1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiếng Việt của trẻ em trong gia đình Việt - Trung ở Châu Hồng Hà (Vân Nam-Trung Quốc)

86 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, do sự giao lưu kinh tế thương mại phát triển giữa hai nước, gia đình Việt- Trung càng ngày càng nhiều.Từ đó, những vấn đề về gia đình Việt –Trung nảy sinh ngày càng nhiều trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VIỆT NAM HỌC VÀ TIẾNG VIỆT

**********

HÀ NHIỆM DUNG (HE YAN RONG)

TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ EM LAI TRONG GIA ĐÌNH VIỆT – TRUNG Ở CHÂU HỒNG HÀ

(VÂN NAM – TRUNG QUỐC)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA VIỆT NAM HỌC VÀ TIẾNG VIỆT

**********

HÀ NHIỆM DUNG ( HE YAN RONG )

TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ EM LAI TRONG GIA ĐÌNH VIỆT – TRUNG Ở CHÂU HỒNG HÀ

(VÂN NAM – TRUNG QUỐC)

Mã số học viên : 15035456 (Trung Quốc)

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI DUY DƯƠNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: "Tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt – Trung ở Châu Hồng Hà ( Vân Nam – Trung Quốc)" là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn và góp ý của TS Bùi Duy Dương Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn

Hà Nhiệm Dung

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Việt Nam học và tiếng Việt, phòng Đào tạo– trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian em học tập tại trường

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Bùi Duy Dương, người đã trực tiếp hướng dẫn em một cách tận tình và tạo những điều kiện tốt nhất để em có thể hoàn thành luận văn của mình

Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bạn bè, gia đình và các học viên đã cũng chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017 Tác giả luận văn

Hà Nhiệm Dung

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Ý nghĩa đề tài 2

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề: 2

4 Đối tượng nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7

1.1 Một số khái niệm cơ bản 7

1.1.1 Gia đình Việt – Trung 7

1.1.2 Tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai 8

1.1.3 Lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ 10

1.2 Lịch sử gia đình Việt-Trung 13

1.2.1 Quá trình hình thành gia đình Việt Trung trong lịch sử 13

1.2.2.Quá trình hình thành gia đình Việt Trung trong giai đoạn hiện nay 15 1.3 Thực trạng của gia đình Việt-Trung tại Trung Quốc 17

1.3.1 Bố mẹ trong gia đình Việt- Trung 17

1.3.2 Con cái trong gia đình Việt- Trung 20

1.3.3 Những vấn đề khó khăn của gia đình Việt Trung 22

1.4 Tiểu kết 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ EM LAI TRONG GIA ĐÌNH VIỆT TRUNG Ở CHÂU HỒNG HÀ 25

2.1 Đặc điểm chung của khu vực Châu Hồng Hà 25

2.1.1 Châu Hồng Hà 25

2.1.2 Huyện Hà Khẩu 26

2.1.3 Huyện Kim Bình 26

2.2 Một số gia đình con lai Việt- Trung tiêu biểu 27

2.3 Khảo sát thực trạng tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt- Trung ở Châu Hồng Hà 32

Trang 6

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ EM

LAI TRONG GIA ĐÌNH VIỆT TRUNG Ở CHÂU HỒNG HÀ 42

3.1 Những nhân tố tác dộng đến việc học tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà 42

3.1.1 Môi trường ngôn ngữ 42

3.1.2 Nhân tố cá nhân và thói quen cuộc sống hàng ngày 48

3.1.3 Chính sách giáo dục của nhà nước 50

3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà 51

3.2.1 Về mặt gia đình 51

3.2.2 Về mặt xã hội - cộng đồng 55

3.2.3 Về chính sách giáo dục của chính phủ hai nước 61

3.2.4.Về tính cộng đồng của những gia đình đa văn hóa 63

3.2.5 Về quan hệ hữu nghị Việt - Trung 64

3.4 Tiểu kết 66

KẾT LUẬN 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 73

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 2.1 – Khả năng ngôn ngữ của các trẻ em lai trong gia đình

Việt- Trung ở Châu Hồng Hà 33 Biểu đồ 2.2 – Trình độ tiếng Việt của các trẻ em lai trong gia đình

Việt- Trung ở Châu Hồng Hà 34 Bảng 2.3 – Tình hình hai ngôn ngữ của các trẻ em lai trong gia đình 37 Bảng 2.4 – Quan hệ việc học tiếng Việt trong gia đình và trung tâm ở Châu Hồng Hà 40

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, quan hệ ngoại giao, kinh tế

và giao lưu văn hóa giữa hai nước đã được hình thành rất lâu Trên lĩnh vực kinh

tế, các nhà đầu tư, kinh doanh Trung Quốc đi vào thị trường Việt Nam rất sớm, đồng thời Trung Quốc đã nhanh chóng trở thành nhà đầu tư và là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam Về mặt văn hóa xã hội, quan hệ trao đổi hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực văn hóa – giáo dục, khoa học kỹ thuật cũng phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, mang lại những hiệu quả thiết thực Trên thực tế, đi cùng với những thành tựu trong quan hệ giữa hai nước là không ít những vấn đề

xã hội nảy sinh và ngày càng trở thành những điểm nóng thu hút sự quan tâm của

dư luận Việt Nam, Trung Quốc Trong đó, thiết nghĩ vấn đề cấp thiết hơn cả và cần sự quan tâm nhiều hơn từ chính phủ và xã hội hai đất nước chính là vấn đề hôn nhân quốc tế giữa người Việt Nam và người Trung Quốc

Hiện nay, do sự giao lưu kinh tế thương mại phát triển giữa hai nước, gia đình Việt- Trung càng ngày càng nhiều.Từ đó, những vấn đề về gia đình Việt –Trung nảy sinh ngày càng nhiều trong các mặt nhưcuộc sống, ngôn ngữ, văn hóa v.v… của các gia đình Việt Trung như thế nào… Ở Việt Nam và Trung Quốc,nhiều nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này, về cuộc sống và hôn nhân quốc

tế giữa hai nước.Tuy nhiên, các nghiên cứu về trẻ em lai (thế hệ thứ 2) trong các gia đình Việt- Trung vẫn còn là một khoảng trống cần được quan tâm.Trong đó, ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng nhất trong gia đình quốc tế, nó có thể giúp văn hóa tư tưởng được truyền tải và gìn giữ.Cho nên nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung là cần thiết và có giá trị

Ở Trung Quốc, châu tự trị dân tộc Hà Nì- Di Hồng Hà, là một châu tự trị tỉnh Vân Nam -Trung Quốc Châu Hồng Hà có 4 thành phố, 6 huyện và 3 huyện

tự trị, có các dân tộc như Hà Nì, Di, Hán, Dao, Mông v.v, với dân số 4.130.463 người Các dân tộc thiểu số chiếm 55,69%, trong đó riêng dân tộc Di chiếm

Trang 9

23,57%, dân tộc Hà Nì 16,6% Châu Hồng Hà có biên giới giáp với Việt Nam, trong đó huyện Hà Khẩu - Trung Quốc giáp với tỉnh Lào Cai - Việt Nam, huyện Kim Bình - Trung Quốc giáp với tỉnh Lai Châu - Việt Nam.Do vị trí địa lý tiếp giáp với Việt Nam, nên hai huyện Hà Khẩu và Kim Bình có sự giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa và hợp tác ngày càng mạnh mẽ ở cửa khẩu Việt - Trung Từ

đó cũng hình thành tại đây nhiều gia đình Việt - Trung, với số lượng không nhỏ trẻ em là con lai đang sinh sống học tập tại Hà Khẩu và Kim Bình

Đó chính là lý do chúng tôi chọn đề tài “Tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt – Trung ở Châu Hồng Hà (Vân Nam – Trung Quốc)” làm đề tài nghiên cứu Qua

đó, chúng ta có thể hình dung phần nào bức tranh hiện trạng cuộc sống của những gia đình đa văn hóa Việt Trung nói chung và thực trạng tiếng Việt hiện nay của những trẻ

em lai Việt - Trung sống tại Châu Hồng Hà, Vân Nam, Trung Quốc nói riêng

2 Ý nghĩa đề tài

Đề tài “Tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt – Trung ở Châu Hồng Hà (Vân Nam – Trung Quốc)” là một đề tài có ý nghĩa.Trong tình hình hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề gia đình đa văn hóa đang được quan tâm, trong đó

có vấn đề về trẻ em lai Bên cạnh những vấn đề lí luận về gia đình đa văn hóa, về trẻ em lai, đề tài này còn tập trung hướng đến ý nghĩa thực tiễn.Việc miêu tả được một cách chân thực thực trạng cũng như năng lực tiếng Việt của các trẻ em lai trong gia đình Việt Trung là rất cần thiết Từ đó, chúng ta có thể đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tiếng Việt cho các trẻ em lai trong gia đình Việt Trung, trước hết tại các tỉnh biên giới Việt Trung như Châu Hồng Hà

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Quá trình kinh tế hội nhập quốc tế như hiện nay đã giúp cho Việt Nam có những bước chuyển biến rõ rệt về kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống con người… Một trong những vấn đề không còn mới mẻ đối với đời sống xã hội con người nhưng đối với lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu thì đang còn là một vấn đề

Trang 10

khá hấp dẫn và mới lạ, đó chính là vấn đề hôn nhân quốc tế của các cô gái, chàng trai Việt Nam với những người bạn đời ngoại quốc Đặc biệt phải nhắc đến là việc kết hôn quốc tế của các cô gái Việt Nam với các chàng trai Hàn Quốc, Trung Quốc thu hút sự chú ý mạnh mẽ của xã hội trong những năm gần đây Vấn

đề gia đình đa văn hóa đang ngày càng được giới nghiên cứu quan tâm Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về gia đình đa văn hóa như: “Phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài” của hai tác giả Lê Thị Nhâm Tuyết, Phạm Thị Minh Hằng; hay “Hiện tượng lấy chồng Hàn Quốc ở phụ nữ Việt Nam: thực trạng và một vài suy nghĩ” của Trần Văn Phương; hay “Giáo dục con cái trong gia đình đa văn hóa Hàn – Việt tại Việt Nam” của tác giả Kim Kyung Hee Ngoài ra, còn có rất nhiều các hội thảo trong nước và quốc tế hiện nay chú ý đến vấn đề thời sự này như hội thảo “Gia đình đa văn hoá Việt Nam – Đài Loan” do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội tổ chức ngày 18/12/2013 với sự tham gia của nhiều nhà khoa học Việt Nam và Đài Loan hay hội thảo quốc tế “Đa văn hóa ở Hàn Quốc và những đóng góp của ASEAN” tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hồ Chí Minh tổ chức tháng 5/2014…Các vấn đề hội thảo thường phản ánh thực trạng kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông nước ngoài trong những năm qua và đi sâu phân tích những thách thức và khó khăn mà các gia đình đa văn hoá, đặc biệt những

hệ quả về mặt văn hoá, xã hội đối với cộng đồng địa phương…Nhiều vấn đề cụ thể đã được đặt ra trong các thảo luận: Hạn chế về ngôn ngữ và học vấn khiến phụ nữ Việt Nam tại nước ngoài gặp khó khăn gì trong nuôi dậy con cái? khó khăn về kinh tế, bất đồng ngôn ngữ, văn hoá, lối sống dẫn tới những khác biệt về tâm sinh lí ảnh hưởng thế nào đến gia đình đa văn hóa?

Tuy nhiên, còn một khía cạnh quan trọng nữa trong vấn đề gia đình đa văn hóa chưa được quan tâm đúng mức.Đó chính là vấn đề trẻ em lai trong các gia đình đa văn hóa Trẻ em là con của các cặp vợ chồng đa văn hóa đó có gặp khó khăn gì trong cuộc sống không? Các em có được học hai ngôn ngữ của bố và mẹ không? Các em có bị phân biệt đối xử trong cộng động không? Nhiều câu hỏi

về thực trạng của trẻ em lai trong các gia đình đa văn hóa đang được đặt ra và

Trang 11

cần các nhà nghiên cứu quan tâm giải quyết Gần đây, nhiều dự án hỗ trợ cho trẻ

em lai đã bước đầu được thực hiện như chính phủ Hàn Quốc có chương trình

“Hỗ trợ trẻ em thuộc gia đình đa văn hóa về thăm quê ngoại” triển khai trong năm 2016 hay chính phủ Đài Loan coi tiếng Việt là ngôn ngữ thứ 2 được giảng dạy trong các bậc học của hệ thống giáo dục…

Hiện nay vấn đề này tại Trung Quốc,những tài liệu liên quan đến gia đình đa văn hóa cũng thường tập trung vào những mặt như: hôn nhân quốc tế, gia đình Việt Trung, phong trào cô dâu Việt Nam, so sánh văn hóa Việt Trung có ảnh hưởng đến gia đình đa văn hóa như thế nào…Nhưng chưa có tài liệu nào nghiên cứu cụ thể đến vấn đề ngôn ngữ tiếng Việt của trẻ em lai trong các gia đình Việt Trung sống tại Trung Quốc Vì vậy, những đề tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề trẻ em lai Việt - Trung còn rất mới mẻ, trong đó hướng nghiên cứu tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung là rất cần thiết và có giá trị

4 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các trẻ em trong gia đình đa văn hóa Việt-Trung hiện nay Theo thông lệ quốc tế, trẻ em được hiểu là những đứa trẻ chưa tới tuổi trưởng thành Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi tập trung nghiên cứu trẻ

em từ độ tuổi 6 đến 16 tuổi Trẻ em trong độ tuổi trên đã có sự nhận thức và năng lực nhất định về ngôn ngữ Các em đã có thể biết đến các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết trong ngôn ngữ Đồng thời, với độ tuổi này, chúng tôi sẽ thuận lợi hơn trong việc phỏng vấn và điều tra bảng hỏi

5 Phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được khảo sát trong phạm vi Châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam - Trung Quốc Đây là tỉnh vùng biên với Việt Nam, cụ thể là hai huyện biên giới làhuyện Hà Khẩu và huyện Kim Bình.Chúng tôi tập trung tìm hiểu các gia đình đa văn hóa Việt Trung ở hai huyện trên Đồng thời, chúng tôi tiến hành điều tra điền dã khoảng 100 gia đình đa văn hóa Việt Trung tại 2 huyện, trong đó có phỏng vấn sâu, phỏng vấn trường hợp với 20 gia đình Việt Trung cụ thể

Trang 12

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, chúng tôi lựa chọn phương pháp nghiên cứu mang tính liên ngành tập trung vào một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu của ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý học và văn hóa học

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu: tham khảo tư liệu nghiên cứu lịch sử có liên quan của Trung Quốc và Việt Nam, để có những lý thuyết cơ sở khoa học, vững chắc

- Phương pháp điều tra: chủ yếu là hình thức phỏng vấn, làm bảng hỏi Tìm đến các đối tượng phỏng vấn trực tiếp và làm bảng hỏi, để lấy được dữ liệu cụ thể hơn và trực quan hơn

- Phương pháp quan sát: Trong quá trình phỏng vấn, tùy theo tình hình của từng gia đình sử dụng phương pháp quan sát để lấy được những thông tin mới lạ

- Phương pháp thống kê: Trên cơ sở của việc điều tra, thống kể lại các bảng hỏi và bài kiểm tra, tổng hợp ra những vấn đề mới để nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp: phân tích nguyên nhân, đưa ra kết luận

7 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận Chương này nghiên cứu những vấn đề về lịch sử gia đình Việt Trung từ thời cổ đại cho đến thời hiện đại, Ngoài ra, bước đầu nêu

ra thực trạng của các gia đình đa văn hóa Việt Trung, trong đó có thực trạng của

bố mẹ và thực trạng của con cái Chương này cũng đưa ra một số khái niệm quan trọng được sử dụng trong luận văn như gia đình Việt Trung, tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai hay lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ…

- Chương 2: Thực trạng tiếng Việt của trẻ em trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà Chương này giới thiệu khái quát về khu vực châu Hồng Hà.Sau đó, khảo sát một số gia đình đa văn hóa Việt Trung Cụ thể hơn là thực trạng tiếng Việt của trẻ

em lai trong gia đình Việt Trung tại hai huyện Hà Khẩu và Kim Bình

Trang 13

- Chương 3: Những nhân tố tác động đến việc học tiếng Việt của trẻ em lai

và một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà Chương này phân tích những nhân tố tác động đến năng lực tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà trên các khía cạnh như môi trường ngôn ngữ, nhân tố cá nhân và thói quen cuộc sống hàng ngày cũng như chính sách giáo dục của nhà nước Từ đó, luận văn đưa

ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung ở Châu Hồng Hà

Trang 14

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Gia đình Việt – Trung

* Khái niệm gia đình

Với tư cách là một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội Gia đình được hình thành từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải dựa vào nhau để sinh tồn, các hình thức quần tụ giữa nam và nữ giới, những hình thức cộng đồng

tổ chức đời sống gia đình đã xuất hiện Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều hình thức gia đình như: Gia đình đối ngẫu, gia đình hôn nhân từng cặp, gia đình một

vợ một chồng

Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài.Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội

Hôn nhân và quan hệ hôn nhân là một quan hệ cơ bản của sự hình thành, tồn tại và phát triển gia đình.Huyết thống, quan hệ huyết thống là quan hệ cơ bản, đặc trưng của gia đình.Quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành viên và các thế hệ thành viên trong gia đình

* Khái niệm gia đình đa văn hóa

Theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 của Việt Nam [12]: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan

hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ

đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”

Trang 15

Như vậy, theo các quy định trên, các gia đình có yếu tố nước ngoài khi có một trong những dấu hiệu sau:

- Chủ thể trong gia đình là người nước ngoài

- Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình xảy ra ở nước ngoài

- Tài sản liên quan đến gia đình ở nước ngoài

- Nơi cư trú của các bên đương sự tham gia vào gia đình ở nước ngoài

* Khái niệm gia đình Việt – Trung

Gia đình Việt- Trung cũng là một loại gia đình có yếu tố nước ngoài, chủ thể trong gia đình là người Trung Quốc và người Việt Nam.Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân và gia đình xảy ra giữa người Việt Nam và người Trung Quốc.Tài sản liên quan đến gia đình Việt- Trung.Nơi

cư trú của hai bên đương sự tham gia vào gia đình Việt- Trung

1.1.2 Tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai

* Khái niệm tiếng mẹ đẻ

Theo Nguyễn Thiện Giáp [5], ngôn ngữ đầu tiên (hay tiếng mẹ đẻ) là một ngôn ngữ mà người ta được thừa hưởng trong thời thơ ấu, và có thể không được giảng dạy chính thức trong trường học Đặc trưng của người nói tiếng mẹ đẻ của một ngôn ngữ là trực giác về những gì họ có trong ngôn ngữ của họ mà những người khác không thể nói được tiếng mẹ đẻ

Khả năng của một ngôn ngữ không được giáo dục chính thức ở trình độ cao

sẽ giảm đi giống như là một người trở nên già nua.Trong ngôn ngữ học hiện đại,

sự khởi đầu của tuổi dậy thì thường được coi là kết thúc giai đoạn được gọi là quan trọng, trong đó sự tiếp nhận tiếng mẹ đẻ là có thể được

* Khái niệm ngôn ngữ thứ hai

Theo Nguyễn Quốc Hưng [4], một ngôn ngữ không được xem như tiếng mẹ

đẻ, thông thường được gọi là ngôn ngữ thứ hai Ngôn ngữ thứ hai (second language) là ngôn ngữ được dạy ngay trong môi trường ngôn ngữ ấy, mà ở bên

Trang 16

ngoài học sinh vẫn có thật nhiều cơ hội nghe, thấy và vận dụng những gì mình đã học.Trong thời thơ ấu, nếu có sự tiếp xúc đầy đủ, người ta có thể nói được phần lớn tiếng mẹ đẻ.Song ngữ và đa ngôn ngữ nằm trong phần lớn các tiêu chuẩn của thế giới Ở các nước phương Tây có xu hướng thay thế ngôn ngữ khác nhau của dân chúng ở các khu vực địa phương, thành một thứ tiếng duy nhất, đó là ngôn ngữ theo tiêu chuẩn quốc gia

Việc tiếp nhận của ngôn ngữ thứ hai thường là khó khăn hơn tiếng mẹ đẻ và

để duy trì kiến thức của họ, cần thiết phải tiếp tục sử dụng thường xuyên Theo các nhà ngôn ngữ học, đó là truyền thống: tiếng mẹ đẻ được thừa hưởng, ngôn ngữ thứ hai được học tập để nói chuyện Đặc biệt trong ngôn ngữ thứ hai những

gì có liên quan đến kiến thức hiểu biết thụ động của tiếng mẹ đẻ, thì sự hiểu biết

đó thường được tốt hơn so với những kiến thức tích cực, việc sử dụng ngôn ngữ riêng của mình Ngay cả đối với một người có thể dễ dàng nói ngôn ngữ thứ hai một cách hoàn hảo cũng phải thường lưu ý rằng đó không phải là tiếng mẹ đẻ của người nói vì giọng lạ

Mức độ phát triển tiếng mẹ đẻ của trẻ em là yếu tố dự báo chắc chắn về khả năng phát triển ngôn ngữ thứ hai của chúng Trẻ em đi học với nền tảng tiếng mẹ

đẻ vững chắc sẽ phát triển khả năng đọc viết tốt hơn trong ngôn ngữ ở trường học khi cha mẹ và người chăm sóc khác dành thời gian cho con cái và kể chuyện hoặc chia sẻ các vấn đề với trẻ để phát triển từ vựng và các khái niệm bằng tiếng

mẹ đẻ, thì trẻ em tới trường với hành trang vững vàng để học ngôn ngữ trong trường và đạt được kết quả tốt Kiến thức và các kỹ năng của trẻ chuyển ngôn ngữ mẹ đẻ chúng được học ở nhà thành ngôn ngữ trong trường.Từ quan điểm về

sự phát triển các khái niệm, các kỹ năng tư duy của trẻ, hai ngôn ngữ có mối quan hệ với nhau Việc chuyển giao ngôn ngữ có thể theo hai chiều: khi tiếng mẹ

đẻ được dạy trong trường và phát triển tại nhà, thì những khái niệm, các kỹ năng ngôn ngữ và đọc viết mà trẻ học được trong ngôn ngữ chiếm tỷ lệ cao có thể chuyển sang ngôn ngữ ở nhà Tóm lại, cả hai ngôn ngữ hỗ trợ nhau khi môi trường giáo dục và gia đình cho phép trẻ em tiếp xúc với cả hai ngôn ngữ

Trang 17

1.1.3 Lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ

Thụ đắc ngôn ngữ là một thuật ngữ của tâm lí học và ngôn ngữ học.Thụ đắc ngôn ngữ được hiểu là quá trình mà đứa trẻ chiếm lĩnh, nắm bắt ngôn ngữ để giao tiếp Đó chính là quá trình hiểu và sử dụng ngôn ngữ Diễn giải đơn giản hơn thì có thể hiểu thụ đắc ngôn ngữ là quá trình học ngôn ngữ một cách tự nhiên Thụ đắc ngôn ngữ cũng có thể được xem là một đặc trưng riêng vốn có của loài người

Theo Huỳnh Thị Bích Vân [8], vào những năm 1970, lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ của Krashen cho rằng con người có khả năng học ngôn ngữ bẩm sinh

và không có khác biệt đáng kể nào giữa cách chúng ta học tiếng mẹ đẻ và cách chúng ta học ngoại ngữ Cách học ngoại ngữ hiệu quả theo Krashen có thể được tóm tắt như sau: Chúng ta phát triển năng lực ngôn ngữ (mẹ đẻ hay ngoại ngữ) thông qua quá trình thụ đắc trực tiếp, không phải từ việc học thuộc danh sách từ vựng, quy tắc văn phạm hay làm bài tập Hiệu quả thụ đắc trực tiếp diễn ra khi ta

có thể hiểu được nội dung mà ta tiếp nhận trong trạng thái tinh thần thoải mái Để kết quả thụ đắc trực tiếp biến thành năng lực ngôn ngữ thì quá trình tích lũy phải dài và nội dung tiếp nhận phải đa dạng và đủ nhiều

Trang 18

động vô thức, diễn ra khi ta tiếp xúc trực tiếp với ngoại ngữ nhằm mục đích truyền thông, tương tự như quá trình trẻ em học tiếng mẹ đẻ Học gián tiếp (learning) là hoạt động có ý thức, diễn ra khi ta học thuộc các kiến thức về ngoại ngữ như danh sách từ vựng, quy tắc văn phạm, chú ý khi sử dụng v.v

Thụ đắc trực tiếp đóng vai trò chủ đạo trong việc hình thành khả năng ngoại ngữ gần như toàn diện của chúng ta và là nhân tố duy nhất tạo nên sự lưu loát (fluency) Học gián tiếp không thể thay thế được thụ đắc trực tiếp và chúng ta không bao giờ đạt được sự lưu loát nếu chỉ học gián tiếp.Học gián tiếp chỉ có tác dụng giúp cải thiện tính chính xác (accuracy) bằng cách kiểm soát và sửa lỗi đầu

ra tức thời bên trong trước khi diễn đạt ra bên ngoài Tuy nhiên Mô hình Kiểm soát này chỉ diễn ra khi hội đủ 3 điều kiện:

 Người học phải nhớ rõ quy tắc sẽ áp dụng

 Người học phải tập trung vào hình thức diễn đạt (song song với việc tập trung vào ý nghĩa)

 Người học phải có thời gian để điều chỉnh

Hình thức học gián tiếp, do vậy chỉ thích hợp để áp dụng cho những nội dung chưa được chúng ta thụ đắc trực tiếp, những nội dung tương đối rõ ràng về lô-gic

và trong những trường hợp chúng ta có thời gian để chuẩn bị (ví dụ như viết) Ngoài ra, chúng ta thụ đắc văn phạm theo một trình tự tự nhiên nhất định (Giả thiết Trình tự tự nhiên) được quyết định bởi khả năng ngôn ngữ bẩm sinh và trình

độ ngôn ngữ thứ nhất Vấn đề ở đây là rất khó xác định trình tự tự nhiên cụ thể

đó là gì, đấy là chưa kể sự khác biệt giữa trình tự tự nhiên của mỗi người Do đó, việc học theo một giáo trình chung được xây dựng sẵn là không hiệu quả vì chúng ta sẽ không thụ đắc được nếu giáo trình đó không khớp với trình tự thụ đắc

tự nhiên của chúng ta

* Chúng ta thụ đắc trực tiếp bằng cách hiểu nội dung thông điệp được chuyển tải trong trạng thái tâm lý thoải mái

Chúng ta tích lũy ngôn ngữ thành công khi chúng ta hiểu được nội dung

có trình độ khó hơn một chút (trình độ i +1) so với trình độ hiện tại của chúng ta

Trang 19

(trình độ i).Việc hiểu này sẽ được hỗ trợ bởi các yếu tố bên ngoài như hình ảnh,

âm thanh, ngôn ngữ cơ thể, giải thích của giáo viên v.v Để đạt được i +1 , cách tốt nhất là xem/nghe/đọc thật nhiều nội dung bản ngữ và tập trung vào việc hiểu nghĩa của chúng Khi làm vậy đủ nhiều, chúng ta sẽ tự động được tiếp xúc với nội dung i +1 và tích lũy được ngôn ngữ ở trình độ i +1 Cũng bằng cách đó, các chức năng nói và viết sẽ tự động được hình thành mà không cần được dạy, dù rằng chúng xuất hiện rất lâu sau khi các kỹ năng nghe và đọc đã hình thành

* Krashen cho rằng nội dung đầu vào tối ưu khi có các đặc tính sau:

ta không hiểu được nội dung thì đối với chúng ta lời nói chỉ là tiếng ồn và chữ viết chỉ là ký tự vô nghĩa Chúng ta sẽ không thụ đắc được gì hết cho

dù có nghe/đọc bao nhiêu đi nữa

nghĩa mà nó chuyển tải thay vì đặc điểm hình thức của nó Nội dung lý tưởng là nội dung khiến chúng ta hoàn toàn tập trung vào việc hiểu nghĩa đến mức “quên” rằng mình đang nghe/đọc tiếng nước ngoài

Trình tự tự nhiên ở trên, nội dung được thiết kế theo một trình tự nhất định

là không cần thiết, đặc biệt trong điều kiện tập thể

Lượng đủ lớn: Đây là đặc điểm rất quan trọng vì quá trình tích lũy tự

nhiên phải diễn ra đủ lâu thì mới phát huy hiệu quả Để i+1 xuất hiện, nội dung đầu vào phải nhiều và đa dạng

Bên cạnh đó, trạng thái tâm lý lúc tiếp xúc với ngôn ngữ cũng có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả tích lũy (Giả thiết Bộ lọc cảm xúc).Nếu bị các yếu tố tâm lý cản trở, ngôn ngữ sẽ không thể đến được cơ quan tiếp nhận ngôn ngữ (Language Acquisition Device – LAD) trong não (xem sơ đồ bên trên) ngay cả khi ta hiểu được ý nghĩa của chúng Cụ thể, các trạng thái sau sẽ quyết định mức

độ tiếp nhận ngôn ngữ của chúng ta:

Trang 20

Tự tin: người tự tin vào khả năng của bản thân thường sẽ tiếp nhận tốt hơn

Lo sợ: mức độ lo sợ (của cá nhân hoặc tập thể) càng thấp thì tiếp nhận

càng tốt

Như vậy, qua lý thuyết thụ đặc ngôn ngữ của Krashen, chúng ta phần nào thấy được quá trình cũng như những nhân tố khách quan, chủ quan tác động đến quá trình thụ đặc tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt Trung

1.2 Lịch sử gia đình Việt-Trung

Hôn nhân là hiện tượng xã hội, gia đình là sự hình thành của hôn nhân, nó xuất hiện rất sớm từ khi hình thành xã hội loài người Gia đình không chỉ thuần túy là sự kết hợp giới tính mà còn qua hôn nhân, thể hiện những sắc thái văn hóa của một tộc người Sự đa dạng thành phần tộc người trong một quốc gia dẫn đến sự đa dạng về hình thức và nghi lễ có liên quan đến hôn nhân Việt Nam và Trung Quốc đều là quốc gia đa tộc người Các nhà khoa học ở Việt Nam và Trung Quốc đã có nhiều công trình nghiên cứu về gia đình của các tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu viết riêng rẽ về gia đình xuyên quốc gia Trong luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam năm 2000 [12] có ghi “Gia đình đa văn hóa là gia đình có yếu tố nước ngoài được xác định là: quan hệ gia đình giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài”, trong trường hợp cụ thể được nghiên cứu ở đây là gia đình Việt -Trung

Gia đình xuyên quốc gia xét trên bình diện thế giới và ngay cả ở Việt Nam

và Trung Quốc, không phải là một hiện tượng mới Nó xuất hiện rất sớm từ quá trình di dân trên thế giới cách nay hàng chục ngàn năm, làm cho tình trạng sống xen kẽ giữa các thành viên của các tộc người tăng lên, dẫn đến sự giao lưu văn hóa tộc người và cũng dẫn đến hôn nhân dị tộc còn gọi là hôn nhân dị chủng, hôn nhân ngoại tộc

1.2.1 Quá trình hình thành gia đình Việt Trung trong lịch sử

Trong lịch sử Việt Nam, cũng đã từng xảy ra những cuộc hôn nhân có yếu

tố nước ngoài như những trường hợp công chúa Huyền Trân được gả cho Vua

Trang 21

Chăm, công chúa Ngọc Vạn được gả cho vua Chân Lạp ở phía Nam Hoặc như cuộc di dân của người Hoa do Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến dẫn đầu đã đến cùng Đồng Nai – Gia Định vào năm 1679, cũng dẫn đến hôn nhân có yếu tố nước ngoài ở Đồng bằng sông Cửu Long, giữa người Hoa với cư dân bản địa, cụ thể giữa người Hoa với người Việt và người Khmer - lớp cư dân

đã có mặt trước đó

Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, từ đầu thời kỳ Bắc thuộc Trong 2 thiên niên kỷ kể từ đó, nhiều làn sóng người Trung Quốc, gồm lính, quan, dân, tội phạm đã đến định cư tại Việt Nam Nhiều thế hệ người Trung Quốc định cư tại Việt Nam đã có quan hệ hợp hôn với người Việt bản xứ và con cháu họ dần trở thành người Việt Nam.Vào thế

kỷ 17 tại Trung Quốc, sự sụp đổ của nhà Minh dẫn đến làn sóng người Hoa trung thành với nhà Minh và không thần phục nhà Thanh bỏ quê hương di dân sang vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.Người Hoa rất có khiếu làm ăn, được hưởng tự do và sự giàu có Sau khi nhà Nguyễn ban hành qui chế thành lập các bang Hoa Kiều, người Hoa sinh sống ở Việt Nam có tất cả là 7 bang: Quảng Triệu (còn gọi là Bang Quảng Đông), Khách gia, Triều Châu, Phước Kiến, Phước Châu, Hải Nam và Quỳnh Châu Trụ sở của 7 Bang (giống như Văn phòng Đại diện) thường được gọi là "Thất Phủ công sở" hoặc "Thất Phủ hội quán"

Đến thế kỷ 19, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn Thời kì này người Hoa sang Việt Nam theo các đợt tuyển mộ phu đồn điền của người Pháp Tháng Giêng năm 1885, Pháp ra lệnh sát nhập Bang Phước Châu vào trong Bang Phước Kiến; sát nhập Bang Quỳnh Châu vào trong Bang Hải Nam Vì vậy mà từ đó về sau, người Hoa chỉ còn 5 bang Theo lệnh của Thực dân Pháp, những người Trung Quốc sinh sống ở Việt Nam nhưng có nguyên quán (Tổ tịch) không thuộc 4 Bang kia, tất cả đều phải chịu sự quản lý của Bang Khách gia Vì vậy mà trong Bang Khách gia Việt Nam có những người gốc Giang Tô, Thượng Hải, Chiết Giang, Hồ Bắc, Hồ Nam

Trang 22

Thời điểm năm 1965, có khoảng 200 nghìn người Hoa, phần lớn sống tập trung ở quanh Sài Gòn Đa số các xưởng cơ khí, chế tạo máy móc, dệt may ở Chợ Lớn đều do người Quảng Đông làm chủ

1.2.2.Quá trình hình thành gia đình Việt Trung trong giai đoạn hiện nay

Trong những năm gần đây, ở Trung Quốc xuất hiện Phong trào cô dâu

Việt Nam tại Trung Quốc Môi giới cô dâu xuất hiện từ lâu trong lịch sử hôn

nhân của nhiều nước, Việt Nam không phải ngoại lệ

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt với bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đã và đang đạt được những thành tựu đáng

kể, như: tốc độ tăng trưởng GDP, thị trường việc làm tăng mạnh, môi trường kinh tế được cải thiện, thu nhập bình quân theo đầu người gia tăng đã thực sự thu hút giới đầu tư khắp nơi trên thế giới Đặc biệt, sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại WTO (07/11/2006), là một sự kiện quan trọng thúc đẩy hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài đổ xô ồ ạt vào Việt Nam.Đây là một sự kiện đáng mừng, đánh dấu một bước phát triển vượt bậc cho Việt Nam phát huy nguồn lực của mình.Trong số những nhà đầu tư vào Việt Nam, những năm gần đây, Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất

Song song với việc phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ là sự xuất hiện của một số vấn đề xã hội đáng quan tâm, như xuất khẩu lao động, các đường dây buôn bán ma túy, các ổ chứa, trong đó hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc nói chung và Trung Quốc nói riêng đang thực sự là một vấn đề nóng bỏng và cấp bách được dư luận xã hội quan tâm chú ý Việc kết hôn với người nước ngoài đã trở thành một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là xu hướng lấy chồng Trung Quốc của các cô gái nông thôn

Vài thập niên gần đây rộ lên môi giới hôn nhân bắt đầu từ "phong trào" môi giới lấy chồng Trung Quốc Nhiều cô gái "ngậm đắng nuốt cay" khi lấy phải chồng nghèo, chồng già, thậm chí bị ép buộc làm vợ của ba, bốn cha con trong cùng một gia đình Lấy chồng Trung Quốc thường do bà mối người Việt sang

Trang 23

sinh sống ở nước này chắp mối vì lấy chồng các xứ khác thường thông qua công

ty môi giới hôn nhân Mục đích của các đối tượng là lợi nhuận nên tìm mọi cách

dụ dỗ, lừa phỉnh và bưng bít thông tin để mối lái nhanh chóng

Trên thực tế, việc phụ nữ lấy chồng Trung Quốc không phải lúc nào cũng như tưởng tượng trong phim của các cô về một cuộc sống tốt đẹp hơn ở một chân trời mới, với một người chồng mơ ước và bao dự định hoài bão về đất nước xinh đẹp Trung Quốc, mà thực ra ở vấn đề này đã có rất nhiều chuyện bất cập diễn ra xung quanh việc cô dâu Việt lấy chồng Trung Quốc như bị môi giới lừa bán vào các ổ mại dâm, bị bóc lột sức lao động, lạm dụng tình dục, bị đánh đập và hành

hạ dã man thậm chí dẫn đến nhiều cái chết thương tâm nơi đất khách quê người Trong sự giao lưu, hợp tác quốc tế thì hôn nhân nói chung và hôn nhân với người nước ngoài nói riêng là một vấn đề hết sức bình thường của mọi xã hội.Luật pháp của mỗi quốc gia đều khẳng định: mỗi người đều có quyền lựa chọn, quyết định hạnh phúc và người bạn đời cho riêng mình Nhưng trên thực

tế, các quyết định hôn nhân cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nữa, từ khách quan đến chủ quan.Liên quan đến hoạt động hôn nhân này, nhiều câu hỏi được đặt ra như họ có được bảo đảm cuộc sống không?có được chồng yêu thương không? có được quan tâm hỗ trợ khi cần không hay là khi mọi chuyện vỡ

lỡ ra thì lên án, tố cáo, trách móc sự thiếu hiểu biết của cô dâu Trong thời gian vừa qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo, bài viết về vấn đề này Hội thảo quốc tế “Hôn nhân xuyên quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa”, theo bài viết thì các tác giả đã nêu ra những thực trạng của phụ nữ Việt Nam trong những năm gần đây, phong trào kết hôn với người nước ngoài , mà chủ yếu là hiện tượng phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan, Trung Quốc nở rộ lên một cách mạnh mẽ Và điều đó cũng dẫn tới nhiều chuyện tiêu cực mới xảy ra, không lường trước được Bên cạnh những thực trạng đã nêu trong bài viết thì các tác giả cũng đề ra những biện pháp nhằm bảo vệ nhân phẩm, quyền lợi của các cô dâu Việt Nam, đồng thời hạn chế tình trạng môi giới gây mất trật tự xã hôi

Trang 24

Di cư, kết hôn và gia đình có yếu tố nước ngoài là xu thế khách quan trong bối cảnh mở cửa và hội nhập.Không thể phủ nhận, hôn nhân quốc tế hình thành nên các gia đình đa văn hóa, mang lại hạnh phúc cho không ít phụ nữ Việt, và nhìn rộng hơn, còn góp phần đáng kể phát triển quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước có cô dâu gốc Việt

1.3 Thực trạng của gia đình Việt-Trung tại Trung Quốc

1.3.1 Bố mẹ trong gia đình Việt- Trung

Trước hết, một thực trạng cấp thiết của bố mẹ trong gia đình Việt Trung là

sự tiếp nhận những giá trị văn hóa mới Mỗi tộc người trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, đã sáng tạo một phức hợp văn hóa, phản ánh sự phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội và văn hóa bao giờ cũng gắn với một tộc người cụ thể, những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần (văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể) của một tộc người, chính là sự sáng tạo của tộc người trong suốt tiến trình lịch

sử, tạo nên bản sắc của tộc người đó Một chướng ngại vô cùng khó khăn trong các cuộc hôn nhân dị tộc, đó là sự khác biệt văn hóa, mà khác biệt trước hết, lại

dễ nhận biết, là khác biệt về ngôn ngữ.Ngôn ngữ bao giờ cũng gắn với một tộc người – mỗi tộc người nói một ngôn ngữ.Ngôn ngữ làm chức năng phân biệt tộc người, làm chức năng liên kết các tộc người lại với nhau Vì vậy, vượt qua rào cản ngôn ngữ không phải là một việc đơn giản Ngoài ra, còn những khó khăn khác như phong tục tập quán trong gia đình, ngoài xã hội.Vấn đề đó thì mỗi tộc người, mỗi xã hội lại có những chuẩn mực khác nhau, nhiều khi không tắm mình trong môi trường văn hóa đó, không thể nào vượt qua được.Để tiếp nhận những giá trị văn hóa mới, phải có một sự chuẩn bị.Nhưng không phải ai và lúc nào cũng có thể chuẩn bị được.Hai vợ chồng của gia đình Việt-Trung, hầu như họ không được chuẩn bị cả về ngôn ngữ lẫn văn hóa Do không được chuẩn bị trước như vậy, cho nên họ gặp rất nhiều khó khăn, khi sống trong môi trường có chuẩn mực văn hóa và lối sống khác so với chuẩn mực văn hóa và lối sống đã gắn bó với họ hàng chục năm Việc chưa sẵn sàng tiếp nhận những giá trị văn hóa mới

Trang 25

trong điều kiện cụ thể của gia đình Việt- Trung sẽ là những phiền toái trong quá trình hội nhập của họ

Vấn đề thứ hai, để có thể hòa nhập vào môi trường sống mới, hai vợ chồng cần phải thích ứng văn hóa.Sự khác biệt đầu tiên khi họ sống nơi “đất khách quê người” dễ nhận thấy đó là sự khác biệt quê hương đất nước.Sau khi thành lập gia đình, sống ở nước ngoài, thì đối với những người phụ nữ hoặc người đàn ông đó, tất cả đều mới lạ, từ cảnh quan xung quanh, đến những con người cụ thể.Một môi trường sống, một không gian văn hóa hoàn toàn mới.Một khó khăn trong quá trình hội nhập đã đề cập ở trên là sự không hiểu biết về ngôn ngữ của hai nước Vượt qua rào cản ngôn ngữ không phải là một việc làm đơn giản Sự thích ứng trong môi trường mới do những khác biệt về không gian sống cũng như những khó khăn vì không biết tiếng theo dòng thời gian sẽ được khắc phục Từ một kết quả nghiên cứu thực tế ở Trung Quốc (2010), các tác giả cho thấy rằng sau 3 năm hoặc hơn 3 năm, nhiều người có khả năng sử dụng được tiếng Trung, vì tiếng Trung không phải là thứ tiếng khó học Mặt khác, những người thành lập gia đình quốc tế như này cũng xác định rất rõ, họ sẽ định cư lâu dài, do vậy, muốn hội nhập vào xã hội nơi họ sinh sống, không có cách nào khác hơn là phải biết tiếng

Tuy nhiên, sự thích ứng văn hóa, mà cụ thể ở đây là sự thích ứng trong cuộc sống gia đình, những quan hệ xã hội, trong môi trường mới là một thách thức lớn Xét về những khía cạnh lịch sử, thì văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa thông qua những tác động của nho giáo Gia đình Việt Nam hiện nay, do tác động của các yếu tố văn hóa ngoại sinh (tác động đồng đại), nhất

là văn hóa phương Tây và tác động nội sinh (tác động lịch đại), nhất là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, quá trình đô thị hóa sau chiến tranh, đã

có những biến đổi sâu sắc Những gia đình của người Việt Nam và người Trung Quốc ngày nay vẫn duy trì được chế độ phụ quyền do ảnh hưởng của Nho giáo,

và chế độ gia trưởng vẫn còn tồn tại sâu sắc mặc dù thế hệ và thành viên của gia đình đơn giản hóa và ít đi Quan niệm phân chia công việc trong gia đình vẫn duy

Trang 26

trì theo truyền thống Người phụ nữ vẫn là người chính lo toan công việc gia đình

và chăm sóc con cái

GS.TS Ngô Văn Lệ (2007), có nêu lên một số nhận xét bước đầu về các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài xảy ra trong những năm qua

Thứ nhất, các gia đình đa văn hóa chủ yếu là vợ Việt Nam lấy chồng ngoại quốc

Thứ hai, phần lớn các cô gái lấy chồng người nước ngoài, xuất thân chủ yếuở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nơi rất khó khăn cho việc tiếp cận các nguồn lực để phát triển Vì vậy, những người sinh sống ở nông thôn trong những điều kiện như thế, cũng rất khó tiếp cận các nguồn thông tin từ bên ngoài, dễ gây ra những ngộ nhận về việc lấy chồng là người nước ngoài

Thứ ba, trình độ học vấn của các cô gái lấy chồng nước ngoài đềukhông cao; hơn 80% có trình độ tiểu học và trung học cơ sở, trong đó có tới hơn 8% là

mù chữ Với một trình độ học vấn như thế, thì trình độ ngoại ngữ chắc chắn không thể khá được.Phần lớn không biết tiếng Anh, tiếng Trung nên đây là trở ngại lớn nhất trong giao tiếp, khiến các cô gái lấy chồng người nước ngoài gặp nhiều khó khăn trong đời sống thường nhật

Thứ tư, phần lớn các gia đình quốc tế bị chi phối bởi yếu tố kinh tế.Mục đích của các gia đình quốc tế là làm sao đạt được sự đổi đời không chỉ riêng cho

cá nhân cô dâu mà còn làm sao góp phần đổi đời cho cả những người thân trong gia đình.Một khi gia đình nhà chồng không đủ khả năng kinh tế đáp ứng, thì các

cô dâu Việt Nam phải bươn chải làm các nghề khác kiếm tiền dành dụm gửi về giúp gia đình

Thứ năm, các gia đình quốc tế diễn ra trong những năm qua, thường thông qua môi giới Do không biết ngoại ngữ, do không có những thông tin cần thiết về những người có nguyện vọng kết hôn, nên phần lớn các cuộc hôn nhân điều thông qua trung gian Xét về mặt pháp lý thì các cuộc hôn nhân với người nước ngoài trong những năm qua, điều là những cuộc hôn nhân hợp pháp, tự nguyện, được pháp luật của cả hai nước thừa nhận.Nhưng trên thực tế lại không hoàn toàn

Trang 27

là như vậy Đơn giản là cả cô dâu và chú rể đều không thông thạo tiếng nói của nhau, họ cũng không thể sử dụng một ngôn ngữ trung gian để giao tiếp

1.3.2 Con cái trong gia đình Việt- Trung

Thái độ của gia đình, của cộng đồng đối với những đứa trẻ được sinh ra trong gia đình quốc tế – những đứa con lai.Đây là một vấn đề hết sức nhạy cảm.Sống trong môi trường mà đứa trẻ dù muốn hay không, cũng sẽ chịu ảnh hưởng của hai nền văn hóa (văn hóa phía cha và văn hóa phía mẹ)

Trong trường hợp này, do sinh sống sau hôn nhân ở quê chồng, nên những đứa trẻ sinh ra sẽ chịu ảnh hưởng văn hóa phía cha.Nhưng ở một chừng mực nhất định, những yếu tố văn hóa phía mẹ cũng có một sự chi phối nhất định.Vì vậy, trong cuộc sống gia đình, nhất là quan hệ vợ chồng và quan hệ với những người xung quanh, cần một không khí thuận hòa, tạo nên sự kết nối với các thế

hệ, các thành viên Một hành vi dù nhỏ thể hiện sự kỳ thị đối xử không bình đẳng, không cân bằng sẽ gây những tác động tiêu cực đối với trẻ em

Các em có thể nghe hiểu cả hai thứ tiếng, nhưng do cơ hội tiếp xúc và sử dụng tiếng Trung nhiều hơn nên khả năng nghe-nói-đọc-hiểu tiếng Việt có phần hạn chế Tùy theo khả năng và mức độ giáo dục của người mẹ mà khả năng nói tiếng Việt của trẻ em ở mỗi gia đình cũng khác nhau Nếu người mẹ có nhiều thời gian bên cạnh con cái, có trình độ học vấn khá cao và nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục-truyền đạt văn hóa dân tộc thì con cái trong những gia đình này sẽ nghe-hiểu tiếng Việt được tốt hơn những trẻ em ở các gia đình khác

Tuy nhiên, những trẻ em lai (một cách gọi khác cho những trẻ em có ba mẹ đến từ hai dân tộc khác nhau) thường bị xem là phi thuần chủng.Các trẻ em trong gia đình đa văn hóa Việt-Trung cũng không ngoại lệ Mặc dù không có thống kê hay nghiên cứu cụ thể nào về trường hợp phân biệt hay kỳ thị chủng tộc giữa trẻ

em thuần Trung và lai Trung nhưng trên thực tế điều này vẫn đang âm thầm diễn

ra Có thể chưa có tai nạn hay sự kiện xấu nổi bật nào nhưng không có nghĩa trẻ

Trang 28

em lai Hàn chưa từng bị đối xử phân biệt Lý do bị phân biệt rất dễ hiểu – đó là các em chưa hẳn hiểu được hết hoàn toàn tiếng Trung là thứ ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày trong gia đình hoặc nơi trường học Mặc dù được sinh ra và lớn lên tại Trung Quốc nhưng do có ba hoặc mẹ là người nước ngoài nên việc thông hiểu tiếng Trung của các em có phần nào bị hạn chế hơn so với trẻ em thuần Trung Đồng thời cách thức sinh hoạt của các em cũng khá khác Có những trường hợp các em không thể giao tiếp thông suốt 100% với ba hoặc mẹ và dẫn đến tình trạng “ù lì, im lặng hoặc mặc cảm” từ bé

Các em đa số thường thụ động và e dè hơn những trẻ em khác.Đặc biệt khi được yêu cầu giới thiệu về bản thân như tên tuổi, gia đình.Dường như có điều gì đó như sự mặc cảm hoặc tự ti ở các em khi nói đến hoàn cảnh xuất thân của mình.Và các em cũng khó kết thân với các bạn thuần Trung bởi những hạn chế về mặt ngôn ngữ hay nét tương đồng từ xuất thân đến cách sinh hoạt Điều này dễ làm cho các em trở nên tự kỷ hay kềm chế sự phát triển tự nhiên vốn có của trẻ

Ngược lại, trẻ em trong các gia đình này có tính tự lập rất cao Bố mẹ đều phải đi làm để đủ lo chi phí trong gia đình nên các em hầu như phải lớn lên bên cạnh ông bà nội (nếu có) hoặc được gửi ở nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường học

từ sáng đến tối Mọi việc học tập đều do các em tự lo liệu hoặc tự thông báo với

bố mẹ Thay vì là đối tượng được quan tâm, chăm sóc đặc biệt như bao trẻ em khác thì trẻ em trong gia đình đa văn hóa phải kiêm thêm vai trò cầu nối giữa gia đình và nhà trường.Hay là người thông dịch trung gian cho bố hoặc mẹ bởi vì sẽ

có một trong hai người không thể nhìn nhận, hiểu rõ hoặc đánh giá đúng một sự việc nào đó do sự hạn chế về ngôn ngữ trong khả năng giao tiếp

Trẻ em trong các gia đình này sẽ lớn lên với những đặc điểm khác biệt từ bé dẫn đến tính cách, cách suy nghĩ của các em chắc chắn sẽ khác Điều này mang tính trừu tượng, khó thấy, khó nhận biết, khó định hình và khó đo lường mức độ

Trang 29

nghiêm trọng Nó cũng không thể hiện rõ trong một thời điểm nhất định nào đó

mà sẽ dàn trải trong một khoảng thời gian rất dài hay có khi là cả một đời người Các em chính cũng là một phần của thế hệ tương lai ở Trung Quốc nói chung

và Việt Nam hay thế giới nói riêng Hãy thử hình dung xem các em sẽ trở thành những người như thế nào trong tương lai Các em sẽ mang những nổi đau, tổn thương, mặc cảm hay những vết sẹo tinh thần nào làm hành trang đi cùng các em tiến vào ngày mai Điều này chúng ta có thể hình dung hay mường tượng được phần nào Vậy phải làm sao để các em sẽ có những ngày tháng tuổi thơ hạnh phúc và bình thường như vốn phải có? Làm sao để các em lớn lên trở thành những con người thật bình thường với những hoài bão và ước mơ cao đẹp? Phải làm sao để trong tương lai, những trẻ em này sẽ không ôm trong mình những nổi đau, những vết cứa, những sự lệch lạc trong nhận thức và nhân cách?

Cho nên, một môi trường thân thiện trong gia đình được đối xử công bằng và bình đẳng sẽ làm cho các em tự tin, dễ hòa nhập vào cộng đồng.Một thái độ kỳ thị thiếu tôn trọng, có thể đẩy đứa trẻ ra khỏi tầm kiểm soát.Sự hội nhập của trẻ

em còn phụ thuộc vào môi trường giáo dục.Ở đâu những đứa trẻ được tôn trọng, sống trong môi trường thân thiện thì ở đó, trẻ em dễ gắn bó với nhau hơn.Chính

sự đồng cảm trong gia đình, ngoài xã hội, trong giáo dục, trong cuộc sống, sẽ giúp xóa đi những mặc cảm về thân phận Đây thực sự là một việc rất khó khăn trong khi cuộc sống lại không đơn giản

1.3.3 Những vấn đề khó khăn của gia đình Việt Trung

* Vấn đề giáo dục con cái

Theo Bộ Giáo dục khoa học kỹ thuật Trung Quốc [22], trong năm 2007, số học sinh tiểu học, trung học và trung học phổ thông của những gia đình kết hôn quốc tế là 13.445 người, so với 7.998 người trong năm 2006, đã tăng 68% Trong

số này, số học sinh tiểu học là 11.444 người, chiếm tỷ lệ 85%; học sinh trung học

Trang 30

11,8% và học sinh trung học phổ thông là 3,1% Tuy nhiên con số các cháu nhỏ chưa đến tuổi đi học (dưới 6 tuổi) còn nhiều gấp đôi số học sinh đang theo học ở trường Dự đoán nhiều năm sau, số lượng con cái của những gia đình kết hôn quốc tế sẽ nhập học vào trường học gia tăng rất nhanh

Đa số những phụ nữ di trú đến Trung Quốc do vấn đề trở ngại về ngôn ngữ nên trong sinh hoạt cộng đồng xã hội không được tích cực, vấn đề giáo dục con cái cũng trở nên trầm trọng hơn Cứ trong 100 học sinh tiểu học là con cái của những gia đình kết hôn quốc tế thì có 7,5 cháu không đạt được học lực cơ bản, nhiều gấp 5 lần so với những học sinh tiểu học con của những gia đình bình thường (cứ 100 người thì có 1,45 người không đạt) Không đạt được học lực cơ bản có nghĩa là việc được lên lớp vào học kỳ sau thật sự rất khó khăn

* Cái nghèo làm cản trở hạnh phúc

Kết quả điều tra của Bộ Phúc lợi xã hội & Y tế Trung Quốc [23] năm 2005

về những gia đình của những phụ nữ nước ngoài kết hôn với đàn ông Trung Quốc và nhập cư vào Trung Quốc cho thấy 52,9% phụ nữ nước ngoài nhập cư trên toàn quốc không thể tự kiếm tiền nuôi bản thân Có thể nhận thấy hơn 50% trở lên đều kết hôn với người rất nghèo ở Trung Quốc nên sau khi kết hôn họ đã gặp khó khăn trong việc giáo dục con cái do bất đồng ngôn ngữ, từ đó có thể nói cái nghèo sẽ liên tục đeo đẳng con cái những gia đình như thế này Vì nghèo khó nên không thể cho con đến trường đi học đầy đủ

Hơn nữa, phần lớn những đứa trẻ sinh ra trong những gia đình kết hôn quốc

tế này thường yếu về khả năng tự thể hiện bản thân trong quá trình trưởng thành

do người mẹ không thông thạo ngôn ngữ

Cuối cùng, cái nghèo chính là nguyên nhân cướp đi cơ hội được giáo dục, gây cho những đứa trẻ sinh ra trong những gia đình kết hôn quốc tế một vết thương về tinh thần không nhỏ và tất nhiên sẽ là trở ngại to lớn trên con đường hướng đến một cuộc sống hạnh phúc

Trang 31

1.4 Tiểu kết

Tóm lại, trong chương này chúng tôi đưa ra một số khái niệm quan trọng được sử dụng trong luận văn như gia đình Việt Trung, tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ thứ hai hay lý thuyết thụ đắc ngôn ngữ… Đồng thời điểm lại những vấn đề nghiên cứu về lịch sử gia đình Việt Trung ở Việt Nam và Trung Quốc, trong đó phạm vi nghiên cứu cụ thể của chúng tôi là gia đình Việt Trung hiện nay tại Trung Quốc Ngoài ra, bước đầu nêu ra thực trạng của các gia đình đa văn hóa Việt Trung, trong đó có thực trạng của bố mẹ và thực trạng của con cái

Trang 32

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TIẾNG VIỆT CỦA TRẺ EM LAI TRONG GIA ĐÌNH VIỆT TRUNG Ở CHÂU HỒNG HÀ

2.1 Đặc điểm chung của khu vực Châu Hồng Hà

Châu Hồng Hà có 4 thành phố, 6 huyện và 3 huyện tự trị, có các dân tộc như

Hà Nì, Di, Hán, Dao, Mông v.v, với dân số 4.130.463 người Các dân tộc thiểu

số chiếm 55,69%, trong đó riêng dân tộc Di chiếm 23,57%, dân tộc Hà Nì 16,6% Thành phố Mông Tự là châu phủ của Châu Hồng Hà

Về giao thông, Châu Hồng Hà nằm ở vị trí rất quan trọng giữa Côn Minh và Việt Nam,đường cao tốc và đường sắt từ phía bắc đến phía nam đều chạy qua Châu Hồng Hà,vì thế trong tương lai châu Hồng Hà có rất nhiều triển vọng phát triển về kinh tế đối ngoại trong khu vực Đông Nam Á

Châu Hồng Hàcó diện tích rộng, tài nguyên phong phú, khí hậu tốt lành,nền kinh tế chính của Châu Hồng Hà là nông nghiệp và khai thác khoáng sản.Sản vật kinh tế là thuốc lá, lựu, dứa, chuối với sản lượng cao nhất cả nước

Châu Hồng Hà có biên giới giáp với Việt Nam, trong đó huyện Hà Khẩu - Trung Quốc giáp với tỉnh Lào Cai - Việt Nam, huyện Kim Bình - Trung Quốc giáp với tỉnh Lai Châu - Việt Nam

Do vị trí địa lý tiếp giáp với Việt Nam, nên hai huyện Hà Khẩu và Kim Bình

có sự giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa và hợp tác ngày càng mạnh mẽ ở cửa khẩu Việt - Trung Từ đó cũng hình thành tại đây nhiều gia đình Việt - Trung, với số lượng không nhỏ trẻ em là con lai đang sinh sống học tập tại Hà Khẩu và Kim Bình

Trang 33

360 km, là đầu cầu của khu mậu dịch tự do Asean.Dân tộc chính của Hà Khẩu là dân tộc Dao.Khí hậu Á nhiệt đới, nên hoa quả chủ yếu là dứa, chuối và xoài

Ngay cửa khẩu hải quanlà khu trung tâm của nội thành Hà Khẩu, ở đây đông đúc dân cư, nhưng rất có trật tự, người ta qui hoạch từng khu vực: buôn bán, công sở, vui chơi giải trí…Trung tâm thương mại Bằng Hữu được xem như trung tâm mua sắm lớn nhất ở thị trấn Hà Khẩu này Các mặt hàng bày bán chủ yếu vẫn là quần áo, đồ điện tử và các loại trang sức Qua 3, 4 tầng của trung tâm thương mại, bắt gặp khá nhiều người Việt Nam đến đây buôn bán kinh doanh, rất nhiều nhà hàng của hiệu thuê nhân viên là người Việt để phục vụ các khách Việt mua sắm và tham quan Đồng thời hoạt động du lịch trong khu vực cũng rất phát triển với các điểm tham quan trong ngày của khách Trung Quốc đi Sapa – Lào Cai

và ngược lại các đoàn khách Việt Nam đi du lịch mua sắm trong ngày tại thị trấn Hà Khẩu Đây chính nơi tạo điều kiện và là cầu nối giao lưu văn hóa, kinh tế của nhân dân biên giới giữa Huyện Hà Khẩu, Trung Quốc với TP Lào Cai, Việt Nam

2.1.3 Huyện Kim Bình

Theo tài liệu về khu vực châu Hồng Hà [24], Huyện tự trị dân tộc Mông- Dao- Thái Kim Bình, là một huyện tự trị của châu tự trị dân tộc Hà Nì- Di Hồng Hà.Kim Bình giáp với huyện Lục Xuân ở phía Tây, Bình Biên ở phía Đông, giáp tỉnh Lai Châu của Việt Nam ở phía Nam.Huyện này rộng 3.677 km² (rộng khoảng hơn 1/3 diện tích Lai Châu) và có 31 vạn dân vào năm 2002 (đông hơn

Trang 34

dân số Lai Châu) Tỉnh này có cửa khẩu Kim Thủy Hà thông với cửa khẩu Ma

Lu Thàng của Lai Châu - một trong 7 cặp cửa khẩu lớn và có vị trí quan trọng trên con đường thông thương quốc tế

Khu kinh tế và cửa khẩu biên giới Kim Bình - Ma Lù Thàng được coi là mũi nhọn để phát triển kinh tế và là cửa ngõ giao lưu kinh tế, văn hóa của Lai Châu với Trung Quốc Con sông chảy qua khu vực biên giới hai nước được người Việt gọi là sông Nậm Na, nghe nói phía lưu vực thượng nguồn Nậm Na một số vùng

có vàng sa khoáng nên người Trung Quốc gọi con sông biên giới này là Kim Bình Thủy với ý nghĩa dòng nước chảy mang theo những quặng vàng Ở độ cao 1.200m so với mặt nước biển, 2 bên bờ sông được gia cố kè chống xói lở, nhiều công trình xây dựng đã được hình thành.Tại đây bà con hai bên qua lại mua bán, trao đổi hàng hóa; dù không nhộn nhịp, sôi động như Cửa khẩu Lào Cai hay Cửa khẩu Tân Thanh, nhưng cũng có thể hình dung đời sống kinh tế của nhân dân một vùng biên giới

2.2 Một số gia đình con lai Việt- Trung tiêu biểu

*Gia đình 1

Tạ Thành Nghị - Nam, 12 tuổi, bố quốc tịch Trung Quốc, mẹ quê ở Nam Định - Việt Nam, cả gia đình sống ở huyện Hà Khẩu, Châu Hồng Hà Bố mẹ kinh doanh đồ gỗ và làm phiên dịch Việt- Trung Tạ Thành Nghị tuy sống ở Trung Quốc, nhưng nghe nói tiếng Việt rất tốt, nói chuyện bằng tiếng Việt là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của Thành Nghị

Do bố mẹ bận kinh doanh buôn bán, nên Thành Nghi được bà ngoại trông

từ hồi bé, cho nên Thành Nghị biết nói tiếng Việt trước, sau khi lớn lên mới biết nói tiếng Trung Bà ngoại dạy Thành Nghị nghe nói bằng tiếng Việt hết, đến lúc phải đi trường học rồi thì gia đình Thành Nghị mới bắt đầu dạy con học tiếng Trung Bởi vì môi trường sống xung quanh của con đều là người Trung Quốc, nên mặc dù ngôn ngữ tiếng Trung học sau cũng không ảnh hưởng nhiều đến việc học tiếng Trung của Thành Nghị Việc chuyển đổi hai thứ tiếng của em rất thoải

Trang 35

mái và tự nhiên Tuy nhiên, Thành Nghị chỉ nắm rõ khả năng nghe và nói tiếng Việt, còn về đọc viết tiếng Việt lại không biết chút nào, đây là một hạn chế trong

sử dụng tiếng Việt của Thành Nghị

Bố mẹ của Thành Nghị nói rằng, trong cuộc sống hàng ngày của gia đình, hai

vợ chồng đều sử dụng tiếng Trung lẫn Tiếng Việt Và hai vợ chồng xuất thân từ gia đình phiên dịch, họ rất chú trọng ngôn ngữ của con, nhưng do bận kinh doanh

họ không thể đủ sức lực và thời gian để dạy con viết và đọc chữ Việt, chỉ có thể tạo môi trường tiếng Việt cho con để duy trì khả năng nghe nói của con Còn vấn

đề chữ viết, họ thấy chưa cần giỏi ngay bây giờ, trước mắt để con học tốt các kỹ năng tri thức cơ bản theo giáo dục của bên Trung Quốc đã, sau khi con lớn lên lại hướng con tiếp tục đi theo con đường phiên dịch Việt- Trung như bố mẹ và tiếp quản sự nghiệp của họ Hai vợ chồng có kế hoạch đến lúc con thi đại học sẽ cho con học chuyên ngành tiếng Việt để học chữ cũng không muộn

*Gia đình 2

Bùi Phương Phương - Nữ, 12 tuổi, bố Trung Quốc, mẹ là người Hà Giang

- Việt Nam.Bố mẹ chuyên về nghề cao su.Bố Phương không biết tiếng Việt, mẹ Phương không biết Tiếng Trung.Gia đình Phương hiện sống ở Huyện Kim Bình Châu Hồng Hà Mẹ Phương ngày xưa bị lừa bán sang Trung Quốc, và cưới bố Phương, do nơi ở của họ ở vùng xa xôi, nên mẹ Phương không có cách nào trở về Việt Nam được Nhưng may là bố Phương đối xử với mẹ cũng tốt, và sinh được

bé Phương, nên mẹ quyết định ở lại sống ở đấy và bắt đầu học nói tiếng Trung

Tại vì bố không biết tiếng Việt, mẹ lại không biết tiếng Trung, nên khiến cho Phương phải học hai thứ tiếng cùng một lúc, chính vì điều này lại giúp Phương sử dụng và chuyển đổi hai thứ tiếng một cách tự nhiên trong cuộc sống hàng ngày của gia đình Cho nên kỹ năng nghe và nói của Phương đều rất tốt, sử dụng hai ngôn ngữ tiếng Trung và tiếng Việt như là tiếng mẹ đẻ

Tuy nhiên, Phương cũng có hạn chế là không biết đọc và viết chữ Do nguyên nhân khách quan, trước đây gia đình Phương sống ở nông thôn, bố mẹ

Trang 36

học vấn thấp và không được đi học Để thuận tiện cho buôn bán cả nhà chuyển sang thành phố sống, Phương học ở trường học cũng chỉ học chữ Trung Quốc, bố

mẹ cũng không có ý thức để dạy con biết đọc biết viết chữ, nên trình độ tiếng Việt của Phương chỉ dừng lại ở hai khả năng nghe và nói

Phương kể rằng, từ hồi bé khi nghỉ hè và nghỉ tết bố mẹ đều đưa Phương

về Hà Giang thăm ông bà ngoại Phương cũng thường xuyên liên lạc với các họ hàng bên Việt Nam, nên bản thân Phương không thấy có gì xa lạ giữa ngôn ngữ Việt - Trung

Khi hỏi đến vấn đề ngôn ngữ của con cái, mẹ của 2 bé cho biết, quan điểm của mẹ là muốn hai con biết tiếng Việt, bởi vì đấy là một ưu thế của gia đình họ

so với các gia đình Trung Quốc Vì bố đã có một nửa huyết thống Việt Nam, nên gia đình muốn duy trì văn hóa ngôn ngữ tiếng Việt, và con cái biết thêm một ngôn ngữ khác cũng là một lợi thế cho sự phát triển tương lai cho con sau này Mặt khác, do ông bà nội rất muốn hai đứa cháu biết nói tiếng Việt, nên nhiều khi

bà nội hay nói tiếng Việt với các cháu, nhưng cũng không có nhiều hiệu quả Nên muốn tạo một môi trường ngôn ngữ tiếng Việt cho con, lúc con 3 tuổi, họ tìm đến một trường mầm non ở Lào Cai cho con đi học, nhưng do con mình nhỏ quá trường học không nhận, cuối cùng kế hoạch này cũng không thực hiện được

Trang 37

Nhưng quan điểm của bố lại khác, bố cho rằng, mình là con lai Việt - Trung và mình biết tiếng Việt, chính vì thế mình làm kinh doanh ở biên giới Tuy nhiên làm kinh doanh rất là vất vả, giáo dục ở dưới Hà khẩu cũng không tốt, mình phấn đấu là vì con cái, mình chỉ muốn con cái mình sống vui vẻ, có môi trường giáo dục tốt, bố không muốn cho con sống ở Hà khẩu lâu dài Định hướng của bố là sau này con có một công việc ổn định, chứ không phải làm kinh doanh Nên con biết tiếng Việt hay không cũng không quan trọng và không cần thiết Bố nói rằng: tất nhiên quan điểm của bố cũng gặp phải nhiều sự phản đối của ông bà nội

Khi hỏi đến sự mong muốn của phụ huynh về tiếng Việt, mẹ 2 bé chia sẻ, mong con nói được tiếng Việt, nhưng mình sẽ theo phương pháp không ép buộc,

để con phát triển theo sở thích của con, cho con lớn lên một cách tự nhiên

*Gia đình 4

Hai chị em sinh đôi Lương Thơ Ý và Lương Thơ Thư - nữ 8 tuổi.Bố là người Trung Quốc, mẹ quê ở Vĩnh phúc - Việt Nam, nhà kinh doanh thuốc Bắc ở huyện Hà Khẩu Châu Hồng Hà.Bố mẹ đều biết nói tiếng Trung và tiếng Việt Cả nhà ở với bà nội, trong cuộc sống hàng ngày, chỉ có hai vợ chồng nói chuyện bằng tiếng Việt, nhưng vợ nói chuyện với con và bà nội đều bằng tiếng Trung, ngôn ngữ chính của gia đình vẫn là tiếng Trung Hai đứa con học tiếng Việt được hơn 2 năm, nhưng trình độ rất kém, cả 4 kỹ năng nghe nói hay đọc viết đều rất chậm

Khi nói chuyện với hai đứa con, 2 bé nói là không thích nói tiếng Việt, bởi

vì đi trường học các bạn và các giáo viên đều nói tiếng Trung, ở nhà 2 bé cũng chỉ nói tiếng Trung thôi Bố mẹ lại rất bận không có nhiều thời gian chăm sóc 2

bé, thời gian ở với bà nội nhiều hơn Hai bé bảo rằng: “Ban ngày bọn con đi trường học, tối về có gia sư đến dạy tiếng Việt, và mẹ có đăng ký cho con đi trung tâm học tiếng Việt, nhưng bọn con không thích đi học ở đấy, bởi vì đi lên lớp nhiều cái cô dạy bọn con đã học ở nhà rồi, bọn con không thích học nữa”

Qua nói chuyện với Bà nội, bà cho biết, bố mẹ của hai đứa đi công tác suốt, nên việc chăm sóc hai đứa là giao cho bà, khi cháu còn nhỏ, gia đình nghĩ

Trang 38

hai đứa còn nhỏ chưa cần học tiếng Việt, nhưng mấy năm nay thấy kinh doanh giữa hai bên càng ngày càng nhiều, và con cũng lớn hơn rồi, có thể cho các con học thêm tiếng Việt Nhưng gia đình lại không nghĩ đến việc hai đứa không thích học tiếng Việt

Bố mẹ hai bé cũng thừa nhận rằng, có mấy nguyên nhân dẫn đến vấn đề con không thích học tiếng Việt Một là, thời gian bố mẹ ở cùng con rất ít, nên con không có khái niệm gì về tiếng Việt Sự quan tâm của bố mẹ dành cho con không nhiều, con ít khi về quê ngoại nên con cũng không có khái niệm gì về quê hương

mẹ Hai là, bố mẹ cho con học tiếng Việt hơi muộn, con không có cơ sở tiếng Việt, tự nhiên bắt con học thì các con không thích lắm Ba là, môi trường xung quanh của con không có tiếng Việt, bố mẹ cho con đi trung tâm hoặc thuê gia sư, chất lượng học cũng không cao, bố mẹ không để ý đến phương pháp học của trung tâm là không hợp với hai bé Nên không tạo cho con mình thấy thú vị với ngôn ngữ tiếng Việt, nhiều khi bố mẹ cho con học hơi ép buộc

Hai vợ chồng chia sẻ là sẽ cố gắng bố trí công việc, và dành thời gian ra

để quan tâm con nhiều hơn, nhưng về vấn đề tiếng Việt của con, họ cũng sẽ không ép buộc, để cho con học tự nhiên, không biết tiếng Việt cũng không quan trọng nữa

*Gia đình 5

Lưu Nghĩa Kiên - nam 16 tuổi Lưu Nghĩa Quân - nam 12 tuổi Lưu Ngọc Bình - nữ 9 tuổi Lưu Ngọc Lan - nữ 7 tuổi Bốn trẻ em lai dân tộc Việt- Trung

Bố Trung Quốc, mẹ Việt kiều, bố mẹ đều là dân tộc Choang

Gia đình này rất đặc biệt, nghe mẹ Nghĩa Kiên kể: Năm 1976, lúc mẹ 4 tuổi thì theo ông bà di cư sang biên giới Trung Quốc và sống ở khu vùng núi của

Hà khẩu, lúc đấy có hoảng hơn 1000 người dân tộc Choang di cư sang huyện Hà Khẩu và huyện Kim Bình của Châu Hồng Hà, họ được gọi là Việt Kiểu và cư trú hợp pháp Sau năm 1978, do chiến tranh biên giới Trung Quốc và Việt Nam, có hàng nghìn người dân tộc Trang và dân tộc Tày từ biên giới Việt Nam chuyển

Trang 39

sang huyện Hà Khẩu và huyện Kim Bình, rồi định cư ở đấy Từ đó hai dân tộc này ngày càng sinh sôi phát triển về dân số, trong đó cũng xuất hiện con lai giữa

2 dân tộc Trung Quốc và Việt Nam

Mẹ Nghĩa Kiên chia sẻ, khi ông bà ở Việt Nam thì đã không biết nói tiếng Việt rồi, họ giao lưu đều sử dụng tiếng dân tộc của họ, nên từ thế hệ ông bà thì đã mất ngôn ngữ tiếng Việt Sau khi di cư sang Trung Quốc, các con cháu thế hệ sau cũng chỉ sử dụng tiếng dân tộc trong cuộc sống hàng ngày Có những thế hệ sau kết hôn với dân tộc Hán Trung Quốc, bắt đầu sử dụng thêm tiếng Trung trong cuộc sống Cho nên, các con lai hiện này đều không ai biết nói tiếng Việt cả, các trẻ em lai đều đi học ở trường như các bé người Trung Quốc Bây giờ ở khu vực vùng núi của hai huyện này vẫn đang có rất đông người Việt Nam và con lai Việt- Trung, có hàng nghìn dân vẫn đang sinh sống ở đấy Họ cũng có liên lạc với họ hàng ở bên Việt Nam, nhưng đều sử dụng tiếng dân tộc, do lâu năm ở sống cùng dân tộc của Trung Quốc nên đa số mọi người đều bị Hán hóa

Như bốn đứa con lai của nhà Nghĩa Kiên, họ đi ra ngoài thì sử dụng tiếng Trung, về nhà thì sử dụng tiếng dân tộc Trang, bốn đứa con đều không biết một chút tiếng Việt nào Do điều kiện sinh hoạt khó khăn, nên giáo dục của những con lai này cũng rất hạn chế, nhiều con lai không thi đỗ đại học hoặc có thi đỗnhưng không được đi học đầy đủ Như bố mẹ của anh cả Nghĩa Kiên thì muốn Nghĩa Kiên thi đại học dân tộc Vân Nam để học chuyên ngành tiếng Việt, họ muốn con học tiếng Việt để hiểu biết nhiều về văn hóa Việt Nam, để duy trì ngôn ngữ của họ

Từ đó có thể nhận thấy, ngôn ngữ tiếng Việt trong những dân tộc này đã hoàn toàn bị mất đi

2.3 Khảo sát thực trạng tiếng Việt của trẻ em lai trong gia đình Việt- Trung

ở Châu Hồng Hà

Xét theo độ tuổi và tỷ trọng thì trẻ em trong gia đình Việt-Trung ở Châu Hồng Hà đang chiếm tỷ lệ cao nhất ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc, mà độ tuổi phổ biến nhất là khoảng 6 -16 tuổi Trẻ em ở độ tuổi này đa số là các em học sinh ở

Trang 40

bậc tiểu học và trung học cơ sở hiện đang sinh sống cùng với bố mẹ tại Châu Hồng Hà, Trung Quốc Khảo sát này chủ yếu tập trung ở huyện Hà Khẩu và huyện Kim Bình

*Điều tra 1:

Biểu đồ 2.1 – Khả năng ngôn ngữ của các trẻ em lai trong gia đình

Việt- Trung ở Châu Hồng Hà

Dựa theo kết quả khảo sát, trong 100 gia đình Việt - Trung được khảo sát thì

có 72 gia đình là bố Trung - mẹ Việt và còn lại là 28 gia đình bố Việt - mẹ Trung Trong đó có đến 80 gia đình (chiếm 80%), mà trẻ em trong những gia đình này trò chuyện chủ yếu bằng tiếng Trung Đó là do trẻ được sống trong môi trường tiếng Trung, cả bố và mẹ đều bận bịu với công việc, nên việc chăm con đều được ủy thác hết cho ông bà, gia đình họ hàng thường xuyên đến thăm chơi trò chuyện với các bé bằng tiếng Trung là chủ yếu nên khiến cho khả năng sử dụng tiếng Trung của bé sẽ vượt trội hơn khả năng tiếng Việt

Có 20 gia đình Việt- Trung (chiếm 20%), mà trẻ em sử dụng cả tiếng Trung lẫn tiếng Việt trong gia đình Đây là do bố mẹ đều giỏi cả tiếng Trung và tiếng Việt, bố mẹ thường xuyên trò chuyện với con bằng cả hai thứ tiếng, điều đó giúp cho bé có cơ hội tiếp nhận được cả tiếng Việt và tiếng Trung Trong trường hợp này thì bố mẹ đều có ý muốn con cái mình có thể nói được bằng cả hai ngôn ngữ,

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:04

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w