1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên : Luận văn ThS. Ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: 60 22 01

134 86 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 912,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ lòng yêu mến với hai tài năng trưởng thành từ phong trào thơ mới và ấn tượng với mạch thơ về mùa qua từng giai đoạn lịch sử và văn học của dân tộc, người viết đã mạnh dạn th

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 5

ỜI CẢ N

Trang đầu tiên của Luận văn này, em muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Văn Nam – Thầy giáo trực tiếp hướng dẫn em thực hiện Luận văn Cảm ơn thầy đã có những gợi ý về đề tài cũng như hướng dẫn em triển khai đề tài qua góp ý đề cương Thầy đã có những động viên, thông cảm giúp em khi trong thời gian làm bài em phải giải quyết nhiều việc cá nhân

Cảm ơn gia đình đã luôn ủng hộ, tạo mọi điều kiện về vật chất cũng như tinh thần giúp em vững bước trong suốt thời gian làm Luận văn Ngoài

ra, là bạn bè đã cùng em chia sẻ tài liệu, động viên để em thuận lợi hơn trong quá trình làm bài

Thân ái gửi lời cảm ơn đến thầy giáo, gia đình và các bạn!

Trang 6

ỤC ỤC

Ở ĐẦU 3

1 o ọ đề t 3

2 Đố t ợ , ụ đí , p ạ v ứu 6

3 P ơ p áp ứu 7

4 Cấu trú u v 7

Chương 1: VỀ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT 9

1 1 Cá p ạ trù k ô v t ờ ệ t u t 9

1.1.1 Khái lược chung về không gian nghệ thuật 9

1.1.2 Khái lược chung về thời gian nghệ thuật trong thơ 11

1.2 ố qu ệ đặ b ệt k k ít ữ k ô v t ờ ệ t u t tro á b t ơ về ù 15

1.2.1 Không gian- một biểu hiện của mùa 15

1.2.2 Mùa- Một biểu tượng bước đi của thời gian 16

1 3 H trì sá tạo, p o á ệ t u t ủ C ế V v

Xuâ ệu 18

1.3.1 Hành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên 18

1.3.2 Hành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu 24

1.4 Tiểu kết (Điểm giống và khác trong hành trình sáng tạo và phong cách nghệ thuật của hai nhà thơ) Error! Bookmark not defined. Chương 2: KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VỀ MÙA CỦA CHẾ LAN VIÊN VÀ XUÂN DIỆU TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 30

2 1 Cả ứ ủ đạo ủ ệ t u t ã ạ 30

2.1.1 Vỡ mộng trong hành trình tìm kiếm lý tưởng cá nhân 30

2.1.2 Phủ định, khước từ, ly khai thực tại 34

2 2 T ờ ệ t u t 40

2.2.1 Nhận định tổng quát 40

Trang 7

2.3 Không gian ng ệ t u t 49

2.3.1 Những hình ảnh thiên nhiên nổi bật trong các bài thơ về mùa 50

2.3.2 Những màu sắc thẩm mỹ chủ yếu của không gian nghệ thuật 59

2 4 Đặ sắ tro ệ t u t b ểu ệ 60

2.4.1 Ngôn ngữ 60

2.4.2 Giọng điệu 69

2.4.3 Thể thơ 73

TIỂU K T 78

Chương 3: KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ VỀ MÙA CỦA CHẾ LAN VIÊN VÀ XUÂN DIỆU SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 79

3 1 Cả ứ sử t v t ế sự 79

3.1.1 Những biểu hiện của Cảm hứng sử thi 79

3.1.2 Những biểu hiện của Cảm hứng thế sự 82

3 2 T ờ ệ t u t 86

3.2.1 Nhận định tổng quát: 86

3.2.2 Màu sắc thẩm mỹ chủ đạo của các mùa trong thơ: 94

3 3 K ô ệ t u t 102

3.3.1 Nhận định tổng quát 102

3.3.2 Những hình ảnh nổi bật trong các bài thơ về mùa 105

3.3.3 Những màu sắc thẩm mỹ chủ yếu của không gian nghệ thuật 108

3 4 Đặ sắ tro ệ t u t b ểu ệ 111

3.4.1 Ngôn ngữ 111

3 4 2 G ọ đ ệu 114

3.4.3 Thể t ơ 117

TIỂU K T 124

K T U N 126

TÀI I U THA KHẢO 128

Trang 8

Ở ĐẦU

1 o ọ đề t

Đến với văn chương là đến với một thế giới đầy màu sắc, sinh động, hấp dẫn nhưng không kém phần huyền bí Ở đó, mỗi tác phẩm chân chính là cánh cửa để chúng ta bước vào đời sống nội tâm con người phong phú, muôn hình vạn trạng; bởi ý nghĩa nhân văn cao cả nhất của văn chương chính là xây

dựng tâm hồn con người, như Thạch Lam đã nói: Văn chương giúp “thanh

lọc” tâm hồn mỗi chúng ta Văn chương có sức mạnh vô hình “Nó”là tiếng nói của tình cảm con người, nó khơi dậy trong mỗi người những tình cảm sẵn

có nhưng nó cũng gây cho ta những tình cảm ta chưa có [12;15] Thơ ca luôn

là thế giới của sự sáng tạo, giúp cho những người nghệ sĩ thăng hoa để khẳng định tài năng cũng như là nơi để chia sẻ những cảm xúc và tâm trạng Mỗi một nhà thơ là một chủ thể trữ tình để dẫn dắt bạn đọc đến với những xúc cảm nên thơ và mềm mại, nhưng không bởi thế mà thơ đánh mất đi phần mạnh

mẽ, quyết đoán và lý trí Mỗi một nhà thơ lại có những tô điểm riêng cho

“vườn địa đàng” của mình và tùy vào các giai đoạn phát triển khác nhau của nền văn học, của bối cảnh lịch sử xã hội, mà thơ lại có sự vận động, thể hiện

và phát triển riêng Trong sự đa dạng và cuốn hút của thi đàn Việt Nam, người viết lựa chọn nghiên cứu về đề tài: "Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên”

Xuân Diệu và Chế Lan Viên- hai gương mặt sáng của phong trào "Thơ mới", hai giọng thơ- hai dấu ấn riêng để bao thế hệ yêu thơ nhận ra cái hay, cái đẹp của mỗi người, dẫu mạch tư tưởng theo từng giai đoạn lịch sử xã hội tương đối trùng hợp Có biết bao đặc điểm trong nội dung và thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu và thơ Chế Lan Viên thu hút những tác giả nghiên cứu văn học Nhưng người viết đặc biệt ấn tượng về vấn đề không gian và thời

Trang 9

năm mang một vẻ đẹp và cách biểu cảm, sức lay động riêng, nhiều nhà văn, nhà thơ đã mượn mùa để nói mình Xuân Diệu và Chế Lan Viên là hai trong

số nhiều nhà thơ khai thác hình tượng “mùa” thành công để gửi gắm tâm tư,

lý tưởng, chiêm nghiệm sự trôi chảy của thời gian Trong suốt sự nghiệp sáng tác, hai nhà thơ đã có một số lượng tác phẩm đáng kể viết về mùa, với nhà thơ Xuân Diệu khoảng 50 bài thơ và nhà thơ Chế Lan Viên khoảng 60 bài

Xuất phát từ lòng yêu mến với hai tài năng trưởng thành từ phong trào thơ mới và ấn tượng với mạch thơ về mùa qua từng giai đoạn lịch sử và văn học của dân tộc, người viết đã mạnh dạn theo đuổi nghiên cứu về thơ ông với

đề tài: "Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên”

Từ đó, việc khám phá “Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên” không chỉ giúp người nghiên cứu khẳng định về phong cách thơ đặc sắc của hai nhà thơ, mà còn xác định vị trí

và những đóng góp của Xuân Diệu và Chế Lan Viên trong tiến trình thơ ca Việt Nam hiện đại Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên được nhìn nhận, nghiên cứu từ góc độ một chỉnh thể nghệ thuật, nhấn mạnh vào vấn đề không gian và thời gian với những quy luật vận động nội tại của nó, chứ không phải nhìn nhận trong sự riêng biệt, tách rời giữa hình thức với nội dung, cũng không phải chỉ là một hiện tượng xã hội lịch sử đơn thuần

ị sử vấ đề

Trong sự nghiệp thơ ca của mình, nhà thơ Xuân Diệu và nhà thơ Chế Lan Viên đã cho ra đời số lượng tập thơ ấn tượng, với nhà thơ Xuân Diệu là

13 tập thơ và một tuyển tập thơ Đó là: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió

(1945), Ngọn quốc kỳ (1945), Dưới sao vàng (1949), Mẹ con (1954), Sáng (1954), Ngôi sao (1955), Cầm tay (1962), Mũi Cà Mau (1962), Riêng chung

Trang 10

(1962), Tôi giàu đôi mắt (1970), Một khối hồng (1964), Thanh ca (1982) và Tuyển tập Xuân Diệu (1983)

Nhà thơ Chế Lan Viên cống hiến sức lao động nghệ thuật đáng nể về

lĩnh vực thơ ca với 15 tập thơ và hai tuyển tập thơ, đó là: Điêu tàn (1937),

Gửi các anh (1954), Ánh sáng và phù sa (1960), Hoa ngày thường - Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Đối thoại mới (1973), Ngày vĩ đại (1976), Hoa trước lăng Người (1976), Dải đất vùng trời (1976), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984), Tuyển tập thơ Chế Lan Viên (tập I, 1985; tập II, 1990), Ta gửi cho mình (1986), Di cảo thơ I, II, III (1992, 1993, 1995)

Điểm qua lịch trình nghiên cứu thơ của hai nhà thơ Xuân Diệu và Chế Lan Viên, người viết đã được tìm hiểu về những bài viết lớn nhỏ về ông Tổng hợp các tài liệu cho thấy, các công trình nghiên cứu về cuộc đời văn nghiệp của hai nhà thơ hết sức đồ sộ về số lượng và quy mô về chất lượng nhưng là sự tách biệt, riêng rẽ của từng nhà thơ Người viết xin được kể tên một số nghiên cứu về thơ của Xuân Diệu của PGS.TS Lý Hoài Thu- Người

nặng lòng với thơ Xuân Diệu Đó là các nghiên cứu: Xuân Diệu – Vị hoàng đế

tình yêu của triều đại thơ ca lãng mạn 1932-1945 (Tạp chí Khoa học, Đại học

Quốc gia Hà Nội, 1/1995) Nỗi buồn và sự cô đơn trong thơ Xuân Diệu trước

1945 (Tạp chí Văn học, số 5/1995) Sáng tạo và đóng góp của thi sĩ Xuân Diệu vào tiến trình thơ Việt Nam hiện đại (Tạp chí Trung học phổ thông, số

3/1995) Xuân Diệu – Nỗi đam mê trần thế (Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 3/1995) Thời gian - đời người – nhịp sống trong thơ Xuân Diệu trước 1945 (Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 10/1996) Thế giới không gian nghệ thuật

của Xuân Diệu qua “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” (Tạp chí Văn học, số

12/1996) Thời gian nghệ thuật trong “Thơ thơ” và “Gửi hương cho gió” của

Xuân Diệu (Tạp chí Văn hoá Nghệ thuật, số 6/1997) Các đề tài nghiên cứu về

Trang 11

mọc trên đá- Giáo sư Hà Minh Đức Nghệ thuật thơ Chế Lan Viên- Đoàn

Trọng Huy Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên- Hồ Thế Hà Sự vận động

của cái tôi trữ tình trong thơ Chế Lan Viên- Ngô Thái Lễ…

Nhằm hướng tới nét độc đáo cho đề tài luận văn của mình, người viết muốn khu biệt đề tài vào mảng nghệ thuật giàu xúc cảm và tinh tế trong thơ của hai nhà thơ Xuân Diệu và Chế Lan Viên , đó là vấn đề không gian và thời gian trong các bài thơ về bốn mùa Từ đó có những liên kết, đối sánh giữa hai nhà thơ qua từng giai đoạn khác nhau để thấy những điểm đặc sắc của Không gian, thời gian trong các bài thơ về bốn mùa cũng như thấy rõ luồng vận động chung- riêng trong tư tưởng cũng như cá tính sáng tạo của hai nhà thơ

2 Đố t ợ , ụ đí , p ạ v ứu

2.1.Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu những vấn đề thuộc “Không gian và thời gian và thời gian nghệ thuật trong các bài thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên

2.2.Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi của đề tài là khảo sát toàn bộ các tập thơ trong sự nghiệp của hai nhà thơ Đặc biệt chuyên sâu, chắt lọc những bài thơ viết về mùa của

Xuân Diệu và Chế Lan Viên

Bên cạnh đó, người viết đọc và tham khảo những bài nghiên cứu, bài báo về hai nhà thơ trên sách báo và các phương tiện thông tin đại chúng

2.3.Mục đích nghiên cứu

Người viết thực hiện đề tài nhằm chỉ ra những phương diện xây dựng nên không gian và thời gian nghệ thuật trong các bài thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên Đó là những vấn đề thuộc: Cảm hứng chủ đạo của nghệ thuật lãng mạn (giai đoạn trước 1945); Cảm hứng sử thi thế sự (giai đoạn sau năm 1945); Thời gian và không gian nghệ thuật ; Phương thức biểu đạt

Trang 12

Thông qua việc mô tả Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về bốn mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên người viết hướng tới khẳng định những đặc điểm nổi bật thuộc về cảm hứng, tư tưởng thơ, thi pháp trong các bài thơ viết về mùa, để thấy mối quan hệ đặc biệt khăng khít giữa không gian

và thời gian nghệ thuật trong các bài thơ về mùa Và hơn hết là nhấn mạnh phong cách và vị trí của nhà thơ trong dòng chảy thi ca Việt Nam hiện đại

3 P ơ p áp ứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

3.1 Phương pháp nghiên cứu thi pháp học

Không gian và thời gian nghệ thuật chính là một trong những yếu tố căn bản hợp thành thi pháp tác phẩm văn chương Nghiên cứu các đặc tính không gian, thời gian nghệ thuật của tác phẩm là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của tiếp cận thi pháp học Vì thế nghiên cứu theo các nguyên tắc của thi pháp học là phương pháp nghiên cứu đặc biệt quan trong của luận văn

3.2 Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống

Mục đích nghiên cứu của luận văn là vừa phát hiện những sắc thái thẩm

mỹ độc đáo của từng sáng tác độc lập vừa liên kết, khái quát để phát hiện các quy luật chung ở nhiều tầng bậc chi phối và kiến tạo nên bản sắc độc đáo, thống nhất ở mỗi phong cách sáng tạo Vì thế tiếp cận theo quan điểm hệ thống là có ích và cần thiết

3.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tập hợp nhiều sáng tác qua các thời kỳ của hai phong cách sáng tạo vừa gần gũi vừa khác biệt, vì thế phương pháp so sánh, đối chiếu là cần thiết và có ích để phát hiện những sự tương đồng và dị biệt vốn tồn tại rất nhiều trong đối tượng khảo sát

Trang 13

Ngoài ra, chúng tôi cũng thường xuyên sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

 phương pháp lịch sử - xã hội

 phương pháp tiểu sử

Về các thao tác khoa học, chúng tôi vận dụng các thao tác thông thường

như thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp, khảo sát văn bản…

Cấu trú u v

Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo, kết luận, luận văn gồm có 3 chương chính sau:

Chương I: Về không gian và thời gian nghệ thuật

Chương II: Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên trước Cách mạng Tháng Tám

Chương III: Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ về mùa của Xuân Diệu và Chế Lan Viên sau Cách mạng Tháng Tám

Trang 14

Chương 1: VỀ KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT

1.1 Cá p ạ trù k ô v t ờ ệ t u t

1.1.1 Khái lược chung về không gian nghệ thuật

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Không gian nghệ thuật là

hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của

nó Sự miêu tả, trần thuật trong nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ điểm nhìn, diễn ra trong một trường nhìn nhất định Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, mang tính chủ quan chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học mà còn cho thấy quan niệm về thế giới,

Ta thấy không gian chính là môi trường tồn tại của con người: dòng sông, cánh đồng, ngọn núi, đèo xa, biển cả Không gian là nơi nhà văn triển khai sự kiện, biến cố, là chỗ cho nhân vật hoạt động Không gian trong văn

học là không gian nghệ thuật Không gian đó không phải ngẫu nhiên như

trong đời sống mà do nghệ sĩ chọn để thể hiện ý đồ nghệ thuật Không gian ứng với một cách sống riêng biệt của con người :

- Không gian rộng lớn : người có chí lớn, khát vọng đạp đổ mọi khó

khăn để tiến đến thành công như trong Ông già và biển cả hay thơ về lãnh tụ

của Tố Hữu

- Không gian nhỏ hẹp : diễn tả sự tù túng, ngột ngạt, ứng với mẫu người thích ngồi một chỗ, thế giới tâm hồn nghèo nàn, không ước mơ, không muốn thay đổi, sống mòn …

Trong điêu khắc cũng như hội hoạ, không gian được người nghệ sĩ

miêu tả là không gian tĩnh Người họa sĩ chỉ có thể chọn cho mình một không

gian nhất định để hoàn thành bức tranh của mình, không thể cùng lúc di chuyển nhiều không gian Còn không gian trong văn học là một không gian

Trang 15

có sự vận động, biến đổi Con mắt của nhà văn có thể dễ dàng đưa người đọc

di chuyển từ không gian này sang không gian khác Đọc câu thơ:

Khi sao phong gấm rủ là,

Giờ sao tan tác như hoa giữa đường

(Truyện Kiều)

Trong Truyện Kiều - tác giả đã cho ta thấy hai giai đoạn cuộc đời khác biệt dữ dội của Thúy Kiều Không gian trong văn học không hề bị một giới hạn nào Trong loại văn học kì ảo, con người có thể đi từ thế giới này sang thế giới khác một cách dễ dàng Đặc sắc này làm cho văn học phản ánh đời sống trong sự toàn vẹn, đầy đặn của nó Bởi lẽ, không gian, thời gian không chỉ là môi trường, là quá trình tồn tại của nhân vật mà còn là sự cảm nhận của chính chủ thể hoạt động ấy về thế giới Thời gian trong truyện cổ tích luôn mang tính khép kín: tính cách con người là bất biến, người ta có thể trẻ mãi không già, thời gian không làm ảnh hưởng tới hạnh phúc mà con người đạt được

Với thơ cổ điển, thời gian mang tính tuần hoàn, vĩnh viễn Để diễn tả cảnh

mùa thu mới - mùa thu đất nước đã dành được độc lập, dân tộc ta đã được sống cuộc sống tự do, nhà thơ Nguyễn Đình Thi dựng lên một không gian rộng lớn, khoáng đạt, đa chiều:

“Mùa thu nay khác rồi

Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

Gió thổi rừng tre phấp phới

Mùa thu thay áo mới

Trong biếc nói cười thiết tha

Trời xanh đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những cánh đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Trang 16

Những dòng sông đỏ nặng phù sa ”

(Đất nước)

Các cách biểu hiện không gian :

- Từ chỉ vị trí và tính chất như trên, dưới, trước, sau, trong, ngoài, phải,

trái, lên xuống… mênh mênh, bát ngát, hẹp, thăm thẳm, khúc khuỷu, quanh

co…

- Danh từ, cụm danh từ chỉ sự vật : bến đò, cây đa, mái đình, làng biển,

núi cao, rừng sâu, trời rộng, sông dài

- Các địa danh trở thành không gian tượng trưng như : Tiêu Tương –

Hàm Dương, Cô Tô, Xích Bích, địa ngục, thiên đàng, bồng lai…

Không có hình tượng nghệ thuật nào lại không có không gian nghệ thuật và không có nhân vật nào lại không tồn tại trong một nền cảnh nhất định nào đó Ngay bản thân người kể chuyện cũng nhìn nhận sự việc trong một khoảng cách, một góc nhìn nhất định Không gian đó là không gian sống, không gian trải nghiệm và cũng là không gian sáng tạo của người nghệ sĩ

1.1.2 Khái lược chung về thời gian nghệ thuật trong thơ

Mỗi hành động, sự kiện đều phải xảy ra ở một thời điểm nào đó Vì

vậy, đi liền với không gian nghệ thuật là thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ

thuật là thời gian mang tính quan niệm và cá nhân Mỗi tác giả có một cách cảm nhận khác nhau về thời gian để thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình Điểm thứ nhất cần lưu ý là thời gian nghệ thuật có thể làm độc giả quên đi hiện

thực, nhập làm một với thời gian trong tác phẩm Giữa ban ngày mà ta cứ

tưởng đêm tối, từ hiện tại mà trở về quá khứ, thậm chí trở về thời khai thiên lập địa Do được xây dựng bằng ngôn ngữ nghệ thuật nên thời gian trong tác

phẩm dễ dàng biến đổi linh hoạt

Điểm thứ hai cần lưu ý là thời gian trong văn học có những nhịp điệu,

Trang 17

cách miêu tả rất tỉ mỉ mọi diễn biến tâm trạng, mọi diễn biến hành động của

nhân vật của các sự kiện Văn học có thể làm cho một ngày dài hơn thế

kỷ như tên truyện của Aitmatov Ngược lại, nhà văn có thể làm cho thời gian

trôi nhanh đi bằng cách dồn nén làm cho một khoảng thời gian dài chỉ qua một dòng trần thuật ngắn

Điểm thứ ba đó là thời gian trong văn học có thể trôi nhanh hay chậm, yên ả, đều đều hay thay đổi đột ngột, gấp gáp, đầy biến động, có thể có những liên hệ giữa quá khứ, hiện tại, tương lai Thời gian có thể được trần thuật cùng chiều với thời gian tự nhiên, nhưng cũng có thể đi ngược từ hiện tại trở về quá khứ bằng hồi tưởng Các lớp thời gian có khi đan bện, xoắn xít với nhau Cũng có lúc giữa quá khứ và hiện tại, tương lai có mối liên hệ thời gian, cùng đồng hiện trong một thời điểm Trong đoạn Thúy Kiều trao duyên, giữa thời điểm hiện tại, Thúy Kiều tự nhìn thấy mình trong tương lai, một tương lai không còn tồn tại làm người, mà chỉ là hồn ma đang ở chín suối, đang theo

gió đi về Đấy là sự đồng hiện thời gian, tức quá khứ, hiện tại và cả tương lai hiện lên cùng lúc qua dòng cảm nghĩ của nhân vật mà Những ngôi sao xa

xôi của Lê Minh Khuê là ví dụ cụ thể Thời gian vật lí trôi qua tuần tự theo

các mùa, thời tiết:

“Sen tàn cúc lại nở hoa.”

Thời gian tâm lí lúc nhanh lúc chậm tùy thuộc trạng thái tâm hồn và cuộc sống đặc thù của nhân vật :

Sầu đong càng lắc càng đầy,

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê

(Truyện Kiều)

Thời gian trong văn học là thời gian tâm lý, không trùng khít với hiện thực nên hiểu và tiếp nhận yếu tố thời gian phải cân nhắc thật kĩ Khi nhà văn

Trang 18

viết hôm qua, hôm nay, ngày mai, dạo này, tháng trước, năm sau, một đêm

đông … thì có thể không phải là thời điểm cụ thể nào Ví dụ, Hoàng Lộc viết :

Hôm qua còn theo anh

Đi ra đường quốc lộ

Hôm nay đã chặt cành

Đắp cho người dưới mộ

(Viếng bạn)

Thì độc giả không cần biết cụ thể hôm qua, hôm nay là ngày nào Chỉ

biết rằng sự việc xảy ra quá nhanh, hoàn toàn bất ngờ, gây bang hoàng, sửng sốt Điều đó tạo nên sự vận động và tính quá trình đa dạng của hình tượng văn học mà các loại hình nghệ thuật khác khó đạt đến được Chính nhờ ngôn từ

mà hình tượng văn học có những hình thức thời gian đặc biệt để văn học có thể chiếm lĩnh đời sống trên một tầm sâu rộng mà hội hoạ và điêu khắc khó bề đạt được

Một số thời gian tượng trưng :

- Buổi chiều : hoàng hôn, chiều tà … là giây phút ánh sáng nhường chỗ cho bóng tối, gợi nỗi buồn, sự lụi tàn, sự kết thúc một ngày

- Buổi sáng : bình minh, sáng, ban mai là sự năng động, trẻ trung, sự rạng rỡ, tương lai huy hoàng, tươi sáng, một ngày mới bắt đầu

- Mùa xuân : mùa bắt đầu một năm tượng trưng cho sự nảy nở, sinh sôi, cho tuổi trẻ dồi dào sức sống và sinh lực

Một số cách biểu diễn thời gian :

- Trực tiếp : dùng từ chỉ thời gian sáng, trưa, xuân, hạ…

- Gián tiếp : hình ảnh biểu tượng mang tính ước lệ : tiếng cuốc kêu là đêm hè, lá ngô đồng rụng là chiều thu, cánh én bay là mùa xuân …

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Thời gian nghệ thuật là “hình thức

Trang 19

không gian nghệ thuật, sự miêu tả, trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian Và cái trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian nghệ thuật Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật” [17] Cũng giống như không

gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là hình thức tồn tại bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Thời gian nghệ thuật không phải là thời gian khách quan, vận động theo trật tự một chiều, trước sau không thể đảo ngược mà là thời gian được soi chiếu bởi tư tưởng, tình cảm của nhà văn, được nhào nặn và sáng tạo trở thành hình tượng nghệ thuật, phù hợp với quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người và thế giới Vì thế, thời gian nghệ thuật có thể nhanh hay chậm,dài hay ngắn, liên tục hay đứt quãng theo một logic riêng không hoàn toàn trùng khớp với thời gian khách quan

Thời gian nghệ thuật là phương tiện nghệ thuật để tác giả nhận thức và phản ánh đời sống Do đó, thời gian nghệ thuật chịu ảnh hưởng nhiều bởi tính chủ quan “Thời gian nghệ thuật luôn mang tính cảm xúc (tâm lý) và tính quan niệm, do đó đầy tính chủ quan” Tính chủ quan của thời gian nghệ thuật được thể hiện ở cách cảm nhận, miêu tả thời gian của tác giả Ở đây, tác giả có toàn quyền sử dụng, tái hiện thời gian theo nhu cầu và mục đích của riêng mình mà không gặp bất cứ một cản trở nào

Tuy nhiên, không phải mọi thứ liên quan đến thời gian trong tác phẩm văn học đều trở thành thời gian nghệ thuật Nhà lí luận Nga D.X.Likhachop

cho rằng: “Thời gian vừa là khách thể vừa là chủ thể và đồng thời là công cụ

phản ánh văn học Văn học ngày càng thấm nhuần ý thức và cảm giác về sự vận động của thế giới trong hình thức hết sức đa dạng của thời gian” và

“thời gian nghệ thuật là nhân tố nằm trong mạng lưới nghệ thuật Nó buộc

Trang 20

thời gian cú pháp và quan niệm triết học về thế giới phải phục vụ cho những

1.2 ố qu ệ đặ b ệt k k ít ữ k ô v t ờ

ệ t u t tro á b t ơ về ù

1.2.1 Không gian- một biểu hiện của mùa

Mẹ thiên nhiên không những là nơi bao bọc, chở che mà còn tiếp thêm sức sống, tấm áo giàu màu sắc cho vạn vật Mỗi một miền đất lại có một đặc trưng về thời tiết, thiên nhiên khác nhau để khoe lên nét đặc trưng của mình Nói riêng ở nước ta, thiên nhiên vô cùng tươi đẹp và phong phú Nếu như Miền Nam có đặc trưng của hai mùa mưa-nắng, thì Miền Bắc lại là khúc thanh âm rộn rịp, giàu xúc cảm của bốn mùa Xuân- Hạ-Thu Đông Đặc trưng

về không gian của từng mùa được “nhận diện” theo thời tiết, cỏ cây, hoa lá, chim muông… không chỉ đơn thuần là những hình ảnh của một phạm trù khác con người, mà hơn hết nó có sự gắn kết hết sức chặt chẽ, khó tách biệt giữa người và vật Chẳng thế mà từ xa xưa các cổ nhân đã mượn thiên nhiên làm biểu tượng cho đặc trưng của tứ đại quân tử như “Tùng, Cúc, Trúc, Mai”, hay thường mượn phong cảnh thiên nhiên để “tả cảnh ngụ tình” và rồi Đại thi hào Nguyễn Du cũng phải thốt lên “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Ta thấy không gian cảnh sắc mỗi mùa thường có tác động rất lớn đến tâm ý con người Ví như mùa Xuân- mùa cây cối đâm chồi nảy lộc, “cỏ non xanh tận chân trời”, mùa cánh én bay, chim chóc ríu rít hội tụ sau những rét mướt, mùa mà màu xanh là màu chủ đạo thì thường gợi cho con người ta sự

hy vọng, lạc quan, khi mà vạn vật đâu đâu cũng căng tràn sức sống Mùa hạ là mùa bùng cháy khát khao với sắc đỏ, với tiếng ve kêu rát cả trưa hè, mùa gợi những rắn rỏi Mùa thu, cảnh vật man mác chút buồn lãng đãng, thời gian như trôi chậm lại, cây cối sang độ trút lá, màu vàng tỏa bóng nơi nơi, những cánh

Trang 21

đâu đó chút gió heo may khiến cho lòng người rờn rợn, chất chứa nhiều nỗi niềm Chẳng thế mà thi sĩ Nguyễn Khuyến đã có một chuỗi ba bài thơ thu đặc sắc và mùa thu cũng là nơi hò hẹn của rất nhiều tâm hồn thi sĩ Sang Đông thời tiết lạnh se sắt, cây cối khẳng khưu trơ trọi, muôn loài cũng bớt rộn ràng, ngay cả con người cũng như co lại trước những đợt gió mùa khiến cho cảnh vật thì khắc nghiệt, lòng người dễ cô đơn

Hay ta thấy một khía cạnh khác bên cạnh việc cảnh vật tác động tới tâm trạng, đó là việc tâm trạng tác động đến cảnh vật tùy theo những trạng thái vui, buồn, thăng hoa hay vụn vỡ Khi vui thì có thể mùa nào cũng tìm thấy nét thơ và mùa vốn vui thì sẽ thăng hoa hơn thế Một khi đã buồn thì “mùa vui” cũng có những luyến tiếc, trăn trở…

Nói về “Không gian- Một biểu hiện của mùa” ta như thấy vạn vật bốn mùa hiện ra trước mắt, cùng với đó là muôn vàn trạng thái cảm xúc hỗn độn Dẫu có cắt nghĩa không gian để nói lên mùa như thế nào đi nữa cũng không thể nói hết những tầng bậc của cảm xúc mỗi người Chỉ biết rằng không gian bốn mùa thật đặc biệt, thật tươi đẹp và thật kỳ diệu khi nuôi dưỡng những cảm hứng nghệ thuật chưa khi nào nguôi cạn

1.2.2 Mùa- Một biểu tượng bước đi của thời gian

Ta thấy có nhiều cách tính, nhiều cách gọi tên cho một năm Ví như

“Một năm có 12 tháng”, “Một năm có 365 ngày”, “ Một năm có bốn quý”,

“Một năm có bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông”…Mỗi một cách gọi, cách tính lại

có dấu ấn riêng để người ta đi qua một năm, chào đón một năm, nhớ lại một năm, nhưng có lẽ “Một năm có bốn mùa” thường khiến cho người ta nhớ nhất, chắc cũng bởi hương sắc không gian bốn mùa đã phân tích trước đó Điều đặc biệt về mùa không chỉ có thế, mùa không còn đứng yên trong không gian để toát lên cái đặc trưng tác động đến các giác quan của con người nữa

mà mùa đã có thể đong đếm, trăn trở về bước đi của thời gian:

Trang 22

“Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bày mực Tàu, giấy đỏ

Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết

Tấm tắc ngợi khen tài:

“Hoa tay thảo những nét

Như phượng múa, rồng bay”

(Ông Đồ- Vũ Đình Liên)

Hoa đào nở- tín hiệu, quý ngữ của mùa xuân đã về Câu thơ tiếp theo

“Lại thấy Ông đồ già” như một sự gợi nhắc về bước đi, bước dịch chuyển của thời gian Một năm qua đi, năm mới bắt đầu bằng mùa xuân, hoa nở rồi lại tàn

và xuân của đời người cứ thế qua đi

Có lẽ khi mùa giữ vai trò là biểu tượng bước đi của thời gian khiến ta nhớ tới câu nói của chủ tịch Hồ Chí Minh “Một năm khởi đầu bởi mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ” Với những đặc trưng hàm chứa sự lạc quan, hy vọng, đã đầy sức sống của mình, mùa xuân đã được lựa chọn là sự khởi đầu của cả một năm Cứ thế lần lượt Xuân- Hạ-Thu-Đông nối tiếp nhau năm này qua năm khác, tạo thành một vòng không gian khép kín và tạo thành một vòng thời gian tưởng chừng khép kín bởi bốn mùa nhưng luôn tịnh tiến Nếu như cuộc sống thường ngày, người ta thường tính ngày, tháng, năm để đo lường thời gian thì trong thi ca, cách gọi tên mùa để biểu thị thời gian tạo nên dấu ấn riêng, nét thi vị riêng Và với việc lấy mùa để biểu thị thời gian, ta thấy không gian, đặc trưng của mùa chiếm vị trí quan trọng, không- thời gian không tách rời Điều đó, ta thấy rõ qua cách nói: “Đã mấy mùa trăng”, “Đã mấy mùa khoai sọ”, “ Mấy mùa nước nổi”, hay như trong ca khúc nọ có lời

Trang 23

biểu hiện sự mong chờ, khát khao tình yêu đã qua nhiều tháng ngày dài Dù là được thể hiện trong thi ca hay lời ăn tiếng nói hàng ngày thì đó đều là những thước đo thời gian tuy ước lệ nhưng đầy tính mỹ cảm Bốn mùa cứ thế chảy trôi, gối đầu lên nhau tạo nên vô vàn tầng bậc cảm xúc Mùa đong đếm thời gian, thời gian cũng bởi thế mà cất vào ký ức của mình vô vàn những ấn tượng về mùa:

“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Ðặng đi ngang ngõ

Mẹ bảo: “Thôn Ðoài hát tối nay”

Lòng thấy giăng tơ một mối tình

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh

Hình như hai má em bừng đỏ

Có lẽ là em nghĩ đến anh”

( Mưa xuân- Nguyễn Bính)

Hình ảnh “Mưa xuân”, “Hoa xoan”, “ Hội chèo làng Đặng”… những hình ảnh thơ mộng lặp đi lặp lại theo vòng tuần hoàn của mùa, cùng với đó là

sự ghi dấu những cảm xúc, tình cảm, những trắc ẩn của lòng người một cách rất ngẫu nhiên, không hẹn trước và cũng có thể là không khi nào lặp lại Mùa-

sự sống, con người và cảm xúc cứ thế sóng đôi tạo nên những bản tình ca

1.3 H trì sá tạo, p o á ệ t u t ủ C ế V

v Xuâ ệu

1.3.1 Hành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên

1.3.1.1 Giai đoạn trước 1945

Thời kì trước cách mạng tháng tám, nhà thơ Chế Lan Viên tạo rúng

động trước thi đàn với các tác phẩm trong tập “Điêu tàn” (1937) Thi đàn thơ

mới đang ngập tràn cảm hứng lãng mạn với khu vườn tình yêu, khu vườn

Trang 24

mộng mơ với sự thoát li thực tại để chạy trốn xã hội bảo hộ đương thời, nơi

mà họ vẫn chưa tìm ra một con đường thực sự thì hiện tượng Chế Lan Viên trong “Điêu tàn” khiến cho thi đàn phải sững sờ bởi sự thần bí, rùng rợn với hình ảnh Đền Đài đổ nát, xương, máu, tủy, sọ người…Hơn nữa nhà thơ Chế Lan Viên và ba người bạn thơ khác là Hàn Mạc Tử, Quách Tấn, Yến Lan hình thành nên “ Trường thơ loạn” hay thi đàn cũng có cách gọi khác đó là

“Trường thơ điên” Từ những ý thơ, hình ảnh, tư tưởng nổi loạn trong “Điêu tàn” cho đến tư tưởng chung được thể hiện trong các sáng của các nhà thơ thuộc “Trường thơ loạn”, ta thấy giữa bức tranh mộng mị, mộng mơ, “hồn bướm mơ tiên”, thoát lên tiên, phiêu lưu trong trường tình, đắm say trong động tiên….thì Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử lại điên và loạn với những xót xa, những cảm nhận về thực tế phũ phàng của thân phận, của thời cuộc, nhưng dường như xót xa, điên cuồng cũng chỉ đến vậy, sự bất lực dường như càng khiến cho họ “điên” hơn bao giờ hết Có lẽ, đọc lời tựa của nhà thơ Chế Lan

Viên cho tập “Điêu tàn” (1937) ta vừa cảm nhận về cái điên của thi sĩ, nhưng

trên hết là cái đau: “ Hàn Mặc Tử viết: Làm thơ tức là điên Tôi thêm: Làm thơ là sự phi thường Thi sĩ không phải là Người Nó là Người mơ, Người say, Người điên Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu, Nó thoát Hiện Tại Nó xáo trộn Dĩ vãng Nó ôm trùm Tương Lai Người ta không hiểu được nó vì nó nói những câu vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý Nhưng thường thường nó không nói Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười Cái gì của nó cũng tột cùng Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào nước mắt, nó cười tràn

cả tuỷ là tuỷ Thế mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem nó so sánh với Người, và chê nó là giả dối với Người Với nó, cái gì nó nói đều có cả” Đọc những vần thơ của nhà thơ trước 1945 ta thấy rờn rợn và thực sự ta như lạc vào một miền “thơ điên”:

Trang 25

“Cả Dĩ Vãng là chuỗi mồ vô tận

Cả Tương Lai là chuỗi huyệt chưa thành

Và Hiện Tại, biết cùng chăng hỡi bạn

Cũng đương chôn lặng lẽ chuỗi ngày xanh!

Trong nắng hè lá tươi đà đổi sắc

Dệt mùa thu sắp đến Tựa đời ta

Chuỗi ngày xanh hùa theo nhau phai nhạt

Dệt tấm màn quàng liệm tấm hồn ta!”

( Những nấm mồ- Chế Lan Viên)

Tất cả là miền tối tăm, vô định, thời gian, không gian và con người đều trở nên vô nghĩa, khổ đau Mỗi lời thơ như một tiếng khóc than tuyệt vọng không sao tìm thấy lối Thực sự, ánh sáng đã biến mất, chỉ còn lại tro tàn

Trong số ít những bài viết về thơ Chế Lan Viên, theo người viết, bài viết có giá trị nhất đó là bài giới thiệu của Hoài Thanh trong cuốn Thi nhân Việt Nam Cho dù ý kiến nhận xét về thơ Chế Lan Viên của ông đã cách đây hơn nửa thế kỷ nhưng nó vẫn có giá trị lâu bền Ông đã nhìn nhận về thơ Chế Lan Viên giai đoạn trước năm 1945 một cách tinh tế, chính xác Ông cho rằng

sự xuất hiện của Chế Lan Viên đã khiến biết bao người phải ngạc nhiên bởi

“Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái Tháp Chàm, chắc chắn, lẻ loi và bí mật”[182, 229] Từ thực tế sáng tác của Chế Lan Viên, Hoài Thanh không ngần ngại khi dự đoán : “Con người này quả là người của trời đất, của bốn phương, không thể lấy kích tấc thường

mà hòng đo được” [182, 228] Hơn thế nữa, nhà thơ còn nhận thấy chính sự độc đáo trong cách khám phá cuộc sống đã góp phần làm nên sức mạnh phi thường cho thơ Chế Lan Viên, vì thế, ông khẳng định : “Trong cái ngộ nghĩnh, cái ngông cuồng ấy, tôi còn thấy một sức mạnh phi thường”[182, 31] Mặt khác, Hoài Thanh còn chỉ ra “lối thơ” của Chế Lan Viên khi so sánh với

Trang 26

“lối thơ” của Hàn Mặc Tử, ông cho rằng: “Cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire và qua Baudelaire ảnh hưởng nhà văn Mĩ Edgar Poe Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đường,

mà Hàn Mặc Tử đã đi từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh kinh của đạo Thiên chúa Cả hai đều ngự trị trường thơ Loạn” “Tôi vừa nói Chế Lan Viên đi về thơ Đường Nếu nói đi đến thơ tượng trưng Pháp có lẽ đúng hơn, tuy hai lối thơ này có chỗ giống nhau “[182, 32]

Thực sự, hành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật của nhà thơ Chế Lan Viên là một màu sắc, tính cách ấn tượng và nổi bật trên thi đàn thơ, trên mặt trận tư tưởng của các nghệ sĩ trước Cách mạng Tháng Tám Từ đó, khi phân tích, cảm nhận về thơ Chế Lan Viên giai đoạn sau, ta càng thấy rõ sự khác biệt, biến chuyển mạnh mẽ trong chất thơ của người nghệ sĩ trước nhiều

biến thiên thời cuộc

1.3.1.2 Giai đoạn sau 1945

Hành trình sáng tạo và phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên sau năm 1945 có những nét phát triển tương đồng với nhiều nhà thơ mới Sau năm 1945, đất nước ta trải qua nhiều biến thiên lịch sử của hai cuộc kháng chiến trường kỳ, giành độc lập dân tộc và thời kỳ khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển đất nước Tháng Tám, năm 1945 là mốc son quan trọng đánh dấu sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sau bao xiềng xích nô lệ Mùa thu kỳ diệu ấy khiến cho muôn triệu trái tim nô nức, tin vào ánh sáng của Đảng, ánh sáng cách mạng Sức mạnh, sức ảnh hưởng của Cách mạng tháng Tám còn kỳ diệu đến nỗi làm xoay chuyển lối nghĩ mộng mị, tiêu cực, có hại cho cách mạng Thật khó để giải thích khi các nhà Thơ Mới như: Xuân Diệu, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Xuân Sanh ., tự phủ nhận thơ

Trang 27

theo con đường cách mạng với những tác phẩm thơ đậm chất sử thi, nồng nàn tinh thần yêu nước

Giữa làn sóng yêu nước, tin theo lý tưởng cách mạng ấy, nhà thơ Chế Lan Viên không phải là ngoại lệ, có điều ông xoay mình chậm hơn một chút

so với các nhà thơ khác bởi chúng ta đã biết giai đoạn của “Điêu tàn”, của tinh cầu giá lạnh khiến cho nhà thơ phải đớn đau, dằn vặt rất nhiều Nhưng rồi, nhà thơ đã có một sự lột xác ngoạn mục khi đã tìm đường, nhận đường thành công để “ đi từ thung lung đau thương đến cánh đồng vui” Minh chứng

rõ nét cho điều này là tình cảm, niềm tin mãnh liệt của nhà thơ Chế Lan Viên

trong tập thơ “Gửi các anh” (1954) với các bài thơ gây ấn tượng mạnh như

“Trường Sơn”, “Nhớ lấy để trả thù”, “Bữa cơm thường ở trong bản

nhỏ”….Từ khởi điểm của “Gửi các anh”, nhà thơ Chế Lan Viên tiếp tục góp

bút lực của mình trong phong trào đấu tranh trên mặt trận văn hóa, tư tưởng đến những tháng ngày cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mỹ thành công qua

sự ra đời của nhiều tập thơ như “Ánh sáng và phù sa” (1960), “Hoa ngày

thường - Chim báo bão” (1967), “Những bài thơ đánh giặc”(1972), “Đối thoại mới” (1973), “Ngày vĩ đại” (1976) Nhà thơ đã đi từ miền không chút

ánh sáng tới những ý nghĩa, lý tưởng mang tầm vóc lịch sử đầy lạc quan, tin tưởng để hát khúc hoan ca, để thấy cuộc sống ngập đầy “Mây và hoa”, người

và vật đều “cựa mình” tái sinh, sinh sôi dưới nguồn sống mới:

“Nơi hỏa tiễn ghé hôn vào mặt trăng

Cháy bùng lên ngọn lửa

Trang 28

Một làn hương bay

Ôi cành hoa thứ nhất

Như giọt sữa đem mùa xuân làm nóng ngực

Như buổi đợi chờ, tiếng nói động đầu dây

Như nóng lòng mẹ, tiếng đầu tiên trẻ khóc

Ngo ngoe sự sống hồng đôi tay”

(Mây và hoa)

Sau cuộc kháng chiến cần lao của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, đại thắng mùa Xuân năm 1975 là bản thiên hùng ca, đưa đất nước bước vào trang sử mới Mốc son khẳng định chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, Độc lập- Tự

do và Hạnh phúc Trong không khí đại thắng, người người hân hoan và các nghệ sĩ lại mang trong mình cảm xúc cuộn trào hơn bao giờ hết Chẳng thế

mà có quá nhiều các sáng tác thơ- ca- họa- múa… dành cho ngày đại thắng Đất nước độc lập đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội là chất xúc tác tốt cho các nghệ sĩ, cho Chế Lan Viên khai sinh nhiều tập thơ tràn ngập niềm tin yêu,

phấn chấn như: “Hoa trước lăng Người” (1976), “Hái theo mùa” (1977),

“Dải đất vùng trời” (1977) “Hoa trên đá” (1984) Và rồi, cũng giống như

nhiều đồng nghiệp khác, nhà thơ Chế Lan Viên lại “thở dài” cùng những đổi thay của xã hội, của con người, nơi mà người ta cô đơn, thu mình, trống trải giữa vạn người Khi mà những đau đáu chưa nguôi cũng là khi ông xa rời cõi tạm năm 1989, để lại cho văn học Việt những vần thơ cuối đời nhiều suy tư

trong “Ta gửi cho mình” (1986), “Di cảo thơ I,II,III”:

“Sáng ra thì em đi

Gió lạnh lùa theo xe

Gió chia làm hai nửa

Một nửa theo anh về.”

Trang 29

Mùa đông se sắt lạnh tựa như phía cuối cuộc đời cô đơn, không người, không sẻ chia, không bè bạn Ngày lại trôi về phía cũ Thế nhưng, khi đã bước tới “mùa thu của cuộc đời” nhà thơ Chế Lan Viên cũng rất an nhiên chấp nhận vòng xoay của số phận Những gì đã trải qua, đã thấm thía suốt một đời người đủ đầy để ta không còn nuối tiếc nơi cõi tạm

1.3.2 Hành trình sáng tạo, phong cách nghệ thuật của Xuân Diệu

1.3.2.1 Giai đoạn trước 1945

Thật không ngoa khi đánh giá thơ Xuân Diệu là đỉnh cao của phong trào thơ mới Góp mặt nhiệt thành, tạo màu sắc, sự bùng nổ mạnh mẽ trong thơ mới, Xuân Diệu đã khiến độc giả không thể quên được chất thơ mình, nhất là thế giới thơ tình trong phong trào thơ mới của ông Chẳng thế mà nhà phê bình Hoài Thanh, Hoài Chân đã dành cho ông Hoàng Thơ Tình những lời

ưu ái trong cuốn “Thi nhân Việt Nam” năm 1941 rằng: “Thơ Xuân Diệu là nguồn sống dào dạt chưa từng có ở chốn non nước lặng lẽ này.” Có lẽ trong phong trào thơ mới, giữa vườn văn chương một thuở xã hội còn loạn lạc, chất nhựa sống mơn mởn, khát khao sống và yêu trỗi dậy mạnh mẽ nhất trong thơ Xuân Diệu Chữ “Xuân”, chữ “Tuổi trẻ” bao giờ cũng thống thiết trong thơ ông, ta cảm nhận như nhà thơ sống và yêu chưa khi nào là đủ vậy Nói như nhà phê bình Nguyễn Đăng Mạnh thì “ Xuân Diệu là thơ của niềm giao cảm hết mình giữa con người và con người, một phát hiện về niềm hạnh phúc tuyệt vời mà cuộc sống trần thế này đã ban phát cho nhân loại” Nguồn thơ, nguồn sống, nguồn giao cảm mãnh liệt ấy đã khiến cho thơ Xuân Diệu bứt phá và trở thành “Nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới” Cái mới ấy được thể hiện toàn diện từ tư tưởng thơ vượt trên cả cái thoát tục, mơ tiên, siêu việt của phần lớn các nhà thơ mới Xuân Diệu đã truy tìm được những ý niệm về bản thân, về cái tôi rất Tây, rất mới và vượt lên cả thời đại, ông

khẳng định “Ta là một, là riêng là thứ nhất” (Hy Mã Lạp Sơn) Cái tôi cá nhân

Trang 30

thực sự được giải phóng, Xuân Diệu như con chim câu khát khao ùa tìm hạnh phúc, chuyên chở hạnh phúc và nguồn sống bất tận:

“Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước, và cây, và cỏ rạng,

Cho chếnh choáng mùi hương, cho đã đầy ánh sáng,

Cho no nê thanh sắc của thời tươi;

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

(Vội vàng)

Nhà thơ muốn “Ghì”, muốn “Ôm”, muốn “Cắn”, muốn “Hôn”, muốn

“riết mây đưa và gió lượn”, “Say cánh bướm với tình yêu”, muốn vội vàng để phiêu hết mình trong tuổi trẻ, muốn tạo nên sức mạnh phi thường ngưng thời gian và không gian để tuổi trẻ thắm mãi Có thể khao khát muốn “Tắt nắng”,

“buộc gió” chỉ là những khát khao ít ỏi trong vô vàn những khát khao vượt lên cả tầm kiểm soát của con người để sống và yêu cho trọn vẹn, vĩnh hằng Nhà thơ viết về tình yêu với cảm xúc say sưa, mãnh liệt nhưng hết sức trong trẻo, đúng chất tình yêu của tuổi trẻ Tìm trong hai tập “Thơ thơ” (1938) và

“Gửi hương cho gió” (1945) ta thấy tràn ngập những bài thơ tình với vô vàn cảm xúc yêu thương và sức sống tràn căng mãnh liệt Hết thảy những mê say

ấy đều rất thực, rất đời

Thế nhưng, cuộc sống muôn hình vạn trạng, để đạt được sự tròn vẹn, hoàn mỹ quả thực rất khó Éo le thay, sau những khát khao tình yêu, nguồn sống thực thụ, nhà thơ cũng phải đối chọi với những xa cách, chia ly, phụ bạc, đơn phương và cô đơn Càng mong đợi, càng cống hiến, nặng tình bao nhiêu đến khi gặp sự thất vọng càng yếu mềm bấy nhiêu Có những lúc tưởng chừng

Trang 31

nắm bắt được hạnh phúc thì tất cả bỗng tuột xa tầm với Để rồi nhà thơ phải thốt lên “Tôi như con nai bị chiều giăng lưới” (Khi chiều giăng lưới), hay:

“Em sợ lắm giá băng tràn mọi nẻo

Trời đầy trăng lạnh lẽo buốt sương da”

(Lời kỹ nữ)

Thế nhưng có một sự thật rằng, dẫu thơ tình Xuân Diệu có nhiều sắc thái đến đâu, khi say sưa hạnh phúc ngập đầy hay ngay cả khi cô đơn, thất vọng khốn cùng thì độc giả vẫn cảm được cái tình êm ái trong thơ, vẫn thấy màu sáng, niềm lạc quan, tin yêu, chẳng thế mà thế giới thơ tình Xuân Diệu

có sức sống lâu bền đến vậy:

“Chiều đầu thu ôi hương hoàng lan

Ngạt ngào nhào trộn cả không gian

Mới còn nắng gắt hôm qua thế

Mà bỗng bên trời mây nhẹ tan”

(Chiều đầu thu)

1.3.2.2 Giai đoạn sau 1945

Qủa thực thắng lợi của Cách mạng Tháng tám 1945 là một chiến thắng

có ý nghĩa hết sức lớn lao về mọi mặt Xét đến tầm ảnh hưởng tích cực của Cách mạng Tháng Tám đối với văn đàn hẳn không còn gì phải bàn cãi và không có một sự biến động nào có thể tạo nên một điều kỳ diệu đến thế Nếu trước đó, các nhà văn, nhà thơ thấy chênh vênh, mịt mờ giữa thời cuộc, không biết đâu là “đường”, chỉ biết nương tâm hồn yếu ớt, sợ sệt, trốn tránh thực tại vào những vần thơ lãng mạn, nhiều khi viển vông, ủ dột thì nay (Sau Cách mạng Tháng Tám) đã “hạ cánh”, xuống đường cùng nhân dân, chung sức đồng lòng trên con đường cách mạng cùng dân tộc Sánh vai cùng các nhà thơ, nhà văn trên mọi miền tổ quốc trong cuộc thay máu tư tưởng ngoạn mục, nhà thơ Xuân Diệu không phải là ngoại lệ Đang từ những khung trời khát

Trang 32

khao tình yêu lứa đôi, tình đời mãnh liệt nồng thắm ông đã ào ra để hòa chung những tình cảm, cảm xúc cá nhân ấy cùng tình yêu quê hương, đất nước, con người, những tình cảm riêng- chung hết sức ấm áp Ta cảm như tình yêu trước

đó trong vườn tình của Xuân Diệu mãnh liệt đến thế nào thì nay hòa cùng niềm tin yêu vô hạn với Đảng, cách mạng và nhân dân thì nó lại càng như đợt

lũ trào, ngòi bút đã trưởng thành, rắn rỏi trở thành vũ khí chiến đấu thực sự Điều đó được minh chứng bằng hàng loạt các tập thơ đậm chất sử thi xuyên

qua hai cuộc kháng chiến như: “ Ngọn Quốc kỳ” (1945), “ Hội nghị non

sông” (1946), “Dưới sao vàng” (1946), “Sáng” (1953), “Mẹ con” (1954),

“Ngôi sao” (1955), “Riêng chung” (1960), “Mũi Cà Mau”- “Cầm tay” (1962), “Một khối hồng” (1964), “Hai đợt sóng” (1967), “ Tôi giàu đôi mắt” (1970), “Hồn tôi đôi cánh (1976)

Hàng loạt những tập thơ được ra đời liên tiếp thể hiện khát vọng và niềm tin chiến thắng của nhà thơ đối với cuộc đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Nếu như trước năm 1945 là những vần thơ khao khát khẳng định cái tôi, chán chứa tình yêu, khát vọng cá nhân thì nay đã kết thành những điều lớn lao, vĩ đại cùng vận mệnh dân tộc, từng niềm đau, căm hờn

cũng là niềm đau chung, mối thù chung:

“Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi

Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu

Tôi sống với cuộc đời chiến đấu

Của triệu người yêu dấu gian lao.”

(Những đêm hành quân- Xuân Diệu)

Không chỉ ghi lại những chặng đường hành quân, ghi lại những tình

cảm nồng đượm của tình tiền tuyến, hậu phương, tình đồng chí trong “Việt

Nam muôn đời”, “Một cuộc biểu tình”, “Thơ tặng má”, “Em nhỏ Hương

Trang 33

tuyến”, “Bà má Năm Căn”, mà nhà thơ Xuân Diệu cũng đặc biệt dành nhiều

bút lực để khắc họa hình ảnh núi sông hùng vĩ, thắm tươi vô ngần Đó như một chất xúc tác để muôn triệu trái tim thêm yêu thương đất nước, quyết tâm đánh đuổi giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi, bởi đất nước ta xinh đẹp và tươi

thắm vô ngần trong „Mã Pí Lèng”, “Chòm Cô Tô mười bảy đảo xanh”, “Sa

Pa”, “ Xoài Thanh Ca Bình Định”, “Miền Nam quê ngoại” Ta vẫn còn nhớ

đó những vần thơ đẹp, đầy tự hào về đất nước “rừng vàng, biển bạc”:

“Những chiều êm quang mây

Vịnh Bắc Cô Tô ấy

Biển xanh đẹp lạ lung

Trong suốt nhìn tận đáy

Những con trai đáy nước

Đang hé mở lòng trai

Nước bể em nuôi dưỡng

Ánh trời anh đọng soi”

(Ngọc trai trong Vịnh Cô Tô- Xuân Diệu)

Thế nhưng hòa lẫn vào nguồn tác phẩm Cách mạng vô cùng dồi dào cùng những tên tuổi lớn khác, thơ Xuân Diệu trong dòng thơ Cách mạng không thực nổi bật và tạo nhiều dấu ấn như giai đoạn trước Sau khi đất nước giải phóng, ông cũng như nhiều nhà văn, nhà thơ khác hòa vào cuộc sống đất nước hậu chiến còn nhiều bộn bề Những tác phẩm của ông cũng không “lạc” khỏi cảm hứng “thế sự đời tư” theo mạch chảy của văn đàn Tập thơ tiểu biểu

của nhà thơ Xuân Diệu trong thời gian này là tập “Thanh Ca” (1982) Cảm

hứng thế sự đời tư được nhà thơ Xuân Diệu thể hiện nhẹ nhàng, giàu tâm trạng trong các vần thơ thiên về tình cảm cá nhân, những mảnh tình riêng:

“Sắt hạ rung rinh bốn phía hè

Hồn ai hiu hắt lá xanh tre?

Trang 34

Dịu dàng như có, như không có Biển ở xa xăm gởi gió về

Hương ngây tội lỗi rải mơ màng

Da thịt du dương của những nàng Tên tuổi mờ bay, thân chẳng định Mắt buồn đâu đã khép trong sương”

(Nhớ mông lung)

Trang 35

Chương 2: KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG THƠ

VỀ MÙA CỦA CHẾ LAN VIÊN VÀ XUÂN DIỆU TRƯỚC

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

2.1 Cả ứ ủ đạo ủ ệ t u t ã ạ

2.1.1 Vỡ mộng trong hành trình tìm kiếm lý tưởng cá nhân

Tiếng thơ là tiếng lòng, chính bởi vậy mà mỗi trang văn, mỗi lời thơ

đều chuyên chở những xúc cảm, mong muốn, những khát khao của tác giả về một vấn đề nào đó Nhân vật trữ tình có thể là chính tác giả hay không là tác giả đi chăng nữa thì từ thẳm sâu vẫn chính là tiếng nói của tác giả muốn gửi gắm thông qua tác phẩm và nhân vật trữ tình của mình Trong phong trào thơ mới các tác giả thơ luôn đề cao mộng tưởng, khát khao vươn đến sự thoát tục, thoát khỏi cuộc sống đang bế tắc ngột ngạt để vươn tới những điều tuyệt bích hơn dẫu không có thật như thiên đàng, trời mây, tiên cảnh Tất cả thể hiện cho một chữ “thoát” Đó là khi ánh sáng của Cách mạng chưa rọi soi, khi mà con đường vẫn mịt mù, những nhà thơ đành ru ngủ mình trong thế giới mộng tưởng, bàng quan với thời cuộc Dường như họ cũng khát khao lắm một con đường để họ tự tin bước theo, để được dẫn lối Họ bị ám ảnh bởi câu hỏi “Ta

là ai?” Giữa thời cuộc đang nước sôi lửa bỏng, họ vẫn nhẩn nha thả hồn mình cùng những mộng mơ như những kẻ khờ lạc bước giữa cảnh đời, giữa tình yêu Họ đứng ngoài cuộc với cuộc đấu tranh khốc liệt của những cảnh đời nô

lệ Thế nhưng, đôi khi, người ta cũng cảm được những nỗi buồn không tên, những chênh vênh vô định, cái khát khao vươn tới tự do, thoát khỏi xiềng xích nô lệ như hình ảnh Chúa Sơn Lâm “Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt”, trong bài „Nhớ rừng” của nhà thơ Thế Lữ Bị nhốt "trong cũi sắt", căm hờn uất hận đã chứa chất thành "khối", "gậm' mãi mà chẳng tan, càng "gậm" càng cay đắng Chỉ còn biết "nằm dài" bất lực, đau khổ Bị "giễu", bị "tù

Trang 36

hãm", trở thành "thứ đồ chơi'' cho "lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ'' Đau khổ nhất là chúa sơn lâm nay bị tầm thường hóa, vị thế bị xuống cấp:

"Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi,

Với cặp báo chuồng bên vô tự lự"

(Nhớ rừng)

Đó là một nét tâm trạng điển hình đầy bi kịch của chúa sơn lâm khi bị

sa cơ, thất thế, bị giam cầm Trong hoàn cảnh lịch sử đất nước ta khi bài thơ

ra đời (1934) thì nỗi tủi nhục, căm hờn, cay đắng của con hổ cũng đồng diệu với bi kịch của nhân dân trong xích xiềng nô lệ sống trong tăm tối "nhơ nhuốc lầm than” Những khao khát kiếm tìm, khẳng định lý tưởng nhiều khi khiến người ta mệt nhoài, muốn trốn mình vào giấc ngủ cho quên sầu, quên đời Những giấc mơ không tên sẽ đánh lừa ta trong phút chốc bình yên, dẫu ẩn sâu trong đó vẫn là những ngậm ngùi:

“Sợi buồn con nhện giăng mau

Em ơi! hãy ngủ… anh hầu quạt đây

Lòng anh mở với quạt này

Trăm con chim mộng về bay đầu giường

Ngủ đi em, mộng bình thường

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ”

(Ngậm ngùi- Huy Cận)

Có thể nói các tác phẩm trong phong trào thơ mới là biểu hiện rõ nét nhất cho chủ nghĩa lãng mạn, những thuộc tính nổi bật của nó trong các tác phẩm văn học lãng mạn Các nhà thơ đã thể hiện đủ đầy cả khía cạnh lãng mạn tích cực và lãng mạn tiêu cực trong các sáng tác Quy chiếu vào thời đại,

ta có thể thấy, cái lãng mạn tích cực của phong trào thơ mới âu cũng là sự huyễn hoặc, “AQ”, sự trốn tránh với những cái tiêu cực và khi cái lãng mạn

Trang 37

tiêu cực được bộc lộ không giấu giếm thì đó chính là khi người ta bế tắc với chính mình và bế tắc giữa cuộc đời chưa tìm thấy lối

Trong mạch nguồn chung cùng những nhà thơ mới, Chế Lan Viên và Xuân Diệu cũng khắc khoải trong việc khát khao tìm kiếm và khẳng định lý tưởng Nhà thơ Xuân Diệu luôn đề cao tình cảm và đề cao sự tự do trong thơ mình Ông khát khao sống, khát khao yêu đương mãnh liệt mà trong dòng văn học cổ điển trước đó coi như điều cấm kỵ Chủ nghĩa lãng mạn còn được gọi

là chủ nghĩa tình cảm, bởi vậy tình cảm, cảm xúc chân thực của con người là cái được đề cao Xuân Diệu đã nổi lên như một thi sĩ của tình yêu với khát khao bỏng cháy thể hiện cái tôi, lý tưởng cái tôi giữa bộn bề thời cuộc, khi mà người ta cho những phút mộng mơ, những phút lạc đường làm đánh mất chính mình Xuân Diệu ví mình như “Con chim đến từ xứ lạ, ngứa cổ hát chơi” Nhưng đó lại quả thực là tiếng hát nồng nàn, bỏng cháy với giọng hát cao vui, đầy nội lực để tìm kiếm, khẳng định chính mình, khẳng định lý tưởng của bản thân trước những ngày giông gió Dẫu tình cảm trọn vẹn, hạnh phúc cập bến bờ hay có những phút rẽ đôi thì nhà thơ đều biểu hiện mình một cách

rõ rệt nhất, không giấu giếm, hạnh phúc đến tận cùng, đau đến tận cùng, nhưng chưa bao giờ “chán yêu”, lúc nào cũng “mời yêu”:

“Mở miệng vàng và hãy nói yêu tôi

Dù chỉ trong một phút mà thôi”

(Mời yêu)

Hay như, ông khẳng định sức mạnh, tầm quan trọng của tình yêu đối với cuộc sống của mình, tình yêu là lý tưởng, là chân lý:

“Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào”

(Bài thơ tuổi nhỏ)

Trang 38

Nếu nhà thơ Chế Lan Viên nhận ra và thấm thía những cái cô đơn, đớn đau tận đáy lòng và phải phát ra những bài thơ đầy tâm trạng thì nhà thơ Xuân Diệu dù có những phút lạc quan say sưa cùng cuộc đời và tình yêu nhưng rồi vẫn không thoát khỏi cái cảm giác cô đơn, bất lực trước sự chảy trôi vô tình của thời gian Chính nhà thơ cũng đã ý thức rất rõ về điều này trong những

“giục giã”, “vội vàng” Thời gian một đi không trở lại và tuổi trẻ cũng vậy: không thắm lại bao giờ:

“Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua

Xuân con non, nghĩa là xuân sẽ già

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi

Có lẽ trước cách mạng Tháng Tám, thơ Chế Lan Viên “lý trí” hơn ai hết Xen lẫn những phút lãng mạn là tận cùng của nỗi đau, sự đổ vỡ mà nhà thơ cũng không sao thoát ra được Lý tưởng trước mắt mịt mùng, lý tưởng những gì đã qua chỉ thêm tiếc nuối, để rồi mọi thứ chỉ còn lại đổ nát, hoang tàn Ngược lại với nhà thơ Xuân Diệu, giai đoạn trước 1945, nhà thơ Chế Lan

Trang 39

ông đều phải rờn rợn, sởn gai ốc Dường như nhà thơ càng khát khao tìm kiếm lý tưởng lại càng thất vọng, lạc lối, bế tắc Nhà thơ không thể độc thoại cùng chính mình, đối thoại cùng bất cứ ai mà chỉ còn biến tự nhốt mình trong

thế giới khép kín, đầy bóng tối, không tìm thấy lối ra, để rồi than bày với “Cái

sọ người”, “Đêm tàn”, “Máu xương”, « Mồ không », hay “Xương vỡ máu trào”…

“ Này chiếc sọ người kia, mi hỡi!

Dưới làn xương mỏng mảnh của đầu mi

Mi nhớ gì, tưởng gì trong đêm tối?

Mi trông mong ao ước những điều chi?”

( Cái sọ người)

Những câu hỏi liên tiếp được đưa ra không lời giải đáp, hình ảnh “đêm tối”, những “trông mong, ao ước” giàu sức gợi

2.1.2 Phủ định, khước từ, ly khai thực tại

Như trên người viết đã nhận định, cái lãng mạn tích cực, âu cũng chỉ là

sự huyễn hoặc, “AQ” với những điều chân thật xót lòng Giữa cuộc bể dâu của đất nước và nhân dân lầm than, dưới xiềng xích nô lệ, những cuộc nổi dậy đấu tranh bị đàn áp đẫm máu , khi mà đất nước có rất nhiều trái tim yêu nước nhưng chưa có một con đường sáng thực sự để dẫn lối đấu tranh thì trong văn chương, cụ thể là những người nhà thơ phải nương mình đi tìm những điều lý tưởng thoát tục, gần gặn thì đó là thiên nhiên, tình yêu, những người bên mình, còn xa vời là tiên cảnh, chốn bồng lai xa lắc Bày ra những mộng mơ hoàn hảo, những tình yêu đẹp, cảnh thiên nhiên quanh mình, hay mơ về hạnh phúc giữa chất ngất khổ đau đang bủa vây là một sự nương mình đầy trớ trêu Khi đọc “Đây thôn Vĩ Dạ” hay “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử ta cứ ngỡ đất nước đang hòa bình đó chứ, khung cảnh thôn quê, con người bình yên đến

Trang 40

lạ, cảnh vật hiền hòa như chưa từng có những rúng động, nghiệt ngã của thời

cuộc, nghiệt ngã từ tên của tập thơ – “Thơ điên” (1937):

“Trong làn nắng ửng: khói mơ tan

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn thiên lý bóng xuân sang”

(Mùa xuân chín)

Hay như trong tác phẩm “Tiếng thu”, nhà thơ Lưu Trọng Lư để lại nhiều ý nghĩ, nhiều tầng lớp nghĩa trong hình ảnh “Con nai vàng” và sự “ngơ ngác” Hình ảnh thiên nhiên, con vật tưởng như hết sức tự nhiên, thanh thản, thong dong, nhưng soi sâu vào đó ta liên tưởng tới sự luống cuống, vô định:

“Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô »

(Tiếng thu)

Bên cạnh đó, ta bắt gặp vô vàn những nương náu, ẩn mình, sự cứu rỗi tâm hồn của các nhà thơ mới trong các tác phẩm của mình như: Huy Cận với

“Tràng Giang”, “Ngậm ngùi”; Vũ Hoàng Chương với “Say đi em”; Đoàn Phú

Tứ với “Màu thời gian”; Nguyễn Bính với “ Mưa xuân”…

Trở lại cùng nhà thơ Xuân Diệu và Chế Lan Viên Ta thấy thơ Xuân Diệu ngập tràn hương sắc của tình yêu, hòa quyện cùng cảnh sắc tự nhiên Nhà thơ lồng ghép mật ngọt giữa khung cảnh tự nhiên khiến cho thiên nhiên thêm tươi đẹp, hay cũng như điều thường thấy, lấy cảnh để nói tình, mượn hình ảnh mây, gió, trăng, hoa, bướm để tình yêu trở nên thi vị, bay bổng Đọc thơ Xuân Diệu ta cảm được tình yêu đầy mãnh liệt và lãng mạn bên cạnh vẻ

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w