1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013

109 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đặc biệt đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp bằng việc đưa ra các Nghị quyết có tính chất bước ngoặ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

KHIẾU THỊ OANH

ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH)

LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội, 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

KHIẾU THỊ OANH

ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH)

LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Lương Diệu – Khoa Lịch sử - Trường ĐHKHXH&NV – Đại học Quốc gia Hà Nội

Các số liệu, tư liệu sử dụng trong luận văn đảm bảo có nguồn gốc, xuất

xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 16 tháng 3 năm 2015

Học viên

Khiếu Thị Oanh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành với sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình nghiêm khắc của TS Phạm Thị Lương Diệu, cùng các thầy cô trong Khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Em xin trân trọng cảm ơn cô cùng các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử đã dạy em trong những năm qua

Em cũng xin trân trọng cảm ơn các bác, các cô, các chú, các anh chị bên Phòng Nông nghiệp huyện Ý Yên, phòng Văn thư lưu trữ tỉnh Nam Định, huyện Ý Yên, Huyện ủy Ý Yên và bác Giám đốc Trung tâm Chính trị huyện

Ý Yên – Nam Định đã tạo mọi điều kiện để em tìm hiểu thực tế địa phương, cung cấp tài liệu giúp em hoàn thành Luận văn

Trong quá trình thực hiện Luận văn, do trình độ còn hạn chế, khả năng thu thập, phân tích tài liệu chưa sâu sắc nên Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo cùng các bạn học viên

Em xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH) TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000 11

1.1 Các yếu tố tác động đến chủ trương phát triển nông nghiệp của Đảng bộ huyện Ý Yên 11

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ý Yên 11

1.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Đảng bộ tỉnh Nam Định 13

1.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên trước năm 1997 15

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 1997 đến năm 2000 18

1.2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên 18

1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện từ năm 1997 đến năm 2000 23

Tiểu kết Chương 1 30

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH) LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013 31

2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2001 đến năm 2005 31

2.1.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên 31

2.1.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 36

2.2 Sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2006 đến năm 2013 45

2.2.1.Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên 45

2.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện 51

Tiểu kết Chương 2 63

Trang 6

Chương 3 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 65

3.1 Nhận xét 65

3.1.1 Ưu điểm 65

3.1.2 Hạn chế 74

3.2 Những kinh nghiệm lịch sử 76

Tiểu kết Chương 3 82

KẾT LUẬN 84

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

PHỤ LỤC 96

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNXH : Chủ nghĩa xã hội CNH : Công nghiệp hóa HĐH : Hiện đại hóa HTX : Hợp tác xã VAC : Vườn – ao – chuồng XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa từ năm 1990 – 1996 15 Bảng 1.2: Giá trị sản xuất cây trồng, vật nuôi năm 1997 – 2000 28 Bảng 2.1: Diện tích cây trồng năm 2001-2005 39 Bảng 2.2: Diện tích và giá trị xuất khẩu của cây vụ Đông từ năm 2007- 2013 54

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng vật nuôi để làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển kinh tế xã hội của hầu hết các quốc gia bởi nó là ngành sản xuất ra tư liệu tiêu dùng thiết yếu nhất cho con người như lương thực, thực phẩm mà không một ngành sản xuất nào có thế thay thế Đối với Việt Nam, nông nghiệp càng có vai trò vô cùng quan trọng bởi nó là ngành kinh tế trọng yếu đặt nền móng cho sự phát triển của đất nước

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đặc biệt đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp bằng việc đưa ra các Nghị quyết có tính chất bước ngoặt như: Chỉ thị số 100-CT/TW ngày

13/1/1981 của Ban Bí thư khóa IV về cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán

sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”; nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI về “đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” ban hành ngày 5-4-1988, hay gần đây nhất trong kỳ Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ phải: phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới Trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hóa, áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất Phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường [28; tr.195-196] Như vậy, có thể thấy rằng trong mọi hoàn cảnh, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc phát triển kinh tế nông nghiệp và đặt nó ở vị trí quan trọng hàng đầu trong hệ thống các ngành kinh tế

Quán triệt theo tinh thần của Đảng, Nhà nước, Đảng bộ tỉnh Nam Định nói chung và Đảng bộ huyện Ý Yên nói riêng đã và đang coi phát triển kinh tế nông nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, là sự nghiệp hàng đầu trong việc phát

Trang 10

triển kinh tế toàn huyện Trong những năm gần đây, Đảng bộ huyện Ý Yên sau khi quán triệt và vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng và Nhà nước vào phát triển kinh tế nông nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ: kinh tế nông nghiệp phát triển khá toàn diện từ đó làm cho đời sống vật chất

và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện hơn Những thành tựu này đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của toàn huyện nói riêng và toàn tỉnh Nam Định nói chung Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp trong toàn huyện vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế mà thiên nhiên đã ban tặng Huyện còn gặp phải những khó khăn và đối mặt với những vấn đề nảy sinh như: tình trạng độc canh, diện tích đất nông nghiệp manh mún, trình độ dân trí còn thấp cản trở việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào trong sản xuất Nguyên nhân của những thành tựa và yếu kém trên có phần xuất phát từ sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp

Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam

Định) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013”

làm đề tài Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Từ trước đến nay, kinh tế nông nghiệp luôn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế nông nghiệp Để đạt được mục tiêu của mình các tác giả đã nghiên cứu, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau Qua quá trình tìm hiểu, khảo cứu, tôi chia thành hai nhóm sau:

Nhóm 1: Các công trình, bài viết về nông nghiệp, kinh tế nông nghiệp, tiêu biểu như:

Nguyễn Văn Khánh (2001), Biến đổi cơ cấu ruộng đất và nông nghiệp

ở vùng Châu thổ sông Hồng trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia,

Hà Nội Công trình đã khảo sát 4 địa phương đại diện cho 4 loại hình phát triển kinh tế của nông thôn châu thổ sông Hồng trước và sau khoán 10 Đó là:

Trang 11

Mô Trạch - một làng thuần nông, chuyên canh cây trồng; Phụng Thượng - chuyển đổi cơ cấu vật nuôi và Hoàng Liệt dưới sự tác động của quá trình đô thị hoá.Từ đó nêu tiềm năng và những biến đổi trong quan hệ ruộng đất cũng như cơ cấu kinh tế nông nghiệp của nông thôn đồng bằng sông Hồng; những bài học kinh nghiệm và hướng phát triển

Lê Quang Phi (2004), Đẩy mạnh CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn

trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Công trình nêu lên

tầm quan trọng của CNH-HĐH trong nông nghiệp của Việt Nam, qua đó đưa

ra những biện pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH trong thời gian tới

Ngoài những công trình trên, còn có những công trình tiêu biểu khác đề

cập đến kinh tế nông nghiệp như: Hồng Vinh (1998), CNH-HĐH nông

nghiệp, nông thôn: một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc

gia, Hà Nội; Nguyễn Xuân Thảo (2004), Góp phần phát triển bền vững nông

nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Đặng Kim Sơn

(2001), CNH từ nông nghiệp: lý luận, thực tiễn và triển vọng ở Việt Nam,

Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; Tập thể tác giả: Nguyễn Văn Nam, Nguyễn Viết

Thông, Đặng Quốc Tuyến, Nguyễn Ngô Hải (2002), CNH – HĐH, nông

nghiệp, nông thôn Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội; Lê Mạnh Hùng

(1998), thực trạng CNH – HĐH nông thôn Việt Nam, Nxb Thống kê Hà Nội

Các công trình này đã cho thấy được tầm quan trọng của kinh tế nông nghiệp trong quá trình phát triển đất nước và nhấn mạnh CNH-HĐH trong nông nghiệp là nhu cầu tất yếu và là nhân tố quyết định đến sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế

Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu, bài viết về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng bộ các cấp, sự quản lý của Nhà nước về sự phát triển của kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp:

- Đặng Kim Oanh (2011), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển

dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1996-2006), Luận án TS Lịch sử Đảng,

Trang 12

Trường ĐHKHXH&NV Luận án đã trình bày và phân tích quan điểm, chủ trương, đường lối chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đảng từ năm

1996 đến năm 2006 Trình bày quá trình chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ năm 1996 đến năm 2006 gắn với những kết quả cụ thể trong thời gian cụ thể Đánh giá ưu điểm và hạn chế của Đảng; bước đầu đúc rút một số kinh nghiệm trong quá trình Đảng lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông nghiệp thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH

- Đặng Kim Oanh (2005), Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo chuyển

dịch cơ cấu kinh tế từ năm 1997 đến năm 2003, Luận văn Th.S lịch sử Đảng,

Trung tâm đào tào, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị Luận văn đã nêu lên được cơ sở hình thành chủ chương chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Phúc Hệ thống hoá các chủ trương, chỉ đạo, giải pháp của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở địa phương từ năm 1997 dến năm 2003 Khẳng định những thành tựu và nêu ra một số hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH

ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2003 Rút ra một số kinh nghiệm của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong lãnh đạo, chỉ đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế thời gian 1997-2003

- Đào Thị Bích Hồng (2005), Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lãnh đạo phát

triển nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm 2003, Luận án Tiến sĩ

Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận án trình bày quá trình Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển nông nghiệp, nông thôn vào thực tiễn địa phương, từ

đó đưa ra những đánh giá và bài học kinh nghiệm để vận dụng vào thực tế nhằm phát triển hơn nữa về nông nghiệp và nông thôn trong thời gian tới

- Đào Thị Vân (2004), Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH giai đoạn 1997-2003, Luận văn Thạc sĩ

Lịch sử, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn trình bày quá trình Đảng bộ Hưng Yên vận dụng đường lối của Đảng để lãnh đạo chuyển

Trang 13

dịch cơ cấu kinh tế địa phương từ 1997-2003, chỉ rõ thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của quá trình đó Tổng kết một số kinh nghiệm trong lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Đảng bộ Hưng Yên làm cơ sở cho việc hoạch định công tác này trong thời gian tới

- Nguyễn Tuấn Thành (2009), Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lãnh đạo phát

triển nông nghiệp, nông thôn trong những năm 1997 – 2006, Luận văn Thạc

sĩ Lịch sử Đảng, Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận Chính trị,

Hà Nội Luận văn khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, cũng như chủ trương xây dựng nông nghiệp, nông thôn của đảng bộ tỉnh Bắc Giang Nghiên cứu quá trình chỉ đạo xây dựng nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ Bắc Giang theo hướng công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) Phân tích, đánh giá kết quả phát triển nông nghiệp, nông thôn của tỉnh qua giai đoạn từ 1997-2000, từ 2001-2006 Nêu những mặt đạt được và những mặt còn hạn chế trong phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH Bên cạnh đó đưa ra một số bài học kinh nghiệp: nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng và vận dụng sáng tạo vào tình hình thực tế của tỉnh Bắc Giang để đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn; phát huy ý

tự lực, tự cường, sáng tạo, huy động sức dân, dựa vào dân để tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; tập trung xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ở nông thôn để đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp

Ngoài ra còn một số công trình khác như:

- Bùi Quang Thọ (2010), Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo thực hiện

CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1995 – 2005, Luận văn Thạc sĩ

Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh

- Nguyễn Thị Năm (2009), Qúa trình thực hiện đường lối CNH – HĐH

nông nghiệp, nông thôn của Đảng ở tỉnh Hà Tây (1996 – 2000), Luận văn

Thạc sĩ Lịch sử Đảng, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội

Trang 14

- Đoàn Thị Minh Thuận (2010), Đảng bộ huyện Phú Bình tỉnh Thái

Nguyên lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001-2010, Luận văn

Thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia HN), Hà Nội

- Tống Văn Chung (2011), Những nhân tố kinh tế xã hội tác động đến

sự chuyển cư của cư dân nông thôn trong quá trình CNH, HĐH, Luận án Tiến

sĩ Xã hội học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội

Những luận văn, luận án trên đã nêu lên được sự lãnh đạo của Đảng đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở các địa phương như: Thái Bình, Hà Tây (cũ), Thái Nguyên, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013

Mặc dù vậy nhưng tất cả những công trình nghiên cứu trên đã là nguồn tài liệu tham khảo vô cùng quý báu để phục vụ cho tôi nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, tư liệu viết về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp huyện

Ý Yên không nhiều: có chăng chỉ là cuốn Lịch sử Đảng bộ Huyện Ý Yên (sơ

thảo) năm 1995, những Báo cáo tổng kết hàng năm của Uỷ ban nhân dân huyện

và các Báo cáo Chính trị của Đảng bộ huyện Các công trình này chỉ đề cập một cách tổng quát về tình hình phát triển kinh tế nông nghiệp mà không đưa ra một cách có hệ thống sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013

Các công trình trong hai nhóm kể trên đã lại đem nhiều tư liệu cần thiết

để tác giả có thể tham khảo, kế thừa Song riêng về sự lãnh đạo của Đảng bộ

huyện Ý Yên trong phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013

vẫn là chưa được làm rõ, hy vọng với sự nỗ lực của tác giả sẽ bổ cứu được khoảng trống này

Trang 15

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Khái quát chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới

- Nêu cơ sở hình thành chủ trương, chính sách của Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương

- Phân tích, luận giải làm rõ chủ trương, giải pháp và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương từ năm 1997 đến năm 2013

- Dựng lại bức tranh phát triển của kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên (Nam Định) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện qua các giai đoạn: 1997-2000, 2001-2005, 2006-2013

- Đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân, rút ra kinh nghiệm

từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) đối với việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp ở địa phương từ năm 1997 đến năm 2013

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu sự lãnh đạo (bao gồm chủ trương, chính

sách và quá trình tổ chức thực hiện) của Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định)

Trang 16

trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp theo ngành: trồng trọt và chăn nuôi

Cụ thể là công tác dồn điền đổi thửa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi Ngoài ra luận văn cũng đề cập đến vấn đề xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

- Về thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề từ năm 1997 đến

năm 2013 Chọn mốc năm 1997 - vì Đảng bộ huyện Ý Yên bắt đầu quán triệt thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; mốc kết thúc nghiên cứu là năm 2013 – năm có sự tổng kết đánh giá tròn 15 năm Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ này

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Ý Yên

(Nam Định) lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn 1 thị trấn và

31 xã trong huyện

5 Cơ sở lý luận, nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển kinh tế, kinh tế nông nghiệp

5.2 Nguồn tư liệu

Luận văn dựa vào các nguồn tài liệu cơ bản sau để nghiên cứu:

- Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam có liên quan đến vấn đề kinh tế, kinh tế nông nghiệp;

- Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng bộ và chính quyền huyện

Ý Yên (Nam Định) trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp;

- Các tài liệu của Cục Thống kê tỉnh Nam Định, Phòng Thống kê của huyện Ý Yên về vấn đề này từ năm 1997 đến năm 2013;

- Ngoài ra, luận văn cũng tham khảo những công trình, bài viết có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 17

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic, ngoài ra luận văn còn sử dụng kết hợp các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, điền dã Các phương pháp cụ thể được vận dụng phù hợp với yêu cầu của từng nội dung luận văn

6 Đóng góp của Luận văn

Luận văn có những đóng góp chính sau:

- Khái quát chủ trương, đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ tỉnh Nam Định qua các văn kiện trong thời kỳ đổi mới, các yếu tố tác động và thực trạng kinh tế nông nghiệp ở huyện Ý Yên (Nam Định) trước năm 1997

- Hệ thống hóa những chủ trương, chính sách, biện pháp mà Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) đã thực hiện để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong huyện từ năm 1997 đến năm 2013

- Dựng lại bức tranh phát triển kinh tế nông nghiệp ở huyện Ý Yên (Nam Định) qua các giai đoạn: 1997-2000; 2001-2005; 2006-2013

- Đánh giá ưu, nhược điểm, nêu nguyên nhân và rút những kinh nghiệm

từ quá trình Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) lãnh đạo thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ và chính quyền huyện Ý Yên (Nam Định) tại các trường Đảng, các trung tâm chính trị, các trường phổ thông tại địa phương

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn được chia làm làm 3 chương:

Trang 18

Chương 1 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp

của Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) từ năm 1997 đến năm 2000

Chương 2 Đảng bộ huyện Ý Yên (Nam Định) lãnh đạo đẩy mạnh

phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2013

Chương 3 Nhận xét và kinh nghiệm

Trang 19

Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN

KINH TẾ NÔNG NGHIỆP CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN

(NAM ĐỊNH) TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2000

1.1 Các yếu tố tác động đến chủ trương phát triển nông nghiệp của Đảng bộ huyện Ý Yên

1.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Ý Yên

Về điều kiện tự nhiên: Ý Yên là một huyện nằm ở phía Tây nam tỉnh

Nam Định, phía Bắc giáp 2 huyện Bình Lục, Thanh Liêm; phía Đông Bắc giáp huyện Vụ Bản; phía Đông Nam giáp Nghĩa Hưng, có sông Đào làm ranh giới tự nhiên; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Ninh Bình, lấy sông Đáy làm

có thể phát triển mạnh các loại cây công nghiệp như: đậu đỗ, lạc, … và các loại rau màu khác

Là huyện nằm trong vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp Hai con sông Đáy và sông Đào là nguồn cung cấp nước chính phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp Hàng năm cũng bồi đắp lượng phù sa lớn cải thiện đất nông nghiệp cho một số xã trong huyện như: Yên Phúc, Yên Khang, Yên Lộc, Yên Trị, Tuy nhiên, vào mùa lũ cộng với lượng mưa hàng năm lớn từ 1.600 – 1.700mm phân bố không đều đã gây nên hiện tượng ngập úng làm thiệt hại không nhỏ cho sản xuất nông nghiệp

Trang 20

Có thể nói Ý Yên là huyện có điều kiện tự nhiên khá điển hình thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, cho môi trường sống của con người, sự phát triển của hệ sinh thái động thực vật Do đó, Đảng bộ huyện cần

có những chủ trương, chính sách cụ thể hữu hiệu để một mặt hạn chế tới mức thấp nhất những tác động xấu của điều kiện tự nhiên và mặt khác phải khai thác hết những tiềm năng mà điều kiện tự nhiên mang lại Có như thế kinh tế nông nghiệp mới có thể phát triển nhanh và toàn diện theo hướng CNH-HĐH

Về điều kiện kinh tế - xã hội: Ý Yên – một địa danh lịch sử có từ lâu đời,

gắn bó với những biến cố lịch sử của đất nước Nhiều sự kiện lịch sử vẻ vang

đã diễn ra trên đất Ý Yên đã được sử sách ghi lại lưu truyền đến ngày nay

Ý Yên được biết đến là một huyện có dân số trẻ: số người trong độ tuổi lao động là 125.006 người, chiếm 51,16% dân số trong toàn huyện (226.631người), trong đó tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm 73,32% [79, tr 3]

Từ số liệu trên có thể khẳng định rằng người dân trong huyện vẫn rất gắn bó với nông nghiệp Tuy nhiên, nguồn lao động của huyện phần lớn là lao động phổ thông Cơ hội kiếm việc làm có thu nhập cao và điều kiện nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc còn nhiều bất cập Chất lượng lao động nhìn chung còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển: tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ

có (32%), tính kỷ luật, tác phong còn mang nặng ảnh hưởng của một nền sản xuất nhỏ; cơ cấu lao động giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân còn bất hợp lý: số lao động làm việc trong ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp, trong khi đó số lao động trong ngành nông – lâm – thủy sản chiếm tỷ lệ rất cao

Ngoài việc canh tác lúa nước, Ý Yên còn được biết đến với những làng nghề thủ công nghiệp nổi tiếng như: nghề mộc ở La Xuyên - Ý Yên, sơn mài

ở Cát Đằng - Yên Tiến, nghề đúc đồng ở thị trấn Lâm, nghề gỗ thủ công mỹ nghệ ở Yên Ninh,…

Mạng lưới dịch vụ được hình thành và phát triển ở tất cả các xã, thị trấn, hệ thống cung ứng hàng hóa ngày càng đa dạng và phong phú Đã bước

Trang 21

đầu hình thành nhiều khu dịch vụ tập trung ở thị trấn Lâm, khu vực Bo, khu vực Yên Thắng

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bước đầu được hình thành đã tạo được công ăn việc làm cho người dân làm cho đời sống của người dân được cải thiện hơn

Với những điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội như trên đã cho thấy, Ý Yên rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng theo xu hướng kinh tế hàng hóa, đặc biệt với một vị trí điạ lý thuận lợi đã là một điều kiện quan trọng để huyện phát triển kinh tế năng động và hòa nhập với việc phát triển kinh tế - xã hội, khoa học kỹ thuật trong huyện và trong tỉnh Đồng thời, những điều kiện trên đã tạo nên cơ sở nền tảng để Đảng bộ huyện hoạch định được các chủ trương, chính sách đúng đắn trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng theo hướng CNH – HĐH

1.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam và của Đảng bộ tỉnh Nam Định

Việt Nam xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, do vậy, kinh tế nông nghiệp luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm phát triển Trong quá trình lãnh đạo kinh tế đất nước, Đảng luôn đề ra những chủ trương để phát triển kinh tế nông nghiệp cho xứng với tiềm năng của đất nước Tại Đại hội V (3/1982) đã nhấn mạnh: trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ ở nước ta phải lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu Ngày 5/4/1988, Bộ Chính

trị ra Nghị quyết số 10 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, giao quyền tự

chủ sản xuất cho hộ nông dân Tiếp đến, tháng 6/1993, Hội nghị lần 5 của

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII), đã ra Nghị quyết về Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế xã hội nông thôn Trung ương Đảng đã đánh giá thực trạng nông nghiệp Việt Nam đồng thời đề ra những phương hướng, giải pháp cụ thể để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong đó, hội nghị đã nhấn mạnh quan điểm: Đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo

Trang 22

hướng coi trọng đúng mức sản xuất lương thực, tăng nhanh sản lượng, năng suất, nâng cao chất lượng sản xuất và chế biến lương thực Tăng tỷ trọng chăn nuôi trong sản phẩm nông nghiệp Thâm canh mở rộng diện tích một số cây công nghiệp, mở rộng diện tích cây ăn quả và xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn Khôi phục và phát triển những làng nghề truyền thống, nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN Trên cơ sở phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ mà đổi mới hình thức nội dung kinh doanh

và cơ chế hoạt động của HTX Đặc biệt là chính sách giao quyền tự chủ ruộng đất cho người nông dân

Quán triệt tinh thần chủ trương của Trung ương Đảng, Đảng bộ tỉnh Nam Định đã tiến hành đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (năm 1995), trên cơ sở phân tích và nhận định tình hình toàn tỉnh, Đảng bộ tỉnh đã nhấn mạnh phương hướng thực hiện phát triển kinh tế nông nghiệp trong giai đoạn 1995-2000: “Đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp, coi trọng cả chất lượng và số lượng Đẩy mạnh phát triển công nông nghiệp, thủ công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi trong toàn huyện” [12; tr.5] Đảng bộ đã đưa ra chủ trương: “phát triển kinh tế hộ nông dân, coi đây là đơn vị kinh tế tự chủ và chỉ đạo các cấp, ban, ngành tiến hành giao đất cho nông dân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp” [12; tr.6] Từ đó, người dân yên tâm sản xuất, tìm tòi các biện pháp thâm canh mới Thêm vào đó, điều kiện thời tiết thuận lợi nên diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng, vật nuôi không ngừng tăng lên

Chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Định đã mở đường cho Đảng bộ huyện Ý Yên đưa ra những chủ trương đúng đắn và phù hợp để phát triển kinh tế nông nghiệp Do đó mà bức tranh kinh tế nông nghiệp toàn huyện đã có những thành tựu khởi sắc hơn

Trang 23

1.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên trước năm 1997

Với sự quan tâm của Đảng bộ tỉnh Nam Định, Đảng bộ huyện Ý Yên, kinh tế huyện Ý Yên đã thoát khỏi suy thoái, riêng kinh tế nông nghiệp có bước phát triển đáng kể, người dân đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói, thiếu

ăn Diện tích và sản lượng lương thực được tăng lên đáng kể Hướng chính trong phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên là thâm canh, tăng vụ

và tăng chất lượng sản xuất nông nghiệp Dó đó mà, không chỉ đảm bảo lương thực cho toàn huyện mà đã có một khối lượng dư thừa khá lớn

Với ngành trồng trọt: Tính đến năm 1996, diện tích đất nông nghiệp đạt

35.196,79ha, trong đó, diện tích trồng cây lương thực đạt 29.033ha, diện tích cấy lúa 27.928ha (chiếm 96%); sản lượng đạt 110.596 tấn, trong đó sản lượng lúa 107.387 tấn (chiếm 97%) [37, tr.10] Như vậy, cây lúa có vai trò quan trọng trong nền kinh tế nông nghiệp Người dân không còn lo thiếu đói mà bước đầu đã chuyển sang việc sản xuất lương thực hàng hóa để cung cấp ra thị trường Dưới đây là bảng số liệu về diện tích, năng suất và sản lượng lúa tính từ năm 1990 đến năm 1996 trên địa bàn toàn huyện

Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa từ năm 1990 – 1996 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 24

Từ bảng số liệu trên thấy được mặc dù diện tích tăng liên tục qua các năm nhưng năng suất và sản lượng lúa lại có sự tăng giảm không đều: năm

1995, năng suất lúa đạt mức cao nhất còn năm 1993, sản lượng lúa lại ở mức cao nhất Từ đó cho ta thấy được trình độ canh tác, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất nông nghiệp còn ở mức thấp và không đồng đều

Diện tích và sản lượng rau đậu trong giai đoạn này cũng tăng lên đạt: 2.054ha và 18.885 tấn (năm 1990); 2.045ha và 19.339 tấn (năm 1991); 1.789ha và 16.407 tấn (năm 1992); 2.052ha và 19.148 tấn (năm 1993); 1.882ha và 19.430 tấn (năm 1994); 3.146ha và 32.617 tấn (năm 1995); 2.180

và 31.152 tấn (năm 1996) [37, tr.18]

Việc trồng cây ăn quả cũng được Đảng bộ huyện quan tâm phát triển Các loại cây trồng chủ yếu như: cam, quýt, bưởi,… bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế cao, bà con nông dân hưởng ứng nhiệt tình Diện tích và sản lượng cây ăn quả không ngừng được tăng lên: tính đến năm 1996 là 60ha, sản lượng 247 tấn/ năm [37, tr 20]

Với ngành chăn nuôi: Thực tiễn cho thấy nếu được mùa lương thực thì

sẽ kéo theo sự phát triển ngành chăn nuôi Phương thức chăn nuôi đã có những chuyển biến mới: thay giống đực nội bằng giống đực ngoại cho hiệu quả cao; nuôi lợn thịt ngoại để tăng cao năng suất; thay đổi chế độ ăn và khẩu phần ăn cho vật nuôi Vì thế, số lượng cũng như sản lượng đàn gia súc, gia cầm đã tăng lên nhiều: tính đến năm 1996, tổng số lượng vật nuôi đạt 84.997 con, trong đó số con lợn chiếm 74.901 con (88%); sản lượng đạt 5.566 tấn, trong đó sản lượng thịt lợn đạt 5.472 tấn (98%) [37, tr 21]

Nhìn chung, kinh tế huyện Ý Yên nhất là kinh tế nông nghiệp trước năm 1997 bước đầu đã có những chuyển biến tích cực, đã đạt được một số thành tựu Tuy nhiên, vẫn gặp phải những khó khăn chủ yếu như: tỷ trọng nông nghiệp, tỷ trọng cây trồng, vật nuôi còn tăng chậm; chất lượng nông sản thấp, chưa hình thành được vùng chuyên canh tập trung để đáp ứng cho ngành

Trang 25

công nghiệp chế biến; diện tích canh tác lớn nhưng không bằng phẳng lại chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai như hạn hán, lũ lụt, ngập úng (trận bão năm

1996 đã gây ra thiệt hại vô cùng nặng nề cho kinh tế nông nghiệp toàn huyện); ruộng đất của nông dân vẫn ở tình trạng manh mún không tập trung gây khó khăn cho quá trình sản xuất và thu hoạch mùa vụ - nhiều hộ gia đình

có tới 10 – 15 mảnh ruộng manh mún ở nhiều nơi khác nhau; độ màu mỡ của đất không cao, nông dân phải bỏ chi phí nhiều cho mỗi mùa vụ; trình độ khoa học kỹ thuật phát triển ở mức thấp nên chưa được áp dụng rộng rãi vào quá trình sản xuất; trình độ nhận thức của người nông dân vẫn còn lạc hậu, còn mang nặng tính tiểu nông, tư tưởng sản xuất kinh tế hàng hoá chưa có chỗ đứng trong đông đảo nhân dân; trong quá trình sản xuất vẫn sử dụng các công

cụ thô sơ, lạc hậu nên không mang lại kết quả cao; giống lúa trong thời kỳ này chủ yếu là giống lúa dài ngày, năng suất thấp

Cơ sở hạ tầng phục vụ cho nông nghiệp còn hạn chế, chất lượng thấp, nhất là hệ thống giao thông, thuỷ lợi: kênh mương chưa được nạo vét thường xuyên, dòng chảy chưa được khai thông, nhiều cánh đồng xa nguồn nước nhưng hệ thông thuỷ lợi ở đó lại không được xây dựng Do đó, đã có ảnh hưởng không ít đến việc tưới, tiêu cho đồng ruộng mỗi khi hạn hán hay lũ lụt xảy ra Hệ thống máy móc, cơ sở vật chất của các trạm bơm ở các xã chưa có điều kiện đầu tư, sửa chữa, cải tạo nên chưa phát huy hết tác dụng để phục vụ tốt cho nông nghiệp

Diện tích đất “chết” xuất hiện hầu như ở tất cả các xã trên toàn huyện Những diện tích đất trũng, đất cao không thích hợp với việc trồng lúa nên năng suất lúa ở đây rất thấp nhưng người nông dân chưa biết chuyển đổi sang trồng những loại cây khác như: cây lạc, cây ngô, cây cảnh, Quy trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa có sự liên hoàn, chủ yếu vẫn là người nông dân tự lo lấy đầu ra cho sản phẩm Chưa có sự liên kết hoặc liên kết chặt chẽ giữa 4 nhà (Nhà nước - Nhà nông – Nhà doanh nghiệp – Nhà khoa học)

Trang 26

Công tác quản lý, phòng chống và ngăn chặn dịch bệnh trong thời kỳ này cũng chưa được quan tâm sát sao Chất lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y chưa cao Do đó, khi dịch bệnh xảy ra đã không tiến hành được những biện pháp ngăn chặn kịp thời, làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng cây trồng, vật nuôi và thu nhập của nhân dân trong huyện Quy mô của ngành chăn nuôi chưa được mở rộng, phân tán chưa được chuyên môn hóa cao

Để khắc phục những khó khăn mà toàn huyện còn gặp phải, Đảng bộ huyện cần sát sao hơn nữa trong công tác lãnh đạo của mình Đảng bộ huyện cần phân tích cụ thể tình hình trong toàn huyện để từ đó đề ra những chủ trương đúng đắn và kịp thời phù hợp với đặc thù riêng của huyện Đồng thời trong công tác chỉ đạo thực hiện, Đảng bộ huyện cần quán triệt nghiêm túc, triệt để những chủ trương đó đến cho các cấp ủy Đảng, Uỷ ban nhân dân ở các xã, giúp họ hiểu đúng và thực hiện tốt những chủ trương chính sách mà Đảng bộ huyện đề ra sao cho trong một thời gian ngắn nhất có thể khắc phục được những khó khăn mà toàn huyện đang gặp phải Cần đảm bảo cho tỷ trọng của nông nghiệp giảm, cơ cấu lao động phải chuyển dần sang công nghiệp xây dựng và dịch vụ; cần kiện toàn lại cơ sở hạ tầng phục vụ cho nông nghiệp, khắc phục được tình trạng manh mún về ruộng đất, thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh cho cây trồng vật nuôi

1.2 Chủ trương và sự chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 1997 đến năm 2000

1.2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên

1.2.1.1 Bối cảnh và Chủ trương chung

Sau 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, bộ mặt của đất nước đã thay đổi nhiều mặt đặc biệt kinh tế nông nghiệp đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, góp phần ổn định đời sống của nhân dân Tháng 6/1996, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần VIII của Đảng trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước đã

đề ra nội dung cơ bản của CNH – HĐH trong những năm còn lại của thập kỷ

90 là: “Đặc biệt coi trọng CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn, phát triển

Trang 27

toàn diện nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản; phát triển hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu” [22, tr 86]

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (12/1997), đã ra Nghị quyết: Tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, cần kiệm để CNH – HĐH, phấn đấu hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội đến năm 2000 Nghị quyết đã xác định những việc cần tập trung thực hiện, đó là: đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với phân công lao động ở nông thôn, giải quyết về thị trường tiêu thụ nông sản; phát triển mạnh các hình thức kinh tế hợp tác, đổi mới hoạt động của cơ sở quốc doanh trong nông nghiệp và trong nông thôn, phát triển cơ sở quốc doanh ở vùng sâu, vùng xa

Ngày 17/10/1998, Hội nghị Trung ương 6 (lần 1) khóa VIII đã họp bàn

về: Nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1999 và vấn đề phát triển nông nghiệp,

nông thôn Hội nghị đã khẳng định: Tập trung cao hơn nữa sức cho nhiệm vụ

phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH – HĐH, làm cơ

sở chắc cho sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội trong mọi tình huống, ưu tiên phát triển phục vụ nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu, đổi mới cơ chế các ngành nông nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, tăng nhanh khả năng cạnh tranh của sản phẩm [24, tr 4]

Ngày 10/11/1998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ra Nghị quyết số

06-NQ/TW “Về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn” Nghị quyết

đã nêu rõ quan điểm của Đảng về phát triển nông thôn trong giai đoạn mới là: Coi trọng thực hiện CNH – HĐH trong phát triển nông nghiệp, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chính trị xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước theo định hướng XHCN

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn sản xuất với thị trường để hình thành sự liên kết

Trang 28

nông – công nghiệp – dịch vụ và thị trường ngay trên địa bàn nông thôn và trên phạm vi cả nước; gắn phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới; gắn công nghiệp hóa với thực hiện dân chủ hóa và nâng cao dân trí, đào tạo

Ngày 15/6/2000, Chính phủ ban hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP “về

một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp” Nghị quyết đã thể hiện sự đổi mới tư duy theo hướng sản

xuất hàng hóa, lấy hiệu quả làm mục tiêu, khác hẳn với tư duy tự túc lương thực bằng mọi giá, kể cả cấm chuyển đất lúa sang trồng các loại cây khác hoặc chạy theo năng suất cao, sản lượng nhiều mà không quan tâm đến chất lượng, giá cả nông sản và sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Những chủ trương, quan điểm đúng đắn của Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên đây đã là cơ sở để Đảng bộ tỉnh Nam Định lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo đúng hướng

Trên cơ sở phân tích điều kiện cụ thể của tỉnh cùng với việc quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng về phát triển kinh tế nông nghiệp, tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (1995), Đảng bộ tỉnh đã đưa ra những chủ trương để phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh cho phù hợp với tình hình mới Trong báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã nêu rõ: “ra sức phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH-HĐH, đặc biệt coi trọng giải quyết những vấn đề nông nghiệp – nông thôn và nông dân” [12, tr 14]

1.2.1.2 Chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện

Ý Yên tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX (1995)

Xuất phát từ thực tiễn kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện còn tồn tại nhiều bất cập, Đảng bộ huyện đã phân tích, nhận định tình hình để tìm ra những thuận lợi và khó khăn của huyện để từ đó có những chủ trương phát triển đúng hướng phù hợp với tiềm năng vốn có của huyện

Thuận lợi: Nền kinh tế huyện Ý Yên đã thoát khỏi suy thoái, riêng kinh

tế nông nghiệp có bước phát triển đáng kể, người dân đã thoát khỏi tình trạng nghèo đói, thiếu ăn Diện tích và sản lượng lương thực được tăng lên đáng kể

Trang 29

Hướng chính trong phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Ý Yên là thâm canh, tăng vụ và tăng chất lượng sản xuất nông nghiệp Dó đó, không chỉ đảm bảo lương thực cho toàn huyện mà đã có một khối lượng dư thừa khá lớn

Khó khăn: Kinh tế của huyện vẫn cơ bản là thuần nông, cơ cấu kinh tế

thay đổi chậm Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và phát triển nông nghiệp chưa cao

Tình trạng manh mún ruộng đất vẫn còn tồn tại ở tất cả các xã Diện tích đất

“chết” nhiều Người dân chưa tích cực trong việc áp dụng những kỹ thuật sản xuất mới mà vẫn canh tác theo phương thức cũ, sử dụng những giống cây trông vật nuôi truyền thống, năng suất chất lượng chưa cao

Những thuận lợi, khó khăn trên cùng với việc quát triệt chủ trương của Trung ương Đảng và Đảng bộ tỉnh Nam Định, tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XX (tháng 10/1995), Đảng bộ huyện đã đưa ra nhiều chủ trương đúng đắn để đẩy mạnh phát triển kinh tế nhất là kinh tế nông nghiệp

Đại hội đã đánh giá, tổng hợp lại những thành tựu cũng như hạn chế trong quá trình lãnh đạo cũng như những vấn đề còn yếu kém trong kinh tế nông nghiệp để từ đó đề ra những chủ trương phát triển kinh tế nông nghiệp

từ năm 1997 đến năm 2000

Quán triệt tinh thần chủ trương tại Đại hội VIII của Đảng và Nhà nước đối với kinh tế nông nghiệp, ngày 20/4/1997, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện

khóa XVIII đã ra Nghị quyết 05-NQ/HU “về phát triển nông nghiệp và kinh tế

nông thôn đến năm 2000” So với những chủ trương và biện pháp Nghị quyết

đưa ra, những chủ trương trong Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX

đã được khẳng định là đưa kinh tế nông nghiệp huyện đi đúng hướng Dưới đây

là những chủ trương của Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XIX:

Về phương hướng: Đảng bộ huyện Ý Yên xác định: với thành tựu đã

đạt được, tranh thủ thời cơ, khắc phục những khó khăn còn tồn tại, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn huyện, khai thác mọi nguồn lực, tiềm năng thế mạnh của huyện về sản xuất vụ Đông Đẩy mạnh thực hiện công tác dồn điền

Trang 30

đổi thửa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi Gắn phát triển kinh tế với phát triển văn hóa xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh hơn nữa CNH – HĐH nông nghiêp, nông thôn, xây dựng Ý Yên ngày càng giàu đẹp, văn minh xứng đáng với truyền thống của huyện anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân [16, tr.12]

Về mục tiêu: Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế đạt 6,03%, trong

đó nông nghiệp đạt 4,5%/ năm; sản lượng quy ra thóc hàng năm là 8.900 tấn; bình quân lương thực đạt 660kg/người, lương thực hàng hóa 70 – 75 ngàn tấn/năm; bình quân thu nhập ngành trồng trọt đạt 27 triệu/ha canh tác/năm; chăn nuôi theo hướng công nghiệp tăng nhanh: đàn lợn tăng 8,5%, đàn trâu bò tăng 31%; tổng giá trị nông nghiệp đạt 600 tỷ đồng [16, tr 14]

Đại hội cũng xác định rõ nhiệm vụ chủ yếu đề thực hiện phương hướng

và mục tiêu trong giai đoạn này như sau: Phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện: Thúc đẩy nhanh công tác dồn điền đổi thửa và công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện cho CNH – HĐH diễn ra nhanh chóng và coi

đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt Bố trí cơ cấu mùa vụ,

cơ cấu trà lúa hợp lý ở từng địa phương để vừa nâng cao sản lượng cây trồng vật nuôi

Trên cơ sở nhận định tầm quan trọng của cây vụ Đông đối với kinh tế nông nghiệp trên địa bàn toàn huyện, Đảng bộ huyện đã nhấn mạnh nhiệm vụ: đẩy nhanh việc phát triển cây vụ Đông và đưa vụ Đông vào thành vụ sản xuất chính, mang lại giá trị lớn cho kinh tế nông nghiệp huyện

Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt ưu tiên những vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế khó khăn và những xã nghèo Phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ gia đình, khuyến khích phát triển sản xuất theo mô hình trang trại gắn trồng trọt với chăn nuôi Từng bước đưa người dân nhanh chóng thích ứng với điều kiện sản xuất mới theo

Trang 31

hướng CNH – HĐH để rút ngắn thời gian chăm bón cây trồng, chăm sóc vật nuôi nhưng nguồn thu nhập vẫn đảm bảo Phát triển kinh tế phải đi đôi với phát triển phúc lợi cộng đồng, văn hóa, giáo dục, y tế, cải thiện môi trường sinh thái

Thực hiện tốt chính sách khuyến nông, cũng như việc áp dụng các tiến

bộ khoa học công nghệ, phương thức canh tác mới hiệu quả vào quá trình sản xuất nông nghiệp Bảo đảm phát triển các dịch vụ cung ứng vật tư như thuốc trừ sâu, phân bón, con giống… cho nông nghiệp

Thực hiện công tác phòng chống, ngặn chặn kịp thời các đợt dịch bệnh xảy ra với cây trồng, vật nuôi trên địa bàn toàn huyện nhằm mang lại hiệu quả, thu nhập cao trong trồng trọt và chăn nuôi Quan tâm đến công tác thủy lợi, tập trung xây dựng mới, sửa chữa và cải tạo lại hệ thống thuỷ lợi trên tất

cả các cánh đồng trong huyện, tạo điều kiện thuận lợi nhất để phát triển sản xuất nông nghiệp trong mùa mưa bão và hạn hán [16, tr 16-17]

1.2.2 Quá trình chỉ đạo thực hiện từ năm 1997 đến năm 2000

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, chủ trương, phương hướng của Đảng bộ tỉnh Nam Định, Đảng bộ huyện Ý Yên đã ban hành một số Nghị quyết lãnh đạo, chỉ đạo Đảng bộ, Phòng nông nghiệp, Hội nông dân, Trạm bảo vệ thực vật, thú y, và toàn thể nhân dân phấn đấu kiên trì vượt qua mọi khó khăn để thực hiện tốt những chủ trương, phương hướng và nhiệm vụ mà Đảng

bộ huyện đã đề ra để phát triển kinh tế nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2000

1.2.2.1 Về công tác dồn điền đổi thửa

Dồn điền đổi thửa là quá trình những ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn và

phải giữ nguyên diện tích đất cho hộ nông dân Mục đích nhằm tạo được những vùng sản xuất hàng hóa tập trung, thuận lợi cho hộ nông dân phát triển công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, phát triển sản xuất, kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài để không ngừng đẩy nhanh quá trình tập trung hóa ruộng đất trên địa bàn toàn huyện Điều này đã hoàn toàn phù hợp

Trang 32

và phục vụ đắc lực cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH- HĐH bởi:

Phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH là đưa nền nông nghiệp sang một nền sản xuất mới: sản xuất hàng hóa Để sản xuất hàng hóa phát triển đòi hỏi tất yếu phải tập trung ruộng đất, hình thành những vùng sản xuất chuyên canh, tạo điều kiện thuận lợi đề người nông dân ứng dụng kỹ thuật khoa học công nghệ vào tổ chức sản xuất kinh doanh

Thực hiện Nghị quyết 10CT/TW về việc giao đất cho hộ nông dân, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Trước năm

1997, Đảng bộ huyện Ý Yên đã chỉ đạo cho Phòng nông nghiệp huyện, Hội nông dân tiến hành giao đất ổn định và lâu dài cho hộ nông dân Việc giao đất này đã khuyến khích được nông dân phát huy quyền tự chủ, tích cực đầu tư công sức cũng như tiền vốn, kinh nghiệm, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, kinh doanh thích ứng với cơ chế thị trường

Tuy nhiên, việc giao đất nông nghiệp cho hô nông dân, cá nhân ở huyện Ý Yên đã bộc lộ nhiều bất cập: đất nông nghiệp ở hầu hết các địa phương manh mún, nhỏ lẻ, chia cắt bởi nhiều bờ; mất nhiều diện tích đất canh tác; mỗi hộ gia đình có quá nhiều thửa ruộng, mỗi thửa ruộng lại có diện tích quá nhỏ, phân tán ở nhiều khu vực trong cánh đồng; diện tích đất công ích ở các xã chưa được quy hoạch thành vùng riêng, gây khó khăn cho việc quy hoạch vùng sản xuất tập trung; chưa khuyến khích được các hộ nông dân mạnh dạn đầu tư, áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi Sự phận chia manh mún ấy làm cho công tác quản lý đất nông nghiệp của huyện gặp nhiều khó khăn

Để khắc phục khó khăn, Đảng bộ huyện Ý Yên đã tiếp tục chỉ đạo phòng Nông nghiệp, Hội nông dân ở các xã vận động nông dân trên địa bàn toàn huyện thực hiện công tác dồn điền đổi thửa Từ năm 1998 mô hình dồn điền đổi thửa đã được thí điểm trong sản xuất nông nghiệp ở hai xã Yên Nghĩa và Yên Hồng và sau đó đã triển khai ra toàn huyện

Trang 33

Không chỉ thế, Đảng bộ huyện còn khuyến khích những nhóm hộ trong thôn hoặc trong dòng họ có người đứng đầu có uy tín, có kinh nghiệm sản xuất kinh doanh nhận gọn vào một vùng để có điều kiện góp đất hoặc chuyển nhượng ruộng đất; khuyến khích những hộ gia đình làm nghề thủ công không trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp chuyển nhượng cho những hộ sản xuất nông nghiệp để tập trung ruộng đất, phát triển sản xuất hàng hóa theo quy mô lớn

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ tỉnh Nam Định nói chung và Đảng bộ huyện Ý Yên nói riêng cùng với sự hướng dẫn của Sở tài nguyên – môi trường về dồn điền đổi thửa trong sản xuất nông nghiệp, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, Phòng nông nghiệp, Hội nông dân, Trạm bảo vệ thực vật, thú ý đã tập trung chỉ đạo hướng dẫn các xã các thị trấn tuyên truyền cho nhân dân hiểu được lợi ích, ý nghĩa và vai trò của việc dồn điền đổi thửa là nhằm tích tụ ruộng đất để có điều kiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

và áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất, phát triển hàng hóa tập trung và vận động nhân dân thực hiện một cách triệt để công tác này Do đó, công tác dồn điền đổi thửa đã đạt được những thành tựu đáng chú ý: Trước đây mỗi hộ gia đình bình quân có từ 10 đến 15, thậm chí có hộ còn có từ 20 đến 25 thửa nằm rải rác ở những vị trí khác nhau Nhưng sau khi thực hiện chủ trường dồn điền đổi thửa thì chỉ còn từ 4 đến 5 thửa/hộ Ở nơi nào tập trung chỉ đạo tốt chỉ có

2 – 3 thửa/ hộ [17, tr.2] Trên toàn huyện có nhiều xã thực hiện tốt chủ trương này như: Yên Hồng, Yên Trung, Yên Thành, Yên Phương, Yên Mỹ, Yên Quang, Yên Cường, Yên Đồng, Yên Khánh

Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp có vị trí vô cùng quan trọng và có ý nghĩa to lớn, mang lại lợi ích cho người nông dân, cho toàn xã hội Song, công tác dồn điền đổi thửa này cũng có nhiều khó khăn, phức tạp, tác động đến tâm lý của người nông dân (họ chưa có nhận thức đúng đắn lợi ích cũng như ý nghĩa quan trọng của công tác dồn điền đổi thửa) Do đó, đòi hỏi phải

Trang 34

có nhận thức đúng đắn, thống nhất từ trong Đảng đến cán bộ, Đảng viên và hộ nông dân Việc tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của cấp ủy và chính quyền các cấp, sự phối hợp thực hiện giữa các ngành, các tổ chức chính trị xã hội Phải có quyết tâm cao, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, tránh chủ quan nóng vội, đồng thời đảm bảo nhanh gọn, kịp thời, giữ vững sự đoàn kết, ổn định tình hình kinh tế nông nghiệp, nông thôn

1.2.2.2 Về công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi

Ngành trồng trọt

Nghị quyết số 05-NQ/HU về “Chương trình phát triển nông nghiệp và

kinh tế nông thôn đến năm 2000” đã đánh giá một cách chính xác những

thành tựu đạt được và chỉ ra những tồn tại yếu kém trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, đồng thời xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ

và các giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn đến năm 2000 và những năm tiếp theo Nghị quyết nêu rõ: Đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với thâm canh tăng vụ nhằm nâng cao hiệu quả trên diện tích đất canh tác, đảm bảo thỏa mãn nhu cầu lương thực của huyện và an toàn lương thực Quốc gia Khuyến khích nông dân chuyển dần sang sản xuất hàng hóa Phát triển mạnh ngành chăn nuôi, từng bước đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính,…

Dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện, Phòng nông nghiệp huyện Ý Yên đã tiến hành công tác chỉ đạo tới các Đảng bộ, Hội nông dân các xã và các hộ nông dân tiến hành công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn toàn huyện Trước tiên là sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất theo hướng tăng diện tích trồng cây

ăn quả: từ năm 1996 là 60 ha lên 143 ha năm 2000, trong đó cam, quýt, bưởi tăng từ 25ha năm 1996 lên 51,5 ha năm 2000 Diện tích cây lương thực có xu hướng giảm qua các năm: năm 1996 là 29.033 ha giảm xuống 28.084 ha năm

2000 Tuy vậy nhưng sản lượng lương thực lại tăng lên đáng kể: năm 1996 là 110.596 tấn tăng lên 147.357 tấn năm 2000 [37, tr 15]

Trang 35

Tiếp đó, Đảng bộ huyện Ý Yên đã lãnh đạo các cấp, ban, ngành chuyển dịch những diện tích đất cao và đất trũng cấy lúa cho năng suất kém sang trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây vụ Đông cho năng suất cao hơn như: cây lạc, cây ngô, cây khoai Tính đến năm 2000, cây lạc có diện tích 1.418ha với sản lượng 4.243 tấn; năm 2000, cây ngô có diện tích 167ha với sản lượng

507 tấn; năm 2000, cây khoai có diện tích 2.251ha với sản lượng 17.850 tấn [37, tr.17] Việc sản xuất cây vụ Đông đang dần chiếm một vị trí quan trọng trở thành ngành sản xuất hàng hóa chính cho kinh tế nông nghiệp toàn huyện

Đảng bộ huyện chỉ đạo Phòng nông nghiệp, Hội nông dân, Trạm bảo vệ thực vật, thú y ở các xã trên địa bàn huyện phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, chuyển dịch cơ cấu vụ mùa, cơ cấu cây trồng, tăng tỷ lệ xuân muộn

và mùa trung Đưa nhanh chóng các giống lúa mới như: Tạp giao, Bồi tạp,

ĐV 108, Khang dân 18,… vào sản xuất, ở nhiều HTX như: Thống Nhất, Phú Xuyên, Yên Phú, Yên Phúc,… tỷ lệ giống mới đạt 80 – 90% [17, tr 1]

Công tác thủy lợi có vai trò quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp của nhân dân trên địa bàn huyện Đảng bộ, huyện ủy và Uỷ ban nhân dân huyện thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo việc đầu tư, nâng cấp các công trình thủy lợi Công tác phòng chống lụt bão, úng, quản lý đề điều luôn được chú trọng; công tác tu bổ đê kè hoàn thành kế hoạch, đảm bảo an toàn các tuyến

đê trong mùa mưa lũ Chương trình kiên cố hóa kênh mương của Chính phủ được triển khai thực hiện

Qua quá trình chỉ đạo thực hiện theo các chủ trương và biện pháp phát triển kinh tế nông nghiệp, đến năm 2000: diện tích gieo trồng hàng năm ổn định từ 35.000 đến 35.500 ha Trong đó diện tích cây lúa là 27.000 đến 27.500 ha, cây vụ Đông và cây màu xuân là 8.000 ha Năng suất lúa tăng nhanh qua các vụ: Năm 1996 đạt 8,2 tấn/ha/năm, năm 2000 đạt 10,7 tấn/ha/năm Tăng bình quân 4,5%/năm Sản lượng màu quy ra thóc hàng năm

là 8.900 tấn Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc đạt cao nhất 160.000 tấn, tăng 24% so với năm 1995 Bình quân lương thực đạt 660 kg/người/năm,

Trang 36

lương thực hàng hoá 70-75 ngàn tấn/năm Bình quân thu nhập ngành trồng trọt đạt 27triệu/ha canh tác/năm [17, tr 2]

Ngành chăn nuôi:

Với chăn nuôi, Đảng bộ huyện nhấn mạnh: không chỉ nâng cao số lượng mà còn tăng cả về chất lượng; hạn chế mô hình chăn nuôi theo phương thức lạc hậu và đưa nhanh phương thức chăn nuôi công nghiệp nhằm tăng nhanh năng suất và rút ngắn thời gian thu hoạch sản lượng thịt từ các đàn vật nuôi Huyện ủy đã đề ra chương trình cải tạo, nâng cao chất lượng đàn gia

súc, gia cầm

Theo đó, chăn nuôi tiếp tục tăng cả số lượng và chất lượng Đến năm

2000, đàn lợn là 80.000 con tăng lên 8,5%, đàn trâu bò là 12.500 con tăng 31% so với năm 1995 [17, tr 2]

Bằng hình thức chuyển đổi này, năng suất cây trồng và sản lượng vật nuôi

đã tăng lên nhanh chóng góp phần tăng cao thu nhập cho nhân dân toàn huyện:

Bảng 1.2: Giá trị sản xuất cây trồng, vật nuôi năm 1997 – 2000

Đơn vị: Triệu đồng Năm Trồng trọt Vật nuôi

Trang 37

nước ngọt) [39, tr 69] Trong số diện tích nuôi trồng này có một số diện tích chủ yếu chuyển từ vùng cấy lúa một vụ bấp bênh sang đào ao thả cả, cho năng suất cao hơn gấp nhiều lần so với cấy lúa

Công tác bảo vệ thực vật, phòng chống dịch bệnh đối với cây trồng vật nuôi cũng được Đảng bộ huyện cùng Phòng nông nghiệp, Hội nông dân, công

an huyện, Đội quản lý thị trường số 5 và đặc biệt là Trạm bảo vệ thực vật, thú

y quan tâm chỉ đạo thực hiện Phòng nông nghiệp đã kết hợp chặt chẽ với Trạm bảo vệ thực vật, thú y thường xuyên cử những cán bộ, những kỹ sư có chuyên môn đến từng cơ sở sản xuất trên địa bàn toàn huyện để hướng dẫn bà con nông dân nắm bắt được những biểu hiện cơ bản của bệnh cây trồng, vật nuôi để từ đó sớm có biện pháp phòng trừ và khắc phục kịp thời đảm bảo được năng suất và chất lượng của cây trồng, vật nuôi

Có thể nói, trước đây nếu cây lúa giữ vai trò chủ đạo thì trong những năm 1997-2000, cây vụ Đông như cây lạc, khoai tây, đậu đã có vị trí quan trọng mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân Tính đến năm 2000, diện tích cây lúa là 28.084ha với sản lượng 147.357 tấn; diện tích cây vụ Đông là 1.669

ha với sản lượng 129.093 tấn Việc sản xuất cây vụ Đông đang dần trở thành

ngành sản xuất hàng hóa chính cho toàn huyện Từ chủ trương chuyển dịch cơ

cấu cây trồng vật nuôi, ngành chăn nuôi trên địa bàn huyện cũng có những

bước phát triển mới không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng Những giống vật nuôi mới, có chất lượng và năng suất cao cũng được đưa vào thử nghiệm và mang lại giá trị kinh tế cao như: cá trắm, trôi, chép,những loại trâu

bò nhập ngoại hoặc lai giống, Nhìn chung từ năm 1997 đến năm 2000 kinh

tế nông nghiệp huyện đã có sự phát triển đáng kể: Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 6,03%; thu nhập bình quân đầu người là 3.6 triệu đồng/năm; năm

2000, tổng giá trị sản xuất đạt 937,5 tỷ đồng; tổng thu nhập đạt 542 tỷ đồng [17; tr.5] Qúa trình sản xuất nông nghiệp đã tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn, ngoài việc đảm bảo lương thực, thực phẩm cho khoảng 22 vạn dân trong huyện, còn có khả năng cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu

Trang 38

Tiểu kết Chương 1

Trong những năm từ 1997 đến 2000 với sự lãnh đạo linh hoạt, sáng tạo, Đảng bộ huyện Ý Yên đã tranh thủ những thế mạnh vốn có của huyện để từng bước đưa kinh tế nông nghiệp phát triển và đạt được nhiều thành tựu Với chủ

trương dồn điền đổi thửa, tình trạng manh mún về ruộng đất đã bước đầu

được khắc phục, thực trạng một hộ nông dân có tới 10-15 mảnh ruộng đã không còn nữa mà thay vào đó là những mảnh ruộng to hơn thuận lợi cho sản

xuất, chăm bón Chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi mà Đảng

bộ huyện Ý Yên đã khắc phục được những hạn chế trong ngành trồng trọt và chăn nuôi trong những năm trước 1997

Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Đảng bộ huyện còn gặp phải những khó khăn nhất định như: chưa tuyên truyền sâu rộng những chủ trương của Đảng bộ huyện đến nhân dân trong toàn huyện; trong công tác chỉ đạo thực hiện còn chưa kiên quyết, Do đó mà kinh tế nông nghiệp của huyện vẫn tồn tại một số hạn chế cơ bản như: tốc độ tăng trưởng còn chậm; việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi chưa cao, đời sống của người nông dân vẫn còn thấp, người nông dân chưa quen với việc sản xuất hàng hóa, chưa mạnh dạn áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất; việc đầu

tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật chưa cao

Mặc dù còn một số hạn chế, song những thành quả về nông nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ý Yên trong những năm 1997 đến 2000

đã tạo nên cơ sở, tiền đề để Đảng bộ và nhân dân huyện Ý Yên vững bước tiến vào thế kỉ XXI, tiếp tục thực thắng lợi công cuộc đổi mới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH

Trang 39

Chương 2 ĐẢNG BỘ HUYỆN Ý YÊN (NAM ĐỊNH) LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2013 2.1 Chủ trương và sự chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng bộ huyện Ý Yên từ năm 2001 đến năm 2005

2.1.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ huyện Ý Yên

2.1.1.1 Các yếu tố tác động và yêu cầu mới

Bước sang thế kỷ XXI, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng được triệu tập (tháng 4/2001) đã đi sâu tổng kết những thành tựu đạt được của 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, 15 năm đổi mới, rút ra những bài học kinh nghiệm sâu sắc, từ đó phát triển toàn diện đường lối, định

ra chiến lược phát triển kinh tế đất nước trong hai thập kỷ đầu thế kỉ XXI Đại hội cũng nhấn mạnh đường lối tiếp tục “đẩy nhanh CNH – HĐH nông nghiệp, nông thông theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái từng vùng” [26, tr 168]

Theo tinh thần của Đại hội, phương hướng kinh tế nông nghiệp trong thời gian tới sẽ là: chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn; xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh phù hợp với tiềm năng và lợi thế về khí hậu, đất đai và lao động của từng vùng, từng địa phương Ứng dụng nhanh khoa học công nghệ vào sản xuất nhất là ứng dụng công nghệ sinh học, gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến; gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ; hình thành liên kết công-nông nghiệp-dịch vụ ngay trên địa bàn nông thôn [26, tr 276]

Để khẳng định hơn nữa việc tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, ngày 18/3/2002, tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành

Trung ương Đảng khóa IX đã đưa ra Nghị quyết số 15-NQ/TW về Đẩy nhanh

CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 – 2010 Nghị quyết đã đưa

Trang 40

ra những nhận thức rõ nét về vai trò và vị trí của CNH nông nghiệp, nông thôn, đưa ra những chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh phát triển CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết cũng nêu lên mục tiêu tổng quát và lâu dài của CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn là xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, hiệu quả và bền vững, có năng suất cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu

Hội nghị Trung ương 5 khóa IX còn ban hành Nghị quyết số

13-NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập

thể” Nghị quyết thống nhất nhận thức “phát triển kinh tế tập thể trong nông

nghiệp, nông thôn phải dựa trên cơ sở đảm bảo quyền tự chủ của kinh tế trạng trại, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển” [26, tr.49] Đây là đổi mới căn bản trong nhận thức của Đảng về kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn Nghị quyết cũng khẳng định quan điểm xây dựng các HTX nhiều hình thức đã nêu ra trong luật HTX thay vì chỉ có một hình thức HTX sản xuất nông nghiệp và một phần thủ công nghiệp như trước đây

Đến đầu năm 2004, Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa

IX, bổ sung một số biện pháp cụ thể: chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tạo ra các vùng sản xuất hàng hóa tập trung chuyên canh, thâm canh, có năng suất, chất lượng cao, áp dụng tiến bộ và khoa học công nghệ mới nhất là công nghệ sinh học, gắn với chế biến, tiêu thụ; phát triển mạnh các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ nhỏ và vừa

Sau 15 năm thực hiện chủ trương đổi mới thế và lực của tỉnh Nam Định cũng có những thay đổi đáng kể: tình hình kinh tế - xã hội toàn tỉnh phát triển hơn về mọi mặt, cơ sở vật chất được tăng cường, đời sống của nhân dân được cải thiện Trong mọi hoàn cảnh, Đảng bộ tỉnh luôn quán triệt theo tinh thần của Trung ương Đảng Tuy nhiên khi vận dụng vào điều kiện của tỉnh thì Đảng bộ tỉnh luôn có sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo Từ Nghị quyết số 13-

NQ/TW về “Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập

thể”, Đảng bộ tỉnh Nam Định đã nhận thức và sửa đổi, bổ sung một số cơ

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w