1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Cái cười trong ca dao người Việt : Luận án TS. Văn học dân gian: 5 04 07

213 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 213
Dung lượng 40,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trong văn hóa dân gian và các thể loại trào phúng khác của văn học thành văn.Ngoài ra, ca dao cười cũng có vị trí quan trọng trong nhà trường, nó được giảng dạy từ bậc học phổ th ô ns ch

Trang 1

P IỈẠ M T H Ị HẰNG

CAI cưửl TRONG CA DAO NGUTỜI VII ĩ

Chuyên ngành: Văn học dân gian

M ã số: 5.04.07

LUẬN ÁN TIẾN Sĩ NGỮ VAN

Ngưòỉ hướng dẫn khoa học:

GS.TS N G U Y Ễ N XUÂN K ÍN H

HA VỌI - 2003

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẨU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đ ề 2

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án 10

4 Phạm vi nghiên cứu và tư liệu khảo sát 10

5 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Những đóng góp mới của luận án 12

7 Bố cục của luận á n 12

Chương m ột : M Ộ T s ố VÂN ĐỂ LÝ LUẬN 1.1 Cái cười - cái hài và vấn để ca dao cưòi 13

1.1.1 Cái cười - yếu tố nội tại chủ quan của cái h à i 13

1.1.2 Cái cười - cái hài trong nghệ thuật 16

1.1.3 Cái cười - cái hài và vai trò của nó trong đời sống xã hội 21

1.1.4 Cái cười - cái hài trong ca dao và tên ơọi “ ca dao cười” 24

1.2 Ca dao hiện đại và cái cười trong ca dao hiện đại 29

1.2.1 Mối quan hệ V H D G với VH viết, truyền thống và cách tân 29

1.2.2 Việc phân kỳ trong ca dao và cái cười trong ca dao hiện đại 36

1.2.3 Phân biệt ca dao hiện đại với ca dao cổ truyền và thơ lục bát 40 Chương hai: N ỘI DUNG CỦA CÁI CƯỜI TRO NG CA DAO 2.1 Nội d u n g c ủ a cái cười tro n g ca dao cổ tr u y ề n 49

2.1.1 Cái cười khôi hài, giải trí 50

2.1.2 Cái cười phê bình giáo dục 55

2.1.3 Cái cười tố cáo, phản kháng 74

2.2 Nội dung của cái cười trong ca dao 1945-1975 82

Trang 3

Chương ba : N G H Ệ T H U Ậ T T Ạ O DỰNG C Á I C Ư Ờ I

3.1 Nghệ thuật tạo dụng cái cưòi trong ca dao cổ truyền 113

3.1.1 Gây cười bằng cách tạo dựng mâu thuẫn 113

3.1.2 Kết cấu tương phản và kết thúc đột ngột 119

3.1.3 Gây cười thông cách sử dụng từ n s ữ 130

3.1.4 Các thủ pháp đố vui, cường điệu, so sánh, yếu tố tục 142

3.2 Nghệ thuật tạo dựng cái cười trong ca dao 1945-1975 153

3.2.1 Những yếu tố truyền thống 153

3.2.2 Những yếu tố cũ tiếp tục được phát triển 157

3.2.2.1 Sự đan xen các thành ngữ, tục ngữ 157

3.2.2.2 Dùng câu hỏi ở cuối tác phẩm 159

3.2.2.3 Lối tả thực 161

3.2.2.4 Lối châm biếm thời sự chính trị 162

3.2.3 Những yếu tố cách tân trong nghệ thuật tạo dựng cái cười 164 3.2.3.1 Bài học giáo huấn cuối tác p h ẩ m 165

3.2.3.2 Hiện tượng phỏng nhại 166

3.2.3.3 Lối vắt dòng 173

3.2.3.4 Ngh ệ thuật lệch c h u ẩ n 176

K Ế T L U Ậ N 184

C Ô N G T R Ì N H CỦA N C S C Ó L IÊ N QUAN Đ ÊN LUẬN ÁN 194

Trang 4

là sự hỗ trợ đắc lực cho các thể loại khác như truyện cười, vè, hề chèo, trong văn hóa dân gian và các thể loại trào phúng khác của văn học thành văn.

Ngoài ra, ca dao cười cũng có vị trí quan trọng trong nhà trường, nó được giảng dạy từ bậc học phổ th ô ns cho đến đại học (chuyên ngành ngữ văn), ở xã hội hiện đại, nhu cầu hiểu biết của học sinh, sinh viên về ca dao cười không phải là ít Cuộc sons mới trong bối cảnh c ô n s nghiệp hóa, khu vực hóa và quốc tế hóa khẩn trươnơ, sỏi d ộ n s cũng đặt ra nhu cầu giải trí cười vui trong cuộc sống, trong nghệ thuật của quần chúng công, nông, binh, trí thức ngày một cao mà quá trình nghiên cứu về nó hiện tại chỉ mới đáp ú n s được một phần yêu cầu nhất định Đã có không ít những chuyên luận, luận

án tiến sĩ chủ yếu viết về ca dao trữ tình của các tác giả Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Xuân Kính, Bùi Mạnh Nhị, Phạm Thu Yến, nhưnơ riêng về ca dao cười thì chưa có tác giả nào trình bàv một cách có hệ ihốnsí, chi tiết tronơ một công trình có bề dày tươns xứng Tron " khi ấy, cái cười vẫn đang có mặt trong cuộc sống hôm nav và chắc chắn sẽ còn tồn tại lâu dài Chính vì những

lẽ đó, chúng tôi đã chọn “Cấỉ cười trong ca dao người Việt” làm đề tài

nghiên cứu

2 L ịch sử vấn đề

Trang 5

Cái cười tronơ ca dao tuy chưa được các nhà nghiên cứu quan tàm một cách có hệ thống nhưna ở một số góc độ nhất định, nó cũng đã tạo được sự chú ý của họ Đầu tiên có lẽ phãi nói đến quan điểm cúa Trương Tửu trong

Phê bình Tô' Tàm của S o n g A n in trong Loa 25-7-1935 khi ông nhận xét rằng: “Những câu ca dao tục n°ữ, bông lơn, mánh khóe, theo ý tôi, chính lủ

sự trả thủ của dân chúng đối với quan niệm nhản sinh khô khan của tôn giáo Những câu ve vãn, bỡn C(ĩt, Ìiìĩững bài ca than thân trách phận, những khúc hát ai oán của cô thôn nữ nhỡ nhàng tình duxên, những ngạn ngữ phóng đãng, táo bạo, ta thườnq nghe vẳng bên trong lũy tre xanh Tất cả đêu chứng thực rằng dân chúng Việt Nam vàn khao khát sống một cuộc đời đầy đủ hơn,

lý thú hơn cái đời nhân tạo ngoài x ã hội (của nhà Nho) Họ có một tâm hồn rào rạt, biết câm xúc tất cá nhữn° tình tha thiết của loài /7X7/07"{trích theo

67, tr.9 }

Năm 1940 trong cuốn K inh Thi Việt Ncim{61), Nguyễn Bách Khoa

(tức Trương Tửu) cũng dành cả một chương viết về người phụ nữ Việt Nam chống nam quyền và phần nào nói lên được hình b ó n s những người đàn bà nổi loạn trong khi cố tình đạp đổ cái hình tượng đàn ông với một thái độ cương quyết, cực đoan, trắng trợn nhung khá hài hước Và ở một chương

khác trong khi bàn về “nhữniị cách phô diễn của nqười Việt N a m ” ông viết:

“Tóm lại, dân Việt N am đ ã phô diễn tình V theo ba th ể cách đặc biệt: th ể tương phản; th ể trào pỉìihìíỊ; th ể trữ tình, ta thán”{61, tr 191 ].

Bảy nãm sau, trong cuốn Văn nghệ binh dân Việt N a m , dưới góc độ

khai thác nội dung ý thức và ý nghĩa xã hội của văn nghệ bình dân nói chung, Trương Tửu đã nêu bật xu hướng phản kháng trật tự phong kiến trong văn nghệ bình dân Ông chia văn nsh ệ bình dân làm hai bộ phận Một bộ phận là văn nghệ trung nônỉỉ với tính cách nửa vời trong đấu tranh chống phonơ kiến

Bộ phận còn lại có thái độ cực đoan hơn, triệt để hơn, phá hoại hơn trong sự phản kháng trật tự phong kiên vi những đắng cay, đói khổ, tủi nhục mà họ phải chịu Đó là bộ phận văn nchệ bán cố nônơ và cùng dân Tuy chưa dành

Trang 6

riêng một mục bàn về cái cười trong văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng, nh ư n s khi phàn tích giá trị nội dung của văn nghệ bình dân, Trương Tửu đã nhìn rõ: “Những con người uất ức nàx bằng thử khí giới dộc nhất là tiếng cười của mình đã chống đối lại các thầy tu, với tiếng cười khanh khách, cười ngặt nghẽo, cười gập đôi người lại, cười chảy nước mắt ra, cười tục tn r { 123, tr.5 7 } Hòa lẫn trong việc phân tích các giá trị nội dung của văn

nghệ bình dân, tiếng cười trong ca dao chỉ mới được nhắc đến như một sự điểm xuyết nhẹ nhàng bởi đó chưa phải là vấn đề chủ yếu mà tác giả muốn đưa tới cho người đọc trong cuốn sách này

Đương khi lửa tắt, cơm sôi Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem

Trong cuốn Tục n g ữ ca dao dân ca Việt N am {9Ạ ) khi bàn về ba thể cổ

điển phú, tỷ, hứng, Vũ Ngọc Phan có nhắc đến việc ca dao đã miêu tả sự lúng túng của một phụ nữ rất hài hước qua thể tỷ kín đáo ở câu ca:

Đương khi lửa tắt, cơm sôi Lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem

Ngoài ra, nhà nghiên cứu không nói thêm điều gì về ca dao cười nữa

Ớ Hợp tuyển th ơ văn Việt N a m trong phần tiểu luận, khi nói về thủ

pháp cường điệu, Vũ Ngọc Phan nhận định: “ Ở ỉoại ca dao trào phúng và cả

ở những cáu tục ngữ đả kích rất mạnh vào giai cấp phong kiến thống trị, nhân dân thường dùng lối nói ngoa hay lối cường điệu hóa”{96, tr.3 6 }

Trong phần tư liệu về ca dao trào phúng, các soạn giả đã c u n s cấp được 25 bài ca dao có tính chất trào lộng về chuyên vợ ch ồ n s {96, tr.28 9-292)

Trong Ván học dân gian, Chu Xuân Diên đã nhìn thấy “đại bộ phận ca dao trào phúng cố nội dung x ã hội với những mức độ sâu sắc khác nhau tùy theo đối tượng đả kích là những thói xấu trong nhân dân hay là những

kẻ thừ giai c ấ p ” { 64, tr.468) ô n g cũng khẳng định “ Cữ dao trào phúng có tính chất hiện thực sâu sắc Hơn nữa ca dao trào phúng có tính chiến đấu mạnh mẽ Vì vậy, ca dao trào phúng là một bộ phận quan trọng trong các

Trang 7

sáng tác trữ tình dân gian, là một tiếng nói mà ám điệu riêng của nó góp phần quan trọng vào việc thê hiện đầy đã tâm hổn và tính cách của nhân dân ta” {64, tr.472Ị.

Trong cuốn Tim hiểu tiến trinh ván học dàn gian Việt N am ở chương

VI, khi xác định từ thế kỷ XVIII, vè sử và truyện cười của nhàn dân đã muốn

từ giã chê độ phons kiến, Cao Huy Đỉnh nhận xét “cứ/ cười của nhãn dân phê phán những cảnh lô' lăng trái ngược, hư hỏng tronq sinh hoạt bình thường của nhân dân, những thói tật cẩn phải được uốn nắn tẩy t n V ị 26,

tr 166} Tuy có nêu ra một số dẫn chứng về cái cười trước những cô gái không đứng đán, những anh chàng xấu nết, những bọn người thực hành văn hóa tôn giáo, những địa chủ, cường hào, quan lại gian tham, {26, tr 166- 168} nhưng cái cười ấy của ca dao đả kích như thế nào, phê phán ra sao lại không được Cao Huy Đỉnh phân tích minh họa cụ thể mà nó chỉ như một sự liên hệ với ca dao đế chứng minh cho vai trò của truyện cười, vè sử trước sự suy tàn của chế độ phonơ kiến

Một số nhà nghiên cứu khác trong Lịch s ử vãn học Việt N am, khi phân

tích nghệ thuật ca dao đã nhận xét rằng hình thức lộng ngữ, chơi chữ có thể tạo ra tiếng cười giòn giã và việc sử dụng lối nói ngoa dụ cũng đáy sự vật tới màu thuẫn trái tự nhiên “ C a dao của tơ có nhiều hình tượng t ế nhị, kín đáo nhưng ca dao của ta cũng có nhiêu tiếng cười ròn rã Ở đây chúnẹ ta lại gặp nghệ thuật ngữ ngôn trong lộng ngữ, chơi chữ, trong đối lập hình tượng íự nhiên và không tự nhiên” {84, t r 4 3 ) Nhưng các tác giả chưa đặt tiếng cười

trong ca dao trào phúng thành một vấn để riêng để nghiên cứu

Trong cuốn Ván học dân gian Việt N am , Hoàng Tiến Tựu phân loại ca

dao truyền thống nsười Việt thành sáu loại: đồng dao; nghi lễ, phong tục; lao động; trào phúng bông đùa; ru con và trữ t ì n h {121, tr 14 2 -14 3Ị Tiếc rằns tác giả mới đi sâu phân tích bốn loại còn ca dao nghi lễ, phong tục và ca dao

trào phúng chưa được phân tích Nhưng trong giáo trình Văn học dân gian Việt N a m (dùng cho hệ cao đảng sư phạm), ông đã có sự khẳng định về ca

Trang 8

dao trào phúng với các hình thức nói ngược, trái tự nhiên hướng vào đối tượng là những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân, đặc biệt là bộ phận ca dao chống mê tín dị đoan, ch ốns sư sãi và giai cấp thống trị “ /Vớ/ ngược không chỉ có tác dụng gây cười đ ể mua vui giải trí mà cũnq có tác dụnẹ trí dục, làm cho người ta, nhất là các em nhỏ, hiểu biết lẽ thuận một cách ẹián tiếp, sống động”{ 122, tr.205 ị Ca dao trào phúng là bộ phận ca dao “bộc lộ

sự châm biếm, c h ế giễu của nhản dân đôi với nhữnẹ thói hư tật xấu, nhữnẹ hiện tượng đáng cười trong đời sống x ã hội Mua vui giải (rí, phê bỉnh giáo dục, đấu tranh đả kích là những tác dụn° đồng thời cũng là chức nănẹ chunẹ của bộ phận ca dao nàỵ”{ 122, tr.205Ị.

Trung Hoa, Hồ Lê trong Thú choi chữ{ 41) đã thể hiện được những khả

năng phong phú và đa dạng của ngôn từ thông qua nghệ thuật chơi chữ để khẳng định nghệ thuật này vừa là trò chơi trí tuệ vừa là phương tiện chuyển tải những hàm lượng thông tin đặc biệt

Trong công trình Tiếng cười dàn gian Việt N a m , ở phần tiểu luận,

Trương Chính và Phong Châu, đã dành cho ca dao cười nhiều sự chú ý hơn Các ông đã phân tích cái cười trons các loại hình nghệ thuật của văn học dân gian như truyện cười, vè, ngụ ngôn, ca dao, hề chèo, tuồng đồ và một số truyện về ông Ó Với 396 trang sách trong đó phẩn tư liệu chiếm 349 trarm

và nghiên cứu chiếm 42 trang, hai ông đã dành cho ca dao cười 38 trang tư liệu với 146 bài ca dao{13, tr.311-318} và 3 trang cho giới thiệu, phân tích {13, tr.21-24} v ề tiếng cười dàn gian Việt N a m nói chung ở các thể loại,

hai ông đã phàn tích theo bốn tiểu mục Ớ tiểu mục 1, “Tiếng cười - vũ khi",

hai ông đã phê phán quan điểm về tiếng cười của N gu yễ n Vãn Vĩnh trong chương trình cập nhật hóa Sài Gòn 1972 và quan điểm của nhóm Huỳnh Tịnh Của cho “tiếng cười là liều thuốc an thẩn” Ớ tiểu mục 2, nsoà i việc xác định

“c/ó/ tượng của tiếng cười” là giai cấp thống trị và các loại thầy, sư sãi, hai

ông cũng cho r ằ n s đối tượng của tiếng cười còn là thói xấu, nhimg kh ô n s chi

ra cụ thể tiếng cười chĩa vào các thói xấu ấy trong ca dao như thế nào Trong

Trang 9

tiểu mục 3, các ông đã chỉ ra một số “thủ pháp gâv cư ờ r\ 13, tr.21-24}

nhưng lại chưa phân tích sâu ở tiểu mục 4: "‘Gạn đục khơi trong'', hai ỏng

cho rằng bản thân yếu tố tục trong ca dao cho dù là sáng tác của ai đi nữa thì cũng thiếu tính giáo dục “Đ ể cười cái xấu thì phái vượt lẽn trên cái xấu, nghĩa là phải tốỉ, phái đẹp, phài cao thượng Không thế giáo dục bằng những cói tự nó đã phàn giáo dục Cho nên việc siãi tầm vân học trào phùng dàn gian chỉ có thể có V nghĩa kill có thể khai thác được tác dụng giáo dục của nó”[ 13, tr.40Ị Hoặc “Có những tác phẩm khêu gọi những cám hứng không lành mạnh, đó là tiếng cười ác hoặc (ục, cách giải trí ấy quá tám thường"[ 13, tr.39} Chúng tôi thiết nghĩ việc “gạn dục khơi trong ' trong quá

trình sưu tầm văn học dân gian là cần thiết Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta chỉ sưu tầm, sử dụng những tác phẩm hay, có quan điểm tư tưởns phù hợp, còn những tác phẩm có hạn chế (theo quan điểm của một số cá nhân) thì loại bỏ không sưu tầm, gạt bỏ những tư liệu mà ta “khàng thích"

Việc đó chỉ có lý khi chúng ta tuyển chọn tác phẩm văn học dùng tron? nhà trường Hơn nữa, những bài ca dao có yếu tố tục không phải là khôn2 có những giá trị nhất định của nó Mặt khác, trono công trình của mình, Tnrơns Chính và Phong Cháu vẫn chưa khai thác cái cười mua vui siài trí, chưa khám phá cái cười chĩa vào thói hư tật xấu - hình như tác eià né tránh nói tói việc phê bình trong nội bộ nhân dân Có thể với phạm vi của đề tài mà các ông đặt

ra trong cuốn sách của mình, cái cười trong ca dao nằm ngoài mục đích ấy

Vì vậy, việc khai thác không đầy đủ, không chi tiết về nó cũng là điều dễ hiểu

Gần đây nhất, Đào Thản trong cuốn Ca dao hài hướcị 127} và Phạm Thu Yến trong N hững th ế giới nghệ thuật ca daoị 141 Ịcũns đã dành

nhiều sự quan tâm cho ca dao trào phúng Cùng với việc khai thác một

số yếu tố nghệ thuật, Đào Thản đã đặt tên gọi cho mỗi bài ca dao theo chủ đề từng tác phẩm và tập trung nhiều hơn vào bộ phân ca dao giải trí Phạm Thu Yến thì đã dành 16 trang nói ve ca dao trào phúng (141, trang 172 đến trang 187 Bên cạnh việc xác định

Trang 10

các nội dưng của ca dao trào phúng, Phạm Thu Yến đã khắc họa khái quát nghệ thuật gày cười của nó qua kết cấu, ngôn ngữ, phóng đại, đổng âm khác nghĩa Chúng tôi tán thành nhận định của tác giả: “Cìiúnq ta tìm thấy trong

ca dao trào phúnq trí tuệ sắc sáo, óc thực tiễn, cái nhìn lìài hước, thông minh thể hiện qua hệ thông nghệ thuật tài hoa, phong phú và trên hết là hiểu được quan niệm thẩm mỹ truxên thống của nhản dân lao động” {141, tr 187}.

Ngoài ra, còn có nhiều bài báo, bài tạp chí của các tác giả khác có nhắc đến vấn đề ca dao cười nhung do mục đích của công trình và do dung lượng của các bài báo mà các tác giả không có điều kiện đi sâu

Giai đoạn từ t h á n s Tám năm 1945 đến 1975 là giai đoạn có nhiều biến động của lịch sử, nhữns bài ca dao ra đời trong thời kỳ này chủ yếu viết về công cuộc xây d ựn s chủ nshĩa xã hội trên miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà Trong bối cảnh ấy, ca dao chính là người bạn gần gũi, quen thuộc của quần chú ng lao đ ộn c trên mọi lĩnh vực Chính vai trò quan trọns của ca dao đã biến nó trở thành mối quan tâm không chỉ của những người yêu thích

ca dao mà còn của cả các nhà folklore học Tuy chưa nhiều nhưng đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, các bài viết đăng tải trên các tờ báo, các tạp chí về ca dao cười siai đoạn này

Trong lời bạt Ca dao chông M ỹ {95}, Vũ Ngọc Phan tìm hiểu việc ca

dao chống Mỹ cứu nước đã tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc và phong cách độc đáo của văn học dân aian như thế nào Ong đã nhận ra rằng không cứ phải do nhân dân lao động sáng tác mới là ca dao, mà chủ yếu là hình thức nghệ thuật của nó phải tiếp thụ truyền thống dân gian và nội duns của nó phải phù hợp với tâm tình, ý nghĩ và nguyện vọng của nhân dân lao động Vũ Ngọc Phan cũng đã có nhắc qua đến sự khác nhau giữa thơ trào

phúng và ca dao trào phúng Theo ông thì “r a dao trào phúng là một vũ khí sắc bén của nhân dán k h ô n ‘ị kém gì vè đ ể c h ế giễu, đả kích những thói hư, tật xấu của một lìỌỉiẹ fì°ười, một tầng lớp người trong x ã Ỉỉội, kìù thì là đấu tranh trong nội bộ nhản dân, kill thì là đấu tranh chốnq ạiai cấp thống trị T hơ trào

Trang 11

phúng có những điểm không giống ca dao trào phúng Thơ trào phúng làm ra

đ ể đả kích những cái ngang trái ở đời, nhằm vào nhữtig con người nhất định, chứ không mang tính chất chung như ca dao trào phúng”{95, tr.59Ị Ngoài

những điều đó ra, tác giả không nói thêm 21 về ca dao trào phúns nữa v ề tên gọi của các thể loại ca dao xuất hiện trước và sau 1945, ch ú n s tôi tán thành quan điểm của nhà nghiên cứu khi ông cho rằng “Khác với nhiều th ể loại khác của văn học dân gian xuất hiện trong nhữn° thời kỳ nhất định của lịch

sử, ca dao vẫn tiếp tục ra đời trong các thời đại và biểu hiện tư tưởng, tình cảm của quần chúng nhãn dân trong công cuộc đấu tranh chính trị và lao động sản xuất dưới các c h ế độ x ã hội khác nhau Chúng ta có ca dao thời phong kiến và Pháp thống trị, thường gọi là ca dao truyền thống, ca dao xuất hiện trong chiến tranh chống thực dân Pháp, tức “ca dao kháng cỉuếrì\'à hiện nay có “ca dao chống M ỹ cínt nước”{95, tr.3 8 }.

Trong bài Góp p h ầ n tìm hiểu ca dao, dân ca chống M ỹ đồng bằng sông Cửu L o n g ị 19}, Nguyễn Văn Diệu đã điểm qua “tiến° cười đả kích châm biếm chí khí “iêng hùng”của nhữn° tên lính M ỹ klỉi đụng đầu với lực lượng hậu bị của cách mạnq miên Nam trên địa bàn đồnq bẳti° sôìiạ Cửu Long - lực lượng dân quân dư kích anh hùng:

Thằng M ỹ sa xuống hầm chông, Khóc như cha chết, van ông lạy bà.

Mấy cô du kích nhà ta Bắt vé phấn khỏi, hát ca vang lừng.

Cố khi còn là tiếng cười châm biếm nhẹ nhàng nhưng sâu cay đối với bọn giặc xâm lược khi chúng mới bước chân vào vùng đất lặ"{ 19, tr 55 }.

Trong cuốn Văn học dân gian Việt N a m , Đinh Gia Khánh đã khẳng

định: “Dưới c h ế độ x ã hội chủ nghĩa, tiếng cười hài hước vẩn cân vciỉiẹ lên dê góp phân tiêu diệt cho bằng hết những tàn dư của c h ế độ cũ thường kéo dài cuộc sống vô lý của chún° Vả lại trong x ã hội chủ nghĩa, một hiện tượng có

Trang 12

sự phát triển của nó trên con đường tiến lên không ngừng của loài người Cái tiên tiến hôm qua không tất nhiên là cái tiên tiến hôm nay Cái tiên tiến hôm nay có thể trở thành cái lỗi thời ngày mai Sự mâu thuẫn °iữci cái

cũ và cái mới không bao giờ hết được t r o n g cuộc sông của chúng ta Cho nên một hiện tượng nảy sinh trong xã hội xã ÌIỘI chủ nẹhĩa, đến một lúc nào đó có thể chửa đựng mặt bào thủ, và mâu thuẫn nội tại nà\' thường lủ

cơ sở cho tiếng cười hài hước Tiếng cười hài hước ngày nay có V nghĩa phê bỉnh và tự phê bình sân sắc”[64, tr.368} Nhimg ca dao 1945-1975

thể hiện tiếng cười ấy như thế nào lại khôns nằm trong phạm vi nghiên cứu của công trình

Vũ Ngọc Phan trong Tinh thần chông ngoại xâm của phụ nữ qua

ca dao Việt nam xưa và nay {97, tr.6Ị cũng có nhắc đến hai bài ca dao

vui nhộn về cặp vợ chồng dân quân tự vè, ngoài ra tác siả khôns nói thêm điều gì về ca dao cười

Dù đã có một số bài nghiên cứu lẻ tẻ về ca dao sau 1945 và mối quan hệ giữa ca dao truyền thống VỚI ca dao hiên đại đăng tải trên các tạp chí các công trình khoa học, nhưng nhln chune vẫn chưa có cồng trình nào chuvên sâu nghiên cứu riêng về cái cười trong ca dao 1945-1975 và mối quan hệ giữa ca dao cười cổ truyền với ca dao cười giai đoạn này Chính vì vậy, luân

án là sự bổ sung có hiệu quả những gì chúng tôi vừa nói ở trên

Như vậy, ở bình diện nghiên cứu, tiếng cười trong ca dao cổ truyền người Việt đó đây đã được nhắc đến trong một số CÔI12 trình VỚI mức độ nông, sâu khác nhau Nhưng ở ca dao cười 1945-1975 dường như sư tâp trung của các nhà nghiên cứu còn rất ít hầu như chưa có tác giá nào hướng

sự chú ý của mình về mảng đé tài này trong một cống trình hoãc ít ra là trong một bài báo cụ thể Vì vậy, việc tập truns tìm hiểu cái cười trons ca dao một cách hệ thống, toàn diện cả về nội dung và nghệ thuật là rất cần thiết

Mặt khác, luận án cũng là sự kế thừa và phát triển luận văn Thạc s ĩ {38 Ị Sư

kế thừa ấy kết hợp với những ý kiến, nhận xét của nhữnơ người đi trước tronơ

Trang 13

các công trình đã nêu đã tạo nên những gợi ý quý báu cho chúng tôi tron2

quá trình thực hiện luận án này

3 Mục đích, nhiệm vụ của luận án

- Hệ thống hóa vấn đề cái hài với tư cách là một phạm trù mỹ học phân tích mối quan hệ giữa cái hài và cái cười

- Trong phạm vi tài liệu mà tác ơiả luận án có thể tiếp cận được, phân tích nội dung của cái cười, phân loại nó và phân tích các yếu tố nghệ thuât tạo dựng cái cười, làm rõ tài năng nơhệ thuật cứa tác giá dân gian

- So sánh những vếu tố siống và khác nhau trên phương diện nội dung và nghệ thuật của cả hai bộ phận ca dao cười cổ truyền và ca dao cười 1945-1975

4 Phạm vi nghiên cứu và tư liệu khảo sát

4.1 Trong luận án, chúng tòi khai thác phương diện nội dung và nghệ thuật tạo dựng cái cười trên cơ sở tiếp thu những vấn đề mỹ học về cái cười

ở chương một, chúng tôi sẽ trình bày vấn đề về cái hài - cái cười và những vấn đề về ca dao cười hiện đại Như 2ÍỚÍ nehiên cứu văn học dân gian đã xác định, văn học dân gian hiện đai bắt đầu từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay Nhưng trong luân án, chúng tôi chì siới hạn khảo sát ca dao cười hiện đại từ sau cách mạns tháng Tám năm

1945 đến 1975 bời tài liệu về ca dao cười từ sau 1975 đến nav vẫn chưa được sưu tầm đầy đủ, hơn nữa văn học dàn gian đương đại vẫn còn nhiều vấn đề chưa thể tổng kết

4.2 Về tư liệu ca dao cười cổ truyền, trong số 12.487 bài ca đao cười

cổ truyền được tập hợp lại tronẹ bộ “Kho tàng ca dao người Vỉ'ệí” Ị54) có

1.250 bài ca dao cười (chúng tôi chỉ chọn một bản chính, không chọn bản khác) Đây là tài liệu chính yếu để tiến hành phân tích, khảo sát và chúno

tôi đã công bố trong cuốn “Tiếng cười trong ca dao cô truyền ngưòi Việt"{40} Ngoài ra khi cần thiết, chúnơ tối cũng có tham khảo thêm tư

liệu ca dao cười trons sách của các soạn giả Bế Minh Hà{35Ị, Đào Thản{ 127}

Trang 14

Tư liệu về ca dao từ 1945 đến 1975 đã được một số nhà xuất bản công

bố như: ca dao kháng chiến, ca dao c h ốns Mỹ, ca dao về đề tài xây clựng chủ nghĩa xã hội, Chúng tôi đã đọc nhiều đầu sách ở thư viện các tỉnh cũng như thư viện trung ương (xem Tài liệu tham khảo) và hệ thống hóa được 354 bài

ca dao cười từ 2.611 bài ca dao giai đoạn từ 1945 đến 1975 Phần lớn những

tư liệu này đã được chúng tôi công bố trong cuốn ‘Ww cười Q uán - Dàn"[ 39 Ị Chúng tôi nghĩ rằng với 354 bài ca dao phong phú về tính chất

này, bước đầu cũng tạm đủ cơ sở để phân tích, nhận diện về số phận của cái cười trong ca dao 1945-1975 nói riêng và ca dao người Việt nói chung Tất nhiên, xét ở mộ t góc độ nào đấy, các tư liệu này vẫn chưa phản ánh đầy đủ mọi mặt về con người, cuộc sống trong xã hội đương thời bởi nó còn thiẽn về tuyên truyền chính trị Trong khi ấy, nhiểu tác phẩm ca dao cười hiện đại vẫn đang lưu truyền trong lòng quần chúng nhưng VI những lý do nhất định mà người ta chưa sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu được đầy đủ Đó cũng là một thiệt thòi đáng kể cho ngành nghiên cứu văn học dân gian hiện đại

Những tư liệu đã khảo sát và nghiên cứu trong luận án sẽ tạo nên cái nhìn tổng thể về ca dao cười người Việt Chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ só p phần cùng với các công trình nghiên cứu khác khắc họa rõ nét hơn bóng dáng của cái cười trong folklore Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp: phương pháp nghiên cứu vãn học dân gian; phương pháp nghiên cứu liên ngành; phương pháp so sánh Đặc biệt phương pháp t h ô n s kê được chúng tôi sử dụng ở mức cao kết hợp với việc phân tích kỹ, hiểu sâu từns tác phẩm ca dao cụ thể Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn không phải bao giờ các phương pháp nghiên cứu chính xác của khoa học tự nhiên được áp dụng cũng đem lại hiệu quả Song, đối với việc nơhiên cứu vãn học dân gian thì phương pháp thống kê nếu được sử d ụ n s tốt sẽ đem lại hiệu

Trang 15

quá khá quan Mặc dù biết những khá năng lo lớn của việc sử duny các phương pháp phân tích chính xác, Prốp vẫn thấy rõ những giới hạn cúa chúnư Theo ồng, nh ữn s phương pháp này “ c/ỉ/7 có th ế được sử dụng và dem lại kếỉ quà à ìihữiig nơi mù sự lập lụi có trong mội phạm vi lớn Điêu này chúng lư có

ớ ỉrong ìigôn ngữ, điểu này chúng ta có ở trong văn học dân g ia ir \ 134,

U-.138}

6 Những đóng góp mới của luận án

- Trên sở nguồn tài liệu phong phú về ca dao cười cổ iruyền, chúng tôi liến hành hệ Ihống hóa và nghiên cứu sâu thêm những vấn đề về nội duns,, về nghệ thuật tạo dựng cái cười trong ca dao cổ truyền Ngoài ra, chúng, lôi còn tiến hành khai thác những giá trị đặc sắc của một bộ phận ca dao cười sau

1945 mà trước đày chưa được giới nghiên cứu quan tám thóa đárm

- Khai thác vếu tố truyền thống và cách tân của hai bộ phận ca dao cười

cổ truvền và ca dao cười 1945-1975 trên cả hai phương diện nội dung và n^hê thuật, từ đó có ihể rút ra những nhận xét mang tính khách quan vể quá trình lổn tại và phát triển của cái cười trong ca dao người Việt

- Khai thác các hình ihức diễn xướng mới trong ca dao cười 1945-1975 cùnií các yếu lổ đã góp phần tạo nên những cách lân sáne, tạo Ironư n^hệ ihuât oâv cười của nó, từ đó khẳng định những uiá trị tỉnh lô', hấp dẫn của nuhè thuàt tạo dựn^ cái cười Imng ca dao uiai đoạn này

7 Bò cục của luận án

Được thể hiện ironíĩ 206 trang, ngoài các phần Mở đẩu - Kết luận - Nhữnu cổng trình của NCS có liên quan đến đề tài luận án và Tài liệu iham kháo, luận án bố cục eồ m ba chương:

Chương Một: Một số vấn đề lý luận (trang 13 đến trang 48)

Chương hai: Nội dung của cái cười trong ca dao người Việl (tran^ 49 đến trang 112)

Chương ba: Nghệ ihuật tạo dựng cái cười trong ca dao nỵười Việt (trang

I 1 3 đến tranu 183)

Trang 16

CHƯƠNG MỘ T

M Ộ T SỐ VÂN ĐỂ LÝ LUẬN

1.1 Cái cưòi - cái hài và vấn đế ca dao cười

1.1.1 C ái cười - yếu tô nội tại chủ quan của cái hài: Cười là một hiện

tượng tâm lý có khi bộc lộ thành tiếng, có khi thâm trầm sâu sắc ở bên trong,

nó là một phản ứng đế biểu hiện thái độ sống của con người trước mỗi hiện tượng của t h ế giới khách quan Có thể nói tiếng cười gắn bó mật thiết, gần gũi với tất thảy mọi người Các chuyên gia về tâm lý từ xưa đến nay thường phàn biệt có nhiều n s u y ê n nhân gây cười khác nhau: cười sinh lý do bị cù nôn; cười cơ siới do bị nsoại vật kích động; cười bệnh lý do bị điên, bị ức

c hế thần kinh hay quá suy nghĩ, uất ức một điều gì đấy Lại có cả tiếng cười tâm lý bình thường kiểu như: liCon người có miệng có môi, khi buồn thì khóc, khi vui thì cười” Tiếng cười cùng với nước mất biểu hiện trạng thái phong

phú của tâm hồn con người Tiếng cười bật ra do sự sung sướng, khoái trá cũnơ như tiếng khóc nghen ngào trong nỗi buồn hay đớn đau, uất ức Tiếng cười tâm lv đó phán ánh thái độ, tư tưởng, tình cảm của con người, mang tính

tự phát, ngẫu nhiên Nếu đem ra xem xét trên phương diện mỹ học, chúng ta nhận thấy chỉ có một phần trong số tiếng cười ấy mới được gọi là cái cười

Có tiếng cười chỉ 2âv cười nhưng không mang ý nghĩa mỹ học, ngược lại có tiếng cười ngoài việc tạo ra được hành động cười m an g tính cơ học còn có ý nghĩa xã hội nhất định xét trên phương diện m ỹ học, nó là yếu tố chủ quan của cái hài T iếns cười ấy được gọi là ‘"cái cười” Nếu “tiếng cười” chỉ ch u n s

tất cả những hiện tượng gây cười dưới các góc độ khác nhau thì “ cứ/ cười” lại

được nhận diện theo những tiêu chí nhất định trên phương diện mỹ học Cũnc

là tiếng khóc, nụ cười nhưng nhiều khi lại đối chỗ cho nhau bởi sự diễn biến phức tạp trong đời sống tình cảm của con người Chả thế mà N gu vễ n Công Trứ từng thốt lên: "kill VIII thì khóc, buồn tênh lại c ư ờ n Đú n g là có cái cười

Trang 17

rơi nước mắt kiểu như “cười như cậu Tú hỏng thi” và có những siọt nước mắt trào ra vì sung sướng, vì hạnh phúc theo kiểu '''khóc như cô á n°ày đi lcív chồng” Cái cười này gắn chặt với tâm lý, tư duy, với quan điểm chính trị,

đạo đức, thẩm mỹ của con người trons từng hoàn cảnh và giai đoạn lịch sử nhất định Nó k h ô n s chỉ giúp cho sự thư giãn của trí não mà còn có ý nghĩa phê phán, tố cáo xã hội quyết liệt

Từ lâu, việc nghiên cứu “cá/ hài" dưới góc độ mỹ học đã có cả một bề

dày với những thành tựu rõ rệt Thời cổ đại, A-ri-xtốt xem cái đáng cười

(khách thể) là những “sai lầm và kỳ quặc'1 nhưng “không gây hậu quả nghiêm trọng” Mỹ học thời Phục Hưng nhấn mạnh tính khách quan của “cái hài” và “/‘//<77 điểm khoái chá” của con người trước cái đáns cười Mỹ học duy tãm của Pla-ton xem “cái hài” là cái không phù hợp với lý tưởng tự do của tầng lớp quý tộc Can-tơ nhấn mạnh mặt chủ quan của "cái h à r và cho rằng “cái cười” là hiệu quả của một trạng thái tình cảm, tâm lý Hê-ỵhen lại

khám phá ra mối quan hệ giữa cái hài và những điều kiện lịch sử - xã hội đã

làm nảy sinh ra nó Còn mỹ học Mác-Lênin xem “cái hài” là một trong

những phạm trù cơ bản, phản ánh dưới hình thức giễu cợt giá trị thẩm mỹ tiêu cực của những hiện tượng xã hội khôns phù hợp với tiến trình phát triển lịch

sử - xã hội khách quan Trong những hiện tượng này có sự mâu thuẫn ơiữa bản chất lạc hậu, phản nhân đạo với sự tự tin mình hợp lý, hợp thời và tự bộc

lộ mâu thuẫn đó ra bẽn ngoài “S ử d ụ n g cái cười theo tinh tìừìn của lý tưởng

x ã hội chủ nghĩa có một ỷ nghĩa đặc biệt quan trọng: Nó giúp chúng ta phê phán, đả kích những t h ế lực thù địch của cách mạng vù mỉa mai châm biếm những tệ nạn x ã hội, thói hư tật xấu, những cái lỗi thời, tàn dư của x ã hội cũ

và những tỉiứ “t ệ ” mới nảy sinh trong cuộc đấu tranh d ể x â \ dựng x ã hội

m ở r \ 111, tr.96} Mỹ học Mác-Lênin đã xác định trong quan hệ thẩm mv

của cái hài có sự tương ứng giữa cái cười (chủ thể) và cái đáng cười (khách

Trang 18

thể) Giá trị thẩm mỹ của “cái hài” được biểu hiện cụ thể thông qua “Cá/ cười đả /."ích” ; “Cái cười châm biếm": “Cái cười qiễu cợt" và “Cữ/ Cííờ/

Vỉ/i” { l l l , tr.98} “C á/ đả kí ch” có cường độ phê phán mạnh mẽ nhất

nhằm phủ định triệt để đối với giai cấp thống trị và những lực lượng thù địch

nhằm ngăn chặn sự phát triển của con người và xã hội; “Cữ/ cười châm biếm ’

có sự phê phán ở mức thấp hơn nhằm sửa chữa, cải tạo ngay bản thân đối tượng sây cười; “Cứ/ cười giễu cợt” có tính cảm thông và khuyên nhủ trước các hiện tượng hài đời thường một cách kín đáo, nhiều khi rất tế nhị; “Cái cười vui” cảm xúc phê phán hòa vào cảm xúc vui tươi làm “phấn chấn tinh thần”{ 111, tr.98-99} Trên thực tế chúng ta có thể xếp cái cười đảkích và cái cười châm biếm vào chung cùng một loại bởi tính chất và mức độ

của chúng Nếu “Cữ/ cười đả /ách”, liCái cười cìỉâm biếm'' là sự phản kháng,

tố cáo đối với giai cấp thống trị và những lực lượng thù địch đang ngăn chặn

sự phát triển của cuộc sống, con người và xã hội; “Cá/ cười giễu cợt” là sự

phê bình mang tính giáo dục trons nội bộ nhân dân với mục đích nhằm sửa chữa, cải tạo ngay bản thân đối tượng gâv cười, nhiều lúc còn mang tính cảm thôns, khuyên nhủ các hiện tượng hài đời thường một cách kín đáo, tế nhị thì

“Cái cười vui” chính là sự thư giãn về mạt tinh thần, nó không chỉ có tác

dụng giải trí, khích lệ mà còn có tác dụng khẳng định, ngợi ca Như vậy, trong cái cười không chỉ có yếu tố phủ định, mà còn có cả yếu tố khẳng định

Là yếu tố chủ quan của cái hài, ílcái cười” đương nhiên phải có mối quan hệ mật thiết với “cái hài” Trong cái hài tất yếu phải có tiếng cười, nhung trong

tiếng cười không phải lúc nào cũng có cái hài Cái hài là cái xấu được biểu hiện ra trong một hoàn cảnh đặc biệt bởi những mâu thuẫn đặc biệt gây nên cảm giác kinh ngạc, tức cười Chúng ta chỉ có được “cái hài”, “cái cười” nếu đứng trên bình diện mỹ học của vấn đề “Yếu tố chủ quan trong quan hệ thẩm mỹ VỚI các hiện tượng hài là sự xúc cảm và định giá phủ định dưới hình

Trang 19

thức cười nhạo, giễu cợt - cái cười”{ 111, tr 94) Cơ sở xã hội - khách quan gợi ra “cái cười” nằm ngay ở mâu thuẫn bên trong của hiện tượng hài và mâu

thuẫn của hiện tượng này với thế giới bên nsoài Mâu thuẫn của khách thế hài nằm ngay trons mâu thuẫn vốn có của sự vận động và phát triển của bản thân hiện thực xã hội Đó chính là cơ sở chủ yếu của cái đáng cười trong quan hệ với nhận thức xã hội nói chung và nhận thức thẩm mỹ nói riêng

Hônôrê de Bandắc nhấn mạnh “cười là tinh thần của lòng dũng cảm” N.G.Ser-nư-sép-xki cho rằng “Khi cười nhạo cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn «ớ” {N.G.Ser-nư-sép-xki, toàn tập, M, 1949, tập 2, tr 191 Dẫn theo 93 tr.230} Còn Gu-ra-nich thì khẳng định “Cáỉ cười - vũ khí của người mạnh”

Và Iu B Bô-rép cũng cho thấy “Cứ/ cười đòi hỏi phải có sự hưởng ứng, cố thính giả, có sự giao ỉ lũi Chính do đấy mà cái cười tỏ rơ là một trong những hình thái có sức tác động mạnh nhất của dư luận x ã hội Cái cười chân chính có vai trò tổ chức dư luận xã hội, tập trung sự chú ỷ của dư ỉưận này vào những khuyết điểm, vào nhữnẹ hiện tượnq x ã hội tiêu cực” {2, tr.458-

459} Ớ nước ta, nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng: “cái cười bật ra khi người ta khám phá ra mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượnq, %iữa nội dunq bên trong và sự biểu hiện bên ngoài”[ 102, tr 169} Là yếu tố chủ quan của

“cá/ hài”, chúng tôi cho rằng “cái cười” có thể dùng để chỉ các yếu tố nghệ

thuật khi chúng ta xem xét vấn đề trên nhiều phương diện dưới góc độ mỹ học

1.1.2 Cái cười - cái hài trong nghệ thuật: Nếu cái hài là một phạm trù

mỹ học phản ánh những hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống thì trào

phúng lai là “một loại đặc biệt của sáng tác vãn học và đổng thời cũng là một nguyên tắc phàn ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, phóng đại, khoa trương, hài hước được sử dụng đ ể c h ế nhạo, chí trích,

t ố cáo, phân kháng những cái tiêu cực, xấu xa, lổi thời, dộc ác tronq x ã

Trang 20

hội”{36, tr.3 0 ố } Như vậy, trào phúng là một loại hình nghệ thuật mang tính

tổng hợp, được tập hợp dưới một cái tên chung của nhiều dạng thức của cái cười khác nhau Trào phúng xét theo nshĩa nôm na của ngôn từ là việc dùng lời lẽ kín đáo, bóng bảy để cười nhạo, mỉa mai đối tượns sây cười nhầm phủ định nó, không hề có yếu tố khẳng định, ngợi ca Văn học trào phúng là lĩnh vực rộng bao gồm từ truyện cười đến tiểu thuyết, hài kịch và thơ trào phúng, chàm biếm các thể loại ấy được thể hiện với những cung bậc đa dạng của cái hài Đối tượng của trào phúng là cái hài Chính cái hài với những phương thức biểu hiện khác nhau đã tạo ra loại sáng tác văn học đặc biệt VI vậy, nhiều khi nói tới văn học trào phúng là người ta nghĩ đến cái hài, hoặc nói tới cái hài thì có sự liên tưởng ngay đến trào phúng Nhưng nói như vậy không

có nghĩa rằng trào phúng và cái hài là một mà thực ra chúng có nhiều điểm khác nhau Trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác vãn học còn cái hài

là một phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tẽ đời sống vốn có khả nãng tạo ra tiếng cười ở những cung bậc và sắc thái khác nhau Đó là sự mâu thuẫn, sự thiếu cân đối trên phương diện xã hội - thẩm

mỹ mà trong đó bản thân đối tượng có thê có mâu thuẫn hoặc một trong những mạt của nó đối lập với những lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp

Chúng ta đều biết cái cười được phãn ra nhiều cấp độ Mỗi cấp độ ấy biểu hiện sắc thái tình cảm, ý nghĩa xã hội và quan điểm chính trị khác nhau Tùy vào đối tượng gây cười và thái độ của chủ thể sáng tác mà cái cười được biểu hiện ớ dạne nọ hay dạng kia, hoặc đan xen phối hợp giữa các yếu tố ấv một cách hài hòa Một mặt tùy theo bản chất của khách thể, và mặt khác tùy theo những mục đích của chủ thể, có thể phân rõ trons quan hệ thẩm mỹ nhằm biểu hiện cái hài ba kiểu thái độ cơ bản đó là đả kích, châm biếm; hài hước, giễu cợt và vui vẻ, ngợi ca

Hêghen, nhà triết học, mỹ học cổ điển Đức đã xác định nét đặc trưng của thể văn châm biếm, đả kích là “ c á c tác giả đã c ố gắng bộc lộ thái độ căm

Trang 21

phẫn có tính chất đạo đức chống lại cái thê giới xung quanh bằng cách trình bày cái t h ế giới hư hỏng như là đang giãy giụa chống lại tình trạng hư hỏng của mình” { 32 tr.786-787} M F Ốp-xi-an-nhi-cốp cũng đã khẳng định “vớ/ tính cách một th ể loại văn học tập trung cao độ sự phê phán x ã hội” “châm biếm là cấp độ của sự trừng phạt bằng cái cười”{93 tr.2 3 4 }

Như vậy, là một dạng của vãn học trào phúng, đả kích châm biếm là dùng lời

lẽ sắc sảo, cay độc thâm thúy để vạch trần thực chất xấu xa của những đối tượng và hiện tượng này hay hiện tượns khác trong xã hội So với hài hước thì châm biếm có mức độ gay gắt và hình tượng nghệ thuật cũng mang ý nghĩa sâu sắc hơn Đối tượng của cái cười châm biếm là thói hư tật xấu với thái độ đả kích, phủ định, tố cáo Tất cả những gì lỗi thời mà vẫn cố làm ra vẻ hợp thời đều làm bật ra tiếng cười châm biếm khi người ta phát hiện ra mâu thuẫn giữa tấm áo choàng giả mạo với thực tiễn Vì thế, cái cười châm biếm

là vũ khí sắc bén để tống vào quá khứ những gì lỗi thời, giả dối v ề phương diện xã hội, các tác phẩm châm biếm chĩa mũi nhọn vào kẻ thù của nhân dân, của tư tưởng tiến bộ trong lịch sử Giai cấp thống trị trong thời kỳ suy vong đang ra sức bám lấy địa vị cũ để cố tỏ ra cần thiết đối với xã hội, chính điều

đó đã biến nó trở thành một vai hề trên sân khấu cuộc đời Cái cười đả kích,

châm biếm lúc này đã chứng tỏ “giai đoạn cuối cùng của một hình thái lịch

sử toàn th ế giới, đó là tấn hài kịch của nó” (Các Mác, Phê phán triết học pháp luật của Hê ghen, Toàn tập, tập I, Tr.418 Dẫn theo 65, tr.8 4 } và đó là cách “đ ể cho nhân loại rời bỏ quá khứ một cách vui I’ẻ ” {65, tr.84) Cái cười

ấy vạch rõ sự thất thế của đối tượng gây cười, giúp mọi người nhìn thấy rõ hơn sự diệt vong tất yếu của nó, góp phần đánh đổ nó để mở đường cho lịch

sử tiến lên Những gì cản trở sự tiến bộ của xã hội đều trái với lý tưởng thẩm

mỹ và đều trở thành đối tượng của cái cười này Nhưng nói như vậy không có nghĩa là cứ mỗi khi cái cười dả kích, châm biếm xuất hiện đều chứng tỏ đã

đến “giai đoạn cuối cùng của một hình thái lịch SIT mà ngay cả trong lòng

Trang 22

xã hội mới, cái cười ấy vẫn trở nên cần thiết cho sự phát triển của lịch sử Bởi

nó không chỉ chĩa mũi nhọn vào giai cấp lỗi thời, hết sứ mệnh lịch sử mà còn hướng vào cả những giai cấp chưa lỗi thời nhưns đã có nhữns tật xấu nằm ngay trong lòng nó Vì thế, cái cười trào phúng châm biếm có ý nghĩa sâu sắc, nó vừa có vai trò hạn chế sự phát triển của lịch sử, vừa có vai trò tích cực đối với sự phát triển của xã hội

Nếu châm biếm, đả kích là “ vậ/7 dụng sự phê phán đặc biệt bằn<ị cảm xúc nhằm phủ định đối tượng tronẹ bản chất của nó” {2, tr.531 Ị, phản kháng

quyết liệt những gì không phù hợp với lý tưởng chính trị và đạo đức tiến tiến của thời đại thì hài hước, giẽu cợt lại có tác dụng hoàn thiện hiện tượng, loại trừ những khuyết điểm còn tổn tại trong nó, “vậ/2 dụng sự phê phán đó nhằm

khẳng định đôi tượng trong bản chất của nó”[2, tr.531Ị Hài hước là “một dạng của cái hài, có mức độ pỉiê phán nhẹ nhàng, chủ yếu ẹâv cười, mua vui”{36, t r l l 4 Ị trên cơ sở vạch ra sự mất hài hòa, cân đối giữa nội dung và

hình thức, bản chất và hiện tượng Trong hài hước, phép biện chứng của trí tưởng urợns hé mở cho ta thấy đằng sau cái tầm thường là cái cao quý, sau cái buồn cười là nỗi đau Nó không chỉ giúp cho sự hoàn thiện đối tượng mà còn góp phán khảng định cái đẹp, vun đắp cái mới đâm chồi nảy lộc Cái cười hài hưó'c chỉ thực sự có ý nghĩa sâu sắc khi nó làm được những việc đó Nếu hài hước là một cung bậc của cái cười nói chung thì mỉa mai lại là

phương thức biểu cảm của cái hài trong văn học trào phúng Nó là “phương thức biểu cám mà V nghĩa đánh giá đích thực ngược hắn với V nghĩa bê mặt của phát ngôn, là sự phản đối, phủ định dưới mặt nạ tán dương, khẳnẹ

đ ịn ir \2 4 , tr.33-35 Ị Sự đối lập giữa phản đối và tán dương càng lớn thì sức

mỉa mai càng mạnh Lôi nói ngược của mỉa mai như nén sức mạnh phản đối lại để cho nó bùng lên mạnh mẽ trong ý thức người tiếp nhận nhưne lại tạo được một bề ngoài mát mẻ, dí dỏm và chính điều đó đã tạo nên hiệu quả giáo dục cao nhất cho tiếng cười hài hước này

Trang 23

Trong khi châm biếm phản kháng quyết liệt, phủ nhận tất cả những gì không phù hợp với lý tưởng chính trị và đạo đức tiên tiến của thời đại thì khôi hài lại hoàn thiện hiện tượng, loại trừ những khuyết điếm còn tồn tại trong

nó “Nỉunig cả hai loại châm biếm và khôi hài đều có một cơ sớ như nhau, cơ

sở nàv là thái độ phê phán đặc biệt bằng cảm xúc, là cảm quan hài kịch và thẩm mỹ đối với hiện thực” [2, tr.531 Ị Bên cạnh thái độ đả kích châm biếm

và hài hước, giễu cợt còn có sắc thái khác của cái cười đó là cái cười vui nhằm giải trí, khích lệ và khẳng định, ngợi ca đối tượng Đây chính là sự phát triển của nghệ thuật cái cười trong bước biến đổi của lịch sử, đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người trong môi trường xã hội mới và khẳng định sự tổn tại trong dạng thức thứ ba của cái cười với mục đích làm “phấn chấn tinh thầrì'{ 111, tr 9 9 } Nếu cái cười giải trí làm cho cuộc sống con người thêm

nhiều niềm vui, giúp cho sự thư giãn về mặt tinh thần thì cái cười ngợi ca hướng tới những tấm gương tiêu biểu, phát hiện ra cái đẹp, tôn tạo cái đẹp và góp phần nhân rộng cái đẹp trong cuộc sống Cái cười siải trí, ngợi ca này không phủ định mà cũng chẳng phc phán đối tượng, ngược lại nó khích lệ, động viên con người vươn lên trong cuộc sống Từ đả kích, châm biếm: khôi hài, giễu cợt đến giải trí, ngợi ca phải chãns nghệ thuật cái cười đă đạt tới một sự hoàn chỉnh và góp phần tạo nên những sắc thái tình cảm phong phú khác nhau trong ca dao cười?

Cái cười quả thực có ý nghĩa quan trọng, nó không phải là cái cười của những con người bị bóc lột, đè nén chỉ còn biết dùng tiếns cười như một sự

phản kháng yếu ớt như quan niệm của một số cá nhân Nó cũng “không phải

là tiếng cười nẩy sinh do một bực dọc nhất thời; do tính tình nóng nảy và bệnh hoạn, cũng không phải là tiếng cười tiêu khiển, nhàn tản, vui tươi của một hạng người nào đ ó ” ị 65, tr 79 ị Cái cười ấy cho thấy “khi chê ỳ ễ u cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn n ó " {65, tr 82 Ị Cái cười chĩa thẳng vào quan

niệm đối kháng với ý thức thẩm mỹ cao đẹp, đồng thời uốn nắn những

Trang 24

khuyết tật, mài sắc cảm thụ tinh tế cho con người, nó chĩa mũi nhọn vào

những cái “s a i sai về losic; sai với truyền thống tập tục; sai về đạo đức; sai

về thẩm mỹ (tức cái hài, cái xấu)

1.1.3 Cái cười - cái hài và vai trò của nó trong đời sống x ã hội: Con

người thường xuyên xuất hiện những sắc thái tình cảm trái ngược nhau: yêu -

ghét; kính trọng - khinh bỉ; ngợi ca - giễu cợt; đồng tình - phản đối và họ

đã sử dụng cái bi để lấy nước mắt nêu ra bài học đạo lý, dùng tiếng cười để

uốn nấn lẽ sống và làm trong sạch cuộc sống Trong nghệ thuật cũng như

trong cuộc sống, hài và bi, cười và khóc như là hai thái cực luôn đối lập

nhưng đồng thời lại có mối liên hệ biện chứng với nhau Tuy nhiên, hài và bi

không phải lúc nào cũng tương đương với cười và khóc Nếu cái bi phản ánh

xung đột giữa cái thiện và ác, cái cao cả và cái thấp hèn thì cái hài ngược lại,

hướng vào cười nhạo cái xấu xa đối lập với lý tưởng xã hội hoặc chuẩn mực

đạo đức để '"bóc trần tính ươn hèn bên trong của một hiện tượng nhất định,

sự huênh hoang vô bô của nó nhằm tỏ ra ỉrọnẹ đại tronẹ khi thực chất của

nó hoàn toàn không phải t h ể ' [2, tr.440-443} Như vậy, một hiện tượns; xã

hội được coi là lỗi thời (theo quan điểm triết học), là phản động (theo quan

điếm chính trị), thì sẽ là có Cữí hài (theo quan điếm mỹ học) Ớ góc độ

mỹ học, nghệ thuật cái hài chính là phươns tiện để bộc lộ những mâu thuẫn,

là hình thái phê phán đặc biệt của cái cười, là sự “trôhẹ rỗnẹ, vô nghĩa ở bên

trong lại được cìie đậy bằng một cái vẻ huênh hoanạ bên nqoài và tự cho

rằng nó có một nội dung, một V nghĩa thực sự vả có quyền tồn tại bất chấp quy ì n ậ r {65, tr.8 2 } Cái hài không phải là toàn bộ cái xấu, bởi vì cái xấu nếu

hiện nguyên dạng một cách lộ liễu, trần trụi “như cái toàn bộ xấu thì chỉ lùm

cho người ta kinh tởm” [65, tr.81 Ị khôns thế nào cười được Còn khi cái xấu

là đối tượng của cái cười thì nó phải chính là sự “che đ ậ ý \ sự “giả vờ" một

cách sâu sắc so với bản chất vốn có của nó Nói cách khác đó là khi cái xấu vẫn cố tình che đậy bản chất của mình bằng cái đẹp giả mạo, tự khoe khoang

Trang 25

cho mình là tân tiến Nhưng bỗng nhiên, bộ cánh giả mạo ấy bị lột trần, toàn

bộ bản chất xấu xa của nó bị phơi bày dưới ánh sáng chân lý, khi ấy tiếng

cười nổ ra giòn giã “Cái hài là một bộ phận của cái xấu nhưng lại không đành phận x á ìr { 6 5 , tr.82}, nó núp dưới bóng cái đẹp và cố sức làm ra đẹp

nhưng lại bị chính cái đẹp tống ra khỏi vương quốc của mình Như vậy, cái thấp kém tự nó chưa có tính chất hài, nó chỉ như vậy khi nó có tham vọng làm ra vẻ cao cả

Không chỉ xuất hiện trong cái lỗi thời, cái lạc hậu, cái cười còn xuất

hiện ngay cả trong lòng cái mới đang lên Cái mới “có th ể trỏ thành đối tượng cười nhạo của loại nghệ thuật chăm biếm hiện thực chủ nghĩa, nến khi nảy sinh nó đ ã chứa điũiq írono bản thân những tỳ vết không gì gột sạch được, nến nó đ ã nhiễm quá sân thói ác mà muốn loại trừ thì pỉiải tiêu ìuìv ngay bản chất của cái mới đ ó " {2, tr 4 4 3 } Nhiều khi cái cười chỉ đơn giản là

tâm trạng không thỏa mãn giữa những gì đạt được hôm nay và mong ước đạt tới những gì tốt đẹp hơn ở ngày mai Cái cười xuất hiện sẽ giúp cho cái mới

hoàn thiện hơn trên bước đường phát triển của nó “Với tính cách một cảm xúc cụ th ể vả là biểu hiện của cái hài, cái cười có hai mặt: Bẽn cạnh nhãn tỏ phú định, phá hủy, trong cái cười cỏn có nhân t ố khẳng định, tức sự thỏa

m ãn”{93, tr.241} Trong cái cười có thể có nhân tố phê phán, phủ định

nhưng mặt khác, cũng có thể có nhân tố khẳng định Cái cười xuất hiện nghĩa

là trong lòng xã hội bắt đẩu có sự dân chủ hoặc là nó báo hiệu sự tan rã tất yếu của bộ máy cai trị đương thời Ngay cả trong chế độ xã hội chủ nơhĩa, cái cười vẫn luôn là người bạn đồns; hành trên con đường phát triển của cộng đồng Với cái cười đó, chúng ta có thể tìm thấy lời nhắn nhủ chân tình trong đấu tranh phê bình nội bộ Bởi lẽ ở ngay trong chế độ không còn nsười bóc lột người này, cái tiến bộ hôm nay có thể sẽ trở thành cái lỗi thời, lạc hậu ở ngày mai

Trang 26

Bên cạnh những ưu điểm ấy, chúng ta cũng nhận thấy “cá/ hài có thể phục vụ cho những quan niệm x ã hội khác nhau, nó cũn° có th ể dược sử dụng rất lệch lạc Trong trường hợp đó, nó không phục vụ những mục tiêu xã ìỉội chân chính về mặt lịch sử, mà ngược lại, hoặc che đậy những mục đích giả dối, ví dụ sự vụ lợi của giai cấp thống trị trong x ã hội tư sản, hoặc làm một loại ma túy đặc biệt, một phương tiện làm người ta lãng quên các vấn đề thực tê"{ 93, tr.234} Đày chính là mặt hạn chế của cái hài.

Như vậy, có thể thấy cái hài mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, có tính chất trí tuệ ở những mức độ khác nhau Nó sâu sắc hơn tiếng cười (về mặt chất lượng) và hẹp hơn tiếng cười (về mặt số lượng) Nó là sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo tích cực và có sức công phá mạnh mẽ đối với những cái xấu xa, lỗi thời Sức mạnh phê phán của nó vừa có tính phủ định cái lỗi thời xấu xa nhân danh cái đẹp lại vừa mang ý nghĩa khẳng định Cơ sở tạo ra cái hài là một loại mâu thuẫn đặc biệt trong cuộc sống Mâu thuẫn đó phát sinh

do đã nhìn thấy rõ bản chất và hiện tượng bên trong hay bên ngoài, tìm thấy

sự phản ánh, sự mâu thuẫn giữa cái xấu và cái đẹp, giữa cái tầm thường và cái cao quý, siữa cái phi lý và cái có lý Nếu xét trên bình diện mỹ học như theo quan điểm của nhà mỹ học Xô Viết - Bôrep thì nsuyên nhân gây ra cái hài là do mâu thuẫn trong bản thân hiện thực Người ta cười vì chợt nhận thấy mình đã khám phá được bản chất thực của hiện tượng Cái hài chính là phương tiện đế bộc lộ mâu thuẫn, là hình thái phê phán đặc biệt, có cảm xúc

thông qua tiếng cười ‘7ứ kết quả của một sự đối lập, một “sự bất hòa ”, một mâu thuẫn <ịiữa củi xấu và cái đẹp (theo A-ri-xtốt); ỳ ữ a cái nhỏ nhen và cái cao thượng (theo Căng); íịiữa cái trọng đại và cái vô nghĩa (theo Líp-xơ); giữa cái vô ì ý và cái có lý (theo Gi p Rích-te và s Sô-pen-hau-e)” {2,

t r 4 6 0 ) N h ư vậy, cái cười bật ra do sức mạnh nội tại của tâm trí c h ú n s ta, tức

là sự phản kháng của tư duy logic đối với những hiện tượng muốn lọt ra khỏi phạm vi giải quyết của nó Khi ta tống tiễn cái xấu là lúc ta đã có sự phân

Trang 27

biệt rạch ròi giữa xấu và đẹp, giữa trắns và đen Cái cười đó là kết quả của một quá trình khám phá ra mâu thuẫn và là biểu hiện của sự thắng lợi về mặt

trí tuệ của con người

1.1.4 Cái cười - cái hài trong ca dao và việc xác định tên gọi “ca dao

c ư ờ i Cái cười ở các thể loại trào phúng bông đùa khác nhau của văn học dân gian đã góp phần tạo nên "rừng cười” vô giá của văn học dân tộc Riêng

ở thể loại ca dao khi đi sâu tìm hiểu cái cười ở góc độ văn bản ngôn từ, người ta thường có sự liên tưởng tới mối quan hệ giữa ca dao và dân ca Từ một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu văn học dàn gian Việt Nam đã dùng

thuật ngữ dân ca để chỉ “toàn bộ các hình thức ca hát dân gian (bao gồm cả nhạc, lời, điệu bộ, lề lối sinh hoạt ) như các điệu hò lao động, hát ru con, ìiát quan họ, các điệu lý ” {121, tr 163} Như vậv, “«ớ/ đến cláỉi ca người ta nqhĩ đến cả ba yếu tố cơ bản cấu thành nó: ảm nhạc, lời ca và phương thức diễn xư ớ n g ^ịìO ì, tr 195} Nếu dân ca là toàn bộ các hình thức ca hát dân

gian bao gồm cả lời, nhạc và các yếu tố khác như động tác, điệu bộ khi diễn xướng thì ca dao lai chủ yếu là phần lời của chính các loại dân ca ấy Bởi nó

là “/ỡự/ thơ dân gian truxền thống có phong cách riênỵ được hình thành và phát triển trên cơ sở của thành phấn nghệ thuật ngôII từ trong các loại dân

ca trữ tình ngắn và tương đối ngắn của người Việt”{121, tr 166-167}(tức

gồm phẩn lời thơ, không kể tiếng đệm, tiếng láy, đưa hơi) Như vậy, tuy đã được phân định một cách rõ ràng nhưng giữa ca dao và dân ca vẫn có nhiều nét tương đổng đặc biệt là khi nghiên cứu chủ yếu dựa trên nghệ thuật ngôn

từ “Giữa ca dao và dân ca như vậy là không có ranh giới rỗ rệt Sự phân biệt giữa ca dao và dân cơ chỉ là ỏ chỗ khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân ca người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những tliểthức hát nhất định nữa”{64, tr.4 3 7 } Dựa vào các

tiêu chí về chức năng, giai điệu, hình thức sinh hoạt, đề tài và phương thức phản ánh mà các nhà nghiên cứu phân ca dao ra làm nhiều loại khác nhau

Trang 28

Chu Xuân Diên phân ca dao dân ca thành ba tiểu loại: “lao độn°”\ “nghi /<?” ;

“đời sông gia đình và x ã hội” Trong “JỜ7 sống gia đình và x ã hội” lại phân

thành bốn bộ phận: hát ru; hát vui chơi, hát trò chơi; hát đối đáp; các loại giọng ca và khúc dân ca {64, tr.435} - Trons bốn bộ phận đó, có sự đan xen của cả ca dao trào phúng bông đùa Một số người khác lại phân ca dao dân ca

ra thành hai tiểu loại: “ca dao trữ tình” và "ca dao trào phúng” Trong ca dao

trữ tình được chia thành năm bộ phận: ca dao về thiên nhiên; lịch sử; gia đình; xã hội; và ca dao về tình yêu Chúns tôi thống nhất với cách chia của

Hoàng Tiến Tựu khi ông phân ca dao dân ca thành sáu tiểu loại: “đồng cỉao”\

“nghi lễ phong t ụ c “lao động1'', “ru e n f \ “trữ tình” và “trào phúng bông đùà'{ 121, tr 143} Ngoài ra còn có một số cách phân loại khác dựa trên

những tiêu chí khác nhau nhưng nhìn chung, trong các cách chia ấy, vãn không thể vắng bóng ca dao trào phúng bôns đùa Điều đó chứng tỏ nó là bộ phận quan trọng trong kho tàng ca dao dân ca người Việt

Trong văn học dân gian, phương diện mỹ học nghiêng về những sáng tác tập thế với các quan niệm về cái đẹp - cái xấu, cái cao thượng - thấp hèn, cái hài - cái bi được tập thể đề ra và chấp nhận Thái độ thẩm mỹ ấy có quan

hệ mật thiết với chức năng thực hành cùa những tác phẩm nghệ thuật dân gian Không thể quan niệm folklore sons ngoài sinh hoạt, ngoài phong tục tập quán mà phải thấy rõ nó luôn được tồn tại trong những hội lễ ở gia đình hoặc ngoài xã hội Diễn xướng để tổn tại và tổn tại trong diễn xướng, đó chính là đặc trưng nổi bật của văn học dãn gian so với các loại hình nghệ thuật khác Những nhà nghiên cứu hiện đại đã phát hiện ra nhiều sắc thái đa dạng và phong phú của cái hài trong folklore và nhiều phương tiện tạo ra tác động hài: từ sự truyền đạt những chi tiết giống sự thật một cách tự nhiên chủ nghĩa đến cường điệu tột bực; từ sự mỉa mai nhẹ nhànơ đến sự chế giễu cay độc, phẫn nộ Cái hài được tạo ra bằng nhữns lời hóm hỉnh cũng như bằng nhũng giọng điệu độc đáo, bằng sự tươns phản giữa những hình tượng; bằns

Trang 29

ngôn từ và nhạc; bằng sự nhại lại dáng điệu, cử động, Khi bàn về văn hóa trào tiếu dân gian của Rabelais, M.M Bakhtin đã rất chính xác khi khẳng

định: “tiếng cười dân gian và các hình thức của nó là một lĩnh vực SLUI'J tác dân gian còn ít được nghiên cứu nhất Nlỉưnẹ trong khi ấx thì cà kỉìối lượng

và V nghĩa của nền văn hóa ấv ở thời trung đại và Phục Hiùig lại rất to lớn

Cả một th ế giới mênh mông những hình thức và những biểu hiện của tiếng cười đối diện thường xuyên với văn hóa chính thông trcuiq nghiêm ị xét vê mặt điệu thức) của giáo hội và phong kiến trung có'5{3, tr.144-145} Mặc dù

những hình thức và những biểu hiện ấy hết sức đa dạng - đó là những hội hè nơi quảng trường kiểu hội cải trang, những lễ thức và thờ bái trào tiếu, những nhân vật hề và dại khờ, những người khổng lồ và người lùn, người dị hình, những nghệ nhân pha trò các kiểu và các cấp khác nhau, những tác phẩm văn thơ nhại rất phong phú, đa dạng và nhiều thứ khác nữa - tất cả nhũng hình thức ấy đều có một phong cách thống nhất và đều là những bộ phận của một nền văn hóa trào tiếu dân gian, văn hóa hội cải trang thống nhất và toàn vẹn

Ông cũng cảnh báo “Không đếm xỉa hoặc coi nhẹ tiếng cười dân gian trung

cỏ thỉ s ẽ làm méo mó cd bức tranh lịch sử phát triẻn của tiên vân hóa cháu

Au về sau này”{3, tr 148} Bên cạnh đó, ở lĩnh vực nghiên cún, mạc dù cái

cười trong văn hóa dân gian nói chung và văn học dân gian nói riênơ luôn tồn tại mang tính toàn dân; tính phổ quát và tính hai chiều nhưng dưới con mất của các nhà nghiên cứu hiện đại, nhất là ở các nước tư bản chủ nghĩa, thì từ

thế kỷ XIX, người ta hầu như chỉ lĩnh hội cái cười một cách nshiêm túc, mội

chiều Bởi họ chỉ chấp nhận tiếng cười giải trí và “tôn trọng tiêng cười trào phúng thuần túy, mà tiếng cười ấy thực chất là tiếng cười không cười, tiếníị cười hừng hồn, nghiêm trang, răn dạy”{ 3, tr.225-226} còn tính hai chiều của tiếng cười “vừa vui nhộn, hoan hỉ vừa nhạo b á m \ c h ế giễu; vừa phả dinh vừa khẳng định; vừa khai tử vừa tái sinh” {3, tr 1 59Ị thì lại bị triệt tiêu đi Quan

điểm này đã làm hạn c h ế rất nhiều tác dụng đích thực của cái cười trons văn

Trang 30

học dàn gian Ở nước Nga, nhà nghiên cứu la Gudốnikỏv đã phân biệt cái hài

ra ba nhóm: nhóm chân dung của nhân vật hài; nhóm tình thế và bước ngoặt của hành động hài; nhóm phương tiện từ ngữ hài N.G.Ser-nư-sép-xki đã khẳng định nghệ thuật gây cười độc đáo ấv đã c hứ ns tỏ "vươiìiỊ quốc thực sự của pha trò là những trò chơi của người bình clán"{ N.G.Tchemưsevxki,

Toàn tập, tập II, tr.187 Dẫn theo 28, tr.573} Trên thế siới, trong quan niệm

về cái đẹp của folklore nông dân cũng có nhiều hạn chế, CO' sở của lv tưởng thẩm mỹ trong thơ ca dân gian ấv là những khát vọng của nsười nông dân về một cuộc sống tương đối đầy đủ Sự đói nghèo trons đời sống vật chất của người lao động đã ảnh hưởng đến quan niệm thẩm mv của họ Chính vì vậy

mà cái cười trào phúng dân gian thời phong kiến đã mang một hạn chế lịch

sử nhất định, nó “vạch trần những phẩm chất hữu danh vô thực của bọn cầm quyển và những tay sai trung thành của chúng nhưno không có th ể vươn tới

sự tố cáo c h ế độ phong kiến và nhữìig thiết c h ế của c h ế độ này nói chung Nó phê phán mạnh m ẽ và không thương tiếc những sa hoàng “t ồ i ” nhưng nó không đả động gì đến c h ế độ chuyên chế Tình trạno chưa chín muồi của ý thức giai cấp của quấn chúng nông dãn biểu hiện ở chỗ này" 128, ư.575 } Đó

là những hạn c h ế về mặt tư tưởng, ảnh hưởng nhất định đốn sự phát triển của

xã hội đương thời kh ôn g phải chỉ có ở nước Nga mà là hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam

Trong văn học dân gian người Việt, ca dao cười là những sáng tác chứa đựng các yếu tố gây cười, cái cười ở đây phơi bày bán chất thực của đối tượng gây cười, lột trần những cái xấu xa đang ngụy t r a n ơ dưới vỏ nsoà i óng

ả Cái châm biếm ở đây gay gắt, chua cav làm đảo điên cá hệ thống thành trì kiên cố của giai cấp thống trị Cái cười trong ca dao cũng m a n s nhữnơ cung bậc, sắc thái tình cảm hết sức khác nhau: vui vẻ, phê bình hoặc phản kháng quvết liệt Giữa ba cung bậc ấy nhiều khi có sự chuyển hóa lẫn nhau r ấ t tinh

tế, đa dạng Khi đi sâu vào nội dung phản ánh của ca dao cười, người ta có

Trang 31

thể phân chúng thành hai loại: ca dao phê bình giáo dục và ca dao đả kích, tố cáo Vấn đề đặt ra là nên chọn một tên gọi chung cho những bài ca dao có tiếng cười ấy thế nào cho phù hợp? Hiện nay cách gọi của giới nghiên cứu

cho mảng ca dao này không thống nhất Vũ Ngọc Phan gọi là “cc/ dao trào

p h ú n g '{96, tr.3 6 }, Hoàng Tiến Tựu gọi là “ca dao trào phúng bông diia”{ \ 2 \ , tr 143}, Đỗ Binh Trị gọi là dao cười cợt”{ 132, tr.4 2Ị V V

Những tên gọi ấy xuất phát từ các bình diện khác nhau và đều dựa trên những

cơ sở khoa học nhất định nhưng chưa hẳn đã đồng nhất - mặc dù cùng chí chung một đối tượng Vấn đề đặt ra là nên chọn một tên gọi thích hợp cho mảng ca dao có tiếng cười nhằm thống nhất các tên gọi về một điểm Nếu gọi

là ‘Va dao trào phúng” như Vũ Ns ọc Phan e rằng sẽ chưa đủ nghĩa “Trào phúng” đã chứa đựng một thái độ, một quan điểm chính trị để phê phán, tố

cáo, phản kháng, trước những gì tiêu cực, xấu xa, lỗi thời (thậm chí ngav cả đối với cái mới đang lên) Vậy mà trong ca dao cổ người Việt còn có một bộ phận ca dao giải trí không chứa đựng một quan điểm chính trị, một thái độ tư tưởng nào khác ngoài chức nãng mua vui đơn thuần:

Chổng hen mà lấy vợ hen,Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi

Những bài ca dao như vậy không phải là “ca dao trào phúnẹ” Vì thế, nếu gọi toàn bộ những bài ca dao có tiếng cười là “ca dao trào phúng” , e

rằng sẽ phiến diện, thiếu đầy đủ Còn tên gọi “ca dao cười cọ7” của Đỗ Bình

Trị theo chúng tôi cũng chưa được thỏa đáng và rõ nghĩa cho lắm bởi còn một bộ phận ca dao không nhỏ đã hướng vào mục đích đấu tranh với nhuno

quan điểm thẩm mỹ nhất định Mặt khác,từ "cười cợt” quá nôm na, khôns

thể dùng để xây dựng thành thuật ngữ khoa học - đành rằng trong ca dao cười, bộ phận mua vui giải trí đã đóng góp khônơ nhỏ cho rừng cười dân ơian

của người Việt Vì tất cả những lẽ trên, chỉ còn lại khái niệm "ca dao trảo phúng bông đ ùa” của Hoàng Tiến Tựu là hợp lý hơn cả ở phươnơ thức tự sự

Trang 32

dàn gian, chúng ta có “truyện cười” còn ớ trữ tình dân gian tại sao lại không

thể gọi những bài ca dao ấy là dao cười” đưọc? Chỉ có điều nếu gọi “ca dao trào phúng bông đùa” thì nhữns sáu âm tiết, hơi rườm, chưa cô đọng

Theo chúng tôi, gọi là “ cứ dao cười” có vẻ hợp lý hơn, bới nó vừa gọn lại vừa

bao hàm được tất cả mọi phương diện một cách khá trọn vẹn Chính vì tính phổ quát của nó, cho nên trong luận án này, chúng tôi xin được dùng thuật

n s ữ "'ca dao cười” để chỉ những bài ca dao có chứa đựng yếu tố gây cười, dù

chúng ẩn chứa những sắc thái tình cảm khác nhau Dù cái cười có gay gắt hay không thì vấn đề nổi bật nhất của ca dao cười cũng là đem lại niềm vui cho mọi người Chính điều đó đã lý giải tại sao ca dao cười đã trở thành món

ăn tinh thần ưa thích của tất thảy mọi người, bất kể ở giai đoạn nào của lịch

sử Nhiều câu ca dao cho đến bây giờ chúng ta vẫn thích nghe nó, thích đọc

Lạy trời, lạy Phật, lạy vua Cho tôi sức khóe, tôi xua con ruổi

Hoặc cái thú vị của bài ca dao “Đồn rcìnq quan tướng có d a n ir cho đến

giờ vãn thích hợp bởi nh ữn s kẻ hữu danh vô thực troníĩ xã hội ta vãn còn Có

được những điều đó là do “cái cười" trong ca dao đã làm tròn chức năng

nhận thức, giáo dục, thẩm mỹ của mình đối với quần chúng Ngoài ra, chính

nó còn là cơ sở để con người ta hiểu về nhau nhiều hơn Ngạn n s ữ dân gian thường có câu: “Anh h ã \ chỉ cho tỏi biết anh cười ai, tôi s ẽ nói cho anh hay, anh là người như th ế nào” \ 65, tr.7 8 }.

1.2 Ca dao hiện đại và cái cười trong ca dao hiện đại

1.2.1 M ô i quan hệ giữa văn học dân gian và vãn học thành văn - Vân

đè truyền th ố n g và cách tán trong vãn học: Khi bàn ve ca dao hiện đại, dù

muốn hay k h ô n s chú ng tôi vẫn phải đề cập đến vấn đé mối quan hệ siữa vãnhọc dân gian cổ truyền và vãn học dân gian hiện đại Vàn đé đặt ra là có hay

Trang 33

không sự tồn tại của văn học dân gian hiện đại? Ở Liên xô (cũ), trước đây đã từng diễn ra cuộc thảo luận về vấn đề văn học dân gian hiện đại V.Guxep

khẳng định “Bên cạnh những tác phẩm bôn° đùa được sáng tác không ít những tác phẩm tìỉực sự trào phúng, nhất lù trong những hình thức "nhỏ" của folklore, nhữfĩ° bài ca đơn khúc, nlỉữỉig °iai thoại, những câu nói hóm, những tục ngữ và thành ngữ, trong đỏ những hiện tượng mâu thuẫn với những lợi ích tiến bộ của quần chúng bi c h ế riễn không thương tiếc Tiếc rằng sự chủ ỷ của những nhà folklore học tới những biểu hiện này của cái hài trong folklore hiện đại đương còn quá ít o7” {28, tr.579} Ở Việt Nam, vào những

năm 1969-1970, trên Tạp chí Văn học cũng có cuộc thảo luận vấn đề văn học dân gian hiện đại với nhiều V kiến khác nhau Trong hoàn cảnh người lao động đã làm chủ xã hội, nhu cầu thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật của nhàn dân gần như đã được thỏa mãn bằng những thành tựu và phương tiện sáng tạo nghệ thuật của văn học chuyên nshiệp Vì thế, có người cho rằng văn học dân gian khônơ còn cơ sở để tồn tại nữa: “khônq th ể có củi gọi là văn học dân gian hiện đại được mà chi cố nhữnẹ sáng tác quần chúníị được thành văn mà t h ỏ r ị 98, tr.4 4 } hoặc cho rằng ca dao đang có ‘"nqity cơ “diệt v o n ẹ ”

và biết đâu nó phải “giải t h ể ” Nếu ý ải th ể thì hai con đườnq đ ã mở ra: hoặc là trở lại với dân ca hoặc là đi nhập với thơ trữ tình” {85, t r 6 4 } Nhưng

còn phần đông ý kiến vẫn khẳng định sự tổn tại của văn học dân gian hiện đại Nhữnơ bài viết của Vũ Tố Hảo{37, tr.74-78}, N s u y ễ n Văn D i ệ u {19, tr.54-66}, Hà Châu{ 14, tr 15-20) và nhiều người khác khẳng định sự tồn tại

của văn học dân gian hiện đại Trẩn Đức Các cho rằng '"Từ Cách mạng tỉỉáno Tám đến nay, ca dao d ã có những bước chuyển hóa theo quá trình vận dộtìíỊ

và phát triển của nó Dó là sự vận dộng chuyển hóa từ ca dao tniyẻn thống sang ca dao mới Từ truyẻn miệng sang thành vãn T ừ sán° tác dân 'ịicm sanq sânẹ tác quần chúng Đó là sự vận động theo chiều hướnq đi len”{ 10, tr.63 Ị.

Trang 34

Trần Tiến cho rằng vãn học dân gian hiện đại vẫn đ a n s tồn tại và phát triển song song với vãn học thành văn ngay giữa xã hội hiện đại, “í?ó là những thành ngữ, tục ngữ mới, nhữnq câu ca dao, những bải vè, nhữno oịaì thoại, nhữìig truyện cười m ớ r { 115, tr.47} Trần Gia Linh cho rằng "Văn học dân gian có lý do đầv đủ và vững chắc đ ể tự hào vê vị trí và chức năng của nó trong nền văn hóa m ớ i ” bởi nó cfang “tồn tại mang sức sống mạnh m ẽ và nó vẫn xứng đáng với vai trò “n°ự s ử ” trong đời sốnq dư l u ậ n '[15, tr.47 Ị Trần

Quốc Vượng quan niệm “Bao giờ còn dân thì bấy giờ cũng còn folklore Dân vạn đại thì foloklore cũng vạn ífa;'” {138} Còn nhũng nhà nghiên cứu dân

gian khác như Đinh Gia Khánh, Cao Huy Đỉnh, Chu Xuân Diên, Phan Đăng Nhật, đều cho rằng trong xã hội chưa hoặc có phân chia siai cấp, văn học dàn gian vẫn ra đời và phát triển Đó là những sáng tác của dân chúng (là chủ yếu), được dân chúng ghi nhớ và truyền tụng Chu Xuân Diên đã khẳng định:

“Nhìn chung từ sau cách m anẹ tháng Tám đến nav, văn ÌỈỌC dân gian phát triển với tư cách là một trong ba bộ phận sáng tác văn hục sau đây: bộ phận scin° tác văn học chuyên nghiệp, bộ phận sán% tác văn học quần cỉìímơ, bộ phận súnẹ tác văn học dân °ian”{6 4, tr.2 30} Ôn í cũng khẳng định: ilsự tổn tại của văn học dân gian trong thời dại ngàx nay van là một diều tất yếu”{64, tr.240) Cao Huy Đính rút ra nhận xét sớ dĩ có vãn học dân gian

hiện đại là do xuất phát từ tâm lý tập thể Đinh Gia Khánh {62 Ị cho rằng trong c hế độ xã hội chủ nghĩa, khi nhân dân lao động làm chủ mọi phươns tiện hoạt động văn hóa, chắc chắn họ không nhữnư; chí kế thừa dòns; văn hóa dân gian truyền thống mà còn phát huy được tới cao độ khả n ă n s sáng tạo để khơi nguồn cho một dòng văn hóa dân ẹian đươns đại xã hội chủ nghĩa Vãn học dân gian người Việt sau 1945 đã đáp úng n h ĩm s nhu cầu trong lĩnh vực nhận thức và cải tạo thẩm mỹ thế giới khách quan mà nshệ thuật cá nhân có

lẽ chưa đáp ứng được đầy đủ Nó vẫn cần thiết với nhãn đán lao động với tư cách là một hoạt độn g nghệ thuật gắn liền với hoạt cìông thực tiễn trong

Trang 35

chặng dài suốt mấy chục năm qua của lịch sử Chúng tôi sẻ chia những băn

khoăn của nhà nghiên cứu Nguyễn Tấn Đắc khi ông cho rằns: “Cỡ lẽ từ đây, không còn những điều kiện x ã hội đê cho folklore phát triển nữa, nó vẫn tồn tại không thê bị mất hẳn, nhưno thu hẹp dần vương quốc của m ình”[25,

tr 15-16} Nhưng nói như vậy không có ns hĩ a là đến lúc nào đó văn học dân gian sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn bời người ta vẫn nhận thấy ngày càng nhiều những bài nghiên cứu về văn học dân sian hiện đại đ ă n s tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, ngày càng nhiều những công trình sưu tầm về truyện kể, về ca dao, tục ngữ, hiện đại được bạn đọc phấn khởi tiếp nhận từ báo chí, từ các nhà xuất bản Văn học dân gian hiện đại nói chung và ca dao hiện đại nói riêng (trong đó có ca dao cười) vẫn tồn tại, không bao giờ bị triệt tiêu, mặc dù nó đã không còn cái vẻ sôi nổi như trước kia nữa N h ư vậy, về

cả mặt lý luận và thực tiễn, chúng ta đã nhận được câu trả lời khẳng định sự tồn tại và mức độ phát triển của vãn học dân gian hiện đại

Văn học dân gian hiện đại đã và đang tồn tại Qu á trình vận động phát triển của lịch sử văn học dân tộc tất đã tạo nên mối quan hệ giữa văn học dân

gian với văn học thành văn Đó là mối quan hệ “rất có ý n°hĩa nếu khẳng định sự tồn tụi của văn học dãn gian hiện đại Văn học dàn qian ngày n a \ của nước ta tồn tại và phát triển tronẹ những mối quan hệ hết sức phức tạp với văn học thành văn và hoạt động ỉiuhệ thuật nghiệp c h r { 64, tr.241 } Mối

quan hệ ấy chặt chẽ, sâu sắc và góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền văn học dân tộc Vãn học dân gian có vai trò quan trong trong quá trình xây dims nền văn học thành văn “Nghiên cứu sự phát triển của ngôn uqữ văn học dân tộc, tử các tác ẹ/ứ viết bằng chữ Nôm xưa, đến các tác qiả viết bằng chữ quốc ngữ sau này, ta không th ể khô nạ chú V đến ảnh hưởng của nqôn nẹữ vổn học dân gian Ngược lại, nghiên cứu sự phát triển cửa nqỏn n%ữ văn học dân gian, không thểkìiótio tính đến íinh hưởng của nhữnẹ nhà văn, nhà /7/(/"{64,

tr.5 2 8 - 5 2 9 Ị Nếu xét ở góc độ bình diện nội dung ý thức hệ, dưới c h ế độ cũ

Trang 36

mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết phần nhiều mang tính đối kháng Trong thời kỳ nhân dân làm chù xã hội, quan hệ văn học dân gian và văn học viết là quan hệ k ế thừa và cách tân vốn vãn học dân gian truyền thống để xây dựng nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa Và ngược lại khi xét ở bình diện sáng tạo nghệ thuật, quy luật về mối quan hệ này lại là quá trình xâm nhập, chuyển hóa những kinh nshiệm nghệ thuật của tập thể thành những sáng tạo của cá nhân Bởi lẽ khi mới ra đời, vãn học viết đã làm nhiệm

vụ ghi chép lại folklore rồi sau đó mới dần dần thoát ly mà trở thành một bộ phận riêng Đến thời kỳ hiện đại, khi điều kiện lưu truyền tự nhiên của văn học dân gian bị xóa dần thì vãn học viết tuy phát triển mạnh hơn, nhưng nó

“vẫn không ngừng g õ cửa đ ể Vứv mượn cảm hứng, chất liệu, phương tiện, kinh nghiệm nghệ thuật của văn học dân gian"{ 66, tr.7 6 } Mối quan hệ giữa

văn học thành văn với vãn học dân gian đã và đang nằm trong quy luật kế thừa và cách tân “k ế thừa có chọn lọc, có phê phán và có sáng rạo” {66,

tr.74Ị Văn học dân gian vừa là kho tàns vô giá cho các tác gia văn học viết

về mọi phương diện, đồng thời chính họ lại góp phần làm nên sự phong phú cho văn học dân 2Ĩan Những tác gia nổi tiếng vẫn là người biết vận dụng, khai thác vốn văn học dân gian trên cơ sờ cá tính sáng tạo của mình để tạo nên phong cách riêng Đó là trường hợp của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hươns, Nguyễn Khuyến, Tản Đà, Nguyễn Bính “Một tài năng nghệ thuật lớn sẽ biết tiếp thu, vận dụng nhữnq ý á í rị cần thiết nhất định của văn ỈÌỌC dân qian đối với một đ ề tài, nội dung, th ể loại, ngôn ngữ nghệ thuật nhất đ ịỉiìrị 68,

tr.55) Như vậy, ảnh hưởng của văn học dân gian có thể tồn tại ở những mức

độ khác nhau, có khi là sự mô phỏng bắt chước, có khi là sự chuyển hóa nghệ thuật tinh vi Sự hiện diện của ca dao hiện đại chứng tỏ sự đan xen chặt chẽ giữa ca dao cổ truyền với những sáng tác trữ tình của văn học bác học tronơ

một giai đoạn lịch sử nhất định “Mỡ/ quan hệ giữa văn học dân gian và vãn học viết không chỉ là hiện tượng vốn có từ lâu mà còn lù hiện tượng d a n ẹ

Trang 37

diễn ra trong cuộc sống mới” {15, tr.44}.

Bất kỳ nền văn học nào, trải qua những giai đoạn khác nhau của lịch sử đều có những vận động và biến đổi trên cơ sở k ế thừa những truyền thống cũ Truyền thống luôn là yếu tố gắn kết làu đời đối với mỏi cộng đổng, mỗi quốc gia, dân tộc Đó chính là hệ quả của sự hài hòa mà các cộng đồns người nhỏ hoặc lớn đã dành được trong sự thích nshi một cách chủ động và có ý thức

với môi trường Theo nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh thì “nối đến trnyên thống là nói đến những giá trị đã dành được trong quá khứ mà còn tác dụng trong x ã hội đươnq đại” {63, tr.6Ị llĐ ã gọi là truyền thống thỉ tốt hoặc xấu, đều đ ã ăn sâu vào nếp sống, vào tâm lý tình câm của cộ no đồng và bao hàm trong lối ứng x ử đ ã trở thành thói quen của cộng đồng” [63, tr.7} Nhưng

cuộc sống thì lại luôn vận độns, văn hóa cũng luôn luôn biến đổi, cho nên các giá trị trường tổn ấy dầu có tốt đẹp đến đáu cũng không thể đáp ứng một cách đầy đủ với sự biến đổi của cuộc sons mới Cho nên mỗi thế hệ phải biết

kế thừa và phát huy các giá trị truyền thốns mang V nghĩa tích cực đối với cuộc sống đương đại nhưng đổng thời c ũn s phải biết sửa đổi, điều chỉnh những truyền t h ố n s đã hết sứ mệnh lịch sử và đã trờ nén lỗi thời, nghĩa là phải biết cách tán nó Theo quan điểm của Tô Neọc Thanh thì truyền thống

và cách tân là mối quan hệ giữa những giá trị đã hình thành trons điều kiện của quá khứ với nhu cầu, điều kiện cúa hiện tại và tươnơ lai Đây là sự vận động trong nội bộ một nền văn hóa dân tộc và “con IIÍỊIÍỜÌ của th ế hệ điiơìiq đại buộc plỉâi xem xét lại Ììệ thông những giá tri văn hóa do ông cha đ ể lại

Từ đó, hoặc họ p h ế bỏ nến qiá trị dó không còn tìúcìi hợp với diêu kiệtì sốnạ của họ Hoặc họ vẩn dùng những giá trị đỏ, nhưng với nội dimq và V nghĩa khác, trong một hệ thống khác Sau cùng, trên cơ sở tìlỉững oịá trị dã có, sáng tạo ra nhữnẹ giá trị mới, chưa từnẹ có trong lịch SíT{ 125, tr 48} Trong vãn học cũng vậy, “truvển thống của dân tộc bao ạiờ cũng qắu với hiện dại, thông qua cái hiện đại mà văn học cúc dân tộc phát hu\’ tác dụ 11° cửa nó.

Trang 38

và hiện đại, rất đáng đ ể những nhà nghiên cửu vãn học dân gian quan

râm” {37, tr.74} Ca dao cần được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu và tâm lý của thời đại M ộ t mặt phải tiếp tục chất trữ tình đằ m thắm và những tình cả m trong sáng của cảm xúc, n hưn g phải tăng th êm vốn thực

tế, chất chính luận t r o n s sự chọn lọc có sáng tạo thích hợp với đặc trưng thể loại Mặt khác, cần giữ lại những làn điệu đẹp, lối cấu tứ hay và những thể thơ quen thuộc trong ca dao xưa, nh ưn g c ũng phải sáng tạo thêm những cấu tứ mới, vận dụng linh hoạt các thể thơ hiện đại cho phù hợp với thời cu ộc mới trên cơ sở nghiên cứu kỹ tâm lý và sở thích của

quần chúns “CY/c tác giả đ ã tiếp thu một cách sáng tạo nỉìữìio yếu tố truyền thống vào ca dao hiện đại Vì vậy, ca dao hiện đại vừa ma no dược tính truyền thông, vừa mang được hơi thở của cuộc sốnq m ới” {31, tr 7 8 }

Tầm vóc của dân tộc ta trong thời đại mới qua c ô n g cuộc thống nhất Tổ

Qu ốc và kỷ n g u y ê n xây dựng chủ nghĩa xã hội đã tác động và làm thay đổi sâu sắc đến đời sống vật chất, tinh thần của nh ân dân, hiện thực đó đòi hỏi vãn học c ũn g phải có những nỗ lực xứng đáng Tr on g ca dao cười người Việt, các yếu tố truyền thống và c ác h tân luôn đan xen chặt chẽ trong nhau N hiều yếu tố truyền thông đã chứng tỏ sức mạnh trườns tồncủ a nó tron g lòng xã hội hiện đại, còn các yếu tố các h tân c ũn g nảy sinh và phát triển trên cơ sở những biến đổi không ngừng của cuộc sốnơ mới và đã tỏ ra hết sức phù hợp với chính cuộc sống ấy bởi “tỉéìi anh

Trang 39

không làm chủ dược sự sáng tạo của mình, không vùng vẫy khỏi sức hút mạnh m ẽ của tntxên thống, anh s ẽ thành người phục cô, nệ r ô ” Ị 104,

tr 4 2 }

1.2.2 Việc p h ả n kỳ trong ca dao và cái cười trong ca dao hiện đại.

Sau 1945, cùng với những đổi thay lớn lao về cơ cấu chính trị xã hội, nền văn học Việt Nam cũng có những biến động khác trước Bên cạnh văn học thành văn, văn học dân gian vẫn tiếp tục phát triển trong những điều kiện

và hoàn cảnh mói Sự tồn tại của nó trong lòng xã hội hiện đại, chúng ta đã khẳng định ở nh ữn s phần trên của luận án Vấn đề còn lại đặt ra ở đây là tại sao lại chọn đến năm 1945 làm mốc để phân chia thời kỳ tronơ vãn học? Có nhiều quan điểm khác nhau Có người tính từ 1858 (khi Pháp xâm lược), có người tính từ đầu thế kv XX, hoặc từ 1930 (khi Đảng ra đời) Các nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên chia lịch sử văn học Việt N am ra 4 thời kỳ: thời kỳ trước thế kỷ X; thời kỳ từ thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX; thời kỳ

từ giữa thế ký XIX đến giữa thế kv XX; thời kỳ từ giữa thế kỷ XX đến nav{64, tr.l 12-243 Ị Theo các ông, văn học dân gian hiện đại (trons đó có ca dao cười) xuất hiện ở thời kỳ từ giữa thế ký XX đến nay C hú ns tòi thống nhất với Chu Xuân Diên khi ông cho rằng văn học dân sian hiện đại xuất hiện từ sau thánc Tám năm 1945 {64, tr.224-242 Ị “Đ ế cương văn hóa”{ 1943), với ba n su y ê n tắc “dân tộc h ó a “khoa học hóa” và ‘Víại chủng hóa” đã góp phần mở đường cho sự phát triển cúa một nền văn hóa mới

“Cách mạn° thán'ị Tám (1945) mở rơ một kv nạuvên mới trotìíỊ lịch sứ dân tộc Việt N a m ” { 64, t r 2 2 4 } Vãn học dân gian cổ truyền đã chuyển thành vãn

học dân gian hiện đại với nhiều biến đổi về đề tài, nội dung, phươns thức phản ánh và lưu truyền Trong bước quá độ ấy, vãn học dân 2Ìan Việt Nam

đã đạt được nhiều thành tích quan trọng qua sự phát triển của các d ò n s vãn học dân gian yêu nước chống thực dân Pháp và chống đ ế quốc Mỹ của quần

Trang 40

chúng công, nô ns, binh, trí thức Ớ thời kỳ này, lực lượng sáng tác đã phong phú hơn, bao gồm công, nông, binh và trí thức cách mạns Khuynh hướng sáng tác gắn với ý thức phục vụ chính trị, lý tưởng thẩm mỹ mới của thời đại

cách mạng vô sản “Do những thav đổi vê điều kiện lịch sử, x ã hội ấy, sự phát triển của văn học dân gian ở nước ta từ sail cách mạng đã có nìuĩtiẹ thay đổi hết sức quan trọng” {64, tr.225} Cách mạng tháng Tám năm 1945

đã đưa xã hội Việt N am từ chế độ thực dân nửa phong kiến sang c hế độ xã hội chủ nghĩa của dân, vì dân Quần chúng lao động từ chỗ là người nô lệ bị

áp bức, bóc lột, trở thành những người làm chủ, dựng xây lấy cuộc sống của chính mình Chủ thể sáng tạo của văn học dân gian trước kia là những người lao động bị bần cùng hóa, giờ trờ thành chủ nhân của đất nước, họ trở nên năn2 động, nhạy bén hon 1945 là mốc son lịch sử đánh dấu sự chuyển hướns vô cùng quan trọng của đất nước và con người Việt Nam Vì thế, thánơ Tám năm 1945 xứng đáng là mốc để phân chia văn học Việt Nam ra hai thời kỳ: thời kỳ nhân dân bị đè nén dưới ách cai trị của thực dân - phong kiên và thời kỳ nhân dân đứns lên làm chủ vận mệnh của mình, thời kỳ vãn học dân sian cổ truyền (trong đó có ca dao cười cổ truyền) và thời kv của văn học dân gian hiện đại (trong đó có ca dao cười hiện đại)

Như chúng tôi đã khẳng định ở phần đầu của luân án: cái cười vẫn luôn tồn tại ở bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử, ns a y cả khi quần chúng lao động chưa làm chủ vận mệnh của minh đến khi chính quyền đã thực sự về tay nhân dân Trên thê' giới, ở nhữns nước mà cuộc đấu tranh 2,iài phóng dân tộc đã hoàn tất, cái cười vẫn tiếp tục tổn tại nhưng có sự chuyển hướng trong đối

tượng phản ánh Quả không sai khi V.Guxép đã khái quát rằng: ‘T rong những điêu kiện phát triển hòa bình chù nghĩa x ã ìỉội, cái hài vê căn bán thực hiện chức nănu p h ê phán những khuyết điểm tronq xây dựỉiq và tổ chức lao dộng, những yêĩi tô của chủ nghĩa quan liêu troniị dời sông x ã hội, sự trì trệ và những tàn tích của những quan hệ cũ trong sinh h o ạ t, những sự xa rời

Ngày đăng: 22/09/2020, 01:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w