1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lịch sử nghiên cứu về Tuệ Trung Thượng Sĩ : Luận văn ThS. Ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam: 602201

104 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song khoảng cách thời gian cộng với những tư liệu hạn hẹp về thân thế và sự nghiệp của Tuệ Trung Thượng sĩ được ghi chép lại là một trở ngại lớn đối với hàng hậu học muốn tìm hiểu và ngh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

Lời cảm ơn

Đề tài này được thực hiện dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của GS.TS Trần Ngọc Vương cùng sự góp ý của các Giáo sư – Tiến sĩ trong hội đồng chấm luận văn Chúng tôi xin chân thành cảm ơn những sự giúp

đỡ chân thành và quý báu đó

Dù đã rất nỗ lực, song do khả năng và thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi những điểm khuyết thiếu Kính mong nhận được sự đóng góp chân thành từ các Giáo sư – Tiến sĩ cũng như quý học giả quan tâm

Người thực hiện

Nguyễn Thị Giang

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc luận văn 8

Chương 1 KHÁI QUÁT THỜI ĐẠI LÝ TRẦN VÀ TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ 9

1.1 Bối cảnh lịch sử – xã hội thời Lý - Trần 9

1.2 Phật giáo thời Lý - Trần 16

1.2.1 Khái quát Phật giáo thời Lý - Trần 16

1.2.2 Đặc trưng Phật giáo thời Trần 24

1.3 Tuệ Trung Thượng sĩ 31

Chương 2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ 34

2.1 Tiểu sử 34

2.1.1.Tiểu sử được chép lại trong Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục: 34 2.1.2 Tiểu sử được lưu lại trong chính sử 35

2.1.3 Tuệ Trung Thượng Sĩ là ai? 36

2.1.3.1.Tuệ Trung Thượng Sĩ - Trần Quốc Tảng 36

2.1.3.2 Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung 38

2.2 Hành trạng 42

2.2.1 Hành trạng trong Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục 42

2.2.2 Hành trạng của Tuệ Trung Thượng sĩ trong văn hóa Phật giáo 47

2.3 Con người Tuệ Trung Thượng sĩ 52

Trang 5

2.3.1 Con người triết gia thiền môn 52

2.3.2 Con người nghệ sĩ 55

CHƯƠNG 3.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU TÁC PHẨM TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ NGỮ LỤC 60

3.1 Ngữ lục 60

3.1.1 Khái niệm 60

3.1.2 Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục 61

3.2 Lịch sử nghiên cứu văn bản Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục 61

3.2.1 Khảo sát văn bản Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục của Nguyễn Thị Thanh Chung 61

Văn bản Trúc Lâm Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục 62

Văn bản Tam tổ thực lục 64

3.2.2 Giới thiệu các bản in sách Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục của tác giả Ngô Quốc Trưởng và Vũ Thị Hải Yến 69

Bản chùa Long Động 69

Bản in chùa Pháp Vũ 71

Bản Việt Nam Phật điển tùng san 72

3.3 Lịch sử nghiên cứu về tác phẩm Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục 75

3.3.1 Cấu trúc tác phẩm 75

3.3.2 Lịch sử nghiên cứu về nội dung Tác phẩm Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục 77

3.3.2.1. Tuệ TrungThượng sĩ và Thượng sĩ Ngữ lục là một bộ phận trong đối tượng nghiên cứu 77

Các chuyên luận về Tuệ Trung Thượng sĩ và Thượng sĩ Ngữ lục 84 KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

Danh xưng Tuệ Trung Thượng sĩ không còn là xa lạ đối với nền học thuật nhưng cũng không phải là một điều gần gũi quen thuộc với số đông độc giả Một phần chính bởi tác giả này còn khá nhiều ẩn số cho đến ngày nay mà hàng hậu học vẫn chưa giải mã hết

Những gì còn lại về Tuệ Trung Thượng sĩ chỉ được ghi chép rất sơ lược

trong cuốn Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục Với đạo hiệu là Tuệ Trung Thượng

sĩ, ông được vua Trần Thái Tông phong tước Hưng Ninh vương, là anh trai của hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm vợ vua Trần Thánh Tông Trong các cuộc kháng chiến chông quân Nguyên Mông ông đều tham gia cầm quân chống giặc, nhưng sớm rời xa chính trường về ấp Tịnh Bang xây dựng Dưỡng Chân Trang chuyên tâm vào tham cứu Phật pháp Sự nghiệp và hành trạng

của ông được lưu truyền lại cho đến ngày nay trong cuốn Tuệ TrungThượng sĩ Ngữ lục do vua Trần Nhân Tông soạn thảo, và trực tiếp viết phần hành trạng

Tuệ Trung Thượng sĩ được vua Trần Nhân Tông suy tôn làm Thầy và có vai trò hướng đạo giúp vua tiến tới con đường giác ngộ giải thoát trong Phật pháp Đương thời ông được vua Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông rất tôn trọng và nể vì

Trang 7

2

Với sự am hiểu Phật pháp uyên thâm sâu sắc đạt đến giác ngộ thiền cơ

hoà cùng tâm hồn phóng khoáng trong tư tưởng phá chấp, hoà quang đồng trần tất cả đã tạo nên một hệ thống tư tưởng triết mỹ sâu sắc, một nhân cách

độc đáo riêng có của Tuệ Trung Thượng sĩ Con người và tư tưởng của ông đã ảnh hưởng lớn đến không chỉ hệ thống tư tưởng thiền học Việt Nam kỷ nhà Trần, mà còn có vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng dân tộc

Đặt Tuệ Trung Thượng sĩ vào bối cảnh lịch sử văn hoá xã hội trưởng dưỡng ông, chúng ta mới phần nào hiểu được tâm hồn người trí thức phức tạp này Ít nhiều những biến động trong gia tộc triều Trần có ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý và nhận thức của ông Song khoảng cách thời gian cộng với những

tư liệu hạn hẹp về thân thế và sự nghiệp của Tuệ Trung Thượng sĩ được ghi chép lại là một trở ngại lớn đối với hàng hậu học muốn tìm hiểu và nghiên cứu về ông Và đây cũng là một vấn đề cần khảo sát kỹ lưỡng để nhận chân được tâm hồn thơ Tuệ Trung

Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu về Tuệ Trung Thượng sĩ, chúng tôi nhận thấy rằng ông luôn tồn tại với tư cách là một biểu tượng thăng hoa của Phật giáo Việt Nam nói chung và tư tưởng Phật giáo thời Lý – Trần nói riêng trên bước đường khẳng định sự tự chủ của mình Cũng chính bởi lẽ đó

mà việc hệ thống và khảo sát lịch sử nghiên cứu về Tuệ Trung Thượng sĩ theo chúng tôi là một việc hết sức cần thiết và quan trọng, từ đó có được một cách nhìn tổng quan về tác phẩm và tư tưởng của ông

Trang 8

3

Xét trong hệ thống thư tịch, người đầu tiên đề cập đến Tuệ Trung

Thượng sĩ không ai khác đó chính là vua Trần Nhân Tông - người học trò

xuất sắc của Tuệ Trung cũng chính là người đã giới thiệu và lưu giữ lại tên

tuổi của vị Thượng sĩ trong lịch sử với việc biên soạn cuốn Thượng sĩ Ngữ lục - dấu tích duy nhất về Tuệ Trung Thượng sĩ còn lưu lại đến ngày nay

Trong bộ ngữ lục này, vua Trần Nhân Tông đã tôn xưng Thượng sĩ làm thầy

hướng đạo và từ đó giúp nhà vua tiến đến con đường giác ngộ và giải thoát

Cũng trong cuốn Thượng sĩ Ngữ lục, vua Trần Nhân Tông là người đã đưa ra

vấn đề cốt tuỷ trong tư tưởng của Thượng sĩ là hoà quang đồng trần, nhà vua

đã có những suy nghĩ và kiến giải của mình trong việc tham cứu và suy ngẫm

về tư tưởng phá chấp này của Thượng sĩ Đến giờ, Trần Nhân tông vẫn là

người duy nhất có thể trả lời chính xác câu hỏi Tuệ Trung Thượng sĩ là ai? Tư

tưởng của ông như thế nào? Và tác phẩm của ông gồm những gì? Tiếc thay,

người hiểu Tuệ Trung nhất, người đã đưa tên tuổi của Tuệ Trung sống mãi

với thời gian ấy, lại cũng chính là người tung ra ẩn số cho hàng hậu học Bởi

trong cuốn Thượng sĩ Ngữ lục chỉ nói về Tuệ Trung được phong hiệu Thượng

sĩ mà không ghi rõ danh tính và tiểu sử của ông

Đến năm 1788 khi tác giả Bùi Huy Bích bắt đầu công việc biên soạn

cuốn Hoàng Việt thi tuyển và Hoàng Việt văn tuyển, thì vấn đề danh tính, thân

thế thực sự của Tuệ Trung Thượng sĩ mới được đề cập đến Theo họ Bùi thì

Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Quốc Tảng (1252 – 1313) là một vị tướng, con

trai thứ ba của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và công chúa Thiên

Thành Nhận định này của Bùi Huy Bích đã có ảnh hưởng sâu rộng và trong

một thời gian dài, thậm chí cho đến ngày nay một đôi chỗ trên các trang web

(do sơ xuất hoặc do người viết không tìm hiểu kỹ lưỡng) vẫn thuận theo nhận

định này của Bùi Huy Bích

Trang 9

4

Sang thế kỷ 20, ngành khoa học xã hội ở Việt Nam bắt đầu có những bước phát triển với tầng lớp trí thức tây học, một lực lượng đông đảo các nhà nghiên cứu bắt tay vào công cuộc giải mã Tuệ Trung Thượng sĩ Đặc biệt với phong trào chấn hưng Phật giáo xuyên suốt cả thế kỷ, ngoài những đóng góp quan trọng trong công cuộc hoằng dương chính pháp, tầng lớp tăng sĩ đi sâu vào nghiên cứu và dần vén bức màn lịch sử cho nhiều vấn đề Phật học và công việc minh định về Tuệ Trung Thượng sĩ là một thành tựu trong số đó Bên cạnh các công trình học thuật của giới tăng sĩ Phật giáo như: Nguyễn

Lang với Việt Nam Phật giáo sử luận (1973), Thích Thanh Từ với Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục giảng giải (1992), Lê Mạnh Thát với Lịch sử Phật giáo Việt Nam (1999)… cũng có nhiều nhà nghiên cứu thế tục trong các lĩnh vực

của ngành khoa học xã hội tham gia vào công cuộc giải mã con người và tư tưởng độc lạ này như: Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Duy

Hinh, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn tài Thư, Nguyễn Huệ Chi với Trần Tung - một gương mặt lạ trong làng thơ thiền Lý – Trần (1978), Nguyễn Đăng Na,

Nguyễn Phạm Hùng… các vị học giả này đều đưa ra nhận định Tuệ Trung Thượng sĩ là Trần Tung (1230-1291) là một vị quý tộc nhà Trần, là con trai trưởng của An Sinh vương Trần Liễu, anh trai của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn và Hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm vợ vua Trần Thánh Tông Nhận định này đã phủ nhận danh tính của Tuệ Trung Thượng sĩ mà Bùi Huy Bích đưa ra và được giới học thuật chấp nhận đã trở thành nguồn tư liệu chính thống trong nghiên cứu về thân thế của Tuệ Trung Thượng sĩ Tất cả những công trình đó về cơ bản đã khắc hoạ tương đối đầy đủ về thân thế, sự nghiệp và tư tưởng thiền học của Tuệ Trung Thượng sĩ

Việc minh định Tuệ Trung Thượng sĩ với thế danh chính là Trần Tung (Trần Quốc Tung – theo Nguyễn Lang), đã khép lại một thời kỳ lịch sử nghiên cứu suy nguyên định danh thế tục của Tuệ Trung và đã mở ra một

Trang 10

5

hướng nghiên cứu mới, có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ các công trình nghiên cứu về Tuệ Trung Thượng sĩ sau này

Năm 1992, Trung tâm nghiên cứu Hán Nôm có tổ chức cuộc hội thảo

khoa học Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam đã thu hút đông đảo

các nhà nghiên cứu viết bài tham luận, sau đó tập hợp thành kỷ yếu hội thảo Trong đó những có bài nghiên cứu về cuộc đời, hành trạng, và những khám phá về Tuệ Trung Thượng sĩ trên phương diện đạo, phương diện Thiền Hầu hết những nghiên cứu này chủ yếu đi sâu vào tư tưởng và kiến giải của Tuệ

Trung Thượng sĩ Trong đó có các bài như “Tinh thần tam giáo đồng nguyên qua một số bài thơ của Tuệ Trung Thượng sĩ” của tác giả Trần Thanh Đạm; hay bài “Chất Thiền Đại Việt trong thơ Tuệ Trung Thượng sĩ” của tác giả

Nguyễn Thị Thanh Xuân… những công trình này đã nhấn mạnh vào vai trò của Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam trong lịch sử phát triển của dân tộc, đồng thời các công trình cũng đi sâu vào việc trình bày tư tưởng của Tuệ Trung Thượng sĩ thông qua một số tác phẩm của ông

Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Đức Diện với đề tài Tư tưởng Triết học của Tuệ Trung Thượng sĩ (năm 2000, Viện Triết học) đã phân tích hoàn cảnh

ra đời và tiếp cận Tuệ Trung Thượng sĩ từ điểm nhìn tư tưởng triết học Luận

án cũng đã trình bày một cách có hệ thống quan điểm về bản thể, thế giới hiện tượng, mối quan hệ giữa bản thể và thế giới hiện tượng trong triết học của ông

Lê Thị Thanh Tâm với luận án tiến sĩ Nghiên cứu so sánh thơ thiền Lý – Trần Việt Nam và thơ thiền Đường – Tống (năm 2007, Đại học KHXH&NV

TP.HCM) cũng có những đánh giá, phân tích, so sánh về một số bài thơ của Tuệ Trung Thượng sĩ với những nhà thơ Đường – Tống trên phương diện con người và cảm hứng tiêu dao trong các nhà thơ thiền này

Trang 11

Trần Nhân Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ

Do xác định đặc thù những sáng tác của Tuệ Trung không phải là những sáng tác văn chương đơn thuần, và Tuệ Trung Thượng sĩ cũng không

có ý định làm văn chương Cho nên những sáng tác của ông theo chúng tôi nằm ở giữa ranh giới của sáng tác văn chương và tôn giáo Bởi vậy trong Luận văn này chúng tôi chỉ khảo sát quá trình nghiên cứu về Tuệ Trung thượng sĩ chủ yếu tập trung vào những công trình nghiên cứu về ông đặc biệt

là từ thế kỷ XX cho đến nay chứ không phải là một cách nhìn tổng quan về

toàn bộ lịch sử tiếp nhận về Tuệ Trung Thượng sĩ và tác phẩm Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục theo suốt chiều dài lịch sử kể từ khi tác phẩm xuất hiện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu ở trong công trình này của chúng tôi là vấn đề lịch sử nghiên cứu về tác giả Tuệ Trung Thượng sĩ: tiểu sử - hành trạng – tác

phẩm xoay quanh cuốn sách Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục

3.2.Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Thông qua việc khảo sát lịch sử nghiên cứu về Tuệ Trung Thượng sĩ và

tác phẩm Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục , chúng tôi muốn có một cách nhìn

khái quát, thấu đáo, toàn diện và trọn vẹn về Tuệ Trung

Với phạm vi nghiên cứu là các công trình nghiên cứu về tác giả Tuệ Trung Thượng sĩ được công bố ở Việt Nam chủ yếu là từ thế kỷ XX đến nay, mục đích của người viết trong công trình nghiên cứu này không ngoài mong

Trang 12

7

muốn góp phần làm phong phú tư liệu nghiên cứu về Tuệ Trung Thượng sĩ Qua đó khẳng định vị trí, vai trò của ông đối với nền văn chương Phật giáo nói riêng và với văn học nước nhà nói chung Đồng thời việc hệ thống những công trình nghiên cứu về giá trị tư tưởng cũng như giá trị nghệ thuật trong các sáng tác của Tuệ Trung sẽ mang lại những giá trị nhất định trong việc khơi mạch nguồn sáng tạo cho những công trình tiếp theo

4 Phương pháp nghiên cứu

Với việc lựa chọn nghiên cứu đề tài Lịch sử nghiên cứu về tác giả Tuệ Trung Thượng sĩ: Tiểu sử - Hành trạng – Tác phẩm chúng tôi đã sử dụng

phương pháp hệ thống, tổng hợp, thống kê, phân tích qua đó khái quát chung

về tiến trình lịch sử nghiên cứu về tác giả Tuệ Trung Thượng sĩ

Bên cạnh đó, việc sử dụng phương pháp liên ngành: phương pháp tiếp cận văn hoá học, phương pháp so sánh trong đề tài này rất quan trọng và không thể thiếu Bằng những kiến thức về văn hoá học, tôn giáo học cụ thể là những quan niệm cơ bản của Phật giáo, đặc biệt là của Thiền tông, công trình dần dần làm sáng tỏ một hệ thống tư tưởng và một cá tính sáng tạo độc đáo của nền văn chương nước nhà

Đối với văn học trung đại nói chung và thơ văn thời Lý – Trần nói riêng thì việc sử dụng phương pháp xã hội học, nghiên cứu những ảnh hưởng của đời sống xã hội đến tư tưởng và cá tính sáng tạo của tác giả là điều tối quan trọng Nhất là đối với tác giả Tuệ Trung Thượng sĩ sinh trưởng trong một thời kỳ xã hội đầy biến động và huy hoàng của dân tộc, những ảnh hưởng

đó góp phần quan trọng tạo nên một tư tưởng lớn và một nhân cách lớn tác động trực tiếp đến nền học thuật đương thời là điều không thể thiếu sót

Trang 13

8

5 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm ba phần: Phần Mở đầu, Phần Nội dung và Phần Kết luận Phần Nội dung của luận văn chia làm ba chương như sau:

Chương I: Khái quát thời đại Lý - Trần và Tuệ Trung Thượng sĩ

Chương II: Lịch sử nghiên cứu về tiểu sử và hành trạng của Tuệ Trung

Thượng sĩ

Chương III: Lịch sử nghiên cứu về Tác phẩm Tuệ Trung Thượng sĩ

Ngữ lục

Trang 14

9

Chương 1 KHÁI QUÁT THỜI ĐẠI LÝ TRẦN VÀ TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ 1.1 Bối cảnh lịch sử – xã hội thời Lý - Trần

Năm 938, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, đưa đất nước bước sang kỉ nguyên độc lập tự chủ Với tinh thần kiên cường, Đại Việt đã xây dựng nhà nước phong kiến độc lập ngày càng hùng mạnh và phát triển qua các triều đại: Ngô (939-967), Đinh (968-980), Tiền Lê (980-1009), Lý (1009-1225), Trần (1225-1400)…

Bên cạnh việc khôi phục những giá trị tinh thần truyền thống, dân tộc ta còn tiếp biến các tinh hoa văn hóa ngoại lai nhằm tạo nên một nền văn hóa phong phú đa dạng và đậm đà bản sắc riêng của dân tộc Với tinh thần đó, sau mấy triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê đặt nền móng đầu tiên, đến triều đại Lý và Trần (gọi chung là thời đại Lý - Trần), Đại Việt trở thành đất nước phát triển

và dần hoàn bị về mọi mặt

Sự lớn mạnh của Đại Việt trước hết ở mặt chính trị Chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã khẳng định Đại Việt là đất nước độc lập thống nhất có chủ quyền Kể từ mốc son lịch sử này chúng ta đã tiếp tục ba lần chiến thắng quân Tống (981, 1075, 1077), bình định quân Chiêm Thành (1069), đặc biệt là ba lần đánh bại quân Nguyên Mông bạo tàn từng chiếm giữ nhiều quốc gia ở Châu Á và Châu Âu Cán cân ngoại giao giữa Đại Việt và các nước phương Bắc ở thời kì này khá phức tạp và luôn trong tình trạng căng thẳng Dân ta nhất quyết từ chối những yêu sách vô lí của ngoại bang đồng thời khéo léo và quyết liệt buộc họ phải trả lại kì hết đất đai thuộc về Đại Việt

Trang 15

10

Nếu ở triều Ngô, Đinh việc khôi phục kinh tế chưa đạt thành tựu là bao thì đầu thời nhà Lý trở đi công cuộc xây dựng đó đã thực sự khởi sắc, đặt nền tảng cho sự phát triển vững chắc Nông nghiệp được chú trọng, việc khai hoang và xây dựng các công trình thủy lợi phục vụ nông nghiệp rất được coi trọng: việc đào sông Đản Nãi (Thanh Hóa) năm 1029, đào kênh Lãm (Ninh Bình) năm 1051, khơi sâu sông Lãnh Kinh năm 1089 và sông Tô Lịch năm

1192 Nhờ sự quan tâm phát triển nông nghiệp và làm thủy lợi của nhà Lý, nước Đại Việt có thế đứng và phát triển khá vững chắc, đời sống nhân dân tương đối ổn định Hàng loạt ngành nghề thủ công truyền thống như dệt, gốm,

in, chạm khắc, mĩ nghệ… được khôi phục và phát triển Nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc trên gỗ, đá, gốm đạt đến trình độ khá cao Đặc biệt là hình ảnh con rồng – con vật linh của người Việt đã được tạc trên đình chùa với dáng vẻ mềm mại uyển chuyển Nhiều công trình nổi tiếng xuất hiện như: chùa Diên Hựu (chùa Một Cột) đời Lý, Tháp Phổ Minh ở Nam Định, Tháp Bình Sơn ở Vĩnh Phúc vào đời Trần… Thời đại này còn tạo ra bốn công trình nổi tiếng được mệnh danh là “An Nam tứ đại khí” hay còn gọi “Nam thiên tứ đại thần khí” Đó là: Tháp Báo Thiên, Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền và đỉnh (vạc) chùa Phổ Minh

Vấn đề học tập, thi cử đào tạo nhân tài, xây dựng đất nước được quan tâm sâu sắc Đến đời Vua Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông còn có kỳ thi tuyển chọn nhân tài Nhà Lý còn cho xây dựng Văn miếu (1070), mở trường Quốc tử giám (1076) Khoa thi đầu tiên được nhà Lý tổ chức vào tháng 2 năm

1075, niên hiệu Thái Ninh thời vua Lý Nhân Tông, gọi là thi Minh kinh bác học Lê Văn Thịnh người làng Báo Tháp xã Đông Cứu (nay thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh) đỗ đầu cùng hơn 10 người trúng tuyển Ông trở thành thủ khoa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Nếu như trước đó, tầng lớp quan lại, trí

Trang 16

11

thức thiên về Phật giáo, việc mở khoa thi Nho giáo đầu tiên này đánh dấu mốc

về việc nhà Lý chính thức tuyển người theo Nho giáo làm quan

Tuy nhiên theo sử sách còn chép lại chúng ta thầy nhà Lý tổ chức khoa

cử không đều đặn theo định kỳ và các kỳ thi cũng chưa có cách thức nhất định Các kỳ thi cách nhau khá xa và trong vòng 66 năm từ 1086 đến 1152 không thấy ghi chép một khoa thi nào

Sang đời Trần thi cử đã có bước tiến hơn trước, nhà nước đã đề ra lệ thi

và các kì thi đồng thời đặt ra các học vị chính thức trong thi cử Việc học không chỉ ở kinh thành, trong giới quý tộc và quan lại mà còn mở rộng ra các địa phương Sau khi thành lập không lâu, nhà Trần bắt đầu thực hiện chế độ khoa cử để chọn người tài giúp nước Năm 1232, nhà Trần mở khoa thi đầu tiên Năm 1247, triều đình đặt lệ thi lấy Tam khôi gồm 3 người đỗ đầu là trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa và quy định cứ 7 năm mở 1 khoa thi Trong 175 năm tồn tại, nhà Trần đã tổ chức 14 khoa thi (10 khoa chính thức

và 4 khoa phụ), lấy 283 người đỗ

Các sinh hoạt văn hóa được ưa chuộng từ vua chúa đến thứ dân Theo

Đại Việt sử kí, trong cung mỗi khi có yến tiệc, các vua quan múa hát theo

những điệu dân gian, tay người nọ đặt lên vai người kia, chân người nọ dẫm lên chân người kia không phân biệt ngôi thứ, phẩm cấp Đó là những hình ảnh bình dị sinh động, và rất hiếm thấy trong lịch sử phong kiến Việt Nam Chính điều đó đã tạo nên không khí chan hòa, thân dân của thời đại Lý - Trần

Thời kì này, ngoài tín ngưỡng dân gian, đạo Phật, đạo Nho, đạo Lão đều được du nhập và tiếp nhận, tinh lọc với tinh thần sáng tạo Đây là thời kỳ các tôn giáo phát triển rực rỡ, cho dù Phật giáo vẫn là tôn giáo được coi trọng và

đề cao Trên bình diện chung của những nhận thức và quan điểm về Nho - Phật - Đạo, với mỗi tôn giáo các vị vua lại thể hiện một thái độ và một cách

Trang 17

12

hành xử riêng Đặc biệt đây là thời kì Phật giáo đóng vai trò tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước Giáo lí Phật giáo khi du nhập vào Đại Việt đã hòa quyện với tín ngưỡng bản địa, kết hợp với Nho giáo

và Đạo giáo, trở thành một trong những nhân tố cơ bản ảnh hưởng sâu sắc đến

hệ tư tưởng của dân tộc Mối quan hệ tam giáo được thể hiện trong chế độ thi

cử, yêu cầu các thí sinh hiểu biết cả ba tôn giáo này mới có thể đỗ Đến thời

Lý Cao Tông, nhà Lý chính thức tổ chức các kỳ thi Tam giáo Việc thi cử bằng tam giáo phản ánh tam giáo đồng nguyên vào thời Lý, trong đó Nho giáo là hệ tư tưởng dùng để quản lý xã hội, Phật giáo là quốc giáo, còn Đạo giáo có ảnh hưởng nhất định trong các tầng lớp dân cư

Nhà nghiên cứu Hoàng Quốc Hải phân tích sâu hơn về mối quan hệ tam

giáo đồng nguyên thời Lý như sau: “Sở dĩ nói "đồng nguyên" là bởi mục tiêu tối thượng của cả ba tôn giáo này đều hướng tới tính thiện, tính nhân văn Và nhà Lý chiết xuất ra ở mỗi dòng đạo những điều ưu việt nhất làm định hướng căn bản cho việc xây dựng xã hội Đó là: Xã hội Nho - tâm linh Phật - Thiên nhiên Đạo Muốn tổ chức một xã hội có kỷ cương trật tự, có lề luật chặt chẽ thì không thể không dựa vào sự ràng buộc của tam cương, ngũ thường của Nho giáo Nhưng điểm yếu nhất của Nho giáo là vị kỷ, là phân chia đẳng cấp,

là trọng giàu khinh nghèo, trọng nam khinh nữ… sẽ tạo ra nhiều nhân tố bất

ổn cho xã hội Vậy muốn điều chỉnh nó thì con người phải biết tôn trọng lẫn nhau, sống trong hiếu hòa, hiếu thiện và từ bỏ lòng tham lam ích kỷ, sân hận

cố chấp, để tiến tới giác ngộ mà giải thoát ra khỏi cám dỗ vật chất của đời thường, và để đạt tới sự tiến hóa ấy thời phải lấy tâm linh Phật làm cứu cánh Lại nữa con người cùng với muôn loài được sinh ra dưới ánh mặt trời kể cả các loài thấp sinh, noãn sinh và thảo mộc đều bình đẳng Vì vậy Lão Tử chủ trương muôn loài phải nương tựa vào nhau, cùng tồn tại chứ không loài nào được chèn ép loài nào Con người cũng như các loài khác phải tôn trọng

Trang 18

13

thiên nhiên, như Thượng đế đã an bài Do đó, cái thiên nhiên sinh tồn phải là thiên nhiên Đạo (giáo)” [19]

Hào khí ấy, học phong ấy dựa trên nền kinh tế, chính trị, giáo dục tiến bộ

đã khiến thời đại Lý - Trần phát triển đạt đến đỉnh cao của sự phồn thịnh và tạo nên hình ảnh con người với nhân cách cao đẹp đáng kính Đó là những

ông vua anh minh, thương dân như con như Lý Thánh Tông Làm vua mà dễ dàng từ bỏ ngai vàng như “trút chiếc giày rách” như Trần Thái Tông lúc trẻ; khi về già lại nhường ngôi cho con, làm thái thượng hoàng cùng xây dựng chính sự [36] Đó là những vị tể quan, quý tộc vì an nguy của xã tắc sẵn sàng

xóa bỏ hiềm khích mâu thuẫn của gia tộc, ở ngôi cao chức trọng được ân sủng đặc biệt nhưng không lạm dụng chức quyền, luôn giữ trọn đạo làm tôi Cả những phi tần, công chúa quên đi việc làm đẹp, hạnh phúc của bản thân, biết đặt quyền lợi của quốc gia trên quyền lợi của gia đình Đó là những thiền sư,

cư sĩ tu theo đạo Phật, nhưng không ngại dấn thân vào cuộc đời vì lợi ích của

xã tắc… Ta có thể mượn một vài đoạn trong sách sử của người xưa để hình dung rõ hơn về hào khí của con người thời ấy

“Vua Lý Thánh Tông cũng giống các vua đời trước tuy đóng đô ở Thăng Long nhưng tình cảm thường gắn bó với ruộng đồng và rất thương dân ( ) Một lần ngự ở điện Thiên Khánh để xử kiện, con gái vua là Động Thiên đứng hầu bên cạnh, phạm nhân là một chàng trai trẻ phạm tội vì không hiểu luật Nhà vua gọi chúa ngục lại chỉ vào con gái mình mà nói:

Ta yêu con ta như các bậc cha mẹ trong thiên hạ yêu con cái họ Trăm

họ không hay biết nên tự phạm vào luật pháp ta rất thương xót Từ nay các tội bất kỳ nặng nhẹ cần răn dạy kĩ lưỡng và nhất nhất phải đều khoan giảm

Và nhà vua đã tha bổng cho người con trai nọ Lần khác gặp trời rất lạnh nghĩ đến dân vua chạnh lòng với tả hữu:

Trang 19

14

Ta ở trong thâm cung sưởi lò than, mặc áo hồ cừu mà khí lạnh còn thế này, huống hồ những kẻ bị giam trong ngục thất xiềng xích khổ đau, ngay gian chưa định, bụng không cơm no, thân không áo ấm, một khi gặp cơn giá lạnh thổi há chẳng bị chết rét ư? Ta rất đỗi thương xót

Nói rồi vua sai tả hữu đem chăn chiếu trong kho ban cho tù nhân và mỗi ngày phát cho tù nhân ăn hai bữa cơm và vua xuống chiếu miễn cho cả nước nửa số thuế năm đó” [39]

Lý Thường Kiệt là vị tướng tài đời nhà Lý Theo Nguyễn Duy Hinh ông

là người có công lớn trong kháng chiến chống quân Tống “Ông trong tỏ ra khoan minh, ngoài thì ân huệ Sửa đổi tục xấu cho dân, không quản khó nhọc Làm việc thì cố tránh phiền dân, sai dân thì cốt dỗ dân vui lòng làm việc; vì

đó mà dân được nhờ Đem bụng khoan thứ cứu dân, lấy lòng nhân ái yêu dân; vì đó mà được dân kính trọng Lấy vũ oai để trừ lũ ác, lấy chính luật mà

xử kiện, nhờ đó mà không ai oán, cho nên ngục thất chẳng cần coi Xem sự

đủ ăn là nguyện của dân, lấy việc cấy cày là gốc của nước, nhờ đó mà mùa không mất Cai trị giỏi nên không cần đánh dẹp Nuôi nấng những kẻ già nua, cho nên kẻ già được yên Đạo ông như thế có thể coi là gốc để trị an, thuật để yên dân thật là đẹp đẽ (…) Khi việc binh tạm rảnh, việc chính trị tạm thưa thì vui cùng sơn thủy, giúp dựng chùa chiền…” [22, tr.118-119]

Trong Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn chép: “Mậu Thìn năm thứ mười

một (1268) Mùa xuân, tháng giêng vua (Trần Thánh Tông) từng bảo với tôn

thất rằng: Thiên hạ là thiên hạ của tổ tông, người nối nghiệp của tổ tông nên cùng anh em họ cùng hưởng phú quý; tuy bên ngoài cả thiên hạ phụng sự một người tôn quý, nhưng bên trong ta cùng các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui thì cùng vui, các khanh nên lấy câu nói ấy mà truyền cho con cháu để nhớ lâu đừng quên thế là phúc muôn năm của tôn miếu xã tắc vậy

Trang 20

15

Đến đây xuống chiếu cho các vương hầu tôn thất, xong buổi chầu thì vào trong điện và lan đình, cùng nhau ăn uống; hoặc có khi trời tối không về thì đặt gối dài chăn rộng cùng ngủ liền giường với nhau để tỏ hết lòng yêu nhau Còn như lễ lớn chầu mừng, tân khách yến tiệc thì phân biệt ngôi thứ cao thấp

Vì thế nên vương hầu bấy giờ không ai là không hòa thuận kính sợ, mà không

có lỗi lệch vì sự nhờn mặt kiêu căng” [39, tr.442-443] (…) “Quốc Tuấn là con Yên Sinh Vương, lúc mới sinh ra có người thấy tướng trông thấy bảo rằng:

Người này sau có thể giúp nước cứu đời (…) Yên Sinh Vương với Chiêu

Lăng (tức Trần Thái Tông) vốn không ưa nhau, mang lòng hậm hực, tìm gặp những người tài nghệ để dạy Quốc Tuấn Khi Yên Sinh Vương sắp mất cầm

tay Quốc Tuấn mà giối giăng rằng: Mày mà không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết không nhắm mắt Quốc Tuấn để bụng thôi nhưng không cho thế

là phải Đến khi nước lung lay, quyền bính quân quốc ở tay mình, Quốc Tuấn đem lời cha rặn nói với hai gia nô là Dã Tượng, Yết Kiêu Hai người

gia nô can rằng: làm kế ấy tuy được phú quý một lúc mà để lại tiếng xấu ngàn năm Nay đại vương chẳng phải phú quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết làm gia nô chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xin lấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi Quốc Tuấn cảm kích đến phát khóc rồi

khen ngợi mãi ( ) Thái Tông có vài văn bia ở sinh từ của Quốc Tuấn để ví với Thượng phụ ngày xưa Lại cho là có công lớn phong làm Thượng quốc công, cho phép được phong tước cho người khác từ tước Minh tự trở xuống duy có tước hầu thì phong trước mà tâu sau Nhưng Quốc Tuấn chưa từng phong tước cho một người nào Khi giặc Hồ xâm lấn, Quốc Tuấn bảo nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, chỉ cho làm Lang tướng giả chứ không làm Lang tướng thực, ông kính cẩn giữ tiết làm tôi như thế Ông từng làm sách để khích lệ tướng hiệu dưới quyền, dẫn việc Kỷ Tín lấy mình chết thay cho Hán

Trang 21

1.2 Phật giáo thời Lý - Trần

1.2.1 Khái quát Phật giáo thời Lý - Trần

Phật giáo khởi nguyên ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ thứ VI trước Công Nguyên Người sáng tạo ra đạo Phật là thái tử Tất Đạt Đa Cảm thông trước nỗi khổ của người dân, đặc biệt là tầng lớp nô lệ, năm 29 tuổi ngài đã từ bỏ ngai vàng và cuộc sống phú quý trong cung điện để tìm con đường giải thoát cho chúng sinh Sau gần 7 năm tầm sư học đạo, ngài đã giác ngộ được con

đường giải thoát trong lúc ngồi suy ngẫm dưới gốc cây bồ đề “Con đường giải thoát” mà ngài tìm ra là con đường tránh được hai cực: lạc thú và khổ

hạnh Ngài xem con người là sự tập hợp của nhiều yếu tố vật chất không ngừng biến hóa nên sẽ không có cái gọi là linh hồn bất tử

Khi Phật Thích Ca nhập diệt, Phật giáo phân chia thành nhiều tông phái Trong đó nổi bật nhất là hai tông phái: Nam truyền và Bắc truyền Tông phái Nam truyền phát triển ở miền Nam Ấn Độ và truyền sang các nước Sơrilanca, Thái Lan, Campuchia… (Phật giáo Pali) Tông phái Bắc truyền phát triển ở Bắc Ấn và truyền qua các nước Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản… (Phật giáo Sanskrit)

Trang 22

17

Việt Nam là đất nước nằm giữa chiếc nôi của hai nền văn minh lớn là Ấn

Độ và Trung Quốc nên hiển nhiên sẽ chịu ảnh từ cả hai phía Tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo truyền vào nước ta từ trước thế kỉ thứ II bằng con đường tiếp nhận tự nguyện từ các thương buôn và tu sĩ người Ấn Độ trước khi Trung Quốc áp dụng chính sách đồng hóa nước ta Trong công trình

Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang có viết: “Luy Lâu là trụ sở của

Giao Chỉ, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng Việt Nam, tức huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc ngày nay Từ đây có những tuyến đường thủy bộ nối với Bành Thành và Lạc dương Các nhà buôn người Ấn Độ và người Trung Á đến buôn bán ở đây rất sớm và theo sau họ là các nhà sư đến hành đạo và truyền đạo Ở đây lại xuất hiện một trong những tác phẩm Phật giáo viết sớm nhất

bằng chữ Hán, đó là cuốn Lý hoặc luận của Mâu Tử, viết vào thế kỉ thứ II,

xuất hiện những người trưởng thành về tu luyện rồi sang Trung Quốc truyền đạo như Mâu Tử, Khương Tăng Hội ” [37, tr.29] Nhà sư Đàm Thiên (người

Trung Quốc) khi trả lời Tùy Văn Đế về Phật giáo Giao Châu cũng khẳng định: “Xứ Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc Phật giáo vào Trung Quốc chưa phổ cập đến Giang Đông mà xứ ấy đã xây ở Liên Lâu hơn 20 bảo tháp, độ được 500 vị tăng và dịch được 50 bộ kinh rồi Thế xứ ấy theo đạo Phật trước ta ” [37, tr.32]

Điều kiện địa lí kết hợp với những nhận định nêu trên cho phép kết luận Phật giáo buổi đầu được truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang nước ta bằng con đường tiếp nhận tự nguyện thông qua quá trình giao lưu văn hóa từ các thủy thủ và thương nhân, theo sau họ có thể là những tăng sĩ truyền đạo Nhưng đạo Phật truyền vào Việt Nam thời kì này có giáo lí như thế nào và gồm các tông phái ra sao thì đến nay vẫn chưa có câu trả lời cụ thể Có thể là tông phái Đại thừa với hạt nhân là Thiền tông du nhập vào nước ta từ Ấn Độ Vì theo

tác giả Việt Nam Phật giáo sử luận thì “ nam Ấn là vùng đầu tiên xuất hiện

Trang 23

18

kinh Đại thừa Bát Nhã Hán dịch là trí tuệ ( ) chính dựa trên bộ kinh Bát Nhã

mà luận sư Long Thọ (Nagajuna) đã xướng thuyết Trung luận nổi tiếng có ảnh hưởng sâu rộng đến Phật giáo Việt Nam” [37, tr.23-24] Ngoài ra có thể căn cứ vào hành trạng của các nhà sư nước ngoài đầu tiên đến truyền đạo ở Giao Châu để thấy được phần nào diện mạo của Phật giáo Việt Nam thời kì

này Theo Cao tăng truyện của Huệ Hạo, Ma-ha-kì-vực là người xứ Thiên

Trúc đi khắp mọi nơi truyền đạo và có phép thuật linh dị Khâu-đà-la lại gắn với sự tích về Man nương và tượng “tứ pháp” (pháp vân, pháp vũ, pháp lôi,

pháp điện) Trong cuốn Lý hoặc luận của Mâu Tử, Phật không được giới

thiệu như một nhân vật lịch sử mà xuất hiện như một vị thần có phép thần

thông quảng đại “có thể biến đi, có thể hiện ngay, có thể đi trên lửa mà không cháy, dẫm trên dao mà không bị thương, trong chỗ nhiễm không bị bẩn, trong chỗ họa mà không chịu tai ương, muốn đi thì bay, ngồi thì phát sáng ” [37,

tr.40] Đến thế kỉ thứ III, tăng sĩ xứ Đại Nhục Chi là Chi Cương Lương với sự

hỗ trợ của tăng sĩ Việt Nam là Đạo Thành đã dịch một số kinh Đại thừa ở

Giao Châu Nổi tiếng nhất là bộ kinh “Pháp hoa tam muội” Qua bộ kinh này “có thể thấy học phái của Chi Cương Lương và Đạo Thành là Đại thừa giáo và có khuynh hướng Thiền học” [37, tr.75]

Từ năm 580, thiền sư Ấn Độ là Tỳ Ni Đa Lưu Chi sang Giao Châu truyền giáo và lập ra Thiền phái thứ nhất ở Việt Nam Ông là học trò đắc pháp của Tăng Xán, tổ thứ 3 của Thiền tông Trung Hoa, nhưng dòng Thiền này vẫn mang sắc thái của Thiền học Ấn Độ Phái Thiền này coi trọng sự tu định và tham thiền Đây chính là pháp môn của Bồ Đề Đạt Ma, một đại biểu xuất sắc của Thiền tông Ấn Độ

Năm 820, thiền sư Trung Hoa hiệu Vô Ngôn Thông, sang chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng tỉnh Bắc Ninh lập ra phái Thiền thứ hai tại Việt Nam Vô

Trang 24

Từ thế kỉ thứ X và trong suốt các thời kì Ngô, Đinh, Tiền Lê, Phật giáo vẫn tiếp tục phát triển Một số trung tâm Phật giáo mới xuất hiện như Đại La, Hoa Lư… Hai phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển Ở giai đoạn này thật khó nêu lên sự khác biệt của hai phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông Dường như đối với các nhà

sư thuộc phái Vô Ngôn Thông, các vấn đề cơ bản của Thiền học được quan tâm nhất là: Tâm – Phật, sinh tử – vô sinh tử, chân như… Ở các nhà sư thuộc phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi ta thường gặp các hình thức tu tập mang tính chất Mật giáo Các nhà sư hay đọc các bài thần chú để chữa bệnh, cầu mưa làm công việc giống các đạo sĩ Đạo giáo Ngoài ra các nhà sư còn dùng hình thức kệ, sấm để tác động đến dư luận, nhất là việc chuẩn bị cho các cuộc vận động chính trị (Pháp Thuận, Vạn Hạnh) Yếu tố Mật giáo còn được thể hiện ở các cột kinh ở Hoa Lư Tuy nhiên Mật giáo chỉ biểu hiện ở những khía cạnh riêng

lẻ, chưa hình thành tông phái độc lập Ở Việt Nam thời bấy giờ cũng như về sau chỉ có các phái Thiền tông

Như vậy kể từ lúc du nhập vào Việt Nam cho đến cuối thời Tiền Lê, Phật giáo đã trải qua một chặng đường phát triển khá dài với các đặc điểm nổi bật sau:

Phật giáo Việt Nam là sự hòa hợp từ 3 nguồn du nhập: thứ nhất là Phật giáo Đại thừa mang đậm xu hướng Thiền từ nam Ấn trực tiếp du nhập vào Việt Nam vào thế kỉ thứ II Thứ hai là Thiền tông Ấn Độ qua Trung Quốc

Trang 25

20

truyền vào Việt Nam ở thế kỉ thứ VI qua thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi Thứ ba

là Thiền tông Trung Quốc trực tiếp truyền sang Việt Nam vào thế kỉ thứ IX qua thiền sư Vô Ngôn Thông

Phật giáo truyền vào Việt Nam không hoàn toàn giống Phật giáo của đức Thích Ca cũng như Phật giáo Ấn Độ đương thời Nó đã thay đổi cho phù hợp với tín ngưỡng và truyền thống tư tưởng của người Giao Châu gắn với trung tâm Luy Lâu

Thiền tông là tông phái chủ yếu của Phật giáo ở nước ta Thiền tông buổi đầu còn chịu ảnh hưởng từ Mật tông và Tịnh độ tông (chủ trương niệm Phật

để cầu vãng sinh cực lạc), nhưng càng về sau càng biến đổi cho phù hợp với tâm lí người Việt

Sang đời Lý, hai phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông tiếp tục phát triển song song Theo Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi có các thiền sư như Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Minh Không, Thiền Nham đều nổi tiếng có phép thuật, thể hiện rõ sự ảnh hưởng của khuynh hướng Mật giáo Họ không chỉ tu đạo mà còn góp phần giải quyết nhu cầu thực tế như: cầu an, chữa bệnh, thu phục thú dữ… Phái Thiền Vô Ngôn Thông tồn tại ở đời Lý từ thế hệ thứ 5 đến thế hệ thứ 15 Nổi bật là các thiền sư có tên tuổi như: Đa Bảo, Viên Chiếu, Lý Thái Tông, Mãn Giác, Ngộ Ấn… Các thiền sư phái này chủ trương

“đốn ngộ” Muốn đạt đến cảnh giới bừng sáng ấy thì người tu Thiền không được có cái tâm phân biệt và phải chống lại sự phân tích lí tính Ở Thiền phái này cũng chịu ảnh hưởng của Mật giáo nhưng không sâu đậm như ở ở phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi

Nhìn chung các nhà sư đời Lý đều đề cao “đốn ngộ” nhưng không gạt bỏ

“tiệm ngộ” Trong văn bia chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh dựng năm 1118,

thiền sư Pháp Bảo có viết: “tuy giáo pháp chia ra đốn và tiệm; là tùy cơ ngộ

Trang 26

bị Lý Thái Tông bắt làm gia nô của quan Tăng lục khi bình định Chiêm Thành Về sau vì có đạo hạnh nên ông được vua tôn làm quốc sư Sách vở của phái thiền Thảo Đường còn lại rất ít nên ta có thể lĩnh hội tinh thần của tông

phái này qua lời của Thảo Đường trong bài Cảnh sách: “Thiền vốn không có

cửa vào nhất định, không phải người có đủ linh căn thì phần nhiều rơi vào đường lầm lạc, trọn đời trôi nổi, khó mà giác ngộ Phép quán tâm thì rất tế nhị, tinh vi, nếu không có trí tuệ Bát nhã thì ít đạt tới sự chứng nghiệm Chỉ

có lối niệm Phật rất mau lẹ, tiện lợi Từ xưa đến nay người thông minh, kẻ ngu độn cùng tu được, đàn ông, đàn bà đều chuộng, muôn người không một sai lầm như bốn lời dạy đã tỏ rõ Chỉ cần tự phân tích lấy tâm mình, chớ nghi ngờ mình làm không được ” [87, tr.20-21] Như vậy tinh thần của phái Thảo

Đường tổng hợp cả Thiền và Tịnh, gần gũi với dân thường, tiếc là sự truyền thừa của nó không được kéo dài (qua 4 đời)

Tóm lại đạo Phật thời Lý thể hiện sự dung hòa của cả Thiền, Mật và Tịnh, trong đó Thiền tông vẫn là yếu tố chủ đạo Đó là đạo Phật rất đại chúng, góp phần tạo nên sự hưng thịnh cho triều đại nhà Lý về nhiều mặt Đáng tiếc

là về cuối đời Lý, đạo Phật lại có biểu hiện suy thoái Năm 1198, tể tướng

Đàm Dĩ Mông tâu với vua Lý Cao Tông: “đương nay số tăng đồ và phu dịch ngang nhau Chúng quy kết bè lũ, lập càn người chủ, tụ họp từng bọn làm nhiều điều ô uế ” [80, tr.116]

Trang 27

Tế cùng với Thiên Phong, truyền thống Lâm Tế được du nhập lần đầu có ảnh hưởng lớn Những tư tưởng “vô tâm” và “mê ngộ không hai” cùng những nguyên tắc Tứ Liệu Giản, Tam Cú, Tam Huyền, Tam Yếu, Tứ Chiếu Dụng và

Tứ Tân Chủ được học tập và áp dụng Phương pháp dùng tiếng hét và gậy đánh cũng thỉnh thoảng được áp dụng Yếu Tố Tịnh Ðộ giáo – vấn đề niệm Phật đã được Trần Thái Tông và Tuệ Trung đề cập tới Ðối với cả hai người, niệm Phật, cũng như ngồi thiền, có mục đích gạn lọc tâm ý và thể hiện pháp thân”[37, tr.375-377]

Sang đầu đời Trần, sự thay đổi của thời đại đã thổi một luồng không khí mới vào Phật giáo làm nó trở nên nhập thế gần gũi với đời sống nhân dân Các nhà Thiền học uyên thâm như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung, Trần Nhân Tông Đối với các thiền sư cũng như tất cả người yêu Thiền lúc bấy giờ, Phật giáo là đạo Phật hết sức gần gũi

Trang 28

Từ những khảo sát trên, ta thấy Thiền tông Việt Nam thời Lý - Trần ngoài tôn chỉ chung của Thiền tông là “phá chấp” (cởi bỏ mọi vướng mắc, chấp trước, phân biệt “nhị nguyên”), “đốn ngộ” (“kiến tính” bằng con đường trực giác), “tâm truyền” (trao truyền thẳng vào lòng người, không thông qua văn tự), còn có một số nét riêng:

Thiền được đưa vào cuộc sống, gắn bó với cuộc sống, phục vụ nhân dân Nhiều thiền sư trong giai đoạn này chọn lối sống cư sĩ, nhưng khi đất nước cần thì sẵn sàng tham chính, mặc áo giáp ra trận, vừa hành đạo vừa làm việc đời Đạo Phật trở thành thứ đạo lí để nuôi dưỡng chân tính, tu dưỡng nhân cách của con người, giúp họ an nhiên tự tại, vui sống, tự tin vào bản thân Thiền dung hợp với yếu tố tích cực của cả Nho giáo và Đạo giáo để giúp con người phát triển toàn diện, phù hợp với con đường phát triển của thời đại Thiền dung hợp với cả với Tịnh độ, Mật tông, hòa cùng tín ngưỡng dân gian bản địa để phù hợp với thực tiễn và mang tính đại chúng

Tóm lại Phật giáo thời Lý - Trần là hệ tư tưởng phù hợp với đạo lí và tâm lí của con người Đại Việt, là một trong những yếu tố giúp Đại Việt khởi

Trang 29

24

sắc Nó vừa góp phần tạo lòng tin cho mỗi người, vừa khuyến khích con người quay trở về với chân tâm của mình Đó là đạo Phật đầy sức sống, không hề hư vô, yếm thế, không thoát li khỏi đời sống Nó là hệ tư tưởng được nhiều người chọn để thể hiện trong thơ văn, tạo nên cho thời đại Lý - Trần một dòng văn học đặc biệt mà mỗi cái tên là một khám phá thú vị

1.2.2 Đặc trưng Phật giáo thời Trần

Theo Việt Nam Phật giáo sử luận thì từ “đầu thế kỷ thứ mười ba, ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường dần dần nhập lại là một”[37, tr.205] Do ảnh hưởng lớn lao của Trần Thái Tông và Tuệ

Trung Thượng sĩ, sự sáp nhập của ba thiền phái trên đây vào nhau đã đưa tới

sự phát triển lớn của thiền phái Yên Tử thành thiền phái Trúc Lâm Tông phái này xuất hiện từ núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là thiền sư Hiện Quang Thiền

sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm, thầy của vua Trần Thái Tông, là tổ thứ hai của Phái Yên Tử, được vua tôn xưng là quốc sư Vị tổ truyền thừa thứ ba là Ðại Ðăng quốc sư đồng sư với vua Trần Thái Tông Một vị quốc sư khác tượng trưng cho sự lãnh đạo nền Phật Giáo thống nhất đời Trần là Nhất Tông quốc sư, đệ tử của thiền sư Ứng Thuận thuộc thế hệ thứ 16 của thiền phái Vô Ngôn Thông [37, tr.205]

Thiền phái Thảo Ðường không có cơ sở trong đại chúng bình dân, cũng không có truyền thống tu viện đặc thù, nhưng có ảnh hưởng sâu đậm tới mặt học thuật tư tưởng và thi ca trên hai thiền phái đương thời: Tuyết Ðậu Ngữ Lục đã trở thành một văn kiện được trọng dụng ở cả hai thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi và Vô Ngôn Thông Thiền sư Thường Chiếu, thuộc phái Vô Ngôn Thông, đã sang làm tọa chủ ở chùa Lục Tổ, vốn là một tổ đình rất xưa của thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi: điều này chứng tỏ hai thiền phái này lúc bấy giờ hầu như đã sát nhập nhau thành một Thường Chiếu và đệ tử là Thần Nghi

Trang 30

25

sinh hoạt trong lòng thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi đã thu thập khá nhiều tài

liệu về thiền phái này để ghi chép lại trong sách Thiền Uyển Tập Anh Thiền

sư Thường Chiếu có thể được gọi là người khởi đầu cho sự tổng hợp giữa ba thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường và cũng là gạch nối giữa Phật giáo đời Lý và Phật giáo đời Trần

Ba vị đệ tử quan trọng của Thường Chiếu là Thần Nghi, Thông Thiền và Hiện Quang

Thần Nghi với đệ tử là Ẩn Không đã có trách nhiệm truyền lại các tài

liệu lịch sử Phật Giáo của Thường Chiếu, như các sách Thiền Uyển Tập Anh

và Nam Tông Tự Pháp Ðồ

Thông Thiền nối tiếp truyền thống Vô Ngôn Thông truyền xuống cho Tức Lự, rồi Ứng Thuận Các đệ tử của Ứng Thuận như Nhất Tông, Giới Minh, Giới Viên, Tiêu Diêu (Dao) (Thầy của Tuệ Trung) đều là những ngôi sao sáng trong Phật học giới và đều đóng góp nhiều cho nền Phật Giáo Thống Nhất đời Trần Họ là những người của thế hệ cuối cùng của thiền phái Vô Ngôn Thông

Vị tổ khai sơn chùa Hoa Yên ở núi Yên Tử là thiền sư Hiện Quang, đệ tử của thiền sư Thường Chiếu chùa Lục Tổ Nhưng Hiện Quang không phải chỉ

là người truyền thừa tông chỉ của Thường Chiếu phái Vô Ngôn Thông Ông còn học với thiền sư Trí Thông chùa Thánh Quả và thiền sư Pháp Giới ở núi Uyên Trừng, phủ Nghệ An nữa

Trúc Lâm Quốc sư là thế hệ thứ hai trên núi Yên Tử đệ tử của thiền sư

Hiện Quang, mà theo Thuyền Uyển Tập Anh có pháp danh là Ðạo Viên; sách Thánh Ðăng Lục, sách Yên Tử Sơn Trúc Lâm Trần Triều Thiền Tông Bản Hạnh và tài liệu truyền thừa chùa Hoa Yên (theo hòa thượng Phúc Ðiền) đều

Trang 31

26

nói tên thiền sư là Viên Chứng Viên Chứng hay Ðạo Viên hay Trúc Lâm Quốc sư cũng là một người Thiền sư Hiện Quang tịch năm 1220 Ðạo Viên thiền sư làm lễ an táng thầy trên núi Yên Tử

Vào khoảng năm 1248, Trúc Lâm có xuống kinh sư theo lời mời của vua Thái Tông để kiểm điểm lại các bộ kinh và lục trước khi đem khắc bản gỗ để

ấn loát phát hành Vua Thái Tông thỉnh ông ở lại chùa Thắng Nghiêm, tôn xưng là quốc sư Vua cũng trình ông một tác phẩm ông vừa mới viết tên là

Thiền Tông Chỉ Nam Ông khen ngợi và khuyên nên khắc bản để in luôn

trong dịp ấy

Ðại Ðăng Quốc sư là một vị đệ tử xuất sắc của Trúc Lâm Quốc sư Viên Chứng, là người đã ảnh hưởng nhiều tới tư tưởng thiền phái Trúc Lâm sau này Ðại Đăng Quốc sư thuộc thế hệ thứ ba của truyền thống Yên Tử, huynh

đệ đồng sư với Trần Thái Tông Theo thánh Ðăng Lục và Trần Triều Thiền tông bản hạnh rằng tuy tiếp nhận truyền thừa phái Yên Tử nhưng ông cũng

tiếp nhận truyền thừa Lâm Tế do thiền sư Thiên Phong từ Trung Hoa đưa qua Thiên Phong từ Chương Tuyên đến, thuộc về thiền phái Lâm Tế Huệ Nguyên

trong bài Lược Dẫn Thiền Phái Ðồ in ở đầu sách Thượng sĩ Ngữ lục nói rằng Thiên Phong là cư sĩ Trần Triều Thiền tông bản hạnh, nói ông là “thầy nước

ngoài” và trí tuệ cao tài kinh lịch chư bang” Khi Thiên Phong đến Việt Nam, vua Thái Tông nghe tiếng liền mời đến viện Tả Nhai, hội họp các bậc thiện tri thức lại để cùng tham học Lúc này Ðại Ðăng đã được Trúc Lâm quốc sư gửi

về kinh thành hành đạo Trong số những người nghe Thiên Phong giảng đạo Ðại Ðăng là người được Thiên Phong chính thức truyền cho tâm ấn Một trong những đệ tử xuất sắc của Ðại Ðăng là Liễu Minh Quốc sư [37]

Tiêu Dao thiền sư thuộc thế hệ thứ tư truyền thống Yên Tử Ông là học trò Ðại Ðăng, đồng thời cũng đắc pháp với thiền sư Ứng Thuận của thiền phái

Trang 32

“Thiền phái truyền vào nước ta không biết người nhận lãnh đầu tiên là ai, chỉ biết Thiền Nguyệt truyền cho Nguyễn Thái Tông rồi lần xuống Ðịnh Hương trưởng lão, Viên Chiếu, Ðạo Huệ, sau đó còn lần lượt trao truyền, nhưng tên tuổi các ngài lúc ẩn, lúc hiện khó nhận ra manh mối” Ta thấy Huệ Nguyên nhắc đến tên một số các vị thiền sư phái Vô Ngôn Thông nhưng không biết gì

về nguyên ủy của thiền phái này” [37, tr.217-218]

Thiền sư Tiêu Dao còn được gọi là Phúc Ðường đại sư, cư trú ở Phúc Ðường tịnh xá Không biết tịnh xá này ở đâu Có thể là trên núi Yên Tử Tuệ

Trung thượng sĩ có một bài thơ “Lên thăm thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Ðường tịnh xá” và một bài thơ “Cảnh vật Phúc Ðường” trong đó có câu “Thả hỷ lâm

thâm thoại thú tàng” (vui chốn rừng sâu trong đó có ẩn nhiều loại thú lành)

Trang 33

28

Tuệ Trung là một bậc cự phách trong rừng thiền nhưng đối với thiền sư Tiêu

Dao rất mực cung kính khâm phục Trong bài “Lên thăm Thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Ðường”, ông nói:

Cho hay Phật sống trần gian đấy, Sen nở trên lò rực lửa hồng

(Tu tri thế hữu nhân trung Phật, Hưu quái lô khai hỏ lý liên) Tuy Huệ Tuệ là pháp tử chính thức của Tiêu Dao, trụ trì chùa Yên Tử, nhưng chính Tuệ Trung thượng sĩ mới là học trò xuất sắc nhất của Tiêu Dao Như vậy, Phật giáo kỷ nhà Trần đã có sự hòa trộn, dung nhập của cả ba dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, đặc biệt là sự

du nhập của thiền phái Lâm Tế do thiền sư Thiên Phong từ Trung Hoa sang

đã có ảnh hưởng không nhỏ đến thiền sư Đại Đăng Thiền sư Đại Đăng ấn tâm cho thiền sư Tiêu Dao, thiền sư Tiêu Dao Phúc Đường lại là vị minh sư hướng đạo cho Tuệ Trung Thượng sĩ Và Tuệ Trung Thượng sĩ là người có ảnh hưởng lớn đến thiền học của sơ tổ Trúc Lâm Điều Ngự Làm rõ vấn đề hệ phái sơn môn Phật giáo Việt Nam thời kỳ này giúp cho người đọc một hình dung khái quát và trọn vẹn về bức tranh tổng thể Phật giáo đương thời Qua

đó việc nghiên cứu, tìm hiểu về Tuệ Trung Thượng sĩ sẽ có những cách nhìn thấu đáo, rốt ráo về vị tác giả độc đáo này

Phật giáo thời Trần được mở đầu bằng Trần Thái Tông là sự tiếp nối theo hướng phát triển của Phật giáo thời Lý Phật giáo thời Trần là sự tổng hợp của Tam giáo (Nho - Phật - Đạo) lấy Phật giáo là cơ sở, trụ cột Phật giáo thời kì này có cả Thiền tông, Tịnh Độ tông, Mật tông, trong đó Thiền là nòng cốt Phật giáo đến thời nhà Trần đã thống nhất ba thiền phái tồn tại độc lập

Trang 34

29

trước đó : phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, phái Vô Ngôn Thông, phái Thảo Đường để trở thành một hệ thống tư tưởng nhất quan xuyên suốt và làm chủ đạo, và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời với vị sơ tổ là Phật Hoàng Trần Nhân Tông

Ở một góc độ nào đó có thể nói rằng văn hóa tư tưởng thời Trần lấy nền tảng tư tưởng là thiền tông Tuy nhiên thời Trần không phải là thiền tọa đơn thuần như khuynh hướng trội của thiền tông Trung Quốc, mà nó ngày càng nổi lên khuynh hướng tích cực học tập kinh điển, nghiên cứu các bộ ngữ lục Từ đó các thiền sư đã tiến hành phân tích, chú giải, biện luận các bộ kinh, các bộ luận dưới dạng các khóa, lục, sớ Điều này thể hiện khá rõ ở Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, và Tam tổ thiền phái Trúc Lâm Chính vì vậy, có

ý kiến cho rằng Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập cho đến lúc này, khuynh hướng thiền giáo nhất trí

Các kinh sách mà các thiền sư thời Trần hay tụng đọc là: kinh Kim Cương Lăng Già, Viên Giác, Pháp Hoa Nhưng đặc biệt chú ý đến hai bộ Kinh quan trọng của Thiền tông Trung Hoa là Kinh Lăng Già và Kinh Kim Cương Các thiền sư coi trọng và tụng cả hai kinh này điều đó chứng tỏ họ đã

kết hợp, đồng nhất làm một giáo Tâm – Phật – Không (vì kinh Lăng Già đề

cao thông điệp Tâm tức Phật, Phật tức Tâm; còn kinh Kim Cương đề cao Không hay Tính Không của vạn hữu)

Ngoài các kinh điển, phật giáo thời Trần còn chú ý tới các bản ngữ lục như: Tuyết Đậu ngữ lục; Đại Tuệ ngữ lục; Bích Nham lục…

Phật giáo thời Trần có nhiều gương mặt nổi bật, nhưng tiêu biểu hơn cả

là 5 người: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang Trong 5 vị thì chỉ có 3 là đi tu, Tuệ Trung Thượng Sĩ là

Trang 35

Trong thời kỳ này, Phật giáo Đại Việt chú trọng phát triển về tâm học Thiền sư Thường Chiếu chủ trương tu học chứng ngộ cần được căn cứ trên

một nền tâm học vững chãi: “người tu đạo nếu biết rõ về tâm mình thì sẽ phí sức ít mà dễ thành công Người tu đạo nếu không biết gì về tâm mình thì chỉ phí công vô ích”

Đặc trưng nổi bật nhất trong tư tưởng Phật giáo thời kỳ này đó chính là tinh thần nhập thế, tùy tục, hòa quang đồng trần Tinh thần này được hầu hết các tầng lớp tăng sĩ và cư sĩ tại gia thực hành một cách triệt để Nói như Tuệ

Trung Thượng sĩ đến xứ cởi trần thì phải bỏ áo

Tư tưởng thiền học thời đại này còn mang tinh thần phá chấp triệt để, nhấn mạnh vào thể tính giác ngộ sẵn có nơi mọi người và nguyên tắc tự mình trở về thực hiện lấy tự tính giác ngộ ấy bằng phương pháp không-truy-tầm, tức là không đối tượng hóa tự tính giác ngộ ấy để chạy theo đuổi bắt

Nói chung Phật giáo kỷ nhà Trần là Phật giáo yêu nước, nhập thế, kết hợp chặt chẽ giữa đạo với đời, đời với đạo, hiện diện với tư cách là một hiện

Trang 36

Là một người con đất Việt, lại thuộc tầng lớp quí tộc nhà Trần, khi đất nước gặp nạn binh đao Hưng Ninh Vương Trần Tung đã tích cực tham gia trực tiếp vào hai cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông

Là một vị cư sĩ Phật giáo, Tuệ Trung đạt đến trình độ bậc thượng thủ đã khế ngộ giáo lý thâm sâu của thiền học Tuy không xuất gia, nhưng ông luôn được đánh giá với vai trò của một vị thiền sư hướng đạo cho nhiều thế hệ đệ

tử tham cứu Phật điển Theo Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục chép lại thì ta

được biết lúc sinh thời, tại Dưỡng Chân trang ông luôn có đông đúc đệ tử và

học giả đến tham vấn Tác phẩm Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục là do học trò

sưu tầm biên soạn lại, song hẳn vẫn giữ được tinh thần cốt tủy của tư tưởng Phật học Tuệ Trung Ngoài tinh thần nhập thế, hòa quang đồng trần nổi bật, còn là tinh thần phá chấp triệt để không bị ràng buộc, câu nệ vào bất cứ điều

gì Nói như ngôn ngữ Phật giáo là đã nhận chân được sự giải thoát xa rời mọi trói buộc Đó cũng chính là nét đặc sắc trong thiền học của Tuệ Trung dệt nên

một tâm hồn bậc triết gia có chút ngông

Trang 37

32

Bênh cạnh một trí tuệ của vị thầy trong Phật học, Tuệ Trung Thượng sĩ

còn là một thi sĩ độc đáo Tác phẩm Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục ngoài phần

đối cơ và tụng cổ thể hiện tư tưởng học thuật sâu sắc của ông, còn có một số lượng lớn tác phẩm văn chương trong phần thi tụng với 49 bài thơ được lưu giữ lại Có những bài thơ của Tuệ Trung được xếp vào hàng đỉnh cao của thiền lý và ý thơ

Như vậy chúng ta thấy trên nền tảng văn hóa Phật giáo thời đại Lý - Trần, tâm hồn thơ Tuệ Trung được trưởng dưỡng trở thành một sự thăng hoa của thiền tông nói riêng và Phật giáo dân tộc nói chung Sự kế thừa tất cả những thành tựu đạt được về văn hoá và tư tưởng từ thời Lý sang thời Trần của Đại Việt thời kỳ này, đã trở thành mạch ngầm nuôi dưỡng một tâm hồn thiền sĩ độc đáo - Tuệ Trung Nếu không hiểu rốt ráo bối cảnh lịch sử văn hoá

xã hội đương thời, hẳn người đọc sẽ có nhiều khó khăn chướng ngại trên hành trình tiếp cận những sáng tác văn chương mang tính phức tạp này

Cho đến kỷ nhà Trần, Phật giáo dân tộc đã có một hành trình dài du nhập tồn tại và phát triển hoàn thiện với những đỉnh cao về thiền học như: Khuông Việt thiền sư, Vạn Hạnh thiền sư, Viên Chiếu thiền sư… tuy nhiên sự du nhập của thiền phái Lâm Tế trong thời kỳ này theo chúng tôi đóng một vai trò quan trọng, đã có những tác động không nhỏ đến tư tưởng thiền học trước đó Và điều đó như trên chúng tôi đã trình bày có tác động lớn đến Tuệ Trung

Thượng sĩ, góp phần tạo nên một gương mặt lạ trong làng thơ thiền - nói như

lời của nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi

Trong gần ba thế kỷ thơ của Nhà Trần, Tuệ Trung Thượng Sỹ- Trần Tung là một hiện tượng đặc biệt lạ của cả Thi và Đạo Ông là một trong những tác gia thơ Thiền quan trọng nhất ở thời Trần Có lẽ ông cũng là một trong những người còn để lại số lượng thơ Thiền nhiều nhất đương thời Khí

Trang 38

mà là một tâm hồn thi sĩ đã đứng trên đỉnh núi cao

Trang 39

34

Chương 2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VỀ TIỂU SỬ VÀ HÀNH TRẠNG

TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ 2.1 Tiểu sử

2.1.1.Tiểu sử được chép lại trong Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục:

Phần Thượng sĩ Hành trạng trích trong tập Tuệ Trung Thượng sĩ Ngữ lục

có chép lại:

Thượng sĩ là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương và là anh cả của Hoàng Thái hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm Khi Đại Vương mất, Hoàng

đế Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng Sĩ tước Hưng Ninh vương

Lúc nhỏ bẩm chất ngài cao sáng, nức tiếng thuần hậu, được ban chức trấn giữ đất Hồng Lộ coi cả quân dân Hai lần giặc Bắc nghịch loạn, xâm phạm bờ cõi, ngài đều có công với nước nên lại được chuyển giữ chức Tiết độ

sứ mạn biển Thái Bình

Thượng sĩ là người khí lượng uyên thâm, dung thần thanh nhã Lúc tóc còn để chỏm, ngài đã rất ưa chuộng cửa không, đến tham vấn thiền sư Phúc Đường Tiêu Dao, lĩnh hội được yếu chỉ, dốc lòng phụng thờ Ngày ngày lấy mùi thiền làm vui không để công danh làm bận lòng Ngài bèn lui về ở phong

ấp Tịnh Bang, đổi tên là làng Vạn Niên [15, tr.256]

Theo như vua Trần Nhân Tông viết thì chúng ta biết Thượng sĩ là con trai đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương, ông là anh trai của Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm Ông được vua Trần Thái Tông phong cho tước hiệu Hưng Ninh Vương Thượng sĩ từng có công trong hai cuộc kháng

Trang 40

ấp Tịnh Bang đổi tên là làng Vạn Niên Như vậy

Trong bản ngữ lục này, không nhắc đến tên húy của ông, và cũng không nói rõ năm sinh năm mất của ông cũng như các dữ kiện lịch sử về cuộc đời của ông rất ít Chính bởi vậy khi nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của ông, hàng hậu học gặp rất nhiều khó khăn trong việc định danh và giải mã tư tưởng gia, tác gia văn học này

2.1.2 Tiểu sử được lưu lại trong chính sử

Tác giả Tuệ Trung Thượng Sĩ không được nhắc đến nhiều trong chính

sử, thư tịch tài liệu lịch sử ít nhắc đến ông Có lẽ tên tuổi của ông tồn tại với vai trò nổi bật là của một người hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo, văn học nghệ thuật nhiều hơn là lĩnh vực chính trị, chính bởi vậy mà các nhà sử học đương thời vì nhiều lý do mà ít nhắc đến ông

Chúng ta chỉ thấy trong Đại Việt sử ký toàn thư, phần về Minh Tông Hoàng đế, Bản kỷ thực lục, quyển VI, tờ 32b có đoạn chép:

Tháng 5, [Vua] xuống chiếu cấm cha con, vợ chồng và gia nô không được tố cáo lẫn nhau

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Vua vốn nhân hậu với họ hàng, nhất là đối với bậc bề trên mà hiển quý lại càng tôn kính Kẻ thần hạ hễ ai cùng tên (với họ hàng nhà vua) đều phải đổi cả, như Độ đổi thành Sư Mạnh vì là cùng tên với Thượng Phụ (Trần Thủ Độ), Tung đổi thành Thúc Cao vì là cùng tên với Hưng Ninh Vương (Trần Tung) con trưởng của An Ninh vương (Trần Liễu)

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w