trong những tiêu chuẩn bắt buộc trong Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo đòi hỏi là”các trường đại học phải có thư viện với nhữn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
XÂY DỰNG THƯ VIỆN SỐ TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH THÔNG TIN- THƯ VIỆN
Hà Nội, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ MINH PHƯỢNG
XÂY DỰNG THƯ VIỆN SỐ TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Chuyên ngành: Khoa học Thông tin-Thư viện
Mã số: 60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH THÔNG TIN- THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thanh Huyền
Hà Nội, 2018
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ vi
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tổng quan nghiên cứu của đề tài 5
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu: 9
4 Giả thuyết nghiên cứu 9
5.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu: 11
7 Ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn 12
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu và cấu trúc nội dung 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG THƯ VIỆN SỐ TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA 14
1.1 Một số khái niệm cơ bản về thư viện số 14
1.1.1 Khái niệm thư viện số 14
1.1.2 Khái niệm phần mềm thư viện số 16
1.1.3 Khái niệm bộ sưu tập số và định dạng dữ liệu 17
1.1.4 Khái niệm xây dựng thư viện số 18
1.2 Các yếu tố cấu thành thư viện số 18
1.2.1 Người dùng thư viện số 18
1.2.2 Tài nguyên thông tin số 18
1.2.3 Nguồn nhân lực thư viện số 19
1.2.4 Phần mềm, phần cứng & trang thiết bị ngoại vi của thư viện số 20
1.3 Yêu cầu đối với thư viện số 25
1.3.1 Cấu trúc của thư viện số 25
1.3.2 Hạ tầng cơ sở kỹ thuật 25
Trang 41.3.3 Kho tư liệu số hóa 26
1.3.4 Lưu trữ & bảo quản thông tin số 26
1.3.5 Phát triển và xử lý thông tin số 27
1.3.6 Dịch vụ thông tin và chia sẻ thông tin 28
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thư viện số 28
1.4.1 Nhận thức của các bên liên quan 28
1.4.2 Chính sách đầu tư tài chính 29
1.4.3 Vấn đề bản quyền 30
1.4.4 Vấn đề ứng dụng các chuẩn nghiệp vụ 31
1.4.5 Năng lực thông tin của người dùng tin 34
1.5 Khái quát về Học viện Hành chính Quốc gia 35
1.5.1 Lịch sử hình thành & phát triển 35
1.5.2 Chức năng, nhiệm vụ 37
1.5.3 Cơ cấu tổ chức 38
1.5.4 Chiến lược phát triển 40
1.6 Vai trò của thư viện số đối với Học viện Hành chính Quốc gia 41
1.6.1 Đối với công tác quản lý 41
1.6.2 Đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học 42
1.6.3 Đối với giảng dạy & học tập 42
1.6.4 Đối với công tác quản lý người học 43
Chương 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG THƯ VIỆN SỐ TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA 44
2.1 Thực trạng các yếu tố hình thành thư viện số tại Học viện Hành chính Quốc gia 44
2.1.1 Đặc điểm người dùng tin 44
2.1.2 Đặc điểm vốn tài liệu 46
2.1.3.Đặc điểm nguồn nhân lực 48
2.1.4 Đặc điểm phần cứng, phần mềm & trang thiết bị ngoại vi 52
Trang 52.2 Thực trạng các yếu tố tác động đến xây dựng thư viện số tại Học
viện Hành chính Quốc gia 54
2.2.1 Nhận thức của các bên liên quan 54
2.2.2 Chính sách đầu tư 55
2.2.3 Vấn đề bản quyền 56
2.2.4 Thực hiện các chuẩn nghiệp vụ 56
2.2.5 Năng lực thông tin của người dùng tin 60
2.3 Đánh giá về thư viện của Học viện Hành chính Quốc gia 63
2.3.1 Khả năng khai thác thông tin/tài liệu 63
2.3.2 Số lượng người truy cập 64
2.3.3 Các điểm truy cập thông tin 65
2.3.4 Mức độ lưu trữ & bảo quản thông tin 65
2.3.5 Hoạt động phát triển và xử lý tài liệu 66
2.3.6 Các loại hình sản phẩm & dịch vụ thông tin 68
2.3.7 Vấn đề quản lý & chia sẻ thông tin/tài liệu 70
2.4 Nhận xét chung 70
2.4.1 Điểm mạnh 70
2.4.2 Điểm hạn chế 71
2.4.3 Nguyên nhân 73
Chương 3: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG THƯ VIỆN SỐ TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA 75
3.1 Xây dựng chính sách thư viện số phù hợp 75
3.1.1 Mục tiêu của chính sách 75
3.1.2 Cấu trúc & nội dung của chính sách 76
3.2 Phát triển tài nguyên thông tin số 78
3.2.1 Phát triển tài nguyên số nội sinh 79
3.2.2 Phát triển tài nguyên số ngoại sinh 80
3.3 Đầu tư trang thiết bị và hạ tầng công nghệ thông tin 80
Trang 63.3.1 Đầu tư các phần mềm thư viện số 80
3.3.2 Đầu tư đường truyền và trang thiết bị ngoại vi 82
3.3.3 Mở rộng diện tích cho thư viện 83
3.4 Phát triển nguồn nhân lực thư viện số 83
3.4.1 Chú trọng bổ sung thêm nhân lực cho thư viện 83
3.4.2 Nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực 84
3.5 Ứng dụng chuẩn nghiệp vụ và quản lý bản quyền số 85
3.5.1 Chuẩn biên mục & xử lý thông tin 85
3.5.2 Triển khai quản lý bản quyền số 91
3.6 Đa dạng hóa & nâng cao chất lượng sản phẩm & dịch vụ thông tin hiện đại 92
3.6.1 Phát triển sản phẩm thông tin hiện đại 92
3.6.2 Phát triển các dịch vụ thông tin hiện đại 93
3.7 Nâng cao năng lực thông tin cho người dùng tin 95
3.7.1 Trách nhiệm của giảng viên 95
3.7.2 Trách nhiệm của đội ngũ làm công tác thư viện 95
KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2 ĐHKHXH & NV Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
3 ĐHQG HN Đại học Quốc gia Hà Nội
4 HVHCQG Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Danh mục các bảng biểu
Bảng 2.1: Cơ cấu độ tuổi và giới tính nhân lực thư viện 49
Bảng 2.2: Trình độ đội ngũ làm công tác thư viện 49
Biểu đồ 2.1: Mức độ quan tâm đến loại hình tài liệu thư viện 61
Biểu đồ 2.2: Mức độ sử dụng sản phẩm thư viện 63
Biểu đồ 2.3: Mức độ truy cập phần mềm thư viện 64
Danh mục các sơ đồ, hình vẽ Sơ đồ1.1: Phần mềm quản lý TVS 17
Sơ đồ1.2: Cơ cấu tổ chức Trung tâm Tin học – Thư viện 39
Hình 1.1 Mô hình làm việc giữa máy chủ và máy trạm 24
Hình 2.1: Trang chủ Dspace 53
Hình 2.2: Các đơn vị chính trong Dspace 57
Hình 2.3: Các đơn vị con trong Bộ sưu tập Luận văn Thạc sĩ Quản lý Hành chính công 57
Hình 2.4: Giao diện biên mục tài liệu số 59
Hình 2.5: Khâu kiểm duyệt tài liệu đã biên mục 59
Hình 3.1: Chọn mục tiêu đề tài liệu 85
Hình 3.2: Trường tác giả 86
Hình 3.3: Trường nhan đề tài liệu 86
Hình 3.4: Trường ngày tháng năm xuất bản 86
Hình 3.5: Trường nhà xuất bản 87
Hình 3.6: Trường ký hiệu kho & ký hiệu phân loại tài liệu 87
Hình 3.7: Trường loại hình tài liệu 87
Hình 3.8: Trường mô tả nội dung tài liệu 88
Hình 3.9: Tải tập tin 89
Hình 3.10: Mục chỉnh sửa nội dung đã biên mục 90
Hình 3.11: Cấp phép tài liệu 90
Hình 3.12: Hoàn thành 1 tài liệu trong bộ sưu tập 91
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, sự phát triển đột phá vượt bậc của khoa học và côngnghệ (KH&CN), mà đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) đã tác động sâu sắc vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực thông tin-thư viện (TT-TV).Đồng thời hệ quả cùng với
sự phát triển của cuộc cách mạng KH&CN hiện đại này là các nướctiên tiến trên thế giới đã dần chuyển mình từ “xã hội công nghiệp”sang “xã hội hậu công nghiệp” hay còn gọi là “xã hội thông tin” Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sự ra đời của nhiều môn loại khoa học mới,… đã làm cho khối lượng thông tin, tài liệu gia tăng nhanh chóng dẫn tới hiện tượng
“bùng nổ thông tin” Bên cạnh đó, CNTT phát triển đã làm cho hàng loạt các phương tiện truyền thông hiện đại, các vật mang tin hiện đại xuất hiện…dẫn tới nhu cầu tin của con người cũng ngày một đa dạng và phức tạp hơn Họ luôn mong muốn được đáp ứng thông tin một cách nhanh chóng, chính xác, kịp thời và đầy đủ nhất, phù hợp nhất với họ ở mọi lúc mọi nơi Chính sự mâu thuẫn đó đã đòi hòi hoạt độngTT-TV phải không ngừng được hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệuquả hoạt động để có thể quản trị một cách khoa học nguồn tài nguyên thông tin đáp ứng tối đa nhu cầu tin cho người dùng ở mọi lúc, mọi nơi Chính vì vậy, các thư viện số/thư viện điện tử/thư viện ảo đã ra đời (sau đây gọi là Thư viện số - TVS)
Thư viện số ra đời đã làm biến đổi mọi hoạt động nghiệp vụ TT-TV về chất TVS giúp cho không chỉ nâng cao hiệu quả tra cứu khai thác thông tin tiện ích nhất để thỏa mãn tối đa nhu cầu tin của người dùng tin mà còn giúp cho các chuyên gia TT-TV nâng cao hiệu quả hoạt động từ khâu quản lý cơ quan TT-TV đến hoạt động tác nghiệp vụtrong việc thu thập, xử lý, tổ chức, bảo quản và tạo dựng các sản phẩm, dịch vụ thông tin để phục vụ người dùng
Trang 10tin Như vậy, TVS ra đời làm biến đổi từ việc phát triển và khai thác thông tin; gia tăng giá trị các sản phẩm & dịch vụ thông tin; hạn chế tối đa sự “nhiễu tin”, thỏa mãn tối đa nhu cầu tin ngày càng cao của người dùng Nhằm khắc phục sự “bùng nổ thông tin” và giải quyết sự phát triển tất yếu của ngành TT-
TV, các thư viện bắt buộc phải phát triển theo hướng hiện đại hóa Hiện đại hóa thư viện sẽ làm thay đổi cơ bản các hoạt động nghiệp vụ và các dịch vụ của thư viện: Các hoạt động bổ sung, xử lý tài liệu sẽ được chuẩn hóa, được
mở rộng liên kết, chia sẻ và tự phát huy giá trị trong nó; Các dịch vụ TT-TV cũng sẽ đa dạng và chất lượng hơn khi mục tiêu hướng đến của nó là thân thiện với người dùng, cung cấp nhiều tiện ích và cách thức tiếp cận phù hợp hướng đến người dùng tin
Vấn đề xây dựng TVS ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước quan
tâm chỉ đạo thể hiện trong Quyết định số 10/2007/QĐ- BVHTT về “Quy
hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam tới năm 2010 và định hướng phát triển tới năm 2020”[4] Đặc biệt, việc ứng dụng thành tựu CNTT trong đổi
mới giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng cũng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn bao giờ hết nhằm đổi mới toàn diện giáo dục đại học Việt Nam Bởi các cơ sở đào tạo đại học là “xưởng sản xuất” mà đầu ra là nguồn nhân lực cần có trình độ cao đủ khả năng tiếp nhận tri thức mới để ứng dụng tri thức đó và tạo ra tri thức mới Sứ mệnh của giáo dục đại học Việt Nam phải tạo ra nguồn nhân lực đủ về lượng và chất, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, là nguồn nhân lực “chủ công” mở đường cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức của Việt Nam Để hoàn thành sứ mệnh của mình, một trong những nhiệm vụ cấp bách của ngành Giáo dục & Đào tạo là cần phải đổi mới giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng và nâng cao chất lượng đào tạo Điều đó có nghĩa là đổi mới giáo dục đại học, cần phải đổi mới một cách đồng bộ nhiều hoạt động trong đó có hoạt động thông tin-thư viện Để hệ thống giáo dục đại học nước ta dễ dàng hội nhập với khu vực & thế giới, một
Trang 11trong những tiêu chuẩn bắt buộc trong Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất
lượng giáo dục trường đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo đòi hỏi là”các trường đại học phải có thư viện với những yêu cầu hết sức cụ thể cho nhiều mức đánh giá khác nhau về số lượng và chất lượng đội ngũ, về cơ sở vật chất,
hạ tầng công nghệ; Về số lượng và chất lượng tài liệu dành cho một ngành/bộ môn đào tạo để đảm bảo tốt nhu cầu khai thác tài liệu, sách báo của cán bộ quản lý, giảng viên và người học trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập theo phương thức của đào tạo tín chỉ; Về mức độ được tin học hóa hoạt động nghiệp vụ thông tin thư viện; Về tỷ lệ gia tăng số cán bộ và học viên, sinh viên, nghiên cứu sinh đến thư viện; Về công tác chia sẻ, hợp tác quốc tế; Về mức kinh phí đầu tư dành cho phát triển thư viện ” (Trần Thị Quý Cơ sở lý
luận và thực tiễn để xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng Thư viện đại học Việt Nam/ Đề tài cấp bộ ĐHQGHN, nghiệm thu năm 2014)”
Trong“Pháp lệnh thư viện” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 31/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 Tại Điều 13 của Pháp lệnh có quy
định rõ một trong các nhiệm vụ của thư viện là “Nghiên cứu, ứng dụng thành
tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào công tác thư viện, từng bước hiện đại hóa thư viện” [41]; Trong Nghị định số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/8/2002 của
Chính phủ đã quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thư viện Cụ thể Điều 8
vềquyền và nhiệm vụ thư viện đã chỉ rõ:“Thư viện của các trường đại học và
cao đẳng có nhiệm vụ xây dựng vốn tài liệu đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập của người dạy và người học”[5]; Văn kiện Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 đã chỉ
rõ nhiệm vụ: “Xây dựng thư viện trường học Xây dựng hệ thống thư viện điện tử
kết nối giữa các trường đại học trong từng vùng tiến tới kết nối với các thư viện trong phạm vi quốc gia, khu vực và quốc tế”.Trong “Quy chế mẫu về tổ chức
và hoạt động thư viện trường đại học” được ban hành ngày 10 tháng 03 năm
2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch theo Quyết định số
Trang 1213/2008/QĐ-BVHTTDL đã chỉ rõ tại điều 3 về chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của thư viện đại học cần “Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa
học & công nghệ tiên tiến và công nghệ thông tin vào công tác của thư viện”
[3] Như vậy, việc xây dựng TVS cho các trường đại học Việt Nam là nhu cầu
tất yếu khách quan của xã hội trong giai đoạn hiện nay
Học viện Hành chính Quốc gia (HVHCQG) có vai trò là một trung tâm quốc gia đào tạo đại học, sau đại học và bồi dưỡng cán bộ, công chức về quản
lý nhà nước Đây là cái nôi đào tạo những nhà quản lý, lãnh đạo tại các cơ quan nhà nước từ cấp vụ đến cấp phòng Thư viện HVHCQGlà đơn vị trực thuộc Trung tâm Tin học - Thư viện, Học viện Hành chính Quốc gia Thư viện có chức năng thực hiện nghiệp vụ công tác thư viện, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo, bồi dưỡng… Thư viện đã xây dựng chiến lược phát triển hoạt động TT-TV phù hợp với xu thế phát triển hệ thống TT-TV các trường đại học trong cả nước như áp dụng chuẩn nghiệp vụ thư viện là một ví dụ Nhưng với khó khăn như lúc đầu trực thuộc Chính phủ, rồi thuộc
Bộ Nội vụ, sáp nhập vào Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh rồi lại tách ra, trực thuộc Bộ Nội vụ nên Thư viện chưa được các cấp lãnh đạo quan tâm, đầu tư để trở thành thư viện hiện đại/thư viện sốở mức như các cơ quan TT-TV của các trường đại học khác Vì vậy, đến nay, Thư viện vẫn hoạt động theo phương thức của một cơ quan TT-TV truyền thống là chủ yếu.Với nhu cầu ngày càng cao của nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên cũng như cán bộ, giảng viên của Học viện, việc tra cứu, cung cấp thông tin chọn lọc, tra cứu trực tuyến, sử dụng tư liệu điện tử với các cơ sở dữ liệu toàn văn, khai thác internet, chia sẻ tài nguyên thông tin với các cơ quan trong và ngoài nước… thì hoạt động thông tin thư viện hiện tại chưa đáp ứng được Trong khi đó HVHCQG đang có sứ mệnh rất quan trọng cần đổi mới giáo dục đào tạo để đầu ra có nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính của Đảng & Nhà nước đã và đang triển khai
Trang 13Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Xây dựng thư viện
số tại Học viện Hành chính Quốc gia” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao
học chuyên ngành thông tin - thư viện Với đề tài này, chúng tôi mong muốn vận dựng những kiến thức, kỹ năng tiếp thu được trong quá trình học tập và kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tácđể đánh giá thực trạng hoạt động TT-TV từ đó nghiên cứu, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm xây dựng thư viện số cho HVHCQG, đáp ứng nhu cầu thông tin/tài liệu ngày càng cao của cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên , nghiên cứu sinh trong quản
lý, giảng dạy, học tập và nghiên cứu
2 Tổng quan nghiên cứu của đề tài
Hoạt động TT-TV đã được phát triển qua nhiều giai đoạn, từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử và gần đây nhất là thư viện số Cùng với sự phát triển của internet và hạ tầng CNTT hiện đại, các thư viện số được xây dựng giúp NDT có nguồn thông tin khổng lồ, không phụ thuộc vào không gian, thời gian, địa lý Nghiên cứu về thư viện số có nhiều tài liệu, trong đó:
Về xây dựng thƣ viện số có những tài liệu nhƣ:
- Luận văn “Xây dựng, quản lý và khai thác tài liệu số tại thư viện
Học viện Kỹ thuật Quân sự” của tác giả Nguyễn Thị Khanh (2015) [19] Luận
văn đi sâu nghiên cứu thực trạng và quá trình xây dựng, khai thác sử dụng nguồn tài nguyên số tại thư viện, đồng thời đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nguồn tài liệu số
- Luận văn “Tổ chức và khai thác tài liệu số tại Thư viện Tạ Quang
Bửu, Đại học Bách khoa Hà Nội” của tác giả Trần Thị Thanh Thủy (2012)
[37] Luận văn nghiên cứu thực trạng tổ chức thư viện số, hoạt động khai thác tài liệu số tại Thư viện Tạ Quang Bửu,
- Kỷ yếu “Xây dựng và phát triển thư viện số Việt Nam: quá khứ, hiện
tại, tương lai” của Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
(2016) [10] Kỷ yếu gồm 52 bài viết và chia sẻ kết quả nghiên cứu xoay
Trang 14quanh chủ đề công nghệ thư viện số, tài nguyên thư viện số, dịch vụ thư viện
số, chính sách- quy trình quản lý thư viện số
- “Nghiên cứu thư viện số thế giới và định hướng nghiên cứu thư viện số ở
Việt Nam”của tác giả Nguyễn Hoàng Sơn (2007) [33]trong Kỷ yếu hội thảo khoa
học “Tiếp cận xây dựng thư viện số ở Việt Nam: hiện trạng và vấn đề” Bài viết
đã nêu lên thực trạng thư viện tại Việt Nam nói chung trước xu hướng thư viện số trên thế giới cách đây một thập kỷ để từ đó đưa ra những định hướng phát triển thư viện số tại Việt Nam
Các công trình trên có những nghiên cứu về thực trạng khi chuẩn bị xây dựng thư viện số gần với thực trạng của thư viện HVHCQG Từ những đánh giá thực trạng, các công trình này đã đưa ra một số định hướng, giải pháp để từ đó chúng tôi lấy làm cơ sở trong việc xây dựng thư viện số tại HVHCQG
Về phần mềm thƣ viện số có những tài liệu nhƣ:
- Luận văn“Nghiên cứu phần mềm Dspace và khả năng triển khai tại
Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa Trường Đại học Phòng cháy chữa cháy” của tác giả Phạm Thành Trung (2016)[39] Luận văn nghiên
cứu phần mềm mã nguồn mở Dspace, những ưu điểm, hạn chế khi triển khai
tại Thư viện Đại học Phòng cháy chữa cháy
- Luận văn“Ứng dụng phần mềm Kipos tại Trung tâm Thông tin Thư
viện Đại học Mở” của tác giả Lê Thúy Hằng (2015) [11] Luận văn đưa ra
tính tích hợp hoàn chỉnh, hỗ trợ tối đa công tác quản lý mọi dạng thông tin tư liệu từ truyền thống tới tài liệu số và xuất bản điện tử của thư viện bằng công nghệ và kỹ thuật mới nhất của phần mềm này
- “Sự phát triển và sử dụng phần mềm Greenston trên thế giới” của
tác giả Nguyễn Tuyến[38] trên Bản tin Thư viện – Công nghệ thông tin số tháng 10/2004 Bài viết nêu những tính năng của phần mềm Greenston cùng hình ảnh minh họa và xu thế phát triển của phần mềm này trong các thư viện trên thế giới
Trang 15Các công trình trên đây đã nghiên cứu tính năng của các phần mềm thư viện số được dùng phổ biến tại Việt Nam, đánh giá được những ưu điểm, những hạn chế của từng phần mềm để qua đó luận văn có cơ sở lựa chọn phần mềm khi xây dựng thư viện số tại HVHCQG
Về hoạt động của thƣ viện số có những tài liệu nhƣ:
- Luận văn“Hoạt động của thư viện số tại Trung tâm Khoa học Quân
sự Bộ Quốc phòng” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh (2014) [1] Luận văn đi
sâu nghiên cứu thực trạng và tổ chức hoạt động thư viện số tại Trung tâm Khoa học Quân sự
- Luận văn “Thư viện số tại Cục Thông tin Khoa học Quốc gia” của
Trần Thị Kiều (2013) [21] Luận văn nêu tổ chức và hoạt động của thư viện
số tại Cục Thông tin khoa học Quốc gia
- “Học liệu mở và hướng phát triển tài nguyên số tại các thư viện đại
học Việt Nam” của tác giả Nguyễn Huy Chương và Nguyễn Tiến Hùng (2011)
[ 9] trong kỷ yếu “Hội thảo khoa học 50 năm đào tạo nguồn nhân lực TT- TV trường Đại học Văn hóa Hà Nội
- “Số hóa tài liệu – Từ nhận thức đến triển khai đào tạo tại khoa
TTTV, trường Đại họcKHXH&NV,ĐHQGHN” tại Hội thảo do Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch tổ chức tại Hà Nội, tác giả Trần Thị Quý (2012) [26]
- “ Phát triển tài liệu số-Yếu tố quan trọng cho sự phát triển giáo dục
đại học Việt Nam” của tác giả Trần Thị Quý (2013) [27]trong Kỷ yếu “Chuẩn
hóa Mục lục trực tuyến và xây dựng thư viện số”
- “Le livre numérique, planche de sollution pour la lecture” của
Vincent Chabault [47] Bài viết thông qua khảo sát đối với sinh viên đại học trong sử dụng sách in và sách điện tử, nêu bật vai trò của sách điện tử và tài liệu số đối với sinh viên
Một thư viện số sau khi được xây dựng cần phải có những hoạt động nhằm phát triển nguồn tài nguyên số hóa và phổ biến tới người dùng Các
Trang 16công trình trên đây đã đi sâu nghiên cứu hoạt động, việc số hóa và khai thác nguồn tài liệu số hóa của một vài thư viện số trong nước Đây là cơ sở để luận văn xây dựng giải pháp nhằm phát huy hiệu quả hoạt động sau khi triển khai xây dựng thư viện số tại HVHCQG
Liên quan đến Trung tâm Tin học – Thƣ viện, Học viện Hành chính Quốc gia có những tài liệu nhƣ:
- Đề án cấp cơ sở “Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác phục
vụ, hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Trung tâm Tin học – thư viện, Học viện Hành chính Quốc gia” của Trung tâm Tin học – Thư viện, Học viện
Hành chính Quốc gia (2014) [40] Đề án mới chỉ đưa ra những giải pháp nhằm tin học hóa các hoạt động trong hoạt động thư viện và tư liệu của Trung tâm mà chưa đi sâu phân tích thực trạng, yếu tố cần thiết để hiện đại hóa hoạt động này
- Bản thảo dự án “Xây dựng thư viện điện tử tại Học viện Hành chính
Quốc gia” vào các năm 2009 và 2014 của Trung tâm Tin học – Thư viện Dự
án đã khảo sát thực trạng, xây dựng mô hình thư viện điện tử cho Thư viện của Học viện vào năm 2009 và năm 2014 Tuy nhiên, dự án chưa được duyệt
đi vào thực hiện do thời điểm xây dựng dự án trung vào thời điểm Học viện Hành chính Quốc gia trong quá trình sát nhập Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2009) và sát nhập vào Bộ Nội vụ (2014)
- “Tự động hóa thư viện- Khó khăn và thách thức của Thư viện Học viện
Hành chính Quốc gia” của Nguyễn Thị Minh Phượng, kỷ yếu hội thảo “Giải pháp
xây dựng, quản lý, khai thác và xuất bản nguồn tài nguyên thông tin số: thực tiễn tại Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” (2014) [25] Bài viết mới chỉ nêu lên những khó khăn nếu tiến hành tự động hóa của Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia, chưa đi sâu nghiên cứu, phân tích thực trạng của Thư viện
Trong các công trình kể trên, một số công trình đã được Ban lãnh đạo HVHCQG và một số công trình được Ban giám đốc Trung tâm Tin học – Thư viện cùng đội ngũ làm công tác thư viện xem xét và góp ý Đây là cơ sở để luận
Trang 17văn đánh giá đúng thực trạng của thư viện HVHCQG, thấy được những khó khăn, tồn tại và những vướng mắc trong việc xây dựng thư viện số tại HVHCQG
Như vậy, hiện nay có khá nhiều bài viết, đề tài nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề về thư viện số Mỗi tác giả lại có cách tiếp cận và giải quyết vấn đề khác nhau, song đến nay, chưa có một luận văn nào nghiên cứu về thư
viện số tại HVHCQG Vì vậy, có thể khẳng định đề tài “Xây dựng thƣ viện
số tại Học viện Hành chính Quốc gia” là đề tài hoàn toàn mới và không
trùng lặp với các công trình đã công bố trước đây Các vấn đề nghiên cứu của luận văn là cần thiết và giải quyết những vấn đề không được triển khai trong các công trình trên; đóng góp vào công cuộc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo cho HVHCQG
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài “Xây dựng thƣ viện sốtại Học viện Hành chính Quốc gia”được triển khai nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đáp ứng
tối đa nhu cầu tin của người dùng tin ở mọi lúc, mọi nơi Góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập, giảng dạycho cán bộ, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên của Học viện Hành chính Quốc gia
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về xây dựng thư viện số;
- Nghiên cứu thực trạng việc triển khai xây dựng thư viện số tại Học viện Hành chính Quốc gia;
- Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng thành công thư viện số tại Học viện Hành chính Quốc gia
4 Giả thuyết nghiên cứu
Trong môi trường công nghệ thông tin & truyền thông phát triển rất mạnh mẽ và đã đang tác động ngày càng sâu rộng làm biến đổi về chất các cơ quan thông tin, thư viện truyền thống trở thành các cơ quan thông tin, thư
Trang 18viện số Các cơ quan thông tin, thư viện điện tử, thư viện số/thư viện ảo đã ra đời và đang ngày càng phát triển tạo ra những tiện ích vô cùng vì người dùng tin trong việc đáp ứng tối đa nhu cầu thông tin/tài liệu cho họ ở mợi lúc, mọi nơi Đồng thời giảm thiểu đáng kể sự đầu tư nguồn lực sức người, sức của, thời gian trong công tác quản lý điều hành trực tuyến, tổ chức họat động nghiệp vụ đạt hiệu quả caonhư chia sẻ tài nguyên thông tin trong công tác bổ sung; Biên mục sao chép trong công tác xử lý; Số hóa tài liệu xây dựng các
bộ sưu tập số trong công tác lưu trữ, bảo quản, phục vụ các dịch vụ trực tuyến Việt Nam đang trong quá trình đổi mới giáo dục đại học, đổi mới phương thức đào tạo theo tín chỉ nhằm nâng cao chất lượng NCKH & đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội Với việc đổi mới này đòi hỏi việc tự học, tự nghiên cứu rất nhiều từ người học và người dạy Vì vậy, các cơ quan thông tin, thư viện của các cơ sở đào tạo đại học nếu đượcđầu tư hiện đại hóa,để nhanh chóng trở thành các cơ quan thông tin, thư viện số thì chắc chắn sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo & nghiên cứu khoa học Nhu cầu thực tiễn là vậy, nhưng hiện nay hoạt động thông tin, thư viện của HVHCQG vẫn chưa có hiệu quả, chưa đáp ứng được nhu cầu cấp bách từ xã hội nói chung và người dùng tin nói riêng Câu hỏi đặt ra là nguyên nhân do đâu? Trong quá trình làm việc, quan sát chúng tôi nhận thấy có thể một trong những nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp là do hoạt động TT-TV của Học viện còn quá lạc hậu Có thể
do lãnh đạo Học viện chưaquan tâm, chú trọng đầu tư để hiện đại hóa; Nguồn tài nguyên thông tin/tài liệu số còn quá ít; hạ tầng CNTT và thông tin cùng các trang thiết bị ngoại vi chưa đủ, còn thiếu và lạc hậu; Trình độ nguồn nhân lực số chưa đáp ứng; Năng lực thông tin của NDT chưa được chú trọng; Các chuẩn nghiệp vụ theo yêu cầu của thư viện số trong công tác bổ sung, biên mục, xử lý hình thức, xử lý nội dung thông tin cũng như trong tổ chức lưu trữ, bảo quản, tổ chức tra cứu và phổ biến thông tin, quản lý bạn đọc vẫn hoàn toàn truyền thống
Trang 19Vậy làm thế nào khắc phục những hạn chế trên là vấn đề cần tiếp tục được giải quyết Theo chúng tôi, trước hết, có thể cần phải nâng cao nhận thức của lãnh đạo về tầm quan trọng của việc xây dựng thư viện số; Chú trọng đầu tư kinh phí hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin (phần cứng, phần mềm, thiết bị ngoại vi); Xây dựng & phát triển các bộ sưu tập số, tăng cường chia sẻ thông tin; Đào tạo và đào tạo lại chuyên gia thông tin đáp ứng yêu cầu của thư viện số; Áp dụng các chuẩn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu thư viện số; Nâng cao năng lực thông tin.Nếu các giải pháp đó được triển khai đồng bộ, có thể sẽ “dịch chuyển” thư viện của HVHCQG từ một thư viện truyền thống sang thư viện hiện đại / thư viện điện tử/ thư viện số góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, giảng dạy, học tập của cán bộ quản lý, giảng viên, học viên, sinh viên, nghiên cứu sinh, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứucủa luận văn là xây
dựngthư viện số tại Học viện Hành chính Quốc gia
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Học viện Hành chính Quốc gia
- Phạm vi thời gian:Trong giai đoạn từ năm 2014 đến nay: năm Học
viện Hành chính Quốc gia tách khỏi Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh và trực thuộc Bộ Nội vụ
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1.Phương pháp luận
Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử cùng các quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển sự nghiệp TT-TV trong môi trường giáo dục đại học
Trang 206.2.Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tư liệu: phương pháp
này được thực hiện dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu/các công trình nghiên cứu liên quan đến thư viện số nói chung và hoạt động thông tin – thư viện tại HVHCQG nói riêng
- Phương pháp quan sát: quan sát cơ sở vật chất, hoạt động của thư
viện Học viện Hành chính Quốc gia
- Phương pháp phỏng vấn, trao đổi trực tiếpngẫu nhiên với cán bộ thư
viện, bạn đọc là học viên, nghiên cứu sinh, giảng viên, sinh viên những vấn
đề liên quan đến xây dựng thư viện số tại Học viện
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: thu thập ý kiến của bạn đọc
(cán bộ, giảng viên, học viên, nghiên cứu sinh, sinh viên) và đội ngũ làm công tác thư viện về những vấn đề liên quan đến việc xây dựng thư viện số tại Học viện Hành chính Quốc gia.Tác giả dự kiến phát phiếu hỏi cho 200 người dùng
tin với các đối tượng khác nhau như: 30 cán bộ giảng dạy; 130 sinh viên các
ngành học, các khóa học khác nhau theo tỷ lệ số người học/mỗi ngành/khóa học; 30 học viên cao học người học và 10 nghiên cứu sinh cũng phân bổ theo
tỷ lệ số người học/mỗi ngành/khóa học.
- Phương pháp so sánh: so sánh mô hình, hoạt động của thư viện
truyền thống với thư viện số, so sánh thực trạng của thư viện Học viện Hành chính Quốc gia với mặt bằng chung trong việc xây dựng thư viện số của thư viện các trường đại học, so sánh tỷ lệ trong phiếu điều tra
- Phương pháp thống kê: thống kê kết quả điều tra bằng phiếu hỏi
7 Ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn
7.1.Ý nghĩa về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về thư viện số trong môi trường giáo dục đại học ở Việt Nam
Trang 217.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là hệ thống những giải pháp khả thi để xây dựng thành công thư viện số tại HVHCQG nhằm nâng cao hiệu quảhoạt động trong việc phục vụ thông tin/tài liệu cho cán bộ, giảng viên, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh trong học tập, nghiên cứu và giảng dạy
Luận văn còn là tài liệu tham khảo hữu hiệu cho tất cả những ai quan tâm đến thư viện số, xây dựng thư viện số trong môi trường giáo dục đại học
8.Dự kiến kết quả nghiên cứu và cấu trúc nội dung
8.1 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Luận văn dự kiến có dung lượng khoảng 100 trang chính văn trên khổ giấy A4 (không kể tài liệu tham khảo,mục lục và phụ lục bảng, hình minh họa )
8.2.Cấu trúc nội dung của luận văn
Dự kiến ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài sẽ được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng thư viện số tại Học
viện Hành chính Quốc gia Chương 2: Thực trạng xây dựng thư viện số tại Học viện Hành
chính Quốc gia Chương 3: Giải pháp xây dựng thành công thư viện số tại Học viện
Hành chính Quốc gia
Trang 22Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN XÂY DỰNG THƯ VIỆN
SỐ TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
1.1 Một số khái niệm cơ bản về thư viện số
1.1.1 Khái niệm thư viện số
Cùng với sự phát triển và ứng dụng rộng rãi của công nghệ thông tin và truyền thông, thư viện số (TVS) đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Trên thế giới, khái niệm này đã được sử dụng trong thập niên 1970 khi mà việc sử dụng máy tính đã thay đổi nhiều khía cạnh của dịch vụ thư viện Thập kỷ 80
đã chứng kiến sự ra đời của các hệ thống quản lý thư viện tích hợp cho phép
xử lý cục bộ trong mỗi thư viện toàn bộ dây chuyền tư liệu truyền thống: theo dõi đơn đặt, đăng ký tài liệu, biên mục, xây dựng mục lục tra cứu trực tuyến (OPAC) cho bạn đọc và theo dõi việc cho mượn tài liệu Từ thập niên 90 đến nay, khái niệm này được sử dụng rộng rãi
Hiện nay, nhiều thư viện điện tử và TVSđã được xây dựng ở các nước phát triển Nhiều khái niệm đã được công bố trong giới học giả toàn cầu về thư viện nhằm định nghĩa rõ ràng một TVS Một số định nghĩa tiêu biểu về TVS:
Hiệp hội Thư viện số Hoa kỳ (Digital Library Federation) đã đưa ra
một khái niệm“TVS là các tổ chức cung cấp tài nguyên, gồm các nhân viên
chuyên biệt giúp lựa chọn, tổ chức, cung cấp khả năng truy cập thông minh, chỉ dẫn, phân phối, bảo quản tính toàn vẹn và sự thống nhất của các bộ sưu tập số theo thời gian để đảm bảo làm sao cho chúng luôn sẵn có để truy xuất một cách dễ dàng và kinh tế nhất đối với một cộng đồng ngườu dùng hoặc một nhóm cộng đồng người dùng”(Raitt, 1999)
Theo quan điểm của Liên đoàn Thư viện số thếgiới (DLF - Digital
Library Federation):“TVS là tổ chức cung cấp nguồn lực – tài nguyên, bao
gồm cả các chuyên gia để lựa chọn, cấu trúc, cung cấp khả năng truy cập tới các nguồn tri thức, phân phối, bảo đảm tính vẹn toàn và tính lâu dài của các
Trang 23bộ sưu tập số để cho một cộng động hoặc một tập hợp cộng đồng người dùng tin xác định luôn có thể sử dụng một cách nhanh chóng, kịp thời và kinh tế”
Theo quan điểm của Liên hiệp TVScủa Mỹ (American Digital Feder -
ADF) thì: “TVS là cơ quan, tổ chức có các nguồn lực, kể cả nguồn nhân lực
chuyên môn hoá để lựa chọn cấu trúc, diễn giải, phổ biến, bảo quản sự toàn vẹn, đảm bảo sự ổn định trong thời gian dài của bộ sưu tập các công trình số hoá mà chúng ta cóở dạng sẵn sàng để sử dụng một cách kinh tế cho một hay một số cộng đồng nhất định”
Hai học giả người Nga là Sokolova và Liyabev cho rằng: “TVS
là một hệ thống phân tán có khả năng lưu trữ và tận dụng hiệu quả các loại tài liệu điện tử khác nhau, màgiúpngườidùng có thể truy cập và được chuyển giao thông tin dễ dàng qua mạng máy tính” (Xiao, 2003)
Năm 2004, trong cuốn Từ điển khoa học thông tin thư việncủa Nhà xuất bản Libraries Unlimited, tác giả Joan M.Reitz lại khẳng định thư viện
điện tử và thư viện số là một Theo tác giả: “TVSlà bộ sưu tập thông tin có tổ
chức, là tập hợp các đối tượng dữ liệu số bao gồm cả văn bản, hình ảnh, âm thanh được quản trị, truy cập, khai thác thông qua hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông”
Tại Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu về TT-TV cũng đưa ra những khái niệm về TVS
Theo tác giả Bùi Loan Thùy và Lê Văn Viết: “TVSlà thư viện chứa
đựng các thông tin và tri thức được lưu trữ dưới dạng điện tử số trên các phương tiện khác nhau: bộ nhớ điện tử, đĩa quang, đĩa từ” (Thư viện học đại
cương, tr 201)[36]
Theo ThS Cao Minh Kiểm: “TVSlà một thực thể, là một thư viện được
tổ chức theo những phương thức mới và với nguồn tài liệu ngày càng đa dạng,
có chất lượng phục vụ ngày càng cao, thời gian phục vụ ngày càng lớn” ( Thư viện số định nghĩa và vấn đề / Cao Minh Kiểm, Thông tin – Tư liệu - 2000 -
Trang 24số 3.- tr.6).[20]
Theo PGS.TS Hoàng Đức Liên và Thư viện viên chính Nguyễn Hữu Ty: “TVS là một thư viện điện tử cao cấp trong đó toàn bộ các tài liệu của thư viện đã được số hóa và được quản lý bằng một phần mềm chuyên ngiệp có tổ chức giúp người dùng dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông”(Giải pháp xây dựng các bộ sưu tập tài liệu số phục vụ đào tạo, nghiên cứu của các trường đại học[22])
TVS là một bước tiến xa hơn của thư viện điện tử hay nói cách khác, là thư viện điện tử cấp cao, cho phép đọc được thông tin toàn văn sau khi đã số hoá hầu hết tư liệu, đặc biệt là các tư liệu dưới dạng đồ hoạ (nhưtranh ảnh, bảnđồ, ) và đa phương tiện (multimedia) nóichung
Như vậy, TVS được hiểu là một thư viện điện tử trong đó toàn bộ các tài liệu của thư viện đã được số hóa và quản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tổ chức giúp người dùng dễ dàng truy cập, tìm kiếm và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông
1.1.2 Khái niệm phần mềm thư viện số
Phần mềm TVS là một hệ thống phần mềm có chức năng tạo lập, quản
lý và khai thác các bộ sưu tập số
Về cấu trúc, phần mềm quản lý bộ sưu tập số gồm 2 nhóm chính:
- Nhóm tác nghiệp: gồm các chức năng dành cho người làm thư viện xây dựng cấu trúc cho các bộ sưu tập số, thực hiện biên mục và tải tài liệu vào
bộ sưu tập số
- Nhóm khai thác: bao gồm những chức năng dành cho NDT để khai thác thông tin trong các bộ sưu tập theo hai phương thức là duyệt xem thông tin và tìm tin
Trang 25Sơ đồ1.1: Phần mềm quản lý TVS
Nguồn: Tập bài giảng môn Đánh giá phần mềm thư viện-PGS.TS Đoàn Phan Tân
1.1.3 Khái niệm bộ sưu tập số và định dạng dữ liệu
Bộ sưu tập số là những kho tài liệu số hóa, tập hợp những tài liệu số thuộc cùng một loại, theo chuyên đề, được tổ chức và lưu trữ sao cho người
sử dụng có thể truy cập trên môi trường mạng
Các bộ sưu tập số có thể bao gồm các tài liệu số dưới nhiều dạng thức khác nhau: văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động
Các tài liệu được lưu trữ trong những tệp tin với nhiều định dạng khác nhau:
Duyệt TT Tìm tin
Xem TL toàn văn,
TL gốc
TL
Trang 261.1.4 Khái niệm xây dựng thư viện số
Xây dựng TVS là các công việc tạo lập tài liệu số, xử lý tài liệu số, tổ chức các bộ sưu tập số, lưu trữ, bảo quản và khai thác tài liệu số gồm chính sách khai thác, quản lý truy cập người dùng tin trong môi trường điện tử
1.2 Các yếu tố cấu thành thƣ viện số
1.2.1 Người dùng thư viện số
Đây chính là đối tượng, là mục tiêu và là đích hướng tới của bất kỳ
của một thư viện nào Nếu không có bạn đọc thì thư viện sẽ mất đi lý do tồn tại của mình Trong môi trường thông tin số, người sử dụng không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, có thể truy cập tới nguồn tin thông qua một máy tính có nối mạng (tương tác trên máy tính – giao diện interface) Người dùng thư viện số đòi hỏi phải có các kỹ năng máy tính, kiến thức chuyên môn, kiến thức thông tin
1.2.2 Tài nguyên thông tin số
Tài nguyên thông tin số là một trong những yếu tố cấu thành TVS, có ý nghĩavô cùng quan trọng trong sự phát triển của thư viện.Tài nguyên thông tin
số bao gồm các đối tượng số (digital objects) hay còn gọi là tài liệu điện tử là
bất kỳ tài liệu nào được mã hoá, được lưu trữ trên các vật mang tin và người dùng tin có thể truy cập được thông qua thiết bị lưu trữ điện tử Nguồn tin số
bao gồm dữ liệu trực tuyến (Online) và dữliệu ở trên vật mang tin vật lý như
CD-ROM, DVD,VCD,…
Tài liệu điện tử/số bao gồm tất cả các dạng tài liệu như sách, báo, tạp chí, phim ảnh, bản nhạc, các CSDL,…được bao gói hay được lưu giữ trên các vật mang tin điện tử/số, có nghĩa là tất cả những gì có thể đọc được, truy cập được thông qua máy tính hay mạng máy tính
Đặc trưng của tài nguyên thông tin số:
Ưu điểm:
- Có mật độ thông tin rất cao, do vậy dung lượng thông tinđược lưu
Trang 27trữ trên chúng cũng rất lớn
- Cókhảnăngđatruycập,chophépngườidùngcóthểtìmtài liệu đồng thời theo nhiều dấu hiệu, nhiều điểm truy cập khácnhau và truy cập linh hoạt, nhanh chóng
- Khả năng liên hệ, tiếp cận với các tác giả, tạo ra kênhphảnhồi thông tin giữa người dùng tin và người sáng tạo ra thông tin
- Cho phép lưu giữ thông tin từ nhiều dạng nguồn tin khác nhau như văn bản, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động trong cùng một tài liệu
- Khả năng cho phép nhiều người sử dụng cùng một tài liệumột lúc
- Khả năng cập nhật dữ liệu nhanh chóng và thườngxuyên
Nhược điểm:
- Tínhantoànthôngtindễbịviphạm,doviệcsaochépthông tin từ các tài liệu điện tử rất dễ dàng, nhanh chóng
- Tính ổn định của thông tin thường không đồng nhất, có tài liệu thì rất
ổn định, tồn tại lâu dài như các tài liệu ghi trên CD- ROM, DVD-ROM nhưng lạicó những tài liệu có đời sống rất ngắn
1.2.3 Nguồn nhân lực thư viện số
Có thể nói TVS là xu thế tất yếu của ngành thông tin thư viện toàn cầu
Để xây dựng và phát triển TVS thì việc đầu tiên cần làm là có được đội ngũ làm công tác thư viện số Người làm công tác thư viện là nguồn nhân lực không thể thiếu trong bất kỳ thư viện nào, cho dù đó là thư viện truyền thống, thư viện hiện đại, thư viện điện tử, thư viện số
Nhiệm vụ chính của các nhân lựcTVS là quản lý, lãnh đạo và các công tác liên quan đến trang web Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay các kỹ năng trong tổ chức thông tin càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Vì vậy, ngoài nắm chắc kiến thức về khoa học thư viện đòi hỏi đội ngũ những người làm công tác thư viện phải tiếp cận và chiếm lĩnh càng sớm càng tốt
Trang 28những kiến thức cơ bản khác như: khoa học thông tin, công nghệ thông tin, ngoại ngữ…, phải vươn tới và thành thạo nhiều loại kỹ năng như kỹ năng về thông tin, kỹ năng phân tích xu hướng và phải tiếp tục nâng cao trình độ thông tin, kỹ thuật về tổ chức quản lý tri thức một cách hiệu quả trong các thư viện số nhằm giúp cho việc thu thập thông tin nhanh hơn, xác định vị trí, phân tích và kết nối thông tin một cách tinh vi, hiệu quả hơn
Công việc chủ yếu của nhân lực thư viện số:
- Lựa chọn, bổ sung, bảo quản, tổ chức và quản lý các bộsưutập số;
- Thiết kế kết cấu kỹ thuật cho thư viện số;
- Mô tả nội dung và thuộc tính của đầu mục hoặc đối tượng(siêu dữ liệu);
- Lập kế hoạch, thực hiện và hỗ trợ các dịch vụ số như định hướng thông tin, tư vấn và chuyểngiao;
- Tạo lập giaodiện thân thiện người dùng trên toàn bộ hệthống mạng;
- Xây dựng các chính sách và tiêu chuẩn liên quan đến thưviện số;
- Thiết kế, duy trì và chuyển giao các sản phẩm thông tin vớigiá trị gia tăng;
- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với thông tin số trong môi trường mạng;
- Đảm bảo an ninh thôngtin
1.2.4 Phần mềm, phần cứng & trang thiết bị ngoại vi của thư viện số
1.2.4.1 Phần mềm thư viện số
Một số phần mềm quản lý bộ sưu tập số:
Phần mềm Greenstone: Là phần mềm hỗ trợ việc xây dựng và phân
phối các bộ sưu tập số của thư viện trên internet hoặc trên CD-ROM GreenStone hỗ trợ các loại tài liệu dạng HTML, XML, TXT và các dạng phức tạp như Word, RTF hoặc dạng đang được sử dụng phổ biến trên nhiều môi
Trang 29trường như PDF, PostScript, dạng multi-media như âm thanh (ví dụ mp3), hình ảnh, phim
Phần mềm cung cấp 2 chương trình:
- Chương trình giao diện thủ thư: giúp người sử dụng tạo lập các bộ sưu tập số cho thư viện của mình Các tài liệu đưa vào các bộ sưu tập trong Greenstone được mô tả theo chuẩn Dublin Core
- Chương trình Greenstone server: cung cấp giao diện để người sử dụng duyệt xem và tìm tin trong các bộ sưu tập
Phần mềm Dspace:Là một bộ phần mềm mã nguồn mở hỗ trợ giải
pháp xây dựng và phân phối các bộ sưu tập số hóa trên internet, cho phép các thư viện, các cơ quan nghiên cứu phát triển và mở rộng Nó cung cấp một phương thức mới trong việc tổ chức và xuất bản thông tin trên internet
DSpace do HP và The MIT Libraries phát triển vào năm 2002, hiện nay
có hơn 1000 trường đại học và các tổ chức văn hoá sử dụng phần mềm số DSpace để quản lý và chia sẻ nguồn tài nguyên: sách, tạp chí, luận văn và các sưu tập hình ảnh, âm thanh và phim
Phần mềm Kipos (Knowledge Information Portal Solution):là dự án
phát triển phần mềm lớn nhất của Công ty Hiện Đại cho lĩnh vực quản lý thông tin tư liệu và thư viện Kipos được xây dựng để trở thành một giải pháp tổng thể tích hợp hoàn chỉnh, hỗ trợ tối đa công tác quản lý mọi dạng thông tin tư liệu từ truyền thống tới tài liệu số và xuất bản điện tử của thư viện bằng công nghệ và kỹ thuật mới nhất Kipos là một giải pháp phần mềm toàn diện cho việc quản lý tài nguyên số trong thư viện Với 7 phân hệ chính dựng sẵn, kiến trúc kỹ thuật hiện đại, áp dụng thành công những tiêu chuẩn công nghiệp mới nhất, đây là giải pháp đáp ứng nhu cầu xây dựng TVS hiện tại và tương lai của các thư viện Việt Nam
Phần mềm Ilip:Đây là sản phẩm của công ty CMC đáp ứng đầy đủ các
nhu cầu của một thư viện hiện đại nhưng cũng kế thừa các nghiệp vụ truyền
Trang 30thống và đặc thù của thư viện Việt Nam ILib có thể liên thông với các hệ thống thư viện khác để từng bước khai thác và trao đổi dữ liệu, từ đó, bạn đọc
có thể khai thác dữ liệu số qua mạng LAN, Internet Như vậy ILib từng bước đưa thư viện hòa vào hệ thống thư viện quốc gia và thư viện thế giới
Phần mềm Libol:Libol là bộ phần mềm giải pháp Thư viện điện tử -
Thư viện số, là thương hiệu đồng hành cùng Tinh Vân trong gần 20 năm qua Libol hiện được sử dụng rộng rãi tại rất nhiều các thư viện lớn trong cả nước, được đưa vào chương trình giảng dạy chính thức cho sinh viên khối Thư viện
và Văn thư lưu trữ Trải qua rất nhiều lần hoàn thiện, nâng cấp, phiên bản hiện tại Libol được xây dựng hoàn toàn trên nền tảng công nghệ điện toán đám mây, đặc biệt giúp các thư viện số hóa nguồn tài nguyên đồ sộ, hỗ trợ đắc lực các công tác nghiệp vụ và giúp tài nguyên các thư viện được liên kết với nhau
Phần mềm Virtual:Đây là phần mềm được sản xuất bởi các công ty
nước ngoài kinh nghiệm trong lĩnh vực phần mềm thư viện và cũng là các phần mềm được sử dụng rộng rãi trên thế giới nên đảm bảo 100% tiêu chuẩn nghiệp vụ thư viện cũng như các yêu cầu của thư viện Việt Nam Tuy nhiên
do giá thành quá cao nên đến nay chỉ có khoảng 5 thư viện lớn tại Việt Nam
sử dụng phần mềm này
1.2.4.2.Phần cứng và trang thiết bị ngoại vi
Bao gồm các trang thiết bị cần thiết: hệthống thiết bị mạng,hệ thống máy chủ, hệ thống máy trạm, các thiết bị ngoại vi, thiết bị an ninh thư viện…
Hệ thống thiết bịmạng
Hệ thống hạ tầng mạng là thành phần cơ bản của mạng thông tin thực hiện chức năng kếtnối thiết bị như máy chủ, máy trạm, các thiết bị mạng thông qua đường kết nối vật lý Hệ thống hạ tầng mạng bao gồm thiết bị kết nối và môi trườngtruyền
Trang 31Các thiết bị kết nối phổ dụng hiện nay bao gồm: hub, switch,router, firewall cứng
Hệ thống máychủ
Để đảm bảo cung cấp các dịch vụ phục vụ cho hệ thống mạng cần có
hệ thống máy chủ Máy chủ là một máy tính hay một thiết bị trên mạng, chức năng chủ yếu của nó là quản lý các tài nguyên của mạng Các máy chủ là các máy được sử dụng để cho nhiều máy tính khác nhau cùng truy cập, vì vậy thông thường chúng là các máy tính có cấu hình phần cứng rất mạnh, và có các hệ thống phần mềm chuyên biệt để có thể phục vụ cho nhiều người cùng một lúc (các phần mềm này thường gọi là các phần mềm phía server) Các máy chủ có thể được sử dụng để cung cấp nhiều dịch vụ cùng một lúc, chẳng hạn như vừa truyền tải file, vừa cung cấp các trang web… nhưng để đảm bảo cho các dịch vụ luôn hoạt động tốt, các nhà quản lý thường chuyên biệt hoá các máy chủ theo từng mục đích khác nhau Chẳng hạn như máy chủ web(web server) chuyên dùng để quản lý web, máy chủ FPT (FPT server) chuyên dùng trong việc quản lý các file được upload hay dowload
Hệ thống máytrạm
Hệ thống máy trạm là hệ thống các máy tính hỗ trợ tin học hóa các công tác nghiệpvụ trong thư viện.Hệ thống máy trạm bao gồm một số loại thông dụng như:
- Máy trạm nghiệp vụ: phục vụ công tác của các cán bộ thư viện như nghiệp vụ bổ sung, biên mục, biên tập thông tin
- Máy trạm phòng đọc multimedia: sử dụng phục vụ bạn đọc khai thác thông tin TVS cũng như khai thác ứng dụng multimedia
- Máy trạm quản trị: phục vụ công tác quản trị mạng của cán bộ quản trị thư viện
- Máy trạm tra cứu: Phục vụ công tác tra cứu cho bạn đọc hoặc cán bộ thư viện tra cứu tài tài liệu dựa trên các tiêu chí khác nhau
Trang 32Hình 1.1 Mô hình làm việc giữa máy chủ và máy trạm
Nguồn: Tập bài giảng môn thư viện số và công nghệ nội dung-TS Nguyễn Huy Chương
Các thiết bị ngoạivi
- Máy quét (Scanner): Là thiết bị ngoại vi dùng để chuyển đổi các tài
liệu từ dạng tương tự sang dạng số phục vụ công tác lưu trữ, tra cứu, tìm kiếm
và xây dựng các nguồn tin số hóa của thưviện
- Máy ảnh kỹ thuật số: là một máy điện tử dùng để thu và lưu giữ hình
ảnh một cách tự động thay vì phải dùng phim ảnh giống như máy chụp ảnh thường Những máy chụp ảnh số đời mới thường có nhiều chức năng như: ghi âm, quayphim
- Máy quay phim kỹthuật số :là loại máy mà mục đích chính là để thu ảnh động, phổ biến hiện nay là máy quay phim kết hợp (camcorder) thường có sẵn microphone để ghi âm và một màn hình tinhthể lỏng nhỏ để xem trong khi ghi hình và phát lại Máy quay phim kỹ thuật số là một trong những thiết bị quan trọng trong quá trình xây dựng kho tài nguyên thông tin số của thư viện
- Máy in: là một thiết bị dùng để thể hiện ra các chất liệu khác nhau
các nội dung được soạn thảo hoặc thiết kế sẵn Hệ thống máy in trong thư viện chủ yếu là máy in dùng trong văn phòng, gồm nhiều loại và công nghệ khác nhau như:
Trang 33+ Máy in laser
+ Máy in kim
+ Máy in phun
1.3 Yêu cầu đối với thƣ viện số
1.3.1 Cấu trúc của thư viện số
Các thư viện số đều được bố trí trên giao diện web Ngoài những vùng chung như giới thiệu về cơ quan, về hệ thống, về thư viện, hướng dẫn sử dụng thì phần chủ yếu là nội dung, tức là “tài nguyên thông tin” Đây thường là danh mục chủ đề Phần này phải được cấu trúc theo trình tự từ chung đến riêng, từ tổng quát đến chi tiết, từ ngoài vào trong theo thứ bậc Cách tổ chức như vậy nhằm tạo thuận tiện cho người dùng trong việc tìm kiếm, khai thác thông tin
Thế mạnh của TVS là phần liên kết tới các nguồn tài nguyên bên ngoài Tuy nhiên, mức độ này lại phụ thuộc vào sự hợp tác với các cơ quan khác và việc khai thác các tầng thông tin số hóa đó cũng có những khác biệt vì có vùng thông tin khai thác tự do, miễn phí, có vùng khai khác phải mất phí
1.3.2 Hạ tầng cơ sở kỹ thuật
Một TVS phải có hạ tầng cơ sở đủ mạnh đó là:
- Mạng intranet có tốc độ kết nối nhanh với internet;
- Hệ thống máy chủ lớn, thực hiện việc quản trị các dịch vụ khác nhau: máy chủ web, máy chủ FPT, mail, các máy chủ lưu trữ dữ liệu, máy chủ cho các ứng dụng khác ;
- Hệ thống máy trạm để khai thác, cập nhật thông tin;
- Các thiết bị công nghệ chuyên dụng cho TVS: mã vạch, thẻ từ, RFID, máy quét, máy sao dữ liệu
- Phần mềm phục vụ cho việc xây dựng và phát triển TVS: phần mềm
TVS, phần mềm hệ thống, hệ điều hành, hệ quản trị CSDL
Trang 341.3.3 Kho tư liệu số hóa
Nếu hiểu theo cách thông thường, kho là nơi cất giữ Trong thời đại công nghệ số, việc tạo lập kho tài liệu số có những khác biệt với kho thông thường Một mặt, phải tổ chức lưu trữ tài liệu số trên máy tính, mạng máy tính Mặt khác, phải tổ chức lưu giữ các bản sao trên thiết bị từ tính và quang học các bản sao của tài liệu số đó Vì thế, cần tổ chức 2 dạng kho tài liệu số sau:
- Kho tài liệu trực tuyến: Lưu trữ và quản lý các đối tượng kỹ thuật số
và các thông tin khác trên máy tính, trên mạng Kho này cung cấp một cơ sở
hạ tầng thuận tiện giúp lưu trữ, quản lý, tái sử dụng và chia sẻ số Kho không chỉ gồm hệ thống phần mềm, phần cứng mà còn cả các chính sách, quy trình, dịch vụ và con người cũng như nội dung và siêu dữ liệu để quản lý các tài liệu
số Kho phải được bền vững, đáng tin cậy, hỗ trợ tốt và quản lý tốt tài liệu số
- Kho tài liệu số vật lý: Là nơi hay diện tích nhà với những trang bị
chuyên dụng dành cho việc lưu giữ các bản sao của các tài liệu số của thư viện Dựa trên nguyên tắc tổ chức kho tài liệu giấy, ta có thể tổ chức một kho bản sao các tài liệu số như sau:
+ Các tài liệu số được phân loại, định ký hiệu xếp giá như tài liệu giấy + Các đối tượng số được sắp xếp theo ký hiệu phân loại Trong từng ký hiệu, phân loại theo chữ cái tác giả hoặc tên tài liệu số Trong từng tên, xếp theo thứ tự bản sao lưu gốc (bản bảo quản), bản phục vụ, bản làm mới
1.3.4 Lưu trữ & bảo quản thông tin số
Mục đích lưu trữ thông tin là bảo quản thông tin lâu dài, chính xác để
có thể tra cứu, sử dụng tốt Bảo quản được hiểu là sự đảm bảo tính toàn vẹn
và tình trạng vật lý bình thường của các tài liệu được bảo quản trong kho thư viện Bảo quản thông tin số là một loạt hoạt động quản lý, chính sách, chiến lược và hành động để đảm bảo nội dung số luôn đầy đủ, chính xác, tồn tại càng lâu nếu cần thiết Bảo quản thông tin số vừa phải tiến hành bảo quản trên
các vật mang tin vật lý (offline), vừa phải chống lại những thách thức hủy
Trang 35hoại thông tin số trên mạng, bao gồm việc bảo quản các vật chức đựng thông tin số, di chuyển dữ liệu, mô phỏng, nhân rộng, làm mới và đính kèm siêu dữ liệu Những biện pháp bảo quản phải được thực hiện thường xuyên do những thay đổi nhanh chóng và liên tục trong môi trường phần mềm và phần cứng,
sự suy giảm của phương tiện truyền thông từ tính như đĩa CD, DVD, ổ cứng máy tính
1.3.5 Phát triển và xử lý thông tin số
Nguồn thông tin số nhìn chung được xây dựng từ những phương thức như: tự tạo lập; số hóa, thu thập nguồn thông tin nội sinh; mua / thuê bao nguồn tin; khai thác nguồn tin miễn phí trên mạng Mỗi phương thức đều có những ưu, nhược điểm riêng nên tùy vào từng mục đích tạo lập các bộ sưu tập
mà thư viện lựa chọn những phương thức phù hợp với yêu cầu đặt ra
Để xử lý thông tin hiệu quả, cần xem xét nội dung của từng tài liệu, thông tin về tác giả Đối với CSDL toàn văn, cần chú ý đến các tổ chức học thuật, các nhà xuất bản, các tạp chí khoa học có uy tín Phần mềm để tạo lập tài liệu số, năm tạo lập, sản xuất tài liệu số hay khoảng thời gian của tài liệu tương tự được số hóa Bên cạnh đó, cần xét xem tài liệu số, CSDL toàn văn
có phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện và nhu cầu, nội dung nghiên cứu, học tập của người dùng Cần chú ý đến trình độ tin học, ngoại ngữ của người dùng Để thực hiện hóa các vấn đề trên, việc áp dụng các công
cụ chuẩn, các quy tắc trong công tác xử lý thông tin số đặc biệt quan trọng Công tác xử lý thông tin số được thực hiện chính xác theo các chuẩn không chỉ giúp cho hoạt động kiểm soát thư mục, tiếp cận cá nguồn tin ở thư viện nhanh chóng, hiệu quả mà còn giúp cho các thư viện trong và ngoài nước có thể trao đổi dữ liệu một cách dễ dàng Ngoài ra, tính cập nhật của CSDL rất quan trọng Càng cập nhật nhanh và đầy đủ các tài liệu mới theo chủ đề, giá trị của CSDL càng tăng
Trang 361.3.6 Dịch vụ thông tin và chia sẻ thông tin
Khi thư viện chuyển đổi từ mô hình thư viện truyền thốngsang mô hình thư viện số thì các dịch vụ thư viện cũng có những thay đổi nhất định Trong mô hình thư viện truyền thống thì các dịch vụ cơ bản của thư viện là: phục vụ tại chỗ (tra cứu, tìm tin, đọc tại chỗ); mượn về nhà; in ấn, photocopy tài liệu Trong mô hình thư viện số với mục đích phục vụ 24/24, không phụ thuộc vào khoảng cách địa lý thì xuất hiện thêm các dịch vụ thư viện sốnhư: tra cứu, tìm tin, đọc tài liệu online;
in ấn, mượn liên thư viện,bao gói thông tin, …
Ngay trong khi tra cứu tìm kiếm tài liệu, độc giả đã biết được tài liệu họ muốn tìm hiện đang có tại các thư viện nào, kho nào….Độcgiảcóthểđặtcácyêucầunhư:mượn,saochụp,nhân bản copy điện tử ngay trong hệ thống này mà không phải đến các thư viện đó Dịch vụ mượn liên thư viện sẽ thực hiện một cách tự động chuyển yêu cầu này đến thư viện
có cuốn sách mà độc giả có yêu cầu
Một dịch vụ khác của TVS cung cấp cho độc giả là dịch vụ thông báo thường xuyên các tài liệu mới theo yêu cầu riêng của độc giả (Current Awareness Service - SDI: Dịch vụ thông tin có chọn lọc) Dịch vụ này được thực hiện một cách tự động ngay khicác tài liệu này được cập nhật vào các CSDL hoặc thông tin sẽ được cung cấp trên yêu cầu của độc giả
Một trong số các dịch vụ nổi bật khác của TVS là chia sẻ các kết quả nghiên cứu thông qua việc tạo ra các xuất bản phẩm điện tử, làm cho việc xuất bản các kết quả nghiên cứu không bị lệ thuộc vào các nhà xuấtbản
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thư viện số
1.4.1 Nhận thức của các bên liên quan
- Quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng TVS
Ngành Thư viện Việt Nam đã có một lịch sử phát triển khá lâu đời song
ý tưởng số hoá tài liệu, hay xây dựng thư viện điện tử/ thư viện số thì vẫn còn
là một trở ngại trước mắt, và là mục tiêu phấn đấu của ngành thư viện Việt
Trang 37Nam Trong khi đó trên thế giới, các dự án, các kế hoạch về phát triển TVS đã được triển khai trên một quy mô rộng với sự đầu tư khá kỹ càng về ngân sách Nếuđứng trên bình diện về các kỹ năng và sản phẩm thư viện, Việt Nam cũng
đã có sự thua thiệt khá xa với các nước bạn, và đặc biệt về TVS thì đây thực
sự là một khoảng cách quá lớn đòi hỏi nhà nước ta phải có sự quan tâm thích đáng và đầu tư có hiệu quả, tập trung triển khai thí điểm tại các thư viện lớnđầungành trong cả nước Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng hệ thống TT-TV, đặc biệt là TVSở Việt Nam sẽmở ra một cơ hội mới cho các thư viện Việt Nam trong công tác số hóa tài liệu, đưa Việt Nam vào một
kỷ nguyên mới: kỷ nguyên điện tử
- Nhận thức của lãnh đạo và nhân viên thư viện
Khi lãnh đạo có nhận thức về tầm quan trọng của thông tin số, việc triển khai xây dựng TVS sẽ có nhiều thuận lợi hơn khi được quan tâm, chú trọng đầu tư, xây dựng Lãnh đạo cần phải có tầm nhìn, có kế hoạch, lập dự
án nhằm tranh thủ sự đầu tư để xây dựng TVS với các bộ sưu tập số chất lượng, sử dụng hiệu quả Trình độ và năng lực của nhân viên thư viện trong môi trường số sẽ giúp cho việc lập dự án, tiến hành xây dựng TVS phù hợp với mục tiêu, đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin số của người dùng tin
1.4.2 Chính sách đầu tư tài chính
Để xây dựng và phát triển TVS cần phải có một cơ chế, chính sách đầu
tư và có kế hoạch phát triển trong từng giai đoạn cụ thể đối với từng thư viện
Cụ thể, cần:
- Đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin: Có ngân sách để
đầu tư trang thiết bị cho thư viện số như hệ thống máy tính, hệ thống máy chủ với khả năng lưu giữ được lượng dữ liệu thông tin lớn, hệ thống mạng internet
có tốc độ cao Ngoài ra cần dành một khoản kinh phí thường niên cho việc bảo trì, bảo dưỡng trang thiết bị và nâng cấp phần mềm
Trang 38- Xây dựng bộ sưu tập số:Để có bộ sưu tập số hay nói cách khác muốn
tạo lập, phát triển kho tài nguyên tri thức dạng số có 03 cách:
o Cách thứ nhất: Mua tài nguyên thông tin điện tử từ các nhà cung cấp/xuất bản/cá nhân (trước khi in ra giấy) hoặc trao đổi với các đối tác;
o Cách thứ hai: Truy cập, khai thác từ việc liên kết đến các nguồn tài liệu số có cùng nội dung thông tin/thông tin chuyên biệt (thông tin Y học, thông tin về Luật học) trên Internet;
o Cách thứ ba: Tổ chức số hóa nguồn tài nguyên thông tin truyền thống bằng phương pháp quét hay nhập lại thông tin từ bàn phím của máy tính điện tử
Trong ba cách trên, cách thứ ba là quan trọng nhất bởi lẽ mỗi một cơ quan thông tin, thư viện đều có thế mạnh riêng/bản sắc riêng nhờ vào đặc điểm vốn tài liệu mình đang lưu giữ Bước đầu tiên và khó khăn nhất trong việc phát triển TVS là chuyển đổi các xuất bản phẩm truyền thống trên giấy sang dạng số Nếu số hóa được nguồn tài liệu này, xây dựng được bộ sưu tập
số là vốn quý để duy trì và phát triển thư viện của mình Do đó, khi xây dựng TVS, cần có ngân sách đầu tư cho việc số hóa tài liệu
1.4.3 Vấn đề bản quyền
Bản quyền là một trở ngại đối với việc phát triển thư viện số, bởi vì thư viện số bị ràng buộc bởi những điều khoản của luật bản quyền có liên quan đến việc xuất bản lại các tư liệu dưới hình thức mới, không có phép.Thư viện
số có thể làm cho việc truy cập trở nên rộng rãi hơn thư viện truyền thống Và chính điều này đã nảy sinh ra nhiều vấn đề như truy cập thông tin trong thư viện số nói chung ít bị kiểm soát hơn truy cập sưu tập in ấn trong thư viện Đưa thông tin vào TVS là có khả năng làm cho thông tin đó trở nên phổ biến ngay đối với một lượng lớn độc giả
Khi số hóa tài liệu cần chú trọng đến các văn bản pháp quy liên quan đến quyền tác giả như Công ước BERN (những tài liệu đã xuất bản trên 50 năm thì được quyền số hóa) Ở Việt Nam, vấn đề bản quyền đã được đề cập
Trang 39đến trong Bộ Luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị định 100/N ĐVCP/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan
Luật bản quyền hiện nay tương đối phức tạp Tình trạng luật pháp đối với tập tin máy tính và tài liệu cụ thể được xuất bản trên world wide web lại chưa rõ ràng Muốn xây dựng TVS thì phải cần số hoá tài liệu Để tránh vi phạm bản quyền, ta cần xem xét ở các khía cạnh:
- Nếu tác phẩm được số hoá ở trong miền (domain) công cộng thì không phải xin phép Dĩ nhiên kết quả số hoá này cũng không được bảo vệ bản quyền, trừ phi kết quả của thư viện nhiều hơn bản gốc;
- Nếu tài liệu được tặng để số hoá và người tặng có bản quyền, thì chúng ta tiến hành số hoá, tuy nhiên cần phải yêu cầu người tặng cung cấp cho mình quyền được số hoá – có thể bằng một mẫu giấy có ghi "quyền sử dụng tác phẩm với bất kỳ mục đích chung của cơ sở, dưới bất kỳ phương tiện nào"
Nếu muốn số hoá tài liệu mà không rơi vào hai trường hợp trên thì phải cân nhắc thử việc số hoá có phải là một việc làm có lợi ích chung mà không xâm phạm quyền lợi của người khác hay không
Trang 40phát triển và mở rộng về dữ liệu đa phương tiện thì các chuẩn mới là METS
và MODS cũng được phát triển và ứng dụng Do đó, tùy thuộc vào quy mô và nhu cầu sử dụng của từng thư viện để quyết định chọn lựa các chuẩn mô tả phù hợp
Chuẩn Dublin Core: Là một chuẩn để mô tả dữ liệu được viết bởi các
thẻ meta nhằm mô tả và khai thác các tài liệu trong thư viện và thông qua các trang web trên internet Mỗi yếu tố Dublin Core điều được đặt tên (Element Name) và quy định nhãn (Label Name).Các yếu tố mô tả trong Dublin Core đều không bắt buộc và có thể lặp, ngoài ra còn có một số lượng hạn chế các từ hạn định và định ngữ có thể sử dụng để tiếp tục tùy chỉnh ý nghĩa của các yếu tố
Chuẩn Dublin Core bao gồm 15 thuộc tính:
Chuẩn XML: Là ngôn ngữ đánh dấu mở rộng có nguồn gốc từ ngôn
ngữ định dạng siêu văn bản HTML (Hyper Text Markup Language) Cả hai