1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi : Luận văn ThS. Tâm lý học: 603104

128 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kiến thức được tiếp nhận sẽ được trẻ ghi nhớ, theo thời gian những kiến thức này sẽ trở thành khả năng vận hành năng lực suy nghĩ, năng lực tư duy và năng lực sáng tạo ở trình độ c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trần Thị Minh Đức Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Nếu những thông tin tôi cung cấp không chính xác, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền

Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2018

Tác giả luận văn

Quách Nguyễn Thương Thương

Trang 4

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn và người thân trong gia đình tôi, những người đã ủng hộ tôi về mặt tinh thần và tạo mọi điều kiện giúp tôi

có thể hoàn thành luận văn của mình

Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn của tôi vẫn còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong nhận được sự bổ sung, đóng góp ý kiến quý giá của các thầy (cô) giáo, các bạn đồng nghiệp và độc giả để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 09 tháng 09năm 2018

Học viên

Quách Nguyễn Thương Thương

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về giáo dục sớm và nhận thức, hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi 6

1.1.1 Tổng quan một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về giáo dục sớm 6

1.1.2 Tổng quan một số nghiên cứu về nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm cho trẻ em 15

1.2 Lý luận về giáo dục sớm và nhận thức, hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi 20

1.2.1 Lý luận về giáo dục sớm 20

1.2.1.1 Khái niệm giáo dục sớm 20

1.2.1.2 Đặc điểm của giáo dục sớm 25

1.2.1.3 Các nội dung của hoạt động giáo dục sớm 30

1.2.2 Nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi 33

1.2.2.1 Nhận thức của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi 33

1.2.2.2 Hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi 35

1.3 Đặc điểm tâm lý trẻ từ 0-3 tuổi 37

1.3.1.Đặc điểm tâm - sinh lý trẻ tuổi hài nhi 37

1.3.2 Đặc điểm tâm – sinh lý trẻ tuổi ấu nhi 39

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi 42

1.4.1 Yếu tố khách quan 42

1.4.2 Yếu tố chủ quan 43

Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.1 Tổ chức nghiên cứu 46

2.1.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 46

2.1.2 Tiến trình nghiên cứu 48

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 49

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 49

2.2.2 Các phương pháp nghiên cứu 52

Trang 6

2.2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 52

2.2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏỉ 52

2.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 56

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 59

3.1 Thực trạng nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi59 3.1.1 Thực trạng chung nhận thức của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻtừ 0-3 tuổi 59

3.1.1.1 Hiểu biết của cha mẹ về mục tiêu của giáo dục sớm 61

3.1.1.2 Hiểu biết của cha mẹ về các nội dung của giáo dục sớm 63

3.1.1.3 Hiểu biết của cha mẹ về nguyên tắc của giáo dục sớm 65

3.1.2 Thực trạng chung hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi 67

3.1.2.1 Thực trạng hành vi thực hành giáo dục sớm của cha mẹ 68

3.1.2.2.Thực trạng hành vi thực hiện các nguyên tắc của giáo dục sớm của cha mẹ 77

3.1.2.3 Thực trạng hành vi học tập và chia sẻ của cha mẹ về giáo dục sớm 80

3.1.3 Mối tương quan giữa nhận thức và hành vi giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi của cha mẹ 81

3.1.4 Sự khác biệt về nhận thức và hành vi giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi giữa người cha và người mẹ 84

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi 85

3.2.1 Các yếu tố chủ quan ảnh hướng đến nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi 86

3.2.2 Các yếu tố khách quan ảnh hướng đến nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 47Bảng 2.2: Độ tin cậy của các thang đo 50Bảng 2.3: Mức đánh giá nhận thức và hành vi, các yếu tố ảnh hưởng 55Bảng 3.1: Thực trạng chung nhận thức về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 60Bảng 3.2: Hiểu biết về mục tiêu của giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 61Bảng 3.3: Hiểu biết về nội dung của giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 63Bảng 3.4: Hiểu biết về nguyên tắc giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 65Bảng 3.5 : Thực trạng chung hành vi về giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổiở nhóm khách thể nghiên cứu 67Bảng 3.6 : Hành vi thực hành giáo dục sớmcho trẻ từ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 68Bảng 3.7: Hoạt động rèn luyện giác quan ở trẻ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 69Bảng 3.8: Hoạt động phát triển khả năng vận động ở trẻ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 71Bảng 3.9: Hoạt động phát triển ngôn ngữ ở trẻ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 73Bảng 3.10: Hoạt động phát triển nhận thức ở trẻ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 74Bảng 3.11:Hoạt động phát triển kĩ năng sống ở trẻ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 76

Trang 8

Bảng 3.12: Hành vi thực hiện các nguyên tắc của giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi của nhóm khách thể nghiên cứu 77Bảng 3.13: Hành vi học tập và chia sẻ về giáo dục sớm cho trẻ 0-3 tuổicủa nhóm khách thể nghiên cứu 80Bảng 3.15: Sự khác biệt về nhận thức và hành vi giáo dục sớm cho trẻ 0-3 tuổi giữa người cha và người mẹ 84Bảng 3.16: Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến nhận thức và hành vigiáo dục sớm của cha mẹ 86Bảng 3.17: Yếu tố khách quan ảnh hưởng đến nhận thức và hành vigiáo dục sớm của cha mẹ 88

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục trẻ em luôn được gia đình và xã hội dành sự quan tâm đặc biệt nhằm mang đến những điều kiện tốt nhất, để trẻ có thể phát triển một cách toàn diện cả về thể chất và tâm lý Trong những năm qua, dưới sự phát triển vượt bậc về kinh tế- xã hội, Việt Nam được hội nhập và giao lưu văn hoá -giáo dục Những luồng văn hoá mới, những tư tưởng giáo dục tiến bộ của các nước có cơ hội phổ biến vào nước ta Cha mẹ Việt cũng từ đó quan tâm tới những phương pháp giáo dục đa dạng và có nhiều kỳ vọng và sự đầu tư cho con cái hơn Trong đó, các phương pháp giáo dục sớm cho trẻ em ngay từ khi

ra đời đã được nghiên cứu và áp dụng thu hút sự chú ý của những người làm cha mẹ

Trên thế giới, vấn đề giáo dục sớm đang là vấn đề được nhiều quốc gia quan tâm, đầu tư và trở thành một cuộc cách mạng nguồn nhân lực chất lượng cao Đặc biệt, tại các nước có nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng này đã trở thành nền tảng cơ bản của ngành giáo dục Riêng đối với những quốc gia đang phát triển, giáo dục sớm chính là chiến lược định hướng, đồng thời cũng

là mục tiêu: Biến gánh nặng dân số thành nguồn tài nguyên trí tuệ vô hạn[22] Trẻ em trong giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi, đặc biệt là giai đoạn khởi đầu

từ 0-3 tuổi, được cho rằng có năng lực hấp thụ kiến thức mạnh mẽ nhất Ở giai đoạn này, khả năng tiếp nhận và hấp thụ là vô cùng lớn Những kiến thức được tiếp nhận sẽ được trẻ ghi nhớ, theo thời gian những kiến thức này sẽ trở thành khả năng vận hành năng lực suy nghĩ, năng lực tư duy và năng lực sáng tạo ở trình độ cao[17].Giáo dục sớm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự trưởng thành của trẻ, đây là giai đoạn vàng để phát triển trí tuệ, hình thành năng lực, tính cách và phẩm chất tốt đẹp của con người

Chính vì vậy, phong trào tự dạy con từ rất nhỏ được rất nhiều cha mẹ hưởng ứng, hình thành nên các nhóm dạy con, trao đổi kinh nghiệm về tâm lý

Trang 11

và giáo dục sớm trên các trang mạng xã hội thu hút hàng trăm ngàn người tham gia.Điều này tạo nên cácdư luận xã hội trái chiều trong việc giáo dục sớm cho trẻ Một là, không cần phải giáo dục sớm vì trẻ còn nhỏ, cứ để phát triển theo tự nhiên Hai là, cần phải giáo dục, kích hoạt và phát triển toàn diện cho trẻ từ sớm, làm nền móng cho quá trình hình thành và phát triển nhân cách sau này của trẻ

Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm cho trẻ có ý nghĩa quan trọng giúp chúng ta có thể định hướng

và đưa ra những kiến nghị cụ thể góp phần nâng cao nhận thức về giáo dục sớm cho cha mẹ một cách khoa học hơn Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu

từ góc độ Tâm lý- Xã hội- Giáo dục về giáo dục sớm cho trẻ, đặc biệt là những nghiên cứu về nhận thức, hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm cho trẻ

từ 0-3 tuổi khá hiếm Với tư cách là người công tác trong lĩnh vựctâm lý giáo

dục, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nhận thức và hành vi của cha mẹ

về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt

nghiệp

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi Qua đó,đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức và hành vi cho cha mẹ về giáo dục sớm cho trẻ

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi và những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của họ

3.2 Khách thể nghiên cứu:

300 cha mẹ có con trong độ tuổi 0-3 tuổi, bao gồm 150 khách thể là người cha và 150 khách thể là người mẹ

Trang 12

4 Giả thuyết nghiên cứu

- Nhận thức của cha mẹ về giáo dục sớm ở mức độ khá cao và hành vi giáo dục sớm của cha mẹ ở mức độ khá

- Các yếu tố truyền thông và sự chủ động sắp xếp thời gian của cha mẹ là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất tới nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi và những yếu tố tác động đến nhận thức và hành vi

của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng biểu hiện nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi

Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của cha mẹ

về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi

Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức cho cha mẹ về giáo dục sớm

ở trẻ từ 0-3 tuổi

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

6.1 Giới hạn về khách thể và địa bàn nghiên cứu

Trong điều kiện thời gian và kinh phí có hạn, đề tài chỉ tiến hành nghiên cứu 300 phụ huynh sống trên địa bàn TP Hà Nội Những cha mẹ đang có con trong độ tuổi từ 0-3 tuổi và họ đến tham dự khoá đào tạo nuôi dạy con tại Công ty Cổ phần Hotkids Việt Nam

7 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn:

Phương pháp nghiên cứu tài liê ̣u

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp phỏng vấn sâu

Trang 13

Phương pháp phân tích số liê ̣u bằng thống kê toán học

8 Đóng góp mới của đề tài

Giáo dục sớm là một vấn đề còn khá mới và được các cha mẹ đón nhận theo nhiều hướng khác nhau Những đề tài nghiên cứu về nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm theo nghiên cứu của chúng tôi hầu như chưa có

Vì vậy, luận văn đã tổng quan được một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về giáo dục sớm và khái quát hóa được lý luận về nhận thức và hành vi về giáo dục sớm của cha mẹ ở trẻ từ 0-3 tuổi Về nội dung thực tiễn, luận văn đã chỉ ra được mối liên quan thuận giữa nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm cho trẻ Cụ thể, giữa nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi có tương quan tương quan thuận chặt chẽ với nhau, đồng thời luận văn xác định được những yếu tố tác động đến nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi

Luận văn có thể được dùng như một tài liệu cho nhà giáo dục và người nghiên cứu tham khảo từ góc độ nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi

9 Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu này được thực hiện với sự đồng ý trả lời phiếu hỏi của các cha mẹ đến tham dự khoá đào tạo “Cha mẹ thông thái” tại Công ty Cổ phần Hotkids Việt Nam

- Các thông tin đều được đảm bảo an toàn và bí mật

- Các cha mẹ đều được giải thích cụ thể về mục tiêu khảo sát

10 Hạn chế của đề tài

Giáo dục sớm vẫn còn là vấn đề khá mới mẻ và có nhiều cách hiểu, nhiều ý kiến trái chiều về quan niệm Mặt khác, trong quá trình tổng quan tài liệu chúng tôi nhận thấy có nhiều phương pháp giáo dục sớm khác nhau Trong đó

có nhiều phương pháp được thực hành ở Việt Nam nhưng chúng tôi không tìm được những nghiên cứu cụ thể về hiệu quả giáo dục khi áp dụng các phương

Trang 14

pháp này Do đó, việc đưa ra những khái niệm công cụ yêu cầu cần phải có thêm những nghiên cứu có bằng chứng Việc đặt vấn đề nghiên cứu khi còn tồn tại các tranh cãi về quan điểm giáo dục như: Có nên giáo dục sớm cho trẻ từ 0-

3 tuổi hay không? Giáo dục theo những phương pháp cụ thể nào là hiệu quả?.vv Tất cả những điều này vừa mang lại những cơ hộinhưng cũng khiến chúng tôi gặp không ít những khó khăn trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, việc chỉ ra nhận thức và hành vi của những cha mẹ có xu hướng muốn giáo dục sớm cho trẻ từ 0-3 tuổi và phân tích các yếu tố ảnh hưởng sẽ giúp các nhà tâm

lý giáo dục nhận diện được thực trạng hiện nay các cha mẹ có quan điểm và hành vi giáo dục trẻ như thế nào Dù vậy, kết quả nghiên cứu có thể không tránh khỏi những hạn chế Do mẫu nghiên cứu còn ít (300 người) và sự chủ quan của người nghiên cứu khi lựa chọn một số phương pháp giáo dục sớm nào

đó để đưa vào nghiên cứu mà không chọn những phương pháp giáo dục sớm khác (Dù sự lựa chọn này đã dựa theo kinh nghiệm giáo dục sớm của các bậc cha mẹ của Công ty Cổ phần Hotkids Việt Nam)

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về giáo dục sớm và nhận thức, hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi

1.1.1 Tổng quan một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về giáo dục sớm

Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày một số nghiên cứu trên thế giới và Việt Namvề giáo dục sớm Do những nghiên cứu của Việt Nam về giáo dục sớm từ 0-3 tuổi chưa nhiều và một số nghiên cứu của tác giả Việt Nam lại viết nghiên cứu cùng tác giả nước ngoài nên chúng tôi không chia thành hai mục của ngước ngoài và Việt Nam Nhìn từ góc độ lịch sử, giáo dục sớm được ghi nhận trong phương pháp giáo dục từ những triều đại cổ xưa ở các vương triều châu Âu, châu Á Các vương tôn, vương tử đều được “văn ôn, võ luyện” từ khi còn rất nhỏ Điều này giúp họ có thể phát triển toàn diện để nối nghiệp vua

cha.Trong cuốn sách “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có nhắc đến

Kinh Koran, việc giáo dục sớm ở dân tộc Do Thái đã được họ tiến hành từ hàng nghìn năm nay, phương pháp giáo dục như những lời khuyên cho cha mẹ trong thời kỳ nuôi dưỡng con còn nhỏ[18]

Phương phápgiáo dục sớm Karl Witte (1819) được coi như nền móng cho những công trình sau này nghiên cứu về giáo dục sớm Phương pháp này được

ghi chép lại trong cuốn The Education of Karl Witte (1914) Johann Heinrich

Friedrich Karl Witte (1800-1883), ông là một học giả người Đức, là sản phẩm của phương pháp giáo dục mà cha ông đã từng bước áp dụng cho ông từ khi còn rất nhỏ, trong đó đầu tiên là giáo dục về mặt ngôn ngữ Với quan điểm, giáo dục trẻ phải từ buổi bình minh của nhận thức, giáo dục là phải tạo được hứng thú cho con Kết quả là Karl Witte thông thạo 6 ngoại ngữ từ khi lên 9 tuổi [11]

Cha của Karl Witte lý giải phương pháp giáo dục của mình như sau: “Mọi người nghĩ tôi giáo dục con theo phương châm đào tạo học giả, hơn nữa còn

Trang 16

cho rằng tối muốn con trở thành thần đồng, làm cả thế giới phải ngạc nhiên

Sự thật không phải vậy Tôi chỉ muốn con tôi phát triển toàn diện Tôi đã hứa

sẽ giúp con phát huy mọi khả năng sẵn có và tôi nỗ lực để con tôi lớn lên hoạt bát, khỏe mạnh, hạnh phúc”[Dẫn theo11, tr55] Phương pháp giáo dục Karl Witte nhấn mạnh đến yếu tố càng sớm càng tốt, sự tác động của người dạy (cha mẹ) đến đứa trẻ phải từ sớm và không nhồi nhét hay tạo áp lực cho đứa trẻ Cha mẹ là người đầu tiên phải đặt niềm tin vào đứa trẻ của mình và luôn luôn thực hành cùng trẻ, các hoạt động phải luôn lặp đi lặp lại

Maria Montessori (1906) một nữ bác sỹ, nhà giáo dụccủa Ý, mở trường học mang tính cách mạng sau nhiều năm nghiên cứu về trị liệu tâm tâm lý và giáo dục trẻ.Quan điểm giáo dục của Maria Montessori cho rằng: “Trẻ nhỏ có một loại sức mạnh bí ẩn, sức mạnh này có thể dẫn dắt chúng ta tiến vào một tương lai tươi sáng Nếu thật sự muốn đổi mới thế giới này, giáo dục phải coi phát triển tiềm năng của trẻ là mục tiêu hàng đầu”[17, Tr5]

Phương pháp giáo dục Montessori dựa trên việc quan sát các trẻ em bị tổn thương não bộ Bà nhận ra rằng để có thể chữa lành những tổn thương não bộ

đó chỉ còn cách là tạo ra được một môi trường thuận lợi để não bộ phát triển

Từ đó, những đứa trẻ bị tổn thương não bộ được học tập trong một môi trường giàu sự kích thích các giác quan với một hệ thống tài liệu và học cụ phong phú, đa dạng Các phương pháp mà bà áp dụng cho thấy rất hiệu quả, khi nhóm trẻ tiếp thu rất nhanh các kiến thức về ngôn ngữ và những gì đang diễn ra xung quanh và các em hoàn toàn có thể theo học ở những ngôi trường bình thường Sau đó, bà đã đưa phương pháp của mình ra để áp dụng cho những đứa trẻ bình thường, những nhà trẻ đầu tiên được giảng dạy theo phương pháp Montessori được hình thành Phương pháp Montessori đã được

áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới và đã được cải biến rất nhiều để phù hợp với hiện tại

Trang 17

Phương pháp Montessori được xây dựng theo phương châm giáo dục trẻ

là quá trình bồi dưỡng tiềm năng của trẻ (không phải chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức) trong giai đoạn mấu chốt và quan trọng nhất từ 0-6 tuổi, trên cơ sở trẻ được trải nghiệm và hoạt động độc lập, coi trọng sự phát triển tự nhiên của trẻ, quan sát trẻ để dạy trẻ tốt hơn Đây là một điều hoàn toàn khác so với các phương pháp giáo dục trước đây, trong khi các phương pháp giáo dục luôn cố nhào nặn trẻ trưởng thành theo mong muốn hay sự định hướng của cha mẹ, điều này rất dễ dẫn sự khó chịu của trẻ và sinh ra hành động chống đối như cáu kỉnh, khóc nhè, mè nheo ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ Phương pháp Montessori coi trọng sự “tự nhiên”, không gượng ép khiến trẻ cảm thấy thoải mái và có hứng thú với những điều mình đang làm

Trẻ từ 0-6 tuổi có năng lực nhận thức khác hoàn toàn với người lớn, chúng có thể tiếp nhận thông tin từ môi trường xung quanh rất nhanh Tâm trí tiếp nhận của trẻ trong 3 năm đầu đời gần như là vô thức, 3 năm tiếp theo là tiếp nhận có ý thức Tiếp nhận vô thức ở 3 năm đầu giống như chụp ảnh, những hình ảnh được tiếp nhận sẽ khắc sâu trong não bộ và rất khó xoá bỏ.Lý luận về thời kì nhạy cảm của Maria Montessori chỉ ra rằng, giáo dục phải bắt đầu từ 0 tuổi và phải bắt đầu từ gia đình, cha mẹ là người thầy đầu tiên là người có trách nhiệm lớn nhất Nếu như cha mẹ chỉ đáp ứng những nhu cầu vật chất cho trẻ được đầy đủ mà không dành thời gian theo sát, hỗ trợ và trải nghiệm cùng con thì cha mẹ chưa làm tròn bổn phận của mình Trong phương pháp giáo dục của mình, bà đặc biệt chú tâm đến môi trường của trẻ (tại gia đình và tại lớp học), sự sắp xếp, bài trí đồ vật, học liệu, giáo cụ… đều có những quy định riêng sao cho thuận tiện và phù hợp nhất cho sự phát triển tâm lý của trẻ, khả năng tìm tòi, tự lập và khả năng tự thực hiện của trẻ[15] Tác giả Glenn Doman (1950) cùng một số cộng sự thành lập Viện Nghiên cứu phát triển tiềm năng con người - gọi tắt là IAHP (Mỹ) Ông là người đi tiên phong trong lĩnh vực phát triển trí tuệ cho trẻ em Xuất phát từ việc quan

Trang 18

sát, trị liệu cho những trẻ bị tổn thương não bộ, ban đầu chương trình can thiệp được soạn thảo cho từng trẻ, dựa trên tiến bộ mà mỗi trẻ đạt được, cha

mẹ khi về nhà cũng phải tuân thủ chương trình mới đều đặn hàng ngày trong khoảng 6 tháng Chương trình rèn luyện tại nhà cân bằng giữa mục tiêu vận động và mục tiêu rèn luyện thể chất để đảm bảo các trẻ khoẻ mạnh hoàn thiện chức năng, trong lúc đó là bổ sung thêm chương trình dạy đọc sớm Kết quả của những thực nghiệm cho thấy, mặc dù trẻ bị tổn thương não bộ nhưng những trẻ này có thể đọc và hiểu được những gì đã đọc nhanh hơn so với những trẻ bình thường cùng độ tuổi Tác giả đưa ra giả thuyết rằng, nếu như một môi trường đầy kích thích não bộ như thế có thể giúp những trẻ bị tổn thương não bộ có thể nhận thức, đọc, hiểu, làm toán… thì không lý gì lại không mang lại lợi ích tương tự với những trẻ bình thường Một chương trình được thiết kế công phu, có chủ đích sẽ mang đến cho trẻ sơ sinh những điều kiện khuyến khích phát triển tối đa[5]

Phương pháp Glenn Doman tập trung vào lứa tuổi sơ sinh, từ 0-1 tuổi Ông cho rằng, việc bấy lâu nay chúng ta tin rằng những mốc phát triển trong quá trình phát triển của trẻ sẽ tự nhiên đến là không đúng Bởi lẽ quá trình phát triển của trẻ là sản phẩm của tổng hợp các kích thích từ môi trường sống

Bộ não lớn lên nhờ hoạt động và có thể đẩy nhanh quá trình phát triển của não

bộ bằng cách tăng cường độ kích thích vào bất cứ giai đoạn nào trong đời, nhưng sẽ hiệu quả nhất vào đúng thời điểm não bộ phát triển nhất là 6 năm đầu đời, đặc biệt là năm đầu đời (0-1 tuổi)[4]

Điều quan trọng nhất mà phương pháp giáo dục sớm của Glenn Doman mang lại đó chính là sự thay đổi nhận thức về khả năng của trẻ của các bậc cha mẹ và những người làm giáo dục về giáo dục sớm.Glenn Doman chính là người đặt nền móng đầu tiên cho xu hướng giáo dục con tại nhà, cha mẹ chính

là người thầy đầu tiên Phương pháp này giúp trẻ phát triển toàn diện: Thể chất, trí thông minh, trí tuệ xúc cảm và năng lực vượt qua nghịch cảnh, những

Trang 19

hành trang vô cùng cần thiết cho sự thành công và hạnh phúc trong suốt cuộc đời mỗi người [5]

Bên cạnh đó, những nghiên cứu và ứng dụng về giáo dục sớm của nhà giáo dục Nhật BảnMakoto Shichida mang nhiều sự khác biệt Ông thành lập Viện Giáo Dục trẻ em Shichida vào năm 1978 (Nhật Bản) sau đổi tên thành Viện Giáo Dục Shichida (Nhật Bản) Phương pháp Shichida nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cũng như ảnh hưởng của mối quan hệ đó đến sự phát triển não bộ Tác giả Shichida cho rằng mọi trẻ em đều được sinh ra với những năng lực tiềm ẩn đặc biệt Một số năng lực

có thể dễ dàng kích hoạt cho trẻ từ 0-3 tuổi như: Khả năng đa ngôn ngữ; khả năng trực giác và các giác quan của não phải ESP; các tài năng về âm nhạc và nghệ thuật; cảm xúc và các nét tính cách tích cực; năng lực chụp hình Ngày nay, đã có hơn 400 cơ sở giáo dục của Shichida trên toàn nước Nhật Bản và các nước khác như Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia, Úc, Mỹ, Canada… Những thành quả của ông đang giúp cho hàng ngàn các cha mẹ và trẻ em phát triển nền tảng cho những thành công trong tương lai[12]

Tác giả người Trung Quốc, Phùng Đức Toàn (2010) với nghiên cứu về giáo dục sớm có tên là Phương Án 0 tuổi (Công trình giáo du ̣c ưu viê ̣t và phương án thực thi cho trẻ từ 0-6 tuổi) Nội dung chính của nghiên cứu nhằm đưa các giải pháp giáo dục nhằm khai thác triê ̣t để tiềm năng trí tuê ̣ của con người Phương án 0 tuổi chỉ ra rằng cần nhận thức lại tiềm năng của bào thai, trẻ sơ sinh, trẻ mẫu giáo, đồng thời giới thiệu một hệ thống lý luận cơ bản và phương pháp để khai mở những tiềm năng này Phương án 0 tuổi đưa ra những hoạt động dạy trẻ từ khi còn là thai nhi (thai giáo) và tập trung vào giai đoạn từ 0-6 tuổi, giáo dục vui chơi trong cuộc sống, giáo dục học đường trong

sự hoạt bát, giáo dục tình cảm khoa học Điều quan trọng nhất là niềm đam

mê hoa ̣t đô ̣ng và tìm hiểu tri thức của trẻ và sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức

Trang 20

với tình yêu thương Giáo dục sớm theo quan điểm của tác giả Phùng Đức Toàn là giáo dục tố chất, bồi dưỡng tiềm năng và nhân cách trẻ [22]

Phương pháp Reggio Emila (1940) là phương pháp giáo dục nhân văn, gần gũi, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục cộng đồng và sự tự tìm hiểu khám phá của trẻ em Ví dụ, khi trẻ trong lớp học tỏ ra thích thú với trò chơi xây dựng thì giáo viên sẽ cung cấp thêm các thanh gỗ nhỏ với các màu sắc, kiểu dáng khác nhau và các vật liệu khác nhằm giúp trẻ có vật liệu để phát triển tiếp ý tưởng và sở thích sẵn có Trong khi trẻ đang say sưa khám phá thì giáo viên sẽ đưa thêm các cơ hội để học và làm quen với kỹ năng tính toán, giải quyết vấn đề và cả kỹ năng đọc viết trong dự án thực hành học tập; môi trường đóng một vai trò quan trọng Môi trường được xem là một yếu tố giáo dục thứ

ba, sau giáo viên và cha mẹ Phần lớn các lớp học theo phương pháp này đều

có một xưởng chế tạo, nơi đó đầy ắp các vật liệu như đất sét, màu vẽ, dụng cụ viết và thiết kế Trẻ sẽ sử dụng những công cụ ấy để thể hiện ý tưởng của chúng trong quá trình học tập thực tế; giáo viên -cha mẹ -trẻ đóng vai trò như những người hợp tác trong quá trình học Thông thường, các tác giả khác ít để

ý đến vai trò của cha mẹ trong quá trình học của trẻ, nhưng phương pháp Reggio Emila lại xem cha mẹ như là một yếu tố hết sức quan trọng cho việc học của trẻ Để xây dựng một cộng đồng học tập cho trẻ, các trường theo phương pháp này thường xuyên tổ chức các sự kiện trong suốt năm học để kết nối với phụ huynh của học sinh, chẳng hạn như các buổi thuyết giảng, hội thảo chia sẻ về cách chăm sóc và nuôi dạy trẻ Ví dụ, nhiều phụ huynh thường hay than phiền về việc ngủ của con không được tốt, nhà trường tổ chức một hội thảo mời chuyên gia về chia sẻ cách hướng dẫn cha mẹ tạo giấc ngủ tốt cho trẻ tại nhà [2] Như vậy, theo phương pháp Reggio Emila, trẻ em là người tự đề xuất và tự khởi động việc tương tác với môi trường xung quanh Chính vì vậy, môi trường giáo dục phải hỗ trợ cho việc theo đuổi sở thích của chúng, nhưng không phải là sao cũng được

Trang 21

Cuối thế kỷ 20, đầu thể kỷ 21 đánh dấu sự phát triển bùng nổ các học liệu giáo dục sớm của các cá nhân và công ty về lĩnh vực giáo dục Nhà giáo dục Robert C Titzer (1997) người Mỹ đưa ra bộ đĩa “Bé yêu biết đọc” dựa trên những nghiên cứu của ông về năng lực học của trẻ sơ sinh Ông đã phát triển một phương pháp học đọc đa giác quan sinh động để kích hoạt sự phát triển não bộ cho trẻ Bộ đĩa của ông nhanh chóng được các cha mẹ khắp nơi trên thế giới đón nhận và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng , như tiếng Pháp , tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nhật và tiếng Việt[3]

Công ty The Soul Learning tại Mỹ (2000) đã đưa ra bộ chương trình Tweedlewink - Right Brain Kids Bộ đĩa này được xây dựng dựa trên các lí luận giáo dục của nhiều học giả khác nhau như Maria Montessori, Barbara Meister Vitale, Colin Rose, Glenn Doman, Makoto Shichida Mục tiêu của bộ đĩa là phát triển những năng lực tiếp thu thông tin ồ ạt, tốc độ cao của trẻ một cách dễ dàng và thích thú Công ty Brillkids của Hồng Kông được thành lập vào năm 2008 cũng đưa ra thị trường bộ học liệu dạy bé đọc, làm toán và học

âm nhạc Bộ học liệu này được phát triển dựa trên nền tảng của khoa học công nghệ thông tin Các chương trình này được cài lên máy tính hoặc các thiết bị điện tử để cho trẻ trực tiếp tương tác Bộ học đọc và của Brillkids có

sự kết hợp của phương pháp Glenn Doman, phương pháp học đa giác quan của Tizer và một phần của phương pháp truyền thống Bộ học toán cũng được phát triển dựa trên phương pháp học toán thẻ dot của Glenn Doman và phương pháp toán của Shichida Hiện tại Brillkids đã có mặt ở Việt Nam và một số nước khác trên thế giới[4]

Sau nhiều năm nghiên cứu với hơn một nghìn trẻ em, nhà tâm lý học người Mỹ, Bejamin Bloom đã đưa ra kết luận rằng: “Nếu đến năm 17 tuổi, trí tuệ của một con người có thể phát triểm 100% thì vào năm 4 tuổi, trí tuệ của trẻ đã đạt 50%, đến năm 8 tuổi phát triển tới 80%, năm 8 tuổi tới năm 17 tuổi chỉ phát triển thêm tối đa 20%” Makarenko, nhà tâm lý sư phạm nổi tiếng

Trang 22

của Liên Xô giai đoạn những năm 60-70 của thế kỉ trước cho rằng: “Nền móng của giáo dục được xây dựng vững chắc từ trước 5 tuổi, nó chiếm 90%

cả quá trình giáo dục” Giáo dục sớm thúc đẩy sự phát triển của đại não ngày càng hoàn thiện, nó được tiến hành trong thời kỳ lý tưởng nhất để phát triển thể chất, trí tuệ, hình thành tính cách và phẩm chất tốt đẹp của con người Đây cũng chính là nền tảng cơ sở để nuôi dưỡng con người, là xuất phát điểm và

ưu thế cho việc phát triển ở giai đoạn sau của con người Mục tiêu của giáo dục sớm không phải để nhồi nhét tri thức mà giáo dục phải góp phần kích hoạt được các năng lực thiên bẩm của trẻ, nhằm khai phá các tiềm năng và khả năng phi thường trong những năm đầu đời của trẻ, nhằm hình thành các nền tảng tốt đẹp cho cả đời người Để có năng lực thiêm bẩm chúng ta phải cung cấp cho trẻ môi trường phát triển tốt với các yếu tố kích thích cần thiết cho sự phát triển Ngày xưa, giáo dục tập trung vào việc nuôi dưỡng những con người tốt để có thể đóng góp cho gia đình, cho xã hội Ngày nay, giáo dục mới chỉ là để vượt qua các kỳ thi và chỉ chú trọng khả năng học tập ở trường[Dẫn theo, 22]

Tại Việt Nam, trong quá trình tổng hợp tài liệu, chúng tôi không tìm được nhiều nghiên cứu về giáo dục sớm Vì vậy, trong phần này chúng tôi chỉ trình bàymột số nghiên cứu của tác giảmà chúng tôi tìm được như sau:

Tại Việt Nam, giáo dục cho trẻ trước tuổi đi học (6 tuổi) theo “Chương trình Giáo dục mầm non” của Bộ Giáo dục và Đào tạo Mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời [1]

Trang 23

Chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và đào tạo chia thành hai độ tuổi khác nhau trong quá trình phát triển của trẻ là:

Chương trình giáo dục nhà trẻ: Dành cho trẻ từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi,trong đó nhấn mạnh phát triển hài hoà về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội và thẩm mĩ

Chương trình giáo dục mầm non: Dành cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi, cũng là

để phát triển hài hoà về các mặt thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm - xã hội và thẩm mĩ và chuẩn bị cho trẻ vào học ở tiểu học Chương trình giáo dục mầm non của Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra những phương pháp, nội dung, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, hình thức triển khai hoạt động cụ thể với từng độ tuổi

Tác giả Trần Văn Tính (2017) với nghiên cứu “Phương pháp giáo dục sớm bằng hoạt động trải nghiệm thực tiễn đa trí tuệ (Phương pháp giáo dục sớm Peami)” Nghiên cứu đưa ra một phương pháp giáo dục sớm dành cho trẻ

từ 0 - 6 tuổimang tên Peami Cơ sở của phương pháp này dựa trên những luận điểm sau:

- Hoạt động là “yếu tố quyết định” giúp trẻ phát triển thể chất, trí tuệ và nhân cách Năng lực của trẻ được hình thành, phát triển, đánh giá bằng hoạt động và thông qua hoạt động của chính trẻ

- Hoạt động trải nghiệm phù hợp với độ tuổi giúp trẻ phát triển thể chất, trí tuệ và nhân cách một cách tự nhiên, kích hoạt não trẻ phát triển tối ưu trong giai đoạn phát triển vàng 0 – 6 tuổi của não bộ

- Hoạt động trải nghiệm trong cuộc sống thực của trẻ được “định hướng giáo dục” kích thích đa giác quan của trẻ, giúp trẻ phát triển đa trí tuệ (trí thông minh, trí sáng tạo, trí tuệ cảm xúc, phát triển kĩ năng xã hội và khả năng vượt khó), hình thành các phẩm chất và năng lực thực tiễn

- Hoạt động trải nghiệm thực tiễn với trẻ mầm non được tổ chức dưới hình thức các “trò chơi học tập”, chú trọng đến cả quá trình hoạt động chứ không

Trang 24

chỉ đánh giá sản phẩm cuối cùng của trẻ.Các bài học được thiết kế thành các trò chơi và các cuộc trải nghiệm đầy lý thú giúp trẻ tư duy, tiếp thu một cách tích cực và tự nhiên nhất Mỗi độ tuổi đều có giáo án chi tiết theo từng ngày, từng tháng đảm bảo sự phát triển toàn diện của trẻ theo cấp độ từ thấp đến cao Đặc biệt là chương trình học có sự gắn kết, liên hệ chặt chẽ với phụ huynh hàng ngày để theo dõi quá trình phát triển của bé[21]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2012) trong nghiên cứu “Giáo dục thai nhi dưới góc nhìn tâm lý học” đã chỉ ra rằng giáo dục sớm là một trong những quan điểm giáo dục thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau Giáo dục sớm có tác dụng dẫn dắt, bồi dưỡng, phát triển tiềm năng thể lực và trí tuệ cho trẻ trong thời kì 0 tuổi (thai nhi) đến

6 tuổi, mang một ý nghĩa đặc biệt và có tác dụng phi thường đối với sự trưởng thành của trẻ Thực hiện tốt việc giáo dục sớm sẽ thúc đẩy sự phát triển trí tuệ, hình thành tính cách và phẩm chất tốt đẹp của con người Công việc này không ai có thể thay thế được vai trò của người mẹ với sự hỗ trợ của người cha cùng các thành viên trong gia đình[20]

1.1.2 Tổng quan một số nghiên cứu về nhận thức và hành vi của cha

mẹ về giáo dục sớm cho trẻ em

Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong giai đoạn đầu đời có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hạn chế và mở rộng tiềm năng về học tập, xã hộivà thể chất trong suốt cuộc đời của trẻ Các bằng chứng khoa học cũng cho thấy sự tương tác tích cực và mối quan hệ hỗ trợ, ổn định với cha mẹ và những người chăm sóc gần gũi khác là những yếu tố quan trọng đối với trẻ để phát triển thành những người khoẻ mạnh về mặt thể chất, tinh thần và xã hội Ngược lại, nếu trẻ tiếp xúc với hoàn cảnh thời thơ ấu bất lợi và độc hại, như bị bạo lực, nghèo đói, bị lạm dụng, bị những ảnh hưởng tiêu cực kéo dài sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ, có thể dẫn đến những tổn thương nghiêm trọng cản trở sự thành công trong học tập và các

Trang 25

vấn đề khác về hành vi và sức khỏe tâm thần (Anda & Brown (2010), Hội đồng khoa học Quốc gia vì trẻ em đang phát triển(2007), Zero to Three (2009)[Dẫn theo, 31, tr32]

Các nghiên cứu tiêu biểu về nhận thức, thái độ trong nuôi dạy con cái của

các nhà nghiên cứu Mỹ được tổng kết trong cuốn: Các vấn đề về nuôi dạy con cái và hỗ trợ cha mẹ có con từ 0-8 tuổi(2016) Nội dung của nghiên cứu rất

rộng, một trong số đó xoay quanh vấn đề xác định nhận thức, thái độ và hành

vi có liên quan đến tương tác tích cực giữa cha mẹ và sự phát triển lành mạnh của trẻ em từ sơ sinh đến 8 tuổi Đánh giá nhận thức, thái độ và việc thực hành những hoạt động liên quan chặt chẽ nhất đến sự phát triển khỏe mạnh của trẻ Nghiên cứu chỉ ra rằng đặc trưng của gia đình là yếu tố chính quyết địnhviệc nuôi dạy con cái Kiến thức, thái độ và hành vi nuôi dạy con cái được định hình bởi các yếu tố, bao gồm các đặc điểm của đứa trẻ (ví dụ: giới tính); trình độ học vấn của cha mẹ và hoàn cảnh hiện tại (mức thu nhập ); dư luận xã hội cụ thể là kỳ vọng từ những người khác (gia đình, bạn bè, người thân); mạng xã hội; các hệ thống văn hóa mà gia đình sinh sống Liên quan cụ thể đến nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và thực hành nuôi dạy con cái cũng bao gồm các hỗ trợ sẵn có trong cộng đồng được cung cấp bởi các tổ chức, cũng như các chính sách ảnh hưởng đến tính hiệu quả và thực tế của các dịch vụ hỗ trợ [28]

Đề tài nghiên cứu củaHolland Suzanne Kate (2012),Nhận thức của cha

mẹ về tầm quan trọng của họạt động chơi đối với trẻ 0-3 tuổi tại Đại học

Victoria Wellington, khách thể là 255 cha mẹ tại New Zealand, có con từ 0-3 tuổi, tham gia vào cuộc khảo sát trực tuyến ẩn danh đối với trò chơi có cấu trúc (có tổ chức) và không có cấu trúc ( chơi tự do) cho trẻ em dưới ba tuổi Kết quả của nghiên cứu chỉ ra, phần lớn các bậc cha mẹ nhận thức chơi không

có cấu trúc sẽ hỗ trợ cho sự phát triển sớm nhất và do đó, cần cung cấp cho trẻ

em một lượng lớn thời gian hàng ngày để tham gia vào chơi tự do không có

Trang 26

cấu trúc Nghiên cứu cũng xác định rằng, trong những hoạt động mà hàng tuần trẻ được tham gia thì chơi có cấu trúc (tổ chức) được cha mẹ đánh giá cao hơn; cha mẹ có độ tuổi caokhông coi trọng việc chơi có cấu trúc như bố

mẹ trẻ; cha mẹ có trình độ học vấn đại học trở lên có nhận thức về chơi có cấu trúc tốt hơn những cha mẹ có trình độ học vấn thấp hơn; thời gian sử dụng thiết bị điện tử được cho là phù hợp hơn với đứa trẻ lớn tuổi hơn Sự sắp xếp thời gian của cha mẹ trong việc dành thời gian để tổ chức hoạt động chơi với trẻ có sự ảnh hưởng rất lớn tới mức độ hưởng ứng hoạt động chơi của trẻ Những kết quả này đưa ra vai trò của phụ huynh, giáo dục mầm non, giáo dục cha mẹ tới sự phát triển và an sinh của trẻ [27]

Trong nghiên cứu của Anderson KJ, Minke KM về Sự tham gia của cha

mẹ trong giáo dục: Hướng tới sự hiểu biết về quyết định của cha mẹ Nghiên

cứu chỉ ra sự tham gia của cha mẹtrong giáo dục gắn liền với kết quả tích cực cho học sinh Dựa trên mô hình KV Hoover-Dempsey và HM Sandler (1995, 1997) về quyết định của phụ huynh, các tác giả đã kiểm tra mối quan hệ giữa

4 yếu tố (xây dựng vai trò của cha mẹ, ý thức về hiệu quả của việc cha mẹ tham gia vào giáo dục, kiến thức nền tảng của cha mẹ và nhận thức của cha

mẹ về những khuyến nghị của giáo viên)với sự tham gia của phụ huynh trong các hoạt động ở nhà và ở trường Các tác giả đã khảo sát phụ huynh của học sinh tiểu học từ một khu vực đô thị Kết quả là, những lời khuyến nghị cụ thể

từ giáo viên có ảnh hưởng lớn nhất Ý thức của phụ huynh về hiệu quả và mức độ hiểu biết ít ảnh hưởng hơn dự đoán [24, tr311-323]

Barlow J, Smailagic N, Ferriter M, Bennett C, Jones H (2010) trong

nghiên cứu Các chương trình đào tạo phụ huynh trên nhóm để điều chỉnh cảm xúc và hành vi ở trẻ em từ sơ sinh đến 3 tuổi Nghiên cứu hiện tại được

ủy quyền bởi Chính phủ Tiểu bang Victoria ở Úc để thiết kế và đánh giá một can thiệp nuôi dạy con cái ngắn (smalltalk)) để tăng cường môi trường học tập tại nhà của trẻ nhỏ từ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn Dựa trên các tài

Trang 27

liệu phát triển và áp dụng cách tiếp cận tập trung vào gia đình dựa trên các thế mạnh hiện có, chương trình tìm cách tăng cường tương tác chamẹ-con (tương tác đáp ứng đặc trưng bởi sự nhạy cảm và ấm áp của cha mẹ) và xây dựng môi trường gia đình phong phú về ngôn ngữ và độ tuổi thích hợp với hoạt động chơi [25]

Trọng tâm của bài báo này là kết quả của can thiệp, qua hành vi nuôi dạy con cái và điều kiện môi trường gia đình Trong mỗi lĩnh vực, phụ huynh được thực hành các hoạt động học tập tại nhà và được đánh giá bởi chính những phụ huynh đó sau năm tháng khi hoàn thành chương trình Kết quả đưa

ra gồm các biện pháp khác về hành vi nuôi dạy con cái (sự ấm áp và kích thích do cha mẹ báo cáo; tương tác trực tiếp giữa cha mẹ và con) và môi trường gia đình (cấu trúc của gia đình vàsự thống nhất trong quan điểm nuôi dạy con cái)[25]

Nghiên cứu của Belcher HM, Watkins K, Johnson E, Ialongo N (2007) về

Khởi đầu sớm: Các yếu tố liên quan đến kiến thức của cha mẹ về sự phát triển của trẻ, hành vi và căng thẳng trong nuôi dạy con cái trên NHSA, một

tạp chí nghiên cứu để thực hành cho lĩnh vực can thiệp sớm (2007) Nghiên cứu này chỉ ra, thời thơ ấu là bước quan trọng nhất trong suốt cuộc đời Kiến thức của người mẹ là một trong những nội dung quan trọng của sự phát triển của trẻ Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định nhận thức của cha mẹ Iran

về khái niệm và tầm quan trọng của sự phát triển những năm đầu đời của trẻ Theo kết quả của nghiên cứu này, nhận thức của cha mẹ về sự phát triển đầu đời của trẻ bị ảnh hưởng bởi bốn yếu tố sau: sự chia sẻ thông tin từ người thân, sách báo và các tài liệu, công nghệ thông tin (truy cập internet) và truyền thông Trong số đó, sự chia sẻ từ người thân đã được công nhận là có vai trò có ảnh hưởng nhất, sau đó là ảnh hưởng từ truyền thông và công nghệ thông tin Một nửa số người tham gia không coi sách như một nguồn kiến thức tốt về sự phát triển của trẻ em bởi vì phần lớn họ không quá quan tâm

Trang 28

đến việc đọc, đọc sách là tốn thời gian, có một vài cuốn sách về phát triển của trẻ với cách viết đơn giản bằng tiếng Farsi và tất cả các sách đã dịch không đáng tin cậy.Về vai trò của truyền thông về sức khỏe, Alimahdi Et Al tiến hành một nghiên cứu vào năm 2015 tại tỉnh Khorasan Razavi của Iran Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy rằng những người ở tỉnh này xem chương trình sức khỏe của trẻ em là một trong những mục quan trọng nhất cần được theo dõi trên các phương tiện truyền thông[26, tr6-19]

Nghiên cứu Ảnh hưởng của mối quan hệ cha-con đối với sự phát triển của trẻ sơ sinh của Rempel, Lynn A Rempel, John K.,Khuc, Toan Nang,Vui, Le

Thi (2017), qua việc kiểm tra mức độ mà người cha có thể được dạy và khuyến khích phát triển các mối quan hệ tích cực với con cái của họ, đặc biệt

là trong giai đoạn trứng nước và ảnh hưởng của sự can thiệp của người cha đối với sự phát triển của trẻ sơ sinh Một can thiệp tập trung nhiều mặt đã được sử dụng để hỗ trợ người cha ở Việt Nam tham gia trực tiếp và gián tiếp đáp ứng với con của họ và làm việc cùng với người mẹ như là một phần của một nhóm làm cha mẹ Các cặp vợ chồng từ 13 xã ở một huyện nông thôn và ngoại thành được mời vào nhóm can thiệp Những người cha nhận được tư vấn nhóm và cá nhân trước và sau khi vợ của mình sinh Các cặp vợ chồng từ 12xã tương đương trong một huyện không liền kề được tuyển vào nhóm đối chứng Các phụ huynh đã hoàn thành bảng câu hỏi tại buổi tuyển sinh trước

và sau sinh 1, 4, và 9 tháng Các bậc cha mẹ được can thiệp thể hiện sự gia tăng kiến thức và thái độ về mối quan hệ cha mẹ-con Cả cha và mẹ đều báo cáo rằng những người cha khi tham gia vào hoạt động phát triển tình cảm, chăm sóc và chơi đùa trong những tháng đầu đời của con, họ cảm thấy gắn bó hơn ngay từ khi sinh ra Đánh giá phát triển 9 tháng cho thấy những đứa trẻ được can thiệp có sự phát triển tốt về nhận thức, ngôn ngữ và phát triển cá nhân/xã hội Nghiên cứu này chứng minh rằng người cha có thể được dạy để tương tác nhạy cảm hơn, có trách nhiệm và hiệu quả hơn với trẻ sơ sinh Sự

Trang 29

tương tác gia tăng và sự gắn bó tình cảm của họ dường như đặt nền móng cho

sự phát triển của trẻ sơ sinh[29,tr 1844-1858]

Như vậy, có thể thấy rằng những nghiên cứu đã đưa ra được vai trò và ảnh hưởngquan trọng của cha mẹ đối với việc giáo dục con cái, đặc biệt là trong giai đoạn thơ ấu Các nghiên cứu cũng chỉ ra được nhận thức và hành vi của cha mẹ đối với việc giáo dục thời kì đầu cho con sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ sau này

Có thể nói, những nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ tâm lý giáo dục phân tích tác động của nhận thức đến hành vi thực hành và tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-

3 tuổi còn khiêm tốn Vì vậy chúng tôi cho rằng việc điều tra làm rõ thực trạng nhận thức và hành vi giáo dục sớm của cha mẹ và tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi từ đó góp phần nâng cao hiểu biết và thực hành của cha mẹ nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ trong thời kì đầu là điều cần thiết nên làm

1.2 Lý luận về giáo dục sớm và nhận thức, hành vi của cha mẹ về giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi

1.2.1 Lý luận về giáo dục sớm

1.2.1.1 Khái niệm giáo dục sớm

Trước khi trình bày lý luận nghiên cứu về giáo dục sớm, luận văn điểm qua khái niệm về giáo dục Giáo dục là hoạt động truyền thu ̣ và lĩnh hô ̣i kinh nghiê ̣m li ̣ch sử – xã hội từ thế hệ trước cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho thế

hệ sau tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội Nhờ lĩnh hội được những kinh nghiệm xã hội mà nhân cách của mỗi người được phát triển đầy

đủ hơn, những nhu cầu và năng lực của họ phong phú đa dạng hơn, những sức mạnh tinh thần và sức mạnh thể chất của họ tăng thêm Có thể nói:“Giáo dục

là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của cá nhân, những hành vi, thói quen cư xử đúng

Trang 30

đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu; góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội đương đại” [8]

Giáo dục bao gồm việc dạy và học Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hoá từ thế hệ này sang thế hệ khác Giáo dục là phương tiện

để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lực tiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người Sự giáo dục của mỗi cá nhân bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộc đời Giáo dục cho trẻ từ những ngày đầu tiên khi mới được sinh ra (từ sơ sinh đến 6 tuổi), nhờ sự giao tiếp của trẻ và người lớn, với các đồ vật xung quanh, trẻ được dẫn dắt hình thành tình cảm, thái độ, nhận thức

Những nghiên cứu về giáo dục sớm không chỉ được nghiên cứu ở trên con người, mà còn được nghiên cứu ở loài vật, trong đó nghiên cứu của Konrad Lorenz (1973) một nhà tâm lý học loài vật đã nhận được giải Nobel về sinh lý học và y học khi ông nghiên cứu về các động vật "ngây thơ" (ví dụ như chim non sinh ra trong vườn ươm, những con ngỗng mới sinh) Konrad Lorenz đặc biệt nghiên cứu một loại học tập khá cụ thể, được ông gọi là "in dấu" Trong một giai đoạn quan trọng của cuộc đời, một loại kích thích nhất định là vô cùng cần thiết cho sự phát triển bình thường Những kích thích này gợi ra một mẫu hành vi sẽ không thể đảo ngược Ví dụ, con thiên nga con mới sinh sẽ được in dấu để đi theo vật di chuyển đầu tiên mà nó thấy và nhận đó là mẹ, cho dù đó là con mẹ, một con thiên nga gỗ hay một tờ giấy bìa Kết quả của các lần thí nghiệm là giống nhau, Lorenz gọi hiện tượng học cách nhận mẹ

trong những ngày đầu tiên khi các loài động vật được sinh ra là “thời kì khắc sâu ấn tượng về mẹ” Ông đã tiến hành làm thí nghiệm nhiều lần, khi những

chú thiên nga mổ vỏ ra đời, ông không để bất cứ loài động vật nào ở gần Sau

đó ông nấp kín một chỗ và lặng lẽ quan sát Trong môi trường đóchúng có thể

Trang 31

sống không cần tới mẹ vì thế chúng không quan tâm khi có con thiên nga lớn xuất hiện Nếu để lỡ thời kỳ này thì về sau những con vật non không thể ghi nhớ được hình ảnh của mẹ[30]

Trong các nghiên cứu của tác giả Phùng Đức Toàn (2010) trong Phương

án 0 tuổi, ông nhắc tới “giai đoạn mẫn cảm” hay “giai đoạn tốt nhất để phát triển”, giai đoạn tốt nhất để nhận biết mặt chữ là trước 3 tuổi, giai đoạn tốt nhất để phát triển tư duy toán học là trước 4 tuổi, giai đoạn tốt nhất để phát triển vận động là 5 tuổi… Nếu trẻ được tiếp xúc với thứ gì đó sớm nhất, nhiều nhất, thường xuyên nhất, vui vẻ nhất thì trẻ sẽ nảy sinh sự “mẫn cảm” với thứ

đó và thích tiếp xúc với thứ đó nhất Một ví dụ về giai đoạn này, ông đưa ra, trí nhớ của trẻ trong giai đoạn 0-3 tuổi là trí nhớ thông qua ấn tượng, trẻ sẽ không phân tích xem vật đó to, cao, hình dạng hay màu sắc gì mà trẻ sẽ nhớ như một chiếc máy ảnh, trẻ chụp hình lại toàn bộ hình ảnh trước mắt, ghi lại toàn bộ âm thanh như một chiếc máy quay phim vậy[22]

Tác giả Phùng Đức Toàn cho rằng: “Giáo dục sớm là quá trình giáo dục kích thích chức năng của não bộ phát triển trong thời kì sinh trưởng của não, nhằm mục đích khai thác tiềm năng lớn của con người”.Giáo dục sớm

là quá trình giáo dục được tiến hành trong giai đoạn trí tuệ con người phát triển nhất, vì thế nó mang lại những ảnh hưởng sâu sắc nhất.Giáo dục sớm còn là quá trình bồi dưỡng nên nền tảng tính cách của mỗi con người[22, tr15] Quan điểm về giáo dục sớm của tác giả Phùng Đức Toàn nhấn mạnh đến vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục con, 6 năm đầu đời của con trẻ, cha mẹ là người có ảnh hưởng nhất đến nhân cách của trẻ Trong đó, sự giáo dục và gần gũi của người mẹ là cách để duy trì sợi dây “gắn bó mẹ con” với trẻ, là tiền đề để hình thành nhân cách cho trẻ Chính vì vậy, các hoạt động của cha mẹ tác động với con cái không chỉ đơn thuần là tập trung phát triển thể chất, cân nặng, chiều cao, cho ăn đủ, ngủ đủ mà còn phải là người có trách nhiệm tới sự phát triển trí tuệ, khơi dậy những năng lực tiềm

Trang 32

ẩn của con trẻ Giáo dục sớm tập trung vào sự khai thác tiềm năng, không phải để con thi cử tốt hay vì thành tích [22]

Chúng tôi cũng nhận thấy, quan điểm giáo dục sớm tập trung vào tiềm năng của trẻ mà không phải chỉ đơn thuần là giáo dục kiến thức của tác giả Phùng Đức Toàn khá tương đồng với quan điểm của tác giả Maria Montessori Tác giả Maria Montessori cho rằng: “Trẻ nhỏ có một loại sức mạnh bí ẩn, sức mạnh này có thể dẫn dắt chúng ta tiến vào một tương lai tươi sáng Nếu thật sự muốn đổi mới thế giới này, giáo dục phải coi phát triển tiềm năng của trẻ là mục tiêu hàng đầu” [17, tr5] Hai cụm từ được nhắc đến rất nhiều trong phương pháp giáo dục Montessori là “thời kì nhạy cảm” và “trí tuệ thẩm thấu” Tác giả cho rằng: “Trong những giai đoạn nhạy cảm, đứa trẻ lĩnh hội nhiều thứ, những cái sẽ đặt nó vào trong mỗi quan hệ với thế giới bên ngoài một cách cực kỳ mãnh liệt Tiếp theo đó, mọi sự đều dễ dàng; tất cả đều là nhiệt huyết, là sự sống, mọi nỗ lực đều là một sự gia tăng quyền năng cho mình”[14, tr84]

Trí tuệ thẩm thấu không tự vận hành một cách tình nguyện mà tuân theo

sự định hướng của thời kì nhạy cảm Ví dụ vận động là một kỹ năng đặc biệt

mà trẻ có thể đạt được và trí tuệ thẩm thấu đã thẩm thấu những thông tin nhằm mục đích giúp cho trẻ tạo ra những vận động Khi trẻ đã đạt được những kỹ năng đó tại thời điểm nhất định đó, việc học với trẻ không còn quá phải mệt mỏi và nỗ lực “Trong giai đoạn mẫn cảm về trật tự, thiên nhiên dạy bài học đầu tiên theo cách giáo viên sẽ chỉ cho đứa trẻ sơ đồ lớp học để chuẩn

bị cho trẻ học bản đồ địa lý Ta cũng có thể nói rằng qua bài học đầu tiên này, thiên nhiên đã cho con người chiếc la bàn để định hướng trong thế giới Trí tuệ của con người không phải này sinh từ con số 0, nó được hình thành dựa trên các nền tảng mà trẻ xây dựng trong những giai đoạn mẫn cảm của chúng”[14, tr.112]

Tuyên ngôn của trẻ trong giai đoạn này đó là “hãy giúp con để con con thể tự làm một mình” Sự khác nhau cơ bản giữa người lớn và trẻ nhỏ về mức

Trang 33

độ hấp thu kiến thức - những gì trẻ học được trong 6 năm đầu đời tương đương với kiến thức mà người lớn có thể học trong 60 năm Từ đó, Maria Montessori đã có những lý luận đầu tiên về “mô hình học tập theo phương pháp Montessori”

Maria Montessori không sử dụng khái niệm giáo dục sớm trong các nghiên cứu của mình, tuy nhiên qua tổng hợp tài liệu chúng tôi nhận thấy rằng, quan điểm giáo dục của Montessori tập trung vào các yếu tố: Giáo dục trẻ là quá trình bồi dưỡng tiềm năng của trẻ (không phải chỉ đơn thuần truyền đạt kiến thức) trong giai đoạn quan trọng nhất từ 0-6 tuổi, trên cơ sở trẻ được trải nghiệm và hoạt động độc lập từ đó hình thành nên sự mẫn cảm, sự yêu thích, tò mò khám phá cho trẻ là tiền đề để phát triển nhân cách tốt đẹp thời kì sau Những lý luận này tương đồng với những lý luận được chỉ ra trong những nghiên cứu giáo dục sớm mà chúng tôi đưa ra phía trên

Tác giả Huỳnh Văn Sơn (2012) đưa ra khái niệm giáo dục sớm : “Giai đoạn từ 0 tuổi đến 6 tuổi là thời kì bộ não phát triển nhanh chóng Ở thời kì này, chúng ta nên dành cho trẻ sự ảnh hưởng, dẫn dắt, bồi dưỡng khai phá tiềm năng, tức gọi là giáo dục sớm” [20, tr350]

Tác giả Makoto Shichida (2013) cho rằng giáo dục sớm là sự tác động của nhà giáo dục mà cụ thể là người cha và người mẹ tới trẻ, từ đó không chỉ phát huy những năng lực kỹ năng cơ bản như đọc, toán, âm nhạc, hội hoạ mà qua đó là phát triển hình thành tính cách, năng lực tư duy, tình yêu

và sự gắn kết giữa cha mẹ và con cái trong những năm đầu đời của trẻ [12]

Từ những nghiên cứu khoa học và từ thực tiễn về thời kỳ hoàng kim của sự phát triển trí tuệ, có thể thấy, giáo dục sớm được nhắc đến như là một quá trình giáo dục được tiến hành trong giai đoạn trí tuệ con người phát triển nhất và nó mang lại những ảnh hưởng sâu sắc nhất Giáo dục sớm thực chất là một quá trình giáo dục, chỉ khác ở từ “sớm” và chính vì từ “sớm” nên sẽ có nhiều cách hiểu khác nhau Từ những tài liệu chúng tôi nghiên cứu, từ “sớm” được dùng để nhấn

Trang 34

mạnh về quá trình giáo dục được thực hiện trong giai đoạn đầu tiên của cuộc đời trẻ, 6 năm đầu đời trước khi trẻ thực sự đi học tại trường học

Các quan điểm về giáo dục trên đều nghiên cứu về độ tuổi trẻ từ 0-6 tuổi, được gọi là giai đoạn đặt nền móng cho sự phát triển tâm lý và thể chất của trẻ

và là giai đoạn xuất hiện nhiều thời kì nhạy cảm Như vậy có rất nhiều khái niệm khác nhau về giáo dục sớm, tổng hợp những nghiên cứu trên, chúng tôi

sử dụng khái niệm: “Giáo dục sớm là quá trình giáo dụcthông qua sự tác động có mục đích của nhà giáo dục, trong đó quan trọng nhất là cha mẹ đến trẻ nhằm phát triển toàn diện cho trẻ trong giai đoạn 0-6 tuổi” làm khái niệm

công cụ của đề tài

1.2.1.2.Đặc điểm của giáo dục sớm

Mục tiêu của giáo dục sớm

Đối với giai đoạn từ 0-6 tuổi, đặc biệt từ 0-3 tuổi là giai đoạn bộ não của trẻ phát triển rất nhanh và đây là giai đoạn trẻ tiếp thu một cách tốt nhất trong suốt cuộc đời của mình Mọi thứ trẻ tiếp nhận trong giai đoạn này đều sẽ là nền tảng, là nguồn tài nguyên để định hình nhân cách của trẻ sau này Đối với giai đoạn này trẻ mong muốn được khám phá thế giới xung quanh, trẻ muốn được học hỏi tìm tòi, đây là giai đoạn chúng ta có thể khai phá tiềm năng của trẻ Nếu nói rằng giáo dục sớm tiểu học hoá hay muốn nhồi nhét trẻ, cướp đi tuổi thơ của trẻ, thay bằng việc được chơi vui vẻ thì đã phải “học” thì đó là cách hiểu chưa toàn diện về phương pháp của giáo dục sớm Các nghiên cứu của tác giả Glenn Doman cho rằng mỗi một đứa trẻ sinh ra đã là một thiên tài

và việc dạy những đứa trẻ với sự hứng thú, vui vẻ mỗi ngày từ sớm là cách

mà chúng ta đánh thức tiềm năng đó của trẻ[4] Giáo dục sớm theo quan điểm của mỗi nhà giáo dục có những mục tiêu khá tương đồng, chúng tôi tổng hợp lại 4 mục tiêu cơ bản nhất dưới đây:

- Giáo dục sớm là quá trình giáo dục với mục đích khai thác tiềm năng lớn của con người

Trang 35

- Giáo dục sớm với mục đích kích thích chức năng não bộ của trẻ trong thời kì sinh trưởng của não bộ

- Giáo dục sớm là để được trải nghiệm nhiều lĩnh vực của đời sống từ đó

là nền tảng để trẻ phát triển các kĩ năng của mình

- Giáo dục sớm là quá trình bồi dưỡng nên nền tảng nhân cách của mỗi con người

Tác giả Ibuka Masaru cho rằng, tiềm năng của một loài thực vật nếu được khai thác có thể mang lại kết quả đáng kinh ngạc, huống chi là con người phát triển trong bào thai tới giai đoạn sơ sinh và trẻ nhỏ Nếu được nuôi dưỡng và giáo dục trong điều kiện tốt nhất ngay từ khi còn nhỏ, cho dù khi lớn lên các

em chỉ khai thác được 0.5% tiềm năng trí tuệ thì cũng đã có thể trở thành thiên tài [10].Không ai có thể nói rõ ràng và chính xác về năng lực tiềm ẩn của mỗi con người lớn đến mức độ nào Nhưng những quan điểm giáo dục sớm đều tin tưởng vào năng lực của mỗi đứa trẻ, cho dù là những trẻ bại não hay có rối nhiễu tâm lý Giáo dục sớm được thực hiện với mục đích, vào đúng thời kì mà bộ não phát triển mạnh mẽ nhất, nhà giáo dục tác động thường xuyên và liên tục để những năng lực còn tiềm tàng của trẻ có cơ hội được phát huy

Trẻ 0-3 tuổi, trong quá trình nhận thức xã hội, trẻ sẽ dần hoàn thiện nhân cách của mình, trong đó có đặc điểm quan trọng về tính cách Một đứa trẻ có khả năng hợp tác tốt, hoà nhã, hay cáu gắt, cục cằn sẽ được thể hiện từ rất sớm, trong mọi hoạt động hàng ngày Cha mẹ là người nuôi con nhưng cũng

là người có trách nhiệm với tính cách của trẻ Một ví dụ đơn giản, khi đứa trẻ

18 tháng muốn đòi thứ gì đó, cha mẹ không cho, đứa trẻ khóc, khiến cha mẹ phải thoả mãn, lâu dần đứa trẻ hiểu rằng chỉ cần khóc ăn vạ là sẽ được thoả mãn Nếu một ngày không được thoả mãn như vậy nữa liệu đứa trẻ có bằng lòng không hay sẽ cáu gắt, đánh người để đòi bằng được? Câu hỏi này không

dễ trả lời vì còn phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của chính đứa trẻ đó Giáo

Trang 36

dục sớm không đi sâu vào việc phân tích tâm lý trẻ, mà giáo dục sớm đi sâu vào vấn đề làm thế nào để trẻ có tính cách tốt, có nhân cách tốt và cha mẹ là người chịu trách nhiệm với vấn đề đó

Ông Đỗ Xuân Thảo đã chia sẻ về giáo dục sớm trong lời đề tựa của cuốn

sách Phương pháp Montessori- Nghệ thuật nuôi dạy trẻ đỉnh cao như sau:

Nếu như Phương Án 0 tuổi chúng tôi áp dụng trong thời kì mang thai và sơ sinh thì phương pháp Montessori chính là điều đã làm nên tuổi thơ của cháu (nói về trường hợp của Đỗ Nhật Nam) Tôi đã cố gắng áp dụng tất cả những

gì có thể để chơi cùng con, dạy con trong các lĩnh vực ngôn ngữ, giác quan, toán học, văn hoá Áp dụng Montessori, tôi phải từ bỏ cái tôi của mình để từ

vị trí người bố, người thầy thành người bạn, người cùng chơi và may mắn lắm thì mới là người hướng dẫn [15]

Nguyên tắc của giáo dục sớm

Nghiên cứu của các tác giả như Phùng Đức Toàn [22], Glenn Doman [3]

về nguyên tắc của giáo dục sớm nhấn mạnh đến nhà giáo dục, nhà giáo dục trong giáo dục sớm ở trẻ 0-3 tuổi cơ bản là người cha và người mẹ, vì vậy khi tác động đến trẻ, cha mẹ cần đảm bảo một số những nguyên tắc khi dạy và chơi cùng trẻ

- Khơi dậy đam mê: Học mà chơi, chơi mà học

Trẻ từ 0-6 tuổi luôn áp dụng phương châm chơi mà học, học mà chơi Với trẻ nhỏ, chơi có ích nghĩa là học, mà học một cách hứng thú nghĩa là chơi

Giáo dục sớm đem lại cách học tự nhiên cho trẻ Người học vô thức mà người dạy có chủ ý Trẻ có một bản năng bắt chước, trẻ bắt chước rất giỏi và rất

thích bắt chước Nếu cho trẻ nhìn thấy ai đó làm một việc gì đó một cách say

mê, nhiều khả năng trẻ cũng sẽ bắt chước và dần dần tạo nên hứng thú Đó là cách thông dụng nhất để khơi dậy đam mê trong trẻ

- Không kiểm tra trẻ trong quá trình dạy trẻ

Trang 37

Giáo dục sớm là khơi dậy tiềm năng của trẻ, là giáo dục khiến trẻ yêu thích và tò mò khám phá trong những giai đoạn nhất định Giáo dục sớm không phải là giáo dục vì thành tích và thi cử Vì vậy, trong quá trình dạy trẻ, cha mẹ không được kiểm tra con, tránh tạo nên tâm lý áp lực khi chơi cùng cha mẹ Khi bắt đầu dạy một kiến thức mới, cha mẹ chỉ là người tạo ra môi trường để trẻ được trải nghiệm, trẻ sẽ là người chủ động khám phá và trẻ học theo cách của trẻ Việc trẻ có trả lời được câu hỏi của cha mẹ hay không, có nhớ kiến thức hay không đều không quan trọng bằng việc trẻ thực sự vui vẻ

và yêu thích những hoạt động mà cha mẹ tạo ra

- Bắt đầu càng sớm càng tốt, phù hợp với sự phát triển của trẻ

Trẻ càng nhỏ thì phát triển càng nhanh, có những tố chất nếu bỏ qua giai đoạn phát triển thì sẽ không bao giờ bù đắp được Vì thế, cần bắt đầu càng sớm càng tốt, tốt nhất là từ trong thai kỳ Nhưng không phải hoạt động nào cũng thực hiện sớm, phải chờ trẻ phát triển đến giai đoạn phù hợp mới có thể tiến hành Thời gian và cường độ các hoạt động cũng phải phù hợp với khả năng của trẻ, không nhất thiết phải đúng độ tuổi

- Luôn khích lệ động viên trẻ

Người lớn khi dạy trẻ phải kiên trì tận dụng hoàn cảnh, hành vi và ngôn ngữ để ngầm cổ vũ khích lệ trẻ, khen ngợi trẻ nhờ đó trẻ sẽ nảy sinh cảm giác đồng tình, vui vẻ, tự tin và không ngừng nỗ lực vươn lên Ngược lại, những lời chỉ trích, trách mắng, đòn roi chỉ làm trẻ sợ hãi, buồn bực, mặc cảm, ảnh hưởng rất lớn tới xu hướng hành vi của trẻ sau này

- Biến khó thành dễ

Với trẻ nhỏ không có khái niệm dễ và khó, chỉ có khái niệm thích và không thích Cái gì trẻ thích thì được coi là dễ, và cái gì không thích thì được coi là khó Quan niệm trẻ nhỏ chỉ làm những việc đơn giản thực sự là sai lầm Những sự việc càng khó thì càng phải học từ sớm, đầu tiên cho trẻ

Trang 38

tiếp xúc để hình thành những ấn tượng ban đầu (mẫn cảm) và đem lòng yêu thích chúng, sau đó dần dần tiếp cận và học

- Cuộc sống là một trường học, không cần giáo trình, không cần thứ tự

Cuộc sống phong phú và các hoạt động trò chơi là trường học tốt nhất để thực hành giáo dục sớm và là trường học duy nhất trong giai đoạn trước 6 tuổi Trẻ nhỏ đang ở giai đoạn sinh trưởng và phát triển nhanh nhất, bản năng của chúng cần tới sự hoạt động của hệ thần kinh, cơ bắp, gân cốt, trẻ không thể ngồi 1 chỗ trong thời gian quá lâu Sự chú ý vô thức chiếm đại đa số, nên phải thường xuyên thay đổi sự chú ý của chúng, không thể bắt trẻ lên lớp và cưỡng chế để dạy theo các tiết học trong một giáo trình Trẻ quan tâm tới cái

gì, cha mẹ lập tức dạy trẻ cái đó, thay đổi theo hứng thú của trẻ Nội dung học trong cuộc sống rất phong phú, nơi nào cũng có thông tin, niềm vui và sự hứng thú Trẻ sẽ tự mình liên kết các thông tin và tổng kết thành các quy luật Mọi hoạt động trong đời sống đều có thể trở thành những bài học quý giá

Vai trò của cha mẹ trong giáo dục sớm

Thời kì nhạy cảm của trẻ bắt đầu từ khi được sinh ra, vì vậy, tác giả Maria Montessori nhấn mạnh, giáo dục cần được bắt đầu từ 0 tuổi và từ gia đình, cha mẹ là người thầy đầu tiên của trẻ Vì cha mẹ không chỉ là người thường xuyên gần gũi nhất, mà còn là quan hệ huyết thống, cha mẹ là người hiểu và nắm được tâm tư tình cảm, sở trường, sở đoản, sở thích của trẻ nhất Trong quá trình trẻ lớn lên, quá trình sinh hoạt hàng ngày, cha mẹ là người truyền dạy cho trẻ kiến thức và kĩ năng sống cơ bản Thái độ sống, quan điểm sống của cha mẹ ảnh hưởng đến trẻ Vì vậy, giáo dục sớm giai đoạn khởi đầu, cha

mẹ là người đóng vai trò quan trọng nhất Trong Phương án 0 tuổi, phương pháp Glenn Doman, phương pháp Montessori hay phương pháp Shichida, yếu

tố về vai trò của cha mẹ trong giáo dục sớm luôn được đặt lên hàng đầu bởi những câu hỏi: Cha mẹ có nhận thức được vai trò của mình không? Nếu có cha mẹ có ý thức để học thêm kiến thức kĩ năng dạy con không? Và thực sự,

Trang 39

trong gia đình cha mẹ dành bao nhiêu thời gian tâm huyết để dạy con, chơi cùng con, làm học liệu cho con?

1.2.1.3.Các nội dung củagiáo dục sớm

Trẻ em cần được phát triển một cách toàn diện và đầy đủ cả 2 mặt thể chất

và tâm lý từ đó tạo nền tảng để trẻ hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục sớm đưa ra việc phát triển toàn diện cho trẻ, nhưng để nói về sự toàn diện thì mỗi một phương pháp giáo dục sớm lại mang những đặc trưng riêng biệt Trong luận văn, vì điều kiện nghiên cứu có hạn, chúng tôi chưa thể nghiên cứu sâu vào từng phương pháp giáo dục sớm để đưa ra nội dung, phương pháp dạy học, phương tiện của các phương pháp giáo dục sớm đã nêu phía trên Vì vậy, chúng tôi tổng hợp những lĩnh vực giáo dụcchung nhất, có sự tương đồng và thống nhất của 3 phương pháp giáo dục nổi bật là Phương Án

0 tuổi của tác giả Phùng Đức Toàn, phương pháp Montessori của tác giả Maria Montessori, phương pháp Glenn Doman của tác giả Glenn Doman Tính toàn diện được nhắc tới trong giáo dục sớm từ 0-3 tuổi bao gồm: Phát triển thể chất và phát triển trí tuệ, thông qua đó làm tiền đề bồi dưỡng phẩm chất, để hình thành nhân cách cho giai đoạn sau Trong phát triển trí tuệ, các phương pháp giáo dục sớm đều đưa ra các hoạt động trong các lĩnh vực như ngôn ngữ, rèn luyện giác quan, kĩ năng sống, nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ, thông qua các bài tập giúp tăng cảm giác và khả năng quan sát; khả năng chú ý; niềm đam mê; khả năng ghi nhớ; khả năng tư duy; trí tưởng tượng; tri thức, kỹ năng; năng lực hành động và phẩm chất phi trí tuệ như tình cảm; tâm trạng; cảm xúc; ý chí

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào đối tượng là giáo dục sớmcho trẻ từ 0-3 tuổi, dựa trên các nghiên cứu về giáo dục sớm trong thời kì

này, chúng tôi đưa ra 5nội dung hoạt động trong giáo dục sớm sau:

(1)Phát triển giác quan: Kích hoạt và rèn luyện năm giác quan: thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác

Trang 40

Khả năng nhận thức thế giới của con người bắt đầu từ nhận thức cảm tính rồi đến nhận thức lý tính Giai đoạn đầu sơ khai, trẻ dựa vào giác quan của mình để cảm nhận, tri giác sự vật, hiện tượng Trong giáo dục sớm 0-3 tuổi, các hoạt động phát triển giác quan là hoạt động đầu tiên và có ý nghĩa ảnh hưởng đến sự phát triển mọi mặt sau này của trẻ

Về phát triển giác quan, trong đó có thể có rất nhiều những hoạt động, bài tập, tuy nhiên chúng tôi tổng hợp thành 5 hoạt động cơ bản sau:

Cho con nếm và phân biệt các vị: chua, cay, đắng, ngọt; Cho con ngửi và phân biệt các loại mùi; Cho con nghe và phân biệt các loại âm thanh trong cuộc sống: tiếng con vật, tiếng xe cộ, tiếng thiên nhiên; Cho con học, quan sát các màu sắc khác nhau; Cho con tiếp xúc với nhiều loại bề mặt đồ vật: nhẵn, mềm, cứng, nóng, lạnh, sần sùi…[17]

(2)Phát triểnvận động bao gồm: vận động tinh và vận động động thô

Vận động thô liên quan đến các phối hợp năng động nói chung (đi bộ, chạy, nhảy) và sự cân bằng ổn định và tư thế, các điều hòa của chi trên, chi dưới Vận động tinh là tập hợp các hành động chủ yếu diễn ra trên bàn tay (chẳng hạn sự nắm được) và khuôn mặt Độ chính xác của những cử chỉ như phụ thuộc vào quá trình myelin hóa (trưởng thành của hệ thần kinh) cũng như

sự điều hòa trương lực cảm xúc Giáo dục sớm ở trẻ từ 0-3 tuổi, chú trọng hoàn thiện khả năng vận động của trẻ Những hoạt động chính cha mẹ có thể tác động đến trẻ là: Cho con vận động tự do: lẽo, trèo, đu xà, nhảy; dạy con chơi những môn thể thao phối hợp toàn bộ cơ thể: bơi, đá bóng…; dạy con lắp ráp các trò chơi tỉ mỉ với các ngón tay: xâu hạt, dạy con cách làm và cùng làm đồ chơi với con xếp tháp, cắm lỗ, xoay, vặn, bóp [15]

(3)Phát triển ngôn ngữ: Khả năng nghe, nói và đọc sớm, giao tiếp xã hội

Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng, là công cụ của tư duy, giai đoạn hài nhi là tiền ngôn ngữ và giai đoạn ấu nhi là giai đoạn hình thành ngôn ngữ Trong giáo dục sớm, thời kì nhạy cảm (mẫn cảm) về ngôn ngữ của trẻ là trước

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w