng của tôn giáo ở đây chính là yếu tố tịnh hành ba giáo Phật – Đạo- Nho Thể hiện sự dung hợp hài hòa, vận dụng khéo léo của những người học Phật, học Nho, (học Đạo) trong đời sống tôn giáo và xã hội, cá nhân và cộng đồng, hiện tại và tương lai Tất cả những điều này góp phần khẳng định những giá trị đã tạo nên một thời kỳ Phật giáo hoàng kim Lý – Trần của đất Việt
Trang 26CHƯƠNG 2 VĂN HÓA PHẬT GIÁO QUA TƯ LIỆU VĂN BIA LÝ –
TRẦN: CHÙA – THÁP- LỄ HỘI
Những công trình kiến trúc chùa chiền, bảo tháp, hồng chung… mà thuật ngữ chuyên môn nhà Phật gọi là pháp khí, nghĩa là những khí cụ có giá trị như giáo pháp hoặc làm rõ giáo pháp là những công trình tôn giáo phổ biến ở hầu hết các quốc gia có sự hiện hữu của Phật giáo Sự hiện hữu của những công trình ấy cũng là sự hiện hữu của rất nhiều yếu tố chính trị, văn hóa, xã hội, tôn giáo, học thuật, nghệ thuật… thuộc không gian thời gian lớn nhỏ chung riêng của nhân loại Lễ hội vốn là một trong những nét văn hóa tín ngưỡng chung của nhân loại Bởi nó không chỉ là hình thức bày tỏ lòng thành kính, ước nguyện, mong mỏi của con người, mà còn là cách thức thể hiện sự chúc tụng, kỷ niệm, đánh dấu…
về một nhân vật, sự kiện… nào đó trong cuộc sống thường nhật Vì thế lễ hội luôn đậm chất thiêng liêng, trang nghiêm mang tính tín ngưỡng đối với con người và thường gắn với hoạt động tôn giáo Phật giáo là một tôn giáo, lễ hội vì thế cũng là một trong những hoạt động không thể thiếu trong đời sống tu học hành đạo của người con Phật, trong đó có Phật giáo thời Lý – Trần của Việt Nam
Những công trình văn hóa vật thể và phi vật thể này được kế thừa từ tinh thần phương tiện quyền xảo vốn có trong truyền thống Phật giáo cội nguồn Ấn
Độ nhưng không ngừng được cải biến, bổ sung nhằm thích ứng với văn hóa từng vùng miền, từng thời đại, từng quốc gia dân tộc trong quá trình truyền bá của Phật giáo Điều này được minh chứng tương đối rõ ràng, cụ thể trong hệ thống văn bia Lý – Trần
2.1 Văn hóa vật thể Phật giáo qua tư liệu văn bia Lý – Trần: Chùa - Tháp
Phần này luận án tìm hiểu các yếu tố liên quan đến chùa – tháp gồm: Thứ nhất là tên gọi chùa - tháp; thứ hai là không gian tồn tại của chùa- tháp; thứ ba là kiến trúc của chùa – tháp
2.1.1 Tên gọi của chùa – tháp
Bảng 2.1 Tên gọi chùa tháp trong văn bia Lý
Sát, Thiền Cơ, Đổ Ba
Phù Đồ
Trang 27Bảo tháp
并序
Chiêu Đề, Chi Đề, Tháp Miếu
Lam)
Thiền Lâm, Tịnh Sát, Tịnh Thất, Bảo Sở
Bảng 2.2 Tên gọi chùa tháp trong văn bia Trần
Vũ
Trang 284 延福院碑 Cảnh, Viện
Lâm
Bảng thống kê trên cho thấy mấy điều sau:
Thứ nhất, tên gọi chung của chùa - tháp là Tự - Tháp Tự - Tháp thể hiện
rõ nhất ở hầu hết trên biển đề của chùa và tháp11
Thứ hai, chùa - tháp còn được gọi với nhiều tên khác nhau Có khi được gọi một cách lẫn lộn Có khi được gọi tách biệt
Tự là từ của người Hán sử dụng Theo Mạc Chấn Lương, tác giả cuốn
Tạc tượng Phật và kiến trúc chùa thì “Tự vào thời Hán vốn là tên gọi dinh thự
làm việc của quan chức cấp cao, ví dụ Thái thường tự là cơ quan coi việc thi tuyển và nghi lễ, Thái bộc tự là cơ quan quản lý việc xe ngựa…” [47, tr 16 – 17]
Còn theo Từ điển Phật học Hán Việt ghi nhận: “Nhà Hán đặt ra Hồng lô tự để
tiếp đón tân khách Đến năm Vĩnh Bình Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, tổ
sư Ma Đằng, Pháp Lan đã đến ở tại Hồng lô tự Năm sau nhà vua lập chùa Bạch
Mã ở phía tây thành Lạc Dương, nhân đó mà đặt tên chùa, coi các tổ sư từ phương Tây tới là khách quý, được tiếp đón long trọng” [121, tr 1468] Như vậy,
“Tự” ban đầu vốn không có nghĩa là chùa Phật, mà nó chỉ là địa điểm dừng trú
11 Tên gọi chung của chùa tháp bằng chữ Hán là Tự, Tháp có trong tên văn bia hay trong văn bia tác giả không liệt kê, chỉ liệt kê những tên gọi chùa tháp khác hai chữ này, nhằm làm nổi bật tính phong phú của tên gọi chùa tháp, cũng làm nổi bật khả năng am tường tri thức Phật giáo, cách sử dụng linh hoạt của các tác giả văn bia
Vì thế một số văn bia chỉ có hai chữ Tự Tháp thì không được nêu ra trong bảng thống kê
Trang 29của hai nhà truyền giáo Ấn Độ đầu tiên trên đất Trung Hoa và nó còn hàm nghĩa
là nơi trang trọng, nơi cao cấp
Có điều, tất cả các từ “Tự” này trong văn bia khi được dịch sang chữ Việt,
hầu hết đều được dịch là “Chùa”, “Chùa chiền”, như cách dịch tên bia của hầu
hết các bia về chùa: Bài ký bìa chùa Báo Ân núi An Hoạch, Văn bia chùa Bảo
Ninh Sùng Phúc, Văn bia chùa Hưng Phúc … hoặc trong nội dung văn bia như
“chùa chiền đã chiếm mất một nửa” trong Văn bia chùa Khai Nghiêm là dịch từ
câu “tự cư kỳ bán”… [7, tr 748] và trong một số văn bản cổ của người Việt còn
gọi là “Chiền”12 Về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa cơ bản, “Chùa, Chiền, Chùa
chiền” không liên quan đến “Tự” Theo ghi nhận của Hà Văn Tấn trong Đến với
lịch sử văn hóa Việt Nam: “Có người cho rằng chùa bắt nguồn từ chữ Thupa
(tiếng Pali) hay Stupa (tiếng Sanskrit) của Ấn Độ Do chỗ chùa Việt ban đầu có dạng tháp Thupa hay Stupa bị người Việt rút ngắn chỉ còn lại Thu hay Stu và từ
đó trở thành Chùa Và đó chỉ là giả thiết” [73, tr 175] Thuật ngữ Thupa, Stupa
mà Hà Văn Tấn nói ở đây chính là từ “Tháp” trong tiếng Hán Việt Theo Từ
điển Phật học Hán Việt “Tháp, tiếng phạn là Stupa, Thupa, phiên âm Hán Việt
là Tốt Đổ Ba, Thân Bà, Phù Đồ…, Xếp đất đá cao lên để cất giữ hài cốt vào đó, nên cũng dịch là Tụ tập… Có khi còn gọi là Chi đề, Chế để.” [121, tr 1193]
Theo Phật Quang đại từ điển thì “Chi đề còn gọi là Chi đế, Chi đà, Chi trưng,
Chế đa, Chế để, Chế để da Có nghĩa là tích tập, còn dịch là Tụ tướng Khi hỏa táng Phật, người ta tích tụ củi thơm thành một đống to, đó là nguồn gốc của từ Chi đề Về sau, tại các nơi linh tích của Phật, người ta xếp gạch, đất thành đống cao to, và bảo phúc đức to lớn của Phật tập trung ở đó Cho nên hễ nói đến Tháp miếu, Linh miếu, Miếu… đều gọi là Chi đề Ngoài ra, những kiến trúc được tạo thành từ việc đục khoét hang đá cũng gọi là Chi đề” [15, tập 1, tr 896] Tập hợp những ghi nhận trên có thể thấy “Chùa, Chùa chiền, Chiền” của người Việt vốn theo nghĩa cơ bản và mở rộng của từ Ceitya, Stupa của tiếng Ấn, và với kiến trúc chung là chùa tháp – Nơi tu tập của người học Phật và nơi thờ xá lợi Phật cùng xá lợi chư tăng
Ngoài ra, theo phẩm Bốn ý đoạn trong bộ Tăng nhất a hàm thì có bốn
hạng người được dựng tháp cúng dường: Như Lai, Bích chi phật, A la hán và Chuyển luân vương Vì «Như Lai là người đủ mười lực, bốn món vô sở úy, hàng phục những ai chưa hàng phục, cứu độ…, khiến chứng đắc đạo quả…, mọi người gặp được, trong lòng vô cùng hoan hỷ… ; Bích chi phật không thầy mà tự
12
Ví dụ câu “Dựng cầu đò dồi Chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu; năng hỷ xả nhuyễn từ
bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc” trong Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông
Trang 30ngộ, đoạn trừ kiết sử, không còn tái sinh ; A la hán dứt hết lậu hoặc, không còn tái sinh; Chuyển luân vương tự hành thập thiện, tu mười công đức, và còn dạy
mọi người làm như mình» [93, tập 2, tr 71 – 72] Còn trong Tăng kỳ luật lại cho
phép phàm là người xuất gia sau khi mất đều được xây tháp chỉ khác nhau về kiến trúc cao thấp to nhỏ mà thôi13 Điều đó có nghĩa là những người đủ các đức tốt đẹp trong Phật giáo, tự độ độ người đều xứng đáng được xây tháp cúng dường dù đã thành tựu quả giác hay chưa, nhưng sự phân chia chủng loại tháp vẫn phải rõ ràng
Theo các kinh Tiểu tạng như Tăng nhất a hàm, Trường a hàm … ban đầu
tháp Phật hay thánh chúng được dựng ở ngã tư đường để dân chúng đi ngang, trông thấy tháp mà tưởng nhớ lại đạo hóa của các vị, sống thì được hưởng phúc lợi, chết thì sinh lên cõi trời Thế nhưng, sau khi Phật nhập diệt, xá lợi của Phật được chia cho tám nước, xây dựng tám tháp, thêm 2 tháp đựng bình chia xá lợi ở nhà Bà la môn chia xá lợi và tháp đựng tro cho các lực sĩ thôn Tất Bát Đến khi vua A Dục lên ngôi, cho đào xá lợi ở tám tháp trên, tạo thành tám vạn bốn ngàn bảo tháp Bốn thánh tích: Nơi sinh, nơi xuất gia, nơi chuyển pháp luân đầu tiên, nơi nhập niết bàn của Phật đều có tháp thờ xá lợi Phật Song, dù ở ngã tư đường hay ở các thánh tích, đó đều là nơi linh thiêng Bởi ngã tư đường của vùng đất Phật Thích Ca nhập diệt vốn là nơi mà chư Phật quá khứ nhập diệt Và chính vì thế, về sau những nơi có bảo tháp Phật đều trở thành già lam tu học của người học Phật, kiến trúc chùa tháp được gắn liền là vậy Hệ thống văn bia Lý như đã dẫn, trong nhiều trường hợp sử dụng thuật ngữ liên quan đến yếu tố chùa – tháp
lẫn lộn này hơn là văn bia Trần Thí dụ như trong Minh tịnh tự bi văn, Ngưỡng
sơn linh xứng tự bi minh, Cổ việt thôn diên phúc tự bi minh tịnh tự thời Lý,
vừa sử dụng thuật ngữ Đàn ba, Đổ ba, Tháp miếu, Chiêu đề, Chi đề, vừa sử dụng thuật ngữ Tự và các thuật ngữ khác Thiền cơ, Tịnh sát, Bảo giới để nói
về ngôi chùa Minh Tịnh, Linh Xứng, Diên Phúc
Ngoài tên chung đã nêu ở trên, “Tự” được gọi bằng một số cụm từ cố
định, hoặc có các từ: “Sát, Vũ, Giới” đi kèm phía sau một từ khác Theo các từ điển Phật học đã dẫn trên, “Sát” có tiếng Phạn là Ksetra, nghĩa là cõi nước, nơi
chốn Ngoài ra còn có tiếng Phạn là Laksata, nghĩa là cột phướn, cột cờ Chùa Phật được gọi là Sát, Bảo sát, Tịnh sát, Tăng sát, Đại sát, Cổ sát vì trước chùa
Phật đều có dựng phướn dài Và chùa Phật cũng được coi là một cõi Phật Các
từ phía trước: Bảo là nghiêng về tính quý báu của ngôi chùa, cũng hàm nghĩa chùa được làm bằng các nguyên liệu quý báu; Tịnh là nghiêng về ý nghĩa thanh
13 Dẫn theo ghi nhận trong Từ điển Phật học Hán Việt, sách đã dẫn, 1998, tr 1193
Trang 31tịnh, tịch tịnh, hướng đến sự tịch tịnh, thanh tịnh; Tăng là nghiêng về nghĩa đồ chúng của Phật giáo, nghiêng về phía người học đạo và hành đạo Có thể thấy
các câu “Bảo sát tòng tư cơ bố” trong Thiệu long tự bi… “Vũ” vốn có nghĩa cơ
bản là ngôi nhà rộng, văn bia Lý – Trần thường kết hợp từ Vũ trong các cụm từ như Phạn vũ, Cam vũ, Tự vũ để chỉ chùa Phật, như “kinh thủy cam vũ” trong
Bảo ninh sùng phúc tự bi, “cam vũ tinh phân” trong Viên quang tự bi minh…
Phạn là nghiêng về nghĩa nơi xuất phát của Phật giáo: Ấn Độ; Cam nghiêng về nghĩa hàm chứa, cũng có nghĩa màu tóc xanh biếc của Phật, màu cõi nước của
Phật “Giới” vốn có nghĩa là cõi nước Chùa Phật cũng là được coi là một cõi
Phật Giới đi kèm trong các cụm từ: Bảo giới, Tịnh giới, Kim giới như Kim giới
trong Bảo ninh sùng phúc tự bi, Bảo giới trong Ngưỡng sơn linh xứng tự bi minh,
Thiệu long tự bi… Ý nghĩa của Bảo, Kim, Tịnh giống trong thuật ngữ có kèm từ
Sát
Các thuật ngữ “Già lam, Đại già lam, Tòng lâm” vốn xuất phát từ cụm
từ Sanghasara trong tiếng Phạn, tiếng Hán phiên âm là Tăng già lam, hoặc Chúng viên, nghĩa cơ bản là một khu vườn, khu rừng giành cho những người
xuất gia tu học Khu vườn, rừng này là một quần thể kiến trúc gồm có nhiều Vihara (những cốc nhỏ, tăng phòng), giảng đường (sau này còn là nơi thờ Phật),
có cả nhà ăn và các công trình phụ trợ khác… Theo truyền thống Ấn Độ, những người xuất gia tu hành phần lớn đều sống ở trong rừng, vườn tự nhiên… vừa đảm bảo sự yên tĩnh cho việc tu học thuộc phương diện tâm linh, vừa đảm bảo nhu cầu vật chất tối thiểu cho sự tồn tại của thể chất ở ba phương diện ăn, mặc
và ở Đạo Phật tiếp thu truyền thống này Có điều, vì tránh việc đi lại tổn hại sức khỏe người tu cũng như sinh vật nhỏ sinh sản mạnh vào mùa mưa, và cũng để tiện cho người tại gia có cơ hội nghe pháp, thực hành pháp theo nếp sống người xuất gia bên cạnh việc cúng dường vật phẩm, nên ba tháng này người học Phật cần có chỗ trú ngụ ổn định để tĩnh tu Trúc Lâm viên nằm ở phía Bắc thành Vương Xá (Rajagaha) thuộc vương quốc Ma Kiệt Đà (Maghadda) do quốc vương Bình Sa (Bimbhisara) cúng dường, hay Kỳ viên ở nước Xá Vệ do trưởng giả Cấp Cô Độc và thái tử Kỳ Đà cúng dường… chính là những Tăng già lam tiêu biểu của Phật giáo Ấn Độ Văn bia Lý – Trần tiếp thu nghĩa này nên đôi chỗ chùa Phật được ví là thành Vương Xá (cách gọi thay cho Trúc Lâm viên), Kỳ Viên, Già lam, Tòng lâm như bảng thống kê trên
“Bảo sở” là thuật ngữ gọi ngôi chùa Phật, nhưng ảnh hưởng bởi kinh
Pháp Hoa Phẩm Hóa thành dụ của kinh này có đề cập đến thuật ngữ Bảo sở
Thuật ngữ này chỉ nghĩa cảnh giới Phật đích thực, cũng tương đương với nghĩa
Trang 32Phật tính, Bản lai diện mục, Bản thể Trong Phụng thánh phu nhân lê thị mộ chí,
Viên quan tự bi minh sử dụng thuật ngữ Bảo sở này
“Thiền Cơ, Thiền Viện, Cảnh, Viện” là những thuật ngữ ảnh hưởng
Thiền tông Viện là từ chỉ không gian có tường bao xung quanh Hầu hết chùa thời kỳ này được bố trí khá đăng đối, và thường có không gian vuông vắn Cảnh
là cảnh giới, một cõi nước, một không gian cụ thể Nhưng Cảnh trong Phật giáo còn có nghĩa là đối tượng để tâm và thức cảm biết, tư duy Có lẽ vì thế, trong
Thiền tông, cụ thể là trong các tác phẩm lịch sử Thiền như Cảnh đức truyền
đăng lục của Trung Hoa, Thiền đạo yếu học của thiền sư Pháp Loa thời Trần…14thường dùng thuật ngữ này để chỉ Thiền viện, nơi hoằng pháp của một thiền sư
Các bia thời Trần sử dụng nhiều thuật ngữ này như Cảnh, Viện trong Diên phúc
viện bi, Viện trong Thanh mai viên thông tháp bi, Cảnh trong Sùng khánh tự bi
Các thuật ngữ “Bảo tháp, Tốt đổ, Tốt đổ ba, Đổ ba, Phù Đồ” hoặc là
phiên âm của từ Stupa, Thupa trong tiếng Phạn, hoặc thêm nghĩa quý báu… để chỉ riêng biệt cho ngôi tháp thờ xá lợi Phật hoặc xá lợi chư tăng
Thuật ngữ “Đại danh lam” trong Phụng thánh phu nhân lê thị mộ chí
được dẫn ra ở trên xuất phát từ việc xếp hạng chùa Phật nhằm khẳng định sự quan tâm toàn diện của hai vương triều Lý – Trần đối với Phật giáo Theo ghi
nhận của Đại Việt sử ký toàn thư thì “Mùa xuân, tháng giêng, năm Quảng Hựu
thứ tư (1088) định các chùa trong nước làm ba hạng: Đại, Trung, Tiểu danh lam, cho quan văn chức cao kiêm làm Đề cử Bấy giờ nhà chùa có điền nô và kho chứa tài sản nên đặt chức ấy” [45, tập 1, tr 282] Một số văn bia Lý – Trần khác cũng chứng minh thêm điều này: “Vốn có Đại danh lam cổ tích, Thái Tông hoàng đế triều Trần ngự chế khai sáng chùa A Nậu, lưu ruộng Tam bảo gồm 910 mẫu ba sào để phụng sự Phật – Pháp – Tăng” [130, tr 43], “Minh Tông hoàng đế
hạ chiếu ban tên chùa là Đại thành danh lam Thắng Nghiệp luật tự” [130, tr 405]… Chính sách phong hiệu, cấp điều kiện kinh tế này của nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động Phật giáo Có điều mặt trái của chính sách này cũng là một trong những yếu tố góp phần dẫn đến sự suy yếu của Phật giáo ở cuối hai thời này Cụ thể là việc sa thải tăng đồ vào năm Thiên Tư Gia Thụy 13 (1198) thời vua Lý Cao Tông, việc chỉ trích mặt trái của Phật giáo của một số danh Nho thời Trần như Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu…
14
Đây là ý nghĩa thuật ngữ Cảnh trong Thiền đạo yếu học: “Khi đã liễu ngộ chính tông rồi thì chọn
cảnh mà dừng trú, tránh những nơi nước độc non thiêng Cảnh có bốn điều: Một là nước, hai là lửa, ba là lương thực, bốn là rau củ Đây là bốn điều cần Lại cũng nên biết, cảnh không gần nhân gian, mà cũng không xa nhân gian Vì gần thì ồn ào mà xa thì không ai giúp đỡ Cảnh có thể là chỗ trú ở an nghiệp, dễ dưỡng thần, nuôi tính, khiến tâm linh sáng suốt, trưởng dưỡng thánh thai, để được chứng đạo, ấy là cứu cánh” (Thơ văn Lý – Trần)
Trang 33Có thể nói, tên gọi chùa –tháp trong văn bia Lý – Trần vô cùng phong phú
Nó kết hợp cả yếu tố ngữ âm ngữ nghĩa của tiếng Phạn, tiếng Hán Nó thể hiện được cá tính Việt trong việc sử dụng từ gọi tắt thuật ngữ Phạn, tạo nên tên gọi chùa, chùa chiền, chiền rất gần gũi, giản dị, phù hợp với đời sống Việt Nó còn thể hiện được yếu tố Phật giáo thời đại, tức Phật giáo Thiền tông đang thịnh hành ở thời Lý – Trần Nó cũng ghi dấu giáo điển thịnh hành của Phật giáo Lý – Trần (sẽ được tìm hiểu rõ ở chương tư tưởng) đó là giáo điển Pháp Hoa, Hoa Nghiêm Vì Vương Xá thành (cụ thể là núi Linh Thứu), Kỳ Viên là hai nơi mà hai kinh điển kia được thuyết giảng
2.1.2 Không gian tồn tại của chùa - tháp
2.1.2.1 Không gian của chùa
Như trên đã nói, chùa- tháp là pháp khí không thể thiếu đối với người học Phật, đặc biệt là ngôi chùa Vì thế, không gian hiện hữu, tức là vùng đất để xây dựng ngôi chùa luôn là điều kiện cơ bản cho sự hiện diện của ngôi chùa Song tùy theo văn hóa của mỗi vùng miền, mỗi thời đại mà không gian ấy được thiết
kế theo quan niệm khác nhau Không gian hiện hữu của ngôi chùa trong văn bia
Lý – Trần thể hiện ở hai điểm: Thứ nhất là bốn hướng xung quanh chùa mà thời
Lý thường ghi là tiền hậu tả hữu, hoặc đông tây nam bắc, còn thời Trần thì ghi thêm là chấn đoài ly khảm; thứ hai là không gian chính của chùa Không gian chính của chùa thời này thường là: Thắng tích cổ và Thắng cảnh
Bảng 2.3 Không gian chùa thời Lý – Trần
GHI CHÚ15
Dấu tích Phật
tổ
Dấu tích vua chúa
Tổ tiên
Nơi
có vật đặc biệt
Nơi
có địa thế đẹp
Trang 344 崇嚴延聖寺碑
銘
4 hướng đầy đủ
+
+
四帝崇善延齡
塔碑
4 hướng đầy đủ
+
Có dấu tích của vua chúa
碑銘
+
銘
+
Địa thế đẹp
碑銘并序
4 hướng đầy đủ
+
聖碑
4 hướng đầy đủ
+
Có dấu tích của vua chúa
墓志
+
Có dấu tích của vua chúa
đầy đủ
+
+
+
+
Thắng cảnh đẹp
Trang 35đầy đủ
+
Có dấu tích của vua chúa
và thiền
A Bốn hướng xung quanh chùa:
Bảng thống kê trên cho thấy, có 7 văn bản thời Lý và 7 văn bản thời Trần đều ghi nhận tương đối rõ ràng về bốn hướng xung quanh chùa Điều đó cho thấy yếu tố tựa, hướng, chầu, hầu của một ngôi chùa rất được coi trọng Theo ghi nhận trong ngần ấy văn bia đề cập đến bốn hướng thì xung quanh đa phần có núi, sông, đồng ruộng, làng mạc, đường xá
Bốn hướng xung quanh này hoặc được diễn tả một cách chung chung như: 前依赤帝之方,境列古戰之縣,井分攸耿,緣茂如雲。後聯翔鵬之堣,旁聳白龍之岫,橫注清流,勢成一帶。左達堣夷之表,支隔分為之間,遙拂扶桑,敬賓出日,右通昧谷之都,逼鎮堯岳之巍,寅餞斜暉,隙臨疏牖。
«Phía trước hướng về phương Nam, ở vào đất huyện Cổ Chiến, đồng ruộng san sát, xanh tốt như mây Phía sau liền gò Tường Bằng, bên cạnh vút ngọn Bạch Long, sông trong chảy bên, hình thành một dải Bên tả thông tới cõi Ngung Di, trong khoảng giới hạn ngăn cách, xa vén cõi Phù Tang, kính cẩn đón mặt trời mọc Bên hữu suốt tới kinh Muội Cốc, tới tận ngọn núi nguy nga, kính cẩn tiễn ánh chiều tà, lướt qua khe cửa» [95, tr 73]
Hoặc được miêu thuật tương đối kỹ càng với những chức năng cụ thể, đối tượng ảnh hưởng không chỉ là người học Phật, mà còn là mọi thành phần xã hội; không chỉ một lớp bốn hướng mà còn nhiều lớp bốn hướng, nghĩa là bốn hướng
xa, bốn hướng gần, như: 念其東有聚落,陸離屋舍,可為豪家之富貴。其南
Trang 36挹長江,出大海之口,可為世界之溟茫。其西有涇,脈絡透到摩尼山大利之鄉,可為郡縣之壯觀。其北有大路,引出神頭之海口,可為去來之信宿。罡以四方為界,鎮於雲磊山之主也。今有荒土鹹水,腳山用當二面有餘,東近小陌溪山,出水為界。西取尾山,底出聚人為界。流通常住三寶,以養眾僧,補助莫留頹壞 «Đông có xóm làng, cửa nhà đông đúc, có thể làm nơi chung đỉnh của hào gia Nam gần sông lớn, chảy tới biển khơi, có thể làm chốn mênh mông cho thế giới Tây có sông Kinh, len lỏi tới hương Đại Lỵ, núi Ma Ni, có thể làm cảnh tráng quan cho các vùng quận huyện Bắc kề đường lớn, ăn thông tới Thần Đầu hải khẩu, có thể làm nơi nghỉ tốt cho kẻ lại người qua Đúng là dùng bốn phía làm giới phong, đứng trấn ở non Vân Lỗi, vì non này là chủ các non Nay có đất hoang, chân non sát liền nước mặn, thường sử dụng còn thừa Đông gần đường nhỏ, lấy nguồn nước khê sơn làm giới hạn Tây giáp Vỹ sơn, lấy chốn họp đông người làm giới hạn, việc lưu thông thường ở nhà chùa để nuôi tăng, cho tu bổ lại không để đổ nát» [49, tr 133]
Song, việc miêu thuật bốn hướng chùa trong văn bia Lý – Trần này vốn xuất phát từ nguồn gốc Phật giáo Ấn Độ và tiếp nối tinh thần Phật giáo Việt trước đó Theo truyền thống tu học của Ấn Độ, không gian đầu tiên của ngôi chùa Phật giáo Ấn thường là khu rừng, khu vườn, hoặc những vùng rừng núi thiêng liêng và điều đó được minh chứng bằng rất nhiều trung tâm Phật giáo đầu tiên tại Ấn như Trúc Lâm viên, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên, Linh Thứu sơn Bởi khu vườn, khu rừng, vùng rừng núi thường đáp ứng được các nhu cầu vật chất như ăn, mặc, ở, nhu cầu tinh thần như việc rèn dũa, tu tập, chứng đắc của người
xuất gia Kinh Khu rừng trong Trung A Hàm ghi nhận: “Tỳ kheo nương vào khu
rừng để ở Vị ấy nghĩ rằng: Ta nương vào khu rừng này để ở, hoặc không có chính niệm sẽ được chính niệm, tâm chưa định sẽ được định, chưa được giải thoát sẽ được giải thoát, các lậu chưa diệt tận sẽ được diệt tận, chưa chứng đắc niết bàn an ổn sẽ được chứng đắc Điều người học đạo cần như áo chăn, thức uống, thức ăn, giường chõng, thuốc thang, các vật dụng cho đời sống, tìm cầu một cách dễ dàng, không khó khăn” [71, tập 2, tr 279]
Ở Việt, trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Lê Mạnh Thát ghi nhận rằng thiền sư Chân Nguyên (1647 – 1728) trong Thiên Nam ngữ lục có nói đến một
ngôi chùa tên Trúc Viên ở Sài Sơn, tức núi Sài thuộc thời Lữ Gia, khoảng 110
tdl, và Lưu Hân Kỳ trong Giao châu ký chép: “Thành Nê Lê phía nam huyện
Định An, cách sông bảy dặm, chùa tháp do vua A Dục (247 – 232) dựng vẫn còn Những người đốn củi gọi là Kim Tượng” [89, tr 29, 33] (hiện nay người ta đã tìm thấy ngôi chùa này ở núi Thạch Bàn thuộc vùng Tam Đảo) Có thể thấy, có
Trang 37nhiều ngôi chùa Việt từ xưa cũng được xây dựng trên những ngọn núi thiêng, gắn liền với rừng tự nhiên, và là nơi phong cảnh tươi đẹp
Thời Lý -Trần, không gian xung quanh ngôi chùa cũng được các Thiền sư coi trọng, và diễn giải bằng ngôn ngữ cụ thể, gần gũi hơn Thiền sư Không Lộ (? – 1119) đã từng chọn nơi ở tu của mình là “Long xà địa”, tức nơi ở vừa có tính
thiêng liêng, vừa có tính linh hoạt, uyển chuyển Thiền sư Pháp Loa trong Thiền
đạo yếu học thì bảo: “Khi đã liễu ngộ chính tông rồi thì chọn cảnh mà dừng trú,
tránh những nơi nước độc non thiêng Cảnh có bốn điều: Một là nước, hai là lửa,
ba là lương thực, bốn là rau củ Đây là bốn điều cần Lại cũng nên biết, cảnh không gần nhân gian, mà cũng không xa nhân gian Vì gần thì ồn ào mà xa thì không ai giúp đỡ Cảnh có thể là chỗ trú ở an nghiệp, dễ dưỡng thần, nuôi tính, khiến tâm linh sáng suốt, trưởng dưỡng thánh thai, để được chứng đạo, ấy là cứu cánh” [73, tr 177- 178]
Ca thuyết giảng giáo pháp khi xưa như núi Linh Thứu ở vương quốc Ma Kiệt Đà, núi Lăng Già thuộc Tích Lan, hoặc giống với các trung tâm Phật giáo thời Phật còn tại thế như Trúc Lâm ở Ma Kiệt Đà, Kỳ Viên ở Xá Vệ…, cũng có thể là nơi
có thờ Phật với những kỳ tích còn lưu lại, đồng thời nơi đó ắt là nơi tu hành của một ẩn sĩ thời trước Bởi chính họ mới là những người phát hiện ra dấu ấn Phật
và tôn tạo, trang nghiêm lên khiến Phật không còn chỉ là Phật ở Ấn Độ nữa 其山也,聳稜伽之繞,生寶月之秋,有奇尺梯,入圓龕,石龕也,五色雲成就,七珠寶纍垂,蛛網相連,銖衣間綵。下存佛跡,中裝倪臺。其跡也,
Trang 38白玉在底,青龍盤外。其臺也,犀角鎮傍,燈釭連次。豈模仗室,即模鷲峰。昔隱者功德所成,豈神靈造化所異: “Ngọn núi ấy sừng sững như Lăng Già bao bọc, vằng vặc một vầng trăng thu, có bậc thang lạ, dẫn vào khám Phật tròn bằng đá, mây ngũ sắc vần vũ, ngọc thất châu buông rèm Bên dưới còn có dấu tích Phật, ở giữa có đài nghê nguy nga Dấu Phật đó ngọc trắng dưới đáy, rồng xanh cuộn bên ngoài Đài nghê đó tê giác trấn bên cạnh, đèn chuỗi sáng lung linh Há đây giống phòng nghi trượng, mà chính là ngọn Thứu Phong Ngày xưa có bậc ẩn sĩ công đức dựng nên, khác nào thần linh tạo tác dị thường”16
[95, tr 106]
Cũng có những ngôi chùa vừa là dấu ấn của Phật tổ, nhưng cũng là nơi từng du lãm, vi hành của vua chúa, hoặc là nơi mà vua chúa quan tâm cung cấp điều kiện trùng tu và đặt biển hiệu Điều đó khiến cho không gian hiện hữu ngôi chùa càng trở nên linh thiêng hơn, thúc dục sự tôn tạo trùng tu 遇聖駕以省方,至斯洲而駐蹕。。。宜修二梵之功,上祝千齡之運爾。乃擇彼城西南角,厥有古剎遺蹤。基址而磚瓦猶存,棟宇則荊榛已茂。香燈雖廢,風景自殊:
“Gặp thánh giá tuần du, đến châu này dừng gót…, nên tu công đức nhị phàm, đặng mừng vận hội ngàn năm Thế là chọn ở góc tây nam thành, ở đó còn di tích ngôi chùa cổ, gạch ngói vẫn còn mà rường xà thì cỏ gai đã rậm, đèn hương tuy
bỏ, phong cảnh vẫn riêng” [95, tr 129]
Những ngôi chùa mang dấu tích của vua chúa và tổ tiên thì hoặc thuần là
do vua chúa hoàng thân quốc thích thời trước dựng xây, thời này một người nào
đó đứng ra kêu gọi trùng tu lại vì đã đổ nát, hoặc do tổ tiên đời trước dựng xây nhưng chưa hoàn thành hoặc đã hư hỏng, con cháu nối tiếp chí nguyện phục dựng, trong đó hoặc có cả sự ủng hộ của hoàng thân quốc thích 幹尼山香嚴寺即道融禪師。。。重修也。師先祖越愛洲九真郡令族,鎮國樸射黎公,家富豪盛,積穀一百餘拾廩,門養三千客,篤懷善本,恢崇像教,拓茲嘉境,銘傳香嚴貞嚴明嚴三禪院,各勒銘紀之。。。到黎大行皇帝巡遊五縣江,見其寺已頹然,續補構之。到李家太宗皇帝南幸愛洲,覽茲梵宇,綿
chùa do thiền sư Đạo Dung… tu sửa Tổ tiên của sư là Trấn quốc bộ xạ Lê công… Ông dốc lòng vun bồi gốc thiện, tôn sùng tượng giáo, mở mang phong
16
Đây tuy là minh văn chuông nhưng vẫn thuộc hệ thống văn bia thời Lý – Trần Tuy không thuộc văn bia chính được chọn nghiên cứu, nhưng vì có cùng nội dung, văn cú lại hay và đầy đủ Hơn nữa trong mục phạm vi tư liệu nghiên cứu, chúng tôi cũng đã đưa vào nên dẫn ra để minh chứng thêm
Trang 39cảnh đẹp đẽ này, văn bia còn ghi ba chùa Hương Nghiêm, Trinh Nghiêm, Minh Nghiêm đều có văn bia… Tới khi hoàng đế Lê Đại Hành tuần du đến giang Ngũ Huyện, thấy chùa chiền ở đó đổ nát, liền cho tu bổ dựng thêm Rồi đến hoàng đế Thái tông nhà Lý đi tuần du phương Nam tới châu Ái, xem chùa chiền nơi đây, thờ tự bao đời, cột rường xiêu đổ, cho xây dựng lại …” [95, tr 201]; 大越國黃州蔓底鄉有翁樓寺,扁為福明者。昔傳靈仁太后之所創也 故立其境已深久,多歷春秋歲月。迨于丙子年中,其社鄉人故延興都火頭陶羅等十餘,重修佛殿,而今宮侯聖慈役書史直頭著須路簞,宮侯聖慈役侍都火頭阮。。。,延興都火頭出取班路澹,舍人杜予等參坊,有增築齋堂,廣五十餘間,以述太后之功,興營不已 “Hương Mạn Để Hoàng châu nước Đại Việt có chùa Ông Lâu, biển đề là Phúc Minh Tương truyền do Linh Nhân Thái hậu dựng xây Cho nên việc tạo lập chùa này đã lâu xa, trải nhiều năm tháng Đến năm Bính Tý, mười người trong xã này như Diên Hưng đô hỏa đầu Đào La trùng tu điện Phật Nay Cung hầu thánh từ dịch thư sử trực đầu trước tu Lộ Đan, Cung hầu thánh từ dịch thị đô hỏa đầu Nguyễn , Diên Hưng đô hỏa đầu xuất thủ ban Lộ Chiêm, Xá nhân Đỗ Dư 3 phường xây thêm trai đường, làm rộng thành 50 gian, để hiển thuật công đức của Thái hậu, mà khiến cho việc xây dựng tiếp nối không thôi ” [130, tr 531]17
Song có một điều khác biệt rất rõ giữa không gian của ngôi chùa thời Lý
và thời Trần đó là hầu hết ngôi chùa thời Lý được xây dựng trên nền cũ của nơi
có dấu tích Phật, tổ sư (5 ngôi), trong khi đó 6 ngôi chùa thời Trần đều được xây dựng trên nền tảng của dấu tích vua chúa hoặc tổ tiên Có lẽ, thời Lý, nền độc lập của nước nhà mới chính thức được dựng xây, vua chúa và gia đình quý tộc cũng chỉ hình thành từ thời Đinh – Lê, tức trước Lý mấy mươi năm, cộng thêm hơn hai trăm năm tồn tại của nhà Lý Nhưng tính tới hết thời Lý, hai thiền phái
Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông đã lần lượt hiện hữu trên đất Việt từ năm
580 và 820, nghĩa là có đến tám thế kỷ, đó là chưa kể sự hiện diện của các nhà
tu hành thuộc những học phái khác trong Phật giáo Bởi thế sự hiện hữu của những ngôi chùa đậm dấu tích Phật, tổ là điều đương nhiên Đến hết thời Trần, giới quý tộc hình thành đã hơn bốn trăm năm, kinh tế tư nhân phát triển mạnh, thêm vào đó là ý thức hệ nhà nước được xây dựng trên nền tảng Phật giáo, xây dựng chùa chiền không chỉ là chính sách quốc gia mà còn là việc làm chính của mỗi người học Phật, cho cá nhân, gia đình, dòng tộc, cho hiện tại và cho cả tương lai Chùa thời kỳ này đậm dấu tích vua chúa tổ tiên là vậy
17 Phần văn bản chữ Hán dẫn theo tác phẩm trên, NCS tự dịch tiếng Việt
Trang 40Thứ hai là Thắng cảnh
Ngôi chùa được xây dựng ở vùng đất có vật phẩm đặc biệt hợp với việc tôn tạo chốn rèn dũa tâm linh, và là vùng đất có địa thế đẹp, non xanh nước biếc, tựa hướng hợp cách, vừa giúp người tu thành tựu đạo giác, để rồi sau đó người
tu, ngôi chùa lại làm đẹp thêm cho thắng cảnh ấy… Tính tương duyên tương tác của nhà Phật cũng được ghi đậm
Bảng thống kê trên cho thấy có 5 ngôi chùa thời Lý và 5 ngôi chùa thời Trần được xây dựng ở vùng đất thuộc loại thắng cảnh Trong đó không gian hiện hữu của 2 ngôi chùa thời Lý và 1 ngôi chùa thời Trần thuộc loại nơi có vật phẩm đặc biệt Vật phẩm đặc biệt ở chùa Báo Ân là loại đá xanh núi An Hoạch, loại đá này có thể tạo nên những pháp khí như khánh, bia, và đương nhiên cũng có thể tạc tượng, làm bệ tượng, xây tháp… Đây cũng là một trong những nguyên nhân cho thấy thời Lý – Trần có rất nhiều công trình được làm bằng vật liệu đá hơn là các thời Lê - Mạc -Trịnh -Nguyễn… sau này 其石公家之貴物,塋塋色如藍玉,青青質擬生煙。。。鑿為響磬,扣處而萬里流音,用作銘碑,遺文而千齡益固: “Đá đẹp, là sản vật quý của nhà nước, sắc óng ánh như ngọc lam, chất xanh xanh tựa khói nhạt,… dùng làm khánh tiếng ngân muôn dặm, dùng làm bia thì văn chương mãi lưu truyền” [95, tr 73]
Vật phẩm đặc biệt còn là những cơn mưa hợp thời, những dòng sông có dòng nước chảy lạ thường với màu nước trong xanh biêng biếc Chùa núi Long Đọi được xây từ thời Lý Nhân Tông sau chuyến du lãm của ông và chùa Từ Ân
do công chúa Thiệu Ninh thời Trần xây dựng ở đất Tây Quan khẳng định điều này 斯山常以春品,旦覃恆雨以潤黔黎,宜可施功,樂成善果: “Núi này cứ đến đầu xuân thì trời thường mưa để nhuần thấm cho muôn dân Rất hợp cho việc dựng chùa, để chóng thành thiện quả.” [95, tr 175], 紹寧公主陳建寺於西關。。。西關屬古屢鄉,其東則大江一派,自京至于漉口,介淪瀰灣,浸船萬頃,逍逍遙遙,若開若闔。迆其東者為費溪,衍其北者為種溪。朕常回環,泓涵停滀,實為西關慶流所自之地也: “Công chúa Thiệu Ninh đời Trần xây dựng chùa này ở đất Tây Quan… Đất Tây Quan thuộc làng Cổ Lũ, phía đông có một nhánh sông lớn chảy từ kinh đô tới cửa Pháp khẩu Nước sông đầy tràn mênh mông, thấm nhuần muôn khoảnh, dòng sông uốn lượn, như đóng như mở Quanh về phía đông là khe Phí, chảy về phía Bắc là khe Chủng Những dòng nước đó thường chạy vòng vèo rồi ngưng đọng lại một chỗ, trở thành đầu nguồn của những dòng nước đẹp đất Tây Quan.”[49, tr 73].