1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cổ phần hoá và tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá ở Hà Nội trong những năm 1992 - 2002

162 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 162
Dung lượng 904,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LĐLĐ Thành phố Hà Nội là cơ quan có chức năng tham gia với Uỷ ban Nhân dân Thành phố về vấn đề sắp xếp doanh nghiệp, cổ phần hoá DNNN, nắm tình hình CNVCLĐ trong các công ty cổ phần và c

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Bảng chữ viết tắt

- DNNN: doanh nghiệp nhà nước

- CNVCLĐ: công nhân viên chức lao động

- CNLĐ: công nhân lao động

- LĐLĐ: Liên đoàn Lao động

- SXKD: sản xuất kinh doanh

Trang 3

Môc lôc

Cæ phÇn ho¸ vµ tæ chøc c«ng ®oµn trong c¸c DNNN

cæ phÇn ho¸ ë Hµ Néi trong nh÷ng n¨m 1992 - 1997

1.1 Cæ phÇn ho¸ DNNN ë Hµ Néi trong nh÷ng n¨m 1992 -

Trang 4

1.2.3.3 C«ng ®oµn c¬ së víi viÖc tæ chøc c¸c phong trµo thi ®ua

Cæ phÇn ho¸ vµ tæ chøc c«ng ®oµn trong c¸c DNNN

cæ phÇn ho¸ ë Hµ Néi trong nh÷ng n¨m 1998 - 2002

2.1 Cæ phÇn ho¸ DNNN ë Hµ Néi trong nh÷ng n¨m 1998 -

Trang 5

2.2.1.7 Công đoàn cơ sở với việc tham gia đảm bảo điều kiện làm

việc, an toàn vệ sinh lao động của CNLĐ

DNNN cổ phần hoá ở Hà Nội3.1 Đánh giá về hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn

trong các DNNN cổ phần hoá ở Hà Nội trong những năm

3.3 Một số biện pháp nhằm nâng cao chất l−ợng hoạt động

công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá ở Hà Nội

88

3.3.1 Đổi mới nội dung, hình thức tổ chức các phong trào thi đua

trong CNVCLĐ, góp phần phát triển kinh tế - xP hội Thủ đô

Trang 6

3.3.4 Đổi mới phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn tham

gia quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của

CNVCLĐ, đoàn viên công đoàn

95

3.3.5 Tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xây dựng CĐCS vững

mạnh, tập hợp phát triển đoàn viên

97

3.3.6 Nâng cao chất lượng đoàn viên và xây dựng đội ngũ cán bộ

công đoàn ngang tầm nhiệm vụ mới

99

3.3.7 Xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác giữa công đoàn cơ sở

với giám đốc, hội đồng quản trị trong các công ty cổ phần

Trang 7

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam họp vào tháng 12/1986 xác định đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước, nhằm

đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi sự khủng hoảng nặng nề vào những năm 80 của thế kỷ XX Đảng ta xác định, kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trong một thời gian dài từ sau khi có chủ trương đổi mới nền kinh tế, nhiều DNNN lúng túng không theo kịp sự phát triển của kinh tế thị trường dẫn đến làm ăn không có hiệu quả, thua lỗ, chiếm dụng vốn của nhau, làm tài sản thất thoát nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế

Bên cạnh đó là sự mở rộng các DNNN không có hệ thống, lan tràn, nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ ra đời dẫn đến phân tán nguồn lực của nhà nước (bao gồm nguồn vốn, vật chất và cả năng lực quản lý) làm kinh tế bị xáo trộn; lợi ích cá nhân của người lao động còn chưa được coi trọng đúng mức làm cho động lực của sự phát triển sản xuất dường như không có Những điều

đó là nguyên nhân dẫn đến khu vực kinh tế nhà nước không tăng trưởng, đời sống đội ngũ CNVCLĐ gặp nhiều khó khăn Để tiếp tục đổi mới cơ chế quản

lý, phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước đã chủ trương tiến hành cải cách DNNN, trong đó thực hiện cổ phần hoá một số DNNN là một hướng chủ yếu

Cổ phần hoá nhằm huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển sản xuất, thúc đẩy quá trình phát triển và khắc phục những tồn tại của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho người góp vốn và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp, nâng cao sức sản xuất và cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, đưa nền kinh tế nước ta phát triển, hoà nhập vào nền kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 8

Quá trình cổ phần hoá DNNN thành phố Hà Nội được bắt đầu từ năm

1992 Trải qua hơn 10 năm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá DNNN, thành phố Hà Nội đã thu được những kết quả quan trọng Các doanh nghiệp sau khi tiến hành cổ phần hoá đều nhanh chóng ổn định sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, thu nhập của CNVCLĐ cao hơn trước và đời sống CNVCLĐ được cải thiện Quá trình cổ phần hoá DNNN ở Hà Nội tuy đã thu được những kết quả đáng phấn khởi, song vẫn còn có những tồn tại

Công đoàn Việt nam là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của CNLĐ do

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Mục tiêu đấu tranh cơ bản và lâu dài là góp phần xoá bỏ áp bức bóc lột, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Bước vào thời kỳ đổi mới, với những cố gắng lớn lao, đội ngũ CNVCLĐ và tổ chức công đoàn Hà Nội đã có nhiều cống hiến quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở Thủ đô

Quá trình cổ phần hoá DNNN thành phố Hà Nội dẫn đến sự biến động trong đội ngũ CNVCLĐ Hoạt động công đoàn trong các công ty cổ phần cũng

có nhiều thay đổi Vai trò của tổ chức công đoàn trong các công ty cổ phần về nguyên tắc không thay đổi, nhưng trong thực tế về nội dung và hình thức hoạt

động có thay đổi so với khi còn là DNNN Công đoàn cơ sở các doanh nghiệp

cổ phần hoá còn chậm đổi mới về nội dung, tổ chức và phương thức hoạt động, thiếu hướng dẫn hoạt động cụ thể ngay từ đầu nên lúng túng trong hoạt động,

đặc biệt là ở những công ty mà công đoàn không được tham gia vào Hội đồng quản trị Vai trò đại diện của công đoàn trong tham gia quản lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ bị hạn chế Quá trình cổ phần hoá DNNN cũng gặp một số khó khăn về xác định giá trị doanh nghiệp, xây dựng phương án cổ phần hoá, vấn đề về đất đai, bán cổ phiếu, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp cổ phần hoá Đó là những vấn đề đang đặt ra cho tổ chức công đoàn Thủ đô nói chung và công đoàn cơ sở các doanh nghiệp nhà nước

cổ phần hoá nói riêng những khó khăn, thử thách mới Để vượt qua những khó

Trang 9

khăn và để tổ chức công đoàn thực sự là nơi gắn bó thiết tha của người lao

động, đòi hỏi tổ chức công đoàn phải đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp, mở rộng phạm vi đối tượng vận động để tập hợp đông đảo CNVCLĐ trong các thành phần kinh tế vào tổ chức công đoàn Đó không những là nguyện vọng thiết tha của CNVCLĐ mà cũng là yêu cầu cấp bách về sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức công đoàn trong giai đoạn hiện nay

LĐLĐ Thành phố Hà Nội là cơ quan có chức năng tham gia với Uỷ ban Nhân dân Thành phố về vấn đề sắp xếp doanh nghiệp, cổ phần hoá DNNN, nắm tình hình CNVCLĐ trong các công ty cổ phần và chỉ đạo hoạt động công

đoàn nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động Vì thế tôi chọn "Cổ phần hoá và tổ chức công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá ở Hà Nội 1992 - 2002" làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học lịch sử

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài:

Cổ phần hoá DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, được bắt đầu từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX Đây là một vấn đề còn rất mới nên đã được nhiều người quan tâm Đến nay đã có khá nhiều sách cũng như các công trình nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn vấn đề cổ phần hoá DNNN Đã có công trình nghiên cứu về lý luận cổ phần hoá như cuốn sách "Bàn về cải cách toàn diện DNNN"

do Trương Văn Bân (chủ biên) Đây là một công trình khoa học công phu của tác giả nước ngoài đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam Bên cạnh vấn đề lý luận về cổ phần hoá, có nhiều công trình nghiên cứu thực tiễn cũng như kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN như Đề tài khoa học cấp nhà nước (mã số ký hiệu KX0305) "Cổ phần hoá DNNN - kinh nghiệm thế giới" của các tác giả TS Hoàng Đức Tảo (chủ biên), PTS Nguyễn Thiết Sơn, PTS Ngô Xuân Bình được xuất bản thành sách vào năm 1993; cuốn sách "cổ phần hoá DNNN, nghiên cứu và ứng dụng" của PTS Phạm Ngọc Côn; Luận án tiến sỹ kinh tế của TS

Trang 10

Nguyễn Thị Thơm (Trường đại học kinh tế quốc dân) "Cổ phần hoá DNNN" xuất bản năm 1999, đây là một công trình lớn tập hợp được hầu hết các vấn đề

về cổ phần hoá

Vấn đề cổ phần hoá DNNN là một vấn đề mới mẻ nên hoạt động công

đoàn trong các công ty cổ phần cũng đang là vấn đề đặt ra cho các cấp công

đoàn Thủ đô Trên thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về phong trào công nhân, viên chức, lao động và tổ chức công đoàn, song các công trình chủ yếu nghiên cứu vấn đề công đoàn ở tầm vĩ mô trên một phạm vi tương đối rộng, phạm vi quốc gia và đã nêu ra những mặt được và chưa được của hoạt

động công đoàn hiện nay, mà chưa có công trình nào nghiên cứu hoạt động công đoàn ở phạm vi một địa phương hoặc tại một loại hình doanh nghiệp trong một địa bàn cụ thể Nghiên cứu "Cổ phần hoá và tổ chức công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá ở Hà Nội 1992 - 2002" với mục đích tìm hiểu sâu hơn về hoạt động của tổ chức Công đoàn trong doanh nghiệp nhà nước chuyển sang hoạt động theo cơ chế công ty cổ phần nhằm đưa ra bức tranh về

tổ chức và thực trạng hoạt động của Công đoàn trong các công ty cổ phần, từ

đó góp phần tìm giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của Công đoàn trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của công nhân, viên chức, lao động trong doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần nói riêng đều có cơ cấu, hệ thống tổ chức tương

đối giống nhau bao gồm: Đảng uỷ, Ban Giám đốc (Hội đồng quản trị), Công

đoàn, Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ Mỗi nhân tố, đơn vị trong hệ thống tổ chức có vai trò, nhiệm vụ và chức năng khác nhau nhằm hướng tới mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng cuộc sống của công nhân, viên chức, lao

động thông qua việc nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm và tối đa hoá lợi nhuận Trong hệ thống tổ chức đó, Công đoàn không những có vai trò quan trọng bậc nhất đến việc chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp

Trang 11

chính đáng của công nhân, viên chức, lao động mà còn có vai trò là cầu nối, kênh thông tin hai chiều nhằm truyền đạt và giải quyết mâu thuẫn, khúc mắc giữa tư tưởng lãnh đạo, chính sách phát triển doanh nghiệp với công nhân, viên chức, lao động Thực tế đã chỉ ra rằng, những doanh nghiệp phát triển và đứng vững trong cơ chế thị trường là những doanh nghiệp có tổ chức Công đoàn vững mạnh

Thực hiện chủ trương cổ phần hoá DNNN của Đảng và Nhà nước, tổ chức công đoàn Thủ đô đã có nhiều đóng góp quan trọng trong quá trình chuyển đổi và hoạt động của các công ty cổ phần nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động Hoạt động công đoàn trong những doanh nghiệp đã cổ phần hoá đều có hiệu quả hơn trước Tuy nhiên, hoạt động công đoàn, vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn trong các công ty cổ phần có nhiều điểm khác với hoạt động công đoàn trong các DNNN Sự chuyển đổi cơ chế hoạt động doanh nghiệp đã và đang dẫn đến những thay đổi về cơ cấu tổ chức, các mối quan hệ trong doanh nghiệp Những thay đổi đó đã và đang tác

động mạnh mẽ và ngày càng sâu sắc đến quyền lợi và nghĩa vụ của công nhân, viên chức, lao động Với vai trò Công đoàn là một tổ chức trực tiếp bảo vệ quyền lợi của công nhân, viên chức, lao động, vấn đề đặt ra là tổ chức công

đoàn cần làm gì để hoàn thành vai trò, nhiệm vụ và chức năng của mình Mặt khác cho đến nay, vấn đề cổ phần hoá DNNN ở từng địa phương và vấn đề tổ chức công đoàn trong các công ty cổ phần chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, cặn kẽ

Nghiên cứu một số nét về quá trình cổ phần hoá DNNN thành phố Hà Nội để làm cơ sở đi sâu nghiên cứu về tổ chức công đoàn trong các công ty cổ phần hoá ở Hà Nội giai đoạn 1992 - 2002 là một vấn đề khá rộng Thời gian thực hiện đề tài không có nhiều, tổ chức các cuộc khảo sát thực tế cũng như việc tiếp xúc với các nguồn tư liệu không dễ dàng Đó là những khó khăn mà chúng tôi gặp phải khi thực hiện đề tài Do vậy, chúng tôi mới chỉ tiếp cận một

Trang 12

số vấn đề cơ bản về cổ phần hoá và tổ chức công đoàn trong các công ty cổ phần

3 Mục đích nghiên cứu:

- Tìm hiểu quá trình thực hiện chủ trương và thực trạng quá trình cổ phần hoá DNNN ở Hà Nội

- Nghiên cứu về tổ chức công đoàn, khảo sát thực trạng tình hình hoạt

động và đội ngũ CNVCLĐ trong các công ty cổ phần làm cơ sở cho việc đề xuất một số biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn trong các công ty cổ phần

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng ngiên cứu là cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và tổ chức công đoàn trong các DNNN cổ phần hóa ở Hà Nội

- Phạm vi về không gian: Đề tài của luận văn được giới hạn trong hoạt

động công đoàn trong các công ty cổ phần từ DNNN tại Thủ đô Hà Nội

- Phạm vi về thời gian: đề tài luận văn giới hạn trong giai đoạn 1992 -

2002

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu của luận văn dựa trên tư duy lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin Bằng phương pháp chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng để giải thích, tìm hiểu quá trình cổ phần hoá DNNN ở Hà Nội, hoạt động của tổ chức công đoàn trong các công ty cổ phần trong trạng thái vận động và phát triển dưới góc độ lịch sử (chủ yếu từ năm 1992 - 2002)

- Những phương pháp chủ yếu được vận dụng để tiến hành nghiên cứu, thực hiện đề tài bao gồm phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logíc

để làm rõ quá trình cổ phần hóa DNNN và tổ chức công đoàn trong các công

ty cổ phần

- Phương pháp lịch sử kết hợp kết hợp phương pháp thống kê, so sánh,

đối chiếu để làm cơ sở cho những nhận định, đánh giá và khái quát vấn đề

Trang 13

6 Nguồn tư liệu chính:

Nguồn tư liệu chính để viết luận văn là các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, XI; văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ X, XI, XII, XIII; sách, đề tài nghiên cứu khoa học của các tác giả trong

và ngoài nước viết về cổ phần hoá DNNN; Văn kiện Đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ VII, VIII, IX; Văn kiện Đại hội Công đoàn Thành phố Hà Nội lần thứ XI, XII, XIII; các văn bản của Tổng LĐLĐ Việt nam và LĐLĐ Thành phố

Hà Nội về hoạt động công đoàn trong các công ty cổ phần; các báo cáo hàng năm của Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp thành phố, các báo cáo về hoạt động công đoàn trong các công ty cổ phần của LĐLĐ Hà Nội; của công

đoàn cơ sở các doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, các báo cáo, số liệu thống kê của Tổng cục thống kê và Cục thống kê Hà Nội Ngoài

ra, luận văn còn sử dụng các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả liên quan

đến đề tài luận văn và một số dữ liệu, tư liệu thực tế do tác giả điều tra, khảo sát tại các công ty cổ phần

7 nội dung Đóng góp của luận văn:

- Quá trình cổ phần hoá DNNN thành phố Hà Nội năm 1992 - 2002 đã

có những đóng góp quan trọng vào ổn định chính trị, phát triển kinh tế của Thành phố, song chưa có công trình nào nghiên cứu về cổ phần hoá và tổ chức công đoàn trong các công ty cổ phần một cách cụ thể, cặn kẽ Luận văn nghiên cứu sơ lược quá trình cổ phần hoá DNNN ở Hà Nội, từ đó làm cơ sở nghiên cứu hoạt động của tổ chức công đoàn trong các công ty cổ phần

- Luận văn khái quát, phân tích và đánh giá hoạt động của tổ chức công

Trang 14

8 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương:

Chương I: Cổ phần hoá và tổ chức công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá ở Hà Nội 1992 - 1997

Chương II: Cổ phần hoá và tổ chức công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá ở Hà Nội 1998 - 2002

Chương III: Một số nhận xét và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công đoàn trong các công ty cổ phần

Trang 15

Chương 1

cổ phần hoá và tổ chức công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá ở hà nội những năm 1992 - 1997

1.1 Cổ phần hoá DNNN ở Hà Nội trong những năm 1992 - 1997

1.1.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước về cổ phần hoá DNNN trong những năm 1992 - 1997

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam xác

định đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nước, trong đó có chủ trương sắp xếp lại DNNN: "Muốn đưa nền kinh tế sớm thoát khỏi tình trạng rối ren, mất cân đối, phải dứt khoát sắp xếp lại nền kinh tế quốc doanh theo cơ cấu hợp lý "[9, 47], " củng cố và phát triển kinh tế XHCN, trước hết là làm cho kinh tế quốc doanh thật sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác bảo đảm cho các đơn vị kinh tế quốc doanh có quyền tự chủ, thật sự chuyển sang hạch toán kinh doanh XHCN " [9, 58] Cùng với quá trình sắp xếp lại DNNN, cổ phần hoá là một quá trình tất yếu có tính phổ biến của sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu Cổ phần hoá DNNN được coi là một giải pháp cơ bản để cải cách DNNN đang sản xuất kinh doanh thua lỗ, làm cho khu vực kinh tế nhà nước sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có khả năng thích ứng với sự đòi hỏi của nền kinh tế thị trường

Đại hội VI của Đảng đã mở ra một bước ngoặt mới cho nền kinh tế nước ta: xoá bỏ cơ chế quản lý kinh tế quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường

Điều đó đã thực sự đưa nền kinh tế Việt Nam sang một giai đoạn mới với những kết quả ngày càng to lớn

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, chủ trương đổi mới, sắp xếp lại DNNN, trong đó có cổ phần hoá DNNN dần hình thành Ngày 14/11/1987, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành quyết định số

Trang 16

217/HĐBT, điều 22 có ghi: "Bộ Tài chính nghiên cứu và tổ chức làm thí điểm việc mua bán cổ phiếu ở một số xí nghiệp quốc doanh và báo cáo kết quả lên Hội đồng Bộ trưởng vào cuối năm 1988" [8, 1386] Đây là văn bản đầu tiên mang tính pháp lý cho chủ trương tiến hành cổ phần hoá DNNN Nhưng do

điều kiện chủ quan và khách quan lúc đó nên chủ trương cổ phần hoá chưa thực hiện được

Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá VII tháng 12/1992 đã nhấn mạnh: "Đổi mới cơ bản tổ chức và cơ chế quản lý các DNNN Thực hiện các hình thức cổ phần hoá thích hợp tính chất và lĩnh vực sản xuất để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo thêm động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả " [10, 48]

Ngày 10/5/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 143/HĐBT "về việc tổng kết thực hiện quyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987, các nghị định 50/HĐBT ngày 22/3/1998 và 90/HĐBT ngày 02/08/1988 và làm thử việc tiếp tục đổi mới quản lý xí nghiệp quốc doanh" Ngoài việc tổng kết những việc đã làm được và chưa làm được, nội dung quyết định đã nói rõ hơn

về mục đích và cách làm cổ phần hoá nhưng vẫn chưa có sự hướng dẫn cụ thể cho các Bộ, Ngành Do vậy, số DNNN tham gia cổ phần hoá ít, rời rạc và chưa

có hiệu quả

Ngày 08/06/1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 202/CT

và kèm theo đề án triển khai thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần Từ đây, chủ trương cổ phần hoá được tiến hành một cách có tổ chức và

có hệ thống Tuy nhiên, đây là chủ trương mới mẻ nên số DNNN tiến hành cổ phần hoá thí điểm còn ít Ngày 04/03/1993, Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 84/TTg "về việc xúc tiến thực hiện thí điểm cổ phần hoá DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với các DNNN"

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, các ban ngành có liên quan bắt đầu tiến hành những bước đi thận trọng về cổ phần hoá Ngày

Trang 17

22/07/1992, Bộ Lao động thương binh xã hội ra thông tư số 09/LĐTBXH-TT

"hướng dẫn về lao động và chính sách với lao động trong thí điểm chuyển một

số DNNN thành công ty cổ phần theo quyết định 202/CT ngày 08/06/1992";

Bộ Tài chính ra thông tư số 36/TC-CN ngày 07/05/1993 "hướng dẫn về những vấn đề tài chính của các doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần theo quyết định 202/CT ngày 06/08/1992" Đến thời điểm này, cổ phần hoá mới thực sự góp phần cải cách DNNN

Cổ phần hoá là một chủ trương đúng đắn nhưng không phải ngay lập tức chủ trương này đã được triển khai thực hiện Phải mất một thời gian dài từ khi xây dựng mô hình cho đến khi triển khai vào thực tế một cách có hệ thống Mặc dù cổ phần hoá không còn là một vấn đề mới đối với nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nước Tây Âu đã tiến hành cổ phần hoá từ năm 1978, nhưng đối với Việt nam thì đây lại là một vấn đề rất mới và còn nhiều phức tạp nên quan điểm về cổ phần hoá chưa được làm rõ và thông suốt

Thí điểm cổ phần hoá một số DNNN theo quyết định 202/CT đã rút ra

được một số kinh nghiệm và ngày 7/5/1996, Chính phủ ban hành nghị định số 28/CP "về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần" Nghị định quy định

cụ thể rõ ràng những DNNN được nhà nước cho phép cổ phần hoá, thẩm quyền quyết định cổ phần hoá, các chính sách ưu đãi người lao động, ưu đãi cho doanh nghiệp cổ phần hoá nhằm xúc tiến quá trình cổ phần hoá DNNN thành công ty cổ phần Đối với tổ chức Công đoàn và quyền lợi của công nhân, viên chức, lao động, mục 5 điều 10 Nghị định 28/CP quy định: "Doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá được chủ động sử dụng số dư quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi (bằng tiền) chia cho công nhân, viên chức, lao động đang làm việc để mua cổ phiếu Được duy trì và phát triển quỹ phúc lợi dưới dạng hiện vật, các công trình văn hoá, câu lạc bộ, bệnh xá, nhà điều dưỡng để đảm bảo phúc lợi cho người lao động trong công ty cổ phần những tài sản này thuộc sở hữu của

Trang 18

tập thể người lao động trong công ty cổ phần và do Công đoàn của Công ty quản lý" [1, 8]

"Điều 11 của Nghị định quy định những ưu đãi mà người lao động trong công ty cổ phần được hưởng:

- Ưu đPi về tài chính:

+ Được nhà nước cấp một số cổ phiếu tuỳ theo thâm niên và chất lượng công tác của từng người Đối với số cổ phiếu này, người lao động được hưởng

cổ tức, được quyền thừa kế cho con làm việc tại công ty cổ phần nhưng không

được chuyển nhượng Những cổ phiếu này thuộc sở hữu nhà nước tại công ty

cổ phần

+ Được mua chịu một số cổ phiếu đP trả chậm trong 5 năm với lPi suất

là 4%/năm, tổng mức mua không quá 15% giá trị doanh nghiệp

- Được tiếp tục làm việc tại Công ty cổ phần (nếu họ có nhu cầu) theo quy định tại điều 31 của Bộ Luật Lao động 23/6/1994 Sau 12 tháng kể từ khi doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, nếu do nhu cầu tổ chức lại hoạt động kinh doanh mà phải thay đổi cơ cấu công nghệ dẫn đến người lao động mất việc làm thì chính sách đối với những người lao động và nghị

Trang 19

động, lao động và chính sách đối với người lao động trong doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá, lao động và chính sách đối với người lao động khi doanh nghiệp đã chuyển thành công ty cổ phần

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996) đã xác định "triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy DNNN làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản nhà nước ngày tăng lên, không phải để tư nhân hoá Bên cạnh những doanh nghiệp 100% vốn nhà nước sẽ có nhiều DNNN nắm đa số hay nắm tỷ lệ cổ phiếu chi phối Gọi thêm nhiều cổ phiếu hoặc bán cổ phiếu cho người lao động tại doanh nghiệp, cho các tổ chức và cá nhân ngoài doanh nghiệp tuỳ từng trường hợp cụ thể; vốn huy động được phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh" [11, 94] Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam ra thông báo số 63/TB-TW về "ý kiến của Bộ Chính trị về việc tiếp tục triển khai tích cực và vững chắc cổ phần hoá DNNN" Trên cơ sở đánh giá những kết quả bước đầu và những vấn đề nảy sinh trong quá trình tiến hành cổ phần hoá DNNN, thông báo 63/TB-TW một lần nữa khẳng định cổ phần hoá một bộ phận DNNN là một chủ trương đúng

đắn của Đảng, nhà nước và đề ra nội dung công việc yêu cầu các tổ chức Đảng

và chính quyền các cấp cần thực hiện để đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá 1.1.2 Chủ trương của Thành phố Hà Nội về cổ phần hoá DNNN trong những năm 1992 - 1997

Thực hiện chủ trương cổ phần hoá DNNN của Đảng, nhà nước, Đảng bộ

và chính quyền thành phố Hà Nội hết sức quan tâm và cũng có những bước đi thận trọng cho mình trong việc tiến hành cổ phần hoá DNNN Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam, đại hội đại biểu lần thứ X Đảng bộ Thành phố Hà Nội (năm 1986) cũng được chuẩn bị theo tinh thần của Đại hội VI Vận dụng những quan điểm đổi mới của Đại hội VI, Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ X đã đề ra phương châm hành động

Trang 20

là:"phải thật sự đổi mới nhận thức, đổi mới phong cách làm việc lấy hiệu quả kinh tế - xP hội làm mục tiêu" [19, 156]

Trên tinh thần đổi mới cách nghĩ, cách làm, Đại hội Đảng bộ Thành phố

Hà Nội phấn đấu thực hiện 6 mục tiêu lớn về kinh tế - văn hoá - xã hội - giáo dục trong thời gian tới, trong đó mục tiêu về kinh tế là: "Phát triển sức sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế hợp

lý của Thủ đô và đổi mới quản lý kinh tế, hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN" [18, 133] Đại hội lần thứ X Đảng bộ Thành phố Hà Nội được coi là Đại hội

mở đầu thời kỳ đổi mới của Thủ đô Đại hội đánh dấu bước chuyển biến quan trọng về tư tưởng chính trị theo quan điểm đổi mới của Trung ương Đảng, mở

đầu bằng đổi mới về tư duy, mà trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, thể hiện quyết tâm đổi mới cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý hạch toán kinh doanh XHCN Có thể coi đây là những tiền đề quan trọng để Hà Nội

có những bước đi vững chắc trong vấn đề cải cách DNNN, đặc biệt theo hướng

cổ phần hoá

Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội (họp tháng 12/1989) đã nêu bật những quan điểm, chủ trương, giải pháp về phát triển các thành phần kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế cụ thể, rõ nét hơn:

"đối với thành phần kinh tế quốc doanh là: phải chuyển mạnh sang hạch toán kinh tế, kinh doanh sản xuất xP hội chủ nghĩa; ngân sách Thành phố không bù

lỗ cho các doanh nghiệp; các doanh nghiệp thua lỗ kéo dài thì phải chuyển thành công ty cổ phần" [18, 164] Như vậy, chủ trương của Hà Nội là phải tiến hành cải cách sắp xếp lại DNNN để làm ăn có hiệu quả, nhất là những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài thì phải chuyển đổi hình thức sở hữu (cổ phần hoặc đấu thầu cho thuê) Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 đã bước đầu xác định hướng đi mới cho các DNNN, trong đó chủ trương cổ phần hoá là một biện pháp được Đảng bộ Thành phố quan tâm

Trang 21

Để phát huy sức mạnh tổng hợp tạo nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội (kinh tế thị trường định hướng XHCN) trong khi nguồn vốn ban đầu của Thành phố còn quá ít ỏi, ngày 28/9/1992, Thành uỷ Hà Nội đã xây dựng chương trình 13/CT-TU về "huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển kinh tế - xP hội ở Thủ đô" UBND Thành phố đã ra kế hoạch tổ chức thực hiện chương trình với mục tiêu là: "xác định cơ chế chính sách, tìm giải pháp khai thác, huy động và

sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là tài sản tiềm năng trong các tổ chức kinh

tế, trong nhân dân, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xP hội trên địa bàn Thủ đô" [18, 218] Chương trình 13 của Thành uỷ Hà Nội được coi là bước đi đầu tiên của Thành phố trong việc xác

định cải cách DNNN theo hướng thực hiện thí điểm cổ phần hoá theo quyết

định 202/CT của Hội đồng Bộ trưởng Ngày 8/6/1992, Thành uỷ Hà Nội tiếp tục ra chương trình 18/CT-TU ngày 12/1/1993 về "sắp xếp lại sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội" Vấn đề đổi mới DNNN theo hướng cổ phần hoá bước đầu được thí điểm Cổ phần hoá từ chủ trương đã đi vào thực tế ở Hà Nội

Để thực hiện chương trình, UBND Thành phố thành lập Tiểu ban chỉ đạo Thành phố về đổi mới doanh ngiệp Tuy nhiên, vấn đề cổ phần hoá còn quá mới mẻ đối với đất nước ta, những chính sách của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá còn nhiều bất cập nên số DNNN cổ phần hoá cả nước nói chung và ở

Hà Nội nói riêng còn rất ít

Nhận thức rõ việc đổi mới DNNN là động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, ngày 18/6/1996, UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 3054/QĐ-UB

"về việc thành lập Ban chỉ đạo thành phố về đổi mới quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh"; ngày 31/11/1996 tiếp tục ra quyết định số 4045/QĐ-UB "về việc thành lập tổ chuyên viên giúp việc Ban chỉ đạo Thành phố trong việc thẩm định hồ sơ các DNNN chuyển thành công ty cổ phần và các DNNN góp vốn, tài sản thành lập công ty cổ phần hoặc liên doanh với các chủ sở hữu tư

Trang 22

nhân tập thể" Quyết định cụ thể hoá chủ trương cổ phần hoá DNNN theo nghị

định 28/CP của Chính phủ

Thực hiện Nghị định 28/CP của Thủ tướng Chính phủ, Ban Thường vụ Thành uỷ Hà Nội ra chỉ thị 10/CT-TU ngày 10/1/1997 "về lPnh đạo thực hiện chủ trương chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần (gọi tắt là cổ phần hoá)" Nội dung của chỉ thị là tổ chức cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành, các cấp nghiên cứu nghị định 28/CP và các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương để phổ biến cho cán bộ, đảng viên những nội dung chủ yếu

về cổ phần hoá; các quận uỷ, huyện uỷ và Ban Cán sự Đảng cơ sở tiến hành

đánh giá, phân tích các DNNN trong phạm vi quản lý để tiến hành sắp xếp lại DNNN hoặc giải thể, lựa chọn danh sách các doanh nghiệp để tiến hành cổ phần hoá vào năm 1997 Chỉ thị số 10/CT-TU được coi là mốc đánh dấu quan trọng trong tiến trình cổ phần hoá ở Hà Nội [5]

Ngày 7/5/1996, Đảng bộ Thành phố Hà Nội tiến hành Đại hội Đảng lần thứ 12 Đại hội đã nghe báo cáo tình hình kinh tế - chính trị - xã hội của kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu của 5 năm tới 1996 - 2000, trong đó phương hướng phát triển kinh tế Thủ đô là: "phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xP hội chủ nghĩa", cụ thể là: "chủ động đổi mới để phát triển kinh tế nhà nước đạt hiệu quả kinh tế - xP hội cao, hỗ trợ và dẫn dắt các thành phần kinh tế khác cùng phát triển có lợi cho quốc kế dân sinh Các cấp, các ngành cần quan tâm tiếp tục sắp xếp lại cơ sở kinh tế nhà nước, giảm bớt các cơ sở không cần duy trì hình thức DNNN những cơ sở không quan trọng, làm ăn thua lỗ kéo dài Thành phố cần tập trung nguồn lực phát triển kinh tế nhà nước trong nhhững ngành, những lĩnh vực trọng yếu như kết cấu hạ tầng kinh

tế - xP hội, hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại dịch vụ then chốt Bỏ cơ chế quản lý cấp chủ quản, nâng cao chất

Trang 23

lượng quản lý nhà nước của các sở chuyên ngành Đổi mới và tăng cường vai trò của nhà nước và kinh tế nhà nước trong lĩnh vực phân phối lưu thông

Phát triển mạnh cổ phần hoá DNNN Trừ một số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, nói chung nhà nước chỉ nắm tỷ lệ cổ phần hoá chi phối, cổ phần

đặc biệt, còn lại chủ yếu bán cổ phần cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, một phần bán ra ngoài doanh nghiệp Quá trình cổ phần hoá phải làm cho phần vốn nhà nước tiếp tục tăng lên, mở rộng các hình thức huy động vốn

và các hình thức liên doanh, liên kết, góp vốn cổ phần giữa kinh tế nhà nước với kinh tế hợp tác xP, kinh tế tư nhân trong và ngoài nước " [20, 83]

Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã xác định phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần định hướng XHCN là một trong những hướng nhằm cải cách DNNN Sau một thời gian thực hiện cổ phần hoá DNNN theo chỉ thị 10/CT-

TU và nghị định 28/CP, ngày 20/12/1997, Thành uỷ Hà Nội ra kết luận số 184/KL-TU "về tình hình và giải pháp thực hiện cổ phần hoá DNNN" Kết luận nêu tình hình chung của việc chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần và nêu lên những giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá Kết luận 184/KL-TU thể hiện vấn đề cổ phần hoá DNNN được Thành uỷ Hà Nội hết sức quan tâm và theo dõi, chỉ đạo sát sao

1.1.3 Cổ phần hoá DNNN của Thành phố Hà Nội trong những năm 1992

- 1997

Các DNNN thành phố Hà Nội trong giai đoạn đầu thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gặp hàng loạt những vấn đề khó khăn nảy sinh Tính đến cuối năm 1991, trong tổng số 800 DNNN trên địa bàn Hà Nội có 320 DNNN do địa phương quản lý với khoảng 72.000 lao động hoạt động trong 14 ngành kinh tế - kỹ thuật của Thủ đô Phần lớn các DNNN của Hà Nội có quy mô nhỏ bé, gần 90 doanh nghiệp có vốn chỉ dưới 1 tỷ đồng (khoảng 28%) Quy mô lao động cũng nhỏ bé Số doanh nghiệp có dưới 100 lao động chiếm

Trang 24

đa số, khoảng 40%; 34% doanh nghiệp có hơn 300 lao động và chỉ có chưa

đến 10 doanh nghiệp có hơn 1000 lao động (khoảng 3%)

Xét về hiệu quả hoạt động, trong số 320 doanh nghiệp: 220 doanh nghiệp làm ăn có lãi (hơn 68%); 1/3 doanh nghiệp làm ăn hoà vốn hoặc lỗ vốn, trong đó có 33 doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài (hơn 10%) [27] Đứng trước những thử thách của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không thể tồn tại với hiệu quả hoạt động có xu hướng giảm sút Cải cách DNNN trở thành một yêu cầu bức thiết của Thủ đô cũng như cả nước trước tình hình toàn cầu hoá nền kinh tế của thế giới Một trong những hướng đi được coi là giải pháp cơ bản để cải cách khu vực kinh tế nhà nước là tiến hành cổ phần hoá DNNN

Mục tiêu của việc tiến hành cổ phần hoá được quy định tại Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 của Chính phủ về chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần nhằm:

"Huy động vốn của công nhân viên chức trong doanh nghiệp; cá nhân, các tổ chức kinh tế trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp

Tạo điều kiện để những người góp vốn và công nhân, viên chức trong doanh nghiệp có cổ phần, nâng cao vai trò làm chủ thực sự, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả" [1, 4]

Quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước về cổ phần hoá DNNN tại quyết định 202/CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Thành uỷ và UBND thành phố Hà Nội đã có kế hoạch tổ chức thực hiện Ngày 28/9/1992, Thành uỷ Hà Nội có chương trình 13 về "huy động vốn đầu tư phát triển kinh tế - xP hội ở Thủ đô", chương trình 18/TU ngày 12/1/1993 về "sắp xếp lại sản xuất kinh doanh trên địa bàn Hà Nội", nhưng

đến cuối năm 1995, DNNN đầu tiên ở Hà Nội là Xí nghiệp Sản xuất đồ mộc

Trang 25

thuộc Sở Thương mại Hà Nội cũng mới đưa vào danh sách xem xét để tiến hành cổ phần hoá

Như vậy, cho đến năm 1995, Thành phố Hà Nội chưa tiến hành cổ phần hóa được DNNN nào Lý do chủ yếu là chủ trương cổ phần hoá DNNN là chủ trương còn rất mới đối với đất nước ta, các DNNN tiến hành cổ phần hoá trên cả nước còn quá ít, những kinh nghiệm về cổ phần hoá chưa nhiều Nhiều doanh nghiệp chưa thực sự tin tưởng vào chủ trương này, còn dè dặt, thăm dò Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền chủ trương cổ phần hoá đến người lao

động chưa được chú trọng, chủ trương mới ở giai đoạn thí điểm nên nhiều lao

động chưa hiểu, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp còn sợ mất quyền mất chức khi

cổ phần hoá

Sau nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 của Chính phủ và các thông tư số 50/TC-TCDN ngày 30/8/1996 của Bộ tài chính, thông tư số 17/LĐTBXH - TT của Bộ Lao động Thương binh xã hội ngày 7/9/1996 hướng dẫn cụ thể về cổ phần hoá DNNN, Thành uỷ, UBND thành phố Hà Nội cũng xúc tiến việc tiến hành cổ phần hoá DNNN theo nghị định 28/CP của Chính phủ Ngày 18/9/1996, UBND thành phố Hà Nội ra quyết định số 3054/QĐ-UB về việc

"thành lập Ban chỉ đạo của Thành phố về đổi mới quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh", ngày 30/11/1996, UBND Thành phố ra quyết định thành lập tổ chuyên viên giúp việc Ban chỉ đạo Thành phố trong việc thẩm định hồ sơ các DNNN chuyển thành công ty cổ phần và đặc biệt là chỉ thị số 10/CT-TU ngày 10/1/1997 về "lPnh đạo thực hiện chủ trương chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần"

Hà Nội bước vào giai đoạn thí điểm cổ phần hoá một số DNNN nhưng

do còn có nhiều vướng mắc nên số lượng doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá không nhiều Đến cuối năm 1996, trên địa bàn Hà Nội mới có 1 doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá là Xí nghiệp sản xuất đồ mộc thuộc Sở Thương mại Hà Nội Như vậy, cho đến hết năm 1996, cả nước có 10 doanh nghiệp đã có quyết

Trang 26

định chuyển thành công ty cổ phần, thì có 5 công ty: Đại lý liên hiệp vận chuyển (Bộ Giao thông vận tải); Cơ điện lạnh, Giầy Hiệp An (Thành phố Hồ Chí Minh); Chế biến hàng xuất khẩu (Long An); Công ty chế biến thức ăn gia súc (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) đã hoạt động theo Luật Công ty trên một năm và đạt được những thành tựu đáng khích lệ về nhiều mặt Theo báo cáo của các công ty cổ phần trên thì hầu hết các chỉ tiêu kinh tế đều tăng: Bình quân ở cả 5 đơn vị doanh thu tăng 56,9%/năm; lợi nhuận tăng 70,2%/năm; lao động tăng 46,8%/năm; thu nhập bình quân đầu người tăng 20%/năm Các công ty cổ phần: Xe khách Hải Phòng, Khai thác đá Đồng Giao, Sản xuất đồ mộc Hà Nội, Ong mật Thành phố Hồ Chí Minh mới có thời gian hoạt động từ 3 đến 6 tháng nhưng lợi nhuận thu được so với cùng kỳ năm trước tăng từ 18 đến 35% [7, 18]

Năm 1997 có thêm 4 doanh nghiệp của Hà Nội được cổ phần hoá là: Công ty điện tử Hà Nội, công ty xốp nhựa Hanel, công ty taxi và công ty chiếu sáng đô thị Ngoài ra còn 8 doanh nghiệp đang được hoàn tất hồ sơ để Thành phố xét duyệt Mặc dù Hà Nội mới tiến hành cổ phần hoá một số doanh nghiệp nhưng các doanh nghiệp cổ phần này đã có thành tựu bước đầu: giá trị sản xuất tăng, thu nhập bình quân lao động đạt 600.000đ/người/tháng

Tuy nhiên, tốc độ cổ phần hoá DNNN ở Hà Nội trong giai đoạn này vẫn còn chậm, tiến hành một cách nhỏ giọt, không đồng đều Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chậm trễ đã được Thành uỷ Hà Nội nêu ra trong Kết luận số 184/KL-TU ngày 20/12/1997 gồm 4 nguyên nhân chính":

"Một là: Cổ phần hoá DNNN là công việc hoàn toàn mới mẻ, cả về nhận thức và tổ chức chỉ đạo thực hiện; là vấn đề nhạy cảm, trực tiếp tác động đến quyền lợi và trách nhiệm của cán bộ quản lý và người lao động, đòi hỏi vừa làm vừa rút kinh nghiệm, không thể tiến hành một cách ào ạt trong một thời gian nhất định

Trang 27

Hai là: Công tác tuyên truyền chưa thấu đáo, thiếu cả chiều rộng lẫn chiều sâu Nhiều cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp và người lao động chưa hiểu rõ mục đích, ý nghĩa là lợi ích lâu dài của cổ phần hoá; tâm trạng sợ "thất thế", sợ bị phân biệt sau khi cổ phần hoá, sợ tính không ổn định của cơ chế, chính sách; người lao động sợ bị mất việc làm; người quản lý sợ mất vị trí

đang khá phổ biến Bên cạnh một vài ngành quan tâm chỉ đạo cơ sở tiến hành

cổ phần hoá, còn không ít sở, quận, huyện đang trong trạng thái chờ đợi, chưa

có kết hoạch thực hiện chủ trương cổ phần hoá theo Nghị định 28/CP của Chính phủ và Thông báo số 63 của Bộ Chính trị

Ba là: Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn và mới của Đảng và Nhà nước ta nên việc nghiên cứu các chế độ, chính sách để tiến hành cổ phần hoá có phần chưa thấu đáo có tình và lý, nặng về lợi ích kinh

tế, chưa chú ý đúng mức đến lợi ích chính trị xã hội Một số chế độ chính sách

ưu đãi cho doanh nghiệp và người lao động khi tiến hành cổ phần hoá chưa có sức hấp dẫn, động viên, khuyến khích cần thiết

Bốn là: Phương pháp tiến hành cổ phần hoá chưa hợp lý Thủ tục tiến hành cổ phần hoá còn rườm rà, tốn nhiều công sức và thời gian; các vướng mắc chưa được giải quyết kịp thời, gây tâm lý lo ngại cho cán bộ và người lao động khi tiến hành cổ phần hoá

Bên cạnh đó còn thấy một nguyên nhân nữa là Thành phố Hà Nội chưa

có một bộ phận chuyên trách (Ban cổ phần hoá) để tập trung chỉ đạo vấn đề này." [5, 26]

1.2 Tổ chức công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá ở Hà Nội những năm 1992 - 1997

1.2.1 Đặc điểm hoạt động công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá

Trong các doanh nghiệp cổ phần hoá có một số đặc điểm cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng hiệu quả hoạt động công đoàn:

Trang 28

- Nếu như trong các DNNN, người lao động và người sử dụng lao động vừa là người đại diện chủ sở hữu về tư liệu sản xuất của nhà nước, vừa là người làm thuê cho nhà nước, quan hệ giữa công đoàn với người sử dụng lao động là quan hệ bình đẳng, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau vì mục tiêu chung là thực hiện mục tiêu lý tưởng của giai cấp công nhân, thì trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, người lao động có một số đặc điểm khác khi còn ở trong DNNN

- Cổ phần hoá tất yếu làm cho một bộ phận công nhân, viên chức, lao

động ra khỏi biên chế nhà nước, gia nhập vào lực lượng lao động ngoài quốc doanh Cổ phần hoá tạo điều kiện thực hiện quyền dân chủ cho công nhân, viên chức, lao động lựa chọn chỗ làm việc và chủ động tham gia vào các hoạt

động kinh doanh dưới hình thức góp vốn

- Quá trình cổ phần hoá đã tạo điều kiện cho một số công nhân, viên chức, lao động nhờ có nguồn tích luỹ nên có nhiều cổ phần chuyển thành chủ

sở hữu hoặc trực tiếp kinh doanh và họ không còn là công nhân nữa Một số có tay nghề cao, vốn nhiều thì chuyển ra khỏi biên chế nhà nước để kinh doanh

độc lập trở thành tiểu chủ, tiểu thương, thậm chí là nhà doanh nghiệp mới Trong khi đó, một bộ phận công nhân, viên chức, lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp, làm thuê cho tư nhân và cuộc sống trở nên khó khăn hơn

- Các DNNN sau khi cổ phần hoá chuyển thành công ty cổ phần vẫn giữ nguyên mô hình hoạt động của DNNN, các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên vẫn duy trì Đó là thuận lợi cho tổ chức công đoàn hoạt động 1.2.2 Vai trò, nhiệm vụ của công đoàn trong các DNNN cổ phần hoá

Nói đến vai trò công đoàn là nói đến sự tác động của tổ chức công đoàn

đến quá trình phát triển của lịch sử, được phản ánh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng trong suốt quá trình hoạt động Trong mỗi chế độ xã hội khác nhau thì vai trò của công đoàn được thể hiện cũng khác nhau, tuỳ thuộc bản chất của chế độ đó và phụ thuộc vào công đoàn đại diện cho ai và do

ai thành lập

Trang 29

Theo Lênin, dưới chủ nghĩa xã hội "công đoàn có vai trò là trường học quản lý, trường học kinh tế, trường học chủ nghĩa xP hội" [13, 423] Là trường học quản lý, công đoàn giúp cho công nhân, viên chức, lao động biết quản lý kinh tế, quản lý xã hội, trước mắt là tổ chức cho công nhân, viên chức, lao

động và đại diện cho công nhân, viên chức, lao động tham gia quản lý sản xuất, quản lý cơ quan, xí nghiệp, quản lý các công việc xã hội; là trường học kinh tế, công đoàn vận động công nhân, viên chức, lao động tích cực sản xuất kinh doanh, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh; là trường học chủ nghĩa xã hội, công

đoàn giáo dục công nhân, viên chức, lao động một cách toàn diện, để công nhân, viên chức, lao động nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, muốn có quyền lợi phải thực hiện tốt nghĩa vụ Công đoàn giáo dục thái độ lao động mới, giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giáo dục văn hoá, lối sống Trường học công đoàn là trường học đặc biệt: không có trường - lớp cụ thể, mà ở đó công nhân, lao động tự đào tạo, đào tạo lẫn nhau về mọi mặt, thông qua hoạt động thực tiễn và bằng hoạt động thực tiễn

Đối với công đoàn Việt Nam, điều 10 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã ghi: "Công đoàn là tổ chức chính trị - xP hội của giai cấp công nhân và của người lao động, cùng cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xP hội chăm lo bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác, tham gia quản lý nhà nước và xP hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo

vệ tổ quốc" [12, 4] Như vậy, vai trò của công đoàn Việt Nam ngày càng được phát huy và mở rộng hơn bao giờ hết và hoàn toàn phù hợp với tính tất yếu khách quan, tính quy luật vận động và phát triển của tổ chức công đoàn Thực

tế những năm đổi mới vừa qua, công đoàn ngày càng thu hút đông đảo công

Trang 30

nhân, viên chức, lao động trong mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động công đoàn, tham gia hoàn thiện cơ chế chính sách, phát triển kinh tế - xã hội,

tổ chức vận động và đại diện cho công nhân, viên chức, lao động đi tiên phong trong thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, tham gia xây dựng Đảng, nhà nước vững mạnh, phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Công đoàn đã có nhiều đóng góp đối với đất nước, với xã hội và với người lao động

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thời gian qua, nhà nước đã có nhiều biện pháp nhằm sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước và tăng cường hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước Từ việc giao quyền

tự chủ cho các doanh nghiệp nhà nước, cho đến việc triển khai cổ phần hoá và xây dựng đề án bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ là một bước đột phá mới trong quá trình nâng cao sức cạnh tranh và vai trò chủ

đạo của các doanh nghiệp nhà nước Đến giữa năm 2002, cả nước cổ phần hoá

được hơn 500 doanh nghiệp nhà nước và thành phố Hà Nội cổ phần hoá được

90 doanh nghiệp nhà nước Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, vì vậy, các doanh nghiệp cổ phần hoá vẫn giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Khi doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần, công ty cổ phần hoạt động theo Luật doanh nghiệp và đại bộ phận người lao động trong các doanh nghiệp trở thành cổ

đông Hầu hết thành viên Hội đồng quản trị và bộ máy điều hành của công ty

là những người có cổ phần lớn, quyền lợi của họ gắn chặt với quyền lợi của doanh nghiệp Hoạt động công đoàn trong các công ty cổ phần cũng khác với khi còn là doanh nghiệp nhà nước Vai trò, nhiệm vụ của công đoàn cơ sở, nơi tiến hành cổ phần hoá được quy định tại văn bản số 1104/TLĐ ngày 13/9/1996 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hướng dẫn nội dung hoạt động khi chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần theo Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 của Chính phủ thể hiện trên các mặt cụ thể sau:

Trang 31

- Công đoàn tổ chức phổ biến tuyên truyền đường lối chủ trương của

Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành làm cho công nhân, viên chức, lao động hiểu rõ mục đích, yêu cầu, hình thức cổ phần hoá; quyền, lợi ích và trách nhiệm của người lao động trong các công ty cổ phần, nhằm tạo sự nhất trí để thực hiện chủ trương cổ phần hoá đạt kết quả cao

- Công đoàn tham gia xây dựng phương án cổ phần hoá, trong đó chú trọng đến kiểm kê tài sản, xác định giá trị doanh nghiệp, các tài sản có nguồn gốc từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi bằng tiền để chia cho công nhân, viên chức, lao động mua cổ phiếu, chống thất thoát tài sản của doanh nghiệp và tài sản của nhà nước Phối hợp cùng Ban Giám đốc doanh nghiệp tổ chức, sắp xếp

sử dụng toàn bộ số lao động hiện có tại doanh nghiệp theo văn bản hướng dẫn của Chính phủ và các bộ, ngành; xây dựng điều lệ (dự thảo) của công ty cổ phần; xác định số lượng công nhân, viên chức, lao động và thâm niên công tác làm cơ sở phân chia cổ phần ưu đãi

- Công đoàn phối hợp với các phòng, ban chức năng của doanh nghiệp lập tiêu thức phân chia số dư quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi bằng tiền chia cho công nhân, viên chức đang làm việc tại doanh nghiệp để mua cổ phần

- Công đoàn phối hợp với chuyên môn chuẩn bị phương án quản lý, sử dụng có hiệu quả các tài sản, công trình phúc lợi, tập trung vào việc xác định giá trị tài sản các công trình phúc lợi; cách thức tổ chức, quản lý và sử dụng có hiệu quả các tài sản, công trình phúc lợi; quy định quyền và trách nhiệm giữa chuyên môn và công đoàn trong quản lý, sử dụng các công trình phúc lợi, những đảm bảo về tài chính và bộ máy cho quản lý; quy định về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động, các cổ đông đối với các tài sản và công trình phúc lợi trong công ty

- Công đoàn phối hợp với giám đốc tổ chức đại hội công nhân, viên chức bất thường, tạo điều kiện để người lao động thảo luận, góp ý kiến và quyết

Trang 32

định những vấn đề tiêu thức phân chia số dư quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi bằng tiền, đối tượng và mức được mua cổ phần ưu đãi, đối tượng và mức được mua cổ phần giành cho công nhân, viên chức nghèo trong doanh nghiệp; cử

đại diện cổ đông là công nhân, viên chức trong doanh nghiệp tham gia hội

đồng quản trị theo quy định của Luật công ty và Điều lệ công ty; Quy chế sử dụng quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi dưới dạng hiện vật như nhà nghỉ, nhà trẻ, trường học ; Nội dung của phương án cổ phần hoá doanh nghiệp; Điều lệ

dự thảo của công ty cổ phần; Tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi chuyển thành công ty cổ phần; Các quyền, lợi ích hợp pháp và những biện pháp bảo đảm cho người lao động trong và sau cổ phần hoá

Sau cổ phần hoá, hoạt động công đoàn trong các công ty cổ phần tập trung vào:

- Chủ động đề xuất với Giám đốc công ty sửa đổi, bổ sung hoặc ký mới các văn bản, các quy chế phối hợp đã ký kết giữa công đoàn và giám đốc doanh nghiệp nhà nước trước đây cho đúng với Luật công ty, Luật công đoàn

- Vận động người lao động và các cổ đông xây dựng quỹ tương trợ để giúp đỡ thêm cho người lao động bị mất việc làm, gặp khó khăn sau cổ phần hoá

- Kiểm tra việc thực hiện các chế độ đối với người lao động sau cổ phần hoá; xem xét ký lại thoả ước lao động tập thể để hướng dẫn người lao động cho phù hợp với Luật Lao động và Luật công ty

Trang 33

- Tham gia giải quyết những tranh chấp giữa các đối tượng trong công ty

Công đoàn cơ sở các DNNN chuẩn bị cổ phần hoá đã tổ chức tuyên truyền, giới thiệu chủ trương cổ phần hoá và nội dung nghị định 28/CP, các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành để CNVCLĐ hiểu rõ mục đích, yêu cầu, hình thức cổ phần hoá; các quyền, lợi ích và trách nhiệm của người lao động nhằm tạo sự nhất trí để thực hiện chủ trương cổ phần hoá có kết quả Các hình thức được sử dụng tuyên truyền như: cung cấp báo, tạp chí cho các tổ, thông báo trên bảng tin, thông qua thi tìm hiểu, thông qua các phương tiện thông tin

đại chúng Công đoàn Công ty cổ phần điện chiếu sáng đã tổ chức phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về cổ phần hoá cho CNVCLĐ tại hội trường và trực tiếp giải đáp những thắc mắc của CNVCLĐ về quyền lợi

và nghĩa vụ của họ khi doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần

Để CNVCLĐ các doanh nghiệp yên tâm, tin tưởng vào chủ trương cổ phần hoá của Đảng và Nhà nước, các công đoàn cơ sở đã làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CNVCLĐ 5 doanh nghiệp trong diện sắp xếp cổ phần hoá sớm nhất của Thành phố là Xí nghiệp sản xuất đồ mộc thuộc Sở Thương Mại, Công ty điện tử Hà Nội, Công ty xốp nhựa Hanel, Công ty Taxi

và Công ty chiếu sáng đô thị năm 1993 đã tổ chức cho 847 (bằng 89%)

Trang 34

CNVCLĐ học tập 3 bài chính trị cơ bản và được nghe phổ biến tình hình thời

sự trong nước, quốc tế Đồng thời kết hợp tuyên truyền về truyền thống của

Đảng, truyền thống giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn nhân các ngày lễ lớn trong năm, làm cho người lao động có lập trường tư tưởng vững vàng, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, nắm vững quan điểm và những mục tiêu của

Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.2.3.2 Công đoàn cơ sở tham gia vào quá trình cổ phần hoá DNNN ở Hà Nội

Công đoàn cơ sở các DNNN chuẩn bị cổ phần hoá đã cử uỷ viên ban chấp hành, chủ tịch hoặc phó chủ tịch tham gia vào Ban đổi mới của doanh nghiệp, tham gia xây dựng phương án cổ phần hoá: kiểm kê tài sản, kể cả các tài sản thuộc sở hữu của công đoàn do công đoàn quản lý, các tài sản có nguồn gốc từ quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi (bằng tiền) để chia cho người lao động mua cổ phiếu, đảm bảo tài sản không bị thất thoát và đảm bảo lợi ích người lao

động; xác định giá trị doanh nghiệp; xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, xây dựng điều lệ (dự thảo) của công ty cổ phần, xác định các loại cổ phiếu, đối tượng và mức được cấp cổ phiếu để hưởng lợi tức, đối tượng và mức được mua

cổ phiếu trả chậm

Đồng thời, các công đoàn cơ sở còn tham gia vào các hội đồng của công

ty như: hội đồng định mức lao động, hội đồng hoà giải, hội đồng lương, hội

đồng thi đua khen thưởng, hội đồng kỷ luật, bảo hộ lao động, tham gia vào phương án sắp xếp lao động

Sau khi cổ phần hoá, công đoàn các doanh nghiệp đã tham gia với lãnh

đạo công ty mạnh dạn sắp xếp lại lực lượng lao động cho phù hợp với khả năng của từng người, chủ động đề xuất với Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị các giải pháp, mô hình học tập, đào tạo, kết hợp học tập tại doanh nghiệp và học tập tại các Trung tâm giáo dục thường xuyên quận, huyện, gửi đi đào tạo lại những lao động có tay nghề kém tại các trường dạy nghề, tiếp nhận lao

Trang 35

động có chọn lọc những người có tay nghề được đào tạo tại các trường đại học

và cao đẳng dạy nghề và tổ chức học nghề tại công ty bằng hình thức thi nâng bậc hàng năm Năm 1997, 5 doanh nghiệp cổ phần hoá ở Hà Nội đã gửi đi đào tạo, đào tạo lại 245 CNLĐ, tiếp nhận 127 CNLĐ có tay nghề đã được đào tạo vào làm việc tại công ty Vì vậy, CNVCLĐ trong các công ty cổ phần đã đáp ứng được yêu cầu của thiết bị, công nghệ mới, đảm bảo năng suất, chất lượng, hiệu qủa trong công việc

1.2.3.3 Công đoàn cơ sở với việc tổ chức các phong trào thi đua trong các DNNN cổ phần hoá

Cùng với việc chuẩn bị các phương án cho quá trình cổ phần hoá, các công đoàn cơ sở đã phát động có hiệu quả các phong trào thi đua trong CNVCLĐ Phong trào Lao động giỏi với các nội dung thi thợ giỏi, thao diễn

kỹ thuật đã thu hút 627 lượt CNVCLĐ của 5 doanh nghiệp tham gia [21] Lao

động giỏi đã gắn chặt với sự phát triển của sản xuất kinh doanh và gắn liền với thu nhập của người lao động Trong cơ chế thị trường, Lao động giỏi vẫn là

động lực tinh thần quan trọng, nâng cao trí tuệ và động viên CNVCLĐ tích cực lao động sản xuất, công tác, góp phần hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị ở cơ sở khẳng định sự cần thiết khách quan của thi đua trong cơ chế thị trường Bên cạnh phong trào Lao động giỏi, Người tốt việc tốt, phong trào "sáng kiến cải tiến kỹ thuật", "tiết kiệm vật tư nguyên liệu" được duy trì với chất lượng ngày càng cao, có tác dụng lôi cuốn đông

đảo CNVCLĐ tham gia

Phong trào "Giỏi việc nước - đảm việc nhà" trong nữ CNVCLĐ được duy trì có hiệu quả với nhiều nội dung và hình thức mới thu hút đông đảo chị

em tham gia Công đoàn cơ sở các doanh nghiệp cổ phần hoá đã cụ thể hoá tiêu chuẩn, duy trì tốt việc sơ kết, tổng kết khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào Trong những năm 1992 - 1997

Trang 36

đã có 421 chị em các doanh nghiệp cổ phần hoá đạt danh hiệu "Giỏi việc nước,

đoàn và ban giám đốc và các quy định khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ Khi chuyển sang công ty cổ phần, Ban Chấp hành công đoàn cơ sở tiếp tục sửa đổi, bổ sung các văn bản đã ký kết hoặc ký mới nhiều loại văn bản bổ sung về thoả thuận giữa công đoàn và hội đồng quản trị Đến năm 1997, 5 doanh nghiệp cổ phần hoá của Hà Nội đều đã sửa

đổi, bổ sung được bản thoả ước lao động tập thể, ký 100% hợp đồng lao động cho CNVCLĐ [22]

Công đoàn các doanh nghiệp đã phối hợp chính quyền đồng cấp tìm nhiều biện pháp làm giảm bớt khó khăn về đời sống, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ Nhiều CĐCS đã tích cực phối hợp với giám

đốc tìm mọi biện pháp bảo đảm việc làm, hạn chế tình trạng nghỉ việc hưởng 70% lương; mở rộng các hình thức trả lương sản phẩm, lương khoán, lương doanh số; nhận thầu các công trình, vận dụng nhiều hình thức tiền thưởng để

ổn định thu nhập của CNVCLĐ

Hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp trước, trong và sau cổ phần hoá đã góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của CNVCLĐ khi DNNN chuyển sang công ty cổ phần, góp phần vào ổn định và

Trang 37

phát triển doanh nghiệp Các doanh nghiệp sau cổ phần hoá đều có giá trị sản xuất tăng, thu nhập bình quân của người lao động đạt cao hơn trước Thu nhập bình quân của CNVCLĐ 5 doanh nghiệp của Hà Nội cổ phần hoá trong năm

1996 - 1997 đạt hơn 600.000đ/người/tháng (trước kia chỉ đạt từ 400.000đ - 500.000đ/người/tháng) Ví dụ như Công ty cổ phần điện chiếu sáng sau 2 năm hoạt động đã tạo ra sản phẩm hàng hoá trị giá 3,28 tỷ đồng, tạo thêm việc làm cho 23 lao động, trả lãi huy động 251 triệu đồng, tính ra đạt mức 2%/tháng, cao hơn lãi tiết kiệm Giá trị sản xuất của công ty đạt 5,8 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 57 triệu đồng Thu nhập bình quân người lao động đạt hơn 600.000 đồng/người/tháng Đối với cổ đông, mức chi trả cho cổ đông đạt 1%/tháng Kết quả này đã gây được lòng tin cho 129 cổ đông về mô hình kinh doanh mới [6,7]

Tiểu kết chương I Chủ trương cải tạo DNNN mà hướng đi chính là tiến hành cổ phần hóa DNNN đã được Thành phố Hà Nội triển khai thực hiện và đã có những thành công nhất định Trong những năm 1992 - 1997, số DNNN của Thành phố Hà Nội tiến hành cổ phần hóa không nhiều (chỉ có 5 doanh nghiệp), song sau khi

cổ phần hóa, các doanh nghiệp đều chấm dứt thua lỗ, phạm vi hoạt động được

mở rộng, vốn điều lệ của doanh nghiệp tăng do thu hút được nhiều vốn trong dân, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mua sắm thiết bị, nâng cấp nhà xưởng, sản phẩm đạt chất lượng cao, tạo được uy tín trên thị trường

Những vấn đề mà người lao động, tổ chức công đoàn quan tâm và lo lắng nhất khi doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần là việc làm và thu nhập thì ở các doanh nghiệp đã cổ phần hóa do huy động được vốn của các cổ

đông, sản xuất kinh doanh có lãi nên đã tập trung đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo thêm nhiều chỗ làm việc mới cho CNVCLĐ

Công đoàn cơ sở các DNNN cổ phần hóa ở Hà Nội đã làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục CNVCLĐ để CNVCLĐ hiểu rõ mục đích của cổ phần

Trang 38

hóa, lợi ích lâu dài mà các doanh nghiệp sẽ mang lại cho CNVCLĐ cũng như toàn xã hội; đã chủ động tham gia vào xây dựng phương án cổ phần hóa, chú ý bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động theo các quy định hiện hành, hướng dẫn người lao động giao kết hợp đồng lao động và đại diện cho tập thể lao động ký kết thỏa ước lao động tập thể đối với giám đốc; triển khai sử dụng các tài sản và công trình phúc lợi; ổn định việc làm, duy trì và nâng cao đời sống, thu nhập của người lao động làm cho CNVCLĐ ngày càng gắn bó với công ty, xây dựng mối quan hệ hài hòa, ổn định để công ty ngày càng phát triển

Đến năm 1997, cổ phần hóa DNNN đã qua thời gian thí điểm nhưng vẫn

là một công việc khó khăn, phức tạp Công đoàn cơ sở với chức năng và nhiệm

vụ của mình cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động, làm cho CNVCLĐ ủng hộ, tham gia thúc đẩy quá trình cổ phần hóa tiến những bước mới vững chắc hơn

Trang 39

Quán triệt ý kiến của Bộ Chính trị và để đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá DNNN, ngày 21/4/1998, Thủ tướng Chỉnh phủ ra Chỉ thị số 20/1998/CT-TTg "về việc đẩy mạnh sắp xếp đổi mới DNNN" và đặc biệt là Nghị định số 44/1998/NĐ-CP "về chuyển DNNN thành công ty cổ phần" Nghị định số 44/1998/NĐ-CP là nghị định thông thoáng tạo sức hấp dẫn về đổi mới doanh nghiệp theo hướng cổ phần hoá Nghị định đã tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình tiến hành cổ phần hoá thời gian trước như: quy định những nguyên tắc xác định giá trị doanh nghiệp, nêu rõ lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp, ban hành danh mục DNNN cần nắm cổ phần chi phối, cổ phần

đặc biệt khi tiến hành cổ phần hoá, DNNN có thể tiến hành cổ phần hoá và áp dụng các hình thức chuyển đổi sở hữu khác trong nhà nước không giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt Nghị định quy định vấn đề đào tạo, đào tạo lại để giải quyết việc làm cho người lao động, trợ cấp lao động dôi dư, vấn đề bán cổ phần ưu đãi cho người lao động, người lao động mất việc làm sau 12 tháng kể

từ khi doanh nghiệp nhà nước chuyển thành công ty cổ phần Đối với doanh nghiệp vốn nhà nước chiếm tỷ lệ nhỏ (dưới 1 tỷ) có thể xem xét vận dụng các hình thức cải cách DNNN như đấu thầu, công khai cho thuê, sáp nhập vào doanh nghiệp khác Nghị định tạo điều kiện pháp lý cho các Bộ, Ngành, địa phương và doanh nghiệp dễ dàng triển khai cổ phần hoá

Trang 40

Ngày 18/7/1998, Bộ Tài chính ra thông tư số 104/1998/TT-BTC "hướng dẫn vấn đề về tài chính khi chuyển DNNN thành công ty cổ phần theo nghị

định 44 ngày 29/6/1998"; Bộ Lao động Thương binh và xã hội ra thông tư số 11/1998/TT-LĐTBXH ngày 21/8/1998 "hướng dẫn về chính sách đối với người lao động khi chuyển DNNN thành công ty cổ phần theo nghị định 44 ngày 29/6/1998 của Chính phủ" Thông tư 104/TT-BTC và thông tư 11/TT-LĐTBXH đã quy định cụ thể các bước chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, chế độ ưu đãi đối với doanh nghiệp nhà nước và người lao

động khi chuyển thành công ty cổ phần, chính sách đối với người lao động trong doanh nghiệp trước khi cổ phần hoá, quyền lợi đối với người lao động; chính sách đối với người lao động khi doanh nghiệp đã chuyển thành công ty

cổ phần, trong đó chú trọng đến vấn đề sắp xếp lại lao động chuyển sang công

ty cổ phần, vấn đề đào tạo nghề, trợ cấp mất việc làm sau 12 tháng Bắt đầu từ

đây, chủ trương cổ phần hoá của Đảng, nhà nước được được tiến hành một cách hệ thống bằng những văn bản hướng dẫn cụ thể, tạo điều kiện cho cổ phần hoá tiến hành nhanh chóng trên cả nước Cũng trong năm 1998, Văn phòng Chính phủ ra công văn số 3395/VPCP-ĐMDN ngày 28/8/1998 "về việc hướng dẫn quy trình và phương án mẫu cổ phần hoá"

Để tiếp tục hoàn thiện chủ trương cổ phần hoá, ngày 19/6/2002, Chính phủ ban hành nghị định số 64/2002/NĐ-CP "về việc chuyển DNNN thành công ty cổ phần" Nghị định này thay thế cho nghị định 44/1998/NĐ-CP, đã

đưa ra nhiều phương thức xác định giá trị sẽ tính trên nguyên tắc thương hiệu, khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà người bán, người mua đều chấp nhận

được Những vướng mắc về ưu đãi cho người lao động, về mua cổ phiếu lần

đầu được khắc phục Mặt khác, nghị định còn quy định: trường hợp không thực hiện phương án tổng thể sắp xếp DNNN thuộc phạm vi quản lý đã được Chính phủ phê duyệt thì thủ trưởng các cơ quan quản lý doanh nghiệp phải

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w