Mục đích và ý nghĩa của đề tài Báo chí là một sản phẩm của nền văn minh phương Tây, du nhập vào Việt Nam cùng với quá trình xâm lược của thực dân Pháp và cũng là một trong những công cụ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM
Nguyễn Thị Hải Yến
Vấn đề chính trị trên Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo
những năm 1920-1930
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Nguyễn Thị Hải Yến
Vấn đề chính trị trên Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo
Trang 3Lêi cam ®oan
Tôi xin cam đoan Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của cá nhân tôi
Những số liệu và hệ thống tài liệu tham khảo trong Luận văn đều có xuất xứ
rõ ràng và xác thực
Tác giả
Nguyễn Thị Hải Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình làm luận văn, người viết nhận được rất nhiều sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các thầy cô, các nhà nghiên cứu, bạn đồng nghiệp; đặc biệt là các thầy cô ở bộ môn Lịch sử Việt Nam- Khoa Lịch sử Luận văn có thể hình thành trước hết người viết gửi lời tri ân chân thành đến PGS.TS Phạm Xanh Với tầm tri thức của mình, PGS.TS đã chỉ dẫn cho người viết nhiều nguồn tư liệu quan trọng, gợi mở hướng tiếp cận; đặc biệt còn dành nhiều thời gian để tôi có thể bộc bạch và trao đổi những vấn đề khoa học về những nhận định còn nhiều chủ quan của người viết
Những tư liệu mà tôi có thể tiếp cận được không thể thiếu sự chỉ dẫn
và giúp đỡ của các cán bộ Thư viện Quốc gia, Thư viện Thông tin Khoa học
Xã hội, phòng tư liệu khoa Lịch sử, khoa Báo chí- Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình tiếp cận và khai thác tư liệu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thi Hải Yến
Trang 5MỤC LỤC
4 Các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 6
Chương 1: SỰ RA ĐỜI CỦA THỰC NGHIỆP DÂN BÁO VÀ HÀ
THÀNH NGỌ BÁO TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ NHỮNG NĂM
1.3 Bối cảnh xã hội, văn hóa, giáo dục, tư tưởng 19
2 Hoạt động báo chí những năm đầu thế kỷ XX 29
3 Sự ra đời của Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ báo 35
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ TRÊN THỰC NGHIỆP
1 Vấn đề chính trị trên báo chí tiếng Việt đầu thế kỷ XX 42
2 Thực nghiệp dân báo với mối quan hệ giữa tư sản Việt Nam và
3 Thực nghiệp dân báo và phong trào cải lương hương thôn 54
4 Thực nghiệp dân báo với cuộc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu 59
Trang 6Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ TRÊN THỰC NGHIỆP DÂN BÁOVÀ HÀ THÀNH NGỌ BÁO TRONG GIAI ĐOẠN 1926-
1930 69
1 Những chuyển biến trong đời sống báo chí 69
2 Thực nghiệp dân báo và đám tang Phan Châu Trinh 70
3 Hà thành ngọ báo với Việt Nam quốc dân Đảng 76
4 Hà thành ngọ báo và phong trào cộng sản ở Việt Nam 83
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Báo chí là một sản phẩm của nền văn minh phương Tây, du nhập vào Việt Nam cùng với quá trình xâm lược của thực dân Pháp và cũng là một trong những công cụ mà chúng sử dụng trong chính sách cai trị của mình
Từ khi tờ báo tiếng Việt đầu tiên- tờ Gia Định Báo ra đời năm 1865 đến
trước cách mạng tháng Tám năm 1945, báo chí Việt Nam mang tính cách
thuộc địa, ở vào giai đoạn bán khai Thực dân Pháp tỏ rõ thái độ hai mặt
đối với báo chí Một mặt chúng nâng đỡ, bảo vệ cho những tờ báo thân Pháp, biến những tờ báo này thành công cụ phục vụ đắc lực cho chủ nghĩa thực dân của Pháp trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục Mặt khác, chúng ra sức kiềm toả báo chí bằng những quy định xuất bản
và quyền kiểm duyệt vì lo sợ báo chí phát triển tự do sẽ gây bất lợi cho sự cai trị thuộc địa Vì vậy, chúng sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn để ngăn cản, triệt tiêu bất cứ tờ báo nào có xu hướng chống đối
Tuy nhiên, lịch sử báo chí Việt Nam thời thuộc địa đã chứng minh những thất bại trong chính sách báo chí của thực dân Pháp khi chúng không thể hoàn toàn kiểm soát được sự ra đời của các tờ báo mới cũng như nội
dung phản ánh trên những tờ báo này Bên cạnh dòng báo chí công khai bao
gồm phần lớn những tờ báo trung thành với chủ nghĩa thực dân đã xuất hiện
dòng báo chí đối lập với đại diện tiêu biểu là tờ Lacloche fêlée của Nguyễn
An Ninh và dòng báo chí cách mạng với khởi đầu là tuần báo Thanh niên của Nguyễn Ái Quốc Ngay cả dòng báo chí công khai dù được đánh giá là thân Pháp thì không phải không có những tờ báo ít nhiều thể hiện được tinh
thần dân tộc và nguyện vọng của quần chúng nhân dân yêu nước muốn thay đổi chế độ thuộc địa bất công Đó là chưa kể đến những khía cạnh tích cực
trong việc truyền bá văn minh phương Tây mà các tờ báo này mang lại vẫn
Trang 8chưa được nhìn nhận đúng đắn bởi những sai lầm về chính trị của chúng Xu hướng nhìn nhận một cách toàn diện, khách quan về dòng báo chí này cũng như những nhân vật gắn liền với nó đã ngày càng được coi trọng
Cũng trong xu hướng nhìn nhận lại dòng báo chí công khai, trong luận
văn này, chúng tôi chú ý đến hai tờ báo là Thực nghiệp dân báo và Hà thành
ngọ báo vốn được xếp vào hàng ngũ những tờ báo tiêu biểu trong những
năm 1920-1930 – giai đoạn bản lề của cách mạng Việt Nam và cũng là thời
kỳ sôi động nhất của báo chí trên tất cả lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội Tuy nhiên, chúng tôi không khai thác khía cạnh nội dung được coi là
chủ đạo của hai tờ báo này là trên các lĩnh vực kinh tế và văn hoá mà chủ yếu xem xét chúng trên bình diện chính trị , đặc biệt là sự phản ánh những
sự kiện chính trị lớn của dân tộc qua lăng kính của hai tờ báo này để thấy được những điểm tương đồng và dị biệt, những đóng góp và hạn chế của chúng trong hoạt động báo chí những năm đầu thế kỷ XX
Trên cơ sở những định hướng nghiên cứu đó, chúng tôi quyết định
chọn đề tài: “Vấn đề chính trị trên Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ
báo những năm 1920-1930” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể nói, báo chí thời kỳ cận đại là một đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Điều đó được chứng minh bởi một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu về lịch sử báo chí cũng như đi sâu vào những tờ báo cụ thể, vào những vấn đề cụ thể được thể hiện trên báo chí giai đoạn 1865-1945
Về lịch sử báo chí nói chung, công trình khảo cứu sớm nhất và có hệ
thống phải kể đến “Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi thuỷ đến năm 1930”(Tri Đăng, Sài Gòn, 1973) của Huỳnh Văn Tòng Sau đó là “Tìm hiểu
Trang 9lịch sử báo chí Việt Nam” (Sự thật, Hà Nội, 1985) của Hồng Chương và gần đây nhất phải kể đến công trình “Lịch sử báo chí Việt Nam (1865-1945) (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000) của nhóm tác giả Đỗ Quang Hưng, Nguyễn Thành, Dương Trung Quốc Đây là một công trình giá trị trình bày
về lược đồ báo chí Việt Nam thời thuộc địa từ 1865 đến 1945 Các tác giả đã khái quát một cách hệ thống về các dòng báo, các khuynh hướng báo chí và mối quan hệ của sự phát triển báo chí với cuộc đấu tranh dân tộc, giai cấp
Bên cạnh lịch sử báo chí nói chung, các nhà nghiên cứu còn chú ý đến
dòng báo chí cách mạng với mốc mở đầu là sự ra đời của báo Thanh niên
năm 1945 Công trình tiêu biểu phải kể đến “Báo chí cách mạng Việt Nam 1925-1945” (Khoa học Xã hội, 1984) của nhà nghiên cứu Nguyễn Thành Tác giả đã lược qua các dòng báo chí công khai, hợp pháp, vị trí chiến đấu của báo chí cách mạng Điểm qua các tờ báo trung ương, địa phương, tiếng Việt, tiếng Pháp và khái quát nên đặt điểm hình thành, phát triển, nguyên tắc, tính lịch sử, quy luật của báo chí cách mạng Việt Nam Bên cạnh đó là một số bài viết đăng trên các tạp chí như “Báo chí cách mạng trong dòng chảy lịch sử, văn hoá Việt Nam”[ Lịch sử Đảng, 2005] của Đỗ Quang Hưng hay “Thanh niên- Tờ báo khởi nguồn của dòng báo chí cách mạng Việt Nam”(Lịch sử Đảng, 2005] của Phạm Xanh
Việc khảo cứu từng tờ báo cụ thể cũng đã được chú ý đến nhiều trong thời gian gần đây với việc đi sâu tìm hiểu từng tờ báo tiêu biểu ở một khía cạnh cụ thể cũng như lịch sử của cả một tờ báo Trong đó có Nguyễn Thành với “Lịch sử báo Tiếng dân” (Đà Nẵng, 1992), Nguyễn Khắc Xuyên với
“Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong (Sài Gòn, 1968) và “Mục lục phân tích tạp chí Tri tân”(Hà Nội, 1998), “Văn chương trên Nam Phong tạp chí”
Đặc biệt gần đây đã xuất hiện những công trình cứu về một vấn đề
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội thể hiện trên các tờ báo khác nhau trong
Trang 10cùng một giai đoạn phát triển Tiêu biểu phải kể đến Luận án Phó tiến sĩ
“Một số vấn đề nông dân qua báo chí từ 1936-1939” của Đoàn Tế Hanh (Hà Nội, 1996) Đây là một công trình nghiên cứu về nông dân Việt Nam qua báo chí từ năm 1936-1939 về các vấn đề: nông dân với ruộng đất, nông dân với chế độ thuế, vay lãi; nông dân với chế độ thống trị làng xã và nông dân với cách mạng Gần đây nhất là Luận án Tiến sĩ “Vấn đề phụ nữ trên báo chí tiếng Việt trước cách mạng thánh Tám năm 1945” (Hà Nội, 2007) của Đặng Thị Vân Chi Thông qua báo chí, tác giả luận án đã đi sâu phân tích toàn diện các vấn đề của phụ nữ trong xã hội Việt Nam như vai trò của người phụ
nữ trong gia đình, phụ nữ chức nghiệp, phụ nữ và quyền bầu cử, chống tệ nạn xã hội và bạo hành gia đình, vấn đề bình đẳng giới
Không chỉ các nhà nghiên cứu trong nước mà các tác giả nước ngoài cũng quan tâm đến báo chí Việt Nam thời cận đại trong đó có ba tác giả mà chúng tôi đã có dịp khảo sát là Shawn Mc Hale với chuyên khảo “Printing and power, and the transformation off Vietnamese culture 1920-1945” (Ấn Phầm và quyền lực và sự biến đổi văn hoá Việt Nam, 1920-1945), Daniel Hemery với bài viết đã được dịch ra tiếng Việt và in trong sách “Từ Đông sang Tây” (Cao Huy Thuần, Nguyễn Tùng Đà Nẵng, 2005) nhan đề : “ Sài Gòn thập niên 1930: “La lutte” (1933-1937), tờ báo chiến đấu” khảo sát cụ
thể về nội dung và khuynh hướng cách mạng của tờ báo La lutte Phân tích
về xung đột văn hoá Đông Tây qua hình tượng nhân vật Lý Toét trên báo
Phong hoá, tác giả George Dutton có bài viết “Ly Toet in the City, comming
to Tems with the morden in 1930, Vietnam (Jounal of Vietnams Study, insue
2, 2007)
Đặc điểm chung của các tác giả nước ngoài là đánh giá cao vai trò của báo chí như một phương tiện truyền bá văn minh và cũng là một vũ khí sắc
Trang 11bén được sử dụng trong phong trào yêu nước trước cách mạng tháng Tám năm 1945
Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu nữa mà do giới hạn của đề tài chúng tôi chỉ nêu những công trình tiêu biểu ít nhiều liên quan đến đề tài luận văn Trong tất cả những công trình đã khảo sát, chưa có một nhà nghiên
cứu nào đi sâu tìm hiểu về hai tờ báo Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ
báo Hai tờ báo này chỉ được giới thiệu một cách sơ lược trong “Lịch sử báo
chí Việt Nam (1865-1945)” với tư cách là hai trong số những tờ báo tiêu biểu trong giai đoạn 1919-1930 Chính vì vậy, về cơ bản, việc nghiên cứu về hai tờ báo này vẫn còn là một vấn đề mới mẻ
3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài chủ yếu xoay quanh những vấn đề
chính trị lớn của dân tộc trên hai tờ Thực nghiệp dân báo và Hà Thành ngọ
báo trong giai đoạn 1920-1930, tức là chỉ xem xét một phần nội dung của hai tờ báo này trong một giai đoạn cụ thể
Mốc thời gian 1920-1930 được lựa chọn không hoàn toàn trùng khớp với thời gian tồn tại của cả hai tờ báo này Tuy nhiên, nó tương ứng với một giai đoạn phát triển mới của báo chí Việt Nam Điểm nổi bật của giai đoạn này là báo chí bắt đầu tập trung vào những vẫn đề văn hoá, xã hội, truyền bá
tư tưởng văn hoá Đông- Tây và bắt đầu có yếu tố chính trị Chính vì vậy mà
có một số nhà nghiên cứu cho rằng đặc điểm chủ yếu của báo chí giai đoạn này là độc lập và đấu tranh chính trị Đây cũng là giai đoạn diễn ra những sự kiện chính trị lớn, sôi nổi trong phong trào yêu nước mang khuynh hướng dân chủ tư sản và bắt đầu xuất hiện mầm mống cho sự ra đời của chính đảng cộng sản ở Việt Nam
Trang 124 Các nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng nguồn tư liệu
trực tiếp là hai tờ Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo hiện còn lưu trữ
tại Thư viện quốc gia Việt Nam với các ký hiệu J8 và J97 Một số báo còn thiếu chúng tôi khai thác tại phòng tư liệu của khoa Lịch sử và khoa Báo chí, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Nghiên cứu về một tờ báo thì yêu cầu là phải đọc toàn bộ các số báo với tất cả các bài đã đăng trên các trang mới có thể hiểu đối tượng một cách
hệ thống, khách quan, toàn diện Tuy nhiên trong quá trình khai thác tư liệu, chúng tôi gặp khó khăn do điều kiện hạn chế của công tác lưu trữ Tờ Thực nghiệp dân báo ra đời từ năm 1920 và tồn tại đến năm 1933 với trên 3000 số báo nhưng hiện nay những lưu trữ chỉ tương đối đầy đủ từ 1920 đến 1926 Còn từ năm 1927, các số báo hoặc thiếu thốn rất nhiều hoặc quá rách nát mà không thể tiếp cận được Hà thành ngọ báo ra đời năm 1927, tồn tại đến
1936 còn lưu trữ khá đầy đủ Chính vì vậy mà trong luận văn của mình, chúng tôi sử dụng tư liệu của Thực nghiệp dân báo đến năm 1926 còn từ năm 1927 đến năm 1930 là tư liệu của Hà thành ngọ báo như là một sự tiếp nối trong mạch phát triển của vấn đề chính trị trên dòng báo chí kinh tế- văn hoá Tất nhiên, sự thống nhất trong nội dung của hai tờ báo này chỉ mang tính chất tương đối
Bên cạnh Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo, chúng tôi còn khảo sát một số những tờ báo cùng thời với hai tờ báo này như Đăng cổ tùng báo, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí, Khai hoá nhật báo, Hữu thanh tạp chí để thấy được những điểm tương đồng và dị biệt của các tờ báo này với đối tượng cần nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, với đề tài luận văn này, chúng tôi coi
phương pháp lịch sử là phương pháp chủ đạo Xuất phát từ việc nghiên cứu
Trang 13giai đoạn theo những nhát cắt lịch sử, đặt đối tượng trong tổng thể lịch sử
báo chí và lịch sử dân tộc để đối chiếu, nhận xét, do vậy phương pháp so
sánh cũng được chúng tôi chú ý vận dụng Phương pháp so sánh có ý nghĩa
rất lớn khi nhận định về những đặc điểm tương đồng và dị biệt của Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo trong hệ thống báo chí Việt Nam thời cận đại Từ đó thấy được những giá trị cũng như hạn chế của hai tờ báo này trên bình diện chính trị
Trong luận văn của mình chúng tôi cũng sử dụng phương pháp phân
tích, thống kê số lượng bài báo phản ánh về cùng một vấn đề, tần số xuất
hiện và sự thay đổi trong cách sử dụng những thuật ngữ trong các bài viết
để thấy được sự biến thiên trong quan điểm tư tưởng của một tờ báo theo trục thời gian để từ đó có một cái nhìn đầy đủ về vấn đề cần nghiên cứu
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Sự ra đời của Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo trong hoạt động báo chí những năm đầu thế kỷ XX
Nội dung trình bày khái quát về bối cảnh chính trị, kinh tế, văn hoá những năm đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của báo chí và hoàn cảnh ra đời của hai tờ Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo
Chương 2: Những vấn đề chính trị trên Thực nghiệp dân báo giai đoạn 1920-1925
Tập trung phân tích những sự kiện chính trị lớn được phản ánh trên Thực nghiệp dân báo trong thời kỳ này bao gồm 3 vấn đề chính: Quan hệ giữa tư sản Việt Nam và tư sản Hoa kiều, phong trào cải lương hương thôn
và cuộc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu
Chương 3: Những vấn đề chính trị trên Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo trong giai đoạn 1926-1930
Trang 14Tiếp nối mạch thời gian của giai đoạn trước, chương này phân tích ba vấn đề lớn được phản ánh trên Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ báo trong giai đoạn này là Đám tang cụ Phan Châu Trinh, sự ra đời của hoạt động của Việt Nam quốc dân Đảng và Phong trào cộng sản
Đề tài “Vấn đề chính trị trên Thực nghiệp dân báo và Hà thành ngọ
báo” là một đề tài phức tạp và khó khăn Năng lực nghiên cứu của người
viết có hạn, còn rất nhiều hạn chế, dù đã rất cẩn trọng, nghiêm túc, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Chúng tôi chân thành mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các nhà nghiên cứu
Trang 15Chương 1
SỰ RA ĐỜI CỦA THỰC NGHIỆP DÂN BÁO VÀ HÀ THÀNH
NGỌ BÁO TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
1 Bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX
1.1 Bối cảnh chính trị
Để hiều sâu về bối cảnh chính trị, trước hết, chúng ta nhìn khái quát
về quá trình khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương
Toàn quyền Paul Doumer được coi là “một trong những viên Toàn
quyền nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử chế độ thuộc địa Pháp tại Đông Dương” [30, 138] Sự xuất hiện của vị toàn quyền này cùng Chương trình
khai thác thuộc địa của ông từ năm 1897, Đông Dương bắt đầu bước vào thời kỳ có những biến đổi sâu sắc trên mọi lĩnh vực Các vị toàn quyền về sau như Paul Beau (1902-1908), Klobukowski (1908-1911), Albert Saraut (1911-1914) có bổ sung hoặc điều chỉnh chế độ do Doumer đặt cơ sở, nhưng không thay đổi những đường lối chủ yếu
Chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer bắt đầu trong điều kiện chính trị thuận lợi Công cuộc bình định Đông Dương được coi là đã hoàn thành Phong trào đấu tranh chính thống cuối cùng mang danh nhà vua-phong trào Cần Vương dù được ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân cũng đã bị dập tắt năm 1896 Phong trào đấu tranh của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám ở miền rừng núi Yên Thế gây được tiếng vang lớn khiến chính phủ bảo hộ phải thương lượng Mặc dù đã để Đề Thám cai quản một lãnh thổ gồm 22 làng trong vùng Yên Thế nhưng cái giá hời nhất của cuộc thương lượng đánh dấu việc hoàn thành thắng lợi thời kỳ bình định là việc
“Đề Thám chịu đặt khí giới” [1, 107] Ai cũng hiểu cái cam kết đặt khí giới của Đề Thám chỉ là một động tác giả Năm 1913 mới thực sự chấm dứt “giai
Trang 16đoạn chống Pháp bằng khí giới”[1, 108] khi chính phủ bảo hộ tiến hành bao vây vùng chiếm đóng và Hoàng Hoa Thám bị bắt sát hại Dù thế nào, ngay
từ năm 1897 chính quyền bảo hộ đã hoàn toàn có quyền loan báo về thành công của công cuộc bình định
Với cương vị là một viên Toàn quyền, Paul Doumer được thừa hưởng
di sản chính trị quý báu từ thời các Toàn quyền trước để lại trong việc cai quản một Đông Dương “gần như” thống nhất Chế độ cai trị được thiết lập với quy mô toàn Đông Dương được đánh dấu bằng sự ra đời của Liên bang
Đông Dương (Union Indochinoise) theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp ngày
17-10-1887 Hoà nhập toàn bộ những cơ cấu chính trị ở Đông Dương vào hệ thống Nhà nước mới tức là vô hiệu hóa những cơ cấu nhà nước cũ Lúc mới thành lập, Liên bang Đông Dương chỉ bao gồm Việt Nam và Căm-pu-chia Trong nhiệm kỳ của Doumer, Lào cũng trở thành thành viên của Liên Bang Đông Dương vào năm 1899 Đối với Việt Nam, thực dân Pháp đã áp dụng chế độ “chia để trị” bằng việc chia Việt Nam làm ba xứ theo ba chế độ cai trị khác nhau: Nam Kỳ là xứ thuộc địa, Trung Kỳ là xứ bảo hộ và Bắc Kỳ là xứ bán bảo hộ Căm-pu-chia và Lào cũng bị đặt dưới chế độ bảo hộ Chịu trách nhiệm cai quản Bắc Kỳ là một Thống sứ, Trung Kỳ là một Khâm sứ và Nam
Kỳ thuộc quyền của một thống đốc Tuy nhiên, tất cả quyền hành của các vị đều thuộc quyền giám sát và điều khiển của quan toàn quyền Hà Nội - trung tâm của xứ Bắc Kỳ - trở thành thủ phủ của toàn xứ Đông Dương, nơi đóng trụ sở của Phủ toàn quyền Đông Dương và các cơ quan đầu não khác của thực dân Pháp
Về sau người ta hiểu rõ thực chất chẳng có những khác biệt đáng kể giữa chế độ bảo hộ, bán bảo hộ hay thuộc địa nữa vì Paul Doumer đã tiến hành một chính sách cai trị độc tài [19, 125] Nhà vua bắt đầu mất dần những liên hệ cuối cùng đối với hai vùng đất Bắc và Trung Kỳ của mình khi
Trang 17chức Kinh lược sứ Bắc Kỳ (đại diện cho Triều đình, mang sứ mệnh duy trì
“ảo tưởng” về mối liên hệ giữa triều đình với Bắc Kỳ”) bị xóa bỏ để chuyển quyền cho viên Thống sứ và Cơ viện mật bị đổi thành một hội đồng với quyền hạn thuộc về một Khâm sứ người Pháp vào năm 1897 Những vết tích độc lập cuối cùng của nhà nước cũ đã bị xóa bỏ Từ đó, chẳng cần phải quan tâm tới công cuộc bình định, chẳng cần phải do dự bởi ảnh hưởng của nhà vua, các vị toàn quyền được “toàn quyền” quyết định số phận của thuộc địa Đông Dương
Trong khoảng 1897 và 1902, Paul Doumer đã thành lập hệ thống những ban ngành chung, tạo sự thuận tiện trong công cuộc cai trị Đó là sự
ra đời của những Sở Tài chính, Sở Hải quan (1897), Sở Công chính (1898),
Sở Nông nghiệp và Thương nghiệp (1899), Sở Bưu chính, điện báo, điện thoại (PTT) (1901), Ban Tổng thư ký (1902), đến năm 1929 có thêm Sở An ninh Tổng ngân sách cũng được thành lập ngay từ năm 1898
Song song với quá trình kiện toàn bộ máy quản lý, thực dân Pháp còn thiết lập bộ máy cảnh sát, quân đội, nhà tù, tòa án để trấn áp các hoạt động chống Pháp của nhân dân
Việc người Pháp không xóa bỏ hoàn toàn vương triều Nguyễn đồng nghĩa với việc hệ thống pháp luật của vương triều vẫn còn được sử dụng Bên cạnh đó, người Pháp cũng dần dần đưa vào áp dụng luật lệ của họ Tính cách nhị hợp của chế độ pháp luật do vậy cũng đưa tới tính cách nhị hợp của chế độ tài phán [1, 135] Đó là sự tồn tại song song hai loại hình tòa án Tây
và tòa án Nam Tòa án Tây đặt tại Nam Kỳ và các nhượng địa Người Pháp đặt tại Hà Nội và Sài Gòn [1,136] một tòa thượng thẩm do hai viên quan người Việt phụ trách xét xử Tuy nhiên, thật nực cười khi hai viên quan này
được Chính phủ Nam triều chỉ định “theo sự lựa chọn của Toàn quyền Đông
Dương”[33, 244] Năm 1898, tòa thượng thẩm Đông Dương được thành
Trang 18lập trên cơ sở xóa bỏ tòa thượng thẩm Hà Nội, mở rộng đối tượng xét xử tù phạm ra toàn cõi Đông Dương Bên cạnh đó là sự tồn tại của một kiểu tòa án đặc biệt gọi là Hội đồng đề hình với chức năng đàn áp phong trào yêu nước Tòa án Nam vẫn được duy trì ở Bắc và Trung Kỳ nhưng về thực chất thì chịu sự kiểm soát của chính quyền thuộc địa
Thực dân Pháp đã sử dụng lực lượng cảnh sát cũng như quân đội và mật thám để theo dõi, bắt bớ người yêu nước Việt Nam, kết tội họ thông qua
hệ thống tòa án và đày đọa bằng hệ thống nhà tù Tại mỗi tỉnh, từ cấp huyện
trở lên đều có trại giam Bộ máy cảnh sát chính là nhằm mục đích “bảo vệ
nền an ninh trật tự của bọn xâm lược thống trị và làm công cụ đắc lực cho chúng trong việc đàn áp bóc lột nhân dân Hoạt động của bộ máy cảnh sát
được sự hỗ trợ tích cực của tổ chức mật thám (1917), nhất là trong việc khủng bố và đàn áp cách mạng Sự lợi hại của Sở mật thám làm cho cuộc sống của nhân dân hồi đầu thế kỷ XX không lấy gì làm dễ thở Nó biến xứ
sở này thành một nơi mà “nhà trường dạy cho trẻ con Tuyên ngôn nhân
quyền và sở mật thám bắt bỏ tù những ai đã học kỹ bài học đó”[26, 132]
Nhà nghiên cứu Dương Kinh Quốc đã mô tả cái thiết chế chính trị-xã hội của Đông Dương thời kỳ này mang bóng dáng kiểu nhà nước Nga trước cách mạng tháng Mười “Không có một nước tư bản nào lại còn duy trì nhiều như ở đây những thiết chế của thời xưa không thích hợp với chủ nghĩa
tư bản; những thiết chế ấy kìm hãm sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và làm vô cùng trầm trọng thêm tình cảnh của những người sản xuất “đã khổ vì
sự phát triển của tư bản chủ nghĩa lại còn khổ vì sự phát triển ấy chưa được đầy đủ”[33, 205]
1.2 Bối cảnh kinh tế
Trang 19Cùng với những cải tổ trong lĩnh vực chính trị, chính quyền thuộc địa cũng bắt tay vào tiến hành cái tổ trong lĩnh vực kinh tế-tài chính, đầu tiên là chú trọng cải cách chế độ thuế Chính quyền tiến hành phương thức đánh thuế theo đầu người với hai loại thuế: thuế trực thu và thuế gián thu
Thuế trực thu bao gồm thuế thân, thuế nhân lực, thuế ruộng đất, thuế thuyền trên sông và thuế tài nguyên, thuế môn bài và thuế xe
Thuế gián thu gồm thuế xuất nhập khẩu và các sắc thuế quan khác như thuế quá cảnh, thuế thống kê, thuế thông thuyền, thuế tiêu thu rượu Âu
và rượu bản xứ, thuế lưu hành thuốc lá, thuế tiêu thụ dầu hỏa, thuế tiêu thụ diêm, thuế khai thác mỏ, thuế xuất khẩu gạo, thuế tiêu thụ thuôc nổ, tiền bán thuốc phiện, tiền bán rượu bản xứ, tiền bán muối”[7, 101] Nhà nước độc quyền đánh thuế, tiêu thụ và quản lý ba mặt hàng rượu, muối, thuốc phiện
Việc đánh thuế gián thu đem lại một nguồn thu đáng kể, cung cấp trung bình trên dưới 70% tổng số thu của ngân sách Đông Dương; và
cốt lõi của chế độ thuế khóa “sự nghiệp thuế khóa của ông Đu-me là sự
nghiệp tăng thuế, tăng từ 150% đến 400%”[7, 101]
Nhìn vào đó, người ta tự hỏi thuộc địa Đông Dương với một “nền
tài chính rực rỡ, một nền thương mại quan trọng, một nền nông nghiệp phát triển nhanh chóng… thuộc địa Đông Dương… đã làm rạng rỡ văn minh nước Pháp”[25, 112] thực tế có đem lại cho nhân dân thuộc địa
những giá trị cần thiết hay chỉ là những khoản sưu thuế-những khoản
nợ chính phủ đáng sợ- luôn thường trực trong đời sống của họ? Thực tế người ta cũng đã thấy những hệ thống kỹ thuật và tri thức khoa học của
xã hội đã công nghiệp hoá được đưa vào đây Đông Dương thay đổi chân trời lịch sử, đi từ văn minh ngựa thồ, xe kéo bước vào kỷ nguyên đường sắt, ô tô, máy bay… Những đầu máy, những dây chuyền sản
Trang 20xuất, những đèn điện… hẳn nhiên làm sửng sốt đại bộ phận cư dân nhưng phần lớn những thành tựu hiện đại này đều nhằm phục vụ đời sống cũng như phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa được thuận lợi hơn
Chương trình khai thác thuộc địa của Paul Doumer tạo ra một cột mốc mới cho nền kinh tế ở Đông Dương Ch Robequain đã cho rằng lịch sử kinh
tế thuộc địa Đông Dương bắt đầu từ những năm 1860 với chu kỳ kinh tế đầu tiên là chu kỳ lúa gạo do khai thác lợi thế so sánh ở vùng đồng bằng châu thổ Nam Kỳ Và, vào năm 1897, Doumer đã khởi động một chu kỳ kinh tế mới trên toàn xứ Đông Dương: chu kỳ công nghiệp, mỏ, đồn điền Chu kỳ này kéo dài cho tới trước 1930 Sau năm 1930, kinh tế Đông Dương bước vào chu kỳ suy thoái kéo dài [22, 39] Do đó, có thể coi
chu kỳ kinh tế mà Doumer đặt nền móng là “thời kỳ hoàng kim của nền
kinh tế thuộc địa”[22, 39]
Ảnh hưởng trực tiếp đầu tiên của hai cuộc khai thác thuộc địa mà tư bản thực dân Pháp đã tiến hành ở Việt Nam (1897-1930) là tạo ra một cơ cấu kinh tế mới khác với cơ cấu kinh tế cổ truyền của xã hội phong kiến với các ngành kinh tế mới
Khu vực kinh tế mới bao gồm các ngành kinh tế tài chính ngân hàng,
kinh tế công nghiệp, giao thông vận tải, và ngoại thương
Mặc dù hình thức cho vay đã tồn tại từ rất lâu trong lịch sử kinh tế Việt Nam nhưng đây là lần đầu tiên thiết lập được một hệ thống ngân hàng chuyên trách Ngân hàng Đông Dương được thành lập năm 1875 và nhanh chóng thiết lập các chi nhánh tại nhiều nơi trong cả nước như Sài Gòn, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Nam Định, Vinh Ngoài phát hành giấy bạc, ngân hàng Đông Dương còn trao đổi buôn bán và đầu tư tài chính Nền kinh tế
Trang 21Việt Nam phụ thuộc lớn vào tư bản ngân hàng… Song song với hệ thống Ngân hàng Đông Dương và các chi nhánh tại các địa phương, thực dân Pháp còn thành lập các Nông phố ngân hàng và các quỹ tín dụng tương trợ để cho nông dân vay vốn phát triển sản xuất
Ngành giao thông vận tải là một ngành để lại nhiều thành tựu vô cùng
to lớn trong công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp trên đất Việt
Nam Trước đó, “sự yếu kém của mạng lưới giao thông là trở lực chủ yếu
cho việc khai thác kinh tế trên toàn xứ sở rộng lớn này… Tư bản chính quốc
đã quá chán nản mạo hiểm đầu tư trong những điều kiện như vậy, vì họ cần
có đường xe lửa, đường thủy và hải cảng”[12] Nhằm tạo điều kiện cho hoạt
động khai thác thuộc địa được thuận lợi, thực dân Pháp đã tổ chức xây dựng
hệ thống đầy đủ các loại đường giao thông Cho đến trước Chiến tranh thế giới thứ Hai, tại Việt Nam đã có đủ cả đường bộ, đường xe điện, đường sắt, đường thủy, đường hàng không… Vào thời điểm những năm 30, 40 của thế
kỷ XX, Việt nam là một trong những nơi có hệ thống đường giao thông tốt
nhất ở khu vực Đông Nam Á [22,112]
Hệ thống đường sắt và đường bộ mà thực dân Pháp đã làm về cơ bản được giữ lại cho đến nay Tuyến đường sắt xuyên Việt phải mất 36 năm mới hoàn thành, tốn phí 205 triệu Frăng Kèm theo đó là khoản đầu tư xây dựng các cầu lớn để tàu chạy qua khi phải làm đường sắt qua sông Số lãi từ hoạt động vận tải đường sắt thu về do vậy cũng không phải là nhỏ Ngay trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế số lãi này cũng đạt hàng triệu Fr mỗi năm [22, 111] Hệ thống đường bộ ở Việt Nam tiếp tục được củng cố và xây dựng Ngoài số km đường đá, số km đường rải nhựa cũng đã tăng dần lên Hệ thống giao thông đường thủy cũng được chú trọng xây dựng với các cầu cảng và sự xuất hiện thêm của các phương tiện giao thông vận tải mới Thực dân Pháp đã đầu tư xây dựng cảng Sài Gòn để cảng này là cảng lớn nhất
Trang 22Nam Kỳ Ở ngoài Bắc, cảng Hải Phòng là cảng lớn nhất Các cảng này cùng
hệ thống cảng ở Hòn Gai-Cẩm Phả, Bến Thủy, Đà Nẵng, Quy Nhơn… cũng đóng góp vào công cuộc hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam Đường hàng không hoàn toàn là sản phẩm giao thông của thế giới hiện đại cũng được du nhập vào nước ta ngay từ đầu thế kỷ XX Sân bay đầu tiên được xây dựng ở
Vị Thủy (Thái Hà ấp-Hà Nội) sau này trở thành sân bay Bạch Mai Nhưng ngành hàng không dân dụng chưa phát triển Hoạt động của ngành này chủ yếu phục vụ hoạt động đưa quân chuyển lính của thực dân Pháp
Ngành kinh tế công nghiệp là xương sống của nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX với các cơ sở công nghiệp chế biến nông sản, các xưởng chữa tàu, các công trường khai thác mỏ Sang thế kỷ
XX, về cơ bản thực dân Pháp vẫn tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp trên đồng thời phát triển thêm một số ngành kỹ nghệ nhưng tựu chung vẫn là các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến
Ngành khai mỏ là ngành được đầu tư phát triển hơn cả Diện tích cũng như năng suất khai mỏ đều tăng [41, 45] Bắc Kỳ là nơi tập trung các hoạt động đầu tư khai thác của ngành than Việt Nam Đông Dương mà chủ yếu là Bắc Kỳ là nơi xuất khẩu than lớn nhất của các nước Đông Nam Á Bên cạnh ngành than là các ngành khai thác mỏ kim loại khác như thiếc, chì, kẽm…
Ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến cũng có nhiều chuyển biến Các cơ sở xí nghiệp như Nhà máy xi măng Hải Phòng, các nhà máy tơ sợi và dệt ở Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng, Sài Gòn; các nhà máy xay xát gạo, chế biến rượu, làm đường ở Hải Dương, Hà Nội, Nam Định, Chợ Lớn… đua nhau xuất hiện, ngày càng được nâng cấp và mở rộng quy
mô sản xuất Tập trung tư bản vào các ngành thuộc lĩnh vực này chỉ đứng sau khu vực công nghiệp khai mỏ Về cơ bản cơ cấu công nghiệp Việt Nam chỉ gồm hai bộ phận chính là công nghiệp mỏ và công nghiệp chế biến
Trang 23Charles Robequain viết năm 1939: "không một thuộc địa nào được tự do phát triển công nghiệp của nó Ngay cái khả năng phát triển này từ lâu đã có vẻ ngược đời và không thể nào quan niệm nổi Đông Dương đã không thoát khỏi qui luật này […]"[26, 300] Ngành công nghiệp ở xứ Đông Dương phát triển không đồng đều Hơn nữa, phần lớn đều phụ thuộc rất nhiều vào tư bản nước ngoài Các nhà tư bản Việt Nam rất khó tham dự và cạnh tranh với họ
Với sự xuất hiện của người Pháp, hoạt động ngoại thương được mở rộng, là biến đổi kinh tế đặc biệt quan trọng và khác biệt so với nền kinh tế
“bế quan tỏa cảng”, “trọng nông, ức thương” của triều đình nhà Nguyễn Sự thực thì cường độ trao đổi ngoại thương ở các khu vực rất không đồng đều, vì ở Nam kỳ, miền đất của lúa gạo và trồng trọt và ở vùng mỏ, hay công nghiệp Bắc kỳ là nơi chủ yếu đã diễn ra quá trình quốc tế hoá kinh
tế Đông Dương Các quan hệ ngoại thương đều phụ thuộc và bị Pháp điều chỉnh để phục vụ lợi ích tối đa cho tư bản thực dân Pháp Mặc dầu vậy, thị trường Việt Nam cũng đã mở rộng Hoạt động thương mại dưới thời Pháp thuộc cũng đã làm xuất hiện xu hướng phát triển sản xuất theo kinh tế thị trường
Trong khi đó, những ngành kinh tế truyền thống có những chuyển biến nhất định Với hệ thống các đồn điền lúa gạo ở Nam Bộ, tư bản Pháp đã
“hiện đại hóa” nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam Đặc biệt là giai đoạn sau
chiến tranh, các đồn điền tiếp tục được mở rộng trong đó diện tích trồng lúa
và cao su chiếm tỉ trọng lớn vì phục vụ nhu cầu xuất khẩu Sự xuất hiện và ngày càng mở rộng của hệ thống các cây công nghiệp trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam đã góp phần giảm tính độc canh truyền thống
Các nông cụ sản xuất cũng được cải tiến với sự xuất hiện của các nông cụ nguồn gốc phương Tây như cuốc, xẻng, xà beng phục vụ cho quy
Trang 24trình sản xuất hiệu quả hơn Các máy kéo với số lượng còn hạn chế đã xuất hiện trên đồng ruộng Việt Nam bên cạnh sức kéo của trâu, bò truyền thống
Nông nghiệp Việt Nam thời Pháp thuộc được chuyên nghiệp hóa khi
có các Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Cùng với những đổi mới trong công cụ canh tác, những cải tiến kỹ thuật, sự xuất hiện của máy móc… khiến nền nông nghiệp hiện đại hóa dần lên thì cơ cấu cây trồng mới đã phá
vỡ thế độc canh cây lúa; hoạt động xuất khẩu lúa gạo và nông sản đã chuyển nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam sang thời kỳ có tính chất hàng hóa, thoát dần khỏi tính tự cấp, tự túc
Các nghề thủ công nghiệp truyền thống thời Pháp thuộc trong xu hướng chung cũng có những biến đổi lớn Việt Nam từ Thời kỳ thương mại Châu Á đã nổi tiếng bởi hàng tơ lụa và gốm sứ Trong thời thuộc địa, hai nghề này cũng được ưa chuộng và phát triển mạnh trong cả nước Bên cạnh
đó là các nghề thủ công mỹ nghệ, làm đồ trang sức và đan lát mây tre…; một số nghề chế biến thực phẩm như nấu rượu, làm bánh, làm bún… Nhìn chung thì số lượng các ngành nghề cũng như số thợ thủ công cũng tăng lên tùy theo nhu cầu của thị trường tiêu thụ Sản phẩm làm ra không chỉ đảm bảo nhu cầu nội địa mà chủ yếu là phục vụ nhu cầu xuất khẩu Cũng như trong nông nghiệp, kỹ thuật và công cụ sản xuất được cải tiến đáng kể Khung dệt đạp chân chuyển thành khung dệt giật tay…[22, 102]
Tóm lại, dưới tác dụng của cuộc khai thác thuộc địa, trong cơ cấu
kinh tế Việt Nam đã xuất hiện các ngành kinh tế tư bản chủ nghĩa tồn tại song song bên cạnh các ngành kinh tế truyền thống Đặc biệt, yếu tố hiện đại, yếu tố tư bản chủ nghĩa đã góp phần làm “hiện đại hóa” ngay trong nội tại các ngành kinh tế truyền thống ấy
Những biến đổi trong cơ cấu kinh tế Việt Nam thời thuộc địa đã dẫn tới sự phân hóa sâu sắc trong đời sống xã hội Sự du nhập dù ít ỏi phương
Trang 25thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hiện đại vào Việt Nam đã góp phần hiện đại hóa đời sống văn hóa vật chất cũng như tinh thần trong xã hội Việt Nam
Nhưng tất cả những biến đổi kinh tế-xã hội ấy là để “dành riêng lợi ích cho
thực dân Pháp” và “lợi ích thực tế của người nông dân chỉ là con số không”
Đó được coi là mầm mống cho các cuộc đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc diễn ra không ngớt của nhân dân Việt Nam suốt thời kỳ thuộc địa
Trong thời thuộc địa, chỉ có một khoảng thời gian kinh tế Việt Nam phát triển tương đối tự do khi chính quyền thuộc địa bận bịu với những hoạt động ở chính quốc Đó là thời kỳ diễn ra chiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra thu hút sự quan tâm của chính quốc và Đông Dương được nới lỏng, cho dù sự nới lỏng chỉ là tạm thời Tuy nhiên, sự nới lỏng tạm thời ngắn ngủi ấy đã mở ra thời cơ cho bộ phận kinh
tế người Việt phát triển, tạo đà cho sự ra đời của giai cấp tư sản dân tộc Biến đổi kinh tế này là cơ sở xuất hiện những biến đổi xã hội, làm xuất hiện những phong trào như “tẩy chay khách trú” năm 1919; phong trào chống độc quyền cảng Sài Gòn trong 20 năm, yêu cầu giảm thuế xuất cảng đường năm
1922, chống độc quyền nước mắm… những năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất
1.3 Bối cảnh xã hội, văn hóa, giáo dục, tư tưởng
Đời sống xã hội có chuyển biến đặc biệt so với thời kỳ trước là sự ra đời của những thành thị kiểu phương Tây Sự phát triển của thành thị mở đường cho quá trình hiện đại hóa đời sống dân cư Đông Dương Thành thị phát triển tạo cơ sở cho sự ra đời của các tầng lớp thị dân, với các ngành nghề mới, với điều kiện sinh hoạt xã hội mới… Chúng tạo nên những biến đổi sâu sắc và dồn dập trong đời sống xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX
Đô thị Việt Nam trước thời Pháp thuộc chủ yếu phát triển theo hướng
đô thành Thời Nguyễn, chính quyền không khuyến khích phát triển kinh tế
Trang 26đô thị và công cuộc đô thị hóa [20,9] Cuối thế kỷ XIX, đầu XX, với bàn tay của người Pháp, đô thị Việt Nam đã chuyển mình Nhiều đô thị mới theo mô hình đô thị phương Tây đã hình thành và phát triển Thời kỳ này đánh dấu bước chuyển biến của các thành thị kiểu phương Đông bước sang giai đoạn phát triển hiện đại và mang dấu ấn một đô thị kiểu phương Tây Tại các đô thị lớn như: Hà Nội, Sài Gòn-Chợ Lớn ít nhiều đã có dáng dấp của một đô thị quy mô khu vực, đã trở thành những “hòn ngọc Viễn Đông” Trong lúc
đó, mạng lưới các đô thị nhỏ hơn cũng đã được phát triển và trở thành những trung tâm tỉnh lỵ, trung tâm cấp vùng Hàng loạt đô thị cấp tỉnh đã được hình thành, mang trong nó là những công trình kiến trúc-đô thị đậm dấu ấn kiến trúc Châu Âu – mà ngày nay một phần không nhỏ trong số đó đã có thể xem như những di sản kiến trúc đô thị của một thời kỳ
Qúa trình hiện đại hóa thành thị được đánh dấu bằng sự phân cấp đô thị và cùng với nó là sự phân cấp về cơ chế quản lý Từ cuối thế kỷ thứ XIX, người Pháp đã lần lượt tạo dựng một hệ thống các thành phố cấp I và cấp II Thành phố cấp 3 phần lớn xuất hiện vào thập kỷ 1920
Thành phố cấp I đầu tiên được thành lập là thành phố Sài Gòn (Sắc lệnh tổng thống Pháp 8-1-1877) Hà Nội và Hải Phòng trở thành thành phố cấp I năm 1888 (Sắc lệnh Tổng thống Pháp ngày 19-7-1888) Đứng đầu mỗi thành phố là một Hội đồng thành phố, với quyền hạn rất lớn của một vị Đốc
lý người Pháp Vị này chịu trách nhiệm trước vị Thống sứ Bắc Kỳ (đối với
Hà Nội và Hải Phòng) hoặc Thống đốc Nam Kỳ (đối với Sài Gòn) Sài Gòn thuộc xứ Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp còn Hà Nội và Hải Phòng sau đó ít lâu đã trở thành thành phố nhượng địa của Pháp, theo đạo dụ của đạo dụ Đồng Khánh (ngày 3-11-1888, đạo dụ gồm 3 điều, quan trọng nhất là điều 1: các lãnh thổ thuộc các đô thị Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng sẽ lập thành nhượng địa Pháp và quyền sở hữu sẽ hoàn toàn giành cho chính phủ Pháp
Trang 27Chính phủ Đại Nam từ khước mọi quyền lợi trên lãnh thổ”) Đó là những thành phố mà người Pháp đầu tư xây dựng nhiều nhất, cũng là những thành phố hiện đại hóa nhanh nhất
Trên lãnh thổ Việt Nam, chính quyền thuộc địa đã thành lập 2 thành phố cấp II là Chợ Lớn (Nghị định thống đốc Nam Kỳ ngày 20-10-1889) và
Đà Nẵng (Nghị định toàn quyền Đông Dương 24-5-1889)
Tiếp sau (có thể coi là loại thành phố cấp III) là loại thành phố được chuyển lên từ các thị xã quan trọng như thành phố Nam Định (thành lập năm 1921), thành phố Hải Dương, thành phố Vinh-Bến Thủy (1927), thành phố Bạc Liêu (1928), Rạch Gía (1928), Cần Thơ (1928), Thanh Hóa (1929), Huế (1929), Quy Nhơn (1930)…
Tùy thuộc vào vai trò, chức năng của từng đô thị sẽ quy định quy mô đầu tư xây dựng của Pháp, đồng thời nó cũng quy định mức độ phát triển của đô thị đó Sài Gòn, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Hải Phòng là đô thị cảng thừa hưởng những ưu thế giao thông phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa nên
có những bước phát triển diệu kỳ Trong khi đó, chức năng chính trị tạo nên điều kiện thuận lợi cho Sài Gòn, Huế, Hà Nội phát triển nhanh chóng hơn
Đó là nơi đặt các bộ máy cai trị của thực dân, nơi có phủ Toàn quyền, phủ thống đốc, phủ thống sứ và tòa khâm sứ Nhờ đó, người ta thấy ở các đô thị này, bên cạnh những góc phố cổ là những dãy phố Tây tiện nghi với sự phát triển trội vượt của văn minh Tây Âu – phục vụ cho đời sống của đại bộ phận những viên chức người Âu trong chính quyền thuộc địa
Người ta đã khái quát các giai đoạn phát triển của đô thị về mặt mô hình kiến trúc như sau:
- 1873-1900: kiến trúc thuộc địa tiền kỳ
- 1900-1920: kiến trúc thuộc địa hình thành và khẳng định
Trang 28- 1920-1945: kiến trúc thuộc địa phát triển và định hình bản sắc [45, 18]
Dù được xây dựng theo phong cách kiến trúc nào, người ta cũng dễ dàng nhận thấy ngay trong cách quy hoạch kiến trúc tổng thể đô thị đã bộc
lộ sự phân biệt giữa người Âu và người bản địa Tại Hà Nội, khu phía Bắc (Hàng Trống, Bà Triệu, Đinh Tiên Hoàng, Hàng Bài, Ngô Thì Nhậm, Ngô Quyền) chính là khu trung tâm hành chính Hà Nội thời kỳ thực dân và khu phía Nam với những con phố dạng ô bàn cờ (Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo) là những khu phố Tây-khu phố của người Pháp Mạng lưới này tạo nên một cấu trúc đô thị khác hẳn với khu vực 36 phố phường trước đây với đường phố rộng rãi hơn, thiết kế song song và vuông góc tạo
nên không gian thoáng rộng và tiện ích Những con phố này được “cấu tạo
bởi một hệ thống đồng bộ các yếu tố của không gian lưu thông trong đô thị như mặt đường cho xe chạy, hè cho người đi bộ, dải đất trồng cây bóng mát… trải qua gần một thế kỷ sử dụng vẫn chưa bị đẩy vào tình trạng lạc hậu”[42, 94] Thành phố Huế cổ kính cũng ghi đậm dấu ấn về sự có mặt của
người Pháp ở bờ Nam sông Hương Khu vực này chính là nơi xây dựng các
cơ quan hành chính, quân sự và nhà ở của chính quyền bảo hộ trung kỳ Người ta thấy một tổng thể kiến trúc, tùy theo chức năng của từng công trình
mà có kiểu thức, chất liệu, trang trí kiến trúc phù hợp, mang dáng dấp của một thành phố hiện đại bên cạnh sự bảo tồn khu đô thị cổ, bảo lưu những đặc trưng về cảnh quan, nhà vườn, tầng thấp của kiến trúc truyền thống Huế
ở phía Bắc bờ sông [20,76]
Một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại từng bước được xây dựng Đó là
hệ thống đường giao thông (đường sắt với xe lửa, xe điện, đường nhựa với
sự xuất hiện của ô tô, đường hàng không với máy bay), hệ thống đường điện sáng, điện thoại, nước máy… Những nhà hát, rạp chiếu phim, sân vận
Trang 29động… Ở Hà Nội ngay từ cuối thế kỷ XIX đã có đường xe điện chạy từ Bờ
Hồ tới Bạch Mai, Bờ Hồ - Bưởi và Bờ Hồ - Thái Hà ấp Hệ thống đường xe điện tại Hà Nội tiếp tục được mở thêm cho tận trước khi Pháp thất bại gồm các đoạn Hà Nội – Hà Đông (1904), Kim Liên – Yên Phụ (1929), Kim Liên – Bạch Mai (1943) Hà Nội là thành phố có một hệ thống xe điện hoàn chỉnh, tồn tại liên tục hơn tám thập kỷ Năm 1893 Pháp tiến hành mắc điện đèn thành phố Hải Phòng và trong khoảng 1894-1900 đã cho xây dựng 30km ống dẫn nước từ Uông Bí về thành phố [20,46]… Đường dây điện thoại đầu tiên của Nam Kỳ khánh thành vào ngày 27-3-1862, 3 tháng sau khi chiếm Biên Hòa Mạng điện thoại này, lúc ấy có 600 km ở trong xứ Nam
Kỳ, nối từ Sài Gòn đến Châu Đốc Với bên ngoài, nó nối với các nước Ấn
Độ thuộc Anh đi đến Rangoon, tương lai sẽ nối dài đến Bangkok, Singapore
và cả Châu Phi [16,99] Với các dịch vụ và phương tiện hiện đại này, thực
dân Pháp đã từng bước “liên kết chặt chẽ thuộc địa với chính quốc, với các
cảng thương mại lớn và quan trọng nhất trên đường lộ Trung Hoa, Singapore, Bangkok, Rangoon, Calcutta, Batavia…[16,100] Tuy nhiên, về
cơ bản, nhân dân lao động không phải là những người được hưởng thành tựu của công cuộc đô thị hóa Bên cạnh những khu nhà biệt thự với đầy đủ tiện nghi là các khu nhà ổ chuột của người lao động thiếu điều kiện tối thiểu của cuộc sống
Đô thị phát triển dẫn tới sự phát triển của tầng lớp thị dân Thị dân bao gồm những giai cấp như công nhân, tư sản, tiểu tư sản trí thức, vô sản Các tầng lớp tư sản Pháp, tư sản và tiểu tư sản bản địa, giai cấp công nhân lao động là những thành phần dân cư đô thị mới, cũng là những thành phần
xã hội mới trong kết cấu xã hội Việt Nam Từ thành thị, lối sống thị dân phương Tây cùng với những sản phẩm tinh thần của giai cấp tư sản thời đại
đế quốc được du nhập vào nước ta tạo nên sự xung đột mới cũ bên cạnh
Trang 30chính sách lạc hậu, tối tăm của nông thôn Việt Nam Thành thị cũng chính là nơi diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt về văn hoá, lối sống, về tư tưởng và chính trị
Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời sớm hơn các giai cấp tư sản và tiểu tư sản ngay từ cuối thế kỷ XIX khi thực dân Pháp tiến hành xây dựng hệ thống đường sá, cầu cống hay những công sở đầu tiên Số lượng công nhân tăng dần lên khi người Pháp thành lập các nhà máy điện, nước, dệt, thuộc da… Đặc biệt, kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lực lượng công nhân đã rất phát triển Công nhân Việt Nam có nguồn gốc từ nông dân, thường là bị vô sản hóa, có mối liên hệ khắng khít với giai cấp nông dân Đời sống của giai cấp công nhân rất vất vả vì dù làm trong các xí nghiệp của
tư bản người Pháp hay tư bản người Việt cũng đều phải lao động trong điều kiện không tốt Quan hệ giữa công nhân và chủ tư bản là quan hệ giữa người
bị bóc lột và kẻ bóc lột
Giai cấp tư sản gồm hai bộ phận chính: tư sản nước ngoài và tư sản Việt Nam Tư sản Pháp là lực lượng có mặt sớm nhất, đại diện cho nền sản xuất tư bản chủ nghĩa hùng hậu ở Châu Âu trên đất Đông Dương Tư sản Việt Nam chủ yếu phát triển từ các thầu khoán, đại lí cho tư bản nước ngoài Bên cạnh bộ phận làm ăn liên kết với Pháp cũng xuất hiện một bộ phận làm
ăn riêng biệt như nhà tư sản Đỗ Hữu Trực, Trương Hoành Tĩnh mở nhà máy rượu Văn Điển Sự phát triển của hoạt động thương mại đã đem đến những
cơ hội kinh doanh làm giàu cho một số thương nhân người Việt và họ bắt đầu ra làm ăn riêng, trở thành nhà tư bản Ngay từ cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX, người ta đã thấy có rất nhiều những hãng buôn của người Việt Năm
1899 ở Hà Nội đã có 73 nhà công thương Việt Nam gồm 60 nhà buôn, 12 chủ xưởng và 1 thầu khoán Ở Sài Gòn năm 1896 có 366 nhà công thương Việt Nam [25,127]… Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, tầng lớp tư sản đã
Trang 31phát triển hơn, đánh dấu bằng sự ra đời của hàng loạt các cơ sở kinh doanh, đặc biệt sự tồn tại của một số cửa hàng có uy tín và quy mô khá lớn như: Công ty gốm Nguyễn Bá Chính có số vốn 130.000$ và 200 công nhân làm ở nhà máy gạch Thanh Trì…[23,15], hãng buôn Đan Phong chuyên buôn hàng ngoại hóa đứng độc quyền ở Bắc Kỳ và có các chi nhánh tại Hải Phòng, Nam Định, Hưng Yên; nhà tư sản Bạch Thái Bưởi và Nguyễn Hữu Thu đã
có hàng chục tầu thủy và sà lúp chở khách trên sông Bắc Kỳ Tuy số lượng các nhà tư sản lớn chưa nhiều, địa vị kinh tế còn thấp nhưng tầng lớp tư sản
đã góp phần đáng kể vào quá trình phát triển kinh tế hàng hóa thời kỳ này đồng thời cũng tạo nền tảng cho sự lớn mạnh và trở thành giai cấp hoàn chỉnh vào những năm 1920 Dần lớn mạnh về kinh tế thì ý thức chính trị cũng ngày một gia tăng Tư sản Việt Nam cũng tham dự vào công cuộc đấu tranh chống Pháp-trước tiên là tư bản Pháp- để đòi quyền lợi giai cấp, rồi tiến tới đòi tự do dân chủ…
Cùng với sự ra đời của giai cấp tư sản là các tầng lớp tiểu tư sản, có trước và đông hơn tầng lớp tư sản Thành thị thường là những trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa, nên tầng lớp tiểu tư sản đều tập trung tại đây Họ
là tiểu thương, tiểu chủ, công chức, giáo viên, những người làm nghề tự do như văn nghệ sĩ… Bộ phận năng động nhất của tầng lớp tiểu tư sản là các trí thức, học sinh, sinh viên Họ là lớp người đầu tiên tiếp xúc với các tư tưởng tiến bộ và cũng là những người đầu tiên truyền bá các tư tưởng ấy vào trong quần chúng nhân dân Chính quyền thuộc địa hiểu rất rõ vai trò của trí thức
trong phát triển xã hội “Kẻ nào nắm được những phần tử có học, sẽ nắm
được vương quốc, bởi vậy phải sử dụng họ chứ không phải là chống lại họ”[33, 257,258] Ban đầu là việc sử dụng và cải tạo phái cựu học Còn việc
“đào tạo lớp trí thức tân học một cách chính quy bắt đầu với nghị định ngày
21/2/1917 của toàn quyền Đông Dương Anbe Xaro “Quy chế chung về
Trang 32ngành giáo dục ở Đông Dương” mà đương thời gọi là Học chính tổng quy.”[33,268] Sau chương trình cải cách giáo dục của Albert Sarraut, hệ
thống giáo dục có đủ các cấp từ tiểu học tới trung học chuyên nghiệp và cao đẳng, đại học với sự tồn tại của hai chế độ giáo dục Pháp và Pháp – Việt Ngoài hệ thống trường học do chính quyền mở ra hồi đầu thế kỷ XX đã xuất hiện thêm nhiều trường tư thục do nhu cầu học tập rất cao của nhân dân mà ngôi trường thu hút đông đảo sự tham gia của nhiều tầng lớp nhân dân là trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội mà sau đó tạo thành một phong trào nghĩa thục rộng rãi trên cả nước Bộ phận những nhà trí thức Tây học được đào tạo một cách cặn kẽ hơn, tiếp nhận văn hóa phương Tây một cách đầy
đủ hơn xuất hiện nở rộ vào những năm 20 của thế kỷ XX Chính họ là những người tạo nên sự sôi động trong sinh hoạt văn hóa – nghệ thuật ở Hà Nội thời kỳ này
Tầng lớp tiểu tư sản cũng có cuộc sống khó khăn, chật vật Trong khi
“ý thức tư tưởng của họ gắn liền với giai cấp tư sản” thì “đời sống thực tế
của họ lại gần gũi với giai cấp vô sản”[26,167] Điều này lí giải vì sao các
tầng lớp tiểu tư sản đã tham gia hăng hái các phong trào cách mạng ở thời kỳ này và những năm về sau Những hoạt động tiêu biểu của các tầng lớp tiểu
tư sản Hà Nội là tham gia phong trào đòi tự do dân chủ, đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, phong trào để tang Phan Châu Trinh…
Nông dân là giai cấp chiếm đại bộ phận cư dân trong xã hội Cùng với công cuộc khai thác thuộc địa, đời sống của giai cấp nông dân ngày càng vô sản hóa Nào là sưu cao thuế nặng, nào là ruộng vườn bị mất… đã đẩy họ tới bước trở thành giai cấp vô sản trong xã hội Giai cấp này từ nông thôn, dần dần kéo nhau ra các thành phố, trở thành người làm thuê, làm công nhân trong xưởng máy, cũng có khi trôi dạt về các đồn điền, làm công nhân nông
Trang 33nghiệp Họ có mối quan hệ gắn bó khăng khít về nguồn gốc cũng như quyền lợi với giai cấp công nhân
Chính những chuyển biến sâu sắc về kinh tế đã dẫn tới những biến động về xã hội – giai cấp Trên cơ sở đó đã tạo ra các điều kiện vật chất cho
sự hình thành và phát triển các phong trào yêu nước mang mầu sắc mới và những khuynh hướng khác nhau ở nước ta hồi đầu thế kỷ XX
Thành thị là nơi tạo và diễn ra hoạt động giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông-Tây sôi nổi nhất vì đó không chỉ là nơi tập trung những lực lượng tiến
bộ của xã hội, đó còn là nơi tập trung nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa mới như nhiếp ảnh, báo chí, điện ảnh, kịch, chiếu bóng… trong đó đáng kể nhất phải kể tới hoạt động báo chí Qua tiếp xúc văn hóa, các luồng tư tưởng mới cũng xâm nhập vào Việt Nam Có ba con đường chính truyền tải tư tưởng phương Tây vào nước ta thời kỳ đó là thông qua Tân văn, Tân thư, Tân báo
từ Trung Hoa; phong trào Đông Du và trực tiếp từ phương Tây
Tư tưởng phương Tây được khúc xạ qua những Tân văn, Tân thư của các nhà cải cách Trung Hoa là Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi Giới sĩ phu thức thời đã truyền tay nhau, từng bước tiếp nhận tư tưởng về tự do, dân quyền, nhân quyền… vì “Tân thư đồng nghĩa với dân chủ, dân quyền và
cũng đồng nghĩa với cứu nước”[10,248] Đầu thế kỷ XX, “các phong trào từ
Đông Du (1904-1908) do nhà chí sĩ Phan Bội Châu lãnh đạo đến Đông kinh nghĩa thục (1907) do Lương Văn Can cùng một số sĩ phu khởi xướng, rồi đến phong trào yêu nước cách mạng buổi đầu thế kỷ đều mang một màu sắc mới, với dấu ấn rõ rệt của tư tưởng dân chủ tư sản được Tân thư truyền bá”[10,314]
Các chí sĩ Đông du là những người phất ngọn cờ đầu minh chứng cho ảnh hưởng của Tân thư ở Việt Nam Những Phan Bội Châu, những Phan
Trang 34Châu Trinh cùng các chí sĩ yêu nước “nối gót nhau qua Nhật (1905-1906) để chứng kiến tận mắt bài học Âu hóa”[37, 33] Khi phong trào Đông Du diễn
ra, du học sinh Việt Nam là những người tiếp cận tư tưởng phương Tây khi
đó đang thịnh hành tại Nhật Bản Rồi từ đó, họ kết hợp với nhà trường Đông Kinh nghĩa thục, truyền tải tư tưởng mới tới các tầng lớp nhân dân và phát triển thành phong trào nghĩa thục-một phong trào cải cách văn hóa-tư tưởng, hoạt động công khai và rầm rộ một thời “Có thể nói, Đông kinh nghĩa thục – gồm các nhà sáng lập, tổ chức giảng dạy và sáng tác, biên soạn khá nhiều sách báo là “tụ điểm” của “ảnh hưởng Tân thư”[10,258]
Bằng hệ thống giáo dục, hệ thống truyền thông, thực dân Pháp đã từng bước đưa tư tưởng phương Tây, tư tưởng Pháp vào nước ta Tuy nhiên, những tư tưởng được người Pháp truyền bá thông qua hệ thống giáo dục, văn hóa do chúng bảo hộ đều không đầy đủ Chỉ đến khi, những học sinh, sinh viên người Việt trực tiếp sang Pháp học tập, nghiên cứu và tiếp cận một cách hệ thống, rồi trở về và phổ biến lại thì những tư tưởng này mới được phổ biến một cách sâu sắc và nở rộ hơn Có thể kể tới công lao của những nhà truyền bá tư tưởng phương Tây hồi đầu thế kỷ XX ở Hà Nội như Bùi Quang Chiêu, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Aí Quốc
Nhìn chung, vào đầu thế kỷ XX, có hai luồng tư tưởng được phổ biến
là tư tưởng dân chủ tư sản và hệ tư tưởng Mác –Xít Đó là thời kỳ diễn ra quá trình “lựa chọn – thử nghiệm” tư tưởng dân chủ tư sản với mọi màu sắc
và tư tưởng cộng sản đối với nhiệm vụ giải phóng dân tộc Các nhà Nho tiến
bộ và trí thức Tây học đã giương cao ngọn cờ dân chủ tư sản để chống Pháp với các phong trào Đông Du, Duy Tân, cao trào đòi tự do dân chủ những năm 1925-1926 mà đỉnh cao là phong trào yêu nước của Việt Nam quốc dân
Trang 35đảng Tất nhiên, dù cho hệ tư tưởng tư sản cuối cùng cũng tỏ ra bất lực trước nhiệm vụ lịch sử nhưng Việt Nam đã thành công khi vận dụng tư tưởng vô sản trong việc đánh bại chủ nghĩa thực dân và phong kiến, giành lại độc lập dân tộc
2 Hoạt động báo chí những năm đầu thế kỷ XX
Báo chí sớm trở thành công cụ phục vụ đắc lực cho việc tuyên truyền chính sách của thực dân Pháp trên mọi phương diện quân sự, kinh tế, chính trị, giáo dục… Sự ra đời của báo chí tại Việt Nam là nhằm để thực dân Pháp
“phô trương sự hào nhoáng của văn minh Âu-Tây, hòng tấn công làm suy
sụp tinh thần những người còn hoài vọng vương triều nhà Nguyễn”[47,12]
Nam Kỳ là nơi xuất hiện tờ báo đầu tiên, cũng là nơi phát triển ngành báo trước hết Điều này thật dễ hiểu vì Nam Kỳ là nơi Pháp dành được quyền kiểm soát trước tiên Vì lẽ đó, Nam Kỳ là nơi sớm hội tụ ba điều kiện
để xuất hiện một nền báo chí Đó là những điều kiện kỹ thuật với sự du nhập của nghề in hoạt bản, sự du nhập và hoàn thiện của chữ Quốc ngữ cũng như một lượng độc giả đông đảo ở đô thị, giới quan lại, viên chức Báo chí được
sử dụng là phương tiện để thông tin và quảng bá đường lối, chính sách của chính quyền thực dân Đó là lí do để thấy tờ báo đầu tiên ra đời là một tờ
Công báo tiếng Pháp: tờ Bulletin official de L’expédition de Cochinchine
(Tập san quân viễn chinh Nam Kỳ, viết tắt là BOEC)[30,82] Đúng với chức năng của nó, nội dung báo là những văn kiện quan trọng như nghị định, quyết định, nhật lệnh… phần lớn của thống đốc Nam Kỳ, nhằm quy định những biện pháp quản lí các vùng đất đã lọt vào tay thực dân Pháp
Năm 1861, Đô đốc Bonard ra tờ báo thứ hai nhan đề là Bulletin des
Communes viết bằng chữ Hán Đó là một cơ quan để hiểu dụ cho dân Tờ
báo thứ ba lại tiếp tục bằng tiếng Pháp, riêng mục đích thì có khác hơn, tờ
Trang 36Bulletin du Comité agricol et industriel de la Cochichine-nghiên cứu về nông nghiệp và công nghệ xứ này và mở ra công cuộc đấu xảo hàng năm để khuyến khích hai nghề đó
Nhìn một cách tổng thể, những tờ báo đầu tiên phần lớn là những tờ báo tiếng Pháp, của người Pháp Đó có thể là những tờ công báo của nhà nước hoặc là những tờ báo của tư nhân nhưng phần lớn đều đăng tải những
việc liên quan đến chính quyền thuộc địa Tờ Gia Định báo ra đời năm 1865
là tờ báo Quốc ngữ đầu tiên cũng ra đời trên đất Nam Kỳ Tờ báo này có một phần công vụ dịch đăng các nghị định thông tư của chính phủ Từ khi làm chủ bút Gia Định báo, Trương Vĩnh Ký đã chuyển Gia Định báo từ thể thức một tờ công báo thành một tờ báo thông thường với nhiệm vụ: cổ động lối học mới, phát triển chữ Quốc ngữ và khuyến khích dân chúng học chữ quốc ngữ Ông chính là người đặt nền móng cho báo chí quốc ngữ Việt Nam.Về sau, báo chí tiếng Pháp mở rộng hơn sang các lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, khảo cứu… đặc biệt là từ khi xuất hiện Luật tự do báo chí đầu tiên ở Nam Kỳ
Sắc lệnh về báo chí đầu tiên được ban hành và áp dụng tại Nam Kỳ ngày 22/9/1881 Sắc lệnh này cho phép Nam Kỳ được áp dụng Luật tự do báo chí đã được ban hành ở Pháp ngày 29/7/1881 nhưng chỉ áp dụng cho các báo xuất bản bằng tiếng Pháp
Sự xuất hiện sớm của người Pháp cộng thêm điều khoản ưu tiên này, báo chí tiếng Pháp ở Nam Kỳ những năm cuối thế kỷ thứ XIX đã rất phát triển
Bên cạnh những tờ công báo của nhà nước, người ta thấy đã xuất hiện
tờ báo chính trị tư nhân đầu tiên như tờ Le Gong Tiếp đến là những tạp chí
khảo cứu-những cơ quan ngôn luận của các tổ chức gắn liền với công cuộc khai thác thuộc địa Đó là tờ Bulletin du Comité agricole et industriel de la
Trang 37Cochinchine – Kỷ yếu của Uỷ ban canh nông và kỹ nghệ xứ Nam Kỳ, chuyên đăng các bài khảo cứu, điều tra tình hình mọi mặt thuộc địa; tờ Bulletin de la Societé des Etudes Indochinoises - Kỷ yếu của Hội nghiên cứu Đông Dương…
Những xu hướng này cũng xuất hiện ở Bắc Kỳ, nơi báo chí ra đời muộn hơn
Tờ báo đầu tiên ở Bắc Kỳ cũng là một tờ báo tiếng Pháp Đó là tờ
Bulletin Officiel du Protectorat de l’Ánnam et du Tonkin (Tập kỷ yếu công
vụ của nền Bảo hộ xứ Trung và Bắc Kỳ) xuất bản năm 1883 Đúng như cái tên của nó, tờ báo là tiếng nói của đội quân viễn chinh Số đầu tiên đăng các văn kiện về việc triều đình Huế đầu hàng Tạp chí của Uỷ ban canh nông và
kỹ nghệ xứ Bắc Kỳ ra đời năm 1886 Đó cũng là năm xuất hiện tờ báo tư
nhân đầu tiên-tờ Le courrierd’Hải Phòng…
Trong khi đó, sắc lệnh đầu tiên áp dụng cho tất cả các loại báo bằng
tất cả các thứ tiếng được ký ngày 30/12/1898 và được công bố ngày
30/1/1899– tức là sau gần 40 năm tờ báo đầu tiên ra đời Nội dung cơ bản của Sắc lệnh này quy định:
- Chủ nhiệm, chủ bút phải là người Pháp hoặc có quốc tịch Pháp
- Không có giấy phép, tuyệt đối cấm không được ra báo, dù là báo bằng tiếng Pháp
- Tuyệt đối cấm không được viết, in, lưu hành, bán hoặc nhập các loại sách, báo, tranh ảnh có hại cho chính quyền (thực dân)
- Toàn quyền Đông Dương có quyền ra nghị định đình chỉ bất cứ tờ báo hay tạp chí nào xuất bản tại Đông Dương, hoặc đình chỉ việc lưu hành bất cứ
tờ báo hay xuất bản phẩm nào ấn hành ở nước ngoài nhập vào Đông Dương
- Mọi sự vi phạm sác lệnh về chế độ báo chí này đều bị nghiêm trị Các tòa án, các cơ quan cảnh sát chịu trách nhiệm theo dõi việc này
Trang 38Rõ ràng đây là động thái nhằm duy trì báo chí là công cụ độc quyền phục vụ lợi ích của chính quyền thực dân Không phải quá gay gắt khi nhận
xét: các quyền tự do căn bản cũng lại vắng mặt vì không có tự do báo chí;
muốn ra báo phải xin phép trước và phải có bảo chứng; các tờ báo lại phụ thuộc chế độ kiểm duyệt và có thể bị đình bản bất cứ lúc nào” [1, 149] Vì
vậy, “cho đến hết đại chiến lần thứ nhất, chỉ người Pháp được phép mở báo,
người Việt Nam chỉ có thể giúp việc cho người Pháp” và nội dung báo chí
cũng bị kiểm soát
Trong vòng kiểm duyệt gắt gao như thế, báo chí ở Việt Nam vẫn từng bước phát triển Tiếp bước tờ báo Quốc ngữ đầu tiên, tờ Gia Định báo, báo chí quốc ngữ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX phát triển nở rộ hơn
Nếu như tờ Gia Định báo bên cạnh việc phát hành những thông tư, nghị định của chính phủ… đã có những bài khảo cứu, nghị luận, thơ ca… thì
tới Phan Yên báo (1898), nội dung yêu nước đã được nêu lên một cách rõ
rệt Năm 1898 cũng là năm kết thúc sự tồn tại của tờ báo này vì nó đi ngược với Sắc lệnh báo chí 30/12/1898 Không đăng tải công báo, không nói
chuyện chính trị, tờ Nông cổ mín đàm số đầu tiên ra mắt ngày 1/8/1901 lại
bàn chuyện kinh tế, bày cách làm kinh tế, cổ vũ phát triển canh nông, kỹ
nghệ… Lục Tỉnh tân văn (1907-1944) là tờ báo có khoảng thời gian tồn tại
lâu dài và “mầu sắc tờ báo cũng khác đi” sau mỗi lần thay đổi chủ bút Chủ bút đầu tiên là Trần Chánh Chiếu, viết nhiều về cuộc vận động duy tân, kêu gọi chống hủ tục, bàn về lập trường dân tộc… Về sau xu hướng chính trị của Lục tỉnh tân văn chủ yếu phục vụ chính sách của chủ nghĩa thực dân Pháp
Nghề làm báo Việt Nam phát triển từ miền Nam ra, theo tiến trình xâm lược thuộc địa của thực dân Pháp So sánh giữa Nam và Bắc Kỳ, nghề làm báo ở Hà Nội chậm hơn Sài Gòn chừng 20 năm Một số tờ báo ra đời
trong quãng hồi đầu thế kỷ XX như tờ Đại Việt quan báo, Đăng cổ tùng báo
Trang 39(1907), Đông Dương tạp chí (1913)… Sau thế chiến I là thời kỳ nở rộ báo
chí Bắc Kỳ (chủ yếu ở Hà Nội) với sự ra đời của các tờ báo: Trung Bắc tân văn, Nam Phong tạp chí, Thực Nghiệp dân báo, Khai hóa nhật báo, Hà Thành ngọ báo và Đông Tây, Hữu Thanh, An Nam tạp chí Riêng ở miền
Trung báo chí ra đời rất muộn Tờ báo đầu tiên là tờ Tiếng Dân, do nhà chí
sĩ Huỳnh Thúc Kháng đồng sáng lập và trực tiếp làm chủ nhiệm, kiêm chủ bút, ra số đầu tiên ngày 10-8-1927 Bên cạnh một số người quản lý tờ báo, Tiếng Dân quy tụ được khá nhiều nhân sĩ, trí thức cộng tác, như Phan Bội Châu, Đào Duy Anh, Lê Nhiếp, Nguyễn Quý Hương…
Phụ thuộc vào chế độ báo chí, báo chí Việt Nam rất khó để nói lên được quan điểm, thái độ chống đối lại chính quyền Số lượng các tờ thân Pháp, hoặc trung lập là rất nhiều Tuy vậy, từ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện ngày càng nhiều những tờ báo có tinh thần dân tộc và chống Pháp, càng về sau, số lượng càng gia tăng và nội dung thì càng phong phú
Để dẫn tới sự phát triển của báo chí Việt Nam phải kể đến nhiều yếu
tố bao gồm sự phát triển của công nghệ in ấn và sự gia tăng số lượng các nhà in; Sự hoàn thiện của hệ thống chữ quốc ngữ, và không kém phần quan trọng
là đội ngũ nhà báo
Công nghệ in ấn thời kỳ này đã hiện đại hơn thời trước Kỹ thuật in chuyển từ kỹ thuật in mộc bản, thạch bản lạc hậu sang kỹ thuật in hoạt bản Công lao đầu tiên thuộc về thủy sư đô đốc Bonard-người làm tờ báo thứ nhất
ở nước ta Ông này mang theo một ít chữ, một cái máy in và mấy người thợ
in, lập nhà in ở Sài Gòn và đã xuất bản tờ báo thứ nhất nhan đề Bulletin
official de L’Expédition de la Cohinechine để đăng những nghị định và công
văn của Chánh phủ
Nhà in thứ nhất ở Bắc Kỳ do chính phủ bảo hộ lập tại Hà Nội vào quãng November 1873 Schneider là nhân viên của nhà in đó Năm 1893,
Trang 40Schneider ra lập nhà in riêng, cho xuất bản tờ quan báo chữ Hán Đại Nam đồng văn Nhật báo sau đổi là Đăng cổ tùng báo…
Sau đó, lần lượt các nhà in khác ra đời ở Hà Nội Các nhà in của các công ty Pháp như nhà in IDEO, nhà in Taupin, nhà in của Dufour mà Nguyễn Văn Vĩnh có hùn vốn cộng tác Nhà in của người Việt tập trung ở phố Hàng Gai, Hàng Bông Nhiều nhà mua được máy in nhỏ đạp chân in bốn trang nhãn hiệu Minerve hoặc là máy Marinoni của Pháp Đó là các nhà
in hiệu sách Thụy Ký, nhà cụ Quảng Thịnh, nhà in Ngô Tử Hạ, nhà in Mạc Đình Tư (sau này là nhà in Lê Văn Tân, tức con rể, có máy Elby là loại máy
in mới hồi bấy giờ), nhà in Vĩnh Phúc Thành do 3 ông Nguyễn Văn Vĩnh,
Lê Văn Phúc và Bùi Xuân Thành chung mua lại nhà in của ông Schneider, nhà in Đông Kinh ấn quán của Lê Văn Phúc in báo Nam Phong, nhà in Bùi Xuân Thành in báo Hà Thành ngọ báo
Ngành báo phát triển nhờ công rất lớn bởi sự hoàn thiện chữ Quốc ngữ Chữ Quốc ngữ là “công trình tập thể” của nhiều giáo sĩ dòng Tên, các thầy giảng người bản xứ… Trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, thứ chữ này chỉ chủ yếu dùng trong Giáo hội và ở một phạm vi hẹp sau này được dùng trong báo chí ở Nam Kỳ mà Trương Vĩnh Ký là người hoạt động tích cực nhất
Trương Vĩnh Ký với tờ Gia Định báo, Thông loại khoá trình và
những công trình trước tác của ông đã trở thành tên tuổi lỗi lạc trong số các nhà tiên phong dấn thân cho việc hình thành nền văn học chữ quốc ngữ Gía trị của chữ Quốc ngữ đến thế kỷ XX mới thực sự được khẳng định Trong phong trào Duy tân đầu thế kỷ XX, các nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu… hô hào học chữ Quốc ngữ Chữ quốc ngữ theo hệ thống mẫu tự Latinh nên dù ra đời muộn nhưng Paris đúc được các kiểu chữ nào thì Đông Dương cũng có các co chữ ấy Phần lớn là dùng được ngay, chỉ có