Do tầm quan trọng của việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo và vai trò mũi nhọn của báo chí trong cuộc đấu tranh này, thực tế đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu, tổng kết lý luận về vấn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM HÀ
THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRÊN
TUỔI TRẺ ONLINE VÀ VIETNAMNET (KHẢO SÁT TỪ NĂM 2012 ĐẾN 2013)
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội-2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
………
PHẠM HÀ
THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRÊN
TUỔI TRẺ ONLINE VÀ VIETNAMNET (KHẢO SÁT TỪ NĂM 2012 ĐẾN 2013)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60320101
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Tất Thắng
Hà Nội-2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu đƣợc sử dụng trong luận văn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của Luận văn chƣa đƣợc công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào
Tác giả luận văn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Thông tin về vấn đề chủ quyền biển đảo trên Tuổitrẻonline
và Vietnamnet (khảo sát từ năm 2012 đến 2013) là kết quả quá trình học tập nghiên cứu của tôi tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội từ năm 2011 đến 2013
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô trong Khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại lớp cao học báo chí K15
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng cám ơn đến thầy Phạm Tất Thắng, Phó Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, đã nhiệt tình và tận tâm giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cố gắng, nhƣng chắc chắn bản luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đƣợc sự thông cảm của các thầy cô giáo và anh chị làm nghề
Xin chân thành cám ơn!
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: 11
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 112
7 Cấu trúc của luận văn 113
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRÊN BÁO CHÍ 13
1.1 Những khái niệm cơ bản 13
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề chủ quyền biển, đảo và
nhiệm vụ của báo chí 21
1.3 Thế mạnh và hạn chế của báo điện tử trong tuyên truyền chủ quyền biển, đảo 28
1.4 Giới thiệu về 2 tờ báo điện tử Tuổi trẻ online và Vietnamnet………….31
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRÊN 2 TỜ BÁO ĐIỆN TỬ VIETNAMNET VÀ TUỔI TRẺ ONLINE TỪ 2012-2013……… 36
2.1 Khảo sát tần số, quy mô, các bài viết về chủ quyền biển, đảo trên 2 tờ báo điện tử Tuổi trẻ online và Vietnamnet 36
2.2 Nội dung thông tin về vấn đề chủ quyền biển, đảo của Vietnamnet và Tuổi trẻ online các năm2012-2013 39
2.3 Hình thức thông tin về chủ quyền biển, đảo trên báo Vietnamnet và Tuổi trẻonline các năm 2012-2013 76
2.4 Sự tương tác của các báo điện tử Vietnamnet và Tuổi trẻ online trong việc
Trang 6thông tin về chủ quyền biển, đảo 81
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ ƯU, NHƯỢC ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN CỦA BÁO VIETNAMNET VÀ TUỔI TRẺ ONLINE VỀ VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN BIỂN,ĐẢO 92
3.1 Đánh giá ưu, nhược điểm của 2 tờ báo Vietnamnet và Tuổi trẻ online 92
3.2.Các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về chủ quyền biển, đảo .107
KẾT LUẬN 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC 130
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biển Đông là vùng biển có một trong số 10 tuyến đường hàng hải lớn nhất trên thế giới đi qua Giao thông nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới (sau Địa Trung Hải) Hàng ngày có khoảng 200 - 300 tàu từ 5.000 tấn trở lên qua lại (không kể tàu dưới 5.000 tấn) chiếm 1/4 lưu lượng tàu hoạt động trên biển của thế giới Khu vực Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, trong đó eo biển Malacca là eo biển nhộn nhịp thứ hai trên thế giới (sau
eo biển Hormuz) Biển Đôngrất quan trọng đối với nhiều nước trong khu vực xét về vị trí địa - chiến lược, an ninh, giao thương hàng hải và kinh tế Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dầu dự trữ được kiểm chứng ở Biển Đônglà 7 tỷ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày
Việt Nam là quốc gia ven Biển Đông, có bờ biển dài khoảng 3260 km, hàng nghìn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo xa bờ, vùng đặc quyền kinh
tế và thềm lục địa rộng lớn Biển Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú
và đa dạng với trữ lượng, quy mô thuộc loại khá, cho phép chúng ta phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế biển quan trọng như đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy hải sản; cảng biển, vận tải biển, sửa chữa và đóng tàu; khai thác tài nguyên khoáng sản; du lịch; thông tin liên lạc Theo ước tính hiện nay, tỷ trọng các ngành kinh tế biển và liên quan đến biển chiếm 48% GDP cả nước
Biển Đông được ví như mặt tiền, sân trước, cửa ngõ quốc gia của Việt Nam; biển, đảo, thềm lục địa và đất liền hình thành phên dậu, chiến lũy nhiều lớp, nhiều tầng, bố trí thành tuyến phòng thủ liên hoàn bảo vệ Tổ quốc Do đặc điểm lãnh thổ đất liền nước ta có hình chữ S, trải dài ven biển từ Bắc vào Nam, chiều ngang hẹp (nơi rộng nhất khoảng 600 km, nơi hẹp nhất khoảng 50 km), nên chiều sâu đất nước bị hạn chế Hầu hết các trung tâm chính trị, kinh
tế xã hội của ta đều nằm trong phạm vi cách bờ biển không lớn, nên rất dễ bị
địch tấn công từ hướng biển
Trang 8Với những lợi thế sẵn có của mình, Biển Đông đang trở thành mục tiêu trong chiến lược “hướng ra biển” của nhiều quốc gia Trên Biển Đông, vùng biển nước ta tiếp giáp với vùng biển 7 nước trong khu vực là: Trung Quốc (phía Bắc), Campuchia và Thái Lan (Tây Nam), Philippin, Malaixia, Inđônêxia, Brunây (phía Đông, Đông Nam và Nam) Từ nhiều năm nay, nhất
là trong thời gian gần đây, trên Biển Đông đang tồn tại những tranh chấp biển, đảo rất quyết liệt và phức tạp giữa các nước, đặc biệt là những căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc, tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định, tác động đến quốc phòng và an ninh nước ta,
Chủ quyền biển, đảo đang là vấn đề thời sự nóng bỏng của đất nước ta
Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng không chỉ đối với lịch sử dân tộc, mà còn là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc và đất nước ta phát triển bền vững Đó là ý chí quyết tâm sắt đá không
gì lay chuyển nổi của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Quan điểm tư tưởng cơ bản về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng, tập trung chủ yếu ở Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Báo chí là một trong những phương tiện quan trọng của Đảng thực hiện chức năng tuyên truyền vận động, giáo dục chính trị-tư tưởng cho quần chúng Thời gian qua, báo chí nước ta đã tham gia tích cực vào việc tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo Bên cạnh những kết quả đạt được, việc tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo trên báo chí Việt Nam thời gian qua cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định Có những tờ báo đưa tin chưa qua kiểm chứng, làm nóng vấn đề một cách không cần thiết (như trong trường hợp tàu Bình Minh bị cắt cáp ngày 30-11-2012) Công tác truyền thông về biển, đảo nhìn chung vẫn chưa chủ động, thiếu tính hệ thống, đồng bộ, nhất quán và chưa thật sự đáp ứng với yêu cầu đông đảo của người dân Nhiều đối tượng
Trang 9dân cư ven biển, hải đảo vẫn chưa tiếp cận được thường xuyên với các nguồn thông tin chính thống Các thông tin về địa phương, thế mạnh của biển, đảo của những vùng biển xa nhưng giàu tiềm năng vẫn chưa được khai thác, ít được đề cập tới Khá nhiều tài liệu sử, tài liệu từ các kho tư liệu nước ngoài, các cá nhân và tổ chức về tiềm năng, giá trị lịch sử, văn hóa của biển, đảo Việt Nam còn chưa được thu thập, tổng hợp một cách có hệ thống; chưa giới thiệu rộng rãi đến đông đảo công chúng trong nước và nước ngoài
Do tầm quan trọng của việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo và vai trò mũi nhọn của báo chí trong cuộc đấu tranh này, thực tế đòi hỏi phải có một công trình nghiên cứu, tổng kết lý luận về vấn đề trên, nhằm góp phần định hướng cho hoạt động tuyên truyền biển, đảo trên báo chí Trong bối cảnh đó, tôi quyết định chọn đề tài “Thông tin về vấn đề chủ quyền biển đảo trên Tuổi trẻ online và Vietnamnet” (khảo sát từ năm 2012 đến 2013) Tôi chọn 2 tờ báo điện tử Tuổi trẻ online và Vietnamnet vì báo điện tử có lợi thế đưa tin rất nhanh nhạy các diễn biến liên quan đến chủ quyền biển đảo, do đó được nhiều độc giả ưa chuộng
2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề chủ quyền biển đảo và thông tin trên báo chí về chủ quyền biển, đảo là một đề tài quan trọng và hấp dẫn Hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như:
- Sách “Dấu ấn Việt Nam trên biển Đông” của Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng Ban biên giới Chính phủ, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông, 2012.Cuốn sách nói về quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa; Thực trạng và giải pháp cho tranh chấp Biển Đông:
- Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của tác giả: Lưu Văn Lợi, Nhà xuất bản: Công an Nhân dân, năm 1995 Cuốn
Trang 10sách này phân tích lập trường của cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc để đánh giá khả năng, phương hướng giải quyết vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa
- Sách “Về chủ quyền lịch sử, pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của tác giả Nguyễn Bá Diến, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội 2012, trong đó tác giả chứng minh trên cơ sở lịch sử và luật pháp quốc tế chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
- Luận văn “Vấn đề chủ quyền biển, đảo Việt Nam qua một số báo điện tử” của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh, khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013 Luận văn phản ánh hoạt động truyền thông đối ngoại bằng tiếng Anh của báo chí về chủ quyền biển, những ưu điểm và hạn chế, một số giải pháp nâng cao chất lượng
- Khóa luận tốt nghiệp “Thông tin về vấn đề biển đảo trên báo in (Khảo sát trên báo Tuổi Trẻ và Tiền phong từ tháng 1/2012-12/2012)”, Phạm Thị Thùy An, khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013
- Khóa luận tốt nghiệp “Vai trò của báo chí trong thông tin tuyên truyền
về chủ quyền biển đảo”, Nguyễn Thị Châm, khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012
- Khóa luận tốt nghiệp, “Báo chí với vấn đề biển đảo và duyên hải Việt Nam, (khảo sát trên báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên từ tháng 6-tháng 9/2012)”, Nguyễn Thị Dung, khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012
- Khóa luận tốt nghiệp “ Thông tin bảo vệ chủ quyền quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa trên báo chí (khảo sát trên báo Quân đội nhân dân và Tuổi Trẻ thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3-2009 đến tháng 3-2010”, Tạ Thị Thanh Nhàn, 2011, khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011
Trang 11- Luận văn thạc sĩ, “Nâng cao chất lượng chương trình về biển đảo trên sóng phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam” ( Qua thực tế các chương trình trên hệ thời sự chính trị tổng hợp VOV1), Nguyễn Thị Hoà, khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011
- Khóa luận tốt nghiệp “Báo chí nước ngoài viết về Biển Đông(khảo sát trên BBC, Reuters, Xinhuanet từ 1/2012 đến 1/2013)”, Đoàn Biên Thùy, khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013
- Khóa luận tốt nghiệp “Báo chí nước ngoài viết về biển đảo Việt Nam”, Lê Thị Thanh Thủy, khoa Báo chí và Truyền thông, Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013
- Luận văn thạc sĩ, “Thông tin về chủ quyền biển đảo trên kênh VTV
Đà Nẵng” (khảo sát từ 01/2013 đến 06/2013), Văn Công Nghĩa, khoa Báo chí
và Truyền thông, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2014
Luận văn của học viên kế thừa các kết quả nghiên cứu của những công trình trên về vấn đề thông tin trên báo chí vấn đề chủ quyền biển đảo của Việt Nam, đồng thời đi sâu nghiên cứu các thông tin tuyên truyền chủ quyền biển, đảo tiếng Việt trên các báo điện tử Tuổi trẻ online và Vietnamnetvào các năm 2012-2013
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc khảo sát và đánh giá việc thông tin về vấn đề chủ quyền biển, đảo trên Vietnamnet và Tuổi trẻ online, luận văn đánh giá thành công, hạn chế của 2 tờ báo điện tử đối với việc thông tin tuyên truyền về chủ quyền biển đảo, từ đó nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về chủ đề này
Trang 12Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn xác định các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ cơ sở lý thuyết của việc thông tin trên báo chí về vấn đề chủ quyền biển đảo
- Phân tích, đánh giá thực trạng thông tin trên Vietnamnet và Tuổi trẻ online về vấn đề chủ quyền biển, đảo ở Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng thông tin vấn đề chủ quyền biển, đảo trên Vietnamnet và Tuổi trẻ onlinevà báo chí Việt Nam nói chung trong thời gian tới
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu
Thông tin về vấn đề chủ quyền biển, đảo trên Vietnamnet và Tuổi trẻ online
Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Các phương tiện báo chí Việt Nam rất đa dạng Do
điều kiện thời gian và khả năng có hạn, luận văn tập trung khảo sát các báo Tuổi trẻ online, báo Vietnamnet là các kênh truyền thông có đông đảo độc giả, đưa tin khá rộng rãi về vấn đề chủ quyền biển, đảo
Về mặt thời gian: Luận văn tập trung vào giai đoạn 2012-2013
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài dựa trên cơ sở nhận thức luận những vấn đề lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí, những quan điểm của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí, vấn
đề chủ quyền biển đảo
Để thực hiện đề tài này, học viên áp dụng các phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp lịch sử: Hệ thống hóa để tìm hiểu vấn đề chủ quyền biển, đảoViệt Nam từ góc độ lịch sử
- Phương pháp thống kê: Thống kê các tin bài về chủ đề biển, đảo dưới
Trang 13các khía cạnh khác nhau trên báo chí, như số lượng tin bài về các diễn biến trên Biển Đông, về luật pháp quốc tế giải quyết tranh chấp chủ quyền biển đảo, về dư luận quốc tế đối với tranh chấp trên Biển Đông
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu tin bài về vấn đề biển, đảocủa các tờ báo
- Phương pháp điều tra: Học viên phát 300 phiếu điều tra tại Học viện Khoa học Quân sự và Viện Quan hệ quốc tế về quốc phòng để tham khảo ý kiến của một bộ phận công chúng về thông tin chủ quyền biển đảo trên các báo Vietnamnet và Tuổi trẻ online
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: Tổng hợp các dữ liệu thu thập được, phân tích rút ra kết luận
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa lý luận
Luận văn xây dựng khung lý luận của việc thông tin về vấn đề chủ quyền biển, đảotrên báo chí, đưa ra những đánh giá về cách đưa tin về vấn đề chủ quyền biển, đảotrên báo chí Việt Nam (về mặt nội dung và hình thức), qua đó đóng góp về mặt lý luận cho việc tham gia của báo chí trong việc đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, khẳng định rõ báo chí là loại hình thông tin chính trị-xã hội có chức năng giáo dục chính trị tư tưởng, cũng như tính dân tộc, nhân dân của báo chí
Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn chỉ rõ những vấn đề đang đặt ra trong công tác thông tin về vấn đề chủ quyền biển, đảo của một số cơ quan báo chí, từ đó kiến nghị các giải pháp nâng cao chất lượng, phát huy hơn nữa đóng góp của báo chí trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc Đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị đối với những người quan tâm đến vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông
Trang 147 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương I: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động thông tin về chủ quyền biển, đảo trên báo chí
Chương II: Khảo sát vấn đề chủ quyền biển đảo trên 2 tờ báo điện tử Tuổi trẻ online và Vietnamnet từ 2012-2013
Chương III: Đánh giá ưu, nhược điểm và một số giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin của báo điện tử Vietnamnet và Tuổi trẻ online về vấn đề chủ quyền biển, đảo
Trang 15CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN VỀ VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN
BIỂN, ĐẢO TRÊN BÁO CHÍ
1.1 Những khái niệm cơ bản
Chủ quyền quốc gia gồm 2 nội dung: quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong quan hệ quốc
tế1
Theo Công ước LHQ vê luật biển năm 1982, chủ quyền là quyền làm chủ tuyệt đối của quốc gia độc lập đối với lãnh thổ của mình Chủ quyền của quốc gia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được thực hiện trong phạm vi nội thủyvà lãnh hải của quốc gia đó
- Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên
cơ sở chủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, cũng nhưđối với những hoạt động nhằm thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó
vì mục đích kinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió
- Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển trong việc đưa ra các quyết định, quy phạm và giám sát việc thực hiện chúng, như: cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển; bảo vệ
Trang 16và gìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốc gia đó
Quyền chủ quyền có nguồn gốc từ chủ quyền lãnh thổ trong khi quyền tài phán là hệ quả của quyền chủ quyền, có tác dụng hỗ trợ, tạo ra môi trường
để thực hiện quyền chủ quyền được tốt hơn
Bên cạnh đó, trong khi chủ quyền và quyền chủ quyền chỉ được thực hiện trên vùng lãnh thổ mà quốc gia có quyền thì quyền tài phán có không gian mở rộng hơn, tới những nơi mà quốc gia đókhông có chủ quyền (ví dụ quyền tài phán áp dụng trên tàu thuyền có treo cờ của một quốc gia nhất định đang hoạt động trong vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia khác
Theo Luật biển Việt Nam 2012, đảo là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước Quần đảo là một tập hợp các đảo, bao gồm cả bộ phận của các đảo, vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan chặt chẽ với nhau
Báo chí: là bao gồm tất cả các tổ chức thông tin thuộc những loại hình khác nhau (xuất bản, radio, vô tuyến, truyền hình ) và ở các cấp độ khác nhau từ trung ương đến địa phương với ý nghĩa là tất cả các phương tiện thông tin đại chúng
Thông tin: Theo Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách
“Bùng nổ truyền thông”, khái niệm thông tin có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái (frome), thứ hai là, nói về
sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức
Theo quan điểm của triết học, thông tin là một hiện tượng vốn có của vật chất, là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất Nội dung của thông tin chính là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự vật hiện
Trang 17tượng được bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với sự
vật khác Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh Những dấu ấn để lại
chính là những thông tin của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chất khác Phản ánh của vật chất là phản ánh thông tin, không có thông tin chung chung mà thông tin là thông tin về sự vật này đối với sự vật khác
Theo Từ điển tiếng Việt thì thông tin với nghĩa là động từ là truyền tin
cho nhau để biết; và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi (ví dụ bài báo có lượng thông tin cao)
Như vậy, đánh giá một cách tổng quát, thông tin được hiểu theo hai
nghĩa: Thứ nhất, đó chính là nội dung thông tin; Thứ hai, đó là phương tiện
thông báo, báo tin
Cách hiểu này phù hợp với khái niệm thông tin nêu trong phần mở đầu
“Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” ban hành kèm theo Quyết
định số 219/2005/QĐ – TTg ngày 9/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ:
“Thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công
cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu
để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội”
Thông tin báo chí: Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hoá nhân
loại, báo chí là một hiện tượng xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Thông tin là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất Theo các nhà nghiên cứu, lần đầu tiên thông tin được con người chú ý về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết
báo chí vào những năm 20 – 30 của thế kỷ XX Và từ đây, “Thông tin chính
là những cái mới khác với những điều đã biết”
Thông tin là chức năng sơ khởi của báo chí, theo nghĩa sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sự
Trang 18kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội
Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cách riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được
Như vậy, thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện
thực cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người
Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới
công chúng
Trong hoạt động báo chí, thông tin là mục đích chủ yếu Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng Căn cứ việc phân loại theo phương thức thể hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình: Thông tin bằng chủ yếu chữ viết (báo in); thông tin chủ yếu bằng tiếng nói (phát thanh); thông tin chủ yếu bằng hình ảnh (truyền hình, báo ảnh); thông tin trên mạng internet (đa phương tiện)
Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều dạng khác nhau: có khi chỉ là cái tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn;
có khi là một chương trình phát thanh, truyền hình Ngay cả các tiêu đề, vị trí của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo… đều chứa đựng thông tin
Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và đánh giá cao vai trò của thông tin Đây không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin, cung cấp tri thức,
Trang 19là một trong những công cụ giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành đất nước mà còn là nơi để phản hồi những thông tin từ nhân dân đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng thực hiện dân chủ hoá trong đời sống xã hội Thông tin thực sự là công cụ cung cấp tri thức, dự báo sự phát triển đồng thời cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển Đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao nên nhu cầu thông tin của nhân dân đòi hỏi ngày càng cao hơn
Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin báo chí
Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật Chất lượng theo quan điểm của Triết học Mác – Lênin, là hai mặt có mối quan hệ biện chứng của mỗi sự vật, hiện tượng Chất là tính quy định vốn có của các sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ những thuộc tính, những yếu tố cấu thành sự vật, nói lên sự vật đó là gì, phân biệt nó với các sự vật và hiện tượng khác Lượng là tính quy định của sự vật và hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển của nó, biểu thị con số các thuộc tính, các yếu
tố cấu thành nó Quá trình thay đổi về lượng tạo điều kiện cho chất đổi và ngược lại, khi chất mới ra đời, nó lại tạo ra một lượng mới phù hợp với nó Quy luật những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật Quy luật này nói lên cách thức của sự vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng
Chất lượng thông tin báo chí bao gồm 2 mặt: chất lượng nội dung thông tin và chất lượng hình thức, phương thức thông tin Bên cạnh đó, trong hoạt động báo chí, nhận thức về chất lượng thông tin song song với nhận thức về chức năng và đối tượng phản ánh của báo chí Muốn có nhận thức đúng đắn
về thông tin, cần xác định được mục đích hoạt động của báo chí, đồng thời phải nêu lên định hướng có tính nguyên tắc cho những hoạt động thực tiễn của một nền báo chí Sự định hướng rõ ràng sẽ trang bị cho nhà báo phương pháp thông tin và biết cách vận dụng thông tin có hiệu quả để thực hiện chức
Trang 20năng của báo chí Một hướng quan trọng trong cách tiếp cận thông tin báo chí
là mỗi chương trình, mỗi tác phẩm phải được xem xét kỹ lưỡng trong hệ thống những mối quan hệ giữa báo chí và công chúng Tác phẩm báo chí là điểm trung gian trong mối quan hệ: Nhà báo – Tác phẩm – Công chúng Tác phẩm báo chí khi được đăng tải, phát sóng, mới chỉ dừng lại ở thông tin tiềm năng, vì thông tin đó chưa chắc đã được công chúng tiếp nhận Người làm báo phải tìm mọi cách biến thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực Tính chất thực tiễn của thông tin là tiêu chuẩn để đánh giá giá trị của thông tin cao hay thấp, tức là có mang đến cho công chúng những thông tin phù hợp với nhu cầu của họ không và có khả năng chuyển thông tin tiềm năng thành thông tin hiện thực không
Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng
thông tin, đó là tính độc đáo, tính đại chúng và tính hợp thời (đúng lúc)
- Tính độc đáo của thông tin, là cái mới mà công chúng chưa biết
Nhưng cái mới không phải là cái duy nhất thể hiện tính độc đáo Cùng với sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, có thể tái hiện thông tin cũ đã bị lãng quên, giúp cho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn sự kiện mới Tuy nhiên, những thông tin được nhắc lại sẽ vô bổ, thậm chí có hại khi cái mới, cái độc đáo bị chìm đi trong một loạt cái cũ; khi cái cũ không đóng vai trò bổ sung mà lại cản trở việc nhận thức cái mới
- Tính đại chúng (dễ hiểu) giúp cho công chúng nhận thức nội dung tác
phẩm tương ứng với ý đồ tác giả, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (chữ viết, lời nói, hình ảnh…) và cách viết, cách thể hiện… phải được công chúng nhận thức đầy đủ Nếu không thực hiện được nguyên tắc này sẽ dẫn đến tình trạng
là công chúng không hiểu được tác phẩm
- Tính hợp thời (đúng lúc) đòi hỏi tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc,
đáp ứng được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm
đó thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn, tạo sự hứng thú, hấp dẫn công chúng Lượng
Trang 21thông tin còn phụ thuộc vào tính thời điểm của nó Trong thời đại ngày nay, lượng thông tin phụ thuộc một cách quyết định vào tính kịp thời, đúng lúc, nhanh nhạy Báo chí làm được những điều trên sẽ làm tăng giá trị của thông tin, nếu thông tin chậm, hiệu quả sẽ ngược lại và lượng của nó sẽ bằng không
Tiêu chí đánh giá tác phẩm báo chí chất lượng cao đã được các cơ quan
quản lý nhà nước quy định cụ thể, đó là: “Những tác phẩm mang lại hiệu quả
thiết thực cho toàn xã hội hoặc một vùng miền, địa phương; có nhiều tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày; có nội dung phù hợp, hấp dẫn người đọc, người nghe, người xem; phù hợp với quan điểm chỉ đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”
Cơ sở lý luận báo chí truyền thông cũng chỉ ra rằng, tác phẩm báo chí
là một chỉnh thể, bao gồm hai yếu tố nội dung và hình thức Hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, chi phối lẫn nhau tạo nên chất lượng tác phẩm báo chí Tác phẩm báo chí còn được hiểu rộng hơn, đó là cả trang báo, số báo, tờ báo, chuyên mục, chương trình phát thanh, truyền hình… Do
đó tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin báo chí phải coi trọng cả hai yếu tố nội dung và hình thức thông tin
Hoạt động báo chí là hoạt động có ý thức và mục đích của con người, bởi vậy yêu cầu về tính hiệu quả báo chí phải được đặt lên hàng đầu Hiệu quả báo chí là việc vận dụng các quy luật, các nguyên tắc, hình thức, phương thức hoạt động báo chí giúp cho nó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đạt mục đích đặt ra Để báo chí hoạt động hiệu quả, trước hết nội dung thông tin phải phong phú, mang lại cho công chúng một lượng thông tin mới, phản ánh đúng, kịp thời, đi vào những vấn đề thiết thực nhất mà công chúng đang quan tâm hoặc đang thiếu thông tin, phải thỏa mãn nhu cầu mỹ cảm, tác động sâu sắc đến tình cảm và suy nghĩ của đối tượng Về hình thức, thông tin báo chí phải được chuyển tải bằng các hình thức tác phẩm và phương pháp
Trang 22thể hiện thuyết phục, dễ hiểu Nó không chỉ làm cho công chúng thích thú mà còn khơi gợi được sự suy nghĩ theo hướng đúng và thúc đẩy hành động tích cực của họ2…
Tuyên truyền: có nhiều định nghĩa về tuyên truyền Theo Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm 2007, tuyên truyền là hành động phổ biến, giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo
Theo Bách khoa toàn thư wikipedia, tuyên truyền là hành động truyền
bá thông tin với mục đích đưa đẩy thái độ, suy nghĩ, tâm lý và ý kiến của quần chúng theo chiều hướng có lợi cho một phong trào hay tập đoàn
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy, nếu so sánh giữa thông tin và tuyên truyền, thì tuyên truyền mang tính mục đích cao hơn, hướng tới việc tác động đến độc giả theo một mục tiêu nhất định
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề chủ quyền biển đảo và nhiệm vụ của báo chí
1.2.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết 03 của Bộ Chính trị (khóa VI) tháng 5/1993 đã chỉ rõ “tiến
ra biển trở thành một hướng phát triển của loài người” và “trở thành một nước mạnh về biển là một mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu về điều kiện khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam”
Chỉ thị số 20 của Bộ Chính trị tháng 9/1997 nhấn mạnh: “Vùng biển, hải đảo và ven biển là địa bàn chiến lược có vị trí quyết định đối với sự phát triển của đất nước, là tiềm năng và thế mạnh quan trọng cho sự nghiệp CNH-HĐH”
Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX), Nghị quyết đại hội X và mới đây
2 Dương Văn Thắng, 2014 “Nâng cao chất lượng thông tin báo chí trong tình hình hiện nay”, http://daotao.vtv.vn/nang-cao-chat-luong-thong-tin-bao-chi-trong-tinh-hinh-hien- nay/.
Trang 23là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) của Đảng về “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020” đã xác định mục tiêu tổng quát: “Đến năm 2020, phấn đấu nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh”
Để tiếp tục duy trì bảo vệ chủ quyền vùng biển Việt Nam trên Biển Đôngvà hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, Nhà nước ta đã có nhiều văn bản pháp lý để tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình Các văn kiện đều phù hợp với hệ thống luật quốc tế và công ước của Liên Hợp quốc về luật biển năm 1982 mà Việt Nam là thành viên, cụ thể:
Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ngày 12/5/1977 lãnh hải, vùng biển tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (đây là văn bản pháp quy đầu tiên và là cơ sở nền tảng cho các văn bản pháp quy sau này)
Theo Điều 5, Tuyên bố ngày 12/5/1977, các đảo và quần đảo như Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải Việt Nam đều có vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng Như vậy, nước CHXHCN Việt Nam thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với những khu vực này như các vùng tương ứng nằm trong lãnh hải vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam
Tuyên bố của nước CHXHCN Việt Nam ngày 12/5/1977 về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam nêu rõ: “Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam sẽ cùng các nước có liên quan thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp quốc tế
và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề vế các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên”
Trang 24Tuyên bố của Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam ngày 12/11/1982,
về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam và mới đây là
“Luật biển quốc gia” được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực từ ngày 01/01/2004
Nghị quyết của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa IX, tại Kỳ họp thứ 5, ngày 23/6/1994 về việc phê chuẩn “Công ước của Liên hợp quốc
về Luật biển năm 1982” (gọi tắt là Luật biển năm 1982) và có hiệu lực từ ngày 16/22/1994 khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trên cơ sở đó, trong thời gian tới, để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chúng ta cần thực hiện nhất quán các giải pháp sau:
- Một là, tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí quyết tâm cao
nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo của Tổ
quốc
Từ bao đời nay, tiếp nối liên tục qua rất nhiều thế hệ, ông cha ta đã đổ biết bao công sức và cả máu xương để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển và hải đảo thiêng liêng của Tổ quốc Ngày nay, chúng ta cần vận dụng sáng tạo những bài học lịch sử kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao chính nghĩa, lẽ phải, phát huy nội lực đi đôi với tranh thủ sự đồng tình của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và các hoạt động kinh tế biển Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế Chúng ta kiên trì chủ trương giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Luật Biển năm 1982 của Liên hợp quốc; đồng thời phản đối mạnh mẽ và kiên quyết đấu tranh với các hoạt động vi phạm chủ quyền và lợi ích chính đáng trên biển của
Trang 25chúng ta
Trong khi kiên trì phấn đấu tìm kiếm một giải pháp cơ bản và lâu dài, Việt Nam yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình ở Biển Đông, tuân thủ cam kết giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường các nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an toàn biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau nghiêm chỉnh thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông(DOC) ký năm 2002 giữa một bên là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và một bên là Trung Quốc, hướng tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị và phát triển, vì lợi ích của tất cả các nước trong khu vực, vì an ninh chung của khu vực và trên toàn thế giới
Giữ vững chủ quyền lãnh thổ và giữ vững hoà bình, ổn định ở Biển Đông là những vấn đề mang tính toàn cục Việc xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông cần đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và trong chính sách đối ngoại hoà bình, độc lập tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ quốc tế; không để các thế lực phản động tìm cách lợi dụng, công kích, chống phá sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc, chia rẽ quan hệ quốc tế giữa nước ta và các nước có liên quan
- Hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách và luật pháp về
lĩnh vực biển, đảo, quản lý tài nguyên và môi trường biển, hình thành cơ sở
pháp lý đồng bộ và tổ chức thực hiện có hiệu quả để quản lý chặt chẽ, giữ gìn
và khai thác có hiệu quả các nguồn lợi từ biển, đảocho sự nghiệp phát triển của đất nước, vì lợi ích của nhân dân
- Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm
quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; kết hợp giữa
Trang 26phát triển các vùng biển, ven biển và hải đảo với phát triển các vùng đồng bằng và đô thị theo định hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Có chính sách thích hợp để hình thành các doanh nghiệp mạnh đồng thời huy động các thành phần kinh tế trong nước và nguồn lực quốc tế để khai thác có hiệu quả các tiềm năng từ biển và hải đảo; đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước, tăng nhanh tỷ trọng của kinh tế biển vào tăng trưởng của cả nền kinh tế
Tăng cường và thực thi có hiệu quả các biện pháp đồng bộ để bảo vệ ngư dân, các lực lượng làm kinh tế và các hoạt động hợp pháp trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc
Trong phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế biển nói riêng phải gắn với bảo vệ môi trường, phải lấy phòng ngừa ô nhiễm làm phương châm hành động, khắc phục và loại bỏ tư tưởng chạy theo lợi ích trước mắt
mà coi nhẹ việc duy trì, bảo vệ và tái tạo môi trường; phải huy động tối đa và
đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường, đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên biển và hải đảo
- Bốn là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học công nghệ về quản lý
và phát triển kinh tế biển nhằm khai thác, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, giảm thiểu tối đa sự suy thoái tài nguyên biển và hải đảo, đa dạng sinh học biển và các hệ sinh thái biển
- Năm là, tiếp tục mở rộng và tăng cường hợp tác hữu nghị với các
quốc gia trong khu vực và trên thế giới cũng như với các tổ chức quốc tế trong các vấn đề có liên quan đến biển, đảo trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, lợi ích quốc gia và pháp luật quốc tế, bảo đảm an ninh và an toàn hàng hải quốc tế; cùng nhau xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển
Trang 27- Sáu là, các Bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội và chính quyền
các địa phương cần tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục và nâng cao nhận thức về biển, đảocủa Tổ quốc, về ý thức bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; biến nhận thức thành ý thức tự giác và hành động cụ thể, thiết thực ở mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp và mỗi người Việt Nam chúng ta
1.2.2 Vai trò của báo chí trong việc thông tin về chủ quyền biển, đảo
Báo chí là một trong những phương tiện quan trọng của Đảng thực hiện chức năng giáo dục chính trị-tư tưởng cho quần chúng Hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng của báo chí dựa trên sự tác động có tính thuyết phục bằng việc thông tin những sự kiện, hiện tượng, quá trình của đời sống xã hội một cách trung thực và khách quan
Thể hiện ý thức dân tộc qua cả nội dung, ngôn ngữ và hình thức trình bày không chỉ là ý thức mà còn là yêu cầu bắt buộc đối với các cơ quan báo chí và những người làm báo Một nền báo chí thấm nhuần ý thức dân tộc khi
nó trực tiếp tham gia phản ánh và giải quyết toàn bộ những vấn đề hệ trọng, bức xúc nhất của dân tộc Ra đời trong bão táp của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, ngót một thế kỷ qua, chủ đề lớn, xuyên suốt của báo chí cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc, vì độc lập tự do, vì CNXH Báo chí cách mạng Việt Nam đã có những đóng góp lớn lao trong sự nghiệp cách mạng chung của đất nước, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận và đánh giá cao Trong giai đoạn hiện nay, báo chí đóng vai trò tích cực trong việc tuyên truyền, phục vụ công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN Những biến động, tranh chấp phức tạp trong đời sống chính trị khu vực và quốc tế thời gian gần đây đã khiến vấn đề biển, đảo nói chung và vấn đề tuyên truyền
về chủ quyền biển, đảonói riêng trở nên “nóng” hơn bao giờ hết
Nhận thức được trách nhiệm nghề nghiệp nặng nề nhưng cũng rất đỗi vinh dự, lớn lao ấy, từ nhiều năm qua, nhiều cơ quan báo chí đã tích cực
Trang 28tuyên truyền mọi mặt về chủ quyền biển, đảoTổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí chiến lược của biển, đảo nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Những hoạt động trên đã góp phần to lớn vào việc nâng cao nhận thức của người dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế đối với chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa cũng như các vũng lãnh hải trên Biển Đông
Công tác tuyên truyền đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.Các nước tranh chấp trên Biển Đông, đặc biệt
là Trung Quốc, đã và đang đẩy mạnh các nỗ lực theo hướng này để thu hút sự ủng hộ của dự luận trong nước và quốc tế, tạo lợi thế trong đàm phán giải quyết tranh chấp
Công tác tuyên truyền biển, đảo vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, lâu dài; tuyên truyền về biển, đảo đòi hỏi phải xây dựng lực lượng rộng rãi, trong đó các cơ quan, báo chí, truyền thông là lực lượng nòng cốt, lấy chủ quyền biển, đảo làm mục tiêu tuyên truyền và tập hợp rộng rãi lực lượng cách mạng, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc Báo chí cần tập trung tuyên truyền các nội dung sau:
- Nội dung 1:các thông tin cơ bản về biển, đảo Việt Nam, truyền thống
khai phá, bảo vệ biển, đảo của cha ông ta
- Nội dung 2: Các diễn biến liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt
Nam
- Nội dung 3: Quan điểm, chủ trương đường lối của Việt Nam trong
vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo, phản bác các quan điểm hành vi sai trái
- Nội dung 4: Hoạt động phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Việt Nam hiện nay
- Nội dung 5: Dư luận quốc tế về vấn đề liên quan đến chủ quyền biển,
đảo Việt Nam
Trang 29- Nội dung 6: Luật pháp quốc tế và kinh nghiệm giải quyết tranh chấp
biển, đảo trên thế giới
1.3 Thế mạnh và hạn chế của báo điện tử trong tuyên truyền chủ quyền biển đảo
1.3.1 Khái niệm báo điện tử
Cùng với sự xuất hiện của cơn bão thông tin, một loại hình báo chí mới
ra đời, mang tính chất bước ngoặt, và có ý nghĩa to lớn đối với nhân loại Đó
chính là sự ra đời của báo điện tử Có thể thấy đây là loại hình báo chí ra đời
muộn nhất nhưng lại có tốc độ phát triển đáng kinh ngạc, thay đổi hoàn toàn
bộ mặt của nền báo chí thế giới, cũng như góp phần vào việc nâng cao và
hoàn thiện nền báo chí của mỗi quốc gia Trước hết chúng ta có thể hiểu, báo
điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên hệ thống máy tính”.3
1.3.2 Thế mạnh của báo điện tử trong đưa tin về chủ quyền biển đảo
- Cho phép cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên và liên tục
Nhờ vào sự phát triển của công nghệ, máy vi tính và đặc biệt là vai trò của mạng toàn cầu Internet, các nhà báo trực tuyến có thể dễ dàng cập nhật thông tin, nhanh chóng viết bài và gửi về toà soạn thông qua hệ thống thư điện tử
Khác với báo giấy hoặc các loại hình báo chí khác, với báo điện tử, nhà báo có thể đăng tải thêm tin tức bất cứ lúc nào mà không phải chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như ở các loại hình báo chí khác Chính vì thế báo điện tử còn có một đặc trưng là tính phi định kì
Đặc điểm này giúp cho báo điện tử dễ dàng vượt trội hơn so với các loại hình báo chí khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời
sự và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả khi đưa tin về chủ quyền biển đảo Việt Nam là vấn đề thường có các diễn biến mới
3
Luật báo chí năm 1999
Trang 30- Tính tương tác là một trong những đặc trưng quan trọng của báo chí Khi mà mọi điều kiện của con người được nâng cao, nhu cầu được đáp ứng về thông tin, cũng như sự tương tác với báo chí của độc giả càng được coi trọng
Ở bất kì loại hình báo chí nào, tính chất này cũng được những người làm báo lưu tâm Đối với báo điện tử, nhờ có những đặc trưng nổi trội về công nghệ
mà tính tương tác cao hơn so với các loại hình còn lại Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với toà soạn, ở báo mạng điện tử, chúng ta còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật trong tác phẩm báo chí
Chủ quyền biển đảo là vấn đề thiêng liêng đối với người dân Việt Nam
Do đó, độc giả có nhu cầu tương tác rất cao với tòa soạn để bày tỏ cảm xúc, ý kiến trong các tin bài liên quan đến chủ đề này Ngay sau những tác phẩm báo chí đăng trên báo điện tử về chủ quyền biển đảo thường có mục phản hồi, diễn đàn… tiện cho độc giả dễ dàng nhanh chóng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy
- Báo điện tử là một loại hình báo chí tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (multimedia) Trên một tờ báo điện tử, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo điện tử có thể tích hợp cả báo viết, báo phát thanh và báo hình
Khi đọc báo điện tử độc giả có thể chủ động xem những tác phẩm mình quan tâm ở bất kì trang nào giống như báo in Đồng thời cũng được trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hề bị phụ thuộc vào các yếu tố thời gian, không gian
Trong các tin bài về chủ quyền biển đảo trên các báo điện tử, độc giả có thể đọc thông tin, xem hình ảnh, nghe các âm thanh liên quan Sự tích hợp này giúp cho thông tin về chủ quyền biển đảo trên các báo điện tử có được những yếu tố hấp dẫn của các loại hình báo chí khác, vì thế mà trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn
Trang 31- Báo điện tử có khả năng liên kết vô cùng lớn nhờ vào các siêu liên kết
(hyperlink), các từ khoá, web link, hồ sơ… Từ một bài báo, độc giả có thế dễ dàng tìm kiếm những thông tin liên quan thông qua các liên kết để tìm hiều sâu hơn về vấn đề quan tâm Hoặc từ một trang báo, có thể dễ dàng đi đến các web liên kết khác chỉ với một thao tác click chuột Khả năng liên kết của báo mạng điện tử thật sự mở ra một kho thông tin vô hạn cho độc giả
Báo điện tử cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng khổng lồ thông tin lưu trữ Đồng thời với đó là khả năng tìm kiếm dễ dàng nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khoá được đính kèm trên mỗi trang báo mạng điện tử Có thể xem theo ngày, xem theo bài, hoặc theo chủ đề… Nếu không có điều kiện đọc ngay lúc online, độc giả báo mạng có thể lưu bài viết lại để đọc sau, hoặc là độc giả cũng có thể đọc lại nhiều lần tuỳ thích, mà thao tác hoàn toàn đơn giản Điều này với truyền hình hay phát thanh là vô cùng khó
Chủ quyền biển đảo Việt Nam là một vấn đề có nguồn gốc lịch sử, kéo dài trong nhiều năm qua Khả năng liên kết và lưu trữ của báo điện tử giúp
độc giả tìm hiểu vấn đề chủ quyền biển đảo một cách cặn kẽ, có hệ thống
1.3.3 Hạn chế của báo điện tử khi đưa tin về chủ quyền biển đảo
Do đặc điểm nhanh nhạy của báo điện tử, một số thông tin về vấn đề chủ quyền biển đảo đã được đưa mà thiếu sự kiểm chứng, dẫn đến thông tin sai lạc, như trường hợp các báo điện tử đưa tin về việc tàu Bình Minh đứt cáp ngày 30-11-2012, website Đảng cộng sản đưa tin tàu Trung Quốc diễn tập ở Trường Sa ngày 4-9-2009
Hơn nữa, trong khi đưa tin về chủ quyền biển đảo, báo in có thế mạnh phân tích sâu, bài viết sâu sắc, giúp độc giả hiểu rõ bản chất vấn đề, còn báo điện tử đọc lâu, dài dòng thường mỏi mắt, hiệu quả tiếp nhận không cao, dễ quên, khó nhớ Hạn chế thứ hai, đó là báo điện tử phụ thuộc vào máy móc thiết bị, đòi hỏi trình độ sử dụng máy móc thiết bị của người sử dụng ( những
Trang 32người già hay trung niên thường gặp khó khăn khi vào báo mạng đọc thông tin vì sử dụng máy tính không thành thạo ).
Do khả năng tương tác cao của báo điện tử, khi xảy ra các sự kiện liên quan đên chủ quyền biển đảo, độc giả thường nhanh chóng có ý kiến phản hồi Trong nhiều trường hợp, các biên tập viên chưa kịp biên tập hoặc do thiếu sự nhạy bén về chính trị nên đã để lọt các ý kiến bình luận mang tính kích động, làm nóng vấn đề một cách không cần thiết, không phù hợp với chủ trương của Đảng ta là giải quyết tranh chấp biển đảo một cách bình tĩnh giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, phát triển quan hệ hữu nghị với các nước
- Quận Đống Đa, Hà Nội
Ngày 21 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ có văn bản đồng ý tách báo điện tử Vietnamnet thành Công ty Phần mềm và Truyền thông (VASC) theo đề nghị của VNPT Ngày 15 tháng 5 năm 2008, Bộ Thông tin & Truyền thông đề nghị với VNPT tách Vietnamnet ra khỏi VNPT về trực thuộc
Bộ Thông tin & Truyền thông Tổng Biên tập của Vietnamnet hiện là ông Bùi
Sỹ Hoa
Sau hơn 10 năm phát triển, Vietnamnet hiện trở thành một trong những
tờ báo điện tử có lượng truy cập lớn ở Việt Nam Vietnamnet được đánh giá
là có phong cách đưa tin năng động, nhạy bén, thể hiện bản sắc riêng.Thế
Trang 33mạnh của Vietnamnetlà thường phỏng vấn trực tuyến các đại sứ và học giả từ các nước lớn như Mỹ, Anh, Trung Quốc Ngoài ra, trang TuanVietnam thường có những bài phân tích bình luận chuyên sâu của các học giả nổi tiếng trong và ngoài nước về những vấn đề chính trị xã hội nóng bỏng Báo Vietnamnet đã đón nhận nhiều giải thưởng của Liên chi hội nhà báo Thông
tin và Truyền thông và hai giải Báo chí Quốc gia năm 2013
1.4.2.Tuổi trẻ online
Tuổi trẻ online là ấn bản điện tử của báo Tuổi Trẻ Báo Tuổi Trẻ là cơ quan ngôn luận của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí MinhThành phố Hồ Chí Minh Báo phát hành tại Việt Nam với số lượng khoảng 500.000 bản/ngày Văn phòng chính của Tuổi Trẻ đặt tại số 60A, đường Hoàng Văn Thụ, phường 9, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh Tổng biên tập là ông Tăng Hữu Phong Báo có 9 văn phòng đại diện tại Hà Nội, Nghệ An, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt, Đắk Lắk và Cần Thơ
Báo Tuổi Trẻ ra đời chính thức ngày 2 tháng 9 năm 1975 Tiền thân của
tờ báo này bắt đầu từ những tờ truyền đơn và bản tin in roneo của sinh viên, học sinhSài Gòn trong phong trào chống Mỹ thời kỳ Chiến tranh Việt Nam Sau nhiều năm phát triển, Tuổi Trẻ đã trở thành một trong những tờ báo được
ưa thích nhất tại Việt Nam, được đánh giá là có phong cách đưa tin năng động, nhạy bén, có tính dự báo và phát hiện, tính chiến đấu cao, đặc biệt trong lĩnh vực chống tiêu cực Báo Tuổi Trẻ được xếp ở vị trí thứ 6 trong 100 tờ báo tại châu Á, thứ 34 trong 200 tờ báo trên thế giới, theo đánh giá xếp hạng của trang web thư mục và tìm kiếm quốc tế International Media & Newspapers
Báo điện tử Tuổi trẻ online ra mắt ngày 1 tháng 12 năm 2003 Chưa đầy hai năm sau, báo này đã vươn lên vị trí thứ ba về số lượt truy cập trong bảng xếp hạng tất cả các website tiếng Việt trên thế giới
Trang 34Các ấn phẩm khác của báo Tuổi Trẻ
Tuổi Trẻ: (nhật báo): Năm 2007 bắt đầu có 20 trang nội dung Bao gồm Chính trị - Xã hội, Thế giới, Kinh tế, Giáo dục, Nhịp sống trẻ, Nhịp sông số, Sức khỏe,
Tuổi Trẻ Cuối tuần: (tuần báo) vốn có tên là Tuổi Trẻ Chủ nhật Có nội dung phong phú với hầu hết các lĩnh vực, song do không có đầu tư tương xứng nên đến những năm đầu thế kỷ 21 bị tụt hậu nặng nề
Tuổi Trẻ Cười: (tạp chí hàng tháng hiện nay là bán nguyệt san) xuất bản dưới thời Tổng biên tập Vũ Kim Hạnh Từng là tờ báo trào phúng duy nhất Tuy nhiên, cũng giống như Tuổi Trẻ Cuối tuần không có đầu tư xứng đáng nên đến nay cũng tụt hậu so với trước đó
Tuoitrenews: Ấn phẩm tiếng Anh của báo Tuổi Trẻ ra đời giữa năm
2010 và nhanh chóng trở thành một cổng thông tin tiếng Anh hàng đầu về Việt Nam
Áo trắng: (tạp chí hàng tháng) Là ấn phẩm liên kết với Nhà xuất bản Trẻ Chủ yếu là thơ văn cho tuổi mới lớn
Tuổi Trẻ Mobile: Là phiên bản của Tuổi Trẻ Online cho điện thoại di động
Tuổi Trẻ Media Online: Ấn phẩm đa phương tiện, phát hành trên mạng
Là tờ báo tiên phong trong tổ chức kinh doanh, báo Tuổi Trẻ có tiềm lực kinh tế thuộc loại mạnh nhất trong các báo in ở Việt Nam Doanh thu của báo Tuổi Trẻ hiện ước tính vào khoảng hàng nghìn tỷ đồng…
Nhiều thế hệ phóng viên của Tuổi Trẻ đã tạo dấu ấn trên mặt báo và được bạn đọc tại Việt Nam yêu thích Có thể kể đến các tác giả như Hàng Chức Nguyên (cây bút viết phóng sự về người nghèo trong xã hội), Thủy Cúc (chuyên mục Ký sự pháp đình), Cù Mai Công (phóng sự Saigon by night), Binh Nguyên (ký sự đường xa), Hoài Lê (thể thao), Cam Ly (quốc tế) Những năm gần đây, các phóng viên của Tuổi Trẻ đã bắt đầu được đi để viết tin bài,
Trang 35tác nghiệp ở nhiều nơi trên thế giới như Iraq, Pakistan, Liban, Indonesia, Mỹ, Đức
Tiểu kết chương 1
Bảo vệ chủ quyền biển đảo đang là vấn đề cấp bách đối với toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta hiện nay Chủ trương Việt Nam là kiên trì tìm kiếm giải pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp biển đảo, đồng thời luôn sẵn sàng hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền quốc gia Công tác tuyên truyền biển, đảo vừa là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, lâu dài góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong nước, đồng thời thu hút sự ủng hộ của quốc tế đối với sự nghiệp chính nghĩa của Việt Nam Tuyên truyền về biển, đảo đòi hỏi phải xây dựng lực lượng rộng rãi, trong đó các cơ quan, báo chí, truyền thông là lực lượng nòng cốt, lấy chủ quyền biển, đảo làm mục tiêu tuyên truyền và tập hợp rộng rãi lực lượng cách mạng, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc
Tiếp nối truyền thống của các thế hệ làm báo đi trước, báo chí Việt Nam hiện nay, trong đó có các tờ báo điện tử Vietnamnet và Tuổi trẻ online đang tích cực tham gia vào mặt trận thông tin tuyên truyền chủ quyền biển đảo, góp phần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí chiến lược của biển, đảo nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đóng góp vào nhiệm vụ chung của dân tộc Vietnamnet và Tuổi trẻ online là những tờ báo điện tử có tên tuổi tại Việt Nam.Trong việc đưa tin về chủ quyền biển đảo, báo điện tử có những lợi thế nhất định như cho phép cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên và liên tục, có tính tương tác cao, khả năng lưu trữ thông tin lớn… đồng thời cũng có những hạn chế về độ chính xác, tính sâu sắc của thông tin… Do đó, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên truyền chủ quyền biển đảo còn những tồn tại nhất định Hoạt động thông tin chủ quyền biển đảo trên báo chí nói chung, các báo điện tử Vietnamnet và Tuổi trẻ online nói riêng là một
Trang 36vấn đề lớn cần được nghiên cứu và đánh giá kỹ lưỡng, từ đó đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng thông tin chủ quyền biển đảo trên báo chí trong thời gian tới
Việc phân tích, tìm hiểu các vấn đề lý luận liên quan đến chủ quyền biển đảo, thông tin cũng như các đường lối, chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước về vấn đề này, lợi thế và hạn chế của các báo điện tử trong việc thông tin chủ quyền biển đảo sẽ là cơ sở để học viên nhìn nhận, đánh giá các thông tin chủ quyền biển đảo của Vietnamnet và Tuổi trẻ online các năm 2012-2013
Trang 37CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRÊN 2
TỜ BÁO ĐIỆN TỬ VIETNAMNETVÀ TUỔI TRẺ ONLINE
TỪ 2012-2013
2.1 Khảo sát tần số, quy mô các bài viết về chủ quyền biển, đảo trên 2 tờ báo điện tử Tuổi trẻ online và Vietnamnet
Thông tin về vấn đề chủ quyền biển, đảo của Vietnamnet và Tuổi trẻ
online trong giai đoạn này bao gồm các nhóm nội dung chính sau:
Nội dung 1: các thông tin cơ bản về biển, đảo Việt Nam, truyền thống
khai phá, bảo vệ biển, đảo của cha ông ta
Các thông tin cơ bản về biển, đảo Việt Nam như phạm vi, diện tích tài nguyên Biển Đông, vị trí chiến lược của Biển Đông, đặc biệt là các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tiềm năng kinh tế, quốc phòng của khu vực biển, đảoViệt Nam, quá trình tranh chấp biển, đảo giữa Việt Nam và các nước xung quanh, bối cảnh khu vực và quốc tế liên quan đến các tranh chấp này
Nội dung 2: Các diễn biến liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt
Nam
Các sự kiện về chính trị, quân sự, kinh tế liên quan đến biển, đảo Việt Nam như việc tàu nước ngoài xâm phạm vùng biển Việt Nam, tiến hành khai thác tài nguyên trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, các hội nghị hội thảo quốc tế bàn giải pháp giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, các nước tranh chấp củng cố sức mạnh quân sự, có những động thái thực thi yêu sách chủ quyền của mình trên Biển Đông…
Nội dung 3: Quan điểm, chủ trương đường lối của Việt Nam trong vấn
đề bảo vệ chủ quyền biển đảo, phản bác các quan điểm hành vi sai trái
Quan điểm của Đảng, chính phủ, giới học giả nghiên cứu Việt Nam trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo, các chủ trương chính sách như Luật Biển Việt Nam được Quốc hội (khóa XIII) nước CHXHCN Việt Nam thông
Trang 38qua; Nghị quyết về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Nội dung 4: Hoạt động phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Việt Nam hiện nay
Các hoạt động bám biển, đánh bắt hải sản của ngư dân, hoạt động diễn tập, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ biển, đảo, chế tạo, cải tiến mua sắm vũ khí của các lực lượng vũ trang, hoạt động đấu tranh về ngoại giao, pháp lý để bảo vệ chủ quyền biển đảo, việc tổ chức các hội nghị, hội thảo, việc sưu tầm các tài liệu để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông
Nội dung 5: Dư luận quốc tế về vấn đề liên quan đến chủ quyền biển,
đảo Việt Nam
Các tuyên bố, phản ứng của các giới chức nước ngoài, đánh giá của học giả quốc tế trước những sự kiện trên Biển Đông
Nội dung 6: Luật pháp quốc tế và kinh nghiệm giải quyết tranh chấp
biển, đảo trên thế giới
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Bộ Quy tắc ứng xử mang tính pháp lý của các bên ở Biển Đông (COC) khi được thông qua
Trang 39Số lượng tin bài của từng báo tính theo các nội dung chính
Trang 402.2 Nội dung thông tin về vấn đề chủ quyền biển, đảo của Vietnamnet và Tuổi trẻ online các năm 2012-2013
2.2.1 Nhóm các thông tin cơ bản về biển, đảo Việt Nam, truyền thống khai phá, bảo vệ biển, đảo của cha ông ta
Cùng với việc phản ánh những diễn biến trực tiếp liên quan đến quá trình bảo vệ chủ quyền biển đảo, báo Tuổi trẻ online cũng nỗ lực cung cấp những kiến thức nền có liên quan, như các thông tin cơ bản về biển, đảo,
truyền thống bảo vệ biển, đảocủa cha ông ta
Báo Tuổi trẻ online ngày27-08-2012 có các bài “Vị trí, tầm quan trọng của Biển Đông” Bài báo đã nêu bật được vị trí và tầm quan trọng của Biển Đôngđối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay trên các lĩnh vực kinh tế an ninh quốc phòng Bài “Các vùng biển của Việt Nam trên Biển Đông” cũng trên báo Tuổi trẻ online ngày27/08/2012 cho biết, ngày 12-5-1977, sau khi thống nhất đất nước, mặc dù Công ước Quốc tế về Luật biển chưa được thỏa thuận nhưng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra tuyên bố về các vùng biển của Việt Nam trên Biển Đông Trong đó, các vùng biển của Việt Nam được tuyên bố như sau:
1 Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải
lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam
2 Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam
3 Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam