1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khắc phục những bất cập trong chính sách Bảo hiểm xã hội

95 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 859,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, chính sách BHXH còn bộc lộ một số điểm bất hợp lý về nội dung như các chế độ BHXH, Bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXH TN, Bảo hiểm thất nghiệp, vấn đề q

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

CHUNG THỊ HÀ

KHẮC PHỤC NHỮNG BẤT CẬP TRONG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

CHUNG THỊ HÀ

KHẮC PHỤC NHỮNG BẤT CẬP TRONG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH KHOA HỌC QUẢN LÝ

ĐÀO TẠO THÍ ĐIỂM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM XUÂN HẰNG

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình của các tác giả nào khác

Học viên

Chung Thị Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập tại khoa Khoa học Quản lý, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô làm việc và giảng dạy tại khoa Khoa học Quản lý, đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Xin gửi lời cảm ơn tới TS Phạm Trường Giang – Vụ Bảo hiểm Xã hội – Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã nhiệt tình cung cấp thông tin, tài liệu để tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và động viên trong suốt thời gian tác giả thực hiện luận văn

Đặc biệt, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Phạm Xuân Hằng đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tác giả hoàn thành khóa luận

Kính chúc các thầy cô, gia đình và bạn bè mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công Một lần nữa tác giả xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Trang 5

MỤC LỤC

trang

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 4

PHẦN MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

3 Mục tiêu nghiên cứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu 7

5 Vấn đề nghiên cứu 8

6 Giả thuyết nghiên cứu 8

7 Phương pháp nghiên cứu 8

8 Kết cấu luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI 10

1.1 Khái niệm chính sách 10

1.2 Khái niệm chính sách Bảo hiểm Xã hội 13

1.3 Đặc trưng của chính sách Bảo hiểm Xã hội 18

1.4 Vai trò của chính sách Bảo hiểm Xã hội 19

1.5 Tác động của chính sách Bảo hiểm Xã hội 21

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của Bảo hiểm Xã hội 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI KỂ TỪ KHI LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH 26

2.1 Các chế độ Bảo hiểm Xã hội 26

2.1.1 Chế độ ốm đau 26

2.1.2 Chế độ thai sản 30

2.1.3 Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 35

2.1.4 Chế độ hưu trí 37

2.1.5 Chế độ tử tuất 44

2.2 Bảo hiểm Xã hội tự nguyện 47

2.3 Quỹ Bảo hiểm Xã hội 51

2.4 Thủ tục thực hiện Bảo hiểm Xã hội 59

CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ KHẮC PHỤC NHỮNG BẤT CẬP TRONG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI 64

3.1 Điều chỉnh các chế độ Bảo hiểm Xã hội cho phù hợp và thống nhất 64

Trang 6

3.1.1 Chế độ ốm đau 64

3.1.2 Chế độ thai sản 67

3.1.3 Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 69

3.1.4 Chế độ hưu trí 70

3.1.5 Chế độ tử tuất 74

3.2 Tạo điều kiện thu hút các đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện 77

3.3 Tạo sự hợp lý trong quy định về Quỹ Bảo hiểm Xã hội 79

3.4 Đơn giản hóa hồ sơ, quy trình thực hiện Bảo hiểm Xã hội 81

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.2: Số lượt người hưởng chế độ thai sản 31

Bảng 2.3: Bảng tổng hợp quy định thời gian hưởng chế độ thai sản một số nước trên thế giới 33

Bảng 2.4: Số người hưởng chế độ TNLĐ và BNN 35

Bảng 2.5: Tình hình giải quyết chế độ hưu trí 38

Bảng 2.6: Lương hưu bình quân của người lao động được chi trả 38

Bảng 2.7: Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi, 15-64 tuổi, 60 tuổi trở lên, 65 tuổi trở lên và Chỉ số già hóa, thời kỳ 1989 – 2013 41

Bảng 2.8: Số người hưởng trợ cấp BHXH một lần khi nghỉ hưu 42

Bảng 2.9: Tình hình thực hiện chế độ tử tuất 45

Bảng 2.10: Số người tham gia BHXH TN 48

Bảng 2.11: Số người hưởng chế độ hưu trí theo loại hình BHXH TN 48

Bảng 2.12: Cân đối quỹ BHXH bắt buộc từ năm 2010 đến năm 2012 52

Bảng 2.13: Đầu tư quỹ BHXH dài hạn 53

Bảng 2.14: Lãi thu được từ hoạt động đầu tư của quỹ BHXH 54

Bảng 2.15: Bảng chi phí quản lý quỹ BHXH qua các năm từ 2008 đến 2012 57

Bảng 2.16: Tỷ lệ lãi đầu tư bình quân năm 59

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chính sách Bảo hiểm Xã hội (BHXH) nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn, với Điều lệ BHXH được ban hành năm 1961, và sau hơn bốn thập kỷ kể từ khi Điều lệ được thực thi thì Luật BHXH được ban hành năm 2006 Kể từ đây, chính sách BHXH ngày càng phát huy vai trò đảm bảo cuộc sống cho người lao động (NLĐ) khi họ bị tai nạn, rủi ro, ốm đau, hết tuổi lao động góp phần tạo sự ổn định về xã hội, kinh tế, chính trị đất nước Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, chính sách BHXH còn bộc lộ một số điểm bất hợp lý về nội dung như các chế độ BHXH, Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXH TN), Bảo hiểm thất nghiệp, vấn đề quản lý quỹ BHXH Những hạn chế này đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ, gây nên sự mất công bằng giữa các đối tượng thụ hưởng, từ đó không tạo sức hút nhằm đẩy mạnh hơn nữa số người tham gia BHXH Xuất phát từ thực tế này, việc rà soát lại chính sách BHXH và đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục

những hạn chế trong chính sách là hết sức cần thiết, do đó tôi lựa chọn đề tài:

“Khắc phục những bất cập trong chính sách Bảo hiểm xã hội” làm đề tài

luận văn thạc sỹ của mình

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chính sách BHXH là mối quan tâm lớn của nhà nước, của người sử dụng lao động (NSDLĐ) và NLĐ Mối quan tâm này là động lực lớn để nhiều nhà khoa học nghiên cứu về BHXH Sau khi tìm hiểu qua nhiều kênh thông tin, tôi được biết có một số công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách BHXH, cụ thể là các đề tài:

Đề tài khoa học: "Vai trò của nhà nước trong việc thực hiện các chính sách BHXH" năm 1997 do TS Bùi Văn Hồng làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đã phân tích thực trạng và vai trò của nhà nước trong việc thực hiện các chính sách BHXH ở Việt Nam qua các thời kỳ (thời kỳ trước năm 1995 và thời kỳ từ năm

1995 đến 1997) Tuy nhiên, do thời kỳ này vẫn chưa có Luật BHXH và tổ chức

Trang 10

BHXH Việt Nam mới thành lập, nên đề tài chỉ làm rõ các chính sách BHXH của Nhà nước thông qua tổ chức công đoàn, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

Nghiên cứu của tác giả Trần Quang Hùng và Mạc Văn Tiến trong cuốn

“Đổi mới chính sách BHXH đối với người lao động” (Nxb Chính trị quốc gia, 1998) Trong nghiên cứu này, các tác giả đã phân tích chính sách BHXH với những bất cập của nó và đề xuất các kiến nghị đổi mới chính sách đối với NLĐ

Ở giai đoạn này, Luật BHXH chưa ra đời nên nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu vào chương XII Luật Lao động (1994) Do đó, kết quả nghiên cứu này không còn phù hợp với chính sách BHXH hiện hành

Đề tài: “Hoàn thiện quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” năm 2004

do Ts Đỗ Văn Sinh làm chủ nhiệm đề tài Nội dung của đề án tập trung phân tích tình hình tài chính quỹ BHXH qua các thời kỳ và đưa ra các giải pháp liên quan đến quản lý và cân đối quỹ BHXH

Tiểu đề tài: “Hoàn thiện quy chế xét duyệt, thẩm định và quản lý hồ sơ hưởng các chế độ Bảo hiểm Xã hội” năm 2005 do Hà Văn Chi làm chủ nhiệm

đề tài Trên cơ sở phân tích thực trạng hồ sơ và quy trình giải quyết các chế độ BHXH, tiểu đề án đã rút ra được những ưu điểm và tồn tại về thực trạng quy định hồ sơ và quy trình giải quyết các chế độ BHXH

Tên đề tài: “Hoàn thiện hệ thống tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ Bảo hiểm Xã hội ở Việt Nam” năm 2010 do Ts Nguyễn Thị Chính làm chủ nhiệm đề tài Đây là công trình khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện hệ thông tổ chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH ở nước ta

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Dũng với bài viết “Hệ thống chính sách An sinh xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển” trên tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, kinh tế và kinh doanh 26 (2010) Bài viết trình bày thực trạng cũng như đưa ra những định hướng cụ thể cho sự phát triển của chính sách an sinh xã hội Trong đó có nêu một số hạn chế của chính sách BHXH và giải pháp khắc phục, tuy nhiên những vấn đề này lại được đưa ra một cách khái quát, chưa cụ thể

Trang 11

Nghiên cứu của các chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách thuộc ban quản lý dự án TF0581: “Báo cáo đánh giá hệ thống chính sách BHXH” được đăng trên Bản tin số 25 năm 2010 của Viện Khoa học Lao động Xã hội Báo cáo này đã đưa ra các khuyến nghị về cải cách chính sách BHXH cũng như

sự cần thiết của việc đa dạng hóa các phương thức thực hiện BHXH

Bài viết “Kết quả thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp thời gian qua

và một số kiến nghị” của tác giả Đặng Đỗ Quyên được đăng trên Bản tin số 35 năm 2013 của Viện Khoa học Lao động Xã hội Bài viết tập trung chủ yếu vào việc nêu lên thực trạng thực hiện chính sách Bảo hiểm thất nghiệp, còn việc chỉ

ra những bất cập trong chính sách lại không đưa ra các dẫn chứng cụ thể

Đề tài nghiên cứu của tôi có những điểm mới sau:

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách BHXH

Đưa ra và phân tích những bất cập còn tồn tại trong chính sách BHXH Căn cứ vào thực trạng, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập, hoàn thiện chính sách BHXH

3 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, nhận diện những bất cập trong chính sách BHXH, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách BHXH

Với nhiệm vụ nghiên cứu là:

Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chính sách BHXH

Nhận diện những bất cập trong chính sách BHXH, đó là những sai sót, những quy định không phù hợp với thực tế trong các văn bản pháp luật về BHXH

Đề xuất những kiến nghị nhằm khắc phục những bất cập trong chính sách BHXH

4 Phạm vi nghiên cứu

Phân tích những bất cập trong chính sách BHXH bao gồm 2 nội dung chính, đó là chính sách và việc thực hiện chính sách, tuy nhiên do hạn chế về

Trang 12

thời gian và khả năng tiếp cận việc thực hiện chính sách, nên luận văn của tôi chủ yếu đề cập đến nội dung những bất cập trong chính sách BHXH và đưa ra

những kiến nghị khắc phục những bất cập này

Như vậy, phạm vi nghiên cứu của đề tài là hệ thống văn bản pháp quy về chính sách BHXH: luật BHXH, luật Lao động, các nghị định, thông tư về BHXH

5 Vấn đề nghiên cứu

Những bất cập trong chính sách BHXH là gì?

Đề xuất những kiến nghị nào để khắc phục các bất cập đó?

6 Giả thuyết nghiên cứu

Những bất cập trong chính sách BHXH là: các chế độ BHXH bắt buộc không thống nhất và chưa phù hợp; Quy định về BHXH tự nguyện còn chưa thu hút được các đối tượng tham gia; Quy định về Bảo hiểm thất nghiệp thiếu bình đẳng; Quy định về quỹ BHXH chưa hợp lý; Thủ tục thực hiện BHXH còn phức

tạp;

Các kiến nghị để khắc phục những bất cập trên là: tạo sự thống nhất và hợp lý trong các chế độ BHXH bắt buộc; Tạo điều kiện thu hút các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện; Tạo sự bình đẳng trong quy định của Bảo hiểm thất nghiệp; Điều chỉnh quy định về Quỹ BHXH; Đơn giản hóa quy trình thủ tục

thực hiện BHXH;

7 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phương pháp so sánh

8 Kết cấu luận văn

Bài luận văn được chia làm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận Trong đó phần nội dung được chia làm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận chung về chính sách Bảo hiểm Xã hội

Chương 2: Thực trạng chính sách Bảo hiểm Xã hội kể từ khi Luật Bảo hiểm Xã hội có hiệu lực thi hành

Trang 13

Chương 3: Kiến nghị khắc phục những bất cập trong chính sách Bảo hiểm

Xã hội

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ

CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái niệm chính sách

Chính sách là một thuật ngữ khá phổ biến trong đời sống xã hội, được dùng chủ yếu để thể hiện hành động của chính quyền đối với xã hội Tuy nhiên, thực tế chính sách xuất hiện ở hầu hết tất cả các vấn đề, từ cấp độ vi mô đến vĩ

mô Mỗi cá nhân, tổ chức muốn tồn tại và phát triển đều phải đưa ra được chính sách cho mình, cho từng hoạt động, từng vấn đề trong đời sống xã hội Chính sách không chỉ là sự tác động một chiều của chủ thể chính sách tới đối tượng mà còn tạo ra sự kết nối giữa các cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, với toàn xã hội

Qua tìm hiểu các tài liệu, tôi nhận thấy rằng có rất nhiều quan điểm khác nhau về chính sách, điều này phụ thuộc vào cách tiếp cận chính sách theo chính trị học, kinh tế học, xã hội học hay hệ thống Trong luận văn này, tôi tiếp cận chính sách theo cách nhìn nhận của Khoa học quản lý Cụ thể, trong bài giảng

Khoa học chính sách, PGS TS Vũ Cao Đàm định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản

lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi cho một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lực phát triển của một hệ thống xã hội”[26;13]

Biện pháp được thể chế hóa trong định nghĩa trên tức là đã được thống nhất, tạo thành những nguyên tắc, quy tắc nhất định như: các đạo luật, nghị định, thông tư hay các văn bản quy định trong nội bộ tổ chức Ví dụ như chính sách Khoa học và công nghệ được thể chế hóa trong Luật Khoa học và công nghệ, chính sách tiền lương được thể chế hóa trong Luật Lao động và các nghị định, thông tư có liên quan Việc thể chế hóa chính sách là nhằm làm cho các biện pháp tác động của chính sách được pháp lý hóa, có như vậy chính sách mới có thể dễ dàng thâm nhập vào trong xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu của chủ thể chính sách Ngoài ra, việc thể chế hóa chính sách cũng làm cho công tác quản lý

Trang 15

việc thực hiện chính sách được hiệu quả hơn, là một thước đo, một công cụ mà chủ thể chính sách dựa vào đó để đánh giá, kiểm tra những tác động của chính

sách

Từ cách tác động là tạo sự ưu đãi cho một hoặc một nhóm xã hội, chính sách đã tạo nên sự bất công bằng Sự bất công này không quá lớn để tạo nên sự phẫn nộ nhưng cũng không quá nhỏ để có thể kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm xã hội trên Đôi khi trong một chính sách, mục đích tác động của chính sách là nhóm xã hội này, nhưng khi thực hiện, chủ thể quản lý lại tác động vào nhóm xã hội khác Vì xã hội là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, các nhóm trong xã hội luôn có sự tương tác lẫn nhau, và cụ thể nhất là các cá nhân trong

xã hội luôn có mối quan hệ tác động qua lại Vậy nên, phương pháp và đối tượng tác động của chính sách phụ thuộc vào sự quan sát, đánh giá các vấn đề trong thực tế của chủ thể chính sách Nếu như chủ thể quản lý không đánh giá vấn đề trong sự tác động của nhiều yếu tố thì đến đây chính sách đã bị coi là thất bại

Chính sách tác động vào một hoặc một nhóm xã hội nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội Đi vào chi tiết hơn, ta thấy nhóm xã hội bao gồm tập hợp các cá nhân tạo thành, vậy nên xét đến cùng chính sách tác động vào các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của chủ thể chính sách Chính sách tác động vào tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu của các cá nhân Trước sự tác động này, việc các cá nhân cảm nhận thế nào

và hành động ra sao là vấn đề chính yếu mà chủ thể quản lý quan tâm Cho dù là mỗi các nhân sẽ có những suy nghĩ khác nhau, nhưng thêm vào đó là sự tác động của hiệu ứng tâm lý nhóm sẽ làm cho các cá nhân sẽ có những hành động tương đối giống nhau Từ đó, chủ thể quản lý mới cho thể dễ dàng nắm bắt được những tác động chính sách và đưa ra những điều chỉnh phù hợp với mục tiêu của chính sách

Như đã trình bày ở trên, các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: chính sách của Đảng, của chính phủ, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một

Trang 16

doanh nghiệp, chính sách của cá nhân Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vi một tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong

tổ chức đó Còn các cá nhân đưa ra chính sách cho bản thân đối với các vấn đề gặp phải trong cuộc sống thì tác động của chính sách cũng chỉ ảnh hưởng chủ yếu đến bản thân họ

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi

là chính sách công Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung, nhưng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước Chính sách công bao gồm nhiều chính sách cụ thể như: chính sách y tế, chính sách giáo dục – đào tạo, chính sách việc làm, chính sách văn hóa – thể thao – du lịch, lao động – bảo đảm

an sinh xã hội Mỗi chính sách lại bao gồm các tiểu chính sách nhằm giải quyết các vấn đề có khía cạnh lớn Vì mục tiêu chung là thiết lập sự công bằng trật tự an toàn xã hội, ổn định, phát triển và vì sự tiến bộ xã hội Nhiều chính sách được triển khai trong thực tế đã chứng tỏ được hiệu quả trong quản lý và giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội Tuy nhiên, cũng có nhiều chính sách trong quá trình triển khai gặp nhiều vướng mắc và thậm chí còn có nhiều sai phạm trong quá trình thực thi Vì vậy, khi đưa ra một chính sách, chủ thể chính sách các xác định ra những điểm sau:

- Phân tích rõ đối tượng và phương tiện thực hiện chính sách, để sao cho chúng phù hợp với mục tiêu chính sách, không làm đảo lộn những yếu tố không liên quan

- Đảm bảo chính sách đưa ra đạt được mục tiêu nhưng không gây ra sự bất bình sâu sắc đối với các đối tượng không được hưởng lợi từ chính sách Ở đây chủ thể ban hành chính sách có thể vận dụng định lý cân bằng Nash trong lý thuyết trò chơi, tức là mình đã thắng trong cuộc chơi nhưng đối tác vẫn không cảm thấy bất mãn, không cảm thấy bị dồn vào đường cùng

Trang 17

- Chính sách làm phát triển hệ thống xã hội, tạo ra sự bất đồng bộ này từ

sự bất đồng bộ khác

1.2 Khái niệm chính sách Bảo hiểm Xã hội

Trong quá trình lao động sản xuất, con người tác động vào tự nhiên và tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra của cải vật chất Sản phẩm tạo ra càng nhiều thì đời sống con người càng được nâng cao, xã hội thêm phát triển Khi xã hội ngày càng hiện đại và văn minh hơn thì con người lại mong muốn nhu cầu của mình được thoả mãn ở mức cao hơn Con người sẽ không chỉ mong muốn được đáp ứng các nhu cầu cơ bản trong đời sống, mà còn được chuẩn bị để đối phó với những tình huống có thể xảy ra trong tương lai

Bởi vì trong quá trình tác động vào thiên nhiên, thì con người cũng phải chịu sự tác động của các quy luật khách quan, các yếu tố tự nhiên và xã hội mà đôi khi con người không thể kiểm soát được Hơn nữa trong đời sống không phải bao giờ mọi chuyện cũng suôn sẻ, họ có thể gặp phải những hoàn cảnh không may, ốm đau, mất việc, tuổi già Những lúc như vậy, những nhu cầu thiết yếu không những mất đi mà còn nảy sinh thêm nhiều nhu cầu khác Họ cần được khám, chữa bệnh, họ cần có người chăm sóc Vậy nên việc nhà nước tạo

ra chính sách BHXH, đã góp phần giúp cho NLĐ có thể yên tâm lao động, vì đời sống của họ đã được đảm bảo một phần Sự đảm bảo này được hình thành từ việc chia sẻ rủi ro của một người hay một số ít người cho cả một cộng đồng có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó sẽ bù đáp cho những người trong cộng đồng không may gặp thiệt hại do rủi ro nào đó Sau đây là một

số khái niệm về BHXH:

Điều 3 Chương I của Luật BHXH quy định: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [39; Điều 3]

Trang 18

Giáo trình Luật Lao động của khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội định

nghĩa: “Dưới góc độ pháp lý, BHXH là tổng thể các quy định của nhà nước điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ổn định đời sống cho NLĐ khi họ gặp những rủi ro, hiểm nghèo trong quá trình lao động hoặc khi già yếu, không còn khả năng lao động” [37; 312]

Theo tổ chức lao động quốc tế: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, thông qua các biện pháp công cộng nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi

ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già, chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [30; 10]

Biện pháp công cộng ở đây là thành lập những quỹ chuyên dùng, quỹ này được hình thành không phải là từ sự trợ cấp của nhà nước mà là từ những đóng góp của NLĐ và người sử dụng lao động

Từ cách tiếp cận trên, quan điểm của tôi về chính sách BHXH như sau:

“Chính sách BHXH là một chính sách công cụ, được tạo nên từ việc hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ, đã được thể chế hóa nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLD khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập vì rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm.”

Vì con người tồn tại với tư cách là đối tượng của các chính sách phát triển

xã hội Nên chính sách BHXH được hình thành với tư cách là một chính sách công cụ để thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo an sinh xã hội, với mục tiêu

là tạo ra một tấm lưới an toàn cho các thành viên trong xã hội khi họ gặp phải

những rủi ro hay lâm vào thế yếu

Ở Việt Nam, các hoạt động nhằm đảm bảo an sinh xã hội được cụ thể hóa thông qua hàng loạt các chính sách như: chính sách BHXH, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách phòng chống ma túy và tệ nạn xã hội Trong đó, chính sách BHXH đóng vai trò chính và quan trọng nhất, vì đa số những người tham gia BHXH là những những lao động chính tạo ra của cải vật chất trong xã hội

Ốm đau, bệnh tật, tai nạn hay tuổi già sẽ làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của NLĐ, gây ra tâm lý bất ổn, lo lắng do chất lượng cuộc sống không được

Trang 19

đảm bảo, từ đó ảnh hưởng tới xã hội Khi NLĐ tham gia BHXH, họ có thể yên tâm lao động và sản xuất, nếu gặp phải rủi ro trong cuộc sống thì một phần thu

nhập của họ đã được đảm bảo “Sự an tâm của người lao động cũng như sự bảo

vệ sức lao động của họ thông qua chính sách BHXH, BHYT đã trở thành một chính sách thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, đảm bảo sự ổn định

và thúc đẩy sản xuất phát triển” 1

Thứ nhất: các bên tham gia quan hệ BHXH

Các bên tham gia quan hệ BHXH gồm có: bên thực hiện BHXH, bên tham gia BHXH và bên được BHXH

Bên thực hiện BHXH là tổ chức do nhà nước thành lập, và được nhà nước kiểm tra giám sát chặt chẽ Tổ chức này là một hệ thống được thực hiện theo mô hình trực tuyến chức năng, thống nhất từ trung ương đến địa phương Trong đó,

hệ thống BHXH ở địa phương có vai trò quan trọng vì là đơn vị trực tiếp thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo cho NLĐ nhận được sự hỗ trợ kịp thời, nhanh chóng Bên thực hiện BHXH chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc thực hiện BHXH cho NLĐ theo quy định của pháp luật, đồng thời chịu trách nhiệm về vật chất và tài chính đối với bên được bảo hiểm khi họ có đủ điều kiện hưởng nguồn trợ cấp này

1

http://tapchibaohiemxahoi.gov.vn: Phạm Đình Thành (2012), Bảo hiểm xã hội – Trụ cột chính trong hệ thông

an sinh xã hội quốc gia, 15/05/2012.

Trang 20

Bên tham gia BHXH là người đóng góp phí BHXH để bảo hiểm cho mình hoặc cho người khác Các bên tham gia BHXH bao gồm: NLĐ, người sử dụng lao động (NSDLĐ) và nhà nước (một số đối tượng đặc biệt như lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước, chức vụ dân sự) Các bên tham gia BHXH có mối quan hệ mật thiết với nhau Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên được đặt trong mối liên hệ thống nhất

Bên được BHXH là người lao động hoặc thành viên trong gia định họ khi thỏa mãn đầy đủ các điều kiện hưởng BHXH theo quy định của pháp luật

Thứ hai: các chế độ BHXH, bao gồm 6 chế độ chính

- Chế độ bảo hiểm ốm đau;

- Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ – BNN);

- Chế độ bảo hiểm thai sản;

- Chế độ hưu trí;

- Chế độ tử tuất;

- Chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Các chế độ bảo hiểm được hình thành dựa trên các yếu tố: đối tượng, điều kiện, mức trợ cấp và thời hạn hưởng trợ cấp BHXH

Thứ ba: quỹ BHXH

Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Một trong những nguồn cơ bản là sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, cụ thể là: NLĐ, NSDLĐ và nhà nước Ngoài ra, quỹ còn được hình thành nhờ hoạt động sinh lời của quỹ bảo hiểm Đó là việc sử dụng một phần nhàn rỗi tương đối của quỹ vào các hoạt động kinh doanh Một bộ phận khác nữa của quỹ BHXH là khoản nộp

phạt của các tổ chức và cá nhân vi phạm luật BHXH “Các nguồn đóng BHXH phải đủ để đảm bảo thực hiện các chế độ phụ cấp cho những người tham gia BHXH và bảo đảm cân đối quỹ, đồng thời phải phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước từng thời kỳ”[28;33]

Quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được nhà nước bảo trợ Để có được nguồn tài chính đủ để NLĐ có thể bù đắp khi gặp phải những rủi ro thì việc quản lý quỹ bảo hiểm phải

Trang 21

được hình thành trên cơ sở tính toán những xác suất nảy sinh và mức độ nhu cầu BHXH trong phạm vi quỹ phục vụ Do đó, quỹ bảo hiểm phải là một quỹ an toàn về tài chính Do đặc thù về đối tượng đảm bảo, bản chất, ý nghĩa của hoạt động BHXH mà nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo về tính an toàn của quỹ này

Quỹ BHXH là một bộ phận cấu thành hệ thống phân phối theo thu nhập quốc dân, làm nhiệm vụ phân phối lại thu nhập cho NLĐ Do vậy, quỹ BHXH là quỹ tích lũy đồng thời là quỹ tiêu dùng trên cơ sở tuân theo quy luật công bằng, nên luôn phải điều chỉnh giữa nhu cầu và lợi ích

Đối tượng được hưởng chế độ BHXH là các cá nhân hoặc người thân trong gia đình của họ, khi có đủ điều kiện hưởng BHXH theo quy định của pháp luật

Điều kiện hưởng BHXH là tập hợp các quy định mà NLĐ hoặc thân nhân trong gia đình họ phải hội tụ đủ thì mới được hưởng chế độ BHXH Mỗi một chế độ lại là một tập hợp các quy định khác nhau Điều kiện hưởng BHXH có vai trò quan trọng trong chính sách BHXH vì nó không chỉ là cơ sở pháp lý để được hưởng BHXH, mà còn là công cụ điều tiết xã hội của nhà nước để đảm bảo

sự phù hợp giữa các chế độ BHXH, giữa trách nhiệm của NLĐ, NSDLĐ và cơ quan BHXH Thông thường, điều kiện hưởng BHXH bao gồm 3 yếu tố chính là: tuổi đời, mức độ suy giảm hoặc mất khả năng lao động, thời gian tham gia BHXH

Trợ cấp BHXH là số tiền mà đối tượng được hưởng BHXH nhận được từ

tổ chức BHXH để bù đắp cho phần thu nhập bị mất do giảm hoặc mất khả năng lao động Trợ cấp BHXH có 2 loại: trợ cấp thường xuyên là loại trợ cấp đòi hỏi phải trả thường xuyên hàng tháng, có tác dụng phát huy hiệu quả trong thời gian dài Trợ cấp không thường xuyên là loại trợ cấp chỉ trả cho nhu cầu mới phát sinh, có tác dụng trong thời gian ngắn

Chính sách BHXH nhằm đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập vì rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm Những biến cố trong cuộc sống có thể làm NLĐ bị giảm hoặc mất khả

Trang 22

năng lao động, mất việc làm Đó có thể là những tình huống khách quan như:

ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Nhưng cũng có những trường hợp

mà NLĐ đương nhiên phải đối mặt như tuổi già, thai sản những biến cố trên có thể diễn ra cả ở trong và ngoài quá trình lao động Để NLĐ có thể vượt qua được những biến cố này, họ cần có một sự đảm bảo về tài chính nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu khi lâm vào hoàn cảnh trên và đó cũng là mục tiêu của chính sách BHXH Mục tiêu này được ILO cụ thể hóa như sau:

“Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ

1.3 Đặc trưng của chính sách Bảo hiểm Xã hội

- Chính sách BHXH là sự bảo hộ của xã hội, của nhà nước đối với NLĐ, mang tính xã hội hóa cao, không vì mục tiêu lợi nhuận

Chính sách BHXH thực hiện mục tiêu bảo đảm an toàn kinh tế cho NLĐ, nhờ sự phân phối lại thu nhập, đời sống của NLĐ luôn được đảm bảo trước những rủi ro Do có sự san sẻ trong cộng đồng xã hội, mà NLĐ chỉ cần đóng góp một khoản trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH nhưng sẽ có một lượng vật chất đủ lớn để trang trải cho những rủi ro có thể xảy ra

- NLĐ sẽ được BHXH trợ giúp vật chất và các dịch vụ y tế cần thiết để ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình họ

Trang 23

Khi NLĐ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ (đóng BHXH theo luật định) thì NLĐ sẽ được trợ cấp BHXH nếu những bất trắc và rủi ro xã hội xảy đến với họ như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tuổi già làm nguồn thu nhập của họ bị giảm hoặc mất hẳn Điều này thực sự có ý nghĩa với những người đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn, đó không chỉ là sự trợ giúp về kinh tế

mà còn góp phần giúp NLĐ vững tin vào cuộc sống để vượt qua những khó khăn

- Chỉ trong trường hợp có những rủi ro liên quan đến thu nhập của NLĐ thì họ mới được hưởng trợ cấp BHXH Bởi vì đây là khoản trợ cấp thay cho thu nhập bị bỏ lỡ hoặc những chi tiêu tăng lên đột xuất khi họ gặp những khó khăn rủi ro khác trong cuộc sống Và nếu như bất cứ rủi ro nào cũng cần đến trợ cấp BHXH thì BHXH sẽ không thể tồn tại được Mức trợ cấp này về mặt nguyên tắc phải thấp hơn mức tiền lương khi đang làm việc và trong một số trường hợp không được thấp hơn mức trợ cấp BHXH tối thiểu

- Chính sách BHXH được thực hiện trên một cơ sở là quỹ tiền tệ do sự tham gia đóng góp của NLĐ và NSDLĐ Quỹ này được sự hỗ trợ và bảo hộ của nhà nước

1.4 Vai trò của chính sách Bảo hiểm Xã hội

Thứ nhất: vai trò của chính sách BHXH đối với xã hội

Chính sách BHXH có đóng vai trò tích cực trong việc tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên góc độ khác nhau Người lao động tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng lao động tham gia BHXH là

để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH

Chính sách BHXH tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng Chính sách BHXH tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt

Trang 24

tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên

Chính sách BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững

Thứ hai: vai trò của chính sách BHXH đối với nền kinh tế thị trường:

Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp trong xã hội trở nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội Những rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn Chính sách BHXH

đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ Chính sách BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường

Chính sách BHXH góp phần phát huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp, từ đó mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường

Chính sách BHXH hoạt động dựa trên một yếu tố chủ đạo là quỹ BHXH, quỹ này do các bên tham gia đóng góp, phần quỹ nhàn rỗi sẽ được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phảt triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động

Chính sách BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động

Thứ ba: vai trò của chính sách BHXH đối với người lao động và người sử dụng lao động

Trang 25

Chính sách BHXH đã tạo điều kiện cho người lao động đóng góp một phần thu nhập của mình vào một quỹ chung, quỹ BHXH Như vậy, người lao động luôn có 1 khoản tiền để dành, phòng trừ trường hợp khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, chính sách BHXH tạo được tâm lý an tâm, tin tưởng, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động, đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động

Chính sách BHXH giúp các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động động ổn định phát triển sản xuất kinh doanh qua việc phân phối chi phí cho người lao động một cách hợp lý Ngoài ra chính sách BHXH còn tạo điều kiện để người sử dụng lao động có trách nhiệm với người lao động, từ đó quan hệ lao động trở nên gắn bó bền chặt hơn

1.5 Tác động của chính sách Bảo hiểm Xã hội

“Tác động của chính sách là sự hiện thực hóa các mục tiêu của chính sách trong hành vi của con người và nhóm người trong xã hội” [27; 35]

Giáo trình khoa học chính sách của PGS.TS Vũ Cao Đàm có nêu, “mục đích chính của mỗi chính sách là tác động vào từng cá nhân, nhằm tạo ra động

cơ hoạt động của họ phù hợp với mục tiêu phát triển mà hệ thống đang hướng tới” [26; 32] Từ đó chính sách tác động tới toàn bộ cộng đồng

Chính sách BHXH tác động đến cá nhân những NLĐ, chính sách cho họ một sự đảm bảo về tài chính trước những rủi ro có thể gặp phải trong cuộc sống

từ đó tạo tâm lý yên tâm cho NLĐ Khi về già, họ được hưởng lương hưu, khi

họ ốm đau, bệnh tật họ được hưởng những trợ cấp xã hội, giúp ổn định thu nhập, ổn định cuộc sống, từ đó giảm bớt căng thẳng về mặt tâm lý, có thể yên tâm lao động sản xuất Những NLĐ này là một trong những mắt xích quan trọng tạo nên xã hội, khi mà họ yên tâm lao động thì tất yếu góp phần tạo sự ổn định cho xã hội

Chính sách BHXH có ba tác động chính như sau:

Trang 26

- Tác động dương tính: NLĐ tham gia BHXH được bù đắp một phần thu nhập khi gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp hoặc khi hết tuổi lao động, từ đó an tâm lao động và ổn định cuộc sống

- Tác động âm tính: Nhiều người lao động có thu nhập thấp, không đủ để tiêu dùng nên khi đóng vào quỹ BHXH, đời sống kinh tế gặp thêm nhiều khó khăn

- Tác động ngoại biên âm tính: xảy ra tình trạng lợi dụng chính sách để đem lại lợi ích cho cá nhân như: làm giả hồ sơ, báo cáo sai sự thật, cung cấp thông tin và số liệu không đúng về tiền đóng và quỹ BHXH, sử dụng tiền đóng

và quỹ BHXH sai mục đích

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của Bảo hiểm Xã hội

Thứ nhất: sự phát triển kinh tế, xã hội

Sự phát triển kinh tế, xã hội của một đất nước ảnh hưởng rất lớn đến chính sách BHXH của đất nước đó Chính sách BHXH phản ánh tình trạng kinh

tế, xã hội của đất nước Khi kinh tế còn khó khăn, miếng cơm manh áo của người dân chưa được đảm bảo thì vấn đề cần tập trung hơn cả vẫn làm chăm lo phát triển kinh tế cho NLĐ Đến khi những điều kiện cơ bản được đáp ứng, người ta sẽ quan tâm đến việc được an toàn trước những biến cố có thể gặp phải

trong cuộc sống “BHXH là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa Khi trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đặt đến mức nào đó thì hệ thống BHXH

có điều kiện ra đời Vì vậy, các nhà kinh tế cho rằng sự ra đời và phát triển của BHXH phản ánh sự phát triển của nền kinh tế.” [36; 114]

Khi kinh tế - xã hội của một đất nước càng phát triển thì các hoạt động của BHXH như thu, quản lý quỹ, chi trả các trợ cấp đều trở nên chuyên nghiệp hơn, đáp ứng những yêu cầu của NLĐ Có thể nói kinh tế - xã hội càng phát triển hiệu quả thì hoạt động BHXH càng phát huy tác dụng

Mặt khác, BHXH cũng tác động trở lại sự phát triển kinh tế, xã hội của

đất nước BHXH góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị xã

hội – nhân tố quan trọng bảo an sinh xã hội lâu dài và bền vững BHXH giúp NLĐ yên tâm làm việc, có trách nhiệm trong công việc là nhân tố nâng cao năng

Trang 27

suất lao động, tăng tổng sản phẩm quốc dân Hơn nữa, phần quỹ BHXH nhàn rỗi được đầu tư trở lại kinh tế, tăng nguồn vốn cho phát triển 2

Như vậy, sự phát triển kinh tế xã hội và BHXH có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau cùng phát triển

Thứ hai: người sử dụng lao động

Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của thành phần kinh tế tư nhân, NLĐ chỉ được hưởng tiền công và phải tự đối phó với mọi rủi ro trong cuộc sống Một phần từ hiện trạng này mà không ít mâu thuẫn đã xảy ra trong mối quan hệ giữa người NSDLĐ và NLĐ Sau này, khi kinh tế đã có phần ổn định, nhà nước đứng

ra để điều hòa mối quan hệ giữa NSDLĐ và NLĐ trong vấn đề này NSDLĐ buộc phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của NLĐ Tức là cả NLĐ và NSDLĐ phải nộp một khoản tiền nhất định tạo nên quỹ BHXH để chi trả cho NLĐ khi gặp rủi ro

Như vậy, khi NSDLĐ tạo công ăn việc làm cho NLĐ thì đi kèm với đó họ phải đảm bảo đời sống cho NLĐ, cho dù là đó là tổ chức của nhà nước hay tư nhân Đồng thời NSDLĐ cũng là cầu nối giữa NLĐ và cơ quan chức năng thực hiện công tác BHXH

Mặc dù NSDLĐ phải đóng góp một khoản tiền nhằm đảm chi trả cho NLĐ khi họ gặp rủi ro, nhưng việc này cũng đem lại lợi ích cho NSDLĐ Khi NLĐ ốm đau, tai nạn không có nguồn thu nhập, không có khả năng chi trả thuốc men thì đời sống của họ bị ảnh hưởng rất nhiều, đương nhiên nó cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, khi các thành viên trong tổ chức đều tham gia BHXH thì lực lượng lao động sẽ luôn được ổn định, sản xuất diễn ra liên tục, hiệu quả, các mối quan hệ bên trong của tổ chức cũng gắn bó hơn

Thứ ba: nhận thức của người lao động

NLĐ là chủ thể quan trọng trong chính sách BHXH Việc có mặt của NLĐ mới làm cho chính sách BHXH trở thành một hoạt động trong xã hội

2 Theo Bùi Sỹ Tuấn (2014) Sửa đổi Luật Bảo hiểm Xã hội cần quan tâm nghiên cứu để lồng ghép vấn đề giới, Tạp chí Khoa học lao động và Xã hội, số 38/Quý I – 2014, tr70-75

Trang 28

Nhận thức của NLĐ có ảnh hưởng tới việc thực hiện các văn bản BHXH, việc thực thi các chính sách BHXH Chính sách BHXH là điều chỉnh hành vi của các đối tượng BHXH và NLĐ là đối tượng hàng đầu trong hoạt động đó Việc nâng cao nhận thức của NLĐ đối với chính sách BHXH một mặt giúp cho hoạt động

BHXH được trôi chảy, mặt khác giúp bảo vệ quyền lợi chính đáng của NLĐ

Thứ tư: tổ chức công đoàn

Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nước; tham gia kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kiểm tra, giáo dục cán bộ công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Tổ chức công đoàn có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của BHXH Theo

đó, tổ chức công đoàn có các quyền sau đây:

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tham gia bảo hiểm

xã hội;

Yêu cầu người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội cung cấp thông tin về bảo hiểm xã hội của người lao động;

Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật

về bảo hiểm xã hội 3

Như vậy, trong hoạt động BHXH tổ chức công đoàn đã thể hiện được rõ vai trò và chức năng của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Giúp cho hoạt động BHXH hoạt động công khai, minh bạch, tránh được những sai sót không đáng có gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm

Trang 29

Để xây dựng được khái niệm chính sách BHXH, cần phải phân biệt và nêu rõ bản chất chính sách, và bản chất của BHXH Trong đó chính sách được tiếp cận theo cách nhìn nhận của Khoa học Quản lý, còn BHXH được tiếp cận theo nội dung và ý nghĩa của nó.Việc xây dựng khái niệm chính sách BHXH giúp nhìn nhận một cách chính xác và tổng về chính sách này

Nhằm tạo tiền đề cho việc đánh giá thực trạng những bất cập trong chính sách BHXH được đề cập ở chương 2, tôi đã nêu ra và phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động BHXH Hoạt động của BHXH diễn ra như thế nào đều phụ thuộc vào những yếu tố này, mỗi yếu tố đều có những đặc điểm riêng biệt

mà người phân tích chính sách phải nhìn nhận một cách chính xác và khách quan thì mới có thể đánh giá được tổng thể chung chính sách BHXH

Phát huy đầy đủ vai trò của chính sách BHXH sẽ là tiền đề và điều kiện

để thực hiện tốt các chính sách Ưu đãi xã hội và Bảo trợ xã hội, tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước:

Thứ nhất, BHXH là hoạt động cần thiết của xã hội nhằm bảo đảm, duy trì

và phát triển nguồn lao động cho nền sản xuất xã hội

Thứ hai, thực hiện chính sách BHXH đảm bảo sự bình đẳng về vị thế xã hội của NLĐ trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển

Thứ ba, thực hiện chính sách BHXH nhằm ổn định cuộc sống NLĐ, trợ giúp NLĐ khi gặp rủi ro: ốm đau, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp… sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm, đồng thời góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao động,

Thứ tư, BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối lại thu nhập một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách Nhà nước, bảo đảm An sinh xã hội bền vững

Thứ năm, quyền lợi của các chế độ BHXH không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện và mức sống chung toàn xã hội tại từng thời điểm, đảm bảo cuộc sống của người tham gia BHXH và đặc biệt là người hưởng lương hưu, tạo sự an tâm, tin tưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động

Trang 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI KỂ TỪ

KHI LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI CÓ HIỆU LỰC THI HÀNH

2.1 Các chế độ Bảo hiểm Xã hội

2.1.1 Chế độ ốm đau

Chế độ ốm đau là 1 trong 5 chế độ của BHXH bắt buộc, được quy định thành 6 điều, từ Điều 21 đến Điều 26 Luật BHXH và được hướng dẫn cụ thể từ Điều 8 đến Điều 12 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ và được hướng dẫn chi tiết tại mục I phần B Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, tại Điều 8 đến Điều 11 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ Theo đó, khi bị

ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc (có xác nhận của cơ sở y tế) hoặc có con dưới 7 tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con (có xác nhận của cơ sở y tế) thì người lao động tham gia đóng BHXH được hưởng chế độ ốm đau

Đây là một trong những rủi ro mà NLĐ thường gặp phải, khi bị ốm đau, NLĐ không những bị giảm nguồn thu nhập mà còn cần thêm một khoản tiền nhất định để hỗ trợ cho việc chăm sóc, phục hồi sức khỏe Chi phí cho việc khám chữa bệnh không thể xác định trước lại mang tính đột xuất Không những thế, những rủi ro này có thể tái phát, biến chứng gây tổn hại rất nhiều đến sức khỏe cũng như tài chính của NLĐ Vì vậy chế độ ốm đau giúp NLĐ được cung cấp các dịch vụ chăm sóc, phục hồi sức khỏe và khả năng làm việc, đáp ứng nhu cầu cá nhân của họ Với mục đích này, giai đoạn 2007 – 2012, số lượt người được hưởng chế độ ốm đau được thể hiện cụ thể qua bảng sau:

Trang 31

Về điều kiện hưởng chế độ ốm đau – Điều 22 Luật BHXH:

Điều 22 Luật BHXH không quy định thời gian đóng BHXH tối thiểu đối với đối tượng hưởng chế độ ốm đau mắc các bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày Vì vậy, có thể dẫn tới những trường hợp lạm dụng chính sách,

đó là khi mà một người bị mắc các bệnh cần điều trị dài ngày, người đó sẽ tìm cách để tham gia BHXH để được hưởng chế độ ốm đau Khi đó nguyên tắc hưởng trên cơ sở mức đóng không được thực hiện, quỹ BHXH sẽ bị thiệt hại

Trang 32

Khoản 2 Điều 22 Luật BHXH quy định đối với trường hợp con bị ốm như sau: “Có con dưới bảy tuổi bị ốm đau, phải nghỉ việc để chăm sóc con và có xác nhận của cơ sở y tế” Như vậy, khi NLĐ có con cái bị ốm đau, thì ngoài việc có xác nhận của có sở y tế thì NLĐ phải nghỉ việc mới được hưởng chế độ này Tôi nhận thấy, quy định NLĐ phải nghỉ việc chăm sóc con là điều kiện để hưởng chế độ vẫn chưa hợp lý và không công bằng Bởi lẽ, trong trường hợp vì hoàn cảnh công việc mà NLĐ không thể nghỉ việc, mà phải thuê người chăm sóc con

ốm, thì họ vẫn có quyền được hưởng chế độ ốm đau sau những đóng góp vào quỹ BHXH

Về thời gian hưởng chế độ ốm đau – Điều 23 Luật BHXH:

Khoản 1, Điều 23 Luật BHXH quy định về thời gian nghỉ ốm đau đối với các lao động mắc các bệnh thông thường còn mang tính bình quân, không đảm bảo sự công bằng đối với những lao động đã có thời gian đóng BHXH lâu năm Việc phân chia khoảng cách thời gian khá dài tạo sự bất hợp lý đối với những người có thời gian tham gia BHXH khác nhau Cụ thể, thời gian hưởng chế độ

ốm đau tối đa trong 1 năm là: 30 ngày khi tham gia BHXH dưới 15 năm, 40 ngày khi tham gia BHXH từ 15 năm đến dưới 30 năm, 60 ngày khi tham gia BHXH trên 30 năm

Khoản 2, Điều 23 Luật BHXH không quy định giới hạn thời gian tối đa được hưởng chế độ ốm đau khi mắc các bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày cũng không hợp lý Như xét trường hợp NLĐ bị bệnh viêm gan B mạn tính (bệnh nằm trong Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày), sẽ phải gắn bó với căn bệnh này suốt cuộc đời, người này có thể tìm cách để tham gia BHXH để được hưởng chế độ ốm đau Như vậy nếu không giới hạn thời gian được hưởng chế độ ốm đau thì thật không công bằng giữa những người tham gia BHXH và

có thể làm mất cân đối quỹ BHXH ngắn hạn Hơn nữa, quy định này cũng không tương quan với một số quy định khác của Pháp luật, như chế độ hưu trí

và Luật Lao động Cụ thể, để hưởng chế độ hưu trí, NLĐ phải đóng 20 năm BHXH thì mới được hưởng 55% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH Hay như điểm b khoản 1 Điều 38 Bộ Luật Lao động quy định về quyền đơn phương

Trang 33

chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động khi “Người lao động

bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.” Sự không tương quan này sẽ gây khó khăn cho những người

thực hiện chính sách

Khoản 3, Điều 23 Luật BHXH không giới hạn thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với NLĐ thuộc lực lượng vũ trang, mà quy định thời gian hưởng chế độ tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân cho thấy quy định này chưa đảm bảo sự công bằng giữa những người lao động khi quy định trong cùng một luật để điều chỉnh Tuy nhiên, do tính đặc thù của lực lượng vũ trang thì cần nghiên cứu điều chỉnh quy định cho phù hợp

và đảm bảo có giới hạn thời gian hưởng chế độ ốm đau cho đối tượng đặc thù này

Mức hưởng chế độ ốm đau – Điều 25 Luật BHXH:

Khoản 3, Điều 25 Luật BHXH quy định đối với lao động thuộc lực lượng

vũ trang được hưởng mức trợ cấp ốm đau bằng 100% tiền lương tháng đóng BHXH, mức hưởng này cao hơn những lao động khác trong khi có cùng tỷ lệ đóng vào quỹ ốm đau và thai sản (khoản 1 Điều 92 Luật BHXH) Quỹ BHXH là

do NLĐ cùng đóng góp và hưởng các chế độ dựa trên mức đóng trước đó của NLĐ vào quỹ BHXH Trường hợp lao động đặc thù là lực lượng vũ trang cần có chế độ đãi ngộ tốt hơn từ nhà nước, thì nhà nước phải chi khoản tiền này, chứ

không thể san sẻ từ tiền đóng góp vào quỹ BHXH của những lao động khác

Khoản 4, Điều 25 Luật BHXH quy định mức hưởng chế độ ốm đau đối với NLĐ mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày, cho thời gian vượt quá 180 ngày trong năm, nếu thấp hơn mức lương tối thiểu chung thì được tính bằng mức lương tối thiểu chung Quy định như vậy là chưa hợp lý và chưa thống nhất với các trường hợp khác, cụ thể như sau: theo quy định tại khoản 1

Trang 34

Điều 25 NLĐ hưởng chế độ ốm đau khi mắc bệnh thuộc danh mục các bệnh cần chữa trị dài ngày, trong 180 ngày NLĐ hưởng bằng 75% mức tiền lương đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc, nên nhiều trường hợp NLĐ hưởng thấp hơn mức lương tối thiểu chung (ví dụ khi NLĐ có mức tiền lương đóng BHXH bằng mức lương tối thiểu chung), nhưng không được điều chỉnh lên, sau

đó mức trợ cấp sau 180 ngày lại cao hơn mức trợ cấp trong 180 ngày

- Công thức tính mức hưởng chế độ ốm đau theo thông tư số BLĐTBXH:

03/2007/TT-Mức hưởng chế độ ốm đau = Tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề trước khi nghỉ việc/26 ngày x Tỷ lệ hưởng chế độ ốm đau * Số ngày nghỉ việc được hưởng chế độ ốm đau (Điểm 1 mục I phần B thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH)

Như vậy, mẫu số chung cho công thức trên là 26 ngày, tức là có số ngày làm việc trong tuần là 6, tuy nhiên hiện nay các đơn vị sự nghiệp có số ngày làm việc trong tuần chỉ là 5 ngày và các doanh nghiệp tư nhân cũng đang có xu hướng làm việc 5 hoặc 5,5 ngày một tuần Vì vậy cách tính trên không hợp lý đối với các đối tượng làm việc ít hơn 26 ngày/tháng

2.1.2 Chế độ thai sản

Hầu hết phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng đều phải trải qua giai đoạn mang thai, sinh con và chăm sóc con cái Ngoài việc tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ thì lao động nữ còn phải thực hiện thiên chức làm mẹ Việc này làm cho quá trình lao động của họ bị giãn đoạn, đồng thời ảnh hưởng đến thu nhập và sức khỏe Vì vậy, Nhà nước rất coi trọng đến các chế độ trợ cấp thai sản của người lao động để họ nhanh chóng phục hồi sức khỏe, dễ dàng hòa nhập với các hoạt động xã hội và yên tâm hơn trong cuộc sống

Chế độ thai sản gồm 11 điều, từ Điều 27 đến Điều 37 Luật BHXH Một số quy định được hướng dẫn cụ thể từ Điều 13 đến Điều 17 Nghị định số 152/2006/NĐ-CP của 22/12/2006 của Chính phủ, mục II phần B Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30/1/2007, khoản 3 Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23/9/2008 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và từ

Trang 35

Điều 12 đến Điều 16 Nghị định số 68/2007/NĐ-CP của Chính phủ Đối tượng

áp dụng chế độ thai sản quy định trong luật BHXH là hợp lý và cơ bản đã bao phủ các đối tượng thụ hưởng chế độ này Trong giai đoạn 2007 đến 2013, số lượng người được hưởng chế độ thai sản được thể hiện theo bảng sau:

từ 2007 đến 2013 là 7,93%, có nghĩa là 100 người đóng BXXH thì có trên 7 người được hưởng chế độ thai sản Tuy nhiên, chế độ thai sản vẫn còn bộc lộ một số khuyết điểm cần được chỉnh sửa như sau:

Về điều kiện hưởng chế độ thai sản – Điều 28 Luật BHXH

Điều kiện hưởng chế độ thai sản chưa bao quát được hết các trường hợp cần được thụ hưởng chế độ này Cụ thể là trường hợp lao động nam đóng BHXH, nhưng có vợ không tham gia BHXH mà sinh con Khi một gia đình có thêm một đứa trẻ, thì người làm cha làm mẹ sẽ phải dành thời gian, tiền bạc để chăm lo cho đứa trẻ và đương nhiên vấn đề tài chính của họ sẽ bị ảnh hưởng

Trang 36

Trong khi đó lao động nam này có đóng góp vào quỹ BHXH, mà lại không được thụ hưởng những gì mình đóng góp là không công bằng cho họ Như vậy, cần bổ sung thêm trường hợp lao động nam đóng BHXH có vợ không tham gia BHXH sinh con được hưởng chế độ thai sản.

Cũng theo quy định tại Điều 28 Luật BHXH, để được hưởng chế độ thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con thì lao động nữ phải đóng bảo hiểm xã hội

từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi Đây là một quy định rất hợp lý nhằm hạn chế những đối tượng lợi dụng chính sách BHXH để được thụ hưởng chế độ thai sản Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa nhắc đến trường hợp NLĐ nữ có thời gian đóng BHXH dài nhưng bị bệnh lý, họ phải nghỉ việc để tiến hành chữa trị Những trường hợp như vậy khi sinh con hoặc nhận con nuôi họ sẽ không được hưởng chế độ thai sản vì thời gian tham gia bảo hiểm không liên tục Tuy nhiên so với những lao động mới chỉ tham gia BHXH đủ 6 tháng trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận con nuôi thì đóng góp của họ vào quỹ BHXH còn nhiều hơn Như vậy họ hoàn toàn có quyền được hưởng chế độ khi sinh con hoặc nhận nuôi con

Quy định về thời gian hưởng chế độ khi khám thai – Điều 29 Luật BHXH:

Khám thai định kỳ là việc làm hết sức cần thiết để kịp thời phát hiện các bệnh tiềm ẩn của thai nhi và thai phụ, những nguy cơ có thể gây ra những tai biến xảy ra khi mang thai và sinh nở

Điều 29 Luật BHXH quy định về số lần nghỉ khám thai giống nhau giữa người mang thai bình thường và người mang thai có bệnh lý và thai không bình thường là không hợp lý Vì những người mang thai có bệnh lý và thai không bình thường phải được bác sỹ chỉ định số lần khám thai cho từng dạng đối

tượng Có như vậy sức khỏe của người mang thai và thai nhi mới được đảm bảo

Quy định về thời gian hưởng chế độ khi sinh con – Điều 31 Luật BHXH:

Trang 37

Điều 31 Luật BHXH chưa có quy định về trường hợp người chồng được nghỉ với một thời gian nhất định khi người vợ sinh con Điều này thể hiện trách nhiệm của người chồng đối với việc sinh con của người người vợ và vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực này Bình đẳng giới ở đây không có nghĩa là tăng thời gian hưởng chế độ cho lao động nữ, mà là lao động nam cũng phải có thời gian nghỉ làm để chăm con, san sẻ công việc với người phụ nữ Đây không chỉ là yêu cầu của lao động nữ sinh con mà còn là nguyện vọng của lao động nam nhằm chia sẻ trách nhiệm, chăm sóc sức khoẻ người mẹ và trẻ sơ sinh Điều này được chứng minh qua khảo sát của Vụ Bảo hiểm xã hội (Bộ Lao động - Thương binh

và Xã hội) với câu hỏi người chồng được nghỉ việc khi người vợ sinh con, có 3 phương án được đề xuất là 01 tuần, 02 tuần và ý kiến khác Kết quả cho thấy 58% NSDLĐ, 21% NLĐ và 50% cơ quan BHXH được hỏi đồng ý với phương

án đề xuất thời gian nghỉ là 01 tuần, 25% NSDLĐ, 62% NLĐ và 46% cơ quan BHXH được hỏi đồng ý với phương án 02 tuần 6

Tham khảo bảng sau để thấy được quy định về thời gian hưởng chế độ thai sản của một số nước trên thế giới:

Bảng 2.3: Bảng tổng hợp quy định thời gian hưởng chế độ thai sản một số

nước trên thế giới 7

S

TT Quốc gia

Thời gian nghỉ thai sản

Nguồn Wikipedia

1 Phillipine 60 ngày (nếu sinh thường)

Trang 38

Italia và 3 tháng sau ngày dự sinh)

tuần sau ngày dự sinh)

52 tuần nghỉ tối đa, gồm 18 tuần bắt buộc nghỉ (4 tuần trước và 14 tuần sau ngày dự sinh)

Từ tuần thứ 14 sau ngày sinh, 32 tuần còn lại tùy bố và mẹ có thể chia sẻ cho nhau

16 tuần (nếu sinh 1 con)

Thêm 2 tuần cho thêm mỗi con (trường hợp sinh đôi trở lên)

13 ngày Thêm 2 ngày cho thêm mỗi con (trường hợp sinh đôi trở lên)

người bố chọn)

16 tuần (nếu sinh 1 con)

Thêm 2 tuần nghỉ cho thêm mỗi con (trường hợp sinh đôi trở lên)

14 ngày (sau ngày con sinh hoặc sau ngày mẹ

đi làm lại)

9 Bỉ 15 tuần (nếu sinh 1 con) 19 tuần (nếu sinh đôi trở lên) 10 ngày (3 ngày bắt buộc)

10 Bulgaria 410 ngày (thời gian nghỉ tối

đa)

Mẹ có thể chia

sẻ thời gian nghỉ của mẹ cho bố

Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con – Điều 34 Luật BHXH:

Quy định mức trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con bằng nhau đối với mọi đối tượng được hưởng, không phụ thuộc vào mức tiền lương của họ Quy định này là hợp lý vì đây là khoản trợ cấp để hỗ trợ NLĐ mua những vật dụng thiết yếu nhất khi đứa trẻ ra đời, hoặc được nhận nuôi Tuy nhiên, trường hợp người phụ nữ sinh con không tham gia BHXH nhưng có chồng tham gia BHXH không được nhắc đến, như vậy là thiếu công bằng đối với họ

Trang 39

2.1.3 Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

TNLĐ và BNN là những nguy cơ mà NLĐ có thể mắc phải trong hoạt động sản xuất kinh doanh Nhất là trong quá trình công nghiệp hóa, nhiều ngành nghề khác nhau phát triển thì những rủi ro này lại càng dễ gặp phải Khi đó NLĐ không những bị tổn hại về sức khỏe mà còn bị giãn đoạn thu nhập khi sức lao động giảm hoặc phải điều trị trong các cơ sở y tế

Chế độ TNLĐ và BNN được quy định trong luật BHXH gồm 11 điều, từ Điều 38 đến Điều 48 Chế độ TNLĐ và BNN do quỹ BHXH chi trả, những phí tổn trong quá trình NLĐ điều trị do TNLĐ và BNN trước khi có kết luận của hội đồng giám định y khoa do NSDLD chi trả Các quy định liên quan đến các khoản mang tính chất bồi thường cho NLĐ bị TNLĐ và BNN được quy định trong Bộ luật Lao động Một số quy định đã được cụ thể hóa tại mục III Nghị định số 152/2006/NĐ-CP của 22/12/2006 của Chính phủ, Nghị định số 68/2007/ND-CP và Thông tư số 92/2008/TT-BLDTBXH ngày 23/9/2008 của

Bộ Lao động Thương binh và Xã hội

Nhìn chung các quy định về chế độ TNLĐ và BNN đã bao phủ được đầy

đủ các trường hợp tai nạn lao động liên quan tới công việc và bệnh nghề nghiệp khi lao động trong môi trường có yếu tố độc hại và mắc phải một số bệnh được quy định trong danh mục bệnh nghề nghiệp của Nhà nước, với các quy định cụ thể về mức suy giảm khả năng lao động Theo đó, trong những năm từ 2007 đến

2012, số người được giải quyết chế độ TNLĐ và BNN được thống kê theo bảng dưới đây:

Trang 40

Về điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động – Điều 39 Luật BHXH:

Chưa có quy định chi tiết về những trường hợp tai nạn rủi ro nào không được coi là tai nạn lao động Ví dụ: tai nạn do tự ý làm những công việc không phải công việc chính được giao, đùa nghịch, đánh nhau trong lúc làm việc dẫn tới tai nạn cho dù tai nạn đó xảy ra ở nơi làm việc, trong giờ làm việc

Những trường hợp tai nạn giao thông trên tuyến đường từ nhà đến nơi làm việc và từ nơi làm việc về nhà do những nguyên nhân như vi phạm luật giao thông, trên đường đi và về còn ghé qua chợ, thăm bạn bè, hoặc chơi la cà trên đường dẫn tới tai nạn…Do chưa có những quy định cụ thể, nên việc xác định về địa điểm, thời gian bị tai nạn lao động rất khó khăn để giải quyết hưởng trợ cấp tai nạn lao động và sự không chặt chẽ trong quy định này cũng cũng khiến chế

độ TNLĐ và BHH dễ bị lạm dụng khi có sự giả mạo bị tai nạn lao động

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Mỗi nước thành viên phải đưa ra định nghĩa về “tai nạn lao động” trong đó nêu các điều kiện để tai nạn giao thông được coi là tai nạn lao động” [21, Điều 3], do đó cần phải đưa ra những quy định rõ ràng về đặc trưng của tai nạn lao động và cần loại trừ những trường

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w