ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- PHAN NHẬT TRINH Thích Nguyên Hạnh SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÖNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN NHẬT TRINH (Thích Nguyên Hạnh)
SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÖNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY
(Qua khảo cứu tại một số chùa ở thành phố Hà Nội)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
Hà Nội - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHAN NHẬT TRINH (Thích Nguyên Hạnh)
SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÖNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY
(Qua khảo cứu tại một số chùa ở thành phố Hà Nội)
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 62.22.90.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÔN GIÁO HỌC
Chủ tịch hội đồng:
GS.TS Nguyễn Hữu Vui
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS Trần Thị Kim Oanh
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả điều tra trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trên bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận án
Phan Nhật Trinh
(Thích Nguyên Hạnh)
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM 6
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 6
1.1.1 Nguồn tài liệu của Luận án 6
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Lý thuyết nghiên cứu 16
1.3 Một số khái niệm 19
Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO, TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 28
2.1 Khái quát chung về Phật giáo 28
2.1.1 Sự tiếp nhận Phật giáo của người Việt 28
2.1.2 Quan niệm tổ tiên trong Phật giáo 38
2.2 Bản chất tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay 43
2.2.1 Đạo lý cội nguồn và văn hóa tâm linh con người 43
2.2.2 Đạo lý nhân văn và sự cố kết nhân tâm trong gia đình - làng xã - đất nước 48
2.3 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 58
2.3.1 Phường Nhật Tân và chùa Tào Sách 58
2.3.2 Phường Bồ Đề và chùa Bồ Đề 61
2.3.3 Phường Hoàng Liệt và chùa Pháp Vân 62
Tiểu kết chương 2 63
Chương 3 BIỂU HIỆN SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÖNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY (QUA KHẢO CỨU TẠI MỘT SỐ CHÙA Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI) 66 3.1 Biểu hiện sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ
Trang 53.1.1 Biểu hiện trong thực hành tín ngưỡng 663.1.2 Biểu hiện trong nghi lễ thờ cúng 833.1.3 Biểu hiện trong cuộc sống thường ngày 92
3.2 Biểu hiện sự dung hợp Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong cách thức bài trí ngôi chùa 96
3.2.1 Biểu hiện trong kiến trúc 963.2.2 Biểu hiện trong cách thức bài trí thờ tự 107
3.3 Những vấn đề đặt ra từ sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay 116 Tiểu kết chương 3 120 Chương 4 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA SỰ DUNG HỢP GIỮA PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ CÖNG TỔ TIÊN 122 CỦA NGƯỜI VIỆT 122 4.1 Xu hướng phát triển của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt 122 4.2 Những giải pháp nhằm phát huy những giá trị văn hóa của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt 133 4.3 Một số kiến nghị nhằm phát huy những giá trị văn hóa của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt 135 Tiểu kết chương 4 142 KẾT LUẬN 143 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 148 TÀI LIỆU THAM KHẢO 149 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài Luận án
Phật giáo truyền vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, thông qua hai con đường, trên bộ và dưới biển Đường biển do các tăng sĩ và thương gia Ấn Độ, đường bộ do các nhà sư Trung Hoa sang giảng kinh
một tín ngưỡng của người Việt Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là niềm tin vào
sự linh thiêng của tổ tiên, dù họ đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng vẫn bên cạnh con cháu, phù hộ cho con cháu khi gặp tai ương, rủi ro; vui mừng khi con cháu gặp may mắn, khuyến khích cho con cháu khi gặp điều tốt lành và cũng quở trách con cháu (mà không trừng phạt) con cháu khi làm điều ác Thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng phổ quát, luôn sâu lắng và đi vào tâm thức của mọi người con đất Việt Người Việt dù đi đâu, ở đâu, vẫn hướng về quê cha đất tổ, nơi có bàn thờ tổ tiên, nơi có mồ mả cha ông mình Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của dân tộc ta như sau: “Từ xa xưa, dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường như nhiều nước khác Còn nói tôn giáo là thờ cúng, thì mọi người đều thờ cúng ông bà, mọi người đều thờ cúng tổ tiên, làng thì thờ thành hoàng và các bậc anh hùng cứu nước, các tổ phụ, các ngành nghề, các danh nhân văn hóa ” [28, tr 75]
Khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo chính thống đã gạt bỏ phần triết lý
xa xôi, khó hiểu, trở về với cuộc sống trần thế hàng ngày Phật giáo đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa (tục thờ cúng tổ tiên), với những nguyện vọng, ước mơ của người lao động, Phật giáo đã thấm sâu vào trong dân chúng, tồn tại và phát triển qua nhiều đời, nhiều thế hệ và được đông đảo nhân dân Việt Nam hưởng ứng Phật giáo được Việt hóa đã có sức sống vô cùng mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của nhân dân, tạo nên sự dung hợp với truyền thống
Trang 7Chính vì vậy, mối quan hệ giữa Phật giáo và văn hóa Việt Nam từ lâu
đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu Tuy nhiên, các chủ đề trước đây chủ yếu đề cập đến ảnh hưởng của Phật giáo đối với con người Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa nói chung; thời gian nghiên cứu của vấn đề tập trung vào giai đoạn Lý - Trần (đỉnh cao sự phát triển của Phật giáo) và sự dung hợp trong truyền thống
-Hiện đại hóa và hội nhập Dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường, đặc biệt là
các chính sách tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước, hoạt động của các tôn
giáo đều có sự khởi sắc mạnh mẽ, trong đó có Phật giáo Số lượng phật tử và
người đi chùa không ngừng tăng cao Hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng cũng
“rầm rộ”, sôi nổi và đa dạng dưới nhiều hình thức Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng truyền thống (cụ thể là tục thờ cúng tổ tiên) đã mang nội
dung và màu sắc mới Trên cơ sở đó, Phật giáo đã góp phần nâng cao, làm
phong phú, đa dạng thêm kho tàng văn hóa truyền thống tốt đẹp của người
Việt nói riêng, và dân tộc Việt Nam nói chung Tuy nhiên, sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống nói trên, do ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường nên có một số lệch lạc, “biến tướng”
Việt thể hiện rõ nét trong các ngôi chùa Phật giáo, bởi đó là nơi diễn ra chủ yếu các hoạt động thờ cúng Phật giáo của người dân, ngôi chùa cũng chiếm một vị trí hết sức đặc biệt trong tâm thức người Việt
cúng tổ tiên hiện nay biểu hiện như thế nào? Những mặt tích cực và bất cập là gì? Để trả lời câu hỏi trên, đòi hỏi cần thiết phải có những nghiên cứu cụ thể dưới góc độ tôn giáo học
Trang 8Về phương diện cá nhân, bản thân tôi là một nhà tu hành, giữ trách nhiệm trụ trì ngôi chùa Tào Sách (sẽ được giới thiệu rõ hơn ở phần sau) - nơi thể hiện rõ nét sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt Và trong quá trình thực hành các hoạt động tôn giáo của mình, tôi cũng thấy được sự biểu hiện cụ thể của vấn đề này Tôi luôn trăn trở rằng; ý thức của bản thân cần đóng góp một thứ gì đó cho tôn giáo của mình, cho những nghiên cứu chuyên sâu về Phật giáo hiện nay Chính vì vậy, đây là lý do
để chúng tôi chọn đề tài “Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên của người Việt hiện nay” (qua khảo cứu tại một số chùa ở
thành phố Hà Nội), để làm Luận án tiến sĩ
quản lý văn hóa tiếp tục bảo tồn và phát huy những giá trị đạo đức, mối quan
hệ tốt đẹp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tạo nên, trong bối
cảnh hội nhập để xây dựng đất nước Đồng thời, rút ra những bài học kinh
nghiệm trong vấn đề quản lý tôn giáo tín ngưỡng nói chung và trước những
biến tướng về hoạt động tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Phật nói riêng
2 Mục đích và nhiệm vụ của Luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án muốn chỉ rõ biểu hiện của sự
dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay Xác định những vấn đề đặt ra, xu hướng phát triển của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trong những năm tới,
từ đó đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm giữ gìn và phát huy những mặt tích cực, hạn chế những bất cập của sự dung hợp giữa Phật giáo và thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:
Trang 9Thứ nhất: Phân tích cơ sở tiếp cận sự dung hợp giữa Phật giáo và tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay
Thứ hai: Phân tích những biểu hiện của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (qua khảo sát ở một số chùa tại
Hà Nội) trên một số lĩnh vực: đời sống văn hóa tín ngưỡng; nghi lễ thờ cúng
Thứ ba: Dự báo xu hướng phát triển của sự dung hợp giữa Phật giáo và
tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt trong những năm tới, đề xuất một
số giải pháp và kiến nghị nhằm phát huy giá trị văn hóa dân tộc trong quá trình dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của Luận án là: Sự dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu sự dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (qua khảo sát ở một số ngôi chùa Bắc tông tại Hà Nội; trong đó tập trung khảo sát, nghiên cứu sâu ở các chùa Tào Sách, Bồ Đề, Pháp Vân, trên một số biểu hiện cụ thể như đời sống văn hóa tín ngưỡng; nghi lễ thờ cúng…)
- Phạm vi thời gian nghiên cứu của Luận án là: Từ 1986 đến nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Luận án được xây dựng trên cơ sở vận dụng các nguyên lý, quan điểm mác xít như: quan điểm Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam
về vấn đề tôn giáo
* Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành: phương pháp tôn giáo học, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát, thống kê,
Trang 10logíc cụ thể…Đặc biệt, một số phương pháp của ngành Nhân học Tôn giáo như điều tra, khảo sát thực địa với các công cụ chính là quan sát tham dự, phỏng vấn sâu được chú trọng.
5 Đóng góp mới của Luận án
- Luận án chỉ ra những biểu hiện của sự dung hợp Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay (qua một số ngôi chùa tại Hà Nội) dưới góc độ Tôn giáo học
- Luận án phân tích những mặt tích cực đồng thời chỉ ra những bất cập của sự dung hợp hai yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng nói trên
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, Luận án dự báo xu hướng phát triển của sự dung hợp giữa Phật giáo và thờ cúng tổ tiên của người Việt, những kiến nghị nhằm giữ gìn và phát huy những mặt tích cực, hạn chế những bất cập của sự dung hợp hai yếu tố tín ngưỡng nói trên
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án đóng góp thêm một cái nhìn mới trong nghiên cứu tôn giáo học: nhìn nhận trong sự dung hợp lẫn nhau, thấy được ý nghĩa của sự dung
hợp đó với sự tồn tại, phát triển của tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay
- Luận án có thể sử dụng là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về
văn hóa nói chung, tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng, đặc biệt là Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
- Luận án là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, các nhà hoạch chính sách tôn giáo và cho những ai quan tâm đến vấn đề này
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Mục lục, nội dung chính của luận gồm 4 chương, 12 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.1 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
1.1.1 Nguồn tài liệu của Luận án
- Luận án sử dụng Kinh điển Phật học và một số sách gốc; Từ điển Phật học, Từ điển bách khoa Việt Nam,…
- Luận án kế thừa những kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng nói chung và với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng của các tác giả đi trước
- Tài liệu của Luận án còn bao gồm những tài liệu điền dã (phỏng vấn sâu, các ghi chép quan sát, tham dự)
- Luận án cũng kế thừa các Báo cáo tổng kết, số liệu thống kê của cấp
ủy, chính quyền và các ban ngành đoàn thể ở các địa phương được khảo sát
1.1.2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khác với các tôn giáo ngoại nhập khác, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và bằng con đường hòa bình nên đã gắn bó chặt chẽ với mỗi người dân Việt Trong quá trình phát triển, Phật giáo có ảnh hưởng lớn đến nền văn hóa dân tộc trên các phương diện phong tục tập quán, lối sống, nếp sống, đặc biệt là văn hóa, tư tưởng Do vậy, từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, trước thời kỳ đổi mới, do những nhận thức tả khuynh về tôn giáo, tín ngưỡng nói chung, về Phật giáo nói riêng, nên phần lớn những nghiên cứu về Phật giáo chủ yếu xoay quanh lĩnh vực Phật giáo với lịch sử tư tưởng Việt Nam Chủ đề nghiên cứu về Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng truyền truyền thống nói chung và với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng hầu như trống vắng
Trang 12Từ những năm 1990 trở lại đây, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách đổi mới trong lĩnh vực tôn giáo, được cụ thể hóa về tư duy, nhận thức đối với tôn giáo và công tác tôn giáo Nếu như trước đây, tôn giáo bị coi
là có hại, cần đấu tranh để xóa bỏ, thì nay được coi là một bộ phận cấu thành văn hóa, cần phát triển; tôn giáo là nhu cầu tâm linh, tình cảm của nhân dân, còn tồn tại lâu dài; đạo đức tôn giáo có nhiều điều còn phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới… Trên cơ sở đó, một số công trình bài viết về Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng đã khởi sắc, song còn rất hạn chế, nhiều khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Tựu chung lại, các tác phẩm liên quan đến đề tài Luận án có thể chia thành ba lĩnh vực sau:
- Các nghiên cứu về Phật giáo
- Các nghiên cứu về tín ngưỡng thờ cúng truyền thống
- Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng của người Việt nói chung và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng
Trước hết, nghiên cứu về Phật giáo và Phật giáo Việt Nam, có công
trình tiểu biểu: Lê Mạnh Thát (2001) với “Lịch sử Phật giáoViệt Nam” (2 tập); Nguyễn Lang (2008) với “Việt Nam Phật giáo sử luận” (3 tập); Nguyễn Tài Thư (Chủ biên, 1989) với “Lịch sử Phật giáo Việt Nam”; (2 tập); Thánh Nghiêm (1995, Bản dịch) “Lịch sử Phật giáo thế giới”; Tịnh Hải (1992, Bản dịch) “Lịch sử Phật giáo thế giới”; Thích Thanh Kiểm (1989) “Lịch sử Phật
giáo Ấn Độ”,…
Phải nói rằng các công trình khoa học nêu trên đã “khám phá” rất cặn
kẽ, rành mạch và chuẩn xác về Phật giáo Việt Nam cũng như Phật giáo thế giới Trong đó, Phật giáo Việt Nam được coi như một thực thể tinh thần đã tồn tại hàng nghìn năm và không phải với tư cách một tôn giáo ngoại nhập,
Trang 13trở thành một phần tâm linh của dân tộc Việt Nam Bên cạnh đó, Phật giáo Việt Nam còn là một thành tố quan trọng của văn hóa, tư tưởng, luôn vận động và phát triển trong suốt tiến trình lịch sử
Thứ hai, liên quan trực tiếp đến nghiên cứu vấn đề tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên, từ trước đến nay trên thế giới và Việt Nam đã có một số công trình nổi
bật như: X.A.Tôcarev (1994) “Các hình thức tôn giáo sơ khai và sự phát triển
của chúng”; Léopold Cadiere (1997, Bản dịch) “Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt”; Vũ Quỳnh (1992) “Lĩnh Nam trích quái”; Lý Tế
Xuyên (1992) “Việt điện U linh”; Phan Kế Bính (1995) “Việt Nam phong
tục”; Toan Ánh (1996) “Phong tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam”; Vũ
Ngọc Khánh (1996) “Tín ngưỡng làng xã”; Đặng Nghiêm Vạn (Chủ biên, 1996), "Về tôn giáo tín ngưỡng Việt Nam hiện nay", và (2001), "Lý luận về
tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam", Nguyễn Đức Lữ (1999), “Hiện tượng mê tín dị đoan ở nước ta hiện nay, thực trạng, biểu hiện và đặc điểm”,
Nguyễn Minh San (1998), “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam”Trần Đăng Sinh (2002) “Những khía cạnh triết học trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên”; Trương Thìn (2010) “Nghi lễ thờ cúng tổ tiên, đền chùa miếu phủ”…(Xem tài
liệu tham khảo)
Đây là những công trình nghiên cứu công phu, tập hợp tất cả các vấn đề
về phong tục tập quán cũng như tục thờ cúng tổ tiên của người Việt dưới nhiều góc độ khác nhau Qua đó các tác giả khẳng định, mỗi dân tộc có một nền văn hóa với bản sắc riêng Những yếu tố cơ bản cấu thành bản sắc của mỗi nền văn hóa đó là phong tục, tập quán và nghi lễ dân gian truyền thống
Sự lưu giữ trường tồn phong tục tập quán trong một nền văn hóa nói lên sức sống của dân tộc Do vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 14Thứ ba, nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng của
người Việt có tác phẩm, bài viết như: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phân
Viện nghiên cứu Phật học (1989), Phật giáo và văn hóa dân tộc; Hà Văn Tấn (2005), Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam; Nguyễn Hồng Dương (2004), Tôn
giáo trong mối quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nam; Nguyễn Duy Hinh,
Lê Đức Hạnh (2011), Phật giáo trong văn hóa Việt Nam; Hạnh Nguyên (2013), Phật giáo trong lòng người Việt…
Bên cạnh đó còn có các bài viết của Trần Quốc Vượng (1986), “Mấy ý
kiến về Phật giáo và văn hóa dân tộc” trong Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch
sử tư tưởng Việt Nam; Phan Đại Doãn (1986), “Vài nét về Phật giáo và làng
xã” trong Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam; Vũ Thanh
Huân (1986), “Mấy nét của Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử”,
(trong Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam)… và những bài
viết khác đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo như Minh Chi (2001), “Về
xu hướng thế tục hóa và dân tộc hóa của Phật giáo”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn
giáo số 3, tr (26 - 29); Hoàng Thu Hương (2006), “Về mối quan hệ giữa nhu
cầu của người đi lễ chùa và dịch vụ bán đồ lễ” (Qua khảo sát thực tế tại chùa
Quán Sứ và chùa Hà ở Hà Nội), Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 2, tr 51 - 55;
Nguyễn Thị Minh Ngọc (2008), “Phật giáo dân gian: con đường nhập thế của
Phật giáo Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 8, tr 25 - 32; Nguyễn
Thị Minh Ngọc (2008), “Dịch vụ Phật giáo: hoạt động mang tính dân gian và
là cách thức để giải quyết nhu cầu tâm linh tín đồ của Phật giáo Việt Nam
đương đại” (Nghiên cứu trường hợp Hà Nội) trong: Sự biến đổi của tôn giáo
tín ngưỡng ở Việt Nam hiện nay,…
Qua các tác phẩm, bài viết nêu trên, chúng tôi đặc biệt chú ý đến các bài viết của Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Trần Lâm Biền Qua nghiên cứu, các tác giả chỉ ra sự hỗn dung Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng của người
Trang 15Việt trong lịch sử Theo Trần Quốc Vượng, Phật giáo truyền vào nước ta từ đầu Công nguyên với trung tâm Phật giáo lớn là Luy Lâu, Thuận Thành, Bắc
Ninh (còn gọi là vùng Dâu), bằng hai con đường: (1), đường biển nối liền Giao Châu với Thiên Trúc; (2) đường biển và đường bộ nối liền Luy Lâu với các trung tâm Phật giáo của Trung Hoa như Bành Thành (Hoa Nam), Lạc
Dương (Hoa Bắc) Con đường bộ dọc lưu vực sông Hồng nối Giao Châu với
Vân Nam và qua đó với Tây Tạng, Trung Á Nhiều nhà sư Trung Á, Tây Tạng qua đường này đến Việt Nam và ngược lại, nhiều nhà sư Việt Nam qua con trường này đến Trung Á, Tây Tạng
Đây cũng là nguyên nhân giải thích cho Phật giáo Việt Nam dòng Thiền nhưng không có một giai đoạn nào trong lịch sử mang sắc thái thuần túy mà pha trộn nhiều các yếu tố khác, cụ thể là Mật giáo và có nguyên nhân nữa là nền tảng phương thuật của người Việt cổ Vua Hùng như sử chép là một phương sĩ và Hán Vũ Đế cũng ca ngợi rằng người Việt giỏi phương thuật Cũng chính vì vậy, khi xem, xét lịch sử tôn giáo VN nói chung, lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng thì nên nghĩ tới cái tinh thần cơ bản của nó là hỗn dung tôn giáo[Xem 142, tr 138 - 139]
Trần Quốc Vượng và Hà Văn Tấn đều cho rằng, tín ngưỡng thờ Nữ thần có trước rồi Phật giáo mới du nhập vào và phát triển trên nền tảng đó Theo Trần Quốc Vượng, ngôi chùa cổ xưa được dựng trên nền tảng của một ngôi đền là trung tâm tôn giáo xưa của bộ lạc Dâu và ban đầu chất chùa và chất đền vẫn song song tồn tại, sau đó mới đan xen vào nhau Dù sau này chùa lấn át đền, nhưng làm biến dạng, biến chất nữ thần Dâu, song nó cũng không gột sạch, thanh lọc hóa được hoàn toàn cái chất tín ngưỡng nguyên thủy tiền Phật giáo của trung tâm tôn giáo này [Xem 142, tr 139] Các ngôi chùa quanh đó, chùa Bà Đậu, Bà Giàn, Bà Tướng, chùa Tổ, chùa Mãn
xá…cũng đều mang tính chất hỗn dung văn hóa tương tự Điều đó cũng thể
Trang 16hiện một đặc điểm phổ quát được nhiều người nhắc đến là Phật giáo vốn dễ
hòa hợp với tín ngưỡng dân gian ở những nơi nó được truyền bá tới
Cũng như Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn đề cập đến sự hỗn dung Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng truyền thống trong buổi đầu của lịch sử Việt Nam như sau: nhiều ngôi chùa ban đầu chỉ là những thảo am bằng tranh, tre;
nó vốn là những ngôi đền thờ các thần truyền thống mà người ta đặt thêm điện thờ Phật vào đó Ông nhấn mạnh: “Không phải người ta đặt thêm các tượng Tứ pháp vào các ngôi chùa thờ Phật, mà đặt bàn thờ Phật vào các đền thờ Tứ pháp, tức đền thờ các vị thần nông nghiệp đã có từ trước Và đến lượt các nữ thần này được Phật hóa, trở thành các Phật Bà” [104, tr 194]
Bên cạnh đó, nghiên cứu về tình hình Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng giai đoạn hiện nay có một số công trình đáng chú ý Nguyễn Duy Hinh
và Lê Đức Hạnh (2011) đã đề cập đến một số vấn đề của Phật giáo Việt Nam
thời đại ngày nay trong tác phẩm Phật giáo trong văn hóa Việt Nam Đó là,
hiện tượng cư sĩ Tịnh Độ đang khá phát triển ở một số tỉnh thành Nam Bộ; các hội quy đang tăng nhanh ở các đô thị; tuy trình độ tăng, ni ngày càng cao, nhiều người có trình độ tiến sĩ, song những công trình biên soạn hoằng dương Phật pháp lại ít ỏi; tập trung viết về lịch sử Phật giáo Nhà sư dù có học vị tiến sĩ cũng chủ yếu lo việc về nghi lễ Hoạt động Phật giáo ảnh hưởng nhiều nhất trong dân chúng là làm lễ cầu siêu, đưa thân nhân qua đời lên chùa…, nghĩa là những pháp sự tang tế phổ biến [41, tr 493] Tuy chỉ đưa ra những nhận xét chung, song Nguyễn Duy Hinh đã nêu lên thực trạng của Phật giáo với tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người dân hiện nay
Ngoài ra, trong số nghiên cứu gần đây nêu trên, đáng chú ý nghiên cứu của hai tác giả Hoàng Thu Hương và Nguyễn Minh Ngọc Các tác giả đã
đề cập đến mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng của người dân Hà Nội hiện nay Tác giả Nguyễn Minh Ngọc cho rằng, khi du nhập vào
Trang 17Việt Nam, Phật giáo đã hỗn dung với tín ngưỡng bản địa, trở thành Phật giáo dân gian:
Phật giáo dân gian được hiểu là Phật giáo mang tính bình dân, chú trọng những hoạt động nghi lễ không mang tính chính thống, nhằm giải quyết nhu cầu thực tại của tín đồ, không xuất phát từ việc nghiên cứu thực hành giáo lý để đạt tới giác ngộ Tính dân gian của Phật giáo là tính bình dân, tính chú trọng hoạt động nghi lễ để giải quyết nhu cầu cuộc sống thực tại[Xem 88]
Theo tác giả, tính dân gian của Phật giáo Việt Nam hiện nay, thể hiện
cụ thể qua việc cung cấp những “Dịch vụ Phật giáo” cho người dân:
Đó là sự đáp ứng nhu cầu tâm linh bằng cách thức Phật giáo Nhu cầu này được đáp ứng thông qua hệ thống các nghi lễ cầu cúng Sự trao đổi diễn ra giữa tín đồ - người đưa ra các yêu cầu về nghi lễ và tăng ni sư - người thực hiện nghi lễ [88, tr 69]
Chính vì vậy:
Dịch vụ Phật giáo với tư cách là một hoạt động tôn giáo, nhằm đáp ứng những nhu cầu của đời sống hàng ngày của tín đồ là một hoạt động mang tính dân gian Xuất phát từ quan điểm chú trọng yếu tố Sinh, quan tâm đến đời sống hiện tại của con người, dịch vụ Phật giáo thỏa mãn nhu cầu tâm linh của tín đồ trong đời sống hiện tại Nó giải quyết các vấn đề liên quan tới cơm, áo, gạo, tiền; hay nói cách khác,
là những gì thiết thực cho cuộc sống Nó thể hiện tư tưởng đi tìm cõi niết bàn trong cuộc sống đời thực cho kiếp này, không phải là sự giải thoát cho kiếp sau Dịch vụ Phật giáo là thể hiện tính dân gian của Phật giáo….”[88, tr 69 - 70]
Tác giả cũng nêu lên một số hình thức thờ cúng mang tính dịch vụ của Phật giáo hiện nay như lễ cúng cầu an, lễ cúng cầu siêu, lễ chạy đàn Dược
Trang 18Sư, cúng sao giải hạn, lễ bán khoán, cắt tiền duyên Trong đó các lễ cúng cầu an, cầu siêu, chạy đàn Dược Sư, theo tác giả là những nghi lễ của Phật giáo, còn những lễ cúng còn lại là của dân gian [88, tr 72]
Mặc dù nhận định trên của Nguyễn Thị Minh Ngọc đôi chỗ còn chưa chính xác, bởi nghiên cứu được tiếp cận chủ quan từ người nghiên cứu, coi những hoạt động của Phật giáo (một hoạt động tâm linh mang tính đặc thù và nhạy cảm), dưới góc nhìn của kinh tế thị trường, nên chưa thấy được nhiệm
vụ hoằng pháp, giáo dục thông qua các nghi lễ nêu trên; song đó cũng là một trong những nghiên cứu ít ỏi về sự hỗn dung của Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng truyền thống của người Việt hiện nay
Từ tổng quan các tác phẩm, công trình nghiên cứu, bài viết, liên quan đến đề tài Luận, chúng tôi có nhận xét đánh giá sau đây
* Nhận xét, đánh giá chung
Những công trình nghiên cứu trên đây đều ít nhiều đề cập đến vấn đề nghiên cứu của luận án, ở các góc độ khác nhau: Các tài liệu nghiên cứu về Phật giáo đã khái quát, phân tích rất sâu về những vấn đề cơ bản của Phật giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng như: nguồn gốc ra đời, giáo
lý, kinh sách, sự du nhập vào Việt Nam và quá trình phát triển (về vấn đề này,
có một số tác phẩm bàn về vấn đề "bản địa hóa" Phật giáo của Việt Nam, trong đó có đề cập đến mối liên hệ giữa Phật giáo và các tín ngưỡng bản địa của người Việt, tuy nhiên còn sơ lược); Những công trình nghiên cứu về các tín ngưỡng thờ cúng truyền thống của người Việt là những tài liệu quý giá mà luận án tiếp thu, là cơ sở để đi vào nghiên cứu sự dung hợp của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và Phật giáo Những vấn đề cơ bản của tín ngưỡng thờ cúng
tổ tiên được thể hiện rõ nét: nguồn gốc, sự thờ cúng, ý nghĩa tuy nhiên các công trình về vấn đề này vẫn chủ yếu là sự mô tả về tín ngưỡng này trong hệ thống tín ngưỡng truyền thống, phong phú đa dạng của người Việt Còn thiếu
Trang 19một nghiên cứu về sự vận động, dung hợp của tín ngưỡng này với các tín ngưỡng, tôn giáo khác; Còn những công trình nghiên cứu về mối quan hệ Phật giáo với các tín ngưỡng của người Việt thì có ít nhiều đề cập đến vấn đề của đề tài tuy nhiên chủ yếu dưới góc độ xem xét dưới góc độ của quá trình
"Phật giáo bị bản địa hóa" khi du nhập vào Việt Nam trong lịch sử, chưa thấy được "nhu cầu thực sự" của sự dung hợp này đối với cả Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong giai đoạn hiện nay
Từ sự tổng quan, đánh giá như trên, luận án đã kế thừa, tiếp thu những vấn đề, luận cứ, luận điểm:
- Những vấn đề, luận cứ, luận điểm được Luận án tiếp thu, kế thừa
+ Về mặt lý luận:
Chúng tôi dựa vào một số tác phẩm của các nhà khoa học gạo cội nghiên cứu về lĩnh vực tôn giáo, dân tộc như X.A Tocarev, Léopold Cadiere, Đặng Nghiêm Vạn, đã đề cập ở phần tổng quan nêu trên, lấy đó làm cơ sở
để đưa ra những khái niệm công cụ và nội hàm nhằm thực hiện nghiên cứu đề tài luận án, ví dụ như các khái niệm: tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, nghi lễ
+ Về nội dung:
Trước hết, chúng tôi kế thừa các tác phẩm viết về Phật giáo, lịch sử
Phật giáo của Lê Mạnh Thát, Nguyễn Lang, Nguyễn Tài Thư để hiểu rõ về quá trình bản địa hóa của Phật giáo khi truyền vào Việt Nam và trở thành Phật giáo Việt Nam
Thứ hai, chúng tôi cũng kế thừa các tác phẩm viết về tín ngưỡng của
Việt Nam nói chung và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nói riêng, của các tác giả như: Toan Ánh, Phan Kế Bính, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Minh San, Trần Đăng Sinh, Đây là những công trình nghiên cứu công phu, tập hợp tất cả các
Trang 20phong tục tập quán cũng như tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Việc nghiên cứu những tài liệu này giúp cho chúng tôi hiểu rõ hơn về bản chất tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, các hình thức thờ cúng tổ tiên trong phạm vi gia đình, dòng họ, làng xã
Thứ ba, chúng tôi kế thừa kết quả nghiên cứu của hai nhà sử học, văn
hóa học nổi tiếng là GS Trần Quốc Vượng, GS Hà Văn Tấn và PGS.TS Nguyễn Hồng Dương trong những công trình nghiên cứu của các ông về sự hỗn dung Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng của người Việt trong lịch sử mà chúng tôi đã nêu ở trên Điều này rất quan trọng, bởi khi hiểu rõ hơn về mối giao duyên này trong quá khứ, chúng tôi sẽ có cơ sở để nghiên cứu, tìm hiểu
về mối giao duyên này tiếp tục diễn ra như thế nào trong giai đoạn hiện nay
Thứ tư, một số bài viết của hai tác giả Hoàng Thu Hương và Nguyễn
Minh Ngọc đề cập đến mối quan hệ giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng của người dân Hà Nội hiện nay, đã giúp chúng tôi hiểu rõ quan điểm, cách đánh giá của các nhà nghiên cứu ngoài tôn giáo khi viết về mối quan hệ giao duyên giữa tín ngưỡng truyền thống và Phật giáo, mà chúng tôi là những người tu hành đang thực hiện
- Những vấn đề còn bỏ trống được Luận án nghiên cứu
Từ sự tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận
án trên đây cho thấy: Phần lớn những nghiên cứu đề cập đến sự hỗn dung giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng trong lịch sử Chỉ có một số bài viết, không có những công trình nghiên cứu chuyên sâu, đề cập đến sự hỗn dung giữa Phật giáo với tín ngưỡng thờ cúng trong giai đoạn từ đổi mới đến nay Nội dung các bài viết cũng chỉ đưa ra những nhận định chung, chưa có những nghiên cứu cụ thể trên thực tế Đề tài Luận án sẽ góp phần “phủ lấp” vào những khoảng trống nói trên
Trang 21Tóm lại, sự dung hợp tôn giáo ngoại nhập với tín ngưỡng bản địa trong quá khứ, hiện tại hay tương lai, chính là chất keo gắn kết, tạo sự giao lưu, hòa hợp với dân tộc, góp phần cơ bản làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, những vẫn không hề mất đi căn tính đức tin tôn giáo Vì vậy, những công trình nghiên cứu trên đây sẽ được chúng tôi kế thừa trong Luận án của mình
1.2 Lý thuyết nghiên cứu
- Lý thuyết về giao lưu, tiếp biến văn hóa (Acculturation): giao lưu tiếp
biến văn hóa là khái niệm do các nhà nhân học Anglo - Saxon đưa ra vào cuối thế kỷ XIX, để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của sự tiếp xúc này là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa hoặc cả hai nền văn hóa đó
Theo các nhà nhân học Mỹ, giao lưu tiếp biến văn hóa là quá trình trong đó, một nền văn hóa thích nghi, ảnh hưởng một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy
Sự giao lưu tiếp biến văn hóa cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa Đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục Các mẫu hình văn hóa nguyên thủy của một cộng đồng hoặc của cả hai cộng đồng có thể bị biến đổi thông qua quá trình tiếp xúc này Các thành tố của các nền văn hóa biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình
Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa có thể diễn ra một cách cưỡng bức thông qua sự thống trị về quân sự, hoặc diễn ra bằng con đường hòa bình hơn thông qua buôn bán, truyền đạo
Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt thực chất là phương thức của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa (cụ thể
là văn hóa Ấn Độ và văn hóa Việt Nam), kết quả là Phật giáo đến với Việt Nam thích nghi, chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt Nam, văn hóa Việt Nam thì
Trang 22được bổ sung những yếu tố của Phật giáo, được làm phong phú hơn Chúng tôi áp dụng lý thuyết này trong nghiên cứu để thấy được bản chất, tính tất yếu, phương thức của sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
- Lý thuyết hệ thống hóa văn hóa ( Bonnemaison, 2000)
trong của nó Hệ thống văn hóa khác với hệ thống xã hội, vì có tính chất bao quát hơn, gồm có bốn yếu tố: kiến thức, kỹ thuật, tín ngưỡng và không gian Đây cũng là bốn cực hay bốn trụ cột của hệ thống văn hóa
+ Di sản kiến thức: Văn hóa trước hết là di sản kiến thức Đó là sự hiểu
biết về thế giới, làm cho văn hóa mang tính “khoa học” trong mỗi nền văn minh khác nhau, ở mỗi tộc người ngoại lai, gọi là các khoa học tộc người (ethnoscienences) ngoài phương Tây, được coi là các khoa học hoặc kiến thức tiền hiện đại Ngày nay, văn hóa bản địa được đánh giá cao
+ Di sản kỹ thuật: gồm các kỹ năng và công cụ Theo cách nói của các nhà địa lý người Pháp Paul Vidal de la Blache (1845- 1918), đó là các lối
sống, dựa vào các kỹ thuật cơ bản, đáp ứng các nhu cầu đầu tiên của đời sống
để sinh tồn Đó còn là nghệ thuật sống, một triết lý để sống
+ Tín ngưỡng: "Kiến thức" và "kỹ thuật" là chưa đủ cần phải dựa trên
tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện một cách nhìn về thế giới, thường được coi là tầng cao của văn hóa, biểu hiện mối liên hệ cơ bản giữa các giá trị và kỹ thuật
Văn hóa mang lại ý nghĩa, đưa ra cách nhìn về thế giới, tức là cách giải thích thế giới Đó là trật tự của tư duy, dựa trên tín ngưỡng, huyền thoạt và các giá trị Đó cũng là trật tự của văn hóa, kết hợp ý nghĩa đạo đức và thẩm
mỹ, luân lý và nghệ thuật, lý trí và cảm xúc, thường được coi là các biểu hiện, còn gọi là các biểu trưng địa lý
Trang 23+ Không gian: Các nền văn hóa được xây dựng và định vị trong một
không gian Fernand BRAUDEL (1902 – 1985), nhà sử học người Pháp nổi tiếng với Lý thuyết hệ thống kinh tế - xã hội trên phạm vi thế giới, cho rằng văn hóa có một chỗ dựa địa lý Khác với quyết định luận địa lý, nó có quan hệ biện chứng giữa môi trường và văn hóa
Môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn không cách ly lẫn nhau,
mà tạo nên môi trường văn hóa và môi trường địa lý Sự phân chia các nền văn hóa trong không gian tạo nên các vùng văn hóa Vùng văn hóa được định nghĩa là một không gian tương đối đồng nhất, trong đó có kết hợp một số đặc trưng văn hóa chủ đạo Các vùng văn hóa không khép kín, mà có thể tiếp nhận, trao đổi các đặc trưng văn hóa với nhau Có thể hình dung ba cấp độ cấu thành một hệ thống văn hóa là: vùng văn hóa, không gian sống và không gian văn hóa
Không gian văn hóa tương ứng với một nền văn hóa riêng và một khu
văn hóa, các khu vực, các vùng văn hóa và các thế giới văn hóa Mỗi nền văn hóa và mỗi nền văn minh lớn đều có một hoặc nhiều cái nôi văn hóa Khu vực văn hóa còn là một xứ sở (gồm một phức hợp văn hóa tương ứng với một không gian địa lý
sẽ tạo nên khu vực văn hóa; khu vực văn hóa là một nền văn hóa với không gian của nó – đó là tập hợp của một nhóm các vùng văn hóa có các biến thái chung hoặc cơ sở văn hóa giống nhau; thế giới văn hóa bao gồm nền văn
minh và không gian – đó là siêu văn hóa (métaculturel – cái vượt qua, cái bao
gồm) và nguồn cội hoặc các bể chứa văn hóa như: các tôn giáo lớn, ý thức hệ, các trào lưu văn minh, ngôn ngữ, các cộng đồng quốc tế
Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa, lý thuyết thống nhất các sự kiện văn hóa và lý thuyết hệ thống hóa văn hóa sẽ được chúng tôi lựa chọn áp
Trang 24
dụng để nghiên cứu về sự dung hợp Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay
1.3 Một số khái niệm
* Tín ngƣỡng:
Tín ngưỡng được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, rất đa dạng
và phong phú; được đề cập dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau:
Trước hết, từ góc độ của xã hội học, các nhà xã hội học phương Tây
hiện đại như Spencer, Durkhiem… đã xem xã hội như một hiện thực siêu hình được nuôi dưỡng bằng ý thức tập thể Trong đó, ý thức tập thể được tạo dựng bởi những niềm tin, những tình cảm của mỗi thành viên Trong xã hội, các
thành viên của một tập thể có chung một tín ngưỡng Tín ngưỡng là một yếu
tố tạo nên sự cố kết và thống nhất của một tập thể, của nhóm xã hội Đó là
niềm tin vào cái thế tục và cái thiêng liêng Hai yếu tố này là tính chất chung của mọi tín ngưỡng, tôn giáo Durkhiem cho rằng, tín ngưỡng là những trạng thái tư tưởng nằm ở các biểu tượng và được thể hiện thông qua các nghi lễ thờ
cúng: “Trên cơ sở của tất cả các hệ thống tín ngưỡng và các hình thức thờ
cúng đó, nhất thiết phải có một số biểu trưng cơ bản và các thái độ mang tính nghi lễ, bất chấp sự đa dạng về hình thức khoác lên chúng ở đâu, chúng cũng đều có cùng một ý nghĩa khách quan như nhau và cùng thực hiện những chức năng như nhau” [44, tr 62]
Từ góc độ dân tộc học, Wschmidt đã xem xét tín ngưỡng chẳng qua chỉ
là “hình thức tôn giáo nguyên sơ - tiền tôn giáo, là niềm tin vào một vị Chúa
vĩ đại và vĩnh hằng, nhân từ và sáng tạo đang ngự trị trên trời Tín ngưỡng là hiện tượng phổ biến có ở giai đoạn khởi đầu của mọi dân tộc” [135, tr 30]
Từ góc độ triết học, các nhà triết học duy tâm khách quan, ngay trong
thời cổ đại như Platôn hay đến thời kỳ triết học cổ điển Đức như Hêghen… đã
Trang 25hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo Vì vậy, họ cho rằng tín ngưỡng tôn giáo là sức mạnh thần bí thuộc tinh thần tồn tại vĩnh hằng, là nhân tố chủ yếu đem lại
sinh khí cho con người
Các nhà triết học duy tâm chủ quan lại cho rằng, tín ngưỡng tôn giáo là thuộc tính vốn có trong ý thức của con người, tồn tại không phụ thuộc vào hiện thực khách quan
Nhìn chung, những quan điểm trên về tín ngưỡng của các nhà khoa học nói trên cho thấy, do hạn chế về mặt lịch sử và lợi ích giai cấp nên đã có những nhận xét thiếu cơ sở khoa học Quan điểm duy tâm cho tín ngưỡng là hiện tượng thần bí, siêu thực, chỉ có thể cảm nhận được, chứ không lý giải được Các nhà triết học duy tâm đã sai lầm khi lấy ý thức tinh thần để lý giải một hiện tượng cũng thuộc lĩnh vực tinh thần là tín ngưỡng tôn giáo
Triết học mác - xít đã có một bước đột phá khi xem xét, lý giải tín ngưỡng tôn giáo từ những cơ sở thực tiễn của nó C.Mác khẳng định: “Đời sống xã hội về thực chất là có tính thực tiễn Tất cả những sự thần bí đang đưa
lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn của con người trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [73, tr 12]
Tiếp cận nghiên cứu tôn giáo trên cơ sở nền tảng duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Tín ngưỡng tôn giáo được các nhà kinh điển mác - xít coi là một hiện tượng lịch
sử, sản phẩm của thời đại lịch sử nhất định Thời đại C.Mác và Ph.Ăngghen,
xã hội phương Tây khi xem xét tín ngưỡng thường được hiểu là tín ngưỡng tôn giáo, cụ thể là tín ngưỡng Cơ Đốc giáo Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, C.Mác, Ph.Ăngghen đã đề cập tới tín ngưỡng tôn giáo ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể Các ông cho rằng về cơ bản tín ngưỡng không khác gì thần linh, hai cái đều là tôn giáo đang ngự trị con người Ở đây tín ngưỡng với hàm nghĩa tín ngưỡng tôn giáo
Trang 26Qua các tác phẩm kinh điển, C.Mác, Ph.Ăngghen khẳng định: Tín
ngưỡng là một yếu tố của đời sống xã hội, hơn nữa là sản phẩm của lịch sử
xã hội do con người sáng tạo ra Tín ngưỡng là một bộ phận của ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào sự tồn tại và sự cứu giúp của một thực thể siêu nhiên nào đó được thể hiện qua hệ thống nghi lễ
Một số học giả Việt Nam cũng đưa ra quan điểm của mình về tín ngưỡng như sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt, tín ngưỡng có nghĩa là lòng tin và sự ngưỡng
mộ một tôn giáo hay một chủ nghĩa: “tín ngưỡng là tin theo một tôn giáo nào đó” [132, tr 960] Một trong những quan điểm cụ thể và sát hợp nhất cho
rằng: Tín ngưỡng là một biểu hiện của ý thức về một hiện tượng thiêng, một
sức mạnh thiêng do con người tưởng tượng ra hoặc do con người suy tôn, gán cho một hiện tượng, một sức mạnh chỉ cảm thụ được mà chưa nhận thức được Tín ngưỡng là một sản phẩm văn hoá của con người được hình thành tự phát trong mối quan hệ của con người với chính mình với người khác và với giới tự nhiên” [Xem 101]
Trong Từ điển Tôn giáo, tín ngưỡng được hiểu:
Tín ngưỡng là lòng tin và sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên, thần bí; lực lượng siêu nhiên đó có thể mang hình thức biểu tượng là “trời”, “phật”, “chúa”, “thánh”, “thần”, hay một sức mạnh hư ảo, huyền bí, vô hình nào đó tác động đến đời sống tâm linh của người ta, được con người tin là có thật và tôn thờ [30,
tr 634 - 635]
Đặng Nghiêm Vạn lại xem tín ngưỡng là một yếu tố chính của tôn giáo, quy định sức mạnh của tôn giáo với cộng đồng: Khi bàn đến niềm tin hay đức tin tôn giáo ở Việt Nam, ta đụng đến một thuật ngữ thường dùng là tín
Trang 27ngưỡng Tín ngưỡng chỉ niềm tin tôn giáo… Những thể loại tôn giáo tuy đơn giản về nội dung, nghi lễ, nhưng mang tính cộng đồng” [Xem 133]
Xét về quy mô, có quan điểm cho rằng, tín ngưỡng là khái niệm rộng hơn khái niệm tôn giáo, nhưng cũng có ý kiến ngược lại, coi tín ngưỡng là bộ phận cấu thành của tôn giáo Có ý kiến cho rằng “ý thức tôn giáo xuất hiện đầu tiên dưới dạng tín ngưỡng nguyên thủy” [Xem 68] và nó chỉ trở thành tôn giáo khi nó đã phát triển đến một mức độ nào đó Nhưng, có ý kiến lại quan niệm, không phải mọi tín ngưỡng đều sẽ phát triển thành tôn giáo
Xét về mức độ, có quan điểm cho rằng, tôn giáo là cấp độ cao hơn tín ngưỡng: “tín ngưỡng có thể xem là đồng nghĩa với các khái niệm: tôn giáo nguyên thuỷ, tôn giáo sơ khai, tôn giáo tự nhiên” [101, tr 7]
Theo chúng tôi, tín ngưỡng có hai nghĩa: Nghĩa rộng là chỉ niềm tin và
sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng của con người về một lực lượng, một chủ thuyết, nhưng thường được hiểu là tin vào một lực lượng siêu nhiên có khả năng chi phối, thậm chí quyết định cả số phận của con người, đó là tín ngưỡng có tính tôn giáo Hiểu như vậy cho thấy, ở tín ngưỡng cũng giống như tôn giáo, đều phản ánh niềm tin của con người và lực lượng siêu nhiên thần thánh, được coi
là hiện tượng của đời sống tinh thần xã hội Tín ngưỡng bao gồm nhiều loại hình, thể thức phong phú và đa dạng được nảy sinh, tồn tại và phát triển suốt chiều dài lịch sử nhân loại Tín ngưỡng phát sinh ngay từ thời sơ khởi, con người đã tôn thờ và tin tưởng tất cả những sức mạnh vô hình hay hữu hình mà người ta cho rằng có thể giúp đỡ hoặc làm hại đến con người như trời, đất, sấm, sét, gió, mưa, nước, lửa…
Tuy nhiên, hiện nay bên cạnh các tôn giáo hiện đại (Đạo Phật, Đạo Ki
tô, Islam…), vẫn tồn tại những dạng thức tín ngưỡng chưa đạt tới trình độ (xét
về mặt kết cấu) của một tôn giáo như: tín ngưỡng tô tem giáo, tín ngưỡng thờ thần, thánh, tín ngưỡng hồn linh giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ
Trang 28cúng tổ tiên… Có thể nói trong tất cả các dạng thức tín ngưỡng đó, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên được coi là dạng thức có sức sống bền bỉ, mạnh mẽ, hình thành rất sớm và có quá trình phát triển, hoàn thiện dần dần theo từng bước thăng trầm của lịch sử nhân loại
* Thờ cúng tổ tiên (Ancestor worship):
Theo Từ điển “Các nền văn minh tôn giáo” thì thờ cúng tổ tiên là: Hình thức thờ cúng này tồn tại từ thời cổ, thường do thủ lĩnh bộ tộc hay người đứng đầu gia đình thực hiện Các dân tộc Châu Phi có nhiều hình thức thờ cúng tổ tiên Thờ cúng tổ tiên có các hình thức sau: (1) lễ nghi thờ cúng khi chôn cất (khái niệm về linh hồn người chết thường gắn liền với cách thờ cúng này); (2) tín ngưỡng Totem hay vật tổ; (3) thờ thần canh gác người và thờ vật, cách thờ này phổ biến tại Châu Phi xích đạo Điểm quan trọng trong thờ phụng tổ tiên
là mọi người luôn quan niệm rằng linh hồn của tổ tiên luôn sống với mọi người trong gia đình, có sức mạnh vô biên, sự giàu có của gia đình luôn tùy thuộc vào tổ tiên Dựa trên cơ sở cách thờ phụng tổ tiên, hình thức thờ phụng nhân vật cụ thể xuất hiện và phát triển trong các tôn giáo của Hy Lạp và La
Mã cổ đại, và sau này là cách thờ phụng Chúa và các thánh trong Thiên Chúa giáo và Hồi giáo [Xem 122, tr 614]
* Tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên:
Là khái niệm mang nghĩa phổ quát thể hiện đạo hiếu của con người và được hiểu theo nhiều cách khác nhau Thờ cúng tổ tiên là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ xa xưa trong lịch sử nhân loại và đã tồn tại ở nhiều châu lục Có người gọi là tục thờ cúng tổ tiên, người khác lại gọi là sự thờ cúng tổ tiên Không ít người gọi là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, ở miền Nam thường gọi là đạo Ông Bà Nguyễn Đình Chiểu có viết:
“Thà đui mà giữ đạo nhà
Trang 29Một số nhà nghiên cứu lại cho rằng, gọi đạo cũng được, nhưng “đạo”
ở đây không có nghĩa như một tôn giáo, như đạo Kitô, đạo Phật, đạo Islam
… mà phải hiểu nó như là đạo lý làm con, đạo làm người, đạo hiếu nghĩa… những đạo ấy không thể là tôn giáo
Còn X.A Tocarev - một nhà dân tộc học nổi tiếng người Nga lại khẳng định: “Sự thờ cúng tổ tiên là một hình thức tôn giáo, từ lâu đã được thừa nhận trong khoa học Vì thế, không cần phải chứng minh sự tồn tại của nó với tư cách là một hình thức tôn giáo riêng biệt” [123, tr 32] Thờ cúng tổ tiên là một tục lệ, tín ngưỡng hay tôn giáo đang còn nhiều ý kiến khác nhau và chắc chắn cần phải thảo luận nhiều để đi đến sự thống nhất
Tuy nhiên, theo chúng tôi, khái niệm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có thể được hiểu theo hai nghĩa sau:
+ Theo nghĩa hẹp, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là sự thờ cúng cha mẹ, ông bà, tổ tiên, đó là những người đã mất, cùng huyết thống, đã có công sinh thành và nuôi dưỡng con cháu
+ Theo nghĩa rộng, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không chỉ mở rộng huyết thống từ gia đình đến họ tộc mà còn mở rộng ra cả tổ tiên làng xã, đất nước: “Đạo thờ tổ tiên theo nghĩa rộng không chỉ thờ những người có công sinh dưỡng đã khuất, nghĩa là những người có cùng huyết thống mà thờ cả những người có công với cộng đồng, làng xã và đất nước”[133, tr 315]
Như vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất phát từ một nhóm người có cùng huyết thống, thờ cúng một ông tổ của mình để tỏ lòng hiếu thảo, thương nhớ người đã khuất, hoặc những cộng đồng người có quan hệ láng giềng (làng), chung lợi ích (đất nước) cùng thờ những người đã có công, cứu dân, cứu nước Mục đích của việc thờ phụng tổ tiên là để con cháu noi theo, cầu bình an, trợ giúp, mong muốn vạn sự tốt lành, may mắn trong cuộc sống Dần dần, việc thờ cúng tổ tiên được thay thế bằng thờ cúng ông bà, cha mẹ trong
Trang 30gia đình Thờ cúng tổ tiên nhìn chung có ba cấp độ: thờ cúng trong gia đình
và dòng họ, thờ cúng trong cộng đồng làng xã, thờ cúng trong phạm vi quốc gia Thờ cúng tổ tiên là một bổn phận, trách nhiệm của người Việt Nam Thờ cúng tổ tiên của người Việt là tín ngưỡng sâu sắc nhưng không là một tôn giáo, đây vừa là trách nhiệm có tính luân lý, sự phát lộ tình cảm và lòng tin huyết thống, xuất phát từ chân tâm của mỗi người, thể hiện truyền thống đạo
lý của dân tộc Việt Nam
Như vậy, theo tinh thần này, nội hàm của khái niệm “dung hợp” gồm:
Dung hợp văn hóa và dung hợp tín ngưỡng, tôn giáo
Theo chúng tôi thì, dung hợp văn hóa và dung hợp tín ngưỡng, tôn giáo là: Quá trình năng động trong đó một nền văn hóa (tín ngưỡng, tôn giáo) diễn tiến dưới ảnh hưởng của một văn hóa (tín ngưỡng, tôn giáo) khác: văn hóa (tín ngưỡng, tôn giáo) thống trị Và chúng được hòa hợp trong một thể thống nhất để tồn tại, phát triển
* Nghi lễ:
Theo Victor Turner: nghi lễ (ritual) là hành vi được quy định có tính
chất nghi thức dành cho những dịp, không liên quan đến công việc có tính chất hàng ngày, mà có quan hệ với các niềm tin vào đấng tối cao hay sức
mạnh thần bí
Đặng Nghiêm Vạn thì cho rằng, nghi lễ là hành vi tôn giáo: bất cứ tôn
giáo nào muốn tồn tại cần có những hành vi thờ cúng liên quan đến niềm tin,
giáo lý (nội dung) tôn giáo, được thực hiện bởi các chức sắc, những người
Trang 31làm nghề tôn giáo chuyên nghiệp, hoặc tự thực hiện, được sự chỉ dẫn của một nguyên lý và nội dung nhất định Ở tất cả các tôn giáo, có hai phương pháp để
có thể quan hệ với các siêu linh ở bên kia thế giới: thứ nhất, bằng tự cá nhân
(tưởng niệm, cầu xin, ăn chay, nhịn đói một thời gian nhất định, hành xác, kiêng cữ, dâng cúng vật lễ, hành hương…) Cá nhân đó có thể đại diện cho
đơn vị huyết thống là gia đình hay một nhóm xã hội ; thứ hai, được tiến hành
dưới hình thức cộng đồng (dòng họ, làng xóm, dân tộc, cộng đồng tôn giáo (hội họp, diễu hành, lễ hội, hành hương, rao giảng, kiết hạ, kiêng cữ…)
nghi lễ là mối quan hệ của các thực thể ở thế giới bên kia với cuộc sống trần gian của cộng đồng và cá nhân, làm cho nội dung giáo lý tôn giáo trở nên sống động, phổ quát qua thực hành tôn giáo [134, tr 96 - 98]
* Người Việt:
Người Việt ở đây được hiểu là người Kinh Theo các nhà khoa học, tộc
danh Kinh được dùng phổ biến trong các văn bản hành chính và giao tiếp hàng ngày với các ý sau: (1) Kinh là con cháu của Kinh Dương Vương; (2) Kinh là những người sống dọc các con kênh, dòng sông; (3) Kinh do người Hán gọi nhóm cư dân ở kinh đô, đã qua giáo hóa; (4) Kinh là Kinh đô, Kinh
kỳ, so các tộc người thiểu số gọi các quan lại ở miền xuôi lên miền núi nhậm
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, người Việt có
73.594.427 nhân khẩu, chiếm 85,7% dân số cả nước
Người Kinh là tộc người duy nhất trong 54 tộc người của quốc gia Việt Nam cư trú thành cộng đồng ở tất cả các tỉnh, trên tất cả các dạng địa hình, địa bàn trong cả nước (đồng bằng, trung du, miền núi, cao nguyên, ven biển
và hải đảo), song tập trung đông đúc ở đồng bằng
Trang 32
Tộc người Kinh còn có đặc điểm cư trú và sinh sống dọc theo các trục đường giao thông lớn, là bộ phận cư dân chủ đạo ở các đô thị trên cả nước
Với đặc điểm về dân số và tính chất cư trú nêu trên, người Việt giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam từ buổi đầu dựng nước cho đến nay
Người Việt nắm giữ các ngành kinh tế then chốt, tạo ra nguồn lực kinh
tế lơn nhất cho đất nước; chiếm số đông và nắm giữ hầu hết các vị trí then chốt trong hệ thống quản lý nhà nước các cấp, tổ chức nền giáo dục quốc gia với ngôn ngữ Việt là quốc ngữ
Suốt tiến trình lịch sử của đất nước, người Việt là thành phần chính trong việc lập nước, chống ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập của đất nước, cũng như của quốc gia đa dân tộc Việt Nam Sự tồn tại và phát triển của người Việt có ảnh hưởng đến các tộc người khác, đến sự hưng vong của
Tựu chung lại, những khái niệm nêu trên chính là công cụ để chúng tôi triển khai viết Luận án
Trang 33
Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO, TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG
TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát chung về Phật giáo
2.1.1 Sự tiếp nhận Phật giáo của người Việt
Phật giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, người sáng lập là Tất Đạt Đa (Siddhartha), họ Gautama, sinh khoảng năm 563 tr.CN, ở kinh thành Kapilavastu (chân núi Himalaya về phía Nam, nay thuộc miền Nam nước Nêpan), là thái tử con vua Tịnh Phạn Người đời tôn xưng ông là Thích Ca Mâu Ni (Sakymuni) Ông mất năm 483 tr.CN, hưởng thọ 80 tuổi Đạo Phật được truyền ra ngoài biên giới Ấn Độ từ rất sớm, vào năm 300 tr.CN, hoàng đế
A Dục (Asoka) có gửi nhiều phái đoàn truyền giáo ra nước ngoài, trong đó có Đông Nam Á
Đạo Phật có hai phái: Tiểu Thừa và Đại thừa Tiểu Thừa có nghĩa là
“cỗ xe nhỏ”, ngụ ý chỉ chở một người (Thặng là cỗ xe) Phái Tiểu thừa chủ trương tuân theo sát các giáo lý của phật Thích Ca Mâu Ni và chỉ giác ngộ (Phật hóa) cho bản thân mình Phái này phát triển mạnh xuống phía Nam như Sry Lan ca, Thái Lan, Cămpuchia và Đông Nam Á, nên còn gọi là Nam Tông
Phái Đại Thừa có nghĩa là “cỗ xe lớn”, ngụ ý chở được nhiều người Phái Đại Thừa chủ trương không câu nệ, cố chấp vào các giáo lý, mềm dẻo trong việc thực hiện giáo luật, mở rộng thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ, thờ nhiều Phật, kể cả các Bồ Tát Phái Đại Thừa phát triển mạnh lên phía Bắc, xâm nhập vào các nước: Trung Quốc, Nhật Bản…, nên còn gọi là Bắc Tông
Trang 34Dòng đạo Phật được truyền vào Việt Nam đầu tiên từ Ấn Độ là phái Tiểu Thừa - Nam Tông Sau này, các thiền sư Trung Hoa sang truyền đạo Phật ở Việt Nam là phái Đại Thừa, dần dần phái này chiếm địa vị chủ đạo
Theo các nhà nghiên cứu, Phật giáo truyền vào Việt Nam từ đầu Công Nguyên theo các con đường sau:
+ Do các nhà buôn Ấn Độ truyền vào nước ta khoảng thế kỷ I, II sau Công nguyên
+ Do người Hán truyền vào (Phật giáo Bắc tông)
+ Do các nhà sư Việt Nam tìm đường sang Ấn Độ và Trung Quốc học Phật, trở về truyền bá ở Việt Nam
Ở giai đoạn đầu truyền vào, Phật giáo cũng vấp phải sự phản ứng của những tín ngưỡng cổ truyền như thờ tổ tiên, thành hoàng, thổ công… Họ xa lánh, thậm chí chế bai, đả kích Vào thời kỳ sau, Phật giáo cũng liên tục bị mổ
xẻ bởi các nhân vật như Đàm Dĩ Mông, Lê Quát, Phạm Sư Mạnh, Trương Hán Siêu, Bùi Huy Ích, Phạm Nguyễn Du, Bùi Dương Lịch…Họ cho rằng Phật giáo
có nhiều điều không thích hợp, thậm chí có hại đối với xã hội xét trên bình diện chính trị - xã hội Tuy nhiên, xét trên bình diện nhân sinh, Phật giáo lại được các triều đại phong kiến Việt Nam tôn sùng, đề cao như thời Lý - Trần, sau này thời Lê Sơ, Nguyễn tôn sùng Nho nhưng cũng để cho Phật giáo lưu hành[Xem
118, tr 25 -26]
Trên thực tế lúc bấy giờ, hai khuynh hướng thừa nhận, phủ nhận đan xen và cuối cùng, khuynh hướng thừa nhận đã thắng thế, làm cho Phật giáo trở thành hiện tượng tôn giáo và triết học lâu dài của dân tộc
Một vấn đề đặt ra là, vì sao Phật giáo lại trụ chân được trên đất Việt Nam Có nhiều cách giải thích khác nhau về vấn đề này:
Thứ nhất, người dân Việt Nam có truyền thống bao dung về tôn giáo
Trang 35Thứ hai, Phật giáo là một tu trào văn hóa nên sẽ sống mãi cùng dân tộc Thứ ba, Phật giáo không giành quyền bính và địa vị ngoài đời nên được
người ta tin theo…
Tuy nhiên các cách giải thích trên đều không có sức thuyết phục vì theo cách giải thích thứ nhất, không thể giải thích được hiện tượng một số nhà Nho phê phán Phật giáo và những người vô thần khác cũng đối địch với Phật giáo Còn theo cách thứ hai, chỉ thấy được mặt của văn hóa dân tộc bị ảnh hưởng
và mang dấu ấn của Phật giáo, còn về bản chất, Phật giáo là một tôn giáo Theo cách thứ ba, mâu thuẫn với việc, có người tu theo Phật giáo là mong được giàu sang, vua chúa mong được ủng hộ độ trì
Theo Nguyễn Tài Thư, Phật giáo là một nhu cầu của người Việt Nam trong lịch sử Tâm lý chung của con người là ấm no, mạnh khỏe, giàu sang, sống lâu… Tín ngưỡng nguyên thủy phần nào thỏa mãn nhu cầu tâm linh của con người Tuy nhiên tín ngưỡng nguyên thủy không thỏa mãn được nhu cầu nhận thức và tâm lý con người đã phát triển Cùng với sự phát triển của xã hội, người Việt Nam ngày càng muốn hiểu biết cuộc sống và ý nghĩa của mình, muốn biết sự sinh thành của mình, muốn biết sự vận động của con người trong xã hội hiện thực Đạo Phật với các lý thuyết khổ tập diệt, đạo, vô thường, vô ngã… đã đáp ứng được yêu cầu đó
Như vậy, sống và yêu cầu sống không được đáp ứng trong xã hội là điều kiện cho Phật giáo du nhập và thắng thế và điều đó còn quy định sự phát triển của các tông phái Phật giáo ở Việt Nam Tông phái nào chú ý đến yêu cầu sống của con người trong cảnh khổ đau thì phát triển, tông phái nào mang
lý luận cao siêu nhưng không chú ý đến thỏa mãn nhu cầu sống của con người thì dù có thịnh hành cũng chỉ là hiện tượng tạm thời trong lịch sử [Xem 118,
tr 27 - 29]
Trang 36Khi truyền vào Việt Nam, Phật giáo đã đáp ứng được thế giới quan của người Việt Xét về các tôn giáo cùng tồn tại ở Việt Nam, Nho giáo là học thuyết chính trị, đạo đức của giai cấp phong kiến, trong nhiều phương diện hoạt động của con người, nó chỉ chú ý phương diện xã hội Trong nhiều mối quan hệ xã hội, chỉ chú ý một số quan hệ như vua - tôi, vợ - chồng, cha - con…; trong nhiều nhu cầu của con người, nó chỉ chú ý nhu cầu của giai cấp thống trị Nó bỏ qua các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội và sinh hoạt của con người Đạo giáo lại chủ trương xa lánh sự phát triển của xã hội, quay về bắt chước giới tự nhiên, sống với tự nhiên, mâu thuẫn với chủ trương nhập thế của Nho giáo Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ… đã hướng vào Đạo giáo lúc xã hội bất công hay lúc cuối đời
Hai tôn giáo nói trên chủ trương bỏ qua những những vấn đề cơ bản, liên quan đến cuộc sống con người (sống, chết, thọ yểu, phúc họa, sướng khổ ) Nho giáo cho rằng thọ hay yểu là do mệnh, phúc hay họa là do trời… Lão - Trang cho rằng sống - chết, thọ hay yểu là điều tự nhiên, con người không cần can thiệp vào; còn về vấn đề phúc họa thì cho rằng trong phúc có họa và ngược lại
Đạo Phật giành miếng đất gần như bỏ trống đó trong nhu cầu con người Đạo Phật là một bộ phận thế giới quan của người Việt Nam trong lịch sử và có khả năng tồn tại lâu dài hơn Nho giáo và Đạo giáo Trong khi Nho giáo và Đạo giáo là thế giới quan của giai cấp phong kiến, còn Phật giáo là thế giới quan của tầng lớp bình dân, lao động Vì thế ngoài tính giai cấp, Phật giáo còn có tính quần chúng [Xem 118, tr 30]
Cùng với quá trình lịch sử, Phật giáo đã ảnh hưởng đến văn hóa, xã hội, phong tục tập quán truyền thống của dân tộc Việt Nam Để được tiếp nhận, Phật giáo phải trải qua những thăng trầm, dung hợp và loại bỏ những căn tính
không phù hợp với văn hóa bản địa Với đặc thù “khế lý, khế cơ”, “tùy duyên
Trang 37phương tiện”, Phật giáo đã chứng tỏ được vị thế của mình, đồng hành, gắn bó
cùng dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam
Người Việt vốn có thái độ cởi mở, ít có những định kiến tôn giáo, sẵn sàng tiếp nhận, chọn lọc trong những yếu tố của các nền văn hóa, tín ngưỡng
từ bên ngoài, làm phong phú thêm nền văn hóa của họ; hoặc chấp nhận và dung hoà chúng với tín ngưỡng cổ truyền
Khi đạo Phật truyền vào Giao Châu, tín ngưỡng của người dân bản địa lúc đó là đa thần giáo (thờ Thần Sấm, Thần Cây, Thần Ông Táo…) Do có giáo
lý phù hợp với nguyện vọng của đại đa số người dân nên đạo Phật nhanh chóng được người dân tiếp nhận, được ví như “nước thấm vào lòng đất” “sữa hòa với nước” Thuyết “Nhân quả” trong đạo Phật phù hợp với quan niệm của dân gian
“Ông Trời trừng phạt kẻ ác, cứu giúp người hiền lành” Ông Bụt là một vị thánh có phép thần thông, song lại rất gần gũi con người Bụt luôn hiện ra cứu giúp khi gặp oan ức, bất công, vì thế phương châm sống “ở hiền” để được “gặp lành”, tu nhân, tích đức cũng phù hợp với giáo lý Nhân quả của đạo Phật Thuyết “Luân hồi” phù hợp với quan niệm về linh hồn còn tồn tại sau khi xác chết đã tan biến… nên cũng dễ dàng được chấp nhận Sự tiếp nhận này dường như không gây ra sự thay đổi đột ngột trong đời sống tinh thần của người Việt
Họ thờ cúng các vị chư Phật cũng như thờ cúng các vị thần bản địa
Khi đã thấm sâu vào tín ngưỡng của nhân dân, Phật giáo có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội Các ngôi chùa trở thành các trung
tâm sinh hoạt văn hóa, giáo dục của các làng xã Chùa không chỉ là nơi sinh
hoạt tôn giáo mà còn là nhà trường học Các em nhỏ đến chùa không chỉ với mục đích tu luyện thành tăng sĩ mà còn để học chữ Các chư tăng vừa là người truyền đạo, vừa là thầy dạy học kiêm thầy thuốc Là những người am hiểu biết, chư tăng đã giúp dân làng trong nhiều công việc và được nhân dân kính trọng Trên cơ sở đó mối quan hệ giữa nhà sư và nhân dân càng thêm gần gũi
Trang 38Trung tâm Phật giáo cổ nhất ở Việt Nam là Luy Lâu, cách Hà Nội khoảng 30 km về phía Bắc Tại đây có bốn ngôi chùa mang tên Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (tức mây, mưa, sấm, chớp), được xây dựng từ thời các nhà sư Ấn Độ đầu tiên đến Việt Nam truyền đạo Cả bốn ngôi chùa đều thờ các vị thần nữ thần nông nghiệp là Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng Đây là minh chứng cho thấy, ngay từ những buổi đầu du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã có sức sống, được dung hòa với các tín ngưỡng cổ
Đạo Phật bao gồm 3 tông phái: Thiền Tông, Mật Tông và Tịnh Độ Tông:
+ Thiền Tông: có nghĩa là tĩnh tâm, tập trung trí tuệ để suy nghĩ
(thiền), tự mình tìm ra chân lý để trở thành Phật Tu theo Thiền Tông đòi hỏi khả năng trí tuệ, công phu tĩnh tâm suy nghĩ nên chỉ thích hợp với tầng lớp thượng lưu có học Thiền là phương pháp để chính tâm, nhật ý, tập trung điều kiện duy trì trong tâm, ý thức những ý niệm nhơ bẩn để khử diệt Ví dụ
ở nước ta có thiền phái Thảo Đường thời vua Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông,
Lý Cao Tông, Lý Thái Tổ…, thiền phái Trúc lâm thời Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông…
+ Mật Tông: là thời kỳ phát triển của Phật giáo Đại Thừa (ở giai đoạn
thứ 3) của Ấn Độ Giai đoạn thứ nhất là Bát Nhã, giai đoạn thứ 2 là Duy Thức Mật Tông Bắt nguồn từ tư tưởng của Bát Nhã tín ngưỡng dân gian Ấn
Độ Mật Tông chấp nhận sự có mặt của các thần linh được thờ cúng trong dân gian Vì vậy, đạo Phật được phát triển rất sâu rộng trong sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân lao động Ở Việt Nam khuynh hướng này rất phù hợp với phong tục tập quán và tín ngưỡng của người Việt, nên Mật Tông trở thành một yếu
tố khá quan trọng trong sinh hoạt Thiền môn
Theo Mật tông, trong vũ trụ có tàng ẩn những thế lực siêu nhiên, nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên ấy, thì ta có thể đi nhanh trên con đường giác ngộ thành đạo, khỏi phải đi tuần tự từng bước Sự sử dụng thế lực
Trang 39thần linh, thần chú, ấn quyết… có thể hỗ trợ Thiền quán hành đạo Chính từ khuynh hướng này của Mật Tông nên Phật Giáo đã bao trùm mọi tín ngưỡng dân gian trong lòng nó ở Ấn Độ cũng như Việt Nam Các Thiền sư Vạn Hạnh, Thiền Nham, Đạo Hạnh đều thể hiện những yếu tố này
Ở Việt Nam, vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX, Khảo cổ học
đã phát hiện ở xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình (Kinh đô Hoa
Lư xưa), có một bia trụ đá 8 mặt, trên bia có khắc bài kệ của Tổng Trì của Mật Tông do vua Đinh Liễn tạo dựng Điều đó cho thấy Mật Tông được phổ biến dưới triều Đinh và triều Tiền Lê Sử cũ cũng cho biết, một nhà sư Mật Tông có tên là Mahamaya, người gốc Chiêm Thành, giỏi cả tiếng Phạn lẫn tiếng Hán, làm quan dưới thời Lê Đại Hành, đã thoát ra khỏi ngục khi bị vua giam, vì lý do khuyên dân chúng Thanh Hóa không nên giết hại súc vật để thờ cúng
Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi lại một nhà sư Mật Tông người Tây
Tạng tên là Du Chi Bà Lam (đến Việt Nam vào thời Trần Nhân Tông) Ông
có dung mạo đem sạm, tự nói là 300 tuổi, có thể ngồi xếp bằng nổi trên mặt nước, có thể thu cả ngũ tạng lên trên ngực, làm cho bụng lép đi như không có gì…Vào đời vua Trần Minh Tông cũng có một nhà sư Ấn Độ khác sang Việt Nam, có thể ngồi nổi trên mặt nước
Ở nước ta, trong buổi đầu thời kỳ độc lập tự chủ, yếu tố Mật giáo trong Phật Giáo cũng đã dựng nên chuyện Thiền sư Minh Không (tự là Không Lộ,
họ Nguyễn, tên là Chí Thành) Theo truyền thuyết dân gian, sau khi đi Tây Trúc học kinh, ông về quê dựng chùa Diên Phúc Dựng chùa xong, ông muốn đúc tượng Phật, nhưng không đủ đồng, nên bèn sang Trung Hoa để xin vua cho đồng Thiền sư Minh Không mặc áo cà sa, chống tích trượng vào triều, ngỏ ý xin đồng Vua Trung Hoa thấy Minh Không đi một mình, đường về Đại Việt lại xa xôi ngàn dặm, bèn nói là Minh Không tùy ý lấy bao nhiêu thì lấy Không
Trang 40ngờ Minh không đã nhét cả kho đồng của vua Trung Hoa vào chiếc tay nải trên vai, mang về nước Vua Trung Hoa rất tiếc mà không làm sao lấy lại được vì đã chót nói lấy bao nhiêu tùy ý rồi
Minh Không mang đồng về đúc đỉnh tháp Báo Thiên (Hà Nội), chuông chùa Diên Phúc (huyện Giao Thủy) nơi Minh Không trụ trì, vạc Phổ Minh và tượng Phật, Ngài đã độc bài kệ rằng:
Thiền sư Minh Không sinh năm Bính Thìn (theo huyền thoại) và ngày
14 tháng 6 năm Giáp Tuất, được tạc tượng thờ chùa Lý Quốc Sư, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc sư, quận Hoàn kiếm, Hà Nội)
Một câu chuyện khác, theo “Thiền Uyển Tập Anh ngũ lục”, để báo thù
cho cha, nhà sư Từ Đạo Hạnh đã tu ở chùa Thầy, tụng kinh Mật giáo đủ một vạn tám nghìn lần, đã đắc đạo và dùng pháp thuật đánh chết Đại Điên