Nghiên cứu về vấn đề ý nghĩa và sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu được đăng trên các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
NGUYỄN THỊ THANH LÂM
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO
ĐỨC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
NGUYỄN THỊ THANH LÂM
TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐẠO
ĐỨC CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ Y TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC
MÃ SỐ: 60.22.80
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THANH BÌNH
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin dành để bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới Thầy giáo - PGS.TS Nguyễn Thanh Bình, người hướng dẫn khoa học - đã tận tình hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Các giảng viên, lãnh đạo, quản lý và nhóm sinh viên Trường Đại học Y
Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và động viên lớn lao về tinh thần trong suốt quá trình tôi hoàn thành luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thanh Lâm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố qua bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào
Hà Nội, ngày 16 tháng 12 năm 2013
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thanh Lâm
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
VÀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ Y TẾ 15 1.1 Khái quát chung về đạo đức 15 1.2 Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức 22
1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức và vai trò của đạo đức 22 1.2.2 Các chuẩn mực đạo đức cụ thể của người cách mạng theo tư
tưởng Hồ Chí Minh 29 1.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng
y đức trong đội ngũ cán bộ y tế Việt Nam hiện nay 71
2.2 Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc xây dựng đạo đức
của đội ngũ cán bộ y tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 75
2.2.1 Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh” của ngành Y tế 75 2.2.2.Ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay 83
2.3 Nhiệm vụ đặt ra trong việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán
bộ y tế ở Việt Nam hiện nay và một số giải pháp 88
2.3.1 Một số nhiệm vụ đặt ra nhằm xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán
bộ y tế ở Việt Nam hiện nay 77
Trang 62.3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán
bộ y tế ở Việt Nam hiện nay 82
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 1 99
PHỤ LỤC 2 101
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn hướng tới một chủ nghĩa nhân văn cao cả và trong sáng Điều đó còn là hoài bão, là mục tiêu và là động lực trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Người Mục tiêu cuối cùng và lý tưởng cao cả của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng triệt để con người Một trong những mối quan tâm lớn nhất, xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh là vấn đề con người và phát triển con người một cách toàn diện Với con người mới Việt Nam, đạo đức là cái gốc, cái căn bản, nhất là đối với người cán bộ, đảng viên Bởi theo Người, có đạo đức họ mới lãnh đạo được nhân dân, mới được nhân dân tin tưởng, yêu mến, giúp đỡ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Cũng theo Người, người cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân, thì điều quan trọng bậc nhất là họ phải trau dồi đạo đức cách mạng, hoàn thiện nhân cách và năng lực hoạt động thực tiễn của mình
Trong di sản lí luận và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, vấn đề đạo đức cách mạng luôn được Người quan tâm Người đã viết rất nhiều bài viết, có nhiều bài nói về đạo đức, đề ra nhiều chuẩn mực đạo đức và yêu cầu
về một đạo đức không chỉ cho một đối tượng mà cho mọi đối tượng, mọi ngành nghề, nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có đội ngũ cán bộ y tế Những lời dạy của Người đối với đội ngũ cán bộ y tế về việc nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ, cũng như những lời căn dặn của Người về cách tiếp xúc với bệnh nhân của người làm nghề Y thật sâu sắc mà cụ thể Những tư tưởng đó của Người sẽ luôn là lời dạy quý báu cho đội ngũ cán bộ
Y tế Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
Ngày nay, ở Việt Nam, sự tác động của cơ chế kinh tế thị trường, quá trình hội nhập, mở cửa kinh tế, cùng với âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đến mọi mặt, mọi lĩnh
Trang 8vực của đời sống xã hội và con người, đặc biệt là trên lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống;…đã làm cho đời sống đạo đức của xã hội ta có những biến động phức tạp Trước tình hình đó, việc quán triệt và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cũng như giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng, nhân cách đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh đối với mọi người và nhất là đội ngũ cán bộ cách mạng luôn là vấn đề thực tiễn và thời sự cấp bách Yêu cầu
đó đòi hỏi mỗi cán bộ của Đảng, nhà nước phải nhận thức đúng đắn, đánh giá chính xác và hành động theo những chuẩn mực đạo đức cách mạng, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
Hiện nay, những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế cũng ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề giữ gìn và nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc- một trong những nghề nhân đạo nhất, cao quý nhất Chúng ta đang chứng kiến và đối mặt với một thực trạng trong ngành Y
tế ở Việt Nam hiện nay là một số thầy thuốc, cán bộ y tế cửa quyền, tắc trách, thậm chí chạy theo đồng tiền, coi thường sức khoẻ, mạng sống của người bệnh, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với thiên chức cao cả “trị bệnh cứu người” của người thầy thuốc nói riêng và ngành y tế Việt Nam nói chung
Hơn lúc nào hết, những người thầy thuốc và mọi cán bộ, nhân viên y tế phải tích cực, chủ động và thường xuyên học tâp nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, tu dưỡng y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh Có như vậy, họ mới góp phần bảo đảm tốt nhất chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, mới thực sự xứng đáng với truyền thống “Thầy thuốc như mẹ hiền”, và lòng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân Từ những lý do trên,
tôi lựa chọn vấn đề “Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó
trong việc xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay”
làm đề tài nghiên cứu trong bản luận văn thạc sĩ Triết học của mình
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lãnh đạo thiên tài, là một nhà tư tưởng và là một tấm gương tiêu biểu, mẫu mực về đạo đức cách mạng Tư tưởng về đạo đức của Hồ Chí Minh luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, là kim chỉ nam cho cán bộ Đảng, Nhà nước noi theo Vì vậy, tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu với nhiều công trình nghiên cứu được công bố trên các sách, báo, tạp chí,
kỷ yếu hội thảo khoa học trong và ngoài nước Có thể đưa ra một số công
trình tiêu biểu có liên quan đến đề tài nghiên cứu này Chẳng hạn như: “Hồ
Chí Minh về đạo đức cách mạng” (Nxb Sự thật, năm 1976); “Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng” (Nxb Chính trị Quốc gia, năm
1993); “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” của Lê Hữu Nghĩa (Nxb Lao động năm 2000); “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức”, của Lê Trọng Ân in trong tạp chí Triết học số 1 năm 2005; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của
Đinh Xuân Dũng chủ biên (Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, năm 2005)
… Các công trình này đã khái quái một cách hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức, trong đó có trình bày các chuẩn mực và nguyên tắc xây dựng đạo đức của Hồ Chí Minh khá đầy đủ
Nghiên cứu về vấn đề ý nghĩa và sự cần thiết phải vận dụng tư tưởng đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay, cũng có rất
nhiều công trình nghiên cứu được đăng trên các báo, tạp chí như: “Học tập
tấm gương đạo đức Bác Hồ” của Mạnh Hà (2007); “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh - bước phát triển mới về đạo đức trong văn hóa Việt Nam” của Đỗ
Huy in trong tạp chí Triết học năm 2006; Luận văn thạc sĩ triết học “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức người cách mạng và ý nghĩa của nó trong việc nâng cao đạo đức người cán bộ hiện nay” của Lê Thị Hồng Hạnh, trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2006; “Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
với việc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thế Kiệt, xuất bản năm 2011 Các công trình
Trang 10trên đã khái quát được tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức người cách mạng và
ý nghĩa của những tư tưởng ấy trong thời đại ngày nay
Nghề y là nghề mang tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc, bởi nghề này ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống của con người Trong suốt chiều dài lịch sử, nghề y luôn cần thiết phải hội tụ đủ những giá trị của y lý, y thuật, y đức, trong đó y đức- đạo đức của người thầy thuốc là một giá trị cốt lõi, là giá trị gốc của nghề y
Ở Việt Nam, trong công cuộc đổi mới đất nước, nhận thức được vai trò quan trọng của việc rèn luyện đạo đức của người cán bộ y tế, nhiều nhà nghiên cứu cả
về khoa học xã hội và nghiên cứu về ngành Y đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế như:
GS Đỗ Nguyên Phương, PTS Nguyễn Khánh Bật, BS Nguyễn Cao
Thâm (đồng chủ biên) đã cho ra đời cuốn sách: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với y
tế”, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1999 Công trình này đã đưa ra và
nghiên cứu một số nội dung trong quan điểm của Hồ Chí Minh về y tế như : vấn đề y đức trong y tế, vấn đề xây dựng nền y học dân tộc hiện đại, vấn đề y học dự phòng Cuốn sách đã đưa đến một cách nhìn về các vấn đề chủ tịch
Hồ Chí Minh bàn đến y tế của đất nước
Từ năm 2006 đến năm 2008, GS Phạm Thị Minh Đức cùng một số cán
bộ ngành Y đã tiến hành đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Bộ Y tế “Nghiên cứu
thực trạng nhận thức và thực hành y đức của bác sĩ ở ba tuyến bệnh viện huyện, tỉnh và trung ương năm 2008” Kết quả thu được của đề tài đã bước
đầu tìm ra những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tiêu cực chi phối hoạt động của thầy thuốc, khiến họ đánh mất lương tâm nghề nghiệp, như sự mua chuộc, lôi kéo của một số nhân viên y tế với vai trò môi giới khám chữa bệnh tại những nơi quá tải bệnh nhân, sự tự nguyện thái quá của một số bệnh nhân trong các mối quan hệ xã hội, sự thiếu kiểm soát, thiếu kiểm tra, giám sát của những nhà quản lý hoạt động y tế
Trong nhiều tạp chí, chúng ta cũng có thể tìm thấy nhiều bài viết đề cập
tới vấn đề đạo đức người thầy thuốc như: “Góp phần bàn về những vấn đề
Trang 11đạo đức của người thầy thuốc Việt Nam” của PGS.TS Trần Văn Thụy đăng
trên tạp chí Nghiên cứu Y học số 2 năm 1997; “Mâu thuẫn giữa mặt trái của
cơ chế thị trường với bản chất nhân đạo của ngành Y tế Việt Nam hiện nay”
của TS Phạm Công Nhất đăng trên tạp chí Giáo dục lý luận số 6 năm 1999; Trong bài báo “Vấn đề y đức và sự cần thiết giáo dục y đức ở nước ta hiện
nay” được đăng trên số ra tháng 12 năm 1996 và bài báo “Chuẩn mực về y đức và ý nghĩa giáo dục của nó” đăng trên số ra tháng 6 năm 1999 của tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, tác giả Nguyễn Hiền Lương đã nêu lên
sự cần thiết phải giảng dạy đạo đức y học cho sinh viên các trường Y và ý nghĩa của việc giáo dục đạo đức y học cho sinh viên cũng như cán bộ, nhân
viên ngành Y tế Bên cạnh đó, còn có bài báo “Y đức và nâng cao y đức” của
GS TSKH Phạm Mạnh Hùng đăng trên tạp chí Cộng sản số 7 năm 2002; và luận án tiến sĩ triết học của Lê Thị Lý năm 2011: “Nâng cao đạo đức người
thầy thuốc trong điều kiện hiện nay ở nước ta” đã phân tích khá sâu về thực
trạng đạo đức người thầy thuốc và một số giải pháp kiến nghị dựa trên nền tảng chuẩn mực đạo đức hiện nay ở Việt Nam
Nói đến những sai sót nghề nghiệp của người thầy thuốc do thiếu trách
nhiệm đạo đức, GS Nguyễn Văn Lê, năm 2000 đã xuất bản cuốn “Một số sự
kiện hàng ngày ở bệnh viện” đề cập tới các sự kiện thể hiện trong mối quan hệ
của thầy thuốc với bệnh nhân, thầy thuốc với đồng nghiệp Ngoài ra, còn có một
số bài viết đăng trên các báo hàng ngày như Nhân dân, Pháp luật… hay các trang Website điện tử www.moet.gov.vn của Bộ Y tế, www.tienphong.vn,
www.nguoilaodong.com, www.dantri.com.vn… qua đó phân tích các nguyên
nhân khiến đồng tiền trở thành thứ điều chỉnh quan hệ của thầy thuốc Thực tế ấy
đã chứng tỏ, các tác giả đã rất quan tâm, bức xúc trước tình trạng xuống cấp đạo đức người thầy thuốc ở Việt Nam hiện nay và đề cao trách nhiệm y đức của người làm nghề y trước những biến đổi của điều kiện kinh tế xã hội
Nhìn chung, các công trình trên là sự nghiên cứu khái quát về hai mảng chủ yếu:
Trang 12Thứ nhất là nghiên cứu về vấn đề đạo đức Hồ Chí Minh: Những nghiên cứu này tập trung làm rõ những quan điểm chung về đạo đức, các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức và quá trình hình thành đạo đức mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh Từ đó chỉ ra vai trò to lớn của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc, qua đó đưa ra những giải pháp, đề xuất về sự cần thiết phải học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh
Thứ hai là những nghiên cứu bàn về đạo đức trong ngành Y, sự cần thiết phải học tập, rèn luyện y đức Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nào phân tích và luận chứng một cách đầy đủ kiến nghị cần nâng cao việc học tập
và vận dụng tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh trước thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế Việt Nam hiện nay, từ đó góp phần nâng cao đạo đức cho đội ngũ cán bộ Y tế ở Việt Nam hiện nay
Xã hội Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường, tất
cả các ngành nghề cũng bị ảnh hưởng bởi tính thương mại hóa Nhưng dù thế nào, đạo đức của mỗi con người, mỗi ngành nghề đặc thù vẫn luôn cần được giữ gìn và đề cao, đặc biệt là ngành y Tác giả mong rằng, với đề tài luận văn
“Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh và ý nghĩa của nó trong việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay” sẽ góp phần vào việc
nâng cao nhận thức về đạo đức nghề y và việc cần thiết phải học tập và thấm nhuần hơn nữa tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh cho cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
- Mục đích:
Trên cơ sở trình bày hệ thống những nội dung chủ yếu trong tư tưởng
Hồ Chí Minh về đạo đức cũng như đạo đức cán bộ y tế, luận văn cố gắng đưa
ra ý nghĩa của việc học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đối với cán bộ y tế
và luận chứng một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
- Nhiệm vụ:
Trang 13Thứ nhất, trình bày một cách có hệ thống tư tưởng đạo đức cách mạng
và đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế trong tư tưởng của Hồ Chí Minh
Thứ hai, phân tích thực trạng đạo đức của cán bộ y tế ở nước ta hiện
nay, chỉ ra những nguyên nhân của thực trạng ấy
Thứ ba, phân tích và làm rõ ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
cách mạng và đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế, đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục xây dựng đạo đức đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế
ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Một số bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và đạo đức cán bộ y tế
- Thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế ở một số cơ sở y tế trong khu vực Hà Nội (thông qua điều tra của tác giả ở một số cơ sở Y tế tại địa bàn Hà Nội và khảo sát, báo cáo của một số đề tài nghiên cứu đánh giá về thực hành y đức ở Việt Nam gần đây)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Cơ sở lý luận
Luận văn được triển khai trên cơ sở các quan điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xã hội và con người
- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp biện chứng duy vật của triết học Lênin và kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân
Mác-tích và tổng hợp, lịch sử và logic, so sánh, điều tra thống kê xã hội học
Trang 146 Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng, chủ yếu là đạo đức của đội ngũ cán bộ y tế
- Trên cơ sở phân tích thực trạng đạo đức của cán bộ y tế, luận văn bước đầu chỉ ra và phân tích một số những vấn đề cơ bản, góp phần phát hiện những yếu tố, điều kiện tác động, chi phối thực trạng đạo đức của đội ngũ cán
bộ y tế ở Việt Nam trong những năm gần đây
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và luận chứng một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay
7 Giá trị và ý nghĩa của luận văn
- Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo và nghiên cứu giảng dạy đạo đức, đặc biệt là đạo đức cho sinh viên ngành Y
- Kết quả của luận văn có thể là tài liệu tham khảo phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn bao gồm các phần: Mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Nội dung của Luận văn bao gồm 2 chương với 6 tiết:
Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng và đạo đức
cán bộ y tế, với 3 tiết
Chương 2: Ý nghĩa của tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với việc xây
dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ y tế ở Việt Nam hiện nay, với 3 tiết
Trang 15Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
VÀ ĐẠO ĐỨC CÁN BỘ Y TẾ
1.1 Khái quát chung về đạo đức
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đã xuất hiện hơn 26 thế kỷ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn
Độ, Hy Lạp cổ đại Danh từ “đạo đức” bắt nguồn từ tiếng La tinh là mos (moris) - lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) Còn
“luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói, tập tục Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học
Ở phương Đông, khái niệm đạo đức đầu tiên xuất hiện trong kinh văn đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy có thể nói, đạo đức trong quan niệm của người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Đạo đức là một trong những hình
thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn xã hội” [64, tr 738-739]
Còn trong Từ điển Tiếng Việt của Nxb Đà Nẵng, thì “Đạo đức là “những
tiêu chuẩn, những nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội” [66, tr.280]
Giáo trình Đạo đức học từ việc cho rằng đạo đức là khái niệm luân
thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt-xấu, hơn nữa xem như là đúng-sai, được sử dụng trong 3 phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng phạt đôi lúc còn được gọi giá trị đạo đức; nó gắn với nền
Trang 16văn hoá, tôn giáo, chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này, thì đã đưa ra định nghĩa về đạo đức như sau: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội” [25, tr.8]
Như vậy, đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội
Xã hội học trước Mác không thể giải quyết một cách khoa học vấn đề nguồn gốc và thực chất của đạo đức Họ coi đạo đức xuất phát từ “mệnh lệnh của thượng đế”, “ý niệm tuyệt đối, lý tính trừu tượng”, bản tính bất biến của loài người,…chứ không xuất phát từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội,
từ quan niệm xã hội hiện thực xã hội để suy ra toàn bộ lĩnh vực tư tưởng trong
đó có tư tưởng đạo đức
Theo Mác và Ăngghen, trước khi sáng lập lý luận và nguyên tắc bao gồm cả triết học và luân lí học, con người đã hoạt động, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống Ý thức xã hội của con người là phản ánh tồn tại xã hội của con người Các hình thái ý thức xã hội khác nhau tuỳ theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội mà tác động riêng biệt đối với đời sống xã hội Đạo đức cũng vậy, nó là hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người - cũng như các quan điểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo đều mang tính chất của kiến trúc thượng tầng Chế độ kinh tế xã hội là nguồn gốc của quan điểm này thay đổi theo cơ sở đã đẻ ra nó
Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi con người: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức… Với đạo đức, sự đánh giá hành vi
Trang 17con người theo khuôn khép chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa
Bất kỳ trong thời đại lịch sử nào, người ta cũng đều được đánh giá như vậy Các khái niệm thiện ác, khuôn khép và quy tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác Và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định Những khuôn khép (chuẩn mực) và qui tắc đạo đức là yêu cầu của xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi mỗi cá nhân Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay một giai cấp, dân tộc thừa nhận Ở đây quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã hội và đối với người khác (khuôn khép hành vi) là tiền đề của hành vi đạo đức của cá nhân
Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong hoàn cảnh nào đó còn chịu sự ước thúc của lương tâm…Cá nhân phải chuyển hóa những đòi hỏi của xã hội và những biểu hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực phù hợp với những đòi hỏi của xã hội…Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện, và xét về bản chất, đạo đức là sự lựa chọn của con người
Đạo đức là sự thống nhất biện chứng giữa ý thức về hệ thống những nguyên tắc, chuẩn mực, hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và những quan hệ đạo đức đang tồn tại Mặt khác, nó còn bao trùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức con người
Trong quan hệ giữa người và người về mặt đạo đức đều có những ranh giới của hành vi và giá trị đạo đức Đó là ranh giới giữa cái thiện và cái ác, giữa chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và tinh thần tập thể Về mặt giá trị của hành vi
Trang 18đạo đức cũng có ranh giới: lao động là hành vi thiện; ăn bám bóc lột là vô nhân đạo Ngay cả trong một hành vi thiện, mức độ giá trị của nó không phải lúc nào cũng ngang nhau, mà có những thang bậc nhất định (cao cả, tốt, được) Ý thức đạo đức là sự thể hiện thái độ nhận thức của con người trước hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thống chuẩn mực hành vi và những qui tắc đạo đức xã hội đặt ra; nó giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa vụ đạo đức
Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức của con người Trong quá trình phát triển các hình thái ý thức xã hội thì ý thức đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội xuất hiện rất sớm cùng với lịch
sử xã hội loài người Trải qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau của loài người, đạo đức cũng phát triển đa dạng, phong phú và ngày càng hoàn thiện hơn Ý thức đạo đức là những chuẩn mực, quy tắc của xã hội được con người nhận thức nhằm điều chỉnh và đánh giá những hành vi, ứng xử của con người
Giáo trình Triết học Mác-Lênin có viết: “ý thức đạo đức là toàn bộ những
quan niệm về thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng và về những quy tắc đánh gía, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội” [7, tr 444] Ý thức đạo đức nói chung không phát triển tách rời sự phát triển của xã hội Nó phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng các quy tắc để điều chỉnh hành vi con người Sự ý thức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng phản ánh khả năng tự chủ của con người, biểu hiện bản chất xã hội của con người Ý thức là điểm ban đầu để nhận biết cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác trong xã hội, là sự khởi đầu cho việc hình thành các phạm trù đạo đức của mỗi người Ý thức chính là khởi nguồn của đạo đức mỗi con người Từ việc ý thức các vấn đề trong lao động cũng như trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, con người sẽ có cách nhìn nhận về các vấn đề đạo đức của con người cũng như của xã hội.Vì vậy, sự phát triển đạo đức là nhân
tố biểu hiện sự tiến bộ xã hội
Trang 19Ý thức đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội) Căn cứ vào những chuẩn mực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và ác, về cái không làm được (vô đạo đức) và về nghĩa vụ nên làm
Nghĩa vụ của đạo đức thể hiện ở chỗ, khi con người tham gia vào hoạt
động sản xuất và hoạt động sống, anh ta ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với người khác và đối với cộng đồng Điều đáng chú ý là, việc thực hiện nghĩa vụ đạo đức bao giờ cũng mang tính tự giác trên cơ sở bản thân mình đã nhận thức rõ vấn đề Do vậy, khi thực hiện nghĩa vụ đạo đức, con người luôn
có cảm giác hạnh phúc, hài lòng vì tình cảm cao thượng, vì lòng tự trọng và phẩm giá của con người Nghĩa vụ đạo đức của con người có mối liên hệ chặt chẽ với nghĩa vụ pháp lý Nghĩa vụ đạo đức và nghĩa vụ pháp lý của con người đều có chung mục đích là nhằm điều chỉnh hành vi của con người cho phù hợp với quy tắc, chuẩn mực chung của xã hội, của cộng đồng
Nghĩa vụ không hình thành một cách tự nhiên, nhất thời mà nó được hình thành và hoàn thiện trong cả quá trình giáo dục, tự giáo dục, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân, thậm chí qua quá trình đấu tranh, thử thách của cuộc sống
Lương tâm có thể được hiểu như tiếng nói bên trong đầy quyền uy chỉ
dẫn, thôi thúc con người ta làm những điều tốt, ngăn cản, chỉ trích làm những điều xấu
Theo quan điểm biện chứng của đạo đức học mác xít thì lương tâm là ý thức trách nhiệm và tình cảm đạo đức của cá nhân về sự tự đánh giá những hành vi, cách cư xử của mình trong đời sống xã hội Sự hình thành lương tâm
là quá trình phát triển lâu dài từ thấp đến cao trong quá trình lao động sản xuất và giao tiếp xã hội Khi con người làm những điều xấu, độc ác thì lương tâm cắn rứt Trái lại, khi cá nhân làm những điều tốt, cao thượng thì lương
Trang 20tâm thanh thản Do vậy, trong cấu trúc của lương tâm tồn tại khái niệm xấu
hổ, hối hận Giữ cho lương tâm trong sạch là một tiêu chí hạnh phục và tiêu chí sống của con người‟
Thực tiễn đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của niềm tin, ý thức đạo đức, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức trong cuộc sống Thực tiễn chính là môi trường để mỗi con người bộc lộ cá tính và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức Khi thực tiễn đặt con người vào sự lựa chọn: quyền lợi, lợi ích cá nhân hay quyền lợi, lợi ích cho cộng đồng, xã hội thì đạo đức con người sẽ được bộc lộ
Ý thức và thực tiễn đạo đức luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử Ý thức đạo đức phải được thể hiện bằng hành động thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác Nếu không có thực tiễn đạo đức thì ý thức đạo đức không đạt tới giá trị, sẽ rơi vào trừu tượng theo kiểu các giáo lý của tôn giáo
Thực tiễn đạo đức được biểu hiện như sự tương trợ, giúp đỡ, cử chỉ nghĩa hiệp, hành động nghĩa vụ…Thực tiễn đạo đức là hệ thống các hành vi đạo đức của con người được nảy sinh trên cơ sở của ý thức đạo đức
Trong đời sống xã hội của mình, con người luôn ở trong quan hệ đạo đức nào đó Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, giữa cá nhân và xã hội về mặt đạo đức Quan hệ đạo đức
là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên bản chất xã hội của con người
Các quan hệ đạo đức không chỉ hình thành nên quan hệ giữa các cá nhân,
mà còn giữa cá nhân với xã hội, với những mặt riêng biệt của xã hội (chẳng hạn: với lao động, với văn hoá tinh thần) trong chừng mực những mặt này liên quan đến các lợi ích chứa đựng trong các mối quan hệ này Quan hệ đạo đức được hình thành và phát triển như những quy luật tất yếu của xã hội, nó xác định những nhu cầu khách quan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hội
Trang 21Quan hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn luôn biến đổi qua các thời đại lịch sử và chính nó là một trong những cơ sở để hình thành nên ý thức đạo đức
Tóm lại, ý thức đạo đức, thực tiễn đạo đức và quan hệ đạo đức là những yếu tố tạo nên cấu trúc đạo đức Mỗi yếu tố không tồn tại độc lập, mà liên hệ tác động nhau, tạo nên sự vận động, phát triển và chuyển hóa bên trong của hệ thống đạo đức
Đạo đức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội của cộng đồng người xác định, và là phương thức điều chỉnh hành vi của các cá nhân thuộc cộng đồng nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện tồn tại xã hội ấy Đạo đức xã hội được hình thành trên cơ sở cộng đồng về lợi ích và hoạt động của cá nhân thuộc cộng đồng Nó tồn tại như là một hệ thống kinh nghiệm xã hội mang tính phổ biến của đời sống đạo đức của cộng đồng
Đạo đức cá nhân là đạo đức của những cá nhân riêng lẻ của cộng đồng, phản ảnh và khẳng định tồn tại xã hội của các cá nhân ấy như là thể hiện riêng
lẻ của tồn tại xã hội của cộng đồng về lợi ích và hoạt động của các cá nhân Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của mình, các cá nhân thu nhận đạo đức xã hội như là hệ thống kinh nghiệm xã hội, những lí tưởng, chuẩn mực, tư tưởng, đánh giá đạo đức đã được hình thành nên trong lịch sử cộng đồng, biến kinh nghiệm xã hội thành kinh nghiệm bản thân…
Trong hiện thực cuộc sống, có những khi sự nhầm lẫn giữa các hiện tượng đạo đức giả, thói bất lương và ngụy biện với phẩm chất đạo đức thật sự vẫn còn xảy ra Cũng có những hoàn cảnh sự thiện tâm, thiện ý, phẩm chất đạo đức của con người đều được biểu hiện một cách suôn sẻ rõ ràng Chính vì vậy chỉ khi thực sự có phẩm chất đạo đức thì con người mới có thể khẳng định được giá trị của bản thân mình
Phẩm chất đạo đức của con người được biểu hiện rất rõ trong việc nhận thức và phân biệt cái thiện, cái ác, luôn luôn hướng về cái thiện, cái cao cả, tốt đẹp, đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác trong xã hội Cái thiện phải được thể
Trang 22hiện rõ trong hiện thực cuộc sống chứ không dừng lại ở ý thức, tư tưởng Khi con người hoạt động với những tâm niệm hướng thiện, với mục đích cao cả và tốt đẹp thì cho dù kết quả có xảy ra xấu thì đó cũng là một hành động mang tính thiện Ví dụ như trong nghề y bác sĩ hết lòng cứu chữa bệnh nhân nhưng bệnh nhân không qua khỏi, mặc dù kết quả xấu nhưng đây vẫn là hành vi đạo đức bởi hành động của bác sĩ lúc này là hướng đến điều thiện, điều tốt đẹp cho con người, vì con người và nỗ lực hết sức vì mục tiêu và mong muốn đó
Con người có đạo đức thực sự không chỉ là hy sinh lợi ích của bản thân vì lợi ích của cộng đồng xã hội mà còn có sức cảm hóa những con người khác trong
xã hội, biến cả những người xấu thành người tốt, xây dựng xã hội tốt đẹp hơn
Trong xã hội hiện nay, bên cạnh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đang trở thành một nguồn sức mạnh tinh thần của sự nghiệp đổi mới đất nước, có không ít vấn đề đang đặt ra đòi hòi phải giải quyết Đó là cuộc đấu tranh giữa hai lối sống: lối sống có lý tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng lao động của chính mình, có ý thức bảo vệ thành quả của lao động, chăm
lo đời sống của cộng đồng; và lối sống thực dụng, ích kỷ, dối trá, ăn bám, chạy theo đồng tiền bất chính Vì vậy, giáo dục đạo đức mới cho mọi người, làm lành mạnh đời sống tinh thần của xã hội là một nhiệm vụ quan trọng của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay Đạo đức có vai trò là động lực tinh thần to lớn cho sự phát triển tiến bộ của mỗi cá nhân và toàn xã hội, chính vì vậy mà cần được rèn luyện và tu dưỡng thường xuyên, liên tục
1.2 Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức
1.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về đạo đức và vai trò của đạo đức
Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của một nền đạo đức mới, một nền đạo đức được kết tinh từ những tinh hoa đạo đức của dân tộc và nhân loại trong quá trình phát triển Đó là một nền đạo đức trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa, góp phần to lớn vào
sự thành công của hai cuộc cách mạng này ở nước ta
Trang 23Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức nói chung và những nguyên tắc đạo đức nói riêng thể hiện xuyên suốt, nhất quán trong các tác phẩm của Người Trong tư tưởng đạo đức của Người có sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị, giữa tư tưởng và hành vi, động cơ và hiệu quả, lý luận và thực tiễn;
là sự thống nhất giữa đức và tài, giữa đạo đức cách mạng và đạo đức đời thường, giữa việc nhỏ với việc lớn
Trong toàn bộ các tác phẩm để lại, Hồ Chí Minh không có một tác phẩm riêng nào về đạo đức, nhưng tư tưởng đạo đức của người đề cập tới liên quan tới mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội
Gọi đạo đức của Hồ Chí Minh là “đạo đức mới” bởi vì nó chưa hề xuất hiện trong lịch sử, hình thành và phát triển cùng với tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đạo đức mới hay đạo đức xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhằm đem lại lợi ích cho quần chúng nhân dân lao động Đạo đức mới là đạo đức chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của cả nhân loại, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân
Gọi đó là “Đạo đức cách mạng” là vì đạo đức này phục vụ cách mạng,
là đạo đức của người cách mạng, là đạo đức tiến bộ mà người cách mạng cần phải có Đạo đức này luôn vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và loài người Như Hồ Chí Minh đã nói:“Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình Khi cần thì sẵn sàng hi sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc” [50, tr 602] Và theo Hồ Chí Minh, “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá Đó cũng là biểu hiện của đạo đức cách mạng” [50, tr 603]
Trang 24Đề cập về thực chất, bản chất của đạo đức mới, trong tác phẩm Sửa đổi
lề lối làm việc, Hồ Chí Minh nói: “Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu
Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”; [44, tr 292] Với Hồ Chí Minh, đạo đức như gốc của cây, ngọn nguồn của sông suối, sức mạnh của con người, có sức mạnh mới “gánh được nặng, mới đi được xa” [50, tr 601] Như Người nói “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải
có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [ 44, tr 292]
Hồ Chí Minh luôn khẳng định, đạo đức là cái gốc của cán bộ cách mạng, bởi vì muốn làm cách mạng trước hết con người phải có lương tâm trong sáng, có đức tính cao đẹp Tâm và đức ấy phải được thể hiện trong các mối quan hệ xã hội, với dân, với nước, với đồng chí, đồng nghiệp, đồng bào
và với công việc Hồ Chí Minh thường nhắc đội ngũ cán bộ, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa Đó
là con người phát triển toàn diện cả phẩm chất và năng lực, cả đạo đức và tài năng Bởi lẽ trên thực tế, một người cán bộ đảng viên có đạo đức, có tâm huyết với sự nghiệp cách mạng thì nhất định họ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện
để có được kiến thức, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng, còn người cán bộ có tài năng mà không có đạo đức thì tài năng đó cũng không được trọng dụng, có thể mai một
Cũng theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là yếu tố quyết định sự vững vàng, kiên định, nghị lực giúp vượt qua mọi khó khăn, thách thức để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Khẳng định vai trò to lớn của đạo đức cách mạng trong nhân cách người cán bộ cách mạng, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính”… mọi việc thành hay bại thì điều chủ chốt nhất là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay
là không” [49, tr 354]
Trang 25Tư tưởng Hồ Chí Minh về nền đạo đức mới được thể hiện tập trung ở những tác phẩm có giá trị lý luận sâu sắc cũng như trong những bài viết, bài nói chuyện khác của Người với cách diễn đạt ngắn gọn, hàm xúc, gần gũi, dễ hiểu, dễ nhớ với mọi người Nội dung và những giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức đã thực sự tạo nên một cuộc cách mạng to lớn trong lĩnh vực này
Trau dồi đạo đức, nâng cao phẩm chất đạo đức luôn là yêu cầu của mỗi con người trong cuộc sống cộng đồng Yêu cầu đó càng trở nên đặc biệt cần thiết đối với người cán bộ cách mạng
Nền đạo đức cách mạng đó là nền đạo đức mang bản chất của giai cấp công nhân, có tính dân tộc và nhân dân sâu sắc, có tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung Các chuẩn mực đạo đức mới đuợc xác lập trên lập trường của giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam, phù hợp với mục tiêu
và lợi ích chung của cách mạng, của dân tộc và của nhân loại, mà thực chất là hướng tới giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, hướng tới phục vụ Đảng, phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc và phục vụ nhân dân theo lý tưởng xã hội chủ nghĩa
Quá trình hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh cho thấy, bản thân Người là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người Việt Nam học tập, noi theo Ngay từ khi còn rất trẻ, Người đã dấn thân vào con đường cách mạng, ra đi học hỏi phương pháp, cách thức, và con đường cứu nước cho dân tộc Trong thời gian đó, dù gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại nhưng Người chưa bao giờ lung lay, từ bỏ ý chí quyết tâm cứu nước của mình Tinh thần tự giáo dục, tự rèn luyện này được
thể hiện rõ nhất qua tập “Ngục trung nhật ký” của Người Trong hoàn cảnh
khó khăn, gian khổ nhất, Nguời luôn có một nghị lực sắt đá, luôn có một tinh thần lạc quan: “Gian nan rèn luyện mới thành công” [42, tr 382] hay “Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng” [42, tr 346] Người luôn khẳng định
Trang 26tinh thần thép, ý chí cương nghị, bản lĩnh kiên cường của người cách mạng:
“Vật chất tuy đau khổ/ Không nao núng tinh thần” [42, tr 417]
Chính từ sự giáo dục, rèn luyện bản lĩnh của mình, Hồ Chí Minh đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, không từ bỏ ý chí và khát vọng cứu nước của mình
và đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, giành độc lập cho dân tộc Người không chỉ tự rèn luyện mà còn thường xuyên nhắc nhở các cán bộ, chiến sĩ và nhân dân phải thực hiện đạo đức cách mạng
Quan điểm của Người về giáo dục, rèn luyện đạo đức cho cán bộ, nhân dân không chỉ thể hiện trong những ngày tháng khó khăn trước khi cách mạng thành công mà cả sau này, khi đất nước giành được độc lập, Người vẫn tiếp tục căn dặn, nhắc nhở nhân dân cùng thực hiện giáo dục, rèn luyện đạo đức
Trong các tác phẩm của mình, từ Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường
kách mệnh đến Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh luôn hướng tới việc xây
dựng các quan hệ đạo đức mới, nhằm giải phóng nhân cách, xác lập một hệ chuẩn mực đạo đức mới công bằng hơn, bình đẳng hơn trong xã hội Nội dung các quan hệ đạo đức mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trước hết được phản ánh trong việc đổi mới các quan hệ giữa con người với con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng nội hàm của các khái niệm, phạm trù đạo đức truyền thống Người bàn tới các phạm trù cơ bản nhất của đạo đức học: phạm trù Thiện, Ác Như Người viết rằng:
“Thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ lợi ích của nhân dân
Trong xã hội có thiện và cũng có ác
Theo nghĩa rộng thì cả thế giới và trong một nước có thiện và có ác Theo nghĩa hẹp thì bản thân và tư tưởng mỗi người cũng có thiện và có ác
Thiện và ác là hai cái mâu thuẫn, luôn luôn đấu tranh gay gắt với nhau Cuộc đấu tranh ấy phải trường kỳ gian khổ nhưng cuối cùng thì ác nhất định bại, thiện nhất định thắng Thực hành chí công vô tư, cần kiệm liêm chính, thế là thiện Nếu phạm phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng thế là ác” [49, tr 453]
Trang 27Phẩm chất đạo đức của con người được biểu hiện rõ trong việc nhận thức và phân biệt cái thiện, cái ác; luôn hướng về cái thiện, cái cao cả, tốt đẹp, đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác trong xã hội Đấu tranh cho cái thiện ở đây chính là đấu tranh vì lợi ích của con người phù hợp với sự tiến bộ xã hội, phấn đấu, hy sinh vì con người, làm cho con người ngày càng tự do hơn, sung sướng và hạnh phúc hơn Cái thiện vừa hàm chỉ lý tưởng tốt đẹp của con người, đồng thời cũng thể hiện những giá trị cụ thể, tốt đẹp thông qua hoạt động xã hội của con người Cái thiện phải được thể hiện rõ trong hiện thực cuộc sống chứ không dừng lại ở ý thức, tư tưởng Dù trong “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng” [54, tr 672], nhưng Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên” [42, tr 413] Do đó, để có đạo đức thì con người phải phấn đấu, tu dưỡng sao cho
“phần thiện ngày càng nẩy nở như hoa mùa xuân, còn phần ác ngày càng mất dần đi” Hồ Chí Minh còn đi sâu và cụ thể hơn nữa khi chỉ rõ: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và
ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” [54, tr 672] Như vậy, đạo đức không phải là kết quả của những hoạt động tu dưỡng nhất thời, một lần là xong, mà là kết quả của quá trình đấu tranh, tu dưỡng đạo đức bền bỉ, suốt đời Người cho rằng, con người ta khi ngủ, không tham gia hoạt động gì khác thì thiện, ác, tốt, xấu, đạo đức và phi đạo đức không có điều kiện biểu hiện, và do đó, không thể phân biệt được; còn khi tỉnh dậy (tham gia vào các hoạt động xã hội) thì tính thiện, ác, tốt, xấu, đạo đức và phi đạo đức mới bộc lộ, và do đó, mới phân biệt được “Ngủ thì ai cũng như lương thiện,/ tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền” [42, tr 413] Như vậy, chỉ có tham gia vào các hoạt động giao tiếp, ứng xử hàng ngày, tức là trong hoạt động thực tiễn con người mới biết rõ mình cần phải điều chỉnh suy nghĩ, hành vi của mình như thế nào cho đúng với các quy phạm đạo đức; đồng thời cũng biết rõ mình phải đấu tranh chống lại những hiện tượng vi phạm đạo đức như thế nào Do đó, việc đấu tranh, tu dưỡng đạo đức không đóng kín trong
Trang 28nội tâm mà chủ yếu thực hiện trong quá trình tích cực tham gia hoạt động trên tất cả các mặt của đời sống xã hội Người khẳng định “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống Nó do đấu tranh, rèn luyện bèn bỉ hằng ngày
mà phát triển và củng cố Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” [50, tr 612]
Theo Hồ Chí Minh, rèn luyện đạo đức phải bắt đầu từ từng việc nhỏ
nhặt trong cuộc sống của mỗi con người Trong quá trình xây dựng “đời sống
mới”, Người đã luôn nhắc nhở nhân dân phải nhớ: “Mình hơn người thì chớ
kiêu căng Người hơn mình thì chớ nịnh hót Thấy của người thì chớ tham lam Đối của mình thì chớ bủn xỉn” [44, tr 117] Những điều nhỏ ấy trong cuộc sống sẽ tạo nên tính cách của mỗi con người
Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Người đã chỉ ra cho mỗi
người cách tự rèn luyện bản thân tốt nhất, đó là “Chớ tự kiêu, tự đại”, phải
„luôn luôn cầu tiến bộ”, “luôn luôn tự kiểm điểm, phê bình”, phải luôn tự “sửa đổi khuyết điểm của mình” và đồng thời “phải hoan nghênh người khác phê bình mình” [44, tr 633] Mỗi con người dù trong hoàn cảnh nào cũng nên rèn luyện cho bản thân những đức tính này thì sẽ nhanh tiến bộ trong công việc cũng như trong cuộc sống, bởi khi rèn luyện được đạo đức cho riêng mình thì mỗi người sẽ không ngại khó khăn nào trong cuộc sống và công việc
Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở riêng từng đối tượng về quá trình rèn luyện tu dưỡng đạo đức của mình Người đặc biệt quan tâm tới thế hệ trẻ của đất nước, đó chính là thiếu niên, nhi đồng và những sinh viên của đất nước Với các cháu thanh thiếu niên, nhi đồng, Người đã nhắc nhở phải rèn luyện bản thân, cố gắng học tập tốt cả về chuyên môn và đạo đức, phải “Yêu tổ quốc, yêu đồng bào, học tập tốt, lao động tốt, đoàn kết tốt, kỷ luật tốt, giữ gìn
vệ sinh thật tốt, khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” [52, tr 131] Có như vậy mới xây dựng được thế hệ trẻ “vừa hồng vừa chuyên” Người còn nhắc nhở đối với sinh viên, thế hệ tương lai của dân tộc : “Lao động trí óc phải kết hợp với lao động chân tay Học lao động thì phải có quyết tâm; muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, phải có sáu cái yêu” [50, tr 400] Và “sáu cái yêu” đó chính
Trang 29là yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, yêu khoa học và kỷ luật
Hồ Chí Minh quan tâm đến hầu hết các vấn đề có liên quan đến việc xây dựng các quan hệ đạo đức: Truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, các nhân và xã hội; con người và tự nhiên; con người và khoa học- kỹ thuật… Người xác lập tổng thể các mối quan hệ của đạo đức và xác lập ý thức đạo đức mới trên các khía cạnh của con người đối với tự nhiên, con người đối với
xã hội, với gia đình, với bản thân, với truyền thống, với dân tộc và với quốc
tế Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm sâu sắc đến giáo dục đạo đức cho con người trong xã hội Người luôn quan niệm: “Vì sự nghiệp mười năm phải trồng cây Vì sự nghiệp trăm năm phải trồng người”, đặc biệt là đói với đội ngũ cán bộ đảng viên, vì như Người viết: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù có tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [49, tr 292] Người coi đạo đức là cái gốc cần phải xây dựng vững chắc trong việc đào tạo và rèn luyện con người Vì thế, trong quan điểm của Người
về đạo đức của một người cách mạng, Hồ Chí Minh đã đưa ra một số chuẩn mực đạo đức
1.2.2 Một số chuẩn mực đạo đức của người cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chuẩn mực thứ nhất: Trung với nước, hiếu với dân
Theo Hồ Chí Minh, trong các mối quan hệ xã hội của con người, mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dân tộc là mối quan
hệ lớn nhất Và vì vậy, trong quan hệ đạo đức thì trung, hiếu là phẩm chất đạo
đức quan trọng nhất, bao trùm nhất, chi phối mọi quan hệ đạo đức khác Theo
đó, trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo đức hàng đầu
Trung, hiếu là những khái niệm đạo đức đã có trong tư tưởng đạo đức
truyền thống Việt Nam và phương Đông, song có nội dung hạn hẹp, phản ánh bổn phận của người dân đối với vua, con cái đối với cha mẹ: “Trung với vua, hiếu với cha mẹ” Hồ Chí Minh đã từ hai khái niệm đạo đức này của Nho giáo đưa
Trang 30vào nội dung mới Theo đó, trung là trung với nước, còn hiếu là hiếu với
dân”, tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức Trung là
trung với nước, với Đảng, hiếu là hiếu với dân, với cha mẹ Trung với nước
là tuyệt đối trung thành với sự nghiệp dựng nước và giữ nước, trung thành với con đường đi lên của đất nước; là suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự
do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng
Trung với nước phải gắn liền hiếu với dân Vì nước là nước của dân,
còn nhân dân là chủ của đất nước Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa
quan trọng hàng đầu Hiếu với dân thể hiện ở chỗ thương dân, tin dân, gắn bó
với dân, kính trọng và học tập nhân dân, lấy dân làm gốc, phục vụ nhân dân
hết lòng Trong xã hội tư bản, tự do, bình đẳng, dân chủ… chỉ là tự do, bình
đẳng, dân chủ của giai cấp tư sản; còn quảng đại quần chúng nhân dân không thực sự được hưởng cái quyền ấy Nhưng đối với Hồ Chí Minh, tự do, bình đẳng, dân chủ là những quyền thiêng liêng, chính đáng của con người, là quyền của nhân dân lao động Trung với nước, theo Người, là thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của người dân với Tổ quốc, với dân tộc Chính sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta mấy nghìn năm lịch sử đã hun đúc nên lòng yêu nước, thương nòi, xả thân vì nước, gắn con người với cộng đồng dân tộc, với sự hưng vong của Tổ quốc Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc thì “trung với nước” thể hiện ở sự xả thân vì vận mệnh của dân tộc và chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, thống nhất nhất đất nước Trong sự nghiệp xây dựng, đổi mới đất nước hiện nay, trung với nước chính là trung thành với sự nghiệp đổi mới đất nước vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Trung với nước thể hiện nghĩa vụ, bổn phận của mỗi con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong sự nghiệp bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Ngày nay, trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, toàn cầu hoá với nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập đầy biến động, phức tạp, chúng ta
Trang 31đang chủ động làm tốt mọi việc để hội nhập quốc tế, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và làm cho dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh cũng chính là đã thực hiện đức Trung trong tư tưởng Hồ Chí Minh
“Hiếu với dân” theo Hồ Chí Minh, là không chỉ hiếu với cha mẹ mình- một thành phần của dân, mà là hiếu với dân nói chung, hiếu với toàn dân tộc
Hồ Chí Minh đã từng nói “nước lấy dân làm gốc” [44, tr 501] Dân chính là
toàn dân tộc, không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, tôn giáo Hiếu với dân có nghĩa là bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều vì dân, mọi việc làm đều vì yêu nước thương nòi, không đi ngược lại với quyền lợi của dân tộc Công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước là trách nhiệm của dân, sự nghiệp kháng chiến kiến quốc cũng là công việc của dân; chính quyền
từ xã đến chính phủ trung ương đều do dân bầu cử ra; đoàn thể trung ương đến xã cũng do dân tổ chức nên Vì vậy, mọi việc làm đều phải vì dân Hiếu với dân không chỉ thể hiện ở chỗ thương dân mà phải tin dân, dựa vào dân, giúp đỡ dân, lo cho cuộc sống của nhân dân ngày càng tốt hơn Người khuyên người cán bộ cách mạng phải gần dân, thân dân, dựa vào trí tuệ của dân và học hỏi dân Người xác định, cán bộ phải cùng nhau bàn tính kĩ càng, phân chia công việc rõ rệt, cùng nhau đi giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, tổ chức phân công, sắp xếp việc làm, khuyến khích theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những việc khó khăn Cán bộ các cấp đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh công việc chung cho dân
Đối với cán bộ lãnh đạo, Hồ Chí Minh yêu cầu phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, thường xuyên quan tâm cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí Ngày nay, chúng ta đang phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tiếp tục thực hiện
sự nghiệp đổi mới, làm cho đất nước ta sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu Cán bộ phải đi sát dân, làm lợi cho dân “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm Việc
gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh” [43, tr 51] Đó là một sự tổng kết, khẳng
định một cách biện chứng mối quan hệ giữa nước và dân
Trang 32Chuẩn mực thứ hai của người cách mạng cần có là Cần, kiệm, liêm,
chính, chí công vô tư
Đây là những phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của con người Hồ Chí Minh cũng dùng những phạm trù đạo đức cũ, lọc bỏ những nội dung lạc hậu, đưa vào những nội dung mới đáp ứng nhu cầu cách mạng Đây là nội dung đạo đức mới để người cán bộ phải lấy bản thân mình làm đối tượng điều chỉnh
Theo Hồ Chí Minh, một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ Cần, kiệm, liêm, chính là nền tảng của đời sống mới là cái cần để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Tổ quốc, giai cấp và nhân dân Trong điều kiện mới hiện nay, càng phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, chống chủ nghĩa cá nhân, vì như
Hồ Chí Minh nói: “Chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm thứ bệnh nguy hiểm: Quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí” [50, tr 611] Người còn nói:
“Cán bộ các cơ quan đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét” [45, tr 127], làm hại đến lợi ích của nhân dân
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay,
sự khác nhau về lợi ích rất đa dạng và phức tạp Vấn đề đặt ra là phải giải quyết một cách hài hoà giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội, phù hợp với sự phát triển chung của đất nước Người cho rằng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân” Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng và đời sống riêng của bản thân mình, vì vậy, chúng ta cần phải hiểu sự khác biệt giữa chủ nghĩa cá nhân và lợi ích cá nhân Song, cần phải đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong xã hội, phát huy dân chủ xã hội và chủ nghĩa yêu nước trong nhân dân, tạo động lực to lớn cho sự phát triển đất nước
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh Việc tu dưỡng, rèn luỵên đạo đức cách mạng diễn ra hằng ngày, hằng giờ, trong công tác, sinh hoạt gia đình, xã hội, ở mọi không gian, thời gian, và nhìn chung là lấy bản thân mình làm đối tượng Những yếu tố này là
Trang 33biểu hiện cụ thể của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân” Bởi khi cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư sẽ tạo nên bình đẳng trong xã hội, tạo nên khả năng giữ vững độc lập dân tộc, xây dựng đất nước giàu mạnh, tiến bộ Như Người viết:
“Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính nhưng không bao giờ làm mà bắt nhân dân phải tuân thủ theo để phụng sự quyền lợi cho chúng Ngày nay, chúng ta đề ra cần, kiệm, liên chính cho cán bộ thực hiện làm gương cho nhân dân theo để lợi cho nước, cho dân” [46, tr 220]
+ Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo
năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm; là lao động có chất lượng, có tổ chức, có kỷ luật Những thói hư, tật xấu, lười lao động, ăn bám, vô tổ chức, vô kỷ luật là không phù hợp với đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh luôn phê phán những kẻ đạo đức giả, nói mà không làm, nói một đường làm một nẻo Người cho rằng, kẻ
đó làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng
Cần là làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm Làm việc phải nhanh chóng, chu đáo, việc ngày nào làm xong ngày ấy, việc hôm nay chớ để ngày mai Phải nhớ rằng, dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó Ai làm biếng tức là lừa gạt dân
+ Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của
nhân dân, của đất nước, của bản thân mình Tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái lớn;
“Không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi” [45, tr 122], nhưng không phải
là bủn xỉn Kiệm trong tư tưởng của Người còn đồng nghĩa với năng suất lao động cao
+ Liêm là “luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân; không xâm
phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân” [52, tr 70], “liêm khiết trong mọi hoàn cảnh”, không tham lam địa vị, tiền của, danh tiếng, sung sướng Không tham người tâng bốc mình Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn đục khoét của công, tham ô, hối lộ, móc ngoặc làm những việc trái đạo đức, trái pháp luật, vi
Trang 34phạm quyền làm chủ của nhân dân là nguời không liêm Hành vi trái với đức liêm là: “ cậy quyền thế mà đục khoét, ăn của dân, hoặc trộm của công làm của riêng Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là trộm vị Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm là tham uý lạo” [45, tr 127] “Cụ Khổng nói: người mà không liêm, không bằng súc vật Cụ Mạnh nói: ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy” [45, tr 127]
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, những người làm trong bộ máy nhà nước rất dễ có cơ hội để tham ô, tham nhũng Đó là khi họ nắm trong tay quyền hành nhưng “thiếu lương tâm”, không giữ được chữ cần, kiệm, liêm, chính
Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu “những người trong công sở phải lấy liêm làm đầu” Từ quan điểm này cho thấy, để đạt được đức Liêm trong tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, người cán bộ phải thực sự rũ bỏ lòng tham, không chỉ đối với tiền bạc vật chất mà cả với những danh vọng, địa vị, chức tước Những tiền tài và danh vọng đó có sức quyến rũ vô cùng mạnh mẽ Nằm trong bộ máy nhà nước, nắm trong tay quyền lực, người công chức rất dễ bị những cám dỗ đó lôi kéo Và khi quyền lực kết hợp với lòng tham, thì từ người công chức bỗng trở thành con mọt đục khoét của công, hay trở thành ông quan cách mạng, chỉ là trong gang tấc Do đó, đối với người công chức, thực hiện đức Liêm là vô cùng cần thiết, mặc dù rất khó khăn Nhưng dù khó khăn đến mấy, cũng phải “lấy Liêm làm đầu”
+ Chính là không tà, thẳng thắn, đứng đắn đối với mình, với người, với
việc Người viết: “Làm việc chính là người thiện, làm việc tà là người ác Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm) chính là Thiện; lười
biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác” [45, tr 129] Theo Hồ Chí Minh, đức
Chính còn có nghĩa là “ngay thẳng, là đúng đắn, chính trực Đối với mình
không tự cao tự đại; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc; luôn giữ thái độ chân thành khiêm tốn, đoàn kết Đối với việc thì để công lên trên lên trước việc tư Việc thiện thì nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì
dù nhỏ mấy cũng tránh” [45, tr 131]
Trang 35Đặc biệt, trong bài viết “Tư cách người Công an cách mệnh” (ngày
11-3-1948), Người viết: “Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính; đối với đồng sự, phải thân ái, giúp đỡ; đối với Chính phủ, phải tuyệt đối trung thành; đối với nhân dân phải tôn trọng, lễ phép; đối với địch phải cương quyết, khôn
Theo Hồ Chí Minh, Cần, kiệm, liêm, chính là “tứ đức” không thể thiếu
được của con người Người viết:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc Người có bốn đức: cần, kiệm, liêm, chính Thiếu một mùa thì không thành trời Thiếu một phương thì không thành đất Thiếu một đức thì không thành người” [45, tr 117]
Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: Cần, kiệm, liêm, chính càng cần thiết
đối với người cán bộ, đảng viên Nếu đảng viên mắc sai lầm thì sẽ ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, nhiệm vụ của cách mạng Cần, kiệm, liêm, chính còn là thước đo sự giàu có về vật chất, vững mạnh về tinh thần, sự văn minh của dân tộc “Nó” là cái cần thiết để “làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Đoàn thể, phụng sự giai cấp và nhân dân, phụng sự Tổ quốc và nhân loại” [45, tr 608]
+ Chí công vô tư là ham làm những việc ích quốc, lợi dân, không ham
địa vị, không màng công danh, vinh hoa phú quý; “phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc) Người còn khẳng định rằng: Cần, kiệm, liêm, chính tốt sẽ dẫn tới chí công vô tư, và
Trang 36chí công vô tư, một lòng vì dân, vì nước thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính Người đặc biệt coi trọng đạo đức trong việc thực hành liêm, chính, chí công vô tư: “trước nhất là cán bộ cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm
là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư” [45, tr 127].Người
cũng còn đưa ra một luận điểm rất quan trọng, có giá trị thiết thực: “trước mặt
quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “Cộng sản” mà ta được quần chúng yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”
[45, tr 16] Trên báo Cứu quốc, số 65 ngày 12/10/1945, Người viết: “muốn
được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy, phải có một tinh thần chí công vô tư” [43, tr 52]
Thực hành chí công vô tư có hiệu quả, theo Hồ Chí Minh là phải nêu cao chủ nghĩa tập thể, nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, bởi vì Người cho rằng, chủ nghĩa cá nhân chỉ biết đến mình, muốn “mọi người vì mình”, nó là giặc nội xâm, còn nguy hiểm hơn cả giặc ngoại xâm
Chí công vô tư là tính tốt có thể có được nhờ 5 điều: nhân, nghĩa, trí,
dũng, liêm Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư là để người cách mạng vững vàng qua mọi thử thách : “Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”
- Chuẩn mực thứ ba: Lòng nhân ái, thương yêu con người
Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất
Lòng nhân ái cao cả và yêu thương con người được Hồ Chí Minh chỉ ra một cách cụ thể là, “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề ở đời và làm người Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ và bị áp bức”, “trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân, là những bọn ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải
yêu quý, kính trọng, giúp đỡ… Phải thực hành chữ “Bác ái”” [45, tr 130]
Trang 37Tình yêu thương con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh có phạm vị rất rộng lớn, đó là tình thương bao la dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột không chỉ ở Việt Nam mà còn trên khắp thế giới Triết lý ấy bắt nguồn từ truyền thống nhân ái của dân tộc Việt Nam, từ lòng yêu thương con người, nhường cơm sẻ áo, chung lưng đấu cật, đồng cam cộng khổ trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta Triết lý ấy cũng bắt nguồn từ tình thương yêu đồng loại với cùng cảnh ngộ bị áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, đế quốc Lòng nhân ái, thương yêu con người ấy ở Người không phải là sự thương hại của “bề trên” nhìn xuống, không phải là sự “động lòng trắc ẩn” của người đứng ngoài cuộc, mà
là sự đồng cảm của những người cùng cảnh ngộ, trước hết là từ tình cảm của người dân mất nước, bị nô dịch, bị áp bức bóc lột, tìm con đường giải thoát khỏi những đoạ đày đau khổ
Yêu thương con người là nghiêm khắc với mình, độ lượng với người khác, phải có tình nhân ái với cả những ai có sai lầm, đã nhận rõ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người Hồ Chí Minh luôn căn dặn, Đảng phải có tình đồng chí, thương yêu lẫn nhau, trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình chân thành, thẳng thắn, không “dĩ hoà vi quý”, không hạ thấp con người, càng không phải vùi dập con người
Tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh gắn với lòng tin ở sức mạnh, tính chủ động, sáng tạo của con người, của nhân dân, tôn trọng của nhân dân,
kính trọng nhân dân Trong Bài nói chuyện tại lớp Nghiên cứu chính trị khóa
II, ngày 8-12-1956, Người nói “trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân
Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [49, tr 453] Người tin tưởng ở sức mạnh của con người, vì vậy Người cho rằng, cần phải chăm lo, bồi dưỡng, sử dụng, phát huy được sức mạnh của con người, của
nhân dân, để “đem tài, sức, của cải của dân làm lợi cho dân”
Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm và tôn trọng tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng, quyền lợi riêng của mỗi con người nhằm phát
Trang 38huy tối đa vai trò và khả năng của từng người, vì lợi ích riêng chính đáng của mỗi người và lợi ích của cả cộng đồng Đối với những người lầm đường, lạc lối, có sai lầm và ngay cả đối với binh sĩ đối phương, lòng thương yêu của Người mở rộng thành lòng khoan dung Theo Người, “năm ngón tay cũng có ngón ngắn, ngón dài Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay Trong mấy triệu người, cũng có người thế này, thế khác, nhưng thế này thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta Vậy ta phải khoan hồng đại lộ” [43, tr 280]
Đạo đức mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh thật là trong sáng Rèn luyện đạo đức mới đòi hỏi phải tự giác, phải tự nguyện, dựa vào lương tâm của mỗi người và dư luận của xã hội Đối với chúng ta, việc thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là việc xa vời, mà là việc làm tròn bổn phận, nghĩa vụ của người dân Việt Nam đối với Tổ quốc, thực hiện những lẽ phải thông thường ở đời: sống thân ái, bao dung vốn vẫn là những nết đẹp trong mỗi người chúng ta trong đời sống xã hội và truyền thống văn hoá, đạo đức Việt Nam
Chuẩn mực thứ tư: nhân, nghĩa, trí, dũng:
Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Bác viết: “Người Đảng viên,
người cán bộ muốn trở nên người cách mạng chân chính, không có gì là khó
cả Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư Mình đã có chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít đi, mà những tính tốt sẽ càng ngày càng thêm.” [44, tr 291]
Và những tính tốt ấy theo Hồ Chí Minh gồm có 4 điều: Nhân, Nghĩa,
Trí, Dũng
- Nhân: Là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào
Vì thế mà cương quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân… Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền
Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải, họ đều làm được
Trang 39- Nghĩa: Là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có
việc gì phải giấu Đảng Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn
- Trí: Vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong
sạch, sáng suốt Dễ hiểu lý luận, dễ tìm phương hướng Biết xem người, biết xét việc, vì vậy biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng
mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian
- Dũng: Là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm, thấy khuyết
điểm có gan sửa chữa Cực khổ, khó khăn có gan chịu đựng Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý không chính đáng Nếu cần thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc
- Chuẩn mực thứ năm: Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung
Chủ nghĩa quốc tế là một trong những phẩm chất quan trọng nhất của đạo đức cộng sản chủ nghĩa Nó được bắt nguồn từ bản chất của giai cấp công nhân
Nội dung của chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất rộng lớn và sâu sắc Đó là sự tôn trọng, hiểu biết, thương yêu và đoàn kết với giai cấp vô sản toàn thế giới, với tất cả các dân tộc và nhân dân các nước, với những người tiến bộ trên toàn cầu, chống lại mọi sự chia rẽ, hằn thù, bất bình đẳng và phân biệt chủng tộc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, sô vanh, chủ nghĩa bành trướng, bá quyền
Người khẳng định: “Bốn phương vô sản đều là anh em”; “giúp bạn là
tự giúp mình”; “thắng lợi của mình cũng là thắng lợi của nhân dân thế giới” Người đã góp phần to lớn, tạo ra một kiểu quan hệ quốc tế mới: đối thoại thay cho đối đầu, kiến tạo một nền văn hoá hoà bình cho nhân loại
Những chuẩn mực đạo đức của người cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh cho đến ngày nay vẫn mang giá trị chân thực, sâu sắc mà mỗi con người xã hội chủ nghĩa cần phải hướng tới và giữ gìn
Trang 401.2.3 Quan điểm của Hồ Chí Minh về những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới
Để có được đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh đã đưa ra một số nguyên tắc xây dựng đạo đức cho người cách mạng như sau:
Nguyên tắc thứ nhất: Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức
“Nói đi đôi với làm” được Hồ Chí Minh coi là nguyên tắc quan trọng
bậc nhất trong xây dựng một nền đạo đức mới Người viết: “Tốt nhất là miệng nói, tay làm, làm gương cho người khác bắt chước” [44, tr 126]
Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm thì mới đem lại hiệu quả thiết thực cho chính bản thân và có tác dụng đối với người khác Nếu nói nhiều, làm ít, nói mà không làm, hơn nữa, nói một đằng, làm một nẻo thì chỉ đem lại hiệu quả phản tác dụng mà thôi Nói mà không làm gọi là đạo đức giả
“Nêu gương về đạo đức” là một nét đẹp trong truyền thống phương
Đông Hồ Chí Minh khẳng định: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” [40, tr 284] Nói đi đôi với làm phải gắn với nêu gương về đạo đức Hồ Chí Minh cho rằng, trong việc xây dựng một nền đạo đức mới, đạo đức cách mạng phải đặc biệt chú trọng đạo làm gương Vì theo
Hồ Chí Minh, “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới” [54, tr 672]; phải luôn chú ý phát hiện,
xây dựng những điển hình người tốt, việc tốt trong mọi lĩnh vực của đời sống
Đối với mỗi người cán bộ, Người nói:“Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” [45, tr 16] Luận điểm này chỉ rõ phương châm xây dựng đạo đức là nêu gương Không gì thiết thực hơn, có sức cảm hoá và lôi cuốn hơn trong lĩnh vực đạo đức bằng nêu gương tốt
Nêu gương về đạo đức phải diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi Trong gia đình,
đó là tấm gương của bố mẹ đối với con cái, của anh chị đối với các em, của ông bà đối với con cháu; trong nhà trường, đó là tấm gương của thầy cô giáo đối với học sinh; trong tổ chức, tập thể đó là tấm gương của người lãnh đạo,