1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chăm sóc sức khoẻ trẻ em trong các gia đình Việt Nam hiện nay : Luận văn ThS. Xã hội học: 5.01.09

238 109 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 238
Dung lượng 22,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điểu này được thể hiện khá rõ trong nghiên cứu của các nhà khoa học như Thomson, Genonimus và cộng sự, 1994: “Chất lượng sức khoẻ của trẻ em trước hết phụ thuộc vào tiềm lực kinh t ế và

Trang 1

M A I T H Ị K IM T H A N H

CHĂM SÓC SỨC KHOẺ TRẺ EM TRONG CÁC

GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phạm Đình Huỳnh và TS Nguyễn Thị Trà Vinh.

Các sô' liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, dựa vào kết quả khảo sát thực tế Các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2003

Ký tên

Th.sĩ Mai Thị Kim Thanh

Trang 3

2 Ý n g h ĩa lý lu ận và thực tiễn của đề tài 2

3 T ìn h h ìn h nghiên cứu xã hội học về C S S K T E tro n g gia đ ìn h 3

5 K h á c h th ể, đối tượng và p h ạ m vi nghiên cứu 6

7 C ác phư ơ ng p h á p nghiên cứu cụ th ể 7

7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu và đánh giá nhanh có sự

8 K h u n g lý th u y ế t nghiên cứu và giả th u y ế t 9

Trang 4

8.1.3 Biến can thiệp 9

PH Ầ N II: N Ộ I DUNG C H ÍN H

C hương 1: C ơ sở lý luận và phương p h á p luận củ a đề tài 12

1.2 M ột số lý th u y ết q u a n điểm nền tả n g nghiên cứu 16

1 2 3 Lý thuyết xã hội học sức khoẻ-bệnh tật của M arx-F.Engels 19

1 2 5 Lý thuyết hành động xã hội của M W eber 24

1 2 7 Quan điểm của Đảng và nhà nước về CSSKTE 26

C hương 2: H iện trạ n g sức khoẻ trẻ em V iệt N am

2.1.1 Vài nét sơ lược về địa bàn nghiên cứu (Việt Nam ) 29

2 1.3 M ạng lưới chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em ở Việt Nam 32

Trang 5

3.1.1 Nhận thức của các bậc cha mẹ về giá trị của sức

3.1.2.1 Bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho trẻ em trong gia đình 70

3.2 N hân tô chi phối h à n h động C S S K T E tro n g các gia đìn h 124

3.2.1.2 Cấu trúc và quy mô nhân khẩu của hộ gia đình 130

3.2.2.2 Vai trò của hệ thống truyền thông y tế 142

3 3 Xu hướng C S S K T E tro n g các gia đìn h thời g ian tới 151

Trang 6

Bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ trẻ emCông nghiệp hoá, hiện đại hoáChăm sóc dinh dưỡng

Chăm sóc sức khoẻChăm sóc sức khoẻ ban đầuChăm sóc sức khoẻ trẻ emChăm sóc sức khoẻ tâm thầnChăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ emLuật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ emLuật bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Phổ thông trung họcPhổ thông cơ sởPhong tục tập quánPhương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩaSức khoẻ tàm thần

Sức khoẻ thẻ chấtSức khoẻ xã hộiSuy dinh dưỡngTiêm chủng mở rộngThể dục-thể thaoTiểu thủ công nghiệp

u ỷ ban bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Chương trình Liên Hiệp Quốc về HIV/AIDS

Tổ chức Y T ế T hế giới

Trang 7

1 TÍNH CẤP BÁCH CỦA VẤN ĐỂ NGHIÊN c ứ u

Trong xu hướng phát triển chung trên thế giới hiện nay, việc đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội đang ngày càna được nhiều nước quan tâm, trong đó có Việt Nam M uốn phát triển xã hội, trước hết phải đầu tư cho sức khoẻ, phát triển nguồn nhân lực Điều này cũng đã được Hội nghị Sức khoẻ Thế giới tại Alm a-Ata, thủ đô nước Cộng hoà Kazacxtan

(19/9/1978 ) khẳng định: “Sự tăng cường và bảo vệ sức khoẻ các dân tộc là điều kiện không th ể thiếu được của một s ự tiến bộ kinh tế- x ã hội lâu dài đổng thời góp phần vào một chất lượng cuộc sống tốt hơn và hoà bình th ế g iớ i”

Trong những năm đầu thể kỷ XXI này, bên cạnh những vấn đề toàn cầu như: bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trường, đại dịch HIV/AIDS tình trạng yếu kém về SKTE và sự vi phạm quyền của chúng - những người dễ bị tổn thương, yếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội- còn khá phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới Các em thường là nạn nhân của sự sao nhãng, lạm dụng, bạo lực, vô gia c ư Hàng triệu trẻ em không được hưởng các quyền cơ bản của mình Theo thống kê của Tổ chức Y tế T hế giới (WHO), ở Việt Nam , tính đến năm 2001 vẫn còn 33,1% trẻ

em bị SDD Năm 1999 có 172.429 trẻ em bị tàn tật, 6.247 trẻ em rối nhiều hành

vi dẫn tới làm trái pháp luật, 1.500.000 trẻ em chưa được tiêm vác-xin viêm gan

B, 2.200.000 trẻ em dưới 5 tuổi không được tiêm vác-xin viêm não Nhật Bản, trong số 1.969.072 trẻ ra đời có 14.965 tử vong, 6000 bị uốn ván sơ sinh [13] Tại sao tình trạng bệnh tật, SDD của trẻ em hiện nay vẫn còn phổ biến đến vậy, khi mà toàn nhân loại đang chứng kiến những bước tiến thần kv về CÔ112 nghệ sinh học, y tế ở thế kỷ XXI ? Tại sao số trẻ em bị mắc bệnh, tật không chỉ còn bó hẹp trong các gia đình ở những vùng sâu, vùng xa, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn m à còn xuất hiện cả trong gia đình có mức sống cao, gia đình sống trong môi trường có hệ thống truyền thông tốt về sức khoe, về những thông tin mới trong cách CSSKTE qua hộ thống đài phát thanh, sách báo, vô

Trang 8

tuyến truyền hình, mạng Internet ? Đến nay, tình trạng này không chí còn là một nguy cơ m à đã trở thành một vấn đề xã hội Đã đến lúc chúng ta cần nhận thức lại một cách nghiêm túc những vấn đề liên quan đến CSSKTE trong gia đình

và có phân tích cẩn trọng

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất chú trọng đến trẻ

em, đến việc CSSKTE thông qua việc ban hành nhiều nghị quyết, sắc lệnh, chỉ thị coi CSSKTE là mục tiêu ưu tiên của phát triển, là nhiệm vụ quan trọng mà các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội, nhà trường và gia đình đều có trách nhiệm thực hiện Để triển khai những chủ trương của Đảng và Nhà nước, các trung tâm khoa học, các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức trong, ngoài nước đã tiến hành nhiều đề tài nghiên cứu nhằm tìm kiếm và đề xuất các giải pháp khả thi góp phần tuyên truyền khả năng phòng ngừa bệnh tật trong cộng đồng và trong các gia đình có trẻ em nhỏ

Trẻ em là hạnh phúc của gia đình, là tương lai của dân tộc, là lớp người kế

tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Nghiên cứu:” Chăm sóc sức khoé cho trẻ em trong các gia đình Việt N am hiện nay.” là một nhu cầu cấp thiết nhằm góp

phần luận giải đầy đủ hơn cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc CSSKTE trong các gia đình Đây không chỉ đơn thuần là quan niệm mang tính trách nhiệm, đạo đức, xã hội, m à hơn thế nữa, nó còn có quan hệ đến nhận thức, hành động của cha m ẹ trong các gia đình- những người đảm nhận vai trò CSSK cho trẻ em- những chủ nhân tương lai của đất nước N ếu có được nhận thức đúng đắn, các bậc cha mẹ sẽ đầu tư cho CSSKTE nhiều hơn

Xét về chiến lược phát triển lâu dài, cũng như những nhiệm vụ cấp bách trước mắt, thì việc nghiên cứu CSSKTE trong các gia đình là vấn đề hết sức cấp thiết Công việc đó không chỉ thiết thực có tác dụng nâng cao chỉ số phát triển con người mà Liên Hiệp Quốc đã nêu và Việt Nam đang phấn đấu, m à còn có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển của dân tộc Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH đất nước

2 Ý N G H ĨA K H O A H Ọ C VÀ T H Ự C T IE N c ủ a đ ể t à i

2.1 Ý n g h ĩa k h o a học

Trang 9

N ghiên cứu hành động CSSKTE có ý nghĩa lý luận quan trọng, giúp chúng ta phát hiện, tìm hiểu những quy luật tiềm ẩn trong hành động này, trên cơ sở đó hoạch định chính sách phù hợp với đặc thù gia đình cùa từng vùng, miền cụ thế.Kết quả nghiên cứu góp phần hình thành quan niệm khoa học về CSSKTE, bởi trong thực tế xã hội, quan niệm về vấn đề này còn nhiều sai lệch Nghiên cứu

lý thuyết của đề tài sẽ cung cấp tri thức để điều chỉnh quan niệm phiến diện nói trên và hình thành một quan niệm phù hựp

Kết quả nghiên cứu còn là những cơ sở thực nghiệm và kiểm chứng góp phần làm sáng tỏ các hệ thống lý thuyết về sức khoẻ, lý thuyết trao đổi xã hội, hành động xã hội Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng đóng góp vào việc tạo cơ

sở khoa học nhằm hoàn thiện chương trình truyền thông về SKTE

2.2 Ý n g h ĩa thự c tiễn

Luận án cung cấp những dữ liệu cụ thể làm sáng tỏ thực trạng SKTE Việt Nam , thực trạng hành động CSSKTE trong các gia đình, đặc biệt những hạn chế trong nhận thức và hành động của các bậc cha mẹ trong CSSKTE

Kết quả nghiên cứu góp phần khuyến cáo xã hội về nhữns nguv cơ ảnh hưởng đến sức khoẻ trẻ em hiện nay, cung cấp cơ sớ khoa học thực tiễn hoàn thiện các chính sách, xã hội hoá công tác BV&CSTE, nâng cao vị thế và trách nhiệm gia đình trong việc CSSKTE

3 TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u XÃ HỘI HỌC VỂ CHĂM SÓC s ứ c KHOẺ

T R Ẻ E M T R O N G CÁC G IA Đ ÌN H

3.1 T rê n t h ế giới

Chăm sóc sức khoẻ là m ột nhu cầu cơ bản của con người, m ột mục tiêu lâu dài của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều quốc gia, các chỉ báo về sức khoẻ như: tử vong sơ sinh, triển vọng bình quân đã được sử dụng nhàm phan ánh

í trình độ phát triển và chất lượng cuộc sống Các nghiên cứu trên thế giới về chú

đề CSSKTE trong gia đình từ trước đến nay đều cho thấy: giữa gia đình và hành động CSSKTE có m ối quan hệ chặt chẽ với nhau được xoay quanh trên hai bình

Trang 10

diện: kinh tế gia đình và các quan hệ trong gia đình với các chức năng của nó Lý

giải cho mối tương quan này có hai quan điểm khác nhau Thứ nhất, nhân mạnh vai trò của yếu tố kinh tế cho rằng đông con dẫn đến suy giảm nguồn lực gia đình vốn có hạn Trong hoàn cảnh đó, gia đinh không thể chăm sóc đầy đủ do số con quá đông Hậu quả là sức khoẻ của trẻ bị giảm dẫn đến bệnh tật, đau ốm Quan điểm thứ hai nhấn mạnh vào những yếu tố phi kinh tế có ảnh hưởng đáng kể đến trẻ em như: sự bất bình đẳng giới, mạng lưới xã hội, mất vệ sinh nhất là ớ gia đình đông con Tuy nhiên các nghiên cứu cũng nhấn mạnh: yếu tố kinh tế gia đình không phải là nhân tố chủ đạo đê’ lý giải sự khác biệt về SKTE giữa các hình thái gia đình khác nhau ở các quốc gia Bởi ngoài thu nhập, những yếu tô nguốn lực khác như: số người trưởng thành, tâm lý tình cảm và đặc biệt là người mẹ có vai trò không kém phần quan trọng tới SKTE Điểu này được thể hiện khá rõ trong nghiên cứu của các nhà khoa học như Thomson, Genonimus và cộng sự, 1994:

“Chất lượng sức khoẻ của trẻ em trước hết phụ thuộc vào tiềm lực kinh t ế và mức thu nhập của hộ gia đình vốn rất khác n h a u “ Người mẹ có học vấn cao hiểu lợi ích CSSK tốt hơn và do đó có xác suất áp dụng các biện pháp nhiều hơn SKTE ít bị ảnh hưởng do khoảng cách sinh dài ”( Panis và Lilland, 1995), “ Mức

tử vong của trẻ em trong các gia đình m ở rộng cao hơn gia đình hạt nhân ” (Gursoy - Tezca, 1992, Thổ N hĩ Kỳ), “ Người mẹ có học vấn cao ảnli hưởng tới CSSKTE nhiều Người mẹ ở thành p h ố có điều kiện CSSKTE tốt hơn những bà mẹ

ỏ nông thôn ”(Benefo, 1994), “ Bất bình đẳng giới và sự phân biệt đối xử pliụ I 1 Ũ

có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của trẻ em ”, “ M ức độ chênh lệch giới tính trong gia đình đông con thường lớn, dẫn đến sự chênh lệch trong hành vi nuôi dưỡng và chăm sóc con cái Gia đình qui mô lớn thường bất bình đẳng hưu trong đẩu tư, phân b ổ nguồn lực các th ế hệ cùng sống ” (Lloyd- 1995)

3.2 Ở V iệt N am

Trong thời gian qua ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều chương trinh, dự án nghiên cứu về CSSKTE trong các gia đình, những nghiên cứu này cũng đã đề

Trang 11

cập, nhấn m ạnh tới vai trò của người mẹ và một số nhân tố quyết định tình trạng SKTE từ cấp độ gia đình có liên quan tới người mẹ như: học vấn của người mẹ, quá trình phân công lao động và trách nhiệm của người mẹ trong gia đình Các nghiên cứu còn cho thấy: trong nhiều trường hợp, quá trình này không phải lúc nào cũng diễn ra êm đẹp, thậm chí còn xảy ra xung đột Những xung đột này lại chi phối phúc lợi gia đình, trong đó có vấn đề CSSKTE Đó là những nghiên cứu của các nhà khoa học như: Bùi Thanh Hà và Phạm Quỳnh Hương (1999)

“ SK TE ảnh hưởng mạnh nhất bởi nghề nghiệp và trình độ học vấn người mẹ Tuy nhiên, s ố cun, chi tiêu của hụ vả mức độ giàu nghèo của gia đình, tlặi LỈÌCIII nơi cư trú lại có ảnh hưởng không đáng k ể đến tình trạng đan ốm của trẻ ”, “ Từ khi sinh ra, trẻ em phụ thuộc vào sự chăm sóc của bô mẹ chúng và đặc biệt lù các bà mẹ Tại Việt N am chủ yếu là người mẹ trông coi, CSTE khi chứng bị ốm, nhất là khi trẻ còn nhỏ "(Nguyễn Thị Khoa (1990) Những khảo sát do Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện trong giai đoạn 1989- 1991 cho thấy “ Khoảng 85% trường hợp trẻ bị ốm mẹ chúng là người chăm sóc chính”, “ Phần lớn trẻ em bị

ốm được mẹ hoặc bà của chúng chăm sóc Trong trường hợp bệnh ít nghiêm trọng, phụ nữ mua thuốc và điều trị tại nhà, nếu điều trị không thành công thì họ

s ẽ đưa con (hoặc cháu) tới bệnh viện Trong trường hợp nqhiênị trọn°, đứa tre' được đưa tới bệnh viện huyện hoặc tỉnh ít khi người bô' chăm sóc con cái thậm chí cả khi họ hiểu biết hơn người mẹ về bệnh tật ”(Lê Thị Vinh Thi (1993 ), “ Các quyết định vê loại hình CSSKTE thường do gia đình đưa ra Phụ nữ là người

có trách nhiệm sắp xếp từ nuôi đến điều trị bệnh tật, phương pháp điều trị và những đòi hỏi v ề dinh dưỡng ”( Phan Thục Anh 1994)

N hư vậy vấn đề CSSKTE trong gia đình không phải đến bây giờ mới được quan tâm nghiên cứu, m à nó đã được nghiên cứu ở nhiều quốc gia khác nhau Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, với những đặc thù riêng biệt của nền văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội và ở V iệt Nam , với những góc độ nghiên cứu riêng biệt, từng vùng lãnh thổ riêng biệt, m à việc nghiên cứu CSSKTE ở các gia đình cũng đặt ra

Trang 12

cho các đề tài nghiên cứu hướng nghiên cứu riêng trong từng giai đoạn cụ thc của đất nước Và đây cũng chính là ý tưởng gợi nên hướng tìm hiểu và nghiên cứu đề

tài: "Chăm sóc sức khoe' trẻ em trong gia đình Việt N am hiện nay" khi bối cảnh

đất nước và trên thế giới có nhiều đổi thay và có nhiều tác động không nhỏ, đặc biệt là tác động của KHKT, công nghệ thông tin, của chiều cạnh văn hoá tới trẻ

em, tới SKTE và tới cách thức CSSKTE của các bậc cha mẹ trong các gia đình

4 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM v ụ NGHIÊN c ứ u

4.1 M ục đích

Tìm hiểu nhận thức, hành động của các bậc cha mẹ trong CSSKTE tại gia đình, những nguyên nhân dẫn tới tình trạng này ở họ và xu hướng CSSKTE của các gia đình trong thời gian tới Trên cơ sở đó đề xuất những khuyên nghị, giải pháp góp phần phát huy hơn nữa vai trò của gia đình trong hành động này trên con đường đổi mới theo yêu cầu CNH-HĐH đất nước, cung cấp cơ sớ khoa học

để đổi mới nội dung, chương trình tuyên truyền, giáo dục cho các cha mẹ trong việc Bảo vệ, nâng cao sức khoẻ của trẻ em

4.2 N hiệm vụ

+ Nhận diện sức khoẻ trẻ em hiện nay

+ Khảo sát nhận thức, thái độ và hành động của các cha mẹ trong CSSKTE.+ Tìm hiểu những nhân tố xã hội liên quan đến nhận thức của các bậc cha mẹ về SKTE, về cách CSSKTE

+ Đề xuất các giải pháp, khuyên nghị đổi mới công tác giáo dục tuyên truyền để các bậc cha mẹ chủ động hơn trong hành động CSSKTE

5 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN c ứ u

5.1 K h ách th ể n ghiên cứu

Các gia đình Việt N am có trẻ em

5.2 Đối tư ợ ng n g hiên cứu

CSSKTE trong các gia đình

5.3 P h ạ m vi n ghiên cứu

Trang 13

Nhận thức và hành động của các cha mẹ về SKTE và CSSKTE thõng qua: Hành động Bảo vệ, nâng cao sức khoẻ của trẻ em ( chế độ dinh dưỡng; thói quen

sinh hoạt của trẻ trong vệ sinh, học tập, tập luyện thể thao, ăn uống: quan hê ÚTI2

xử giữa trẻ và các thành viên trong gia đình; điều kiện nhà ở ) và hành động ứnii

xử của cha mẹ khi trẻ bị bệnh

6 CÁI MỚI CỦA LUẬN ÁN

Như trên đã nói, cho tới nay có không ít nghiên cứu về CSSKTE, nhưng những nghiên cứu đó chưa chỉ ra hành động CSSKTE trong các loại gia dinh \ à

ở nhiều vùng, m iền hiện nay còn hạn chế do có nguyên nhân từ các chiều cạnh văn hoá, chưa chỉ ra được vai trò của gia đình trong hành động này như một chú

đề nghiên cứu của xã hội học trong bối cảnh của sự chuyển đổi xã hội- bối cảnh của CNH-HĐH đất nước, của kinh tế thị trường theo định hướng XHCN

Qua kết quả nghiên cứu, người đọc có thể thấy yếu tố tạo nên mô hình CSSKTE trong gia đình Việt Nam hiện nay khác với gia đình truyền thống thế nào?

7 CÁC P H Ư Ơ N G PHÁP NGHIÊN c ú t l c ụ THỂ

Luận án đã sử dụng những phương pháp sau:

7.1 P hư ơ ng p h á p p h â n tích tài liệu

Trọng tâm trong các phân tích của luận án được sử dụng từ các nguồn:

+ K ết quả điều tra đánh giá mục tiêu thập kỷ vì trẻ em giai đoạn 1991-2000 (MICS) được thực hiện trong 2 tháng: tháng 5- 6/2000.

+ Đ iều tra nhân khẩu học và sức khoẻ 1997 ( VN-DHS 1997)

+ Điều tra mức sống dân cư Việt Nam (V L S S ) năm 1992-1993 vù 1997-1998 + Niên giám thống kê liàng năm: Bộ y tế, Tổng cục thống kê, Chỉ tiêu trẻ em + Các tư liệu x ã hội học, y học, y tế: có liên quan được công bố trên sách báo, tạp c h í , kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ : ” V ị trí, vai trò của gia đình

và cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục tre' em"

+ Phân tích kết quả điều tra cơ bản tình hình trẻ em-phụ n ữ của U N IC EF 2001.

7 2 P h ư ơ n g p h á p p h ỏ n g vấn bằn g bản g hỏi

Trang 14

Các số liệu được sử dụng trong phân tích luận án còn lấy từ cuộc khảo sát

X ã hội học m à tác giả luận án trực tiếp tham gia: ” Thực trạng sức khoẻ, học tập, vui chơi giải trí của trẻ em và việc bảo vệ các quyền lợi của trẻ em trong gia đình

và cộng đồng." Đây là m ột đề tài nhánh trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ:” V ị trí, vai trò của gia đình và cộng đồng trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em" Đ ề tài được tiến hành trong 2 năm 1999- 2001 Tại các địa điểm : Huyện

N am trực, T p N am Đ ịnh ( N am Đ ịnh), quận Hai Bà Trưng (Hà N ội), huyện Ba Tri, M ỏ Cày (Bến tre), quận 3, 12 (T p Hồ Chí M inh) với 1.561 m ẫu (Trong đó:

707 m ẫu - phía Bắc (trẻ em chiếm: 304 m ẫu) và 854 m ẫu- phía N am ( trẻ em chiếm: 317 m ẫu) Đây là những vùng có tính chất điển hình đối với các vùng

lãnh thổ của đất nước V à đề tài cấp Đại học Quốc Gia: "Chăm sóc sức k h o ẻ tâm thần trẻ em trong các gia đình H à N ộ i hiện nay" Với mẫu: 315 phiếu (trong đó

có 200 phiếu phỏng vấn cha m ẹ và 115 phiếu phỏng vấn trẻ em ) tại quận: Hoàn Kiếm, Thanh X uân, Cầu Giấy và huyện G ia Lâm Thời gian: 2002

7.3 P h ư ơ n g p h á p p h ỏ n g v ấn sâ u và đ á n h giá n h a n h có th a m gia cộng đồng

Luận án sử dụng các số liệu của đề tài: “ N ghiên cứu đặc điểm nlụi cầu

p h á t triển của trẻ em V iệt N am trong thời kỳ đổi m ới’’ năm 2001 m à tác giả trực

tiếp tham gia Đề tài được tiến hành theo cácphương pháp: phỏng vấn sâu đại diện lãnh đạo các cấp chính quyền, các ban ngành, đoàn thể trong BVCS&GDTE, điển cứu m ột số gia đình CSSKTE tốt, m ột số gia đình trẻ em có sức khoẻ kém và đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng (Participatory R apid A ppraisal) tại: huyện Chợ Mới (Bắc Cạn), Đ akglei (K ontum ), T hạnh trị (Sóc Trăng), H oa Lư, Thị xã N inh Bình (Ninh Bình), quận Đống Đ a (Hà N ội)

Trang 15

+ Quan sát thời gian dành cho học tập, vui chơi; các trò chơi của trẻ trong thờigian rỗi của các gia đình với các mức sống và ở những vùng, miền khác nhauCác quan sát này được tiến hành lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm đua ra cách nhìn và nhận định khách quan nhất.

8 K H U N G L Ý T H U Y Ế T VÀ G IẢ T H U Y Ế T

8.1 K h u n g lý th u y ết

8.1.1 Biến số phụ thuộc

+ Nhận thức, thái độ của gia đinh về giá trị sức khoẻ, giá trị SK TE

+ Hành động của gia đình trong bảo vệ và nâng cao SKTE: trong CSDD, tạo thói quen trong sinh hoạt (học tập, vui chơi, vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường sống, luyện tập TDTT ), trong quan hệ ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với trẻ, đi khám thai, đưa trẻ đi tiêm c h ủ n g

+ Hành động của gia đình trong chữa trị bệnh cho trẻ

8.1.2 B iến sô' độc lập:

Đặc điểm của gia đình dựa trên các chỉ báo : nghề nghiệp của cha mẹ (công nhân, nông dân, trí thứ c ), tuổi của cha mẹ, trình độ học vấn (mù chữ tiểu học, PTCS, PTTH, đại học trở lên), quy mô gia đình, cấu trúc gia đình (hạt nhân, mở rộ n g ), thu nhập của gia đ ìn h

8.1.3 B iến can thiệp

+ Chính sách, pháp luật của nhà nước: Chính sách ytế, văn hoá, giáo dục liên quan đến trẻ em và gia đình: Xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, các chính sách xã hội dành cho những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật

+ Cơ sờ cung cấp dịch vụ : y tế, văn hoá (nhà nước và tư nhân).

+ Đặc điểm cộng đồng (phong tục tập quán, môi trư ờ ng )

+ Các yếu tố chính trị kinh tế, văn hoá xã hội Việt Nam thời kỳ đổi mới

Trang 16

VỤ YTÉ, (NHÀ NƯỚC,

TƯ NH ÂN )

ĐẶC ĐIỂM CỦA CỘNG

Đ ổN G (PHONG TỤC TẬP

q u á n ! )

M Ô I

TR Ư Ờ NG

CO SỞ CUNG CẤP DỊCH

VỤ VÃN HOÁ, GIÁO DỤC (NHÀ NƯỚC Tư NHÂN)

8.2 G iả th u y ế t n g h iê n cứu:

Giả thuyết thứ n h ấ t: K hông chỉ ở những gia đình hạt nhân, những gia đình

m ở rộng ở thành thị, nông thôn, m à cả ở những vùng sâu, vùng xa, sức khoẻ của trẻ em V iệt N am đến nay đã có nhiều thay đổi cả về thể chất, tâm thần lẫn cấu trúc bệnh tật Song tình trạng này không đồng đều giữa các vùng trong cả nước Trẻ em ở thành thị phát triển tốt về sức khoẻ thể chất (thể hình, thể lực) nhưng cũng m ắc nhiều bệnh có liên quan tới sức khoẻ tâm thần (trầm cảm , rối loạn hành

vi chống đối) hơn trẻ em ở những vùng, m iền khác

Trang 17

Giá thu vết thứ hai: Do nhận thức về giá trị của SKTE và cách CSSKTE của các bậc cha mẹ ở các vùng miền khác nhau, nên thái độ và hành động CSSKTE ờ

họ cũng theo các khuôn mẫu khác nhau Những khuôn mẫu này trong thời gian tới cũng có những thay đổi đáng kể do chúng chịu tác động của môi trường kinh tế- văn hoá- xã hội, văn hoá cộng đồng, tiểu văn hoá gia đình và vận động theo

xu hướng chung của các nước đang phát triển

Giá thuyết thứ b a: Nhận thức và hành động trong CSSKTE tại các gia đình, nhất là những gia đình sống ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn hạn chế do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan như: kinh tế gia đình, kiến thức của các bậc cha mẹ, hoạt động của hộ thống truyền thông y tế, cáu trúc và qui mỏ nhân khẩu của hộ gia đình, sự chuyển đổi của hệ thống giáo dục xã hội, hoạt động của hệ thống dịch vụ y tế, dịch vụ văn hoá

Trang 18

PHẦN II ỉ MỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1: C ơ SỞ LÝ LU ẬN VÀ PH Ư Ơ N G P H Á P LU ẬN CỦA Đ Ể TÀ I

1.1 CÁC KHÁI NIỆM CÔNG c ụ

1.1.1 K hái niệm T rẻ em

Theo công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em trona điều 1 - Phần I :

" T rẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc iịia công nhận tuổi thành niên sớm hơn ", theo Luật BVCS&GDTE Việt Nam T rẻ em là những người dưới 16 tuổi” [7] Còn trong xã hội học, trẻ em được nhìn nhận như

là một nhóm nhân khẩu đặc biệt đang trong quá trình xã hội hoá, đan2 học đóne

vai trò cũng như tiếp thu kiến thức, kỹ năng để tham gia hành dộng xã hội với tư cách là một chủ thể có độ tuổi từ 16 trở xuống

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về trẻ em và tất cả các định nghĩa đó đều thừa nhận rằng thuật ngữ trẻ em dùng để chỉ một giai đoạn phát triển của con người từ lúc sinh ra đến tuổi 16 Trẻ em trước hết là một con naười được hướne mọi quyển lợi và nghĩa vụ đã nêu ra trong công ước quốc tế Trẻ cm ỏ' mỗi thời đại lịch sử khác nhau thì sẽ được chăm sóc một cách khác nhau do chúng và cha

mẹ chúng được hưởng thụ một nền văn hoá khác nhau Vì vậy, trẻ em khác nhau không chỉ ở độ tuổi m à còn khác nhau bởi thời đại, bởi nền văn hoá mà chính nó đang sống thông qua các hoạt động của mình Không có trẻ em một cách trìu tượng, chung chung, mà chỉ có trẻ em của một thời đại ỏ một độ tuổi cụ thế Chính vì vậy, khi CSSKTE, không thể lấy toàn bộ những gì gọi là kinh nghiệm trong quá khứ về hành động CSSK của ông cha để áp dụng một cách máy móc trong CSSKTE thời đại của sự phát triển KHKT, y học

1.1.2 K hái niệm Sức khoẻ

Theo tổ chức y tế th ế giới ( WHO): “ Sức khoe' không chỉ là trạng thái không bệnh huy không tật mà còn là trạng thái hoàn toàn thoải m ái về các mặt th ể chất, tâm thẩn và x ã /zộ/”[12].

Trang 19

1.1.2.1 K hái niệm Sức khoè th è chất

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm SKTC Theo Văn Tân, Nguyễn Văn Đạm trong Từ điển tiếng Việt, khái niệm thể lực và thế chất được

hiểu tương tự như nhau, đó 1 à:"Sức lực của cơ thể, sự mạnh vếu cùa thân thế."

[24] Trong các tài liệu chuyên môn thuộc lĩnh vực y tế và lĩnh vực thể dục thể thao thì quan niệm về thể lực cũng như thể chất có những mức độ khác nhau, ớ lĩnh vực y tế, các tài liệu chuyên môn chủ yếu tập trung vào tầm vóc của cơ thê (yếu tố thể hình) đặc biệt là trọng lượng và chiều cao của cơ thổ Còn trong lĩnh vực thể dục thể thao, thể lực được hiểu là khả nâng làm việc của các hệ thống chức năng của cơ thể, được đánh giá thông qua hoạt động vận động, thể hiện ở các đặc tính: chính xác, tiết kiệm sức (phối hợp vận động hay còn gọi là sức khéo léo), mạnh mẽ (sức mạnh), nhanh chóng (sức nhanh), bền bí (sức bền), mềm dẻo

(độ dẻo) Các yếu tố này gọi là các tố chất thể lực Tố chất thể lực: “là yếu rỏ'của

cơ thể, th ể hiện khả năng làm việc của các hệ thống chức năng, được xác định trước hết thông qua các quá trình chuyển hoú năng lượng Các t ố chất th ế lực bao gồm: sức mạnh, sức nhanh, sức bền, khả năng phối hợp và độ déo."[l 11

Khái niệm thể chất được hiểu rộng hơn thể lực Thể chất bao gồm thể hình, các tổ chất thể lực và khả năng thích ứng của cơ thể con người với hoàn cảnh bên

ngoài bao gồm cả sức đề kháng với bệnh tật Theo Nguyễn Toán, 2000: “ T liể chất là những đặc trưng tương đối ổn định vê hình thái vờ chức năiiiỊ của cơ thể, được hình thành và ph á t triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (bao gồm

cả giáo dục và rèn luyện) ” [71]

Trong các tài liệu nước ngoài thường gặp một số khái niệm như: Finess và Physical Finess Theo G ottíried Schoeholzer (1970), Finess là sức khoé được thè hiện ở trạng thái tối ưu của tất cả các yếu tố như: không có bệnh tật thoái mái về tâm lý, thể chất và xã hội Còn Physical Finess- SKTC được hiểu là khá nãng thích ứng của cơ thể đối với tác động của môi trường và cuộc sống bao gồm: Khả năng làm việc của các hệ thống cơ quan trong cơ thể, sức m ạnh và sự linh hoạt

của cơ bắp, khả năng chịu đựng của cơ thể Như vậy, SKTC: “ Là một bộ phận

Trang 20

cấu thành sức klìoe’, th ể hiện ở trìnlì cíộ plĩát triển vế thê’ hình, tlìi’ lự( vù khu năn? thích ứng của cơ th ể với điều kiện sống và lcifì động T h ể hìnli th ể hiện ớ mức độ phát triển vé hình tlìúi và tỷ lệ ỊỊÌữa các bộ pliận C(f rlũ’’ Tlic lực th ổ hiện

ở mức độ pliút triển của các t ố chất th ể lực lĩhư: năng lực phối liợp vận động, sức mạnh, sức nhanh, sức bền, sức dẻo và tố chất th ể lực là yếu t ố của cơ th ể th ể hiện khả năng làm việccủa các hệ thống chức năng, được xác địnli trước liết íhóiiịỊ qua các quá trình chuyển hoá năng lượng ” [71].

+ Những chỉ tiêu đánh giá sức khoẻ thể chất

Sức khoẻ thể chất được đo lường thông qua các trắc nghiệm đánh giá các tố chất thể lực (Physical Finess test) như: Sức mạnh, sức bcn, sức nhanh, năng lục mềm dẻo, năng lực phối hợp vận động [93] Một số nước thuộc khu vực Đông Nam Á đã xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá thể lực trẻ cm trong các trường học bao gồm các nội dung: sức mạnh, sức bền, sức nhanh, sức khéo léo, khả năng thăng bằng và khả năng phối hợp [49] ó đây, sức mạnh là năng lực khắc phục lực cản bên ngoài hoặc chống lại lực cản đó bằng sự nỗ lực của cơ bắp, sức nhanh: năng lực thực hiện nhiệm vụ vận động trong một thời gian ngắn nhất, sức bền là năng lực duy trì khả năng vận động trong thời gian dài nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được, sức dẻo là năng lực hoạt động của cơ khớp với biên độ lớn và năng lực phối hợp vận động là năng lực phối hợp hoạt động cúa các co' thế đê hoàn thiện nhanh chóng và vững chắc một hoặc một chuỗi động tác

N hư vậy, trong luận án, nội dung và phương pháp đánh giá hành độnc của cia đình trong CSSKTC cho trẻ em bao gồm: khả năng tạo điều kiện cho trẻ tham gia các hoạt động thể dục-thể thao, thể hình, tham gia lao động (khôns nhằm mục đích làm kinh tế gia đình), ăn đủ vi chất dinh dưỡ ng lừ dó giúp ué cỏ mội bức

m ạnh, sức bền, sức nhanh, năng lực mềm dẻo, năng lực phối hợp vặn động Cu thể phù hợp chiều cao và cân nặng và không bị nhiễm bệnh tật

1.1.2.2 K h á i niệm Sức khoẻ tâm th ầ n

Trang 21

Theo y học, “ Thần “ Là chi trạng thái tinh thẩn, tri giác, cử clii Nó là những căn cứ mấu chốt biẻu hiện ở m ột cư th ể sống, ìù biểu hiện bên /ngoài của

cơ tliểsống N ó có một cơ sở vật chất bao gổm những điểm có tính chất bấm sinlt

và tuỳ thuộc vào ăn uống, nuôi clưỡng cũng như sự nuôi dạy giailìnli." [6, trl 11 Theo Nguyễn Việt- Chủ tịch Hội tâm thần Việt Nam: “ SKTT là một irạiiỊi thái không có rối loạn huy dị tật tăm thẩn, một trạng thái tâm thán hoàn toàn thoải mái, cản bằng về cảm xúc, hoà hợp giữa các mối quan hệ gia đình, x ã hội,

có cảm xúc tình cảm và hành vi ứng xứ p lù t hợp với nhu cầu x ã hội “ /83 ĩ

Theo W HO (Tổ chức y tế thế giới): “ Sức khoe’ tâm thần là khá nănẹ lioàn chỉnh dẫn dắt những mối liên hệ liuà hợp nhịp Iiliùiix với đủng luụi N ỏ la mọi điểu kiện cho phép con người phát triển tối Itit trong các lĩnh vực: th ể lực, trí lực

và cam xúc trong khuôn kh ổ tương hợp SKTT với những người khác

Như vậy, sức khoẻ tâm thần là khả năng tự chủ bản thân, khá năng thích nghi với môi trường, khả năng hoà hợp và tương tác với xã hội

+ Các chỉ sỏ đánh giá sức khoẻ tâm thần [83]

- Chỉ số thông minh IQ (Intelligence Quotient): Thể hiện năng lực học tập,

tư duy trìu tượng và thích ứng như: IQ từ 85-114: Thông minh ở mức độ rất giỏi, từ 155-164: thiên tài, IQ trên 200: siêu nhân

- Chỉ số thông minh cảm xúc EQ( Emotional Quotient): gồm sức chịu đựng cảm xúc, tính nhạy bén, thông minh, khả năng thích ứng mọi lình huống

- Khả năng thích ứng xã hội, cảm xúc: Đánh giá tính thích nghi, linh hoạt và khả năng phòng vệ đối với tác nhân môi trường

ở đây, nội dung và phương pháp đánh giá hành động cúa gia đình trong CSSKTT cho trẻ em bao gồm: khả năng tạo điều kiện cho trẻ tham gia các hoại động vui chơi giải trí trong cộng đồng một cách lành mạnh, kha năng tạo bâu không khí thân thiện, ấm cúng trong gia đình (giữa các thành viên trong gia đình với nhau và với trẻ), quan tâm và có các định hướng cho trẻ trong các quan hệ

n h ó m đ ể từ đó giúp trẻ có cơ thể phát triển hài hoà cả về thể chất lẫn trí tuệ

Trang 22

1.1.2.3 Khái niệm sức khoẻ về mặt xã hội

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): “ Sức khoe' x ã hội lù trạng thái x ã hội ổn định vê kinh tế, chính trị, văn hoá, x ã hội, ít cỏ hiến độnạ xunẹ đột ẹớv Sn rưss tâm lý và tạo sự thoải mái, thuận lợi cho phát triển tiềm năng từng cú th ể " [ 12J.

1.1.3 Khái niệm CSSK ban đầu

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO): “ Chăm sóc sức khoe’ ban đầu là những sự chăm sóc thiết yếu xây dựng trên những phương pháp và kỹ thuật thực hành, có

cơ sơ khoa học và chấp Iiliận được về mặt x ã liội, có tliê’p liổ biến l ộiii' rãi clio lúi

cà mọi cá nhân vù các gia đình của cộng đồng xã hội cùng tham ẹia đầy đủ với một giá mà cộng đổng và nước đó có th ể chịu đựng dược à mọi giai ảuạn phút triển cuả họ theo một tinh thần tự giác tự nguyện Các CSSK ban đầu là thành phần đầu tiên của một quá trình liên tục bảo vệ sức k h o ẻ íí [12].

1.1.4 Khái niệm gia đình

“ Gia đình lả một thiết c h ế x ã hội, cỏ tính lịch sử và toàn cần" Tuỳ thuộc

vào sự biến đổi theo vùng, theo lịch đại mà có định nghĩa khác nhau về gia đình Một định nghĩa hiện nay được khá nhiều nhà xã hội học Việt Nam thừa nhận, đó

1 à:”G/ữ đình là một nhóm x ã hội hình thành trên cơ sở các quan hệ hỏn nhân, quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng tuy không có quan hệ máu mủ Các thành viên trong gia đìnli gắn bó với nhau vẽ trách nhiệm và quyền lợi (kinh tê, vãn hoá, tình cảm ), giừa họ có những ràng buộc có tính pháp lý được nhà nước thừa nhận và bảo vệ ” [58, tr 190].

1.2 MỘT SỐ LÝ THUYẾT, QUAN ĐIỂM NÉN TẢNG NGHIÊN c ú u

+ Lý th u y ết biến đổi xã hội

Lý thuyết biến đổi xã hội chỉ ra rằng, mọi xã hội cũng như tự nhiên không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định tương đối Còn thực tế

nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó Do đó, bất cứ xã hội nào và bất

cứ nền văn hoá nào, cũng luôn biến đổi Và sự biến đổi trong xã hội hiện dại ngày càng rõ hơn Con người xã hội là đơn vị cơ bản của xã hội, với tư cách là

Trang 23

chủ thế hoạt động xã hội, nó luôn biến đối từ khi mới sinh ra cho tứi lúc mái đi Con người sinh học ra đời, trướng thành và chết đi, kê tiếp là những lớp người mới Tuy nhiên, những lớp người mới vẫn tồn tại trong nén văn hoá iruyén thong được xã hội giữ lại Những mô hình hành vi với tư cách là đơn vị của nền văn hoá cũng biến đổi theo thời gian và theo những điều kiện xã hội Sự biến đổi mỏ hình hành vi là kết quả thay đổi của các hệ giá trị, chuẩn mực Nền văn hoá xã hội luôn luôn tồn tại Nó không hề mất đi mà chỉ biến đổi từ hình thức này sang hình thức khác Có nhiều quan niệm khác nhau về sự biến đổi xã hội Một cách hiếu rộng nhất: là sự thay đổi về thực trạng hoặc một nếp sống xã hội so với thời điếm

trước đó Các nhà XHH định nehĩa " Biến đổi x ã hội là một quá trình, qua đó những khuôn mẫu của hành vi x ã hội, các quan hệ x ã hội, các thiết c h ế x ã hội và các hệ thống phân tầng x ã hội thay đổi qua thời gian " [10, tr 175].

Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới đã trải qua nhiều biến đổi với các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử Mỗi giai đoạn phát triển đó đều chứa đựng những biến đổi xã hội Sự biến đổi xã hội gây ảnh hưởng

m ạnh đến gia đình, cũng như cộng đồng xã hội Trong gia đình, khi xã hội thay đổi thì nhận thức, hành động của cha mẹ về giá trị của sức khoẻ, về cách CSSKTE cũng sẽ thay đổi Những thay đổi về kinh tế, về lối sống, phong tục tập quán, về chính sách có thể cũng là những nhân tố tạo điều kiện thuận lợi trong CSSKTE, tuy nhiên cũng không loại trừ việc nó gây ra những trớ ngại nhất định.+ Lý th u y ế t về vị trí - vai trò xã hội

M ỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau Lý thuyết về vị trí- vai trò xã hội cho rằng mỗi một cá nhân có mội vị trí xã hội là vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác Vị thế xã hội là vị trí xã hội

gắn với những trách nhiệm và những quyền hạn kèm theo Vị thế chính “ là bất

kỳ vị trí ổn định nào trong một hệ thống x ã hội với nhữnẹ kỳ vọnẹ quyển hạn và nghĩa vụ đặc thù ” [86] Các quyền và nghĩa vụ này thường tương ứng với nhau

Phạm vi quyền và nghĩa vụ hoàn toàn phụ thuộc và quan điểm của các xã hội

€>ẠỊ HỌC o u ổ c GIA H Ì NỘI

TRUNGTÁM TH Ò N G TIN Ĩ HƯ V lf N

»./ I 1

Trang 24

của các nền văn hoá, thậm chí của các nhóm xã hội nhó Nhưng khi xem xét vị trí với những quyền và nghĩa vụ kèm theo, lức là xem xét vị thế xã hội cúa cá nhãn, chúng ta sẽ thấy sự khác biệt trong thứ bậc xã hội và thay dổi theo từng xã hội từng khu vực.

Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: Vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẩn- được gán cho, vị Ihế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được

Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sớ các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong các xã hội khác nhau, qua các nhóm xã hội khác nhau Tương ứng với từns vị thế sẽ có mốt

mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành vị này chính là vai trò

tương ứng của vị thế xã hội Các nhà xã hội học cho rằng:” liủnli vi COII Iiạười thay đổi khác nhau tuỳ theo bối cảnh và gắn liền với vị trí x ã hội của người liànli động”, rằng:” hành vi phần nào được tạu ru bởi những mung đợi của người hành động và những người khác” [88, tr 1361] Như vậy, vai trò xã hội:” là sự tập hợp những hành vi, thái độ, quyền lợi và sự bắt buộc mà x ã hội moníỊ đợi đối với một

vị th ế x ã hội nhất định và sự thực hiện của cá nhân có vị 360]Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Trong các xã hội khác nhau thì các chuẩn mực này cũng khác nhau Vì vậy, cùng một vị thế xã hội, nhưng trong các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau và các vai trò xã hội cũng khác nhau

Theo thuyết này, SKTE, nhận thức cũng như hành động CSSKTE cua cha

mẹ phụ thuộc nhiều vào chính vị trí m à họ được thừa nhận trong gia đình, nhất là người phụ nữ - người trực tiếp và là người chăm sóc chính cho trẻ em trong các gia đình Việt Nam Nếu như họ được coi trọng, được có tiếng nói riêng của mình, được bình đẳng như mọi người trong gia đình thì họ sẽ làm tốt hơn vai trò cùa

Trang 25

mình, có nghĩa sẽ đáp ứng được nhiều hơn những mong đợi của trẻ và đổng nghĩa với nó là SKTE sẽ được nâng lên nhiều hơn và ngược lại.

+ Lý th u y ết X H H sức khoẻ - bệnh tậ t tro n g tiếp cận K M arx - F.Engels.Nhiều tác giả đứng trên lập trường M ác-xít đã giải thích sự CSSK và chữa bệnh trong xã hội phương Tây như một bộ phận của phương thức SXTBCN Phư­ơng thức hành động của nển y học phương Tây cận đại là hợp tác hoá nó Irong mục đích tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế Như vậy, với ngành y học khoa học, việc CSSK đã lớn mạnh thành một ngành công nghiệp giúp cho việc duy irì tính hợp pháp của trật tự xã hội và một phần tạo ra những lĩnh vực sản xuất mới Điều đó có nghĩa là trong xã hội công nghiệp, một loạt hệ thống dịch vụ ra đời để CS&BVTE miễn là gia đình có đủ tiền bạc để chi phí như: dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ, dịch vụ ăn uống nhằm tăng cường thể chất và trí tuệ, dịch vụ vãn hoá thể dục thể thao nhằm tăng cường thể lực cho trẻ Engels còn cho rằng sức khoẻ được coi như là vũ khí chính trị mà giai cấp tư sản dùng để chế ngự giai cấp công nhân, còn giai cấp công nhân thì coi sức khoẻ là tài sản duy nhất của họ trong quan hệ xã hội với các nhà tư bản Đặc điểm chung của phương pháp M á o xít là tìm cách gắn bệnh tật với cấu trúc kinh tế và sự phát triển chính trị Đối với Engels, bệnh tật là một biểu hiện và là hậu quả trực tiếp cúa việc chạv theo lợi nhuận bất chấp sự an toàn (sự an toàn ở đây không chỉ liên quan tới các vấn đề công nghiệp mà con bao hàm các vấn đề khác như điều kiện nhà ở, chất lượng thực phẩm ) Engels đã tạo ra một nền y học xã hội và đưa ra 2 điểm cơ bán :

Bệnh tật không p h ả i là sản phẩm của phẩm chất cá nhân và tai lụm là sán phẩm của tổ chức công nghiệp.

Ôm đau và bệnh tật trước hết là sản phẩm của điều kiện x ã hội chứ không

ph ả i do sự cô'sinh vật không th ể tránh khỏi.

Engels đã xem xét việc sản sinh ra bệnh tật trong mối quan hệ với sự nghèo khổ và điều kiện sống của đô thị Có nghĩa những gia đình có mức sống thấp phải sống trong những điều kiện ở tồi tàn, ô nhiễm, ăn uống không đủ chất nên dễ bị bệnh Còn đối với trẻ em thuộc gia đình vùng khó khăn, vùng cao, vùng sâu,

Trang 26

vùng xa, việc tiếp cận với các dịch vụ y tế là hết sức khó khăn, cung không đáp ứng được cầu Engels cũng như các tác giá mác-xít khác đã nhìn tháy bệnh lặl và

sự chữa chạy nó như kết quả cùa một quá trình xã hội

Vận dụng lý luận quan điểm chủ nghĩa M arx-Lenin và coi đây là sợi chí đỏ xuyên suốt quá trình nghiên cứu, chúng tôi còn nghiên cứu CSSKTE trong gia đình theo hướng tiếp cận hộ thống, quan điểm phát triển, quan điểm lịch sử

- Hướng tiếp cận hệ thông

Theo cách nhìn của K Marx, hành động CSSKTE được coi như một bộ phận không thể tách rời của nhu cầu được quan tâm chăm sóc, thuộc kiến trúc thưựng tầng của xã hội Nó, một mặt là sản phẩm của một cơ sớ hạ tẩng hiện có cúa xã hội, được hình thành và đáp ứng bởi cơ sở hạ tầng ấy, mà trước hết là điều kiện kinh tế-xã hội Mặt khác, nó cũng tương tác và chịu sự chi phối mạnh mẽ của một bộ phận khác thuộc kiến trúc thượng tầng đó là hệ giá trị- chuẩn mực, hệ thống pháp luật., và cùng với các yếu tố đó tác động trớ lại đối với cơ sớ hạ tầng một cách tích cực: Nhận thức về CSSK sẽ tạo ra thói quen Khi đã thành nếp quen thì chính gia đình và đứa trẻ sẽ sẽ có nhu cầu muốn được CSSK nhiều hơn, nhu cầu về hệ thống cung cấp dịch vụ về y tế, văn hoá tốt hơn và có những hựp lý I}Ư11

về chính sách, giá cả Khi thấy trẻ khoẻ mạnh về thể chất, tinh thần, trí tuệ được phát triển do có sự đầu tư trong chăm sóc, nhận thức cúa cha mẹ về SKTE, vé CSSKTE sẽ tăng lên Nhận thức tăng, họ lại có nhu cầu quan tâm, đầu tư CSSKTE tốt hơn nữa Như vậy, chính nhu cầu được chăm sóc luôn là nguồn động lực thúc đẩy sự phát triển của cơ sở hạ tầng nhằm mục đích đáp ứng nó ngày càng tốt hơn

Vận dụng vào thực tế CSSKTE trong các gia đình Việt Nam hiện nay có thể thấy m ột cách toàn diện các nhân tố như: Cơ cấu xã hội, chính sách xã hội, tâm

lý, phong tục tập quán, các điêù kiện kinh tế, văn hoá (vật thể và phi vật thể), môi trường tự nhiên đã và đang tác động đến trẻ em, đến SKTE và đến nhận thức, 1hành động của gia đình trong cách CSSKTE Theo quan điếm này, luận án của chúng tôi đặt gia đình như hệ thống trong hệ thống xã hội cụ thể- xã hội Việt

Trang 27

Nam đang trên đà đổi mới, nhìn hiện tượng này trong mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng khác Cụ thể là khi phân tích các vai trò của gia đình tron» CSSKTE, chúng tôi hiểu nó như một loại quan hệ chức năne- cấu trúc Có rtíiKũi

xã hội được cấu trúc bới trật tự các vị trí có tầng bậc rõ ràng, mỗi vị trí xã hội được gắn với quyền hạn và nghĩa vụ xác định, người giữ vị trí cụ thể trong tháp phân tầng quyền lực xã hội phải biết rằng xã hội đang mong đợi mỗi cá nhân làm

gì, cũng như buộc người đó phải làm gì Từ đó tìm hiếu những thuận lợi cũng như những khó khăn của các gia đình trong hành động CSSKTE Cách tiếp cận hộ thống đặt ra yêu cầu xem xét vai trò xã hội cuả gia đình hiện nay trong CSSKTE nói riêng, trong CSSK gia đình và cộng đồng nói chung, và sự đan xen vào nhau giữa các vai trò đó có tác động như thế nào đến hiệu quả của sự nghiệp BVCS&GDTE

Bên cạnh phương pháp tiếp cận hệ ihống, luận án còn dựa irẽn phưưng pháp tiếp cận liên cấp nghĩa là xem xét đặc điểm và tính chất của sự vật hiện tượng trên các đơn vị phân tích cơ bản là cá nhân, nhóm và xã hội

Cấp guốc gia: Phân tích những tác động xã hội của yếu tố chính sách kinh

tế, của biến đổi xã hội, những điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội tới gia đình làm biến đổi cấu trúc gia đình từ đó ảnh hướng đến việc CSSKTE

Cấp tỉnh, thành' Mỗi tỉnh, thành phố cồ những đặc trưng khác nhau về lối

sống, về các kiểu loại gia đình Việc tiếp cận phân tích ở cấp này nhất là những thành phố lớn như: Hà Nội, Đà Nẵng, T.p Hồ Chí Minh nơi đang có biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội, cơ cấu gia đình mạnh mẽ sẽ góp phần làm cho nghiên cứu đa dạng hơn, phong phú hơn Từ đó sẽ có những ảnh hưởng đến việc CSSKTE

Cấp gia đình: Có thể coi gia đình như là một đơn vị phân tích đặc biệt vì nó có

đặc điểm, tính chất của nhóm , một thiết chế như vẫn được coi là “ tế bào xã hội” Đây là cấp độ phân tích chính của luận án Trên cấp độ này có thể tìm hiểu cách

tổ chức hoạt động kinh tế, cách phân công lao động nam nữ trong gia đình, từ đó đưa ra những nhân tố ảnh hưởng đến CSSKTE Trẻ em có suy dinh dưỡng, có ốm

Trang 28

đau hay không và có được đưa đi chữa bệnh kịp thời không là phụ thuộc vào cách chăm sóc, tổ chức sắp xếp của gia đình.

C ấy đô cá nhân: Cá nhân là một đơn vị phân tích xã hội cơ bán được dùng đê

xem xét ảnh hưởng của đặc điểm nhân khẩu học, trình độ học vấn, sớ thích nguyện vọng của từng thành viên trong gia đình tới việc CSSKTE Dưới cấp độ này luận án chủ yếu tập trung vào phân tích các đặc điểm phẩm chất của mỗi thành viên, kinh nghiệm sống, nghề nghiệp, tình trạng việc làm, thu nhập, đặc biệt là trình độ học vấn của người mẹ hay kiến thức của người cha Những đặc điểm quan trọng trên sẽ ảnh hưởng đến hành động CSSKTE trong gia đình

Điều đáng chú ý là các cấp độ phân tích này có liên quan chặt chẽ với nhau, không thể phân biệt một cách rạch ròi Các yếu tố ở cấp độ này có thể chế định hoặc lệ thuộc vào các yếu tố ở các cấp độ khác

- Q uan điểm p h á t triển

Xem xét nghiên cứu quá trình biến đổi cách CSSKTE trong các gia đình gắn với sự phát triển nền văn minh nhân loại Bắt đầu là chế độ cộng sản nguyên thuỷ, chế độ phong kiến và nền văn minh nông nghiệp trong CSSKTE với mong muốn đứa trẻ khi sinh ra được lớn khôn, khoẻ mạnh sau đó quay trở lại phục vụ cho chính những người thân trong gia đình chúng Nền văn minh công nghiệp, văn minh tin học ra đời cùng với sự phát triển kinh tế kỹ thuật, văn hoá được đẩy mạnh vượt bậc đã và đang tác động mạnh tới các gia đình Những thành tựu khoa học hiện đại đã giúp cho gia đĩnh có điều kiên hơn trong CSSKTE: có thời gian đầu tư CSDD cho con nhiều hơn, trình độ văn hoá nói chung, những kiến thức về bệnh tật, phòng chống bệnh tật và CSSKTE ở các bậc cha mẹ nói riêng được nâng cao hơn, thời gian để hưởng thụ các phúc lợi công cộng, y tế, văn hoá, xã hội được nhiều hơn Vì vậy, trong quá trình đi lên của văn minh nhân loại thế kỷ XXI, hành động CSSKTE của các gia đình có nhiều điều kiện thuận lợi, tuy còn

có khó khăn trở ngại do tác động khách quan như: PTTQ, định kiến xã hội

- Hướng tiếp cận lịch sử

Trang 29

Nghiên cứu quá trình CSSKTE của các gia đình trong các điều kiện lịch sử cụ thể về thời gian, không gian của từng dân tộc và quốc gia, gắn với nền văn hoá, tôn giáo từng vùng, miền Cách tiếp cận này làm sáng tỏ những quy luật chung và những đặc điểm riêng trong lịch sử phát triển của gia đình, CSSKTE trong các gia đinh ở từng quốc gia cũng như mỗi dân tộc cụ thể Gia đình là sản phẩm của quá

trình vận động lịch sử, biến đổi và phát triển liên tục có tính kế thừa Chức nãng

CSSKTE cũng thay đổi theo thời gian Vai trò và chức năng CSSKTE của các gia đình vận động và biến đổi do những động lực khách quan tạo ra và chịu sự chi phối, quy định của thực tại xã hội mà trong đó gia đình là một bộ phận Do đó vai trò của gia đình trong CSSKTE cũng vận động và biến đổi Việc nghiên cứu về CSSKTE trong các gia đình hiện nay được đặt trước bối cánh đổi mới đất nước trong quá trình CNH-HĐH đất nước với sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường trong nước, trên thế giới và những yêu cầu của nó đối với hành động CSSKTE, những đòi hỏi của cuộc CM KH&CN mới về nguồn lực Người, xu thế toàn cầu hóa, việc chuẩn bị cho con người sộng với xu thế đó, truyền thống lịch

sử, ảnh hưởng nền văn hoá và tôn giáo Nghiên cứu CSSKTE trong gia đình với quan điểm lịch sử cụ thể phải xuất phát từ đời sống, vị trí của gia đình trong sự phát triển kinh tế- xã hội của từng cộng đồng, và của cả nước, không tách rời ảnh hưởng văn hoá và chính sách quốc gia về CSSKTE

Trang 30

ưởng tối đa là sự phát triển khoẻ mạnh của con cái về mặt vật chất và tinh thần văn hoá Homans còn cho rằng hành động của con người không phái là cái gì khác ngoài việc trao đổi thường xuyên các giá trị Con người hành động và tương tác với nhau chỉ xuất phát từ những lợi ích nhất định, chính vì lợi ích này đã buộc con người phải gắn bó với nhau trong xã hội ở đây, tập trung vào việc xem xét vấn đề cho và nhận trong quá trình tương tác Mọi hành vi hay mọi sự trao đổi giữa các cá nhân bao gồm phần thưởng (reward) và chi phí (cost) Những phần thưởng này được xác định bởi khả nãng tăng cường năng lực hành động của họ Con người mong muốn đạt được những phần thưởng lớn nhất so với chi phí bỏ ra.Nghiên cứu hành động CSSKTE trong gia đình, chúng tôi tiếp cận việc cho và nhận trong quá trình tương tác Để tạo điều kiện cho trẻ đáp ứng được nhu cầu và tiếp cận được các dịch vụ CSSK, được vui chơi thoải mái (Vãn hoá tinh thần), gia đình phải bỏ ra một khoản chi phí về thời gian, tiền bạc Đổi lại đứa trẻ được vui chơi thoải mái, cơ thể khoẻ mạnh không bệnh tật, được khám chữa bệnh khi đau ốm, được học hành đầy đủ Qua đó, trẻ em sẽ phát triển toàn diện và đầy đủ hơn Đây chính là phần thưởng đối với các bậc cha mẹ.

+ Lý thuyết H àn h động xã hội của M.VVeber

M W eber coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ người-xã hội, là

cơ sở của đời sống xã hội của con người Nó là hành vi được chủ thể gắn cho một

ý nghĩa chủ quan nhất định và cái mà W eber gọi là “v nghĩa chủ quan” chính là ý

thức, [29, tr 128] là những hành động có ý thức, chủ thể hiểu được m ình định thực hiện hành động gì, và sẽ thực hiện nó như thế nào? khác hẳn những hành động bản năng sinh học Đối chiếu với hoạt động CSSKTE trong các gia đình, CSSKTE cũng hoàn toàn không phải hành động bản năng sinh học như ăn no, ngủ kỹ m à là hành động có sự tham gia của ý thức, thể hiện ở sự lựa chọn của chủ thể về nhiều khía cạnh như: ăn đủ vi chất dinh dưỡng, theo bữa, hợp lý, ngủ

đủ số giờ quy định theo độ tuổi, trong quan hệ không tạo cho nhau sự căng thẳng

về tinh thần Điều đó có nghĩa hành động CSSKTE trong gia đình cũng chính là

m ột dạng hành động xã hội

Trang 31

Với nhãn quan của thuyết hành động xã hội, quan niệm vc sức khoẻ, nhu cầu CSSKTE và nhu cầu muốn được chăm sóc ở trẻ được nhìn nhận như là nguồn gốc sâu xa của các hành động CSSKTE trong các gia đình Khi thấy con em mình gầy còm, ốm yếu, trong các bậc cha mẹ sẽ nảy sinh nhu cầu mong muốn được chãm sóc sức khoẻ cho con mình, từ đó ở họ hinh thành động cơ thôi thúc hành động

để thoả mãn nhu cẩu này của mình

Vận dụng lý luận quan điểm của M W eber, chúng tôi còn nghiên cứu CSSKTE trong gia đình theo hướng tiếp cận văn hoá Mỗi con người vừa là chủ thể sáng tạo văn hoá, vừa là sản phẩm của văn hoá cộng đồng và tiếu vãn hoá gia đình Bằng quá trình xã hội hoá, con người tiếp nhận hệ giá trị, chuẩn mực của cộng đồng và các khuôn mẫu ứng xử để trở thành con người xã hội Họ được nhào nặn, khuôn theo văn hoá của cộng đồng, khiến cho những đặc trưng cơ bản của văn hoá đó luôn hiện diện trong họ, chi phối từ nhận thức tới hành động và tư duy của họ Trong điều kiện đó, hành động CSSKTE đều không thể vượt ra ngoài

sự chi phối của khuôn mẫu văn hoá ấy Trong thuyết hành động của mình, Weber

đã từng nhấn mạnh vai trò quyết của “Hệ thống m ẫu” này với 4 định hướng hành động: hành động thuần lý đối chiếu với một giá trị, hành động thuần lý đối chiếu với một mục đích, hành động thuần lý đối chiếu với cảm xúc, hành động truyền thống [29] Rõ ràng văn hoá cộng đồng, tiểu văn hoá gia đình là yếu tố vô cùng quan trọng không thể xem nhẹ khi nghiên cứu về CSSKTE trong các gia đình Các bậc cha mẹ quan niệm về SKTE như thế nào, phương thức thực hiện hành động chăm sóc và xử lý khi trẻ mắc bệnh ra sao, lối sống và cách ứng xử trong các quan hệ giữa trẻ với nhau và với gia đình như thế nào luôn ghi đậm dấu ấn văn hoá của công đồng và tiểu văn hoá gia đình đã được thẩm thấu vào cá nhân thông qua quá trình xã hội hoá

Vì vậy, nghiên cứu về CSSKTE trong gia đinh, chúng tôi không tách chủ thể khỏi m ôi trường văn hoá nơi họ sinh sống Hiểu biết về phong tục tập quán, về thói quen và tâm lý cộng đồng, về tín ngưỡng, niềm tin và những quan hệ xã hội của chủ thể, là cơ sở đáng tin cậy để lý giải hành động CSSKTE của các gia đình

Trang 32

+ T ư tưởng H ồ C hí M inh về C S S K T E

Trên cương vị lãnh tụ tối cao của Đảng, của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã có nhiều cống hiến vĩ đại trên tất cả các lĩnh vực hoạt động cúa Đảng, nhà nước và nhân dân ta Trong công tác CSSKND, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan

tâm đến y học dự phòng Người nói: ”Phòng bệnh củng cần thiết như chữa bệnh”,"Phòng bệnh hơn trị bệnh”,"Mọi người từ già, trẻ, trai gái đ ã là người clân yêu nước đều phải quan râm đến vấn đ ề vệ sinh, giữ gìn sức khoe’.” Trong thời kỳ

đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, người vẫn nghĩ đến xây dụng

“Đời sống mới”, người viết: ” Sạch s ẽ là một phần của đời sông mới, sạch s ẽ thì dân ít ốm, khoe’mạnh thì làm được việc, làm được việc thì có ăn ” [ 53].

Đối với trẻ em, lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao trách nhiệm chăm sóc và bảo vệ thiếu niên, nhi đồng- thế hệ tương lai của đất nước

Người đã từng nói: “ V ì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”, “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, câng tác đó phải ìàm kiên trì và bền bỉ Trước hết, các gia đình (rức là ôn° bà, clĩa mẹ, anlĩ chị )phải làm thật tốt công việc ấy Các Đảng uỷ, phường phô', và HTX phái phụ trách, chỉ đạo tích cực và thường xuyên, u ỷ ban Thiến niên nhi đồng, đoàn Thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn th ể cần phải có kểhoạcli cụ

th ể chăm sóc - giáo dục các cháu ngày càng khoe' mạnh tiến bộ Các tỉnh uỷ, thành uỷ ph ả i ph ụ trách đô đốc việc này cho có kết quả tốt V ì tương lai của cun

em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt Người còn căn dặn thiếu niên, nhi đồng trong 5 lời dạy: "

G iữ gìn vệ sinh thật tốt “ Chúng ta phải khéo nuôi dạy, giúp cho nhi đồng pliút triển sức khoe’ và trí óc, thành những trẻ em có bốn tính tốt: hoạt bát, mạnh dạn, chất phác, thất thà.”[53 ; 467, 468] Đây là tư tưởng quan trọng định hướng cho

chiến lược chăm sóc giáo dục trẻ em trong giai đoạn hiện nay

+ Q u a n điểm củ a Đ ảng và N hà nước về C S S K T E

Trang 33

Hoạt động BVCS&GDTE của Việt Nam luôn được Đáng và Nhà nước coi là

sự nghiệp lớn của đất nước, của dân tộc, vì thế, Nghị quyết Đại hội Đáng lần thứ

VIII đã xác định: “ Chăm lo giáo dục, rèn luyện th ế hệ trẻ là trách nhiệm của

Đáng, nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị, của gia đình, của nhà trường và của toàn x ã hội ” [76; 125], " Văn hoá là nền táng tinh thần của x ã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh t ế - x ã hội M ọi hoạt động văn hoá phải nhằm xây dựng và phát triển nền vãn hoá đậm đù bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt N am về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cấm, lối sống, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển x ã h ộ i " [75].

Chính vì vậy, một trong những quan điểm xuyên suốt đường lối và các chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là việc coi con người vừa là mục tiêu, vừa

là động lực của sự nghiệp phát triển đất nước, trong đó trẻ em được coi là niềm hạnh phúc của gia đình, niềm tự hào của dân tộc, là chủ nhân tương lai kế tục sự nghiệp phát triển của đất nước Bởi Đảng và nhà nước Việt nam cho rằng: Việc coi trọng hàng đầu đến sự nghiệp BVCS&GDTE không chỉ là thể hiện tình cảm đạo đức, đạo lý của dân tộc đối với thế hệ đạng lớn lên, mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn xã hội, của tất cả các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể, gia đình, và mỗi cá nhân Trong Báo cáo chính trị trình Đại hội IX của Đảng

(4/2001) có ghi: “ Chính sách CS&BVTE tập trung vào thực hiện quyền tre’ em, tạo điều kiện cho trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lànlĩ mạnh, phát triển hài hoà về th ể chất, trí tuệ, tinh tliần và đạo đức; trẻ mồ côi, trẻ bị khuyết tật sông trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn vê' cơ hội học tập và vui chơi “ [4].

Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch, vấn đề trẻ em luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, vì thế, hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước về CSSKTE khá đầy đủ và toàn diện Cụ thể như:

+ H iến pháp nước Cộng hoà x ã hội chủ nghĩa V iệt Nam 15/4/1992: quy định gia

đình và mọi công dân phải có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em; chăm lo phát triển các dịch vụ xã hội cho trẻ, các cơ sở phúc lợi xã hội khác đê giảm nhẹ gánh nặng gia đình Tất cả được thể hiện trong điều 40, 63, 65, 67

Trang 34

+ Luật bào vệ sức khoe’ nhãn dân ngày 30/9/1989: quy định cha mẹ, người nuôi

dưỡng trẻ em có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khoẻ

và tiêm chủng theo k ế hoạch của y tế cơ sở, chăm sóc trẻ em khi đau ốm và thực hiện quyết định của thầy thuốc trong khám bệnh, chữa bệnh đối với trẻ

em, nhất là hoạt động tổ chức chăm sóc và áp dụng các biện pháp phục hổi chức năng cho trẻ em khuyết tật Tất cả thể hiện trong điều 46, 47

+ Luật bao vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam ngày 2ÓI6I1994: quy định

các gia đình không được sử dụng lao động trẻ em với tính chất làm ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của chúng, làm trái với những quy định của pháp luật Tất cả được thể hiện trong điều 6,9

+ Nghị định 374/HĐBT ngày 14/4/1991: yêu cầu Bộ y tế phái có trách nhiệm hướng dẫn cha mẹ và người nuôi dưỡng các em cách phòng bệnh và chữa một

số bệnh thông thường Thể hiện trong điều 6

+ Nghị đinh 95-CP ngày 27/11 /1994: quy định miễn một phần viện phí đối với

trẻ mồ côi và trẻ em dưới 6 tuổi Thể hiện trong điều 3

+ Thông tư số 27/LĐ-TBXH của Bộ LĐ-TBXH: quy định miễn viện phí cho trẻ

em tàn tật, trẻ mồ côi, trẻ dưới 6 tuổi và trẻ trong diện quá nghèo

Và các bài phát biểu của đồng chí Đỗ Mười tại Hội nghị Trẻ em Việt Nam (12/12/1991); bài phát biểu khai mạc hội nghị quốc gia vì trẻ em Việt Nam của đồng chí Võ Văn Kiệt (11/12/1991)

Đây chính là cơ sở để nghiên cứu CSSKTE những thập niên tới, khi Việt Nam

phấn đấu vượt ngưỡng nghèo đói để trở thành nước công nghiệp năm 2020

N hũng học thuyết, luận điểm, quan điểm của các nhà kinh điển trên đây chính là nền tảng cho việc xây dựng hướng tiếp cận vấn đề của chúng tôi Đó đồng thời cũng là những giả thuyết, phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu vân đẽ

mà chúng tôi coi như là cơ sở cho việc nghiên cứu các chương tiếp theo của luận

án Bởi để nghiên cứu CSSKTE trong gia đình hiện nay thực sự là một nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cần phải có cơ sở lý luận và phương pháp luận vũng chắc

Trang 35

CHƯƠNG 2 HIỆN TRẠNG s ứ c KHOẺ CỦA TRẺ EM VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Sơ lược vê địa bàn nghiên cứu

Việt nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331.000 km2, trải dài 1.650 km từ biên giứi Trung Quốc và đến phía nam Đồng bàng Sông Cứu Long, ngay dưới vĩ tuyến 10, dọc theo biển Đông Việt Nam có ba khu vực địa dư chính: Bắc, Trung

và Nam Các khu vực này có nhiều điểm tương đồng về văn hoá và truyền thống Trong những năm qua, quá trình đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống y tế phát triến và cho các gia đình có điêu kiện thực hiện tốt công tác CSSK, đặc biệt là CSSKTE

+ Về k hí hậu

Việt Nam có 2 Miền chịu 2 đặc tính khí hậu khác nhau Miền Nam có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô Miền Bắc nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàne năm có 4 mùa: xuân- hạ- thu- đông rõ rệt Nhiệt độ, thời tiết, khí hậu như vậy là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật phát triển và tạo thành các dịch như: cúm, sởi, sốt xuất huyết, các bệnh đường hô háp, dị ứng và những bệnh truyền theo đường nước như: iả chảy, thương h à n vì thế dễ ảnh hưởng tới SKTE

+ Về Văn hoá-xã hội

Việt Nam có 61 Tỉnh-thành phố được chia ra thành 609 quận, huyện (trong

đó 20 thành phố trực thuộc trung ương, 33 quận nội thành, 60 thị xã và 496 huyện) Các quận huyện được chia thành phường (trong khu vực thành thị) và xã (khu vực nông thôn) Theo con số sơ bộ của tổng cục điều tra dân số tính đến giữa năm 2000, dân số Việt Nam là 77.635 nghìn người, trong đó trẻ em là 27.422.880 người Số người thuộc các dân tộc thiểu số 10.139.076 người, trone

Trang 36

nhiều bất cập, lúc ban đầu thời kỳ đổi mới giờ đã từng bước khắc phục Tuy nhiên, nhiều vấn đề xã hội mới cũng nảy sinh và phát triển nhanh như: Tệ nạn mại dâm, nghiện hút, bạo lực - những vấn đề đã tác động không nhỏ tới SKTE

+ Về môi trường

Môi trường sau chiến tranh và thời kỳ đầu của “Đổi mới” đã bị tàn phá và ô nhiễm nặng nể ảnh hưởng đến SKTE Mức ô nhiễm về bụi ở các xí nahiệp khai thác mỏ than, các nhà máy xay nhiền đá, xí nghiệp gạch đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 5-1000 lần Các hoá chất độc từ các cơ sớ công nghiệp sử dụng trên 50 loại hoá chất nhu' chì, Benzen, C 0 2 vượt tiêu chuẩn cho phép Nhiều xí nghiệp CƯ

sở hạ tầng xử lý chất thải còn quá cũ, hóa chất xử dụng trong nông nghiệp ảnh hưởng cho người trồng, cũng như người tiêu dùng Tại Hà Nội, khí SO: gấp 14 lần tiêu chuẩn cho phép, khí C 0 2 gấp 2,2 lần Lượng bụi nội thành lớn gấp 5-10 ngoại thành Ó T.p Hồ Chí Minh, lượng bụi vượt tiêu chuẩn cho phép 70 lần Tài nguyên nước đang bị suy giảm về chất, lượng do khai thác quá mức không đúng

kỹ thuật, do chất thải, xâm nhập mặn ở vùng đồi núi xu thế giảm trữ lượng và hạ thấp mực nước do mất rừng ngày càng nhiều Theo ước tính của Bộ KHCN&MT, tổng lượng chất thái rắn trên toàn quốc là 49,314 tấn/ngày Chất thái sinh hoạt và chất thải bệnh viện ỏ' hầu hết các lỉnh ihành chưa tlưực xử lý hợp vệ sinh Binh quân mỗi bệnh viện có 600-800kg/ngày, 28% là chất độc hại như: phủ tạng, bông băng, kim tiêm, c ả nước còn có 149 bãi rác thải cũ, 26 kho thuốc bảo vệ thực vật tồn, 9 khu tồn lưu chất độc hoá học Mỹ sử dụng trong chiến tranh [82]

+ Về kinh tê

Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập trong khi vần là một quốc gia nghèo và phần lớn kinh tế là nông nghiệp Trước kia, nền kinh tế Việt Nam rất trì trệ, nhiều bộ phận dân cư bị đe doạ đói kém bởi sản lượng lương thực không đáp ứng được nhu cầu của người dân (cả hai miền: Bắc và Nam đều nhận được nhiều viện trợ giúp cho việc tích luỹ vốn (bao gồm cả vốn vật chất lẫn tri thức cho việc CSSKTE) Công cuộc đổi mới ở Việt Nam chính thức được tiến hành năm 1986 Các chính sách trong giai đoạn đầu và đầu tư nước ngoài, trong nước được khích

Trang 37

lệ, khiến kinh tế hàng năm tăng trướng Điều này đã ảnh hưởng rõ nét tới mức sống của các gia đình Kết quá các cuộc điểu tra kháo sát mức sốna dân cư cho ihây: thu nhạp bình quán mỏi người/lháng cua các hộ gia dinh đã lăng lừ 92,1 nghìn đồng năm 1992 lên 295,0 nghìn đồng năm 1999 Hệ số chênh lệch giữa nhóm giàu và nhóm nghèo năm 1999 so với năm 1994 tính chung cả nước tăng 2,4 lần, thành thị tăng 2,8 lần, nông thôn tăng 0,9 lần, mức độ phân hoá giàu

nghèo ờ thành thị nhanh hơn ở nông thôn Vùng tăng nhanh là Tây Nguyên 2,8

lần, Đông Nam Bộ 2,9 lần cao hơn mức tăng chung của cả nước Ty lệ thu nhập của 40% số hộ có mức thu nhập thấp nhất chiếm trong tổng thu nhập của các hộ điều tra năm 1994 là 20%, 1995 là 21,1%, 1999 là 18,7% [70]

Đây cũng là yếu tố tác động mạnh mẽ tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động CSSKTE của các gia đinh, khi các dịch vụ về CSSKTE được tính toán dựa trên cơ sở sự chi trả của người dân

2.1.2 Mạng lưới chăm sóc sức khoẻ ở Việt Nam

Việt Nam là một nước đang phát triển, thuộc nhóm các nước nghèo trên thế

giới, nhưng trong thời kỳ chiến tranh lại có thể tự hào: hoạt động “ CSSKBĐ của

cả quốc gia là một đ ề án được thiết kê'tốt ” (Dịukanovic và Hetzcl, 1989).

Hệ thống y tế Việt Nam với mạng lưới dịch vụ được chia thành bốn tuyến: trung ương, tỉnh, huyện và xã bao phủ cá nước Từ năm 1976, Irong chương ưinh

quốc gia ” Quản lý sức khoẻ toàn dân ”, việc hoàn thiện và tổ chức mạng lưới y

tế cơ sở ( quận, huyện, xã, phường) được quan tâm đặc biệt CSSK ban đầu đã được đề cao với phương châm: Cấp cứu tại chỗ, chữa bệnh tại nhà, chữa bệnh sớm và vì thế hệ thống CSSK ban đầu của Việt Nam đã được thế giới đánh giá

cao: ” K ết quả cho thấy các chỉ s ố x ã hội của Việt N am cao hơn nhiều so với nhiều nước khác có thu nhập cao hơn đáng k ể ” [36] Sang những năm 1980, sự

xuống cấp của hệ thống y tế trầm trọng do những thiết bị hư hỏng chưa được thay

thế, do tiền lương của các cán bộ y tế thực chất bị giảm xuống , “ hệ quả là cúc

ch ỉ sô' x ã hội đạt được trong 30 năm qua đang đứng trước nguy cơ nẹlĩiêm trọng nhiều dấu hiệu về y tế, giáo dục bắt đẩu cho thấv m ột sự thay đổi hoàn

Trang 38

IUÙI 1 ngược lụi ” [36] Các gia đình có xu hướng tự chữa trị bệnh tại gia hoặc

thích được khám chữa tại những cơ sở tuyến trên với nhữns điều kiện đầy đủ hơn

“ Tỷ lệ tiếp xúc với hệ tliấng y t ế ở người nghèo chí vào khuâng 3()r,í su với 45r/(

tỷ lệ tương tự ở người giàu Việc giám tỷ lệ tiếp cận cứa người dán dan đến các cơ

s ỏ y t ế ảnh hưởng đến sự gia tăng các bệnh tạt cấp tính như: viêm ruột thừa, gả\< xương, lĩay các bệnh mãn tính như: ung thư cao huyết áp đột quỵ thấp tim "

[44] Như vậy, tuy có trên 10.000 trạm xá xã, hầu như xã nào cũng có trạm y lế song được khai thác rất kém Và sau này, chính điều kiện kinh tế thị trường đã góp phần tạo ra động lực cho sự khôi phục và phát triển các cơ sớ y tế địa phương với những phân hoá rõ rệt Đầu những năm 90, khu vực Đồng bằng Bắc bộ, đã có tới 99,6% xã có trạm y tế Ngay ở trung du, tỷ lệ này cũng đạt tới gần 8 0 ^ [! 3] Yếu tố quan trọng thứ hai tạo ra nhữns điều kiện thuận lợi cho sự củng cố

và phát triển mạng lưới y tế xã và hoạt động CSSK trẻ em là việc ban hành ”

Chiến lược bảo vệ sức khoe' nhân dân 1990-2000 ” với phương châm " K ế thừa, nâng cao, đổi mới, kết hợp dân tộc và y học hiện đại Việc củng cố mạng lưới y

tế cơ sở được coi là chương trình quốc gia số 1 trong các chương trình uu tiên quốc gia, và nó đã góp phần giúp gia đình có ý thức hơn trong CSSK TE

2.1.3 Mạng lưới chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em ở Việt Nam

Thực hiện chủ trương của Đảng và những cam kết của hội nghị thượng đinh Copenhagen về phát triển xã hội (6-12/3/1995), côna ước quốc tế về quvền trẻ

em Những năm qua, hoạt động CSSKTE ở Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt

Trang 39

nói chung cũng khá phát triển, vì thế đã đáp ứng được nhu cầu của gia đình khám chữa những bệnh nặng cho trẻ Tuy nhiên các dịch vụ CSSK tâm thần cho trỏ còn

ít do thiếu cán bộ chuyên khoa, kinh phí, và các trang thiết bị Tại tuyến Quận/Huyện, một số nơi đã có khoa sản, khoa nhi, song hầu hết các khoa nhi hoặc giường bệnh cho trẻ em đều nằm trong khoa nội-nhi-lây, không có các bác

sĩ chuyên khoa, nhất là những vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa Vì thế ít nhiều đã ảnh hưởng tới ứng xử của các cha mẹ khi chữa trị bệnh tật cho tre

“cônạ tác khúm chữa bệnh chu trẻ em cùn yếu, trung bị cấp cứu CÒII sơ sùi, diều kiện vận chuyển còn thiếu, góp phần làm tỷ lệ tử vung trước 24 giờ ở cúc bệnli viện tuyến trên không những không giám mà còn có XII hướng tăng /02.” [36] Điều

này đã dẫn tới hệ quả: quá tải ở tuyến tỉnh, trung ương và tình trạng tự chữa tri bệnh tật cho trẻ tại gia ngày một gia tăng, trong khi đó, cán bộ phụ trách công tác bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em ở tuyến này lại chưa có sự phân côna rõ ràng

Họ được chỉ đạo phân tán theo nhiều chương trình y tế quốc gia, vì thế ít nhiều không khỏi ảnh hưởng tới công tác tuyên truyền nâng cao kiến thức cho các bậc cha mẹ về hoạt động CSSKTE Còn tuyến xã/phường, trong 7 năm qua, từ 1994-

2000 đã nàng cấp 1.713 trạm 95% trạm y tế xã/phường đã được xây đựng, ctins cấp trang thiết bị cơ bản và xây dựng được quỹ thuốc thiết yếu quay vònc để phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của các gia đình cho trẻ em từ 250 tỷ đổng đầu tư của nhà nước, v ề cơ bản đã xoá xã/phường trắng về y tế Toàn bộ các xã/phường đều có cán bộ y tế phục vụ, trong đó có trên 30% là bác sĩ, 78% là

nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi và 49% thôn bản có cán bộ y tế hoạt động với mức lương và phụ cấp như cán bộ y tế trong biên chế nhà nước

Đối với mạng lưới y tế tư nhân, hiện nay cả nước có trên 43.000 cơ sở hành nghề y dược tư nhân, trong đó có khoảng 21.000 cơ sở y tế, 15.000 cơ sở dược và 7.000 cơ sở y học cổ truyền, các phòng mạch tư nhân phát triển rộng khắp Điều này đã góp phần không nhỏ cho các gia đình trong việc khám chữa bệnh cho trẻ

em Tuy nhiên, một điều không thể không đề cập tới là tình trạng số lượng cán bộ chuyên khoa nhi mở các phòng khám chữa bệnh cho trẻ không nhiều, trone khi

Trang 40

trên thực tế các bậc cha mẹ vần cứ đưa con tới các cơ sớ tư nhân khám, chữa

bệnh, cho dù họ vẫn biết cơ sở này không phải là khám chuyên khoa nhi

2.I.3.2 Về công tác phòng bệnh cho trẻ:

Công tác phòng bệnh cho trẻ (hệ thống y tế dự phòng) trong hai thập kỷ qua đã được ngành y tế đặc biệt chú trọng và đến nay đã đem lại nhiều kết quá lớn, góp phần không nhỏ vào việc giảm bớt tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ em Ngoài hệ thống các trung tâm y tế dự phòng các quận, huyện; các nguồn ngân sách đầu tư cho phúc lợi y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường luôn tăng, thì sự xuất hiện của hệ thống BVBMSKTE-KHHGĐ cùng nhiều chương trình y tế quốc gia đã góp phần không nhỏ trong việc trợ giúp các gia đình trong CSSKTE Hiện nay, ơ Việt Nam tuyến tỉnh đã có 61 trung tâm y tế dự phòng được củng cố, đầu tư xây dựng và phát triển mạnh cả về tổ chức, cán bộ, trang bị kỹ thuật nhằm đảm nhiệm việc truyền thông, giáo dục sức khoẻ, phát hiện dịch, tổ chức dập tắt dịch tại địa phương, Tại Trung ương, Bộ y tế có vụ BVBMSKTE-KHHGĐ Vụ

có chức năng chỉ đạo hệ thống BVBMSKTE-KHHGĐ từ trung ương tới các tỉnh, quận/huyện Tại các tỉnh, quận/huyện, các trung tâm BVBMSKTE-KHHGĐ có nhiệm vụ triển khai và tiến hành các hoạt động theo hướng dự phòng cho iré em

ở cộng đồng, lồng ghép một phần hoạt động CSSK bà mẹ với SKTE

Năm 1998, khoản chi cho dịch vụ xã hội cơ bản thuộc mạng lưới an sinh xã hội là 10.300 tỷ Năm 1999, số Trung tâm nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ tàn tật, trẻ lang thang là 290 cơ sở với tổng số tiền do ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp theo tùng năm và năm 2000 số tiền này là 4.465 tỷ/năm [16] Điều này cho thấy ngành y tế đã tích cực trong công tác vận động, giáo dục gia đình đẩy mạnh phong trào vệ sinh, triển khai có hiệu quả công tác giám sát dịch tễ và phòng chống dịch bệnh Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra ở đây là: các cán bộ làm việc chủ yếu tại nơi đây đều là cán bộ sản khoa nên hoạt động phòng ngừa, chủ yếu mới chỉ nặng về k ế hoạch hoá gia đình, họ còn thiếu các kiến thức nhi khoa, chủ yếu dựa vào các khoa nhi tuyến tỉnh vốn đã thiếu cán bộ và yếu về dự phòng, ít quan tâm tới CSSKTE trong khi cán bộ chuycn trách UBBVCSTE theo thốn li

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w