1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình trên hệ thống truyền hình cáp của Đài phát thanh truyền hình Hà Nội (Khảo sát 5 kênh xã hội hóa của HCATV từ năm 2010-2013)

155 39 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tác của Công ty chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân, phần lớn còn có nh ng hạn chế nhất định trong lĩnh vực truyền hình, trong khi đó khi tham gia vào hoạt động XHH sản xuất chương t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA BÁO CHÍ VÀ TRUYỀN THÔNG

TÔ THỊ NHÀN

VẤN ĐỀ XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH CÁP CỦA ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI

(Khảo sát 5 kênh xã hội hóa của HCATV từ năm 2010 - 2013)

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: BÁO CHÍ HỌC

Mã số: 60 32 01 01

Người hướng dẫn khoa học:

TS ĐINH THỊ XUÂN HÕA

Hà Nội - 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2015

Người thực hiện luận văn

Tô Thị Nhàn

Trang 3

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các Thầy, Cô giáo đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS Đinh Thị Xuân Hòa người đã khuyến khích, tận tình chỉ dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp đã hợp tác, chia

sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu quan trọng phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội ngày 20 tháng 04 năm 2015

Người thực hiện luận văn

Tô Thị Nhàn

Trang 4

AVG Công ty nghe nhìn toàn cầu(Audio – Video Global) CATV Truyền hình cáp (Community access televison)

CP Cổ phần

BTS Truyền hình cáp Hà Nội

GS, TS Giáo sƣ, Tiến sỹ

HCATV Truyền hình cáp Hà Nội

Hanoicab Truyền hình cáp Hà Nội

HD Truyền hình độ nét cao (High definition televison) HTV Đài Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh

HiTV Kênh Thông tin kinh tế văn hóa xã hội Hà Nội

MOV Kênh Điện ảnh - Giải trí

TVM Kênh Thông tin Kinh tế - Tài chính và tƣ vấn tiêu dùng

TT&TT Thông tin và truyền thông

TTXVN Thông tấn xã Việt Nam

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

VTV Đài truyền hình Việt Nam

VCTV Truyền hình cáp Việt Nam

Trang 5

4 Bảng 2.4 Khảo sát lƣợng khán giả xem 5 kênh truyền hình XHH

của Truyền hình Cáp Hà Nội

5 Hình 2.5 Thị phần các doanh nghiệp cung cấp thuê bao truyền

hình trả tiền giai đoạn 2010 - 2012

86

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 12

1.1 Khái niệm 12

1.2 Các hình thức xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 19

1.3 Vai trò của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 25

1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình 28

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH Ở TRUYỀN HÌNH C P - ĐÀI PTTH HÀ NỘI 36

2.1 Sự hình thành và phát triển hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Truyền hình Cáp Hà Nội 36

2.2 Khảo sát, phân tích hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình ở Truyền hình Cáp Hà Nội 48

2.3 Đánh giá chung về hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình ở Truyền hình Cáp Hà Nội 74

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PH P CƠ BẢN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNHỞ TRUYỀN HÌNH C P - ĐÀI PTTH HÀ NỘI 99

3.1 Yêu cầu từ thực tiễn đối với hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình ở Truyền hình Cáp Hà Nội 99

3.2 Một số giải pháp cụ thể 102

KẾT LUẬN 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

PHẦN PHỤ LỤC 130

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong điều kiện kinh tế, xã hội ngày càng phát triển, trình độ dân trí ngày càng tăng, để đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng, cập nhật của công chúng, bên cạnh truyền hình quảng bá, hiện nay, các dịch vụ truyền hình trả tiền như: truyền hình viba MMDS, truyền hình số vệ tinh DTH, truyền hình số m t đất, truyền hình

số vệ tinh và truyền hình cáp c ng đã ra đời và ngày càng phát triển mạnh m Hiện,

cả nước ngoài truyền hình quảng bá, có khoảng gần 40 công ty cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền Với phương thức này, hiện nay, có không ít kênh truyền hình phát sóng 24 24g

Để đảm đương được khối lượng công việc đồ sộ với hàng trăm tin, bài phát sóng m i ngày, phóng viên ở nhiều đài không đủ số lượng c ng như sức lực cho việc sản xuất toàn bộ chương trình Để duy trì thời lượng c ng như chất lượng các chương trình phát sóng các Đài truyền hình đã cần tới sự chung tay từ các đối tượng bên ngoài Đài Hình thức hợp tác sản xuất này hiện được gọi là hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Đ c biệt, từ khi có văn bản của các Bộ, Ban ngành chức năng hướng dẫn thực hiện việc XHH sản xuất chương trình truyền hình, hoạt động này ở Việt Nam

đã phát triển sôi nổi ở hầu hết các lĩnh vực, ở cả hệ thống truyền hình cáp và truyền hình quảng bá XHH đã đem đến cho ngành truyền hình bức tranh đa màu sắc, công chúng có thêm nhiều sự lựa chọn mới và không thể phủ nhận nh ng thành tựu mà hoạt động này mang lại Tuy nhiên, bên cạnh sự đa dạng này, XHH c ng đã làm xuất hiện nh ng hạn chế, bất cập

Tình trạng “trăm hoa đua nở”, sự tham gia “ồ ạt” của các cá nhân, các doanh nghiệp tư nhân vào lĩnh vực sản xuất chương trình truyền hình đã góp phần làm sóng truyền hình “bừng sáng” với nh ng chương trình nhất định Nhưng bên cạnh

đó, do sự thiếu quản l hợp l lại đang khiến hoạt động này bị biến chất, một số chương trình kém chất lượng c ng đã xuất hiện, trong đó không ít chương trình đã

bị dư luận phản đối gay gắt Trước thực tiễn sôi động này, đã đến lúc cần có chiến lược phát triển rõ ràng hơn cho hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình

Trang 8

do “nhà nước cầm trịch” trước sự tham gia của cá nhân, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động truyền hình

Truyền hình Cáp Hà Nội - Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội (Đài PTTH

Hà Nội) hiện nay, c ng đang n m trong thực tế chung đó Hiện, tham gia vào hoạt động của truyền hình cáp của Đài là Công ty Cổ phần Truyền hình Cáp Hà Nội - một doanh nghiệp cổ phần của Đài Bên cạnh đảm bảo chức năng thông tin, tuyên truyền, đơn vị còn thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực truyền hình trả tiền Tính đến hết năm 2013, Công ty đã tổ chức, phối hợp đ t hàng từ các doanh nghiệp khác

để sản xuất chương trình cho 5 kênh phát trên hệ thống cáp của Đài Đó là, VNK- Home Shopping (Kênh Quảng cáo), HiTV (Kênh thông tin Kinh tế - Văn hóa - Xã hội Hà Nội), TVM (Kênh Thông tin Kinh tế - Tài chính và tư vấn tiêu dùng), STTV

(Kênh Thể thao - Du lịch), MOV (Kênh Điện ảnh - Giải trí)

Đối tác của Công ty chủ yếu là các doanh nghiệp tư nhân, phần lớn còn có

nh ng hạn chế nhất định trong lĩnh vực truyền hình, trong khi đó khi tham gia vào hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình đã có không ít đơn vị lại đ t quá

n ng vào lợi ích kinh tế, trong khi đội ng cán bộ mỏng, trình độ chuyên môn còn hạn chế, điều kiện tác nghiệp của phóng viên còn khó khăn, nhiều phóng viên là các bạn trẻ mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn Đây là một trong

nh ng nguyên nhân dẫn đến nội dung chương trình trên truyền hình cáp của Đài PTTH Hà Nội còn nghèo nàn, chưa hấp dẫn thậm chí thiếu tính chuyên nghiệp Do vậy, không ít kênh chưa kh ng định được thương hiệu Điều này dẫn tới lượng khán giả đến với chương trình thấp, ít quảng cáo, tài trợ, ít lãi thậm chí còn l , nợ tiền nhân viên, nợ tiền mua sóng trên hệ thống cáp Một số kênh phải sống “lắt lay”, duy trì phát sóng b ng cách phát đi phát lại, tăng thời lượng phát phim ho c sản xuất với

nh ng chương trình không đem lại nhiều hiệu quả xã hội c ng như kinh tế Cá biệt

có nh ng kênh làm ăn không có lãi, không còn đủ lực, lúc đầu sản xuất một mình, nay, để tồn tại đã buộc phải tìm thêm một số đối tác khác n a để phối hợp sản xuất chương trình cho kênh mà mình đã kí kết ho c phải “xuống sóng”

Cùng với nh ng khó khăn từ phía đối tác (doanh nghiệp tham gia vào hoạt động truyền hình) thì đơn vị chủ quản c ng đã bộc lộ nh ng bất cập như: bị động

Trang 9

trong cách quản l , mờ nhạt trong vai trò của người tổ chức thực hiện và cho đến nay hơn mười năm phát triển dịch vụ truyền hình cáp nhưng Đài vẫn chưa đưa ra được nh ng phương thức hợp tác phù hợp nhất để đem lại lợi ích thiết thực cho mình và cho cả phía đối tác

Bên cạnh đó, theo thống kê của Cục quản l cạnh tranh tổng hợp và tính toán, thị phần của Truyền hình Cáp Hà Nội giảm sút nghiêm trọng, nếu như năm 2010 thị phần của cáp chiếm 5 thì năm 2011 còn 3 đến năm 2012 chỉ còn 1 Trong khi đó, việc xuất hiện đồng thời các nhà mạng như Viettel, FPT, VNPT đang là nh ng thách thức lớn đối với các đơn vị kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền nói chung, Công ty

Cổ phần Truyền hình Cáp Hà Nội, Đài PTTH Hà Nội nói riêng

Trước thực tế này, không có cách nào khác nếu muốn tiếp tục muốn duy trì hiệu quả hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình trên hệ thống truyền hình cáp ngoài việc chăm lo tới giá cả thuê bao, việc quan trọng và cấp thiết hơn cả trong thời điểm này đối với cả Đài và đối tác đó là chất lượng nội dung, cách thức

tổ chức, quản l chương trình Như vậy, từ l luận và thực tiễn, hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình đều đang đ t ra nh ng vấn đề cần phải được nghiên cứu, giải quyết nh m nâng cao hơn n a về chất lượng, nội dung, tín hiệu của mạng truyền hình cáp của Đài PTTH Hà Nội, đáp ứng nhu cầu thông tin, giải trí ngày càng cao của khán giả Thủ đô

Đó là nh ng l do để chúng tôi chọn đề tài: “Vấn đề xã hội hóa sản xuất

ch n tr nh tru ền h nh trên h th n tru ền h nh cáp của ài TTH Hà Nội”

( h o sát 5 nh x hội h H t 2010 - 2013) để thực hiện luận văn

Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học của mình

Trang 10

qua đó đã làm sáng tỏ nhu cầu thực tiễn đang đ t ra với ngành truyền hình và c ng chỉ ra nh ng m t hạn chế còn tồn tại song hành

Ở Việt Nam, hiện đã có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề XHH sản xuất chương trình truyền hình như sau:

(1) “X hội hoá s n xuất hương trình H hiện n y - h o sát tại Đài Phát

th nh và ruyền hình Hà ây 2004 - 2006”, V Thu Hà (2007), Luận văn Thạc sĩ

Khoa học Báo chí - Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội

Luận văn đã tập trung vào việc phân tích đ c điểm, thực trạng, ưu, nhược điểm của hoạt động XHH sản xuất truyền hình ở Đài PTTH Hà Tây – một đài truyền hình địa phương (hiện nay Đài đã được sát nhập với Đài PTTH Hà Nội) Luận văn mới dừng lại ở việc khảo sát nh ng vấn đề chung nhất trong hoạt động XHH ở một số chương trình cụ thể ở kênh phát sóng quảng bá của Đài PTTH Hà Tây Việc khảo sát hoạt động của các đối tác bên ngoài trong sản xuất các chương trình phát sóng ở hệ thống truyền hình cáp chưa được đề cập và khái quát

(2) “Bướ đầu nghi n ứu vấn đề x hội h ở iệt N m” - Khảo sát chương

trình “ Làm giàu không khó trên VTV1 từ tháng 1 đến 5/2007, Nguyễn Thị Tuyết Nhung (2007), Khóa luận Tốt nghiệp Đại học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Khóa luận dành chủ yếu thời lượng cho việc khảo sát, phân tích để làm rõ hoạt động XHH trong việc sản xuất chương trình “Làm giàu không khó” – một chương trình phát trên hệ thống truyền hình quảng bá của Đài THVN Khóa luận đã chỉ ra nh ng ưu và nhược điểm của hoạt động XHH Tuy nhiên, cho việc khảo sát,

h p, đối tượng, thời gian khảo sát ngắn (chỉ có 5 tháng) có hạn vì vậy kết quả mới là

nh ng khái quát ban đầu

(3) “X hội h s n xuất á hương trình Đài H iệt N m”- Khảo sát

từ tháng 1 2007 đến hết tháng 6 2008), Lê Thị Thu Hòa (2008), Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng - Học viện Báo chí và Tuyên truyền

So với khóa luận của Nguyễn Thị Tuyết Nhung nêu trên, luận văn này tuy diện khảo sát rộng hơn nhưng khung l thuyết chương 1 chưa thật rõ ràng, mạch lạc cho nên đến phần phân tích thực trạng thiếu cơ sở soi chiếu để đưa ra bức tranh

Trang 11

thuyết phục Nội dung chủ yếu vẫn còn mang tính liệt kê, mô tả, chưa khái quát, l thuyết hóa được XHH sản xuất chương trình truyền hình có các hình thức nào? Đối tượng tham gia là ai Đ c biệt là chưa chỉ ra được nh ng vấn để nổi cộm trong việc kết nối gi a nhà đài với các doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất chương trình cho

Truyền hình cáp

(4) “ ấn đề x hội h s n xuất á hương trình truyền hình” - Khảo sát

các chương trình đuổi hình bắt ch , hộp đen, Cơ hội 999 từ tháng 1 đến hết tháng 8 năm 2009, Hà Nội, Nguyễn Thanh Hà - Khóa luận tốt nghiệp Đại học trường Đại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, năm 2009

Khóa luận này mới bắt đầu đề cập đến vấn đề XHH sản xuất chương trình và nêu ra thực trạng ở 3 chương trình “Đuổi hình bắt ch ”, “Hộp đen”, “Cơ hội 999”, đánh giá nh ng m t được và chưa được của của các chương trình trên, đưa ra một

số giải pháp M c dù, bước đầu đã chỉ ra được nh ng thành công, hạn chế của hoạt động XHH ở Đài PTTH Hà Nội, nhưng đây c ng mới chỉ là nh ng nhận định được đúc rút từ nh ng chương trình TH cụ thể phát sóng trên hệ thống truyền hình quảng

bá Khóa luận chưa có nh ng đầu tư nghiên cứu thỏa đáng trong việc mở rộng hợp tác sản xuất chương trình trên hệ thống truyền hình cáp

(5) “Hiệu qu inh tế và x hội hoạt động x hội h s n xuất hương trình truyền hình ở Đài ruyền hình iệt N m”- Khảo sát kênh ba chương trình

truyền hình “Năng lượng cho phát triển đất nước, “S Việt Nam – Hương vị cuộc

sống” và “7 ngày vui sống” từ tháng 5 2010 đến hết tháng 5/2011, Nguyễn Thị

Tuyết Nhung, Luận văn Thạc sĩ – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

Hà Nội

Luận văn này đã chỉ ra được nh ng thành công và hạn chế hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình dưới góc độ chất lượng chương trình, kinh tế báo chí và đưa ra được một số giải pháp nh m nâng cao chất lượng chương trình XHH trong thời gian tới Tuy nhiên, đây là nh ng vấn đề rất cụ thể ở Đài THVN – một Đài có nhiều điều kiện nổi trội về nhiều m t (điều kiện về kỹ thuật, nhân lực, diện phủ sóng, thương hiệu ) Việc nghiên cứu về hoạt động XHH ở các đài địa phương, đ c biệt trên lĩnh vực cáp hầu như không được đề cập trong luận văn này

Trang 12

(6) “ ấn đề x hội h s n xuất hương trình truyền hình ở iệt N m hiện n y”,

Đinh Thị Xuân Hòa (2012), Luận án Báo chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Luận án đã l thuyết hóa một cách khoa học nh ng vấn đề cơ bản liên quan đến XHH sản xuất các chương trình truyền hình Về thực tiễn luận án c ng đã chỉ ra

xu hướng của quá trình XHH sản xuất chương trình truyền hình, phác họa được bức tranh khái quát về thực trạng, lộ trình, nh ng mô hình, nguyên tắc và nh ng trở ngại khi tiến hành XHH sản xuất các chương trình truyền hình của ngành truyền hình Việt Nam hiện nay Đây là một luận án có quy mô lớn, các vấn đề đúc kết mang tính khái quát cao, bao trùm nhiều đài, nhiều hệ thống truyền hình (truyền hình cáp

và truyền hình quảng bá) Tuy nhiên, c ng vì tính khái quát quá cao, m c dù có đề cập tới hoạt động XHH ở Đài PTTH Hà Nội, nhưng dung lượng này còn quá ít, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể hoạt động của hệ thống cáp của Đài PTTH Hà Nội – một đài truyền hình ở ngay Thủ đô của nước Việt Nam

(7) “ á động á ông ty truyền thông tới hoạt động s n xuất g meshow

3 – Đài truyền hình iệt N m” - Khảo sát chương trình Hãy chọn giá đúng

từ tháng 1 2008 – 5/200,Nguyễn Hồng Dương (2008), Khóa luận tốt nghiệp chuyên

ngành Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Khóa luận đã tập trung nghiên cứu về nh ng ảnh hưởng, tác động của các công ty truyền thông tới hoạt động sản xuất các chương trình trò chơi truyền hình, đ c biệt là chương trình “Hãy chọn giá đúng” trên kênh VTV3 – Đài Truyền hình Việt Nam Khóa luận c ng đã phân tích đến nh ng công ty truyền thông – nh ng đối tác bên ngoài – nh ng đơn vị góp phần làm nên hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình Tuy nhiên, khóa luận c ng chỉ mới dừng lại ở sự phân tích ở Đài Truyền hình Việt Nam, không có dung lượng nào đề cập đến hoạt động XHH ở Đài PTTH Hà Nội nói chung hay ở Truyền hình Cáp Hà Nội nói riêng

(8) “Hoạt động x hội h s n xuất hương trình Đài truyền hình thành phố Hồ hí Minh thự trạng và định hướng phát triển, Dương Thanh Tùng - Luận văn Thạc sĩ – trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở l luận và thực tiễn về hoạt động XHH nói chung và XHH sản xuất chương trình truyền hình nói riêng Đánh giá thực trạng

Trang 13

hoạt động sản xuất chương trình truyền hình có yếu tố XHH của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Xác định giải pháp và định hướng phát triển XHH sản xuất chương trình truyền hình của Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh Đây là một trong nh ng đài truyền hình lớn của Việt Nam, tuy nhiên luận văn c ng không

có dung lượng nào đề cập đến hoạt động XHH ở Đài PTTH Hà Nội nói chung hay ở Truyền hình Cáp Hà Nội nói riêng

(9) “Nghi n ứu xu hướng phát triển truyền hình t g nhìn inh tế họ truyền thông”, Bùi Chí Trung, Luận án tiến sĩ trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn, Hà Nội

Luận án đã hệ thống hóa các học thuyết về kinh tế học truyền thông, kinh tế học truyền hình đang phổ cập trên thế giới Đi sâu vào phân tích thực trạng kinh tế truyền hình tại Việt Nam trong nh ng năm qua, đưa ra xu hướng phát triển chính yếu, nh ng kinh nghiệm và giải pháp phát triển hoạt động kinh tế truyền hình Việt Nam hiện nay và trong tương lai

Luận án c ng có nh ng dung lượng nhất định phản ánh về hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình, song mới chỉ đưa ra khái quát chung chung ở góc độ kinh tế, chưa đi vào cụ thể và trong luận án không có nội dung nào liên quan đến hoạt động XHH ở Truyền hình Cáp Hà Nội

Ngoài ra nh ng công trình tiêu biểu nêu trên, còn một số bài viết khác liên quan đến hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình được đăng tải trên tạp chí L luận chính trị và truyền thông (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), hay

nh ng bài viết đăng trên các trang báo, trang tin điện tử như: mic.gov.vn, vtc.vn m.ictnews.vn/, vtv.vnvov.vn, truyenhinhnghean.vn, songtre.tv, vnexpress.net, journal.sonicstudies.org Điểm chung của nh ng bài viết trên các trang này là đã

đề đến hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình nhưng vì đ c điểm dung lượng bài viết còn nhỏ (vài trang) nên nội dung được phân tích một cách vô cùng ngắn gọn, không đi sâu phân tích, m t khác đó là nh ng nghiên cứu chung chung chưa đi sâu vào hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Truyền hình Cáp Hà Nội

Trang 14

Tóm lại, m c dù đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề XHH sản xuất các chương trình truyền hình nhưng chủ yếu là nghiên cứu hoạt động XHH trên đồng thời cả hai hệ thống truyền hình quảng bá và truyền hình trả tiền mà chưa

có một công trình khoa học nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu đến hoạt động XHH

ở hệ thống truyền hình cáp – một phương thức truyền hình đang phát triển mạnh m

ở Việt Nam hiện nay, và đ c đ c biệt là nghiên cứu về Truyền hình Cáp Hà Nội

M t khác, là một cán bộ hiện đang trực tiếp làm việc tại Truyền hình cáp – Đài PTTH Hà Nội, bản thân tôi đã nhìn thấy có rất nhiều vấn đề bất cập, cần phải giải quyết để một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước thực sự mang lại hiệu quả không chỉ cho đơn vị đứng ra thực hiện công tác XHH sản xuất chương trình truyền hình mà còn đem lại lợi ích cho xã hội

Đó là khoảng trống – một vấn đề cần được nghiên cứu nghiêm túc Để làm rõ hơn thực trạng hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở hệ thống cáp từ

đó đề xuất nh ng giải pháp thiết thực để hoạt động này chất lượng, hiệu quả Hơn

n a, trong luận văn của mình, chúng tôi xin phép được kế thừa nh ng nghiên cứu

có tính chuyên sâu đã được thẩm định về các thuật ng , l luận, một số tư liệu,

nh ng văn bản, chủ trương, chính sách trong một số nghiên cứu kể trên làm cơ sở phân tích làm sáng tỏ vấn đề đã nêu ra

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Luận văn hệ thống hóa nh ng vấn đề l luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, khảo sát thực tiễn chỉ ra thực trạng của việc XHH truyền hình trên hệ thống truyền hình cáp của Đài PTTH Hà Nội, làm rõ nh ng thành công và hạn chế và nguyên nhân của hạn chế và từ đó kiến nghị các giải pháp nh m nâng cao chất lượng hoạt động này ở Truyền hình Cáp Hà Nội trong thời gian tới

3.2 Nhi m vụ

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải thực hiện nh ng nhiệm vụ sau:

- Một là, làm rõ được nh ng vấn đề l luận XHH sản xuất chương trình truyền

hình: Khái niệm, vai trò, các hình thức XHH và đ c biệt đưa ra tiêu chí đánh giá

chất lượng hoạt động này

Trang 15

- Hai là, tiến hành khảo sát, phân tích làm rõ thực trạng hoạt động XHH sản

xuất chương trình truyền hình; chỉ ra nh ng thành công, hạn chế và nguyên nhân

của thành công, hạn chế của hoạt động này ở truyền hình cáp Đài PTTH Hà Nội

- Ba là, đề xuất hệ thống giải pháp hợp l nh m nâng cao chất lượng, hiệu

quả hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở truyền hình cáp của Đài PTTH Hà Nội thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 i t ợn n hiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Hoạt động XHH sản xuất chương

trình truyền hình ở truyền hình cáp - Đài PTTH Hà Nội

4.2 hạm vi n hiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào 5 kênh xã hội hóa HiTV, STTV, TVM, MOV, VNK trên hệ thống truyền hình cáp - Đài PTTH Hà Nội Đây

là 5 kênh tham gia hoạt động XHH ở truyền hình cáp Đài PTTH Hà Nội sớm nhất

M t khác, 5 kênh này trong thời gian qua có nhiều sự biến động trong tổ chức c ng như trong sản xuất

- Thời gian khảo sát từ năm 2010 – 2013, đây là khoảng thời gian nh ng kênh XHH này ở truyền hình cáp - Đài PTTH Hà Nội có nhiều biến động

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 h n pháp n hiên cứu

Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ nêu ở trên, tác giả luận văn sử dụng

nh ng phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

Trang 16

- Phương pháp nghi n ứu tài liệu: Phương pháp này được sử dụng nh m hệ

thống các văn bản có liên quan đến hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình; Các đề tài nghiên cứu khoa học như sách, luận án, luận văn, các bài báo có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Từ đó khái quát về hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình và đó là tiền đề để nghiên cứu, đánh giá các khảo sát cho

đề tài nghiên cứu của mình

- Phương pháp h o sát thự tiễn: Phương pháp này dùng để xác định

tưởng nghiên cứu, phân tích thực trạng các vấn đề được đ t ra trong quá trình XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Truyền hình Cáp Hà Nội

- Phương pháp thống , so sánh: Phương pháp dùng để thống kê tần suất,

đánh giá chất lượng các chương trình c ng như kênh chương trình đang tham gia hoạt động xã hội hóa ở truyền hình cáp - Đài PTTH Hà Nội hiện nay

Ngoài ra, phương pháp này còn được thực hiện trên cơ sở so sánh, phân tích dựa vào đánh giá chuyên môn của Hội đồng Ban biên tập HCATV và các đơn vị có liên quan; so sánh về doanh thu của các kênh XHH

- Phương pháp phân tí h tổng hợp: Phương pháp này được thực hiện nh m

tổng hợp các kết quả nghiên cứu, chỉ ra nh ng thành công và hạn chế c ng như thách thức của các kênh XHH trong giai đoạn hiện nay

- Phương pháp điều tr bằng b ng hỏi: Phương pháp này dùng để điều tra

công chúng trong diện khảo sát Tác giả thực hiện việc phát 500 phiếu khảo sát các khán giả đang sử dụng dịch vụ của Truyền hình Cáp Hà Nôi, theo phương pháp lựa chọn mẫu tại địa bàn các quận Đống Đa, Thanh Xuân, Sơn Tây, Gia Lâm, Long Biên

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua điện

thoại được tác giả tiến hành đối với lãnh đạo quản l báo chí Hà Nội, lãnh đạo đài, hội đồng ban biên tập và kiểm duyệt chương trình, khán giả nh m thu được nh ng đánh giá khách quan về hoạt động XHH sản xuất chương trình ở Truyền hình Cáp

Hà Nội

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Trang 17

6.1 n h a lý luận Luận văn hệ thống hóa và phân tích hoạt động XHH sản

xuất chương trình truyền hình nói chung, ở hệ thống truyền hình cáp nói riêng và đ c biệt là phân tích chuyên sâu về hình thức xã hội hóa cả kênh truyền hình Qua đó, kết quả luận văn mong muốn góp một phần làm phong phú hơn l luận về XHH sản xuất chương trình truyền hình nhất là về hình thức XHH cả kênh truyền hình

6.2 n h a th c ti n Việc nghiên cứu đề tài này cho thấy một cách nhìn cụ

thể, bản chất hơn, chỉ ra sự cần thiết của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở hệ thống truyền hình cáp đ c biệt là ở truyền hình cáp - Đài PTTH Hà Nội Kết quả nghiên cứu là gợi mở giúp các nhà quản l và các cán bộ, phóng viên của nhà đài và các đối tác hiểu rõ thực tế công việc mà đơn vị mình đang triển khai,

từ đó có nh ng giải pháp phù hợp để phát triển hiệu quả trong thời gian tới

Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo h u ích cho nh ng ai quan tâm đến vấn đề này

hương 2: Thực trạng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền

hình ở Truyền hình Cáp Hà Nội – Đài PTTH Hà Nội

hương 3: Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động

xã hội hóa sản xuất chương trình ở Truyền hình Cáp - Đài PTTH Hà Nội

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG

XÃ HỘI HÓA SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

1.1 Khái niệm

1.1.1 Xã hội hóa

Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu và đưa ra quan niệm khác nhau về thuật ng

“xã hội hóa”, xin tóm tắt một số quan điểm tiêu biểu về thuật ng này như sau:

Trong cuốn “Từ điển xã hội học” của Nxb bản Thế giới, tác giả Nguyễn

Khắc Viện cho r ng: “X hội h là quá trình tương tá giữ á nhân và x hội (tập thể), trong đ á nhân họ hỏi và thự hành những tri thứ , những ỹ năng và những phương thứ ần thiết để hội nhập với x hội” [68, tr333] Với quan điểm

đó, xã hội hóa là việc của m i cá nhân Cá nhân muốn hòa nhập cộng đồng phải tự học hỏi, trang bị mọi tri thức, kỹ năng trong xã hội Và với quan niệm này, xã hội hóa được phân tích một chiều ở góc nhìn, sự vận động và vai trò của m i cá nhân

Rộng hơn quan niệm nêu trên, trong cuốn “Giáo trình xã hội học trong quản lý” do Nguyễn Đình Tấn chủ biên, Nxb L luận chính trị, 2004 đã nghiên cứu và

đưa ra quan niệm về xã hội hóa ở hai khía cạnh Theo tác giả: “X hội h ” hiện

n y đượ hiểu theo h i nghĩ : một là, x hội h (x hội) là sự th m gi rộng r i

x hội ( á á nhân, nh m, tổ hứ , ộng đồng ) vào một số hoạt động mà trướ đ hỉ đượ một đơn vị, một bộ phận h y một ngành hứ năng nhất định thự hiện; h i là, x hội h á nhân hái niệm này đượ dùng để hỉ quá trình chuyển biến t on người sinh vật trở thành on người x hội [60, tr85]

Trước đó, theo Mác - Lê Nin vấn đề xã hội hóa chỉ được nghiên cứu trong

chế độ xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất Theo Mác: “X hội h là sự tiến x hơn nữ quá trình x hội h l o động thành h i thá x hội và do đ , là tư liệu s n xuất hung Sự tiết iệm mọi tư liệu s n xuất trong sử dụng như là tư liệu

s n xuất l o động tập thể, x hội h ” [61]

Trang 19

Trong “Các l thuyết xã hội học hiện đại” xuất bản năm 1999, khái niệm “xã

hội hóa” được tác giả Guter Endruweit cho r ng: “X hội h là quá trình mà trong

đ trướ hết á giá trị huẩn mự và năng lự nhận thứ ũng đượ nội tâm

h , nghĩ là thấm sâu vào nhân á h á á nhân hành động” [31, tr 132]

Còn nhà khoa học người Nga G.Andreeva đã định nghĩa: “X hội h là quá trình h i mặt Một mặt á nhân tiếp nhận inh nghiệm x hội bằng á h thâm nhập vào môi trường x hội, vào hệ thống á qu n hệ x hội Mặt há , á nhân tái s n xuất một á h h động vào á hoạt động và thâm nhập vào á mối qu n hệ x hội” [43, tr255]

Định nghĩa trên đã nêu được hai m t của quá trình xã hội hóa Trong quá trình xã hội hóa cá nhân không chỉ đơn thuần thu nhận kinh nghiệm xã hội mà còn chuyển hóa nó thành nh ng giá trị, tâm thế, xu hướng của cá nhân để tham gia tái sản xuất chúng trong xã hội M t thứ nhất của quá trình xã hội hóa là sự thu nhận kinh nghiệm xã hội thể hiện sự tác động của môi trường tới con người M t thứ hai,

xã hội hóa thể hiện sự tác động của con người trở lại môi trường thông qua hoạt động của mình

Neil Smelser một học giả người Mỹ lại cho r ng: “X hội h là quá trình

mà trong đ á nhân họ á h thứ hành động tương ứng với v i trò mình”

[43, tr245] Hay, nhà xã hội học người Pháp Sabran đã sử dụng hình ảnh, hình

tượng để nói về quá trình xã hội hóa:“X hội h như một on tàu, á nhân ph i bướ l n đượ on tàu x hội mới trở thành on người x hội, nếu hông thì ứ ph i đứng ở bến tàu” [60, tr.332]

Ở Việt Nam, quan niệm”x hội h ” c ng đã được đề cập ở một số giáo

trình, giáo khoa của lĩnh vực xã hội học và tâm l học Ví dụ, một định nghĩa nêu năm 1997 trong cuốn “Xã hội học đại cương”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội của

tác giả Phạm Trọng Ngọ cho r ng: “X hội h là quá trình mà qu đ á nhân đạt đượ những đặ trưng x hội b n thân họ đượ á h suy nghĩ và ứng xử phù hợp với v i trò x hội mình, hò nhập vào x hội” [43, tr 167] Hay, một định

nghĩa khác của tác giả Trần Thị Kim Tuyến được nêu trong cuốn “Nhập môn xã hội

Trang 20

học”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2002: “X hội h là quá trình quá độ, mà theo đ húng t thể tiếp nhận đượ nền văn h x hội mà trong đ húng

t đượ sinh r , quá trình mà nhờ đ húng t đạt đượ những đặ trưng x hội

b n thân, họ đượ á h suy nghĩ và ứng xử phù hợp với x hội ông húng”

Đại hội Đảng khóa VII năm 1996 xác định xã hội hóa là một quan điểm

hoạch định chính sách và giải quyết vấn đề xã hội: “ á vấn đề hính sá h x hội đều gi i quyết theo tinh thần x hội h Nhà nướ giữ v i trò nòng ốt, đồng thời động vi n mỗi người dân, á do nh nghiệp, á tổ hứ trong x hội, á á nhân

và tổ hứ nướ ngoài ũng th m gi gi i quyết những vấn đề x hội” [1]

Ngoài ra, ở Việt Nam còn có Nghị quyết số 05 2005 CP của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao Việc đưa ra liên tiếp nh ng Nghị quyết và quyết định hướng dẫn triển khai hoạt động xã hội hóa, điều này cho thấy Đảng, Chính phủ đã nhận thấy tiềm năng và lợi ích do hoạt động xã hội hóa mang lại

Trang 21

Từ thực tế trên, có thể thấy thuật ng “xã hội hóa” hiện nay đang được hiểu

và dùng ở 2 hướng sau đây:

hứ nhất, thuật ng “xã hội hóa” được sử dụng trong tâm l học và xã hội

học để chỉ quá trình chuyển biến từ chính thể sinh vật có bản chất xã hội với các tiền đề tự nhiên đến một chỉnh thể đại diện của xã hội loài người Đây là quá trình

xã hội hóa cá nhân

hứ h i, thuật ng “xã hội hóa” được dùng trong hoạt động thực tiễn của

cuộc sống như một phương châm hành động của các cấp, ngành, các tổ chức xã hội,

từ vi mô đến vĩ mô Xã hội hóa ở đây được hiểu là sự tăng cường chú quan tâm của xã hội về vật chất, tinh thần đến nh ng vấn đề nhật định của xã hội mà trước đây chỉ có một bộ phận của xã hội có trách nhiệm quan tâm Nói cách khác do tầm quan trọng và nghĩa xã hội của nh ng vấn đề cụ thể đó mà từ ch chỉ có một nhóm hay một cộng đồng, một bộ phận của xã hội quan tâm, đến nay, ngày càng được đông đảo quần chúng quan tâm Đây là quá trình xã hội hóa được hiểu theo nghĩa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản l , nhân dân làm chủ, Nhà nước và nhân dân cùng làm

Qua đó thể thấy, “xã hội hóa” là một vấn đề rất được quan tâm, là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và có nhiều quan niệm xung quanh thuật ng này M i khái niệm được nhìn dưới một góc độ khác nhau và được diễn giải khác nhau Tuy nhiên quan nghiên cứu thấy các quan niệm về xã hội hóa nêu trên có nhiều điểm chung Nghĩa là, nói đến xã hội hóa là nói đến sự “tham gia” của

xã hội vào một hoạt động chung nào đó Để tiện cho quá trình nghiên cứu tiếp theo, trên cơ sở nh ng quan niệm nêu trên và b ng thực tiễn hiện nay, chúng tôi xin phép

đưa ra một quan niệm về “xã hội hóa” như sau: “X hội h là quá trình huy động mọi nguồn lự x hội vào một h y nhiều lĩnh vự hoạt động nào đ mà trướ đây do một tổ hứ hứ năng qu n lý và thự hiện nhằm đem lại lợi í h ho ộng đồng”

Trang 22

1.1.2 Xã hội hóa sản xuất ch n tr nh tru ền h nh

- hương trình truyền hình

Mãi đến đầu thế kỷ XX, loại hình truyền hình mới ra đời nhưng với lợi thế hình ảnh động, âm thanh chân thực, truyền tải thông tin về muôn m t đời sống một cách chân thực và sống động vì vậy truyền hình đã nhanh chóng chiếm được vị trí quan trọng trong công chúng Tuy nhiên, để khán giả có thể đón nhận được thông tin một cách bài bản, cập nhật thì nh ng thông tin đó cần được “đóng gói” trong một dạng thức cụ thể và người ta gọi đó là “chương trình truyền hình”

Theo PGS.TS Dương Xuân Sơn, trong cuốn “Giáo trình Báo chí truyền

hình”, thì “ hương trình truyền hình là sự li n ết, sắp xếp, bố trí hợp lý á tin bài, b ng biểu, tư liệu bằng hình nh và âm th nh đượ mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạ hiệu, ết thú bằng lời hào tạm biệt, đáp ứng y u ầu tuy n truyền ơ

qu n báo hí truyền hình nhằm m ng lại hiệu qu o nhất ho hán gi ”[ 65, tr113] Còn theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, Nxb Chính trị quốc gia, 2001: “ hương trình truyền hình dùng để hỉ một h y nhiều tá phẩm hoàn hỉnh hoặ ết hợp với một số thông tin tài liệu há đượ tổ hứ theo một h đề ụ thể với hình thứ tương đối nhất quán, thời lượng tương đối ổn định

và đượ phát đi theo định ỳ” [57, tr.142]

Như vậy, có thể thấy, để có được nh ng thông tin sinh động, hấp dẫn thì khán giả thường phải tiếp nhận nó trong một chương trình cụ thể Thông tin đó không tồn tại độc lập, thuần khiết mà chúng thường được kết nối với nhiều nh ng thông tin khác và được sắp xếp trong một chỉnh thể Mà nòng cốt trong đó là nh ng thể loại có thể là tin, phóng sự, phỏng vấn kết hợp một cách linh hoạt với nhiều

“linh kiện” khác như hình hiệu, hình cắt ho c MC dẫn để “khâu nối” thành một thông tin, thông điệp hoàn chỉnh có chiều sâu thông qua một hộp là chương trình truyền hình

- S n xuất hương trình truyền hình

Trang 23

Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Như vậy, sản xuất chương trình truyền hình có thể hiểu là quá trình làm

ra sản phẩm truyền hình để phát sóng nh m đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng Và theo như phân tích ở trên, khán giả tiếp nhận được thông tin từ truyền hình phải thông qua các chương trình truyền hình Vậy nên, sản phẩm truyền hình ở đây có thể hiểu là nh ng chương trình truyền hình

Để tạo ra được nh ng chương trình truyền hình cần phải trải qua một quy trình với 2 khâu lớn đó là khâu tiền kỳ và khâu hậu kỳ Và với 2 khâu này có thể

chia thành nh ng công đoạn cụ thể, chi tiết hơn như: Tìm hiểu, nghiên cứu thực tế;

Xác định đề tài, chủ đề, tư tưởng chủ đề; Thu thập và khai thác thông tin; Thể hiện tác phẩm về nội dung và hình thức; Duyệt; Phát sóng; Lắng nghe thông tin phản hồi Tuy nhiên, trong nh ng hoạt động nêu trên để ra một sản phẩm truyền hình hoàn chỉnh và đem tới phục vụ công chúng thì lại có thể nhóm thành 3 nhóm công việc và ở đó có nh ng thành viên cụ thể chịu trách nhiệm Đó là: (1) nhóm công việc thứ nhất: tác nghiệp tại hiện trường (thực hiện công việc: nghiên cứu thực tế, lên tưởng, xây dựng kịch bản, quay phim, phỏng vấn lấy tư liệu, thực hiện tác phẩm ), (2) nhóm công việc thứ hai: duyệt chương trình và (3) nhóm công việc thứ ba: phát sóng chương trình

Ba nhóm này tham gia tích cực vào việc sản xuất làm nên chương trình truyền hình Tuy nhiên, hai nhóm đầu (nhóm tác nghiệp tại hiện trường và nhóm duyệt chương trình) là nh ng nhóm tham gia tích cực nhất và có vai trò quyết định nhất tới nội dung chương trình Chất lượng một chương trình truyền hình phụ thuộc vào năng lực của m i thành viên trong êkíp, do vậy các thành viên đều cần phải có trách nhiệm trong việc thực hiện chương trình Bên cạnh yếu tố con người, nh ng thiết bị phục vụ sản xuất, phát sóng c ng là yếu tố quan trọng và không thể thiếu để làm nên nh ng sản phẩm truyền hình phục vụ công chúng Tuy nhiên, để có đầy đủ

và chất lượng các trang thiết bị kỹ thuật cho quá trình sản xuất, phát sóng luôn cần đến một nguồn lực tài chính lớn hơn gấp nhiều lần so với các loại hình báo chí khác

để có được nh ng thiết bị đó

Trang 24

Tóm lại: Sản xuất chương trình truyền hình là quá trình làm ra sản phẩm, chương trình truyền hình Để sản xuất ra một chương trình truyền hình cần có 3 yếu

tố quan trọng đó là: Con người, phương tiện kỹ thuật, tài chính M i yếu tố có vị trí vai trò khác nhau góp phần cùng làm nên sản phẩm truyền hình có chất lượng

- X hội h s n xuất hương trình truyền hình

Để sản xuất ra một chương trình truyền hình cần một êkíp hoạt động tập thể với nh ng phương tiện kỹ thuật hiện đại cùng nguồn tài chính dồi dào Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhu cầu thông tin của công chúng ngày càng đòi hỏi cao Khán giả không chỉ dừng lại ở việc có được thông tin mà họ ngày càng muốn tiếp nhận nhiều thông tin thật đa dạng và hấp dẫn Nhưng để sản xuất số lượng lớn các chương trình truyền hình đảm bảo chất lượng, trong khi cán bộ phóng viên c ng như phương tiện

kỹ thuật không đổi cùng nguồn tài chính eo h p thì s khó đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng cao của công chúng hiện đại Vậy nên, để giải quyết thực tiễn

đó nhà đài cần mở rộng quy mô sản xuất, nhưng điều này kéo theo chi phí cố định

s tăng lên Thực tế nêu trên đ t ra nhiều thách thức cho các nhà đài, do chi phí mua sắm trang thiết bị kỹ thuật dành cho ngành truyền hình khá đắt, m t khác công nghệ thay đổi liên tục luôn luôn đòi hỏi phải đổi mới công nghệ để bắt kịp xu thế thời đại

Ch ng hạn, mới đây, Đài THVN thông báo nâng cấp chất lượng hình ảnh full HD (tương đương 1K), còn tiêu chuẩn phim đang chiếu tại các rạp chiếu thế giới, Việt Nam là 2K, công nghệ cao nhất hiện nay là 4K, Để có được trang thiết bị như vậy cần đầu tư tới hàng trăm thậm chí hàng nghìn tỉ đồng Đó là một khoản chi rất lớn Đài THVN nói riêng và nhiều đài phát thanh truyền hình địa phương phải tính toán, cân đối thậm chí rất khó có được

Cùng với nh ng khó khăn về phương tiện kỹ thuật, để có thêm nhiều chương trình truyền hình phát sóng, đội ng nh ng người làm chương trình truyền hình

c ng cần phải “gia tăng” về cả số lượng và trình độ tác nghiệp Tuy nhiên, nếu như vậy, điều này s “kéo theo” nguồn kinh phí không nhỏ để chi trả M t khác, sản phẩm báo chí nói chung, sản phẩm truyền hình nói riêng là một sản phẩm hàng hóa

Trang 25

đ c biệt, để có nh ng sản phẩm chất lượng, việc tuyển lựa đội ng tác nghiệp chuyên nghiệp c ng không đơn giản

Trước nhu cầu ngày càng cao của công chúng như vậy để duy trì chương trình phát sóng và để “gi chân”, thu hút thêm khán giả thì việc đầu tư cho sản xuất

là vấn đề phải tính tới Một trong nh ng giải pháp có thể giải quyết thực tế này cho các đài là huy động thêm nguồn lực từ bên ngoài xã hội để tham gia vào hoạt động làm nên sản phẩm truyền hình Và cách thức này được gọi là xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Trên cơ sở các khái niệm và lập luận nêu trên, xin đưa ra một khái niệm về

xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình như sau: “X hội h s n xuất hương trình truyền hình là quá trình mở rộng sự th m gi và thu hút nguồn lự x hội thể là á nhân, một tổ hứ h y một do nh nghiệp nào đ vào một h y nhiều hâu trong quy trình s n xuất làm n n á hương trình truyền hình”

Với quan niệm như vậy, có thể hiểu, đối tượng tham gia vào hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là tất cả nh ng ai có khả năng, phù hợp với tiêu chí mà đơn vị chủ quản, đài truyền hình đó đưa ra Đối tượng tham gia xã hội hóa có thể là tập thể, một doanh nghiệp hay một cá nhân nào đó có khả năng Và

họ có thể tham gia vào bất cứ công đoạn nào của quy trình sản xuất để làm nên sản phẩm truyền hình, trừ khâu duyệt nội dung trước khi phát sóng

1.2 Các hình thức xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

1.2.1 Hợp tác sản xuất ch n tr nh

Khái niệm hợp tác được hiểu là quá trình tương tác xã hội, trong đó các cá nhân tự nguyện chung sức h trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc nào đó

nh m đạt được mục đích chung trên cơ sở cùng có lợi [56]

Như vậy, với nội hàm như trên có thể hiểu, hợp tác sản xuất chương trình truyền hình là các đối tác bên ngoài có thể tham gia phối hợp cùng với đài truyền hình làm nên một hay nhiều sản phẩm truyền hình để phát sóng

Việc tham gia này có thể xếp ở ba mức độ đó là: hợp tác sản xuất một phần chương trình, hợp tác sản xuất trọn v n một chương trình và hợp tác sản xuất nhiều

Trang 26

chương trình cho một kênh truyền hình Dù ở hình thức nào thì các đối tác c ng

phải có khả năng nhất định đảm bảo thực hiện được các yêu cầu mà nhà đài đ t ra

+ Hợp tá s n xuất một phần hương trình: Chương trình truyền hình là sản

phẩm mang tính tập thể được sáng tạo bởi một quy trình với nhiều công đoạn Có hai dạng chương trình là chương trình trực tiếp và chương trình có hậu kỳ Tuy khác nhau ở khâu xử l và đưa thông tin đến khán giả nhưng đều phải trải qua các công đoạn chính như: Lên tưởng, xây dựng kịch bản, ghi hình, dựng hình, duyệt và phát sóng

Phối hợp tham gia một phần nghĩa là m i bên có thể thực hiện một vài công đoạn nào đó trong một quy trình sáng tạo ra một sản phẩm truyền hình nêu trên Ví

dụ, đối tác có thể tham gia ở khâu nội dung (tìm đề tài, viết kịch bản, viết lời bình ) ho c ở khâu kỹ thuật (máy quay, âm thanh, ánh sáng ) Với hình thức xã hội hóa này, đối tượng tham gia thường là nh ng đối tác có quy mô nhỏ ho c c ng

có thể là một tập đoàn truyền thông lớn nhưng có hoạt động kinh doanh ở nhiều lĩnh vực và mảng truyền hình chỉ là một trong nhiều bộ phận của họ

Hình thức hợp tác này có ưu điểm là góp phần giúp nhà đài có thêm nhiều chương trình để phát sóng Tuy nhiên, nó c ng có nh ng hạn chế nhất định, điều đó thể hiện ở việc, trong quá trình “bắt tay” cùng sản xuất một chương trình, do có nhiều đối tượng tham gia lại ở nh ng môi trường khác nhau hợp lại để cùng làm nên một sản phẩm, nếu không có sự chia sẻ, cảm thông s rất dễ xảy ra mâu thuẫn bởi cá nhân nào hay đơn vị nào trong tập thể chung đó c ng đều muốn thành quả có dấu ấn riêng của đơn vị mình, tập thể mình

+ Hợp tá s n xuất hoàn hỉnh một hương trình: So với mình thức sản xuất

một phần chương trình như phân tích ở trên, hình thức này mức độ phức tạp hơn Ở đây đối tác tham gia thực hiện mọi công việc trong quy trình sản xuất một sản phẩm truyền hình từ khâu lên tưởng, xây dựng kịch bản, triển khai và hoàn tất “đóng gói” chương trình để nhà đài duyệt Đài có thể cùng tham gia từ đầu đến cuối cùng đối tác nhưng c ng có thể chỉ tham gia một phần nhỏ trong quy trình ấy mà thôi

Trang 27

Như vậy, với đối tác quy trình và số lượng công việc nhiều và phức tạp hơn hình thức hợp tác một phần chương trình

Hiện tại với hình thức này, ở nước ta các nhà đài thu hút được nhiều công ty truyền thông lớn tham gia như: Công ty TNHH tư vấn quảng cáo Cát Tiên Sa, Công

ty truyền thông Lasta, Công ty truyền thông giải trí FPT với một số chương trình

tiêu biểu như: “Bướ nh y hoàn vũ”; “Ơn Giời ậu đây rồi”, “Nhân tố bí ẩn”,

“Giọng hát iệt” (VTV)

+ Hợp tá s n xuất nhiều hương trình ho một nh

Khi công nghệ phát triển, kỹ thuật số chiếm lĩnh thị trường, khả năng nén chương trình lớn, m i đường truyền có thể phát nhiều kênh chương trình Điều này

đã thúc đẩy việc tăng kênh phát trên hệ thống để làm phong phú nội dung chương trình của các nhà đài Vì vậy, bên cạnh việc tăng cường sản xuất để có các chương trình phát sóng trên các kênh đài rất cần đối tác chung tay Ngoài việc mở rộng hợp tác theo hai mức độ ở trên thì hình thức hợp tác sản xuất chương trình toàn bộ kênh

So với hai hình thức hợp tác ở trên thì hình thức hợp tác này phức tạp hơn rất nhiều Vì vậy nó đòi hỏi đối tác phải đảm bảo về quy mô nhân lực, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, tài chính và trình độ quản l phải thật sự chuyên nghiệp Nói vậy bởi, thứ nhất để tham gia công việc mang tính đ c thù đòi hỏi các đối tác của nhà đài phải đảm nhận quản l một kênh chương trình với lượng chương trình khổng lồ đủ để lấp sóng vốn là công việc của cả một đài truyền hình có bề dày kinh

Trang 28

nghiệm; thứ hai là về năng lực tài chính để duy trì công việc sản xuất chương trình cho cả kênh cần có nguồn lực tài chính dồi dào

1.2.2 ặt sản xuất ch n tr nh

Nếu như, hợp tác sản xuất thể hiện rõ các bên cùng chung sức để làm nên một chương trình, với hình thức này, mức độ chủ động c ng như quyền lợi và trách nhiệm của m i bên là tương đương Tuy nhiên với hình thức đ t sản xuất chương trình thì mức độ chủ động c ng như trách nhiệm, cách thức triển khai có nh ng điểm khác biệt

Trong hình thức đ t sản xuất, chủ thể đ t hàng là các đài truyền hình, đối tượng được đ t sản xuất là các đối tác bên ngoài đài Ở hình thức này, Đài chủ động

đ t hàng nhưng c ng có thể tư vấn tưởng và là người kiểm duyệt và quyết định cuối cùng về nội dung chương trình trước khi phát sóng còn đối tác đóng vai là người thực thi

Các mức độ đ t sản xuất các chương trình đó là: Đ t sản xuất một phần chương trình, đ t sản xuất trọn v n một chương trình và đ t sản xuất chương trình cho cả kênh truyền hình Trong ba mức độ này thì mức độ nào c ng cần ở đối tượng tham gia nh ng khả năng nhất định theo yêu cầu của đơn vị đ t hàng là các đài truyền hình Tuy nhiên, mức độ đ t sản xuất chương trình cho cả kênh truyền hình phức tạp nhất

Đ t sản xuất chương trình cho cả kênh là giao toàn bộ việc thực hiện sản xuất các chương trình cho đối tác ngoài đài thực hiện Ở mức độ này, nhà đài chỉ đứng ra tư vấn về format và duyệt nội dung trước khi phát sóng Việc một mình phải đảm đương một khối lượng công việc sản xuất “khổng lồ” với thời lượng trung bình sản xuất mới vài giờ một ngày đòi hỏi ở đối tác tham gia rất nhiều yếu tố hội tụ như: tài chính, kỹ thuật, nhân lực và đ c biệt là năng lực của từng thành viên của các đầu mối công việc

Ở Việt Nam, trong khoảng gần 10 năm trở lại đây, hình thức đ t sản xuất chương trình cho cả kênh truyền hình đã và đang phát triển mạnh m Nh ng đơn vị tham gia sản xuất chương trình cho cả kênh truyền hình đều do nh ng tập đoàn tài

Trang 29

chính hay nh ng công ty có tiềm lực về nhiều m t, đ c biệt là về tài chính Một số đối tác tiêu biểu trong thời gian qua có thể kể tới như: Công ty CP Quốc tế IMC (sản xuất chương trình cho kênh Today TV (VTC), Công ty CP Lasta với kênh Let’s Viet (VTC); Công ty CP Công nghệ và Truyền thông với kênh VITV

M c dù chỉ sản xuất mới một vài giờ để phát sóng nhưng các đối tác c ng phải đầu tư một khoản kinh phí rất lớn để duy trì bộ máy và trả chi phí cho việc sản xuất ho c mua bán bản quyền chương trình Đây là vấn đề tác động rất lớn đến việc duy trì hoạt động của kênh mà các đối tác cần phải tính toán

1.2.3 Trao đổi sản phẩm tru ền h nh

Trao đổi sản phẩm truyền hình là hình thức “luân chuyển”, “chuyển đổi” sản phẩm đã được sản xuất hoàn chỉnh, có thể đã được phát sóng gi a các kênh, các đài hay các đối tác với nhau

Hình thức trao đổi sản phẩm phải có sự cam kết ch t ch gi a các bên để đảm bảo tính mục đích và tính định kỳ của chương trình c ng như chất lượng nội dung chương trình Nếu với hình thức đ t sản xuất chương trình và hợp tác sản xuất chương trình, khi đài truyền hình sử dụng các sản phẩm đó phải trả đối tác chi phí sản xuất b ng tiền ho c b ng quyền lợi quảng cáo thì với hình thức trao đổi sản phẩm, các chương trình được trao đổi chéo gi a các đơn vị với nhau, thường không trả kinh phí b ng tiền m t hay tương đương

Do đ c thù như kể trên nên hình thức này có thời lượng, số lượng không nhiều, nhưng đây c ng là một trong nh ng yếu tố góp phần làm phong phú sản phẩm truyền hình để phục vụ khán giả tốt hơn

1.2.4 Khai thác các chất li u tru ền h nh

Khai thác các chất liệu truyền hình là việc đài truyền hình tìm kiếm, lựa chọn, thu thập nh ng chất liệu ho c sản phẩm truyền hình để xây dựng nên một chương trình truyền hình hoàn thiện nh m đáp ứng yêu cầu tuyên truyền và nhu cầu

cập nhật thông tin đa dạng của khán giả

Nhờ sự phát triển như v bão của công nghệ nh ng d liệu có giá trị có thể

dễ dàng được các phương tiện cá nhân như máy ảnh, máy quay phim cá nhân do các

Trang 30

công dân ghi lại và gửi cho các đài truyền hình Từ các nguồn này, các đài truyền hình lựa chọn tư liệu phù hợp với tôn chỉ mục đích và biên tập lại thành một sản phẩm truyền hình hoàn chỉnh trước khi phát sóng

Trong thời gian qua, không ít nh ng chất liệu độc đáo được ghi lại từ nh ng nhà báo “công dân” bởi nh ng thiết bị cá nhân Nh ng chất liệu kịp thời, chân thực

và c ng vô cùng đ c biệt đó đã đem lại nh ng giá trị đ c biệt cho người xem Hàng

tỉ người dân trên thế giới không khỏi bàng hoàng trước hình ảnh về vụ hai chiếc máy bay của quân khủng bố đâm trực diện vào hai tòa tháp đôi ở Mỹ năm 2001; hay hình ảnh sóng thần đổ bộ vào đất liền cướp đi hàng vạn người ở châu (2004)

Nh ng chất liệu này đã được các đài truyền hình “mua” và phát sóng Nh ng hình ảnh đó dẫu có thể không chỉnh chu, chuyên nghiệp nhưng đã khiến cho thông tin trở nên độc đáo thậm chí làm cho kênh truyền hình đó trở nên nổi tiếng

Điểm hạn chế của nguồn tư liệu này là đôi khi chất lượng hình ảnh, âm thanh chưa thực sự tốt, tuy nhiên về giá trị thông tin mà nguồn tư liệu này thường là “độc”

và có tính thời sự cao Đây c ng là một trong nh ng hình thức xã hội hóa, bởi hình thức này có sự tham gia của cá nhân vào hoạt động truyền hình Tuy nhiên, hoạt động này không diễn ra thường xuyên, liên tục, không có cam kết hợp tác b ng hợp đồng kinh tế do phải phụ thuộc vào sự kiện, đ c biệt là đối tác

Cùng với nguồn tư liệu từ các “nhà báo công dân” gửi đến thì nh ng format hay, thu hút công chúng được các nhà đài tìm kiếm, khai thác từ nguồn d liệu,

nh ng sản phẩm hoàn chỉnh được thực hiện bởi nh ng cá nhân hay nh ng đơn vị ngoài đài, ch ng hạn như từ các Hãng thông tấn, các đài truyền hình khác để làm

đa dạng các chương trình phục vụ công chúng ở đài mình Trong khi không ít nhà đài chưa có điều kiện sản xuất thêm nhiều chương trình mới sinh động, hấp dẫn thì việc khai thác thêm nguồn chất liệu hay chương trình như vậy là một giải pháp góp phần làm đa dạng, phong phú thêm chương trình cho nhà đài Hiện nay, phim truyền hình, phim tài liệu khoa học là nh ng dạng chương trình được khai thác sử dụng nhiều Nh ng chương trình này được mua bản quyền và từ lúc đó quyền sử dụng là của nhà đài

Trang 31

Tóm lại, có rất nhiều hình thức xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình đang tồn tại trong xã hội và m i hình thức có thế mạnh riêng Chính sự vào cuộc của các đối tác tham gia lĩnh vực truyền hình thể hiện sự năng động, sáng tạo, khả năng đáp ứng nhu cầu của mọi công chúng Tuy nhiên, m i đài khi quyết định lựa chọn hình thức, mức độ nào cần cân nhắc và có kế hoạch quản l cụ thể, khoa học

để m i chương trình được phát sóng đảm bảo chất lượng, hạn chế việc lạm dụng sóng truyền hình để làm lợi cho cá nhân, làm tổn hại đến uy tín của đài

1.3 Vai trò của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

- X hội h s n xuất hương trình truyền hình giúp nhà đài th m nguồn hương trình phong phú, đ dạng phụ vụ ông húng

Bản chất của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình là mở rộng

sự tham gia của các cá nhân hay đơn vị bên ngoài đài vào cùng sản xuất chương trình truyền hình phục vụ công chúng Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, nhu cầu về thông tin(về số lượng và chất lượng chương trình truyền hình) của công chúng ngày càng tăng, để đáp ứng tốt nhu cầu đó không đơn giản với các nhà đài Vì vậy việc

mở rộng sự tham gia của các cá nhân, đơn vị bên ngoài đài cùng tham gia sản xuất chương trình truyền hình có nghĩa rất lớn

Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình giúp nhà đài có cơ hội phục vụ công chúng nhiều và tốt hơn Khi tham gia vào hoạt động XHH, nhà đài s có thêm nhiều chương trình truyền hình đa dạng với chất lượng tốt phát sóng Khán giả không chỉ được thưởng thức nh ng “món ăn” quen thuộc do phóng viên của nhà đài sản xuất mà thông qua việc XHH, đài truyền hình còn có cơ hội giúp công chúng thỏa mãn nhu cầu thông tin, giải trí, nâng cao hiểu biết thông qua nh ng món ăn tinh thần mới, phong phú, hấp dẫn từ nhiều đối tác khác n a Ngoài nh ng chương trình trong nước, qua hoạt động XHH, thông qua các sản phẩm được hợp tác, trao đổi với nước ngoài đài góp phần nâng cao dân trí, là cầu nối thông tin mở rộng tầm nhìn cho công chúng trong nước với thế giới xung quanh

Xác định được vai trò quan trọng như vậy của hoạt động xã hội hóa, nhiều chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước c ng đã nhắc tới và định hướng hoạt

Trang 32

động này ở Việt Nam Trong Quy hoạch phát triển truyền hình đến năm 2010 và

nh ng năm sau của Đài THVN, Chính phủ đã chỉ đạo:“… ăng ường x hội h việ s n xuất á hương trình truyền hình, phim truyền hình theo đúng định hướng

Đ ng và á quy định Nhà nướ ”; “ ăng ường hợp tá s n xuất, tr o đổi hương trình truyền hình với á đài đị phương, á đài nướ ngoài, á Bộ, ngành và á đơn vị, tổ hứ há trong x hội” [54]

- X hội h s n xuất hương trình truyền hình g p phần gi m t i gánh nặng

ho nhà đài về tài hính và ỹ thuật

Qua hoạt động xã hội hóa giúp cho các đài truyền hình huy động được thêm nhiều nguồn lực về con người, kỹ thuật, tài chính phục vụ sản xuất Đồng thời có thêm nguồn lợi kinh tế thu được từ việc tài trợ, quảng cáo Nhờ nguồn thu này góp phần giúp nhà đài đỡ “chật vật” để có nguồn tài chính đầu tư tái sản xuất, từ đó có thêm nguồn vốn để đài xây dựng thêm nh ng chương trình hấp dẫn c ng như đầu tư trang thiết bị sản xuất Đ c biệt có thêm sự đa dạng và phong phú về số lượng c ng như chất lượng các chương trình, các kênh chương trình mà còn đáp ứng ngày càng sâu rộng nhu cầu của công chúng

Ngoài ra, khi thực hiện XHH sản xuất chương trình, đài s có nhiều cơ hội lựa chọn nh ng chương trình hấp dẫn từ nhiều đối tác Nguồn chương trình phong phú, hấp dẫn này góp phần nâng cao số lượng, chất lượng đáp ứng nhu cầu, gi chân khán giả trước màn hình; là điều kiện tốt để đài cạnh tranh và giành lại khán giả đang bị chia sẻ với các loại hình truyền thông khác đ c biệt là báo mạng điện tử Nếu nắm được thời cơ này, đây là yếu tố giúp đài thêm kh ng định được vị thế của mình trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, là cơ hội thực hiện tốt

cả công tác tư tưởng, tuyên truyền và công tác kinh doanh của mình

Xác định được vai trò của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình như vậy, ở Việt Nam, ngoài nh ng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, để hoạt động này hiệu quả và đúng định hướng, các cơ quan quản l Nhà nước về báo chí c ng đã có nh ng quy định được cụ thể b ng văn bản giúp hướng dẫn để hoạt động xã hội hóa sản xuất chất lượng, đúng định hướng Cụ thể, như ngày 28 5 2009,

Trang 33

Bộ TT&TT đã có Thông tư số 19 2009 TT - BTTTT về việc liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình - đây được coi là văn bản đầu tiên tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy và định hướng cho hoạt động hợp tác sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam

- X hội h s n xuất hương trình truyền hình g p phần giúp nhà đài mở rộng tầm nhìn ũng như qu n hệ trong s n xuất

Xã hội hóa, không chỉ mở rộng hợp tác, mua sản phẩm truyền hình từ các đơn vị trong nước với nh ng sản phẩm sản xuất nội địa mà xã hội hóa còn giúp mở rộng hợp tác, trao đổi sản phẩm với các đối tác nước ngoài để làm phong phú hơn chương trình cho đài của mình Qua việc hợp tác như vậy, nhà đài có thêm cơ hội hội nhập sâu, rộng hơn với truyền hình thế giới Khi tham gia vào quá trình này đồng nghĩa với việc đài truyền hình từng bước hội nhập sâu, rộng với truyền hình thế giới Ngoài việc hội nhập để có nh ng chương trình hấp dẫn, qua hoạt động xã hội hóa các nhà lãnh đạo, các phóng viên, biên tập viên còn có cơ hội học hỏi về công tác quản lí, kỹ năng, nghiệp vụ tác nghiệp

- X hội h s n xuất hương trình truyền hình í h thí h sự sáng tạo

ph ng vi n nhà đài, sự “g nh đu ” đối tá ngoài đài

Xã hội hóa sản xuất chương trình là việc mở rộng sự tham gia của đối tác vào việc cùng với nhà đài làm nên nh ng sản phẩm truyền hình Khi xã hội hóa sản xuất là chấp nhận nh ng thay đổi trong tổ sản xuất Việc xã hội hóa s làm cho cách

tổ chức sản xuất, bố trí nhân lực, cấu trúc chương trình cho kênh có sự thay đổi so với cách thức tổ chức truyền thống

Khi xã hội hóa đồng nghĩa nhiều chương trình cùng khung giờ bị chia sẻ, thậm chí cán bộ, phóng viên của nhà đài s bị chia sẻ về công việc, về thời gian, thời điểm phát sóng chương trình Vì vậy, để có thể “gi ch ”, duy trì được công việc thì sự n lực của phóng viên cứng của nhà đài trong sản xuất chương trình có chất lượng càng đòi hỏi cao hơn bao giờ hết Vậy nên, có thể nói r ng, hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình góp phần kích thích sự sáng tạo của phóng viên nhà đài, sự “ganh đua” của đối tác ngoài đài

Trang 34

Ngoài nh ng vai trò và nghĩa lớn từ hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình đem lại cho nhà đài như nêu trên thì hoạt động này c ng đem lại nh ng lợi ích to lớn cho các đối tác ngoài đài Đó là, khi tham gia vào hoạt động sản xuất chương trình truyền hình với đài truyền hình, các đối tác có cơ hội thể hiện năng lực, xây dựng hình ảnh của mình trong xã hội

Ở Việt Nam, Chính phủ đã có quy hoạch truyền dẫn phát sóng đến năm

2020, với dự báo sự phát triển mạnh m về hạ tầng truyền dẫn thì đây thực sự là con đường rộng mở thêm cho nhiều đối tác Các đối tác nếu có khả năng s không chỉ tham gia một phần mà còn có cơ hội tham gia sản xuất nhiều chương trình Không chỉ tham gia với một đài truyền hình mà còn có thể hợp tác với nhiều đài truyền

Cùng với cơ hội đó, xã hội hóa góp phần giúp các đối tác ngoài đài có thêm

cơ hội phát triển nguồn lợi kinh tế Điều này thể hiện ở việc, nếu đối tác sản xuất được nhiều chương trình có chất lượng thì chương trình đó dễ dàng được công chúng đón đợi, hệ quả là đối tác s thu được nhiều quảng cáo, nhiều tài trợ và đây là

cơ hội để đối tác bảo toàn và phát triển nguồn vốn thông qua hoạt động kinh doanh, sản xuất sản phẩm truyền hình của mình

1.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình

Tiêu chí là nh ng tiêu chuẩn để kiểm định hay đánh giá một sự việc nào đó Với cách hiểu như vậy, để đánh giá hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình cần có nh ng tiêu chí - tiêu chuẩn nhất định

Bản chất của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là sự huy động mọi nguồn lực xã hội vào cùng làm nên sản phẩm truyền hình nh m phục

vụ xã hội Vậy, để đánh giá chất lượng hoạt động xã hội hóa, cần đưa ra nhiều tiêu chí và được nhìn nhận ở dưới nhiều góc độ khác nhau Các góc độ đánh giá đó có thể là: Góc độ về sản phẩm (về số lượng, chất lượng sản phẩm được sản xuất bởi hình thức xã hội hóa); góc độ về lợi ích kinh tế do hoạt động xã hội hóa đem lại; góc độ về quản l

- i u hí về s n phẩm

Trang 35

Bất cứ một kênh truyền hình nào khi ra đời c ng có tôn chỉ mục đích của mình Đó là cơ sở nh m để phân biệt kênh này với kênh khác, để nh ng người sản xuất thực hiện nh ng chương trình chương trình phù hợp và đúng giới hạn, m t khác đó là yếu tố giúp cho kênh có bản sắc riêng, không lẫn với chương trình khác Vậy nên, hoạt động XHH được đánh giá có chất lượng, chỉ khi nh ng sản phẩm được sản xuất theo hình thức này đáp ứng được tôn chỉ mục đích của kênh, của chương trình đã được đ t ra và được nhà đài, cơ quan chủ quản phê duyệt b ng

nh ng quyết định cụ thể từ ban đầu Đó là yêu cầu buộc nh ng người làm chương trình phải tuân thủ Ch ng hạn, kênh có tiêu chí về bán hàng thì không thể phát sóng các chương trình về giải trí hay phim truyện được

Bên cạnh, việc đáp ứng về tôn chỉ mục đích, hoạt động xã hội hóa phải góp phần làm đa dạng phong phú sản phẩm truyền hình Điều này thể hiện ở việc số lượng c ng như chất lượng chương trình duy trì và đ c biệt tăng hơn so với hình thức sản xuất chương trình truyền thống (chỉ có đài truyền hình sản xuất) và được đông đảo công chúng đón đợi

Số lượng chương trình là thước đo để đánh giá kết quả hợp tác thực hiện sản

xuất gi a các bên Số lượng nhiều hay ít phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là khả năng của đài và đối tác trong việc sản xuất và sản phẩm làm ra đáp ứng được nhu cầu của đông đảo công chúng, được công chúng đón đợi tiếp nhận và

có hành vi phù hợp, tích cực sau khi xem chương trình Số lượng chương trình sản xuất theo hình thức xã hội hóa là bao nhiêu cần được xác định rõ ràng nh m tránh

Trang 36

và so sánh từ nhiều nguồn thông tin khác nhau để làm nổi bật nội dung cần chuyển

tải đến công chúng?

Cùng với số lượng, chất lượng nội dung, sản phẩm được cho là có giá trị khi

đảm bảo chất lượng kỹ thuật Chất lượng hình ảnh phải đạt tiêu chuẩn quy định với

từng chương trình Ngày nay, công nghệ phát triển, thiết bị sản xuất thu xem chương trình đã được cải thiện nhiều so với trước Nhiều đài c ng như đối tác đã có

sự đầu tư lớn về trang thiết bị phục vụ cho sản xuất Hiện, không ít đài quy định sản phẩm được phát sóng theo nh ng chuẩn nhất định tùy điều kiện như chuẩn SD (độ nét đạt chuẩn) hay chuẩn HD (độ nét cao) Vậy nên, khi một đài truyền hình đã có

nh ng quy định về chuẩn nhất định thì hoạt động làm nên sản phẩm của đối tác được đánh giá đạt chất lượng khi chuẩn về kỹ thuật phải tuân thủ theo yêu cầu Điều này đảm bảo công chúng truyền hình được đón nhận nh ng sản phẩm truyền hình

về m t hình ảnh đạt chất lượng với hình ảnh sắc nét

Tuy nhiên, thực tế xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình không phải chỉ là việc khai thác sự tham gia chỉ của các tổ chức hay đơn vị có điều kiện về nhiều m t đ c biệt là tài chính - họ có điều kiện để trang bị nh ng thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất mà còn có thể khai thác sự tham gia của nh ng cá nhân (m c

dù ít) vào việc làm nên nh ng sản phẩm truyền hình

Thực tế, không phải mọi cá nhân đều có nh ng trang thiết bị hiện đại cho việc làm nên nh ng sản phẩm truyền hình - họ là nh ng “nhà báo công dân” - nên đôi khi sản phẩm của họ chưa mang tính chuyên nghiệp chỉ được ghi hình sản xuất bởi

nh ng thiết bị cá nhân “không chuyên” ch ng hạn như máy ảnh, điện thoại, máy quay du lịch Ở đây, chất lượng hình ảnh lại không phải là tất cả, chất lượng chương trình lúc này lại cần được đo đếm linh hoạt bởi chất lượng thông tin, sự độc đáo của sự kiện

Cùng với đó, thời gian và tiến độ hoàn thành sản phẩm c ng là một tiêu chí để đánh giá chất lượng sản phẩm nói riêng, hoạt động xã hội hóa nói chung Chương trình chỉ đạt chất lượng khi hoàn thành đúng tiến độ đã quy định c ng như cam kết

gi a nhà đài và đối tác Ngoài ra, việc sản xuất chương trình với chất lượng tốt,

Trang 37

trong thời gian ngắn và chi phí hợp l c ng được coi là một yếu tố ưu tiên khi đánh giá chất lượng chương trình

- i u hí về hán gi

Một chương trình truyền hình được sản xuất theo hình thức truyền thống nói chung và sản xuất theo hình thức xã hội hóa nói riêng được đánh giá là chất lượng, hiệu quả khi thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng xem truyền hình với một sự chờ đợi, hào hứng khi đón nhận chương trình Số lượng khán giả c ng chính là thước đo quan trọng để đánh giá

Để có thể đo đếm được số lượng khán giả đến với chương trình truyền hình nhiều hay ít thì phải có nh ng cách thức đo, đếm phù hợp với nh ng trang thiết bị hiện đại Nếu nhà đài và đối tác chỉ lo sản xuất ra đủ chương trình phục vụ công chúng mà không có nh ng quan tâm nhất định đến nhu cầu hưởng thụ và sự tiếp nhận của họ như thế nào thì chương trình s dễ dàng bị “thả nổi” không biết ai đón nhận? Bao nhiêu người đón nhận? Và đón nhận họ có thấy thoải mái, phù hợp không?

- i u hí về lợi í h

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc XHH sản xuất chương trình truyền hình nh m mục đích cuối cùng là làm sao đa dạng hóa được các kênh truyền hình

để phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần của nhân dân ngày một tốt hơn

Do đó, việc “mở cửa” cho các đơn vị, cá nhân ngoài đài tham gia hoạt động XHH bên cạnh việc yêu cầu thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích thì hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình góp phần phát triển truyền hình cả về phạm

vi và chất lượng, đem thông tin đến khán giả, rút ngắn khoảng cách về hưởng thụ thông tin, tuyên truyền gi a các vùng miền; tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân nh m thay đổi hành vi theo hướng tích cực

XHH đáp ứng nhu cầu của người xem truyền hình b ng cách đa dạng kênh truyền hình phù hợp với thị hiếu của nh ng nhóm người dùng khác nhau Giờ đây

Trang 38

khán giả được dễ dàng trong lựa chọn xem nh ng kênh truyền hình mà mình mong muốn, điều mà trước đây còn là hạn chế của ngành truyền hình

Bên cạnh lợi ích về thông tin, xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình còn góp phần đem lại lợi ích kinh tế cho các bên tham gia Việc đó thể hiện ở việc các chương trình truyền hình đã “kéo” thêm được nhiều nguồn quảng cáo, c ng như nguồn tài trợ về cho nhà đài Nguồn lợi về kinh tế đó giúp nhà đài có cơ sở tái sản xuất nâng cao chất lượng chương trình

Thực tế, ở Việt Nam, thời gian qua không ít chương trình được sản xuất theo hình thức xã hội hóa đã đem lại cho nhà đài nguồn thu “khổng lồ’ đ c biệt từ quảng

cáo Ví dụ: các chương trình văn hóa giải trí như “Bướ nh y hoàn vũ”, “ ặp đôi hoàn h o” chương trình phối hợp gi a kênh VTV3 với Công ty Cát Tiên Sa; hay

nh ng bộ phim Việt đã có nguồn thu rất đáng ghi nhận như “ ô gái xấu xí”, “ ầu vồng tình y u” (VTV phối hợp với Công ty Cổ phần truyền thông BHD sản xuất)

Hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình không chỉ đem lại cho nhà đài - đơn vị đứng ra tổ chức chịu trách nhiệm quản l và kiểm duyệt nội dung chương trình nguồn lợi từ kinh tế như: tiền thu cho thuê phát sóng từ các kênh XHH, tiền thu cước phí thuê bao, c ng như tiền dịch vụ các giá trị gia tăng khác

mà đối tác (người sản xuất bên ngoài đài) c ng được hưởng lợi từ nguồn thu đó Nguồn lãi là cơ sở kh ng định việc xã hội hóa có hiệu quả Đầu tư cho lĩnh vực truyền hình rất tốn kém, có nh ng chương trình đối tác phải đầu tư hàng trăm triệu thậm chí tiền tỷ nhưng nếu không có lợi ích kinh tế thì chắc h n khó có một đối tác nào chịu bỏ tiền túi ra để đầu tư

- i u hí về qu n lý

Theo nhà quản l học Henri Fayol: “Quản l là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản l chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy” [38]

Trang 39

Với tư tưởng triết học về quản l của Peter F Dalark: Quản l doanh nghiệp

phải theo nguyên tắc: “lấy hiệu qu inh tế thự tế làm nguy n tắ hoạt động, đây là

một á h nhìn tổng thể lấy thành tí h làm ốt lõi”

XHH sản xuất chương trình truyền hình có đối tượng nội dung, lĩnh vực, mức độ tham gia của các đối tác trong việc sản xuất rất khác nhau với nhiều đầu mối và phần việc phức tạp Do đó, để quy trình sản xuất hoạt động được thông suốt tạo ra sản phẩm đạt chất lượng thì không thể thiếu được sự quản l

Quản l hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình bắt đầu từ lúc triển khai đến khi phát sóng, là việc khai thác sử dụng yếu tốt đầu vào và điều hành quá trình tạo ra sản phẩm đầu ra Quản l bao gồm các việc quản l như: nhân sự, công nghệ, tài chính và sản phẩm phát sóng

+ Đối với nhà đài: Nhà Đài quản l hoạt động xã hội hóa chỉ được đánh giá

là hiệu quả khi luôn gi thế chủ động, là người định hướng tư tưởng cho đối tác trong việc sản xuất; nắm được điểm mạnh, điểm yếu, nh ng tồn tại của bản thân và của đối tác để triển khai các hình thức xã hội hóa sản xuất chương trình phù hợp Nhà đài quản l hiệu quả khi xác định và trả lời tốt câu hỏi: Sản xuất chương trình gì? Sản xuất bao nhiêu? Sản phẩm làm ra cho ai xem? và nhà đài c ng đủ sáng suốt, sẵn sang cho tiếp tục hay dừng lại chương trình, việc sản xuất khi đối tác không được đáp ứng được yêu cầu của nhà đài đ c biệt là khi đối tác sản xuất nhiều sản phẩm truyền hình có nội dung không phù hợp ho c chưa hay

+ Đối với đối tá : Hoạt động xã hội hóa chỉ tồn tại khi có đối tác bên ngoài

cùng tham gia với nhà đài Nếu chỉ nhà đài thành công, có nh ng nguồn lợi về thông tin, về kinh tế thì hoạt động xã hội hóa chưa đủ độ bền v ng Hoạt động XHH chỉ có giá trị khi cùng với nhà đài, đối tác c ng có nh ng thành công đ c biệt là về nguồn lợi về thương hiệu và về kinh tế Và điều góp phần làm nên thành công này đó là sự quản l có hiệu quả của đối tác của nhà đài Đối tác phải

có nh ng chiến lược quản l phù hợp về nhân sự, quản l về số lượng, về nội dung và về hoạt động tổ chức sản xuất để làm sao thực hiện được nhiều sản phẩm truyền hình (thậm chí kênh truyền hình) có giá trị, đúng định hướng, đáp

Trang 40

ứng được sự quan tâm của đông đảo công chúng mà nguồn tài chính và nguồn nhân lực “bỏ ra” hợp l thậm chí là thấp

Tiểu kết chương 1

Xã hội hóa nói chung và xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là một hoạt động xuất hiện khá phổ biến trong xã hội hiện nay Thuật ng xã hội hóa được nhắc tới c ng như nghiên cứu dưới nh ng tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung nói đến XHH sản xuất chương trình truyền hình, các nghiên cứu đều có điểm chung cho

r ng đó là việc mở rộng sự tham gia của các cá nhân hay đơn vị bên ngoài đài truyền hình vào cùng tham gia sản xuất làm nên sản phẩm truyền hình - công việc

vốn trước đây là “độ quyền” của nhà đài

Cùng với việc nghiên cứu chỉ ra khái niệm bản chất của hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, ở chương 1, luận văn đã nghiên cứu bổ sung, phát triển khung lý thuyết về XHH sản xuất chương trình truyền hình trên cơ sở điều kiện ở Việt Nam Chương này, c ng đã phân tích chỉ ra các hình thức xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình, ưu, nhược điểm của từng hình thức Luận văn cho r ng hoạt động XHH có thể được thực hiện ở góc độ nội dung ho c kỹ thuật hay tài chính với các mức độ khác nhau tùy điều kiện từng đài truyền hình Tuy nhiên, tác giả c ng đã cố gắng chỉ ra 4 hình thức xã hội hóa cơ bản đó là: hợp tác sản xuất chương trình truyền hình, đ t sản xuất chương trình truyền hình, trao đổi sản phẩm truyền hình và khai thác tư liệu và sản phẩm truyền hình Sự đa dạng trong phân dạng các hình thức xã hội hóa góp phần làm phong phú cho hoạt động của ngành truyền hình nói chung và hoạt động tổ chức sản xuất chương trình của m i đài nói riêng

Trong chương 1 này, luận văn c ng đã phân tích chỉ rõ vai trò của hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình đối với nhà đài c ng như đối tác Và đ c biệt, chương 1 đã phân tích, chỉ ra nh ng tiêu chí để đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình Hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình chỉ thành công khi sản phẩm truyền hình làm ra kết tinh

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w