1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm 2001 đến năm 2010. : Luận văn ThS. Lịch sử: 60 22 56

125 27 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN CT: Chỉ thị CTr: Chương trình HĐND: Hội đồng nhân dân FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài GD

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



PHẠM MẠNH THẮNG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI -2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



PHẠM MẠNH THẮNG

ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Mã số: 60 22 56

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Hồng

HÀ NỘI -2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Hoàng Hồng Các nội dung nghiên cứu

và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứcông trình nghiên cứu nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác, vàcũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình

Hà Nội, ngày 20 tháng 01 năm

2014

Người cam đoan

Phạm Mạnh Thắng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

1.Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài 4

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn 10

7 Bố cục của luận văn 10

CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TP HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THU HÚT VỐN FDI VÀO TP HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2001– 2005 1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội và thực trạng thu hút vốn FDI của TP Hồ Chí Minh trước năm 2001 11

1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của TP Hồ Chí Minh 11

1.1.2 Khái quát lý luận về FDI và thực trạng thu hút vốn FDI của TP Hồ Chí Minh trước năm 2001 16

1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI giai đoạn 2001 – 2005 28

1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thu hút vốn FDI 28

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI giai đoạn 2001 - 2005 32

1.3 Qúa trình thực hiện thu hút vốn FDI của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2005 37

1.3.1 Xây dựng kế hoạch thu hút vốn FDI 37

1.3.2 Ban hành các chính sách ưu đãi 38

1.3.3 Cải tiến thủ tục hành chính 42

Trang 5

1.3.4 Kết quả thu hút vốn FDI vào TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2001- 2005

Tiểu kết 50

CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TP HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC THU HÚT VỐN FDI VÀO TP HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2010 52

2.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI giai đoạn 2006 - 2010 52

2.1.1 Yêu cầu mới đối với công tác thu hút vốn FDI ở TP Hồ Chí Minh.52 2.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI giai đoạn 2006 – 2010 56

2.2 Quá trình thực hiện đẩy mạnh thu hút vốn FDI của TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 – 2010 66

2.2.1 Xây dựng kế hoạch thu hút vốn FDI 66

2.2.2 Tăng cường xúc tiến đầu tư để đẩy mạnh thu hút vốn FDI 70

2.2.3 Tạo môi trường thuận lợi để thu hút mạnh mẽ vốn FDI 71

2.2.4 Kết quả thực hiện 73

Tiểu kết 78

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 80

3.1 Một số nhận xét 80

3.1.1 Ưu điểm 80

3.1.2 Hạn chế 90

3.2 Một số bài học kinh nghiệm 94

Tiểu kết 103

KẾT LUẬN 105

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội các nước Đông Nam Á AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN CT: Chỉ thị

CTr: Chương trình

HĐND: Hội đồng nhân dân

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP: Tổng sản phẩm trong nước

KCX: Khu chế xuất

KCN: Khu công nghiệp

NQ: Nghị quyết

ODA: Viện trợ phát triển chính thức

R&D: Nghiên cứu và Phát triển

QĐ: Quyết định

TP.Hồ Chí Minh: Thành phố Hồ Chí Minh

UBND: Ủy ban nhân dân

WTO: Tổ chức Thương mại thế giới

Trang 7

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết và lí do chọn đề tài

TP Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế vào loại lớn nhất nước ta Với lịch sử hình thành còn khá non trẻ so với Hà Nội và Huế, nhưng với những điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi nên TP Hồ Chí Minh từng được

mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” TP Hồ Chí Minh đã sớm trở thành

một trong những trung tâm kinh tế sớm nhất nước và khu vực Đông Nam

Á

Trong giai đoạn đổi mới, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của những ngành công nghiệp hàng đầu, với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng,

TP Hồ Chí Minh đã tạo nên sự phát triển kinh tế vượt bậc Hiện nay, TP

Hồ Chí Minh đã trở thành một thành phố năng động, nhiều tiềm năng phát triển và vươn lên trở thành một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội lớn nhất nước ta

Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng

và vượt trội, mỗi quốc gia đều có những mối liên hệ và phụ thuộc với các quốc gia khác Sự gắn bó giữa các quốc gia được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau Một trong các hình thức đó có sự luân chuyển vốn đầu tư giữa các nước (FDI)

Đối với Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng, FDI có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tạo động lực phát triển kinh tế -

xã hội, đặc biệt tạora nguồn lực bổ sung vốn, công nghệ, thị trường Nguồn vốn này góp phần vào quá trình giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ phát triển của đất nước Tiếp tục cải thiện môi trường đầu

tư và tăng cường thu hút vốn FDI là chủ trương chiến lược đã được khẳng định trong nhiều văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung và của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh nói riêng

Trang 8

Nắm bắt được tầm quan trọng cũng như tính tất yếu phải thu hút vốn FDI vào phát triển kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng bộ TP Hồ Chí Minh đã đề ra nhiều chủ trương chính sách nhằm mục đích thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Với nhiều biện pháp tổ chức thực hiện, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố đã có những bước vượt trội, số dự án đầu tư và số vốn đăng kí đầu tư vào thành phố đã tăng lên đáng kể Với những kết quả đạt được, có thể nói, các cấp

bộ đảng, tổ chức chính quyền đã làm tốt vai trò của mình dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh

Xuất phát từ những yêu cầu đó, người nghiên cứu lựa chọn đề tài “Đảng

bộ TP Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ,

Chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xoay quanh đề tài này, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận văn, luận án, các bài nghiên cứu, bài báo, tạp chí tập trung tìm hiểu về vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào phát triển kinh tế ở Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng trong công cuộc công nghiệp hóa –hiện đại hóa Tác giả có thể kể đến một vài công trình liên quan như:

 Một là: Các tác phẩm, bài nghiên cứu về vấn đề này:

Có thể kể đến các cuốn sách như: Lê Xuân Bá (2006), Tác động của FDI tới tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, Nxb KHKT Hà Nội; Mai Ngọc Cường (2000), Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội; Phùng Xuân Nhạ (2000), Đầu tư trực tiếp nước ngoài phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa –Kinh nghiệm đối với Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội, Các tác giả đã đi

Trang 9

vào nghiên cứu lý thuyết về vốn FDI và những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của dòng vốn FDI đối với nền kinh tế Ngoài ra, các tác giả cũng trình bày những giải pháp về cơ chế, chính sách để thu hút các dòng vốn FDI vào phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngoài ra, có thể kể đến một số bài báo, tạp chí như : Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng thuận lợi của Phan Minh , Tạp chí Công nghiệp Việt Nam số 1/ 2002; Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu

tư nước ngoài ở Việt Nam của Vũ Trọng Lâm, Tạp chí Thương mại, số 35/2003; Phùng Văn với bài “Nguồn lực cho phát triển 20 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại TP Hồ Chí Minh”, Thời báo kinh tế Việt Nam (Số 154

ngày 29/6/2009), Các tác giả đã chỉ ra những thuận lợi và hạn chế thu hút vốn FDI vào nước ta, đánh giá thực trạng dòng vốn này chảy vào Việt Nam sau 20 năm thực hiện Luật Đầu tư

Hai là, các luận án, luận văn, các đề tài nghiên cứu khoa học

Luận án PTS chuyên ngành kinh tế “ Hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý Nhà nước về hoạt động FDI tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Chí Dũng

Tác giả đã trình bày những hướng hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý Nhà nước về hoạt động thu hút vốn FDI tại Việt Nam giai đoạn 1988-1996

Luận án TS chuyên ngành kinh tế“ Những phải pháp nâng cao hiệu quả vốn FDI trong quá trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa đất nước “ của

Hoàng Thị Kim Thanh Tác giả đã phân tích thực trạng và hiệu quả của vốn FDI trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm cải tạo môi trường kinh doanh, cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước

Đề tài cấp Nhà nước “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, vị trí vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của PGS.TSKH Nguyễn Bích Đạt đã làm rõ mối quan hệ giữa

Trang 10

khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài với các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Luận án TS chuyên ngành kinh tế “ Các giải pháp tài chính nhằm tăng cường thu hút và quản lý FDI tại Việt Nam giai đoạn 2001 -2010” của tác

giả Lê Công Toàn đã trình bày một cách khái quát đánh giá hệ thống việc

sử dụng các giải pháp trong việc thu hút và sử dụng FDI tại Việt Nam trong giai đoạn 1988 -2000 và những kiến nghị của tác giả về các giải pháp năm

Luận văn thạc sĩ “Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển các ngành và các lĩnh vực của thành phố Hồ Chí Minh”

của tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương đã đánh giá những tác động tích cực

và tiêu cực từ quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với các ngành và lĩnh vực tại TP Hồ Chí Minh

Trang 11

Từ những khái quát trên, có thể thấy, cho đến nay đề tài nghiên cứu về FDI được nhiều người quan tâm Trong những đề tài nghiên cứu đó, dù ít hay nhiều, các tác giả đã đưa ra những vấn đề lí luận cơ bản của dòng vốn FDI tại Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng Các tác giả đã

đi sâu vào nghiên cứu hiệu quả của dòng vốn FDI nói chung đối với Việt Nam hay một số địa phương cụ thể Nhưng chưa có một đề tài nào nghiên

cứu đến “Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hay Đảng bộ TP Hồ Chí Minh” đối với công tác thu hút vốn FDI tại Việt Nam hay TP Hồ Chí

Minh Như vậy, chưa có một công trình nghiên cứu, sách tham khảo hay

luận văn, luận án nào trùng với đề tài “Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) từ năm 2001 đến năm 2010” như đề tài mà người nghiên cứu lựa chọn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm sáng tỏ chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện công tác thu hút vốn FDI của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh từ năm 2001 đến năm 2010; Khẳng định ưu điểm, hạn chế và từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích những yếu tố tác động đến công tác thu hút vốn FDI ở TP

Trang 12

- Đánh giá những thành công, hạn chế và phân tích một số bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh với công tác thu hút vốn FDI

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về công tác thu hút vốn FDI

- Các hoạt động nhằm thu hút vốn FDI ở TP Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về công tác thu hút vốn FDI bao gồm các vấn đề: Đường lối chung của Đảng và chủ trương của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về công tác thu hút vốn FDI; quá trình tổ chức thực hiện thu hút vốn FDI của TP Hồ Chí Minh

- Địa bàn nghiên cứu: TP Hồ Chí Minh

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2001 đến 2010

5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng qua các kì Đại hội về thu hút vốn FDI trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Văn kiện của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh, các cấp bộ Đảng và chính quyền TP Hồ Chí Minh trong việc thu hút vốn FDI vào TP Hồ Chí Minh

- Các bài báo, bài tạp chí, các cuốn sách, công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án liên quan đến thu hút vốn FDI trong cả nước nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng

- Các số liệu thống kê về kinh tế TP Hồ Chí Minh trong giai đoạn nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

Sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp logic

- Phương pháp lịch sử trình bày một cách hệ thống khoa học quá trình lãnh đạo công tác thu hút vốn FDI của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh

- Phương pháp logic nhằm khái quát hóa những nội dung chính và đánh giá thành tựu và hạn chế, rút ra một số bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo công tác thu hút vốn FDI của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh

- Phương pháp thống kê, phân tích nhằm xử lý số liệu, lập các bảng biểu và đánh giá một số vấn đề qua các dữ liệu của bảng biểu

6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn

- Cung cấp hệ thống các chủ trương, biện pháp của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI trong 10 năm (2001-2010)

- Khẳng định thành tựu, hạn chế; rút ra một số bài học kinh nghiệm góp phần làm tốt hơn công tác thu hút vốn FDI ở TP Hồ Chí Minh

- Cung cấp tài liệu tham khảo cho lĩnh vực thu hút vốn FDI ở Việt Nam

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm có 3 chương

Chương 1 Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lãnh đạo công tác thu hút vốn FDI giai đoạn 2001 – 2005

Chương 2 Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lãnh đạo đẩy mạnh công tác thu hút vốn FDI giai đoạn 2006 – 2010

Chương 3 Một số nhận xét và bài học kinh nghiệm

Trang 14

CHƯƠNG 1: ĐẢNG BỘ TP HỒ CHÍ MINH LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC THU HÚT VỐN FDI GIAI ĐOẠN 2001 – 2005

1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội và thực trạng thu hút vốn FDI của TP Hồ Chí Minh trước năm 2001

1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của bất kì địa phương nào cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của tất cả các nhà đầu

tư Các nhân tố này không chủ tác động đến quy mô mà còn quy định một

số đặc điểm của hoạt động đầu tư tại các địa phương Vì vậy, nghiên cứu

cơ sở thực tiễn tại địa phương để Đảng bộ TP.Hồ Chí Minh hoạch định đường lối thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là một điều cần thiết

 Khái quát điều kiện tự nhiên của TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông, phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông và đông bắc giáp tỉnh Đồng Nai, đông nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tây và tây nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền nam Việt Nam, TP Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách cách bờ Biển Đông 50 km theo đường chim bay Với vị trí địa lý thuận lợi như vậy, TP Hồ Chí Minh là hạt nhân trong vùng kinh

tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm đối với vùng Nam Bộ

TP Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt Địa hình TP Hồ Chí Minh tương đối bằng phẳng, có độ dốc nhỏ theo hướng tây bắc – đông nam, thuận tiện cho việc di chuyển Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, TP Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch đa dạng tạo điều kiện thuận lợi về việc di chuyển và khai thác các loại hình du lịch đối với các nhà đầu tư [ 46; tr 9]

Trang 15

 Khái quát điều kiện kinh tế - xã hội

Về cơ sở hạ tầng: Là một trong hai trung tâm truyền thông của cả nước,

TP Hồ Chí Minh hiện nay có 38 đơn vị báo chí và 113 nhà xuất bản Với

hệ thống thông tin liên lạc rất phát triển với nhiều mạng điện thoại ra đời như mobiphone, vinaphone, viettel, tạo nên mạng lưới thông tin rộng khắp với giá cả hợp lý và chất lượng tốt đã đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng khi sử dụng dịch vụ Dịch vụ bưu điện và đường truyền internet phát triển rộng khắp đã đáp ứng đươc nhu cầu trao đổi thông tin và kết nối bạn bè trong và ngoài nước

Hệ thống giao thông đô thị của TP Hồ Chí Minh cũng phát triển mạnh

mẽ bao gồm: hệ thống giao thông đường bộ với nhiều trục đường lớn tỏa ra nhiều hướng trong thành phố, một số tuyến đường hiện đại có ý nghĩa to lớn với sự phát triển của TP Hồ Chí Minh nói riêng cũng như khu vực phía Nam nói chung như đại lộ Nguyễn Văn Linh, cao tốc TP Hồ Chí Minh – Trung Lương và hệ thống đường nối với trục đường xuyên Á Còn về đường sắt, thành phố chính là điểm cuối của tuyến đường sắt Bắc –Nam, với các nhà ga chuyên dụng cho vận tải hàng hóa và hành khách Hệ thống đường hàng không với cảng hàng không Tân Sơn Nhất là một trong những cảng hàng không lớn của cả nước cùng với hệ thống giao thông đường thủy với cảng Sài Gòn có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế Với 8 cảng biển và 4 cảng đường sông bao gồm 31 cầu cảng biển và 7 cầu cảng đường sông trong đó có nhiều cảng lớn như Cảng Sài Gòn, cảng Tân Thuận, Tân Cảng, thuận lợi cho việc xuất khẩu hàng hóa trực tiếp của thành phố cũng như đầu mối trung chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu của các tỉnh lân cận Giao thông thuận lợi là một trong những điều giúp TP Hồ Chí Minh thu hút được nhiều những nhà đầu tư đến đầu tư làm

ăn và quyết định mở hầu bao đầu tư vào các ngành ưu tiên của thành phố [45; tr 21]

Về các khu công nghiệp, khu chế xuất: Hiện nay, TP Hồ Chí Minh có tất

cả 13 KCN và KCX đi vào hoạt động Trong đó phải kể đến như : KCX

Trang 16

Linh Trung (Thủ Đức), KCX Tân Thuận (Quận 7), KCN Tân Tạo (Bình Chánh), KCN Hiệp Phước ( Nhà Bè), KCN Bình Chiểu (Thủ Đức), KCN Cát Lái 4 (Quận 2), KCN Vĩnh Lộc (Bình Chánh), KCN Lê Minh Xuân (Bình Chánh), KCN Tân Thới Hiệp (Quận 12), KCN Tân Bình (Tân Bình), KCN Tây Bắc Củ Chi (Củ Chi), KCN Phong Phú ( Bình Chánh), KCN Tân Phú Trung (Tân Phú) [ 68]

Về dân số: TP Hồ Chí Minh là địa phương có dân số đông nhất cả nước

Theo Cục Thống Kê TP Hồ Chí Minh tính đến năm 2005 là 6.239.398 người với mật độ 2.980 người/ km2, Theo số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê ngày 1/4/2010, dân số thành phố là 7.382.287 người , Theo số liệu của Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh, dân số thành phố vào giữa năm

2010 là 7.396.446 người, mật độ 3.531 người/km2[ 47; tr 9]

Về giáo dục và đào tạo: Trong năm học 2008–2009, toàn thành phố có

638 cơ sở giáo dục mầm non, 467 trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III Ngoài ra, theo con số từ 1994, TP

Hồ Chí Minh còn có 20 trung tâm xóa mù chữ, 139 trung tâm tin học, ngoại ngữ và 12 cơ sở giáo dục đặc biệt Tổng cộng 1.308 cơ sở giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, còn lại là các cơ sở dân lập,

tư thục Hệ thống các trường từ bậc mầm non tới trung học trải đều khắp thành phố Trong khi đó, những cơ sở xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tập trung chủ yếu vào bốn huyện ngoại thành Củ Chi, Bình Chánh, Nhà

Bè, Cần Giờ Các trường ngoại ngữ ở TP Hồ Chí Minh không chỉ giảng dạy những ngôn ngữ phổ biến mà còn một trường dạyquốc tế ngữ, một trường dạy Hán Nôm, bốn trường dạy tiếng Việt cho người nước ngoài TP

Hồ Chí Minh hiện nay cũng có 40 trường quốc tế do các lãnh sự quán, công

ty giáo dục đầu tư Giáo dục bậc đại học, trên địa bàn thành phố có trên 80 trường, đa số do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, trong đó chỉ có 2 trường

Trang 17

đại học công lập (Trường đại học Sài Gòn và Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch) do thành phố quản lý Là thành phố lớn nhất Việt Nam,

TP Hồ Chí Minh cũng là trung tâm giáo dục bậc đại học lớn bậc nhất, cùng với Hà Nội Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh với 6 trường đại học thành viên Nhiều đại học lớn khác của thành phố như Đại học Kiến trúc, Đại học

Y Dược, Đại học Ngân hàng, Đại học Luật, Đại học Kinh tế đều là các đại học quan trọng của Việt Nam Trong số học sinh, sinh viên đang theo học tại các trường đại học, cao đẳng của thành phố, 40% đến từ các tỉnh khác của quốc gia Đây là một trong những lợi thế quan trọng của TP Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực cao phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế -

xã hội của thành phố

Tình hình phát triển kinh tế nói chung của TP Hồ Chí Minh: Sau hơn

15 năm đổi mới, hiện trạng kinh tế của thành phố cũng ngày càng thay đổi căn bản

Tính ra bình quân 5 năm từ 1996 đến 2000, tốc độ tăng trưởng của TP

Hồ Chí Minh cũng duy trì ở mức 10.2% Như vậy, bình quân mỗi năm tăng trưởng kinh tế của thành phố đạt 11.4% cao hơn cả nước gấp 1.5 lần Nền kinh tế của TP Hồ Chí Minh chủ yếu dựa vào công nghiệp và dịch vụ Giá trị gia tăng khu vực công nghiệp và xây dựng luôn có tốc độ tăng nhanh nhất, bình quân giai đoạn 1996-2000 là 13.2%/ năm, tiếp đến là khu vực dịch vụ với tốc độ tăng giá trị bình quân là 8.5%/ năm Trong cùng giai đoạn, giá trị khu vực nông nghiệp và thủy sản là 1.2%/ năm Tỷ lệ tăng của giai đoạn 1996-2000 khác với giai đoạn 1991-1995 Trong giai đoạn 1991-

1995, tỷ trọng công nghiệp –xây dựng giảm từ 40.6% năm 1991 xuống còn 38.9% năm 1995, còn dịch vụ tăng từ 54.8% năm 1991 lên 57.8% năm

1995 [130, tr 24]

Trang 18

Bảng 1.1 : Cơ cấu GDP theo khu vực kinh tế giai đoạn 1991-2000

Nguồn: Niêm giám Thống kê 2000

Bảng 1.2 : Đóng góp của khu vực kinh tế vào tăng trưởng GDP (%)

Nguồn: Niêm giám Thống kê 2000

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển và hơn 30 năm sau

ngày giải phóng, từ một thành phố với nền kinh tế còn què quặt và yếu kém

Trang 19

đã vươn lên trở thành đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước Đảng và Nhà nước ta

đã xác định việc thúc đẩy phát triển vùng kinh tế trọng điểm phía Nam mà

TP Hồ Chí Minh là hạt nhân Sau ngày giải phóng đến trước khi có Nghị quyết 16 NQ/TW ban hành ngày 10/8/2012, Bộ Chính trị Trung ương Đảng

đã có 2 Nghị quyết quan trọng về TP Hồ Chí Minh vào năm 1982 (khóa V) khẳng định “ Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn, một trung tâm giao dịch quốc tế và du lịch của cả nước Thành phố Hồ Chí Minh có

vị trí chính trị quan trọng sau Thủ đô Hà Nội” Và trong Nghị quyết khóa

IX năm 2002 nhấn mạnh “ Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước

ta, một trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ, đầu mối giao lưu quốc tế,có vị trí chính trị quan trọng của cả nước” [ 82]

1.1.2 Khái quát lý luận về FDI và thực trạng thu hút vốn FDI trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trước năm 2001

Khái quát lý luận về vốn FDI

Trong Luật Đầu tư thì định nghĩa “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư

bỏ vốn đầu tư vào tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [20, tr15]

Trong đó, nguồn vốn FDI là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ

Trang 20

cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư Các chủ đầu tư phải đóng một số vốn tối thiểu hoặc tối đa tùy theo quy định của Luật đầu tư từng nước nơi tiếp nhận vốn

Đặc điểm của Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động chủ yếu của đầu tư quốc tế Qúa trình đầu tư này thì chủ đầu tư trực tiếp tham gia điều hành các dự án

do mình trực tiếp bỏ vốn ra Theo đó, chủ đầu tư phải đóng góp một số vốn tối thiểu trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ tùy thuộc vào quy định của Luật đầu tư của từng nước để giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát doanh nghiệp nhận đầu tư Đối với ở Việt Nam thì lợi nhuận của nhà đầu tư thường được tái đầu tư thì kết quả kinh doanh của phần vốn đó được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp tùy theo từng ngành kinh doanh của chủ đầu tư Hình thức đầu tư đối với các chủ đầu tư thường được thực hiện thông qua xây mới doanh nghiệp, có thể sử dụng các hình thức khác là mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động, mua cổ phiếu để tiến hành thôn tính và sát nhập doanh nghiệp

Quá trình thu hút FDI thường kèm theo đó chính là sự chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư Thông qua các hoạt động FDI thì các nước chủ nhà có thể tiếp nhận các công nghệ, kĩ thuật tiên tiến và quy trình sản xuất sản phẩm, kinh nghiệm quản lý từ các nhà đầu tư nước ngoài [20, tr 27]

Các hình thức của FDI tại Việt Nam

Theo Luật đầu tư nước ngoài quy định có ba hình thức đầu tư trực tiếp

nước ngoài vào Việt Nam: Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do

hai hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài; hoặc do doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước

Trang 21

ngoài hợp tác với các doanh nghiệp khác hoặc chủ đầu tư nước ngoài trên

cơ sở hợp đồng liên doanh Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh

nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại nước ta là pháp nhân Việt Nam được

thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản kí kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành đầu

tư mà không thành lập pháp nhân Nhà đầu tư có thể lựa chọn các hình thức đầu tư mà nhà đầu tư thấy hợp lý Đối với nước ta, có 4 loại hợp đồng hợp tác kinh doanh như: Hợp đồng xây dựng-kinh doanh- chuyển giao (B.O.T); Hợp đồng xây dựng- chuyển giao-kinh doanh (B.T.O); Hợp đồng xây dựng –chuyển giao (B.T); Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC).[ 20; tr 38]

Ngoài các hình thức đầu tư trực tiếp kể trên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, nước ta còn tiếp nhận những hình thức đầu tư khác như lập ra các khu vực ưu đãi đầu tư trong lãnh thổ nước mình như: KCX, KCN tập trung, các đặc khu kinh tế

Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI

Các nhân tố sẽ ảnh hưởng đến hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI của một quốc gia bao gồm:

Thứ nhất, các nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội

Đối với các nhà đầu tư, các nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội là những nhân tố tiên quyết khi các nhà đầu tư bắt tay vào tìm kiếm địa điểm để đi đến đầu tư Khi một địa điểm có nền kinh tế, chính trị và xã hội ổn định và hòa bình, yên ổn để giảm thiểu các rủi ro về khả năng kiểm soát nguồn vốn FDI của các nhà đầu tư Nhà đầu tư nào cũng vậy, họ cần những môi trường đầu tư an toàn và không có những vấn đề bất thường về chính trị hay khủng bố để đồng tiền mà họ bỏ ra an toàn và có thể sinh lợi nhuận cao hơn Còn ngược lại, khi một đất nước mà có những bất ổn về chính trị, kinh

Trang 22

tế chậm và xã hội luôn chứa đựng những yếu tố bất lợi sẽ khiến cho nhà đầu tư dè chừng và cân nhắc Bởi vì, những điều đó không chỉ làm cho nguồn vốn FDI bị chững lại, thu hẹp mà còn làm cho dòng vốn bị chảy ngược ra bên ngoài để tìm đến những địa điểm đầu tư an toàn và hấp dẫn hơn Môi trường đầu tư cần có sự ổn định về tăng trưởng kinh tế, chính trị

ổn định, trật tự xã hội được duy trì và người dân ủng hộ giới lãnh đạo và các nhà đầu tư nước ngoài, những chính sách thu hút và tạo điều kiện sẽ là những điểm thu hút nhà đầu tư không ngại ngần bỏ tiền của mình ra [ 20;

tr 39]

Thứ hai, Hệ thống pháp luật và các cơ chế chính sách thu hút vốn FDI

Hệ thống pháp luật đầu tư là thành phần quan trọng của môi trường đầu

tư, bao gồm các văn bản pháp luật, các văn bản quản lý hoạt động đầu tư: hướng dẫn đầu tư, đánh giá, thẩm định dự án và quản lý các hoạt động đầu

tư Đó là những hành lang pháp lý đồng bộ và thuận lợi nhất cho các hoạt động thu hút vốn FDI Các quy định trong hành lang pháp lý này phải đảm bảo sự an toàn về vốn và cuộc sống và môi trường cạnh tranh cho các nhà đầu tư khi những hoạt động đầu tư của họ không làm phương hại đến an ninh quốc gia Nội dung của hệ thống pháp luật về đầu tư cần một sự đồng

bộ, mang tính chặt chẽ, dễ hiểu và không chồng chéo, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế thì khả năng thu hút nguồn vốn FDI sẽ càng thuận lợi Không chỉ vậy, những cơ chế, chính sách thu hút và sử dụng của nước nhận đầu tư như chính sách thương mại, chính sách tiền tệ, chính sách thuế

và chính sách tín dụng, Những chính sách đó cần giải quyết theo hướng

tự do hóa, đảm bảo khả năng xuất – nhập khẩu các máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất; những vấn đề chống lạm phát và ổn định tăng trưởng kinh tế [20; tr 40]

Thứ ba, những nhân tố vi mô ở các nước sở tại

Trang 23

Một trong những điều sẽ ảnh hưởng đến nhà đầu tư là cần nghiên cứu kĩ

về thị trường của nước nhận đầu tư để đánh giá về quy mô, dung lượng và sức mua của người dân Trình độ người lao động cũng là vấn đề cần cân nhắc Nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có trình độ tay nghề cao và lành nghề Trong những năm gần đây, các nhà đầu tư luôn hướng đến những thị trường đầu tư mà ở đó những người lao động có tay nghề, được đào tạo bài bản – nhưng đó cũng chính là rào cản rất lớn với các nước đang phát triển Ngoài ra, cơ sở hạ tầng của quốc gia mơi tiếp nhận cũng là một trong những yếu tố khiến các nhà đầu tư quyết định khi đầu tư Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những hệ thống giao thông vận tải với sân bay, bến tàu, nhà ga, đường xá, kho bãi và các phương tiện vận tải đảm bảo, hệ thống thông tin liên lạc viễn thông hiện đại, hệ thống điện và nước đầy đủ và tiện lợi Không chỉ vậy, còn có hệ thống dịch vụ đa dạng và chất lượng tốt như y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, quảng cáo, [ 20; tr 41]

 Vai trò của thu hút FDI đối với các quốc gia

Thu hút FDI tạo điều kiện tiếp thu kĩ thuật và công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của nước đầu tư Đầu tư nước ngoài cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước thông qua sự kết hợp tối ưu của các yếu tố sản xuất và sử dụng triệt để các nguồn lực nhàn rỗi Đối với các nước nhận đầu tư, với việc tiếp nhận FDI sẽ mang lại điều kiện thuận lợi để gắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất và phân phối, trao đổi quốc tế, thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của các nước này Đó là vai trò cầu nối và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế rất quan trọng của FDI, một nhân tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa thế giới Đối với nội bộ nước nhận FDI, sự góp mặt của FDI sẽ khiến các doanh nghiệp trong nước thay đổi phương thức sản xuất, quản lý do các doanh nghiệp FDI có lợi thế về vốn, công nghệ do đó các doanh nghiệp trong

Trang 24

nước muốn tồn tại thì bắt buộc phải tìm mọi cách để cạnh tranh với các doanh nghiệp FDI- đây là nguồn động lực lớn thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước tự thay đổi và làm mới mình Thêm nữa, hàng hóa của các doanh nghiệp FDI thường đáp ứng được những tiêu chuẩn quốc tế như vậy

sẽ góp phần đưa hàng hóa trong nước được xuất khẩu ra nước ngoài, tăng năng lực cạnh tranh của nước nhận đầu tư, nâng được vị thế và uy tín của quốc gia nhận đầu tư trên trường quốc tế [ 20; tr 46]

FDI còn giúp thêm nguồn thu ngân sách từ những việc như đóng góp của các loại thuế: giá trị gia tăng, thuế bán hàng nội địa, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và nhập khẩu, các loại phí như phí giám định hàng hóa nhập khẩu, phí kiểm dịch và lệ phí như lệ phí trước bạ, lệ phí cấp phép nhận đăng kí kinh doanh, lệ phí địa chính, lệ phí bảo hộ Đóng góp của vốn FDI vào ngân sách nhà nước góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách để thực hiện giải quyết các mục tiêu quốc gia của nước tiếp nhận FDI

Bên cạnh những mặt tích cực của FDI với sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia nhận đầu tư thì cũng phải đề cập đến những tác động tiêu cực

mà FDI mang lại Hoạt động của FDI sẽ dẫn đến những mặt khó khắc phục như gây mất cân đối trong cơ cấu đầu tư (giữa các ngành trong nền kinh tế hay giữa vốn trong nước và vốn nước ngoài); các doanh nghiệp FDI luôn tìm cách thu được nhiều lợi nhuận cao nhất sẽ khiến họ không quan tâm đến lĩnh vực nào cần ưu tiên của địa phương sẽ gây mất cân đối trong cơ cấu ngành, nội bộ ngành Điều này cũng sẽ khiến cho nền kinh tế phụ thuộc không những vào dòng vốn nước ngoài mà còn phụ thuộc vào các yếu tố như bí quyết kỹ thuật, công nghệ, cung cấp vật tư, nguyên liệu, bao tiêu sản phẩm Nền kinh tế trong nước sẽ mang tính lệ thuộc và thiếu bền vững vì dòng vốn FDI có sự biến động và thường xuyên giảm sút lớn Thêm vào nữa, nhà đầu tư nước ngoài lợi dụng trình độ công nghệ thấp, cách quản lý

Trang 25

của nước nhận đầu tư yếu kém mà thông qua con đường FDI để tiêu thụ những máy móc, thiết bị lạc hậu và khiến cho nước nhận đầu tư sẽ trở thành “bãi thải công nghệ” của các công ty, tập đoàn xuyên quốc gia và gây bất lợi, thiệt hại nặng nề cho nước nhận đầu tư Hình thức FDI còn gây ra những bất lợi về mặt kinh tế -xã hội như tăng chênh lệch về thu nhập, gia tăng phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp nhân dân, tăng sự chênh lệch quá lớn về phát triển giữa các vùng kinh tế, các địa phương Nếu như nước nhận đầu tư không có chính sách nhất quán và quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học thì sẽ dẫn đến đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên môi trường bị khai thác bừa bãi và gây ô nhiễm nghiêm trọng, gây lãng phí và ảnh hưởng đến sản xuất và các khu vực kinh tế khác trong nước nhận đầu

Thực trạng thu hút vốn FDI của TP Hồ Chí Minh trước năm 2001

Nắm bắt được tầm quan trọng của dòng vốn FDI vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Đảng bộ và các cấp chính quyền như Uỷ ban Nhân dân, Hội đồng Nhân dân, Sở Công thương, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư, đã tập trung cao độ, chỉ đạo sát sao, đề

ra nhiều chủ trương, chính sách cụ thể để cải thiện môi trường đầu tư, phát huy lợi thế vị trí địa lý, tích cực thu hút mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận từ một thực trạng rằng, số vốn đầu tư vào những năm trước 2001 không đươc nhiều Trong giai đoạn này lượng vốn FDI đạt kết quả không cao Kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có hiệu lực, các địa phương nói riêng

và TP Hồ Chí Minh nói chung đã thu hút được dòng vốn FDI này nhưng theo từng giai đoạn có những diễn biến khác nhau và không ổn định Từ năm 1988 cho đến 1996, vốn FDI đổ vào TP Hồ Chí Minh liên tục tăng nhanh cả về số vốn đăng ký, số dự án bởi vì các nhà đầu tư đã kì vọng vào

Trang 26

một nền kinh tế mở, có quy mô dân số lớn và thị trường tiêu thụ đầy tiềm năng Thời kỳ 1988-1996 là giai đoạn thăm dò và tăng dần mức độ tăng trưởng Cũng giai đoạn này đã hình thành các KCX, KCN như Tân Thuận, Linh Trung, tạo điều kiện thuận lợi cho những doanh nghiệp FDI hoạt động Giai đoạn này cũng khởi nguồn cho sự hình thành Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng mà giờ đây đã trở thành khu đô thị kiểu mẫu của Việt Nam Tiếp đó, từ năm 1997-2000 là giai đoạn sụt giảm mạnh FDI do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu vực Đông Nam Á 1997-1998 [

131, tr 26]

Trong những năm từ 1991 đến 1995, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đã thu hút được khoảng 15.646,70 triệu USD chiếm 35% cơ cấu tổng các nguồn vốn và đạt 12,62% với GDP

Bảng 1.3 : Dự án đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP Hồ Chí Minh

Trang 27

Giai đoạn 1996-2000, trung bình mỗi năm có khoảng 102,6 dự án đầu tư, chiếm 31,53% trung bình số dự án trên cả nước

Nếu tính đến năm 1999, toàn thành phố có 43 dự án đầu tư nước ngoài được Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp phép hoạt động với tổng vốn là 213,5 triệu USD trong đó vốn pháp định là 98 triệu USD và vốn FDI là 91,5 triệu USD So với cùng kỳ năm 1998 thì vốn FDI đạt 91,4% về đầu tư nước ngoài và tăng 61,25 về vốn đầu tư Vốn bình quân một dự án tại thời điểm năm 1998 là 4,9 triệu USD/ dự án Về đối tác đầu tư thì có 16 đối tác tiêu biểu như: Malaysia có 1 dự án với số vốn 149,3 triệu USD, Hồng Kông có

8 dự án và số vốn FDI là 37,7 triệu USD, Đài Loan có 7 dự án với số vốn FDI là 4,7 triệu USD Chỉ tính riêng trong tháng 10/1999, đầu tư nước ngoài vào thành phố Hồ Chí Minh tăng thêm 9 dự án với tổng số vốn 30,05 triệu USD trong đó có 4 dự án trong KCX với số vốn 26 triệu USD, 3 dự án trong KCN với số vốn 1,95 triệu USD và 2 dự án ngoài 2 khu vực trên với

số vốn 2,1 triệu USD

Đối với các KCN: số vốn FDI và số dự án cũng tăng lên đáng kể như sau:

Bảng 1.4 : Tổng hợp tình hình thu hút vốn FDI vào KCN tại TP Hồ

Chí Minh tính đến năm 1999

STT

KCN

Dự án và vốn FDI

Dự

án

Vốn (Tỷ VNĐ)

Trang 28

Nguồn: Ban quản lý KCN-KCX

Việc thu hút vốn FDI và các dự án FDI không diễn ra đồng đều ở các

KCN, KCX Phần lớn chỉ tập trung vào các KCN, KCX như Tân Bình, Tân

Tạo, Lê Minh Xuân, Vĩnh Lộc Riêng KCN Cát Lái thì chưa thu hút được

vốn FDI và các dự án đầu tư FDI

Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, thực hiện chính sách đa dạng hóa,

đa phương hóa các hoạt động kinh tế đối ngoại, TP Hồ Chí Minh đã thu

hút được các nguồn vốn FDI từ các nhà đầu tư đến từ nhiều quốc gia và

vùng lãnh thổ như Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc

Trang 29

Nếu như phân theo ngành, với mục tiêu phát triển nhanh các khu vực công nghiệp nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng khu vực này nên nguồn vốn FDI cũng tập trung khá lớn

Trang 30

Bảng 1.6: Phân bổ vốn FDI vào các ngành kinh tế của TP Hồ Chí Minh

Ngành kinh tế Số dự án Số vốn FDI

(Nghìn USD)

Trung bình vốn FDI/dự án (nghìn USD)

Tuy nhiên, trong quá trình thu hút vốn FDI vào phát triển kinh tế, chúng

ta cũng cần nhìn nhận những bất cập như: TP Hồ Chí Minh cũng như cả

nước chưa có chiến lược kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn vào đầu

tư vào Danh mục thứ tự ưu tiên của phía địa phương đưa ra đối với các đối

tác mới chỉ đáp ứng yêu cầu trước mắt, chưa thể hiện nhất quán những

chính sách lâu dài của nền kinh tế - xã hội, chưa thể hiện sự cân đối giữa

khả năng và nhu cầu trong nước và bên ngoài đề từng bước chủ động tạo

mục tiêu xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý cho TP Hồ Chí Minh với tư cách

là trung tâm của khu vực vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam Những chủ

trương, chính sách của chính quyền TP Hồ Chí Minh chưa bám sát và sách

Trang 31

lược cho từng quốc gia, tập đoàn công ty để tiến hành lựa chọn đối tác đầu

tư đặc biệt là những nước có những ngành kinh tế mũi nhọn, những công ty

đa quốc gia có thế mạnh về vốn và những công nghệ tiên tiến, hiện đại, kĩ năng quản lý tốt nguồn vốn đầu tư mà họ lại cần những thứ đang có nhiều ưu thế như thị trường, giá lao động, vật tư, nguyên liệu Chính vì vậy, chưa có những chính sách thu hút để chủ động khai thác các đối tượng này Ngoài ra, hệ thống pháp luật, thủ tục hành chính và những chính sách mời gọi các nhà đầu tư nước ngoài còn nhiều hạn chế cũng trở thành những rào cản để các nhà đầu tư lo ngại và cân nhắc khi đổ vốn Do vậy, có thể thấy rằng từ những năm 1988 cho đến năm 2000, địa phương chưa khai thác hết nguồn tiềm năng vốn có để có thể xúc tiến thương mại kêu gọi mạnh mẽ các nhà đầu tư TP Hồ Chí Minh đang cần những chính sách nhất quán, sự chỉ đạo sát sao với tình hình thực tiễn và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành để có thể thu hút tối đa nguồn vốn FDI

Với tất cả những kết quả đạt được cũng như những điểm tồn tại đặt ra yêu cầu cho Đảng bộ, chính quyền TP Hồ Chí Minh cần nhận thức sâu sắc, trên cơ sở đánh giá thực trạng để có chủ trương, giải pháp thích hợp nhằm thu hút vốn FDI để phát triển kinh tế trong những năm tới

1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI giai đoạn 2001 – 2005

1.2.1 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thu hút vốn FDI

Quốc gia nào cũng vậy, muốn thu hút tốt nguồn vốn FDI để phát triển cần có đường lối đúng, chính sách phù hợp, đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy nhanh quá trình thu hút vốn FDI Một quốc gia dù có nhiều điều kiện thuận lợi về điều kiện tự nhiên - xã hội, cơ sở hạ tầng, tuy nhiên nếu hệ thống đường lối, chính sách phát triển thiếu đồng bộ thì cũng không thể biến những tiềm năng thành hiện thực về hiệu quả kinh

Trang 32

tế Nhận thức sâu sắc vấn đề này, Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã dành sự quan tâm cho việc thu hút nguồn vốn FDI vào phát triển kinh tế, đặc biệt kể từ sau công cuộc đổi mới đất nước Chủ trương thu hút vốn FDI là một bộ phận trong tổng thể của đường lối phát triển kinh tế - xã hội của một địa phương hay một quốc gia Chủ trương đó được thể hiện trong các chiến lược phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn hay định hướng phát triển của từng ngành, từng bộ phận

Nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới Việc mở rộng kinh tế đối ngoại nói chung và thu hút và sử dụng vốn FDI nói riêng đang là những yêu cầu cần thiết Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo ra nhiều hàng hóa và dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì điều quan trọng nhất là phải thu hút được các nguồn vốn trong nước cũng như của nước ngoài Trong giai đoạn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định vốn trong nước là quyết định nhưng vốn đầu tư nước ngoài cũng có vai trò hết sức quan trọng Ngay sau ngày thống nhất đất nước, ngày 18.7.1977 Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Điều lệ về đầu tư nước ngoài trong đó có đoạn khẳng định “ Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh việc đầu tư của nước ngoài trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam và hai bên cùng có lợi” Chính sách thu hút vốn FDI vào Việt Nam đã được thực hiện ngay từ khi Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế và được thể chế hóa thông qua ban hành Luật Đầu tư nước ngoài vào tháng 12.1987 Luật Đầu tư nước ngoài cũng được sửa đổi và hoàn thiện vào các năm 1990, 1992 và 1996 và 2000

Chủ trương thu hút vốn FDI của Đảng đã hình thành và phát triển kể từ sau Đổi mới.Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) là Đại hội

Trang 33

đặt nền tảng cho việc giải phóng sức sản xuất, mở đường cho sản xuất phát triển Trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI khẳng định “Công bố chính sách khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức, nhất là đối với các ngành và cơ sở đòi hỏi kỹ thuật cao, làm hàng xuất khẩu Đi đôi với việc công bố luật đầu tư, cần có các chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta

để hợp tác kinh doanh” [ 28; tr 8 ]

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Việc phát triển đất nước đòi hỏi phải thu hút nguồn vốn vào xây dựng đất nước và vấn đề vốn FDI cũng được Đảng ta đề cấp tới “Tranh thủ đầu tư của nước ngoài dưới nhiều hình thức” Tuy nhiên, cũng chủ trương về thu hút vốn FDI vào phát triển kinh tế- xã hội chưa được quan tâm nhiều [ 29] Tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996), Đảng đã xác định: “Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài” đồng thời xác định rõ mục tiêu “Huy động tối đa mọi nguồn lực trong nước, đồng thời thu hút mạnh các nguồn vốn bên ngoài để đưa tỉ lệ đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2000 lên khoảng 30% GDP” và

“huy động mọi nguồn vốn trong và ngoài nước để đầu tư phát triển, trong

đó vốn trong nước có ý nghĩa quyết định, vốn ngoài nước có ý nghĩa quan trọng, kết hợp tiềm năng sức mạnh bên trong với khả năng có thể tranh thủ

ở bên ngoài” [ 30]

Tiếp tục những thành tựu về thu hút vốn FDI vào phát triển kinh tế -xã hội đã đạt được, cùng với những điều kiện mới có thể thuận lợi để góp phần thúc đẩy thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư, chủ trương thu hút vốn FDI

đã được thể hiện rõ nét hơn Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

2001 – 2010 được nêu ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của

Trang 34

Đảng (2001), Đảng đã có chủ trương “Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp chế biến, các ngành công nghệ cao, vật liệu mới, điện tử, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế,

xã hội và các ngành Việt Nam có lợi thế, gắn với công nghiệp hiện đại

và tạo việc làm” và “Tập trung thu hút vốn FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao” [33]Đồng thời, Đảng cũng đề ra các nhiệm vụ để đẩy mạnh công tác thu hút vốn FDI vào Việt Nam nói chung

và các địa phương nói riêng như “Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút tốt hơn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài Nội lực là quyết định, ngoại lực là quan trọng, gắn kết với nhau thành nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nước”, “ Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, hoàn thiện các hình thức đầu tư, nâng cao khả năng cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài Giảm mạnh, tiến tới xoá bỏ sự phân biệt về chính sách và pháp luật giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Cải tiến nhanh các thủ tục hành chính để đơn giản hoá việc cấp phép đầu tư, thực hiện từng bước cơ chế đăng ký đầu tư Chú trọng thu hút đầu tư của các công ty nắm công nghệ nguồn và có thị phần lớn trên thị trường thế giới Tăng cường hỗ trợ và quản lý sau cấp giấy phép, tạo điều kiện cho các

dự án đã được cấp phép triển khai thực hiện có hiệu quả Nâng cao hiệu lực

và hiệu quả quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” [ 31]“Cải thiện môi trường kinh tế

và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài”.[ 31] Những quan điểm chủ trương và nhiệm vụ của Đảng đề ra đã được các cấp bộ ngành thể chế hóa thành các văn bản, chính sách để mời gọi các nhà đầu tư đến đầu tư vào nước

ta

Chủ trương của Đảng về thu hút vốn FDI đã ngày càng hoàn thiện

Trang 35

theo thời gian thể hiện nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về vai trò, vị trí, giá trị nguồn vốn FDI mang lại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của đất nước Từ chủ trương đúng đắn đó, Nhà nước đã đề ra những chính sách, biện pháp cụ thể hóa chủ trương ấy nhằm thu hút mạnh mẽ nguồn vốn FDI đóng góp vào sự phát triển của cả nước

1.2.2 Chủ trương của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh về thu hút vốn FDI giai đoạn 2001 – 2005

Nhìn nhận vai trò quan trọng của vốn FDI với sự phát triển kinh tế -xã hội của TP Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như những vấn đề còn tồn đọng khi thu hút vốn FDI, Đảng bộ TP Hồ Chí Minh đã nhận thấy tính tất yếu khách quan của việc thu hút vốn FDI vào TP Hồ Chí Minh Tuy là địa phương đứng đầu cả nước về sự phát triển kinh tế nhưng TP Hồ Chí Minh vẫn chưa bắt kịp được với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phố lớn trong khu vực và trên thế giới Những thực trạng về kinh tế TP Hồ Chí Minh như: sản phẩm của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố vẫn là sản phẩm thô, các ngành kĩ thuật –công nghệ cao vẫn chưa thực sự chứng minh được thế mạnh của mình và đóng vai trò nòng cốt, các ngành dịch vụ còn chưa được đầu tư đúng mức nên chưa có những sản phẩm dịch vụ cao cấp, công nghệ sản xuất còn nghèo nàn và lạc hậu Đứng trước những vấn đề bất cập đó, TP Hồ Chí Minh cần rất nhiều vốn để cải tạo, nâng cấp cơ sở hạ tầng còn yếu kém và chắp vá của mình, nâng cao và đa dạng hóa sản phẩm cũng như chuyên sâu hơn nữa vào các ngành công nghiệp, dịch vụ yêu cầu hàm lượng chất xám cao, giá trị kinh tế lớn đáp ứng yêu cầu của thành phố để xây dựng TP Hồ Chí Minh thật sự trở thành một trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước tiến tới thành một trung tâm kinh tế năng động phát triển của Việt Nam và khu vực

Để làm được điều đó đòi hỏi cần một nguồn vốn đầu tư lớn để phát triển

Trang 36

kinh tế Trong việc huy động nguồn vốn đầu tư cần thiết để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của TP Hồ Chí Minh để phấn đấu đi trước cả nước và về trước cả nước, Đảng bộ TP Hồ Chí Minh quán triệt phương châm “ Huy động tối đa nguồn lực trong nước và tranh thủ sự hợp tác, hỗ trợ quốc tế” [23] Huy động tối đa nguồn lực trong nước là huy động Ngân sách Nhà nước, là nguồn vốn tư nhân và nguồn tiết kiệm trong dân cư Trong bối cảnh TP Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung, việc huy động nguồn vốn đó còn khá hạn hẹp và đòi hỏi phải có một nguồn vốn từ bên ngoài đáp ứng yêu cầu cấp thiết để phát triển thành phố trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai Một trong những nguồn vốn nước ngoài được chú ý là vốn FDI Bởi vì xét trong tổng thề thì vốn FDI đã bộc

lộ những mặt tích cực của nó và nó đóng vai trò chủ đạo Thu hút vốn FDI nghĩa là không chỉ thu hút vốn mà còn đi kèm với nó là công nghệ, bí quyết kinh doanh, năng lực maketing Hơn nữa FDI không phát sinh nợ cho nước nhận đầu tư mà còn đóng góp vai trò quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế thành phố Với thực tiễn đã chứng minh từ năm 1988 cho đến nay, nguồn vốn FDI đã làm thay đổi bộ mặt của toàn TP Hồ Chí Minh

về tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ hiện đại, gia tăng xuất khẩu, nâng cao chất lượng thị trường lao động mà còn góp phần tạo niềm tin để lôi kéo được những nhà đầu tư chiến lược đến cho các địa phương lân cận và cùng xây dựng vùng kinh tế trọng điểm khu vực phía Nam

Nắm bắt được tầm quan trọng của nguồn vốn FDI và tính tất yếu khách quan thu hút vốn FDI vào phát triển kinh tế -xã hội, Đảng bộ TP Hồ Chí Minh đã đưa ra những quan điểm cụ thể, định hướng cho việc thu hút nguồn vốn FDI vào thành phố nhằm phục vụ cho quá trình phát triển kinh

tế của địa phương Chủ trương thu hút vốn FDI của Đảng bộ TP Hồ Chí

Trang 37

Minh cũng thống nhất với chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về thu hút vốn FDI là chú trọng thu hút vốn FDI và dự án FDI phù hợp với quy hoạch và lợi ích lớn nhất của thành phố

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ TP Hồ Chí Minh khóa VI tại Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ VII, ngày 19 tháng 12 năm 2000 đã khẳng định mục tiêu tổng quát “động viên mọi nguồn lực, phát huy mạnh

mẽ sức sản xuất, tận dụng mọi thời cơ, vượt qua khó khăn thách thức, bảo đảm đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất và bền vững; tạo thế chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế[ 24]” Trong Báo cáo chính trị cũng đề cập đến vấn đề thu hút vốn FDI “tập trung đầu tư bằng nhiều nguồn vốn và nhiều hình thức để có tốc độ tăng trưởng nhanh đối với một số ngành công nghệ cao, như công nghiệp điện tử - viễn thông, ứng dụng công nghệ sinh học Khuyến khích phát triển khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, xem đây

là một bộphận trong cơ cấu kinh tế thành phố, có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và quá trình công nghiệp hoá” [ 24]

Như vậy, trong Đại hội lần thứ VII của Đảng bộ TP Hồ Chí Minh cũng

đã chú trọng hơn một bước về thu hút vốn FDI so với Đại hội lần thứ VI mới chỉ đề cập đến một khía cạnh rất nhỏ của nguồn vốn FDI “ tranh thủ nguồn vốn tín dụng ưu đãi, các nguồn vốn viện trợ gọi vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) trên cơ sở có lợi cho nền kinh tế”.[ 23]

Trong Hội nghị lần 2 khóa VII của Ban chấp hành Đảng bộ TP Hồ Chí Minh đã thông qua Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 Hội nghị

đã ghi nhận những kết quả về thu hút vốn FDI trong năm 2000 “Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn thực hiện 19.701 tỷ đồng, tăng 4,1% so cùng kỳ Trong đó, vốn ngân sách 3.183 tỷ đồng, tăng 50% và đạt 110% kế hoạch; vốn đầu tư của doanh nghiệp dân doanh và dân cư 5.876 tỷ đồng, tăng 15%; vốn doanh nghiệp Nhà nước 5.646 tỷ đồng, tăng 9%; vốn đầu tư

Trang 38

nước ngoài thực hiện (kể cả FDI và ODA) 5.042 tỷ đồng, giảm 21,2% so cùng kỳ Đã thu hút được 187 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài với vốn đăng ký 678,8 triệu USD, tăng 11,6% so năm trước Trong đó, 130 dự

án đầu tư mới với vốn đăng ký 545,5 triệu USD; 57 dự án tăng vốn 133,3 triệu USD Có 34,2% số dự án và 22,7% số vốn đăng ký đầu tư vào các khu công nghiệp và khu chế xuất”[ 24] Hội nghị cũng đánh giá những mặt tích cực trong công tác xúc tiến thu hút số vốn FDI và số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài “ Việc ban hành chính sách khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, cơ chế quản lý đầu tư và xây dựng đã tạo ra khả năng

để huy động và sử dụng tốt hơn các nguồn lực phục vụ cho nhu cầu phát triển của thành phố” [ 24] Kết quả cụ thể: thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng 11,6% so với năm trước”[ 24] Hội nghị cũng chỉ ra nhiệm vụ thu hút được nguồn vốn này trong năm 2001 “thu hút đầu tư mạnh hơn vào các khu chế xuất, khu công nghiệp và di dời các cơ sở sản xuất vào khu công nghiệp Đẩy nhanh tiến độ đầu tư và đưa vào hoạt động Công viên phần mềm Quang Trung ; chuẩn bị đầu tư khu công nghệ cao của thành phố”[ 24] Trong năm 2001, TP Hồ Chí Minh đẩy mạnh việc thu hút nguồn vốn FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất trên thành phố

và đặc biệt là khu công nghệ cao Quang Trung (Quận 12) theo như đề án phát triển các khu công nghệ cao và 12 KCN, KCX

Tại Hội nghị lần thứ 6 khóa VII của Ban chấp hành Đảng bộ TP Hồ Chí Minh được tổ chức vào ngày 8 -11 tháng 1 năm 2002 đã báo cáo tình hình địa phương trong năm 2001 và những kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2002 Với sự chuyển biến tích cực trong năm 2001 “Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài tăng khá nhanh Đến nay trên địa bàn có 1.050

dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 11,1 tỷ USD” thì Hội nghị cũng bàn đến những giải pháp “Thành phố tiếp tục cải

Trang 39

tiến một số nội dung trong cơ chế quản lý đầu tư trong nước và có vốn đầu

tư nước ngoài, tăng cường xúc tiến đầu tư”

Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Đảng bộ TP Hồ Chí Minh (khoá VII)

đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 27 tháng 10 năm 2002 về

“Tiếp tục đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ - thương mại trên địa bàn thành phố đến năm 2005” Nghị quyết xác định phương hướng chung về đầu tư “huy động vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, trong đó vốn trong nước là chủ yếu Việc huy động vốn đầu tư nước ngoài để phát triển dịch

vụ - thương mại cần phải theo đúng mục tiêu, định hướng và ở quy mô, mức độ thích hợp đối với từng loại hình dịch vụ - thương mại”

Đến Hội nghị lần thứ 12 khóa VII thì tập trung vào giải pháp thu hút vốn

“Tập trung hỗ trợ các nhà đầu tư nước ngoài, các bên liên doanh hoàn chỉnh hồ sơ, thủ tục cấp phép đối với các dự án có vốn đầu tư lớn Ban hành danh mục các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và các chính sách

ưu đãi kèm theo để thu hút đầu tư nước ngoài”

Còn tại Hội nghị lần thứ 20 khóa VII đã đi sâu vào tháo gỡ các rào cản

về hành lang pháp lý, thủ tục hành chính để thu hút mạnh mẽ hơn các nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong đó có vốn FDI “Tăng cường các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư và đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư; thực hiện tốt cơ chế một cửa hỗ trợ nhà đầu tư tháo gỡ vướng mắc để thu hút mạnh đầu tư nước ngoài Kiến nghị Trung ương xem xét lại một số loại phí, lệ phí, các loại giá dịch vụ để tạo môi trường đầu tư thông thóang, phù hợp với khu vực và quốc tế”

Trên cơ sở phân tích những tiềm năng vốn có và những thách thức của nền kinh tế Việt Nam nói chung và TP Hồ Chí Minh nói riêng, Đảng bộ

TP Hồ Chí Minh cũng bám sát theo quan điểm chỉ đạo và định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam về thu hút vốn FDI vào phát triển kinh tế -xã hội

Trang 40

để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong những năm từ 2000 đến 2005, Đảng bộ TP Hồ Chí Minh cũng có những chủ trương kịp thời và sát với tình hình thực tế tại địa phương để chú trọng thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài nói chung và vốn FDI nói riêng vào các lĩnh vực trọng điểm và ưu tiên

1.3 Quá trình thực hiện thu hút vốn FDI của TP Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2005

1.3.1 Xây dựng kế hoạch thu hút vốn FDI

Trên cơ sở những chủ trương về thu hút vốn FDI của Đảng và Nhà nước, quán triệt sâu sắc chủ trương đã được Đại hội Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ VII đề ra, Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh đã chỉ đạo các cơ quan ban ngành có liên quan nhanh chóng triển khai thực hiện chủ trương của Đảng bộ Thành phố Trong những năm 2000 – 2005, trong các kế hoạch điều hành kinh tế - xã hội hàng năm của TP Hồ Chí Minh đều giành

sự quan tâm đến công tác thu hút vốn FDI vào phát triển kinh tế

Ngày 01/09/2000, Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh ra chỉ thị số: 21/2001/CT-UB “Về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách thành phố năm 2001”, trong đó, xác định nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2001 về nâng cao hiệu quả hoạt động kinh

tế đối ngoại “Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, thu hút vốn ODA trên cơ sở cải thiện môi trường đầu tư của thành phố và nâng cao trách nhiệm trong công vụ của cán bộ, công chức hoạt động trên các lĩnh vực có liên quan Hướng các dự án đầu tư nước ngoài vào các ngành kinh tế chủ lực của thành phố, vào các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao Chú trọng thu hút vốn đầu tư của các tập đoàn kinh tế lớn và từ các nước có tiềm năng kinh tế, thị trường và công nghệ cao như Mỹ, Nhật, Tây Âu” Ngày 23/ 10 /2001, Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh ra chỉ thị số:

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w