Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của ngành nhựa các yêu cầu về kiểm tra chất lượng sản phẩm, nguyên liệu ngành công nghiệp nhựa cũng như chứng nhận chất lượng sản phẩm phục vụ cho việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ MỘNG LÂM
VAI TRÒ CỦA VIỆC ỨNG DỤNG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM
NHỰA TẠI CÁC TỈNH PHÍA NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Thành phố Hồ Chí Minh, 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ MỘNG LÂM
VAI TRÒ CỦA VIỆC ỨNG DỤNG QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM
NHỰA TẠI CÁC TỈNH PHÍA NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: PSG TS Nguyễn Văn Kim
Thành phố Hồ Chí Minh, 2013
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
LỜI CẢM ƠN 5
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU 7
PHẦN MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9
3 Mục tiêu nghiên cứu 12
3.1 Mục tiêu 12
3.2 Nhiệm vụ 12
4 Phạm vi nghiên cứu 13
5 Mẫu khảo sát 13
6 Câu hỏi nghiên cứu 13
7 Giả thuyết nghiên cứu 13
8 Phương pháp nghiên cứu 13
9 Kết cấu của Luận văn 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 15
1.1 Các khái niệm 15
1.1.1 TBT: Hàng rào kỹ thuật trong thương mại 15
1.1.2 Hiệp định TBT 15
1.2 Đánh giá sự phù hợp 19
1.2.1 Định nghĩa 19
1.2.2 Yêu cầu chung đối với thủ tục đánh giá sự phù hợp 20
1.2.3 Chứng nhận 21
1.2.4 Giám định - kiểm tra 21
1.2.4 Thử nghiệm 21
1.2.5 Công nhận các tổ chức đánh giá sự phù hợp 22
1.2.6 Thừa nhận lẫn nhau các kết quả đánh giá sự phù hợp 23
1.3 Năng lực cạnh tranh 24
1.4 Kết luận chương 1 25
Trang 4CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NHỰA PHÍA NAM 27
2.1 Trình bày dẫn nhập 27
2.2 Thực trạng ngành nhựa tại các tỉnh phía Nam 28
2.2.1 Chọn mẫu khảo sát 100 Doanh nghiệp nhựa phía Nam 28
2.2.2 Cách thức khảo sát 29
2.2.3 Kết quả thu nhận 29
2.3 Thực trạng các trung tâm kiểm định và đánh giá sự phù hợp ở các tỉnh phía Nam 42
2.3.1 Chọn mẫu: Thực hiện khảo sát tại 05 đơn vị 42
2.3.2 Cách thức thực hiện 42
2.3.3 Kết quả thu nhận 43
2.4 Kết luận chương 2 53
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM NHỰA 54
3.1 Nhận thức thực tế của doanh nghiệp nhựa về các tiêu chuẩn TBT trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh 54
3.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh trong từng bước áp dụng TBT 54
3.2.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh bằng việc đạt được các chứng nhận 54
3.2.2 Nâng cao năng lực cạnh tranh bằng nghiên cứu, phát triển và đẩy mạnh công tác thử nghiệm, giám định 58
3.2.3 Vấn đề công nhận lẫn nhau trong nâng cao năng lực cạnh tranh 61
3.3 Kết luận chương 3 63
KẾT LUẬN 65
KHUYẾN NGHỊ 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 72
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nổ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PSG.TSNguyễn Văn Kim, người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin gởi lời tri ân nhất của tôi đối với những điều mà Thầy đã dành cho tôi.Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy Cô trong khoa Khoa Học Quản Lý– Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn – ĐHQG Hà Nội và quý Thầy Cô của Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn – ĐHQG TPHCM đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Trang 6FDA Food and Drug Administration
KH&CN Khoa học và công nghệ
TBT Technical Barriers to Trade
TTKTCD&CS Trung Tâm Kỹ Thuật Chất Dẻo và Cao Su WTO World Trade Organization
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2 1: Qui mô nhân sự của doanh nghiệp ngành nhựa theo mẫu khảo sát 34 Bảng 2.2: Công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp ngành nhựa theo mẫu khảo sát 35 Biểu đồ 2.1: Loại hình kinh doanh của các doanh nghiệp nhựa theo mẫu khảo sát 32 Biểu đồ 2.2: Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp ngành nhựa theo mẫu khảo sát 33 Biểu đồ 2.3: Thị trường tiêu thụ sản phẩm nhựa hiện nay theo mẫu khảo sát 36 Biểu đồ 2.4: Đầu tư của doanh nghiệp cho phòng thí nghiệm theo mẫu khảo sát 37 Biểu đồ 2.5: Nhu cầu về phòng thí nghiệm chung hay riêng cho doanh nghiệp ngành nhựa phía Nam 38
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngành công nghiệp nhựa Việt Nam có mức tăng trưởng hàng năm từ 15% - 20% Trong hơn 10 năm qua, ngành nhựa đã đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động Hiện nay ngành nhựa cả nước có khoảng 2000 doanh nghiệp, trong đó hơn 80 % tập trung ở các tỉnh thành phía Nam và chủ yếu là doanh nghiệp tư nhân nhỏ, quy mô gia đình với năng lực cạnh tranh yếu
Sản phẩm nhựa của Việt Nam đã xuất hiện trên nhiều thị trường quốc
tế như: Châu Âu, Châu Mỹ và một số nước châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc v.v Tuy nhiên, sản phẩm nhựa của Việt Nam vẫn chưa có được một chỗ đứng thực sự vững mạnh trên thị trường quốc tế Nguyên nhân chính cho vấn
đề này là do sản phẩm nhựa Việt Nam vẫn chưa đạt được những yêu cầu chất lượng chặt chẽ và khắt khe của thị trường nước ngoài
Góp phần không nhỏ cho điều này là việc kiểm tra, phân tích và chứng nhận chất lượng sản phẩm nhựa chưa được quy hoạch và tổ chức một cách bài bản, chuyên nghiệp để phục vụ cho các doanh nghiệp trong ngành nhựa Phần lớn các sản phẩm nhựa xuất khẩu phải gửi mẫu qua Đài Loan hoặc Singapore
để thử nghiệm và chứng nhận theo yêu cầu của nhà nhập khẩu
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của ngành nhựa các yêu cầu về kiểm tra chất lượng sản phẩm, nguyên liệu ngành công nghiệp nhựa cũng như chứng nhận chất lượng sản phẩm phục vụ cho việc xuất khẩu cũng như sản xuất, tiêu thụ trong nước trở nên rất lớn Điều quan trọng và có tính quyết định hơn là phải tổ chức hoạt động đánh giá sự phù hợp theo tập quán và chuẩn mực quốc tế nhằm phải tiến tới việc công nhận, thừa nhận kết quả chứng nhận, giám định hoặc kết quả thử nghiệm sản phẩm nhựa xuất khẩu phải được thừa nhận tại các nước nhập khẩu Chỉ có như vậy mới đảm bảo cho việctiêu thụ nội địa và xuất khẩu hàng nhựa Việt Nam được thuận lợi, tiết kiệm chi phí và mang lại hiệu quả kinh tế cao trước bối cảnh cạnh tranh ngày
Trang 9Bên cạnh đó với tư cách là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO)vào năm 2007, Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các quy định trong Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) Điều này đã tạo ra nhiều thách thức song cũng không ít cơ hội cho các doanh nghiệp trong cả nước nói chung và doanh nghiệp trong ngành nhựa nói riêng Theo đó Việt Nam phải đảm bảo thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết liên quan đến Tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp khi xây dựng và thực thi các biện pháp kỹ thuật trong hoạt động thương mại của mình
Từ cơ sở lý luận thực tiễn trên đây, tôi chọn đề tài "Vai trò của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các tỉnh phía Nam”để nghiên
cứu, hy vọng đưa những hoạt động thuộc lĩnh vực KH&CN vào phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh việc xuất khẩu và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong ngành nhựa tại các tỉnh phía Nam nói riêng, cả nước nói chung
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Việt Nam đã chính thức hội nhập với tổ chức Thương mại thế giới (WTO) từ 2007, cùng với các ngành kinh tế khác, ngành công nghiệp Nhựa Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận và được đánh giá là một trong những ngành kinh tế năng động nhất Hiện nay số lượng doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương và Long An chiếm 80% tổng số lượng DN nhựa trên cả nước trong khi miền Bắc
và miền Trung chỉ là 15% và 5%
Theo thống kê năm 2011, giá trị tổng sản lượng ngành nhựa Việt Nam đạt 3.290.000 tấn tương đương 4.593 tỷ USD, tăng 10 lần so với năm 1996 Với tốc độ phát triển 15%/năm, ngành công nghiệp nhựa Việt Nam là ngành công nghiệp có tốc dộ phát triển mạnh và là ngành công nghiệp phụ trợ quan trọng cho các ngành công nghiệp khác của Việt Nam như ngành điện, điện tử,
Trang 10điện tiêu dùng, ôtô, xe máy, chế biến thục phẩm, công nghệ phẩm… Một số chuyên ngành kỹ thuật mũi nhọn cạnh tranh quốc tế chiếm ưu thế như: cáp quang, bao bì cao cấp (màng ghép phức hợp BOPP; chai 4 lớp; chai PET …);
vi mạch điện từ bằng PP dẫn điện; Panel pin mặt trời; quạt phát triển; nhựa Nano …
Ngành Công nghiệp nhựa Việt Nam có 8 ngành kỹ thuật được phân tích theo vốn đầu tư (vốn đầu tư theo thứ tự ưu tiên phát triển) gồm có các chuyên ngành:
- Ngành sản xuất nguyên liệu nhựa
- Ngành sản xuất giày dép nhựa xuất khẩu
- Ngành nghề chế biến Cao su – Nhựa
- Ngành Nhựa Dân dụng
- Ngành nhựa kỹ thuật cao
- Ngành Bao bì Nhựa
- Ngành Vật liệu xây dựng Nhựa
- Ngành chế tạo máy – khuôn mẫu
Trong 8 chuyên ngành, ngành sản xuất nguyên liệu nhựa là ngành phát triển mạnh nhất Trong tổng sản lượng nhựa hàng năm, sản phẩm nhựa bao bì chiếm khoảng 36% trong khi nhựa vật liệu xây dựng, đồ gia dụng và các loại dành cho các ngành công nghiệp khác như điện tử, điện, giao thông vận tải lần lượt chiếm khoảng 16%, 36% và 12% Cho đến nay, các nhà máy liên doanh với nước ngoài đã sản xuất được nguyên liệu PVC Resin, dầu hóa dẻo DOP, PET Resin với sản lượng 400.000 tấn/năm Ba trung tâm hóa nhựa, hóa dầu của Việt Nam tại Dung Quất (Miền Trung); Nghi Sơn (phía Bắc); Long Sơn (phía Nam) dự kiến sẽ thu hút thêm 8 tỷ USD vốn đầu tư, từ đó nâng tổng năng suất nguyên liệu nhựa của Việt Nam lên 2 triệu tấn/năm từ năm
2015
Chuyên ngành kỹ thuật bao bì nhựa là ngành phát triển năng động nhất, với 5 mảng sản xuất chuyên sâu là: màng ghép phức hợp cao cấp BOPP (3, 4,
Trang 11chỗ phục vụ các ngành công nghiệp gia công, chế biến khác; chai 4 lớp, chai PET; túi xốp xuất khẩu; bao bì thức ăn nhanh … với tốc độ phát triển từ 40 – 50%/năm Chuyên ngành nhựa kỹ thuật cao phát triển bền vững với các sản phẩm tiêu biểu như: cáp quang, composite, nano nhựa, pin mặt trời … Ngành
kỹ thuật thứ 8 là chế tạo máy - khuôn mẫu đã phát triển tương đối, cho đến nay Việt Nam đã sản xuất được máy nhựa, robot tay máy và khuôn mẫu công nghiệp
Hiện nay, sản phẩm nhựa nhựa của ta đã xuất khẩu đến 55 quốc gia trên thế giới với giá trị kim ngạch đạt trên 1 tỷ USD/2011 và tổng cộng sản phẩm
có hàm lượng nhựa như cáp điệu, túi xách đạt 1,6 tỷ USD, tốc độ phát triển sản phẩm nhựa xuất khẩu đạt 40%/năm trong thời điểm này Sản phẩm nhựa
là mặt hàng đạt doanh thu và mức độ tăng trưởng xuất khẩu cao trong 5 năm trở lại đây (năm 2005 tăng 42%, năm 2006 tăng 44%, năm 2007 tăng gần 47%, năm 2008 tăng 31,5%, năm 2009 tăng 48%), mức tăng bình quân cả giai đoạn là 39%/năm Trong thời gian tới dự kiến mặt hàng nhựa tiếp tục là mặt hàng có tốc độ tăng trưởng cao về doanh thu và lợi nhuận
Một trong những yếu tố để thúc đẩy xuất khẩu các sản phẩm nhựa ra quốc tế trong bối cảnh hiện nay chính là nghiên cứu về hiệp định TBT Đối với các nước trên thế giới thì việc nghiên cứu về hiệp định TBT đã được thực hiện rất nhiều ở nhiều mặt hàng khác nhau như:
SPS and Thailand’s Exports of Processed Food của Nidhiprabha, Bhanupong năm 2002 đành cho sản phẩm thực phẩm của Thailand
Tariff and Nontariff Barriers to New Zealand’s Exports of Wood-Based Products to China của Turner, J., F Maplesden, B.Walford và S Jacob năm 2005 cho các sản phẩm gỗ xuất tới Trung Quốc
Hay như tại Việt Nam có những nghiên cứu về TBT nhưng mang tính tổng quan như:
Thực thi hiệp định SPS/TBT – những kinh nghiệm từ các nước và bài học cho Việt Nam của Hồ Ngọc Thủy, Nguyễn Hà Ngọc và Ngân Kim
Vũ (3/2012)
Trang 12 Vượt qua các rào cản SPS để thúc đẩy xuất khẩu sang Liên minh Châu
Âu của Gascoine D và Nguyễn Tự Cường (2009)
Hay một số sản phẩm riêng như:
An toàn thực phẩm và việc thực thi Hiệp đinh SPS/TBT: Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp đối với Việt Nam cua Phạm Thị Hoàng Yến (2011)
Mặc dù có những nghiên cứu tại Việt Nam về TBT nhưng hầu hết các nội dung nghiên cứu lại tập trung nhiều về mặt văn bản và luật hóa Hầu như hiện nay không hề có nghiên cứu nào về quy trình thực thi TBT đặc biệt trong
lĩnh vực Nhựa Chính vì thế, việc lựa chọn luận văn “Vai trò của việc ứng
dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các tỉnh phía Nam” có ý nghĩa quan trọng
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu
Làm rõ vai trò của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhựa tại các tỉnh phía Nam
3.2 Nhiệm vụ
- Khảo sát thực trạng tình hình sản xuất, kinh doanh và các hoạt động đánh giá sự phù hợp ( thử nghiệm, giám định, chứng nhận) của các doanh nghiệp nhựa phía Nam
- Khảo sát thực trạng hệ thống tiêu chuẩn có liên quan và việc áp dụng các loại tiêu chuẩn đối với sản phẩm nhựa trong nước và xuất khẩu
- Khảo sát thực trạng các đơn vị đánh giá sự phù hợp sản phẩm nhựa;
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá nhằm làm rõ vai trò và sự cần thiết của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong ngành nhựa phía Nam
Trang 134 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung vào việc làm rõ và chứng minh sự cần thiết của việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT cho hai đối tượng nghiên cứu chính là các doanh nghiệp sản xuất nhựa và các đơn vị cung cấp dịch vụ phân tích, thử nghiệm và giám định và chứng nhận Hai đối tượng này được khảo sát, phân tích và đánh giá trong bối cảnh hiện tại ở phía Nam
5 Mẫu khảo sát
Khảo sát năng lực phân tích, thử nghiệm, giám định và chứng nhận của các đơn vị cung cấp dịch vụ đánh giá sự phù hợp đối với sản phẩm và nguyên liệu nhựa trong nước và Khảo sát thực trạng việc áp dụng quy trình đánh giá
sự phù hợp sản phẩm nhựa của các doanh nghiệp nhựa;
6 Câu hỏi nghiên cứu
Ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT đóng vai trò gì trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhựa?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp theo TBT sẽ đáp ứng được yêu cầu của thị trường xuất khẩu đối với sản phẩm nhựa
Kết quả của các hoạt động đánh giá sự phù hợp sẽ tạo điều kiện cho việc thừa nhận lẫn nhau Trên cơ sở đó sẽ giúp doanh nghiệp giảm được các chi phí cho việc thử nghiệm, giám định và chứng nhận trong giao lưu thương mại Việc này sẽ dẫn đến giảm giá thành sản phẩm và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Để sản phẩm đạt được chất lượng theo TBT các doanh nghiệp ngành nhựa phải nâng cao năng lực sản xuất thông qua đổi mới công nghệ, tổ chức các hoạt động nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới, sản phẩm có các chỉ tiêu an toàn, vệ sinh và chất lượng đáp ứng các yêu cầu theo tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam
8 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Trang 14- Gởi phiếu khảo sát tình hình TBT tại các doanh nghiệp nhựa và trung tâm kiểm định nhựa ở các tỉnh phía Nam
- Gởi phiếu khảo sát và bảng câu hỏi chuyên sâu cho các lãnh đạo các doanh nghiệp
- Phân tích các dữ liệu thống kê về ngành nhựa được công bố và so sánh với dữ liệu khảo sát được
9 Kết cấu của Luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT CỦA DOANH NGHIỆP NHỰA PHÍA NAM
CHƯƠNG III VAI TRÒ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUI TRÌNH ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM NHỰA
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
Trang 15CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các khái niệm
1.1.1 TBT: Hàng rào kỹ thuật trong thương mại
Hàng rào kỹ thuật trong thương mại là những biện pháp kỹ thuật cần thiết để bảo vệ người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất trong nước Hàng rào kỹ thuật là một loại hàng rào phi thuế quan Hàng rào này liên quan tới việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, quy trình đánh giá sự phù hợp chất lượng hàng hóa, các biện pháp nhằm đảm bảo quá trình sản xuất hàng hóa phải an toàn, vệ sinh, bảo vệ môi trường
Hàng rào kỹ thuật là các rào cản hợp lý và hợp pháp, cần được duy trì ở mỗi quốc gia Tuy nhiên, còn có những hàng rào kỹ thuật được dựng lên để hạn chế thương mại của nước khác hoặc mang tính phân biệt đối xử giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa hàng hóa trong nước hoặc nhập khẩu
Để loại bỏ các rào cản không cần thiết trong thương mại giữa các nước thành viên, Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (gọi tắt là Hiệp định TBT) của WTO được xây dựng và thực thi Theo Hiệp định TBT, hàng rào kỹ thuật được thể hiện dưới các hình thức như tiêu chuẩn;văn bản quy phạm pháp luật về kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật (dưới đây gọi chung là quy chuẩn kỹ thuật) và quy trình đánh giá sự phù hợp
1.1.2 Hiệp định TBT
Với vai trò là một tổ chức xúc tiến thương mại, WTO mong muốn các nước thành viên thông qua Hiệp định này nhận thấy rõ tầm quan trọng của các tiêu chuẩn quốc tế và hệ thống đánh giá sự phù hợp trong việc tăng cường hiệu quả sản xuất và tạo thuận lợi cho tiến trình thương mại quốc tế
Ngoài việc mong muốn khuyến khích sự phát triển của các tiêu chuẩn quốc tế và các hệ thống đánh giá sự phù hợp Hiệp định còn đưa ra các quy đinh nhằm đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và các thủ tục đánh giá sự phù hợp với các văn bản này không tạo ra các trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế
Trang 16Hiệp định cũng thừa nhận sự đóng góp của tiêu chuẩn hóa quốc tế đối với việc chuyển giao công nghệ từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển nhằm giúp các nước đang phát triển giải quyết các khó khăn có thể gặp phải trong quá trình xây dựng và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy trình đánh giá sự phù hợp
Các nguyên tắc của Hiệp định TBT
- Không phân biệt đối xử về các tiêu chuẩn, chất lượng hàng hoá: Hiệp định đòi hỏi các thành viên áp dụng quy chế tối huệ quốc và quy chế đối
xử quốc gia khi đưa ra các quy định quản lý kỹ thuật Có nghĩa là, các quy định này phải đảm bảo có sự đối xử như nhau giữa các nước thành viên và giữa hàng hoá sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu vào nước mình
- Không cản trở thương mại: Hiệp định TBT yêu cầu các nước thành viên
áp dụng tiêu chuẩn quốc tế như ngôn ngữ kỹ thuật thống nhất đối với tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá Điều này có nghĩa là, một khi tiêu chuẩn quốc tế được áp dụng thì không có hàng rào kỹ thuật được tạo ra đối với thương mại giữa các nước thành viên Nhưng như vậy có bình đẳng hay không khi yêu cầu tất cả các nước dù là đang phát triển hay đã phát triển đều phải áp dụng tiêu chuẩn quốc tế mới không cản trở thương mại Thực ra, Hiệp định TBT không bắt buộc các nước phải áp dụng tiêu chuẩn quốc tế một cách như nhau (vì có trình độ phát triển khác nhau), điều mà Hiệp định quan tâm hơn chính là không cho phép các nước đưa ra yêu cầu cao hơn tiêu chuẩn quốc tế, nếu không chứng minh được việc đưa ra như vậy là có căn cứ khoa học và là cần thiết vì những mục đích hợp pháp như bảo vệ an toàn, vệ sinh, môi trường hay
an ninh Một nước có thể áp dụng tiêu chuẩn hàng hoá thấp hơn tiêu chuẩn quốc tế do khả năng công nghệ, trình độ quản lý và nhận thức chưa đầy đủ của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm Trong trường hợp này, nước đó cũng chỉ được đưa ra yêu cầu tương tự đối với hàng
Trang 17Hiển nhiên, việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá dưới mức tiêu chuẩn quốc tế trước hết sẽ làm cho người tiêu dùng không được an toàn trong sử dụng hàng hoá, môi trường dễ bị ô nhiễm hơn ; thứ đến là làm cho hàng hoá xuất khẩu của các nước đang phát triển khó có khả năng cạnh tranh được trên thị trường quốc tế Như vậy, việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế là con đường phải đi nếu muốn phát triển thương mại và nâng cao đời sống nhân dân
- Công khai, minh bạch: Điều dễ hiểu chính là thông qua nguyên tắc này
để thực thi và giám sát thực thi đối với hai nguyên tắc đã đề cập ở trên
Vì vậy mà Hiệp định TBT đưa ra nhiều quy định để đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch này Ví dụ, trước khi một thành viên muốn ban hành một quy định để quản lý tiêu chuẩn, chất lượng hay kỹ thuật đối với một hàng hoá nào đó có khả năng chứa đựng các yếu tố gây cản trở thương mại hay phân biệt đối xử thì nước đó phải thông báo cho các nước khác biết về việc đó, trong một thời hạn nhất định trước khi ban hành Mục đích là để các nước khác xem xét và góp ý kiến đối với dự thảo quy định đó Và nếu các nước cho rằng, việc ban hành quy định này là trái với nguyên tắc của Hiệp định TBT thì thành viên đó phải nghiên cứu điều chỉnh cho phù hợp Việc công khai minh bạch không chỉ có lợi cho các thành viên khác, mà còn có lợi cho cả các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong nước, vì quy định đưa ra để áp dụng chung cho cả hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất trong nước Các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong nước có quyền góp ý trước khi một quy định quản lý ra đời, để đảm bảo lợi ích của mình với tư cách là một bên chịu ảnh hưởng bởi quyết định quản lý đó
- Ngoài ra, Hiệp định TBT còn khuyến khích các nước thành viên ký kết các thoả thuận thừa nhận lẫn nhau đối với kết quả thử nghiệm, chứng nhận, kiểm tra, giám định chất lượng hàng hoá Việc ký các thoả thuận này sẽ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp trong việc giảm chi phí và
Trang 18thời gian do không phải thử nghiệm lại, giám định lại chất lượng tại cảng của nước nhập khẩu hàng hoá
Mặc dù chú trọng tới việc đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật không được tạo ra những rào cản không cần thiết cho thương mại, song Hiệp định TBT cũng thừa nhận rằng các quốc gia có quyền xây dựng các cơ chế bảo hộ con người, động thực vật hay bảo vệ sức khoẻ và môi trường thông qua các nhóm nghĩa vụ sau:
- Đối xử với hàng hoá xuất khẩu của một nước không kém ưu đãi hơn so với cơ chế đối xử đối với hàng hoá sản xuất trong nước (đối xử quốc gia) hoặc đối với hàng xuất khẩu của một nước khác (đối xử tối huệ quốc)
- Khuyến khích các thành viên dựa trên các tiêu chuẩn hài hoà hoá (dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế)
- Minh bạch trong quá trình xây dựng, áp dụng và thực hiện các tiêu chuẩn và chuẩn kỹ thuật
- Các yêu cầu về thủ tục liên quan tới việc thông báo cho WTO các vấn
đề có liên quan tới TBT
Hiệp định TBT quy định rằng các thủ tục đánh giá sự phù hợp phải được “chuẩn bị, xây dựng và thông qua sao cho các nhà cung cấp các sản phẩm tương tự có xuất xứ từ lãnh thổ nước thành viên khác (là các nước tham gia ký kết Hiệp định); qua đó các thành viên này được hưởng các điều kiện không kém phần ưu đãi hơn các điều kiện dành cho các nhà cung cấp các sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước hoặc các sản phẩm tương tự có xuất
xứ từ bất kỳ nước nào khác” Hiệp định cũng yêu cầu các thủ tục đó không được “chuẩn bị, thông qua hoặc áp dụng với mục đích hoặc với kết quả tạo ra các trở ngại không cần thiết cho thương mại quốc tế.” Về mặt lý tưởng, một chương trình đánh giá sự phù hợp được tiến hành một cách thích đáng sẽ chỉ làm lợi, chứ không cản trở để hàng hoá được tự do lưu thông trên thị trường
Hiệp định TBT phân biệt tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật Tiêu chuẩn
Trang 19xuất tự nguyện đáp ứng để cho thấy các sản phẩm của mình đạt được một mức độ chất lượng hoặc tính năng sử dụng nào đó Khi tiêu chuẩn được thông qua hay sử dụng trong các quy định pháp luật, chúng được mang tên quy chuẩn kỹ thuật và theo đó việc áp dụng chúng trở thành bắt buộc đối với các hàng hóa sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu
Công nhận (hoạt động đánh giá sự phù hợp) là một cơ chế được quốc tế chấp thuận để thừa nhận năng lực của các phòng thí nghiệm hiệu chuẩn và thử nghiệm, các cơ quan chứng nhận sản phẩm, các cơ quan chứng nhận hệ thống chất lượng và các cơ quan giám định Công nhận là cơ chế đảm bảo chất lượng của các dữ liệu thử nghiệm và hình thành nguyên tắc cũng như ý niệm
về tính chuyên nghiệp hoá được quốc tế chấp thuận Hoạt động này góp phần giảm thiểu các trường hợp phải thử nghiệm lại và chứng nhận lại, giảm bớt chi phí và loại bỏ các rào cản phi thuế quan đối với thương mại và khả năng chậm trễ trong việc tiếp cận thị trường
Việc thừa nhận lẫn nhau các hệ thống công nhận và chứng nhận sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận các thị trường quốc tế; tạo nền tảng kỹ thuật cho thương mại quốc tế trên cơ sở củng cố xuyên biên giới niềm tin của các đối tượng có liên quan và việc chấp thuận các dữ liệu thử nghiệm được công nhận cũng như các kết quả được chứng nhận “Chứng nhận một lần, chấp nhận ở mọi nơi” hiện đang là khái niệm và mục tiêu quốc tế phổ biến Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được nhờ mạng lưới các Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau giữa các cơ quan công nhận quốc tế
1.2 Đánh giá sự phù hợp
1.2.1 Định nghĩa
Đánh giá sự phù hợp là quy trình được thừa nhận quốc tế để đánh giá các yêu cầu cụ thể liên quan tới sản phẩm, quá trình, hệ thống, con người hoặc tổ chức được đáp ứng, qua đó xác định sự tuân thủ Hoạt động đánh giá
sự phù hợp bao gồm thử nghiệm, kiểm tra, chứng nhận và công nhận
Các quốc gia đang phát triển và quốc gia trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế định hướng thị trường chiếm tới 3/4
Trang 20tổng số thành viên WTO Đối với các thành viên này và những quốc gia muốn gia nhập WTO và EU, tiêu chuẩn và đánh giá sự phù hợp là nguồn lực tri thức công nghệ quan trọng để phát triển nền kinh tế của họ và nâng cao năng lực xuất khẩu và cạnh tranh trong thị trường toàn cầu
1.2.2 Yêu cầu chung đối với thủ tục đánh giá sự phù hợp
Cùng với sự toàn cầu hoá thị trường, có nhiều vấn đề nảy sinh do sự khác biệt về chính sách tiêu chuẩn hoá và đánh giá sự phù hợp Để giải quyết vấn đề này trước tiên cần phải có tiêu chuẩn để căn cứ vào đó mà đánh giá và thủ tục đánh giá sự phù hợp đối với các yêu cầu trong tiêu chuẩn Tuy nhiên
để tương ứng với xu hướng toàn cầu hóa, tiêu chuẩn cũng như thủ tục đánh giá sự phù hợp không được trở thành một loại hàng rào phi quan thuế Bởi vậy yêu cầu hài hòa giữa các yếu tố trở nên một vấn đề quan trọng, nếu có thể cần phải hài hòa ở cấp quốc tế
Theo định nghĩa của Hiệp định về Hàng rào Kỹ thuật đối với Thương mại (TBT) của tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), thì các thủ tục đánh giá
sự phù hợp là bất kỳ thủ tục nào được sử dụng trực tiếp hay gián tiếp để xác định rằng yêu cầu tương ứng trong các tiêu chuẩn hay chế định kỹ thuật (technical regulation) đã được thực hiện
Chế định kỹ thuật là văn bản qui định những đặc tính của sản phẩm hay các quá trình và phương pháp sản xuất có liên quan Các chế định kỹ thuật này được các tổ chức có thẩm quyền công bố, thông thường vì mục đích an toàn bảo vệ sức khỏe, môi trường, ngăn ngừa các qui tắc gây nên sự nhầm lẫn
Sự phù hợp với các chế định là yêu cầu bắt buộc trong khi sự phù hợp với tiêu chuẩn nói chung là không bắt buộc trừ trường hợp do một cơ quan có thẩm quyền qui định Nói chung, việc đảm bảo sự phù hợp với các chế định kỹ thuật cần được thực hiện trước khi đưa sản phẩm đó vào thị trường
Thủ tục đánh giá sự phù hợp có thể bao gồm phương pháp lấy mẫu, thử nghiệm, kiểm tra, đăng ký, chứng nhận và công nhận được sử dụng để đưa
ra sự đảm bảo đối với các cơ quan có thẩm quyền và người tiêu dùng rằng các
Trang 21thể giảm các cuộc tranh chấp có thể xảy ra về các qui định hay chất lượng của sản phẩm
1.2.3 Chứng nhận
Chứng nhận là một thủ tục mà bên thứ ba áp dụng để đảm bảo rằng một đối tượng nào đó phù hợp với các yêu cầu qui định Bên thứ ba là một tổ chức độc lập với người cung cấp và khách hàng và được gọi là "tổ chức chứng nhận "
Đối tượng để chứng nhận có thể là sản phẩm, hệ thống hoạt động, con người, từ đó có thể phân thành các dạng chứng nhận sau:
- Chứng nhận sản phẩm
- Chứng nhận hệ thống quản lý
- Chứng nhận kỹ thuật viên chuyên ngành
1.2.4 Giám định - kiểm tra
Giám định/kiểm tra là quá trình xem xét, đo lường, thử nghiệm các đặc trưng nào đó và so sánh với các chuẩn mực qui định, đồng thời tiến hành các dịch vụ khác liên quan đến sản phẩm Các dịch vụ liên quan này bao gồm không chỉ việc lựa chọn và đánh giá sản phẩm, cấp các chứng chỉ phù hợp theo các chuẩn mực xác định mà còn có thể bao gồm việc đánh giá năng lực của người sản xuất, hoạt động của hệ thống chất lượng và khuyến nghị về việc chấp nhận hệ thống chất lượng của bên cung cấp Ngoài ra, người cung cấp có thể thuê các giám định viên hoạt động tại công ty của mình để xác định
sự phù hợp, hỗ trợ cho việc tự công bố sự phù hợp
1.2.4 Thử nghiệm
Thử nghiệm, hiệu chuẩn cũng là một hoạt động đánh giá sự phù hợp Hoạt động này cung cấp các bằng chứng về sự phù hợp của sản phẩm so với các yêu cầu qui định, phục vụ cho hoạt động chứng nhận, kiểm tra/giám định Mức độ chặt chẽ và tổng quát của các yêu cầu đối với một phòng thử nghiệm hay hiệu chuẩn (có thể gọi chung là tổ chức thí nghiệm) tuỳ thuộc vào mục đích của việc thí nghiệm, khối lượng phép thử được tiến hành, cũng như trách nhiệm pháp lý về tính đúng đắn của kết quả thử
Trang 22Các nhà xuất khẩu giao dịch thương mại ở thị trường thế giới đều cần
có sự đảm bảo về sự phù hợp của các sản phẩm của họ với các tiêu chuẩn quốc tế và/hoặc với những tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu Để đảm bảo cho việc này đòi hỏi phải có một hệ thống đo lường được thừa nhận bao gồm:
- Có các phòng đo lường quốc gia đủ năng lực sử dụng những qui trình (phương pháp) hiệu chuẩn được tiêu chuẩn hóa
1.2.5 Công nhận các tổ chức đánh giá sự phù hợp
Như các phần trên đã trình bày, để có sự hòa nhập trong các hệ thống đánh giá sự phù hợp cần có sự thống nhất về các chuẩn mực đối với các tổ chức đánh giá và thủ tục đánh giá Ngoài ra, một yêu cầu khác cũng rất quan trọng đối với các tổ chức cung ứng sản phẩm và dịch vụ cũng như đối với khách hàng là làm thế nào để tránh đánh giá nhiều lần, điều này sẽ làm tăng chi phí sản xuất sản phẩm, các chi phí tăng thêm này cuối cùng sẽ đổ lên đầu người tiêu dùng mà không đem lại cho họ lợi ích gì theo nghĩa làm tăng thêm khả năng bảo vệ cho họ
Có một số biện pháp để thực hiện yêu cầu này Cách làm thông thường
là các tổ chức chứng nhận tiến hành các thỏa thuận song phương hoặc đa phương Theo các thỏa thuận này thì chứng chỉ được một tổ chức chứng nhận cấp, sẽ được sự chấp nhận của các tổ chức tham gia ký thỏa thuận
Trang 23Biện pháp trên chưa thể đáp ứng triệt để phương châm đã nêu nên phạm vi tác dụng còn rất hạn chế Nếu muốn được chấp nhận ở nhiều quốc gia hay khu vực, tổ chức chứng nhận phải ký nhiều thỏa thuận song phương hoặc đa phương, gây tốn kém không ít thời gian và chi phí
Một cách khác có hiệu quả hơn là tại mỗi quốc gia thành lập cơ quan công nhận quốc gia để công nhận các tổ chức đánh giá sự phù hợp Tổ chức đánh giá nào được tổ chức công nhận quốc gia công nhận thì chứng chỉ chứng nhận sẽ được thừa nhận tại quốc gia đó Tuy nhiên giải pháp này muốn phát huy hiệu quả, nghĩa là muốn dấu chứng nhận vượt được biên giới quốc gia thì giữa các tổ chức công nhận quốc gia phải ký các thỏa thuận song phương và
đa phương Phương thức này đã giảm chi phí và thời gian khá nhiều việc thừa nhận các kết quả đánh giá sự phù hợp
Mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng cách thức này vẫn chưa thật sự triệt
để Hiện nay người ta dự định hình thành các tổ chức công nhận quốc tế Nếu như tổ chức này đi vào hoạt động thì các tổ chức đánh giá sự phù hợp chỉ cần được một thành viên của tổ chức nói trên công nhận thì các chứng chỉ phát ra
sẽ có giá trị khắp nơi
1.2.6 Thừa nhận lẫn nhau các kết quả đánh giá sự phù hợp
Hiệp định TBT thúc đẩy sự thừa nhận các kết quả đánh giá sự phù hợp của nhau như là một biện pháp giảm rào cản trong thương mại Hiệp định nhấn mạnh rằng sự tin tưởng thường xuyên vào độ chính xác của các kết quả đánh giá sự phù hợp là điều kiện tiên quyết cho việc thừa nhận các đánh giá
đó
Hiệp định quy định rằng sự tuân thủ trong hoạt động của các tổ chức công nhận, thử nghiệm, giám định và chứng nhận với các tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn quốc tế được xem là một biểu hiện đạt được năng lực kỹ thuật thích hợp Nhiều tiêu chuẩn và hướng dẫn liên quan là ấn phẩm của ISO/IEC được biên soạn bởi CASCO, Ban kỹ thuật của ISO về đánh giá sự phù hợp
Các cách tiếp cận để thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp của các nước thành viên WTO gồm:
Trang 24- Công nhận năng lực của các tổ chức đánh giá sự phù hợp
- Đơn phương công nhận kết quả đánh giá sự phù hợp của nước ngoài
- Hiệp định thừa nhận lẫn nhau giữa 2 quốc gia
- Thỏa thuận thừa nhận giữa 2 tổ chức đánh giá sự phù hợp
- Sử dụng kết quả tự công bố của nhà cung ứng
Chi tiết hơn, thị trường các nước phương Tây đòi hỏi ngày càng nhiều các chứng chỉ thử nghiệm từ các phòng thử nghiệm được công nhận theo ISO/IEC 17025 Ở các nước phát triển, cơ quan công nhận phòng thử nghiệm
là thành viên của Diễn đàn công nhận quốc tế (IAF) nhằm giúp thúc đẩy các Hiệp định thừa nhận lẫn nhau (MRA) giữa các cơ quan công nhận quốc gia
Một mô hình như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc các phép thử tiến hành trong phòng thử nghiệm của một nước được thừa nhận ở một nước khác mà không cần phải thử nghiệm lại Tiêu chuẩn ISO/IEC 17025 là điểm then chốt để thuận lợi hoá Điều này đòi hỏi các nước đang phát triển phải xây dựng các phòng thử nghiệm theo yêu cầu của ISO 17025 và trở thành thành viên của IAF để tiến tới tham gia vào các Hiệp định thừa nhận lẫn nhau (MRAs) từ những Diễn đàn Công nhận của các nước phát triển
Không có sự thừa nhận quốc tế cho các phương pháp thử nghiệm sản phẩm và hiệu chuẩn trong nước sẽ gây khó khăn và thiệt hại cho tiềm lực thương mại và kết quả là các sản phẩm của họ sẽ được bán với giá thấp hơn Trong trường hợp này buộc các doanh nghiệp phải sử dụng dịch vụ của các phòng thử nghiệm quốc tế thay cho cơ quan chứng nhận trong nước Giải pháp này dẫn đến những bất lợi do giá thành thử nghiệm cao và chậm trễ về thời gian do phải gửi mẫu đi các phòng thử nghiệm ở nước ngoài
1.3 Năng lực cạnh tranh
Khái niệm về cạnh tranh được nhiều tác giả trình bày theo các c ấp độ khác nhau, do đó trong luận văn này chúng tôi hiểu rằng năng l ực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện thông qua khả năng xây dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng tốt hơn
Trang 25nhu cầu khách hàng (so với đối thủ cạnh tranh) và đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường Sự tồn tại và sức sống của một doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp Việt Nam
Trong điều kiện hội nhập WTO các doanh nghiệp phải đối mặt với các rào cản kỹ thuật của các nước thành viên Hiện nay, các rào cản này chủ yếu quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, về an toàn, về trách nhiệm xã hội, về bảo vệ môi trường Do đó, trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa xuất khẩu phải tuân theo quy định của các nước về các yêu cầu liên quan kể trên nhằm làm cho hàng hóa của doanh nghiệp đáp ứng đầy
đủ yêu cầu của thì trường, nhất là thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản Mối liên hệ của hoạt động đánh giá sự phù hợp và nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm là vô cùng chặt chẽ đặc biệt trong việc hội nhập và mở rộng thị trường của các doanh nghiệp nhựa hiện nay
Trang 26nhận chất lượng đối với hàng hoá và quy trình công nhận năng lực của các
tổ chức đánh giá sự phù hợp
Hiệp định về TBT cố gắng để đảm bảo rằng các quy chuẩn kỹ thuật; tiêu chuẩn kỹ thuật; các quy trình thử nghiệm, giám định và chứng nhận không tạo nên các rào cản không cần thiết
Hiệp định cũng đưa ra một quy tắc thực hành tốt cho việc chuẩn bị, chấp nhận và áp dụng các tiêu chuẩn của các cơ quan chính phủ trung ương Hiệp định đưa ra quy trình được sử dụng để quyết định việc một sản phẩm có phù hợp với các tiêu chuẩn quốc gia hay không phải công bằng và hợp lý, không khuyến khích bất kỳ biện pháp nào đem lại lợi thế không công bằng cho các sản phẩm nội địa
Hiệp định cũng khuyến khích các nước thành viên thừa nhận các quy trình đánh giá sự phù hợp của nhau Theo đó, một sản phẩm có thể được đánh giá xem có đáp ứng các tiêu chuẩn của nước nhập khẩu hay không thông qua việc thử nghiệm, giám định, chứng nhân ngay tại nước sản xuất
Hiện nay, với việc phát triển như vũ bão các công nghệ chế tạo trong ngành nhựa thì như nhận định của các doanh nghiệp họ không hề thua kém về chất lượng sản phẩm so với các nước khác Tuy nhiên, doanh nghiệp nhựa của chúng ta luôn đối mặt với rất nhiều khó khăn đặc biệt về các vấn đề thâm nhập thị trường Điều này là do hiện nay các doanh nghiệp vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về các khó khăn, các qui định mang tính bắt buộc trong TBT khi sản phẩm nhựa muốn có mặt tại một thị trường quốc tế
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP THEO TBT CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỰA PHÍA NAM
2.1 Trình bày dẫn nhập
Ngành nhựa Việt Nam đã phát triển rất nhanh, trong khoảng 10 năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng đạt (15% - 20%)/năm Tốc độ tăng trưởng của ngành nhựa luôn duy trì ở mức cao ngay cả trong suy thoái kinh tế, có thể đạt 15% trong năm 2012 Tuy nhiên, rủi ro của các doanh nghiệp cũng rất cao do phải nhập khẩu 80% - 90 % nguyên liệu
Để giải quyết bài toán này, Bộ Công thương đã xác định việc phát triển công nghiệp sản xuất nguyên liệu cho ngành nhựa là một trong ba chương trình trọng điểm Theo đó, việc hình thành các nhà máy tái chế phế liệu nhựa
sẽ là bước khởi đầu trong nỗ lực giảm bớt gánh nặng khó khăn về nguyên liệu cho DN Việc sử dụng nguyên liệu từ việc tái chế phế liệu nhựa còn góp phần bảo vệ môi trường – một trong những điều kiện của các nhà nhập khẩu từ Mỹ, Nhật Các nước này yêu cầu sản phẩm nhựa xuất khẩu phải sử dụng tối thiểu 10% nhựa tái sinh để hạ giá bán Theo họ, đáp ứng được điều này, sản phẩm mới có tính thân thiện với môi trường Ngoài thị trường EU, Mỹ và Nhật Bản
là những thị trường xuất khẩu chủ yếu thì sản phẩm nhựa của Việt Nam còn xuất khẩu đến trên 90 thị trường khác Đối với thị trường xuất khẩu: hiện tại, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 30%/năm Sản phẩm xuất khẩu chủ lực là bao bì nhựa, chiếm 70% tổng sản lượng xuất khẩu Sản phẩm nhựa Việt Nam có lợi thế trong hoạt động xuất khẩu so với các nước trong khu vực đặc biệt là Trung Quốc (lợi thế về thuế quan)
Đối với thị trường nội địa, chỉ số chất dẻo trên đầu người Việt Nam khá thấp nên cơ hội tăng trưởng của ngành còn rất lớn Ngoài ra, sản phẩm nhựa hàng tiêu dùng có mức tăng trưởng cao do thay thế sản phẩm truyền thống gỗ, da và khả năng sản xuất hàng loạt, giá thành thấp
Nhóm ngành bao bì nhựa sẽ đạt mức tăng trưởng cao nhất so với mức tăng của các dòng sản phẩm khác do nhu cầu tăng cao với tốc độ tăng trưởng
Trang 28dự báo khoảng 20% vào năm 2012 Cơ cấu sản phẩm ngành nhựa cũng đang chuyển dịch theo xu hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm nhựa bao bì
Cùng với sự phát triển của ngành nhựa trong những năm tới cho thấy việc ứng dụng quy trình đánh giá sự phù hợp thep TBT là rất cần thiết mà theo đó bao gồm các hoạt động: lấy mẫu và thử nghiệm; giám định; chứng nhận; đánh giá hệ thống quản lý và chứng nhận; công nhận và tiến tới thừa nhận năng lực của tổ chức công nhận Hoạt động đánh giá sự phù hợp quan trọng và cần thiết đối với nhà cung ứng, nhà sản xuất, người tiêu dùng và Cơ quan quản lý Chính vì thế trước hết phải xem xét đánh giá lại hiện trạng về năng lực đánh giá sự phù hợp cho ngành nhựa hiện nay là vô cùng quan trọng
2.2 Thực trạng ngành nhựa tại các tỉnh phía Nam
2.2.1 Chọn mẫu khảo sát 100 Doanh nghiệp nhựa phía Nam
Xây dựng bộ câu hỏi khảo sát diện rộng và chi tiết đối với các doanh nghiệp thuộc các đối tượng ngành nhựa ưu tiên và đơn vị cung cấp dịch vụ phân tích, giám định và chứng nhận sự phù hợp
- Nội dung bộ câu hỏi khảo sát diện rộng phải bao gồm các nội dung chính chi tiết sau:
Tìm hiểu về công nghệ sản xuất, nguyên vật liệu
Tìm hiểu về cơ cấu sản phẩm được sản xuất
Tìm hiểu về yêu cầu chất lượng các sản phẩm trong nước và xuất khẩu
Tìm hiểu về yêu cầu phân tích, chứng nhận sản phẩm Yêu cầu về thử nghiệm, giám định, được quy định trong các hợp đồng thương mại và các yêu cầu thử nghiệm phục vụ cho quá trình sản xuất trong nước và xuất khẩu
Tìm hiểu nhu cầu về thử nghiệm, giám định nguyên vật liệu và sản phẩm của các Doanh nghiệp
Các vấn đề có liên quan khác
Trang 29- Phương án thực hiện :
Lập danh sách 100 doanh nghiệp thuộc đối tượng khảo sát;
Khảo sát diện rộng về các nội dung trong phiếu khảo sát cho 100 doanh nghiệp thuộc các ngành nhựa ưu tiên khảo sát
Lựa chọn 10 doanh nghiệp trong số 100 doanh nghiệp khảo sát diện rộng để thực hiện khảo sát sâu và làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp tại 10 doanh nghiệp trong tổng số 100 doanh nghiệp đã thực hiện khảo sát diện rộng
về thử nghiệm, giám định và chứng nhận chất lượng phục vụ yêu cầu thị trường trong nước và xuất, nhập khẩu về chất lượng đối với sản phẩm và
nguyên liệu cho ngành công nghiệp nhựa
2.2.3.1 Phương pháp luận
Thực trạng tình hình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp ngành nhựa phía Nam và nhu cầu đối với hoạt động đánh giá sự phù hợp được nghiên cứu thông qua việc khảo sát theo hai hình thức là khảo sát diện rộng
và khảo sát điểm với mục đích cụ thể :
Khảo sát diện rộng nhằm tập hợp các thông tin để có sự nhìn nhận bao quát và tổng thể về thực trạng cũng như nhu cầu của các doanh nghiệp
Trang 30trong ngành công nghiệp nhựa đối với hoạt động đánh giá sự phù hợp (bao gồm : thử nghiệm, giám định, chứng nhận) Việc khảo sát điểm được thực hiện thông qua phiếu khảo sát với 100 doanh nghiệp được lựa chọn từ các nhóm sản phẩm chính của ngành công nghiêp nhựa phía Nam Với số lượng doanh nghiệp phía Nam chiếm khoản 80% cả nước (gần 2000 doanh nghiệp) thì việc chọn khảo sát diện rộng từ 100 doanh nghiệp – chiếm trên 5% Theo bài toán lấy mẫu thì tỷ lệ này cho thấy đáp ứng yêu cầu đại diện cho các doanh nghiệp phía Nam;
Khảo sát điểm để kiểm tra, xác định và đánh giá lại kết quả của khảo sát diện rộng nhằm nâng cao tính xác thực của thông tin, số liệu thu thập và khẳng định các kết luận qua kết quả khảo sát Việc khảo sát điểm được thực hiện thông qua khảo sát trực tiếp 10 doanh nghiệp (với
tỷ lệ 10 %) được chọn trong số 100 doanh nghiệp khảo sát diện rộng
10 doanh nghiệp này được chọn đại diện cho các khu vực có tập trung hoạt động của ngành công nghiệp nhựa phía Nam như : TP Hồ Chí Minh; tỉnh Đồng Nai; Long An; Bình Dương và các tỉnh miền Tây Nam bộ
2.2.3.2 Phương án thực hiện
Việc khảo sát được tác giả thực hiện đề tài và một số cộng tác viên thuộc văn phòng của Hiệp hội nhựa TP Hồ Chí Minh tiến hành theo các bước sau :
Lập danh sách doanh nghiệp khảo sát diện rộng và khảo sát điểm
Tìm hiểu, cập nhật các thông tin liên quan về các doanh nghiệp trong danh sách khảo sát như : lĩnh vực sản xuất; thị trường; địa chỉ văn phòng, xưởng v v…;
Xây dựng phiếu khảo sát theo nguyên tắc ngắn, gọn, dễ hiểu và dễ trả lời cho phù hợp với trình độ và nhận thức hiện tại của các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nhựa phía Nam;
Trên cơ sở nguyên tắc này nhóm thiết kế phiếu khảo sát tập trung
Trang 31 Công nghệ sản xuất, nguyên vật liệu;
Cơ cấu sản phẩm được sản xuất;
Yêu cầu chất lượng các sản phẩm trong nước và xuất khẩu;
Yêu cầu phân tích, chứng nhận sản phẩm;
Yêu cầu về thử nghiệm, giám định, được quy định trong các hợp đồng thương mại và các yêu cầu thử nghiệm phục vụ cho quá trình sản xuất trong nước và xuất khẩu;
Thực trạng về thử nghiệm, giám định, chứng nhận nguyên vật liệu và sản phẩm của doanh nghiệp;
Các vấn đề có liên quan khác
Tập huấn và hướng dẫn nội dung phiếu khảo sát cũng như yêu cầu khi tiến hành khảo sát tại doanh nghiệp cho nhóm cán bộ tham gia khảo sát
Triển khai việc khảo sát theo 2 nhóm : khảo sát diện rộng và khảo sát điểm
Nhóm khảo sát diện rộng tiến hành việc gửi phiếu khảo sát đến từng doanh nghiệp, theo dõi, hướng dẫn trả lời các nội dung trong phiếu khảo sát, thu thập các phiếu khảo sát Tiến hành phân loại các phiếu khảo sát đã thu nhận được
Nhóm khảo sát điểm tiến hành việc khảo sát trực tiếp tại 10 doanh nghiệp được lựa chọn
2.2.3.3 Kết quả đạt được
Khảo sát diện rộng
Tổng hợp các câu trả lời, sử dụng một số công cụ thống kê như pareto, biểu đồ cột v v… để xử lý và phân tích kết quả khảo sát diện rộng cụ thể như sau :
Với số lượng 100 doanh nghiệp được khảo sát bao gồm các loại hình doanh nghiệp như biểu đồ
Trang 32Biểu đồ 2.1: Loại hình kinh doanh của các doanh nghiệp nhựa theo mẫu khảo sát
Dựa trên kết kết quả khảo sát nhận thấy có tính tương đồng đối với số liệu thực tế là trong khoảng 2.000 doanh nghiệp trong ngành nhựa, hầu hết là những doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs), doanh nghệp tư nhân (chiếm 90%) Nguyên nhân là do 2 yếu tố sau:
Các doanh nghiệp ngành nhựa phía Nam vẫn còn ở mức vừa và nhỏ do
đó chưa đủ nguồn lực về vốn, nhân sự, năng lực quản lý để chuyển thành hình thức kinh doanh dạng cổ phần;
Đa số các doanh nghiệp sản xuất nhựa là các doanh nghiệp mang tính chất gia đình, xuất phát từ những cơ sở cá thể do đó có sự giới hạn của các nguồn vốn bên ngoài
Các doanh nghiệp khảo sát bao gồm các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh được trình bày như trong biểu đồ 2.2
Công ty 100% vốn nước ngoài
Cơ sở cá thể / DNTN
Trang 33Biểu đồ 2.2: Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp ngành nhựa theo mẫu khảo
sát
Có thể giải thích được nguyên nhân các “Ngành nhựa dân dụng” và
“Ngành bao bì nhựa” chiếm tỷ lệ cao trong số các ngành nhựa là do yêu cầu đối với nhóm sản phẩm này cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu vẫn đang còn rất nhiều và có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn các nước Bên cạnh đó, công nghệ sản xuất các nhóm sản phẩm này cũng không phức tạp so với các nhóm sản phẩm nhựa khác như nhựa kỹ thuật, xây dựng…Thêm vào đó, do các doanh nghiệp sản xuất ngành nhựa Việt Nam còn ở quy mô sản xuất vừa và nhỏ nên loại hình sản xuất nhựa như trên là phù hợp
Chiếm tỷ lệ tương đối là các lĩnh vực sản xuất nguyên liệu nhựa và lĩnh vực nhựa kỹ thuật cao với tỷ lệ chung là 13% Đối với hai lĩnh vực này, yêu cầu đầu tư về trang thiết bị tương đối hiện đại do đó số lượng các doanh nghiệp tham gia vào 02 lĩnh vực sản xuất này đến nay chưa nhiều
Còn lại là các lĩnh vực như: vật liệu xây dựng nhựa; sản xuất giày dép xuất khẩu; chế tạo máy – khuôn mẫu và chế biến cao su – nhựa có tỷ lệ thấp lần lượt là 5%; 1%; 3% và 3% so với các ngành nhựa nêu trên với các nguyên nhân một phần do các lĩnh vực sản xuất nhựa nêu trên chưa được phổ biến tại Việt Nam
dựng nhựa
Chế tạo máy - khuôn mẫu
Chế biến cao su - nhựa
Sản xuất giày dép nhựa xuất khẩu
Lĩnh vực hoạt động/ kinh doanh
Trang 34Điều đáng quan tâm cần lưu ý từ các số liệu trên là việc chế tạo máy, thiết bị và khuôn mẫu cho ngành nhựa tại Việt Nam còn quá yếu và thiếu Phần lớn thiết bị, máy móc, khuôn mẫu cho ngành nhựa hiện nay đều nhập từ nước ngoài
Nhìn chung, kết quả khảo sát phù hợp với số liệu thống kê của ngành Theo báo cáo tổng kết năm 2011, trong tổng sản lượng nhựa hàng năm, sản phẩm nhựa bao bì chiếm khoảng 36% trong khi nhựa vật liệu xây dựng, đồ gia dụng và các loại dành cho các ngành công nghiệp khác như điện tử, điện, giao thông vận tải lần lượt chiếm khoảng 16%, 36% và 12% tương ứng.Số lượng lao động của các doanh nghiệp khảo sát được nêu trong bảng 2.1
Bảng 2 1: Qui mô nhân sự của doanh nghiệp ngành nhựa theo mẫu khảo sát
STT Số CBNV của doanh nghiệp (người) Số lượng DN Tỷ lệ
vụ kịp thời cho xuất khẩu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ngành công nghiệp nhựa Việt Nam
Hầu hết các doanh nghiệp nhựa đều có số lượng lao động ở mức độ trung bình Chỉ có một số doanh nghiệp thuộc đối tượng khảo sát có số nhân viên thấp (< 10 cán bộ/nhân viên) là do các doanh nghiệp này chỉ là các văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài chỉ thực hiện các giao dịch và
Trang 35người là các công ty có bề dày kinh nghiệm, có thương hiệu trên thị trường như Rạng Đông, Bình Minh… do xuất phát từ yêu cầu mở rộng sản xuất, đổi mới sản phẩm nên các công ty này đã tuyển dụng thêm nhiều lao động
Thêm vào đó trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới và nhất là từ khi Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức WTO, các doanh nghiệp sản xuất nhựa phía Nam đã mạnh dạn tiếp cận công nghệ mới, hiện đại hơn Từ năm 2005, nhiều nhà sản xuất nhựa tại Việt Nam đã đầu tư đáng kể vào việc nâng cấp trang thiết bị sản xuất và máy móc của họ, từ đó cải thiện sản phẩm nhựa của họ về chất lượng và thiết kế, nâng cao khả năng cạnh tranh tại thị trường trong nước và quốc tế Vì vậy mà trình độ công nghệ của ngành công nghiệp nhựa Việt Nam có nhiều chuyển đổi.Chi tiết hơn khi quan sát qua các số liệu khảo sát từ bảng 2.2
Bảng 2.2: Công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp ngành nhựa theo mẫu khảo sát
Stt Mức so sánh Số lượng DN Tỷ lệ
2 Công nghệ trung bình TT 38 38%
Thông qua kết quả khảo sát, công nghệ hiện hữu của đa số doanh nghiệp sản xuất ngành nhựa đều là công nghệ có tính mới nhằm nâng cao năng lực sản xuất của chính mình Trong đó, công nghệ tiên tiến là 44% và công nghệ hiện đại là 16% Điều này cho thấy thực tế các doanh nghiệp sản xuất nhựa chủ yếu tập trung nguồn vốn vào yêu cầu nâng cao công nghệ sản xuất nhằm mở rộng sản xuất Tuy nhiên , c̣òn một số doanh nghiệp vẫn áp dụng các công nghiệp kiểu cũ chiếm tỷ lệ tương đối cao 38% Số còn lại chiếm một số lượng rất ít là các công nghệ lạc hậu với tỷ lệ 1%
Từ các số liệu khảo sát trên có thể đưa ra nhận định sau đây:
Trang 36 Đối với các doanh nghiệp nhựa tại các tỉnh phía Nam hiện nay, do yêu cầu về mẫu mã cũng như doanh số sản xuất là rất lớn (đặc biệt là ngành
“Bao bì nhựa” và “Nhựa dân dụng”) Vì vậy việc đầu tư vào công nghệ sản xuất tiên tiến nhằm tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm là việc mà các doanh nghiệp quan tâm và cho là cấp bách hơn so với việc đầu tư một phòng thí nghiệm phục vụ cho việc kiểm tra, giám định chất lượng, quy cách nguyên vật liệu và sản phẩm hoàn thiện của mỗi doanh nghiệp
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp được khảo sát phần lớn tập trung trong nước Tuy nhiên có nhiều doanh nghiệp năng động tiếp cận được với thị trường nước ngoài nên đã đẩy nhanh tỷ lệ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của ngành nhựa trong các năm qua Thị trường tiêu thụ sản phẩm nhựa được thể hiện qua biểu đồ 2.3
Biểu đồ 2.3: Thị trường tiêu thụ sản phẩm nhựa hiện nay theo mẫu khảo sát
Qua biểu đồ 2.3 được thống kê từ mẫu khảo sát nhận thấy:
Thị trường trong nước vẫn là thị trường chính của các doanh nghiệp sản xuất nhựa tại các tỉnh phía Nam và chiếm tới chiếm 74.74% trong tổng
số các doanh nghiệp được khảo sát
Có 26.26% doanh nghiệp liên doanh hoạt động chỉ dành cho việc xuất khẩu
Trang 37Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc các doanh nghiệp nhựa Việt Nam hiện vẫn loay hoay với thị trường chủ yếu trong nước chính là chất lượng và mẫu mã Nói chi tiết hơn, sản phẩm các doanh nghiệp sản xuất tuy đã được chấp nhận tại Việt Nam nhưng vẫn còn gặp khó khăn trong việc xuất khẩu ra nước ngoài do yêu cầu về các chỉ tiêu chất lượng và mẫu mã chưa đáp ứng được yêu cầu của nước nhập khẩu Thêm vào đó, các doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm nhiều đến việc thử nghiệm, giám định
và chứng nhận các sản phẩm nhựa trước khi xuất khẩu, do đó không có thông tin cho việc cải tiến và đổi mới chất lượng sản phẩm
Bên cạnh đó, khảo sát việc đầu tư cho việc trang bị phòng thử nghiệm đối với các doanh nghiệp được trình bày trong biểu đồ 2.4
Biểu đồ 2.4: Đầu tư của doanh nghiệp cho phòng thí nghiệm theo mẫu khảo sát
Qua biểu đồ cho thấy, số lượng doanh nghiệp đầu tư vào việc trang bị phòng thí nghiệm còn rất ít (chỉ có 8 doanh nghiệp chiếm 8%) Các doanh nghiệp này là các công ty nằm trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh tuy nhiên chỉ có hai lĩnh vực nhựa có sự đầu tư lớn cho phòng thí nghiệm là “Bao bì nhựa” (5/8 doanh nghiệp) và “Nhựa dân dụng” (3/8 doanh nghiệp) Nguyên nhân là do các công ty này có thị trường lớn bao gồm trong nước và nước ngoài Vì vậy, yêu cầu kiểm soát chất lượng nguyên vật liệu đầu vào và đánh giá chất lượng sản phẩm đầu ra thông qua việc phân tích, thử nghiệm và giám định trong quá trình sản xuất luôn là điều cần thiết
Trang 38Số lượng các doanh nghiệp không đươc trang bị phòng thí nghiệm phục
vụ cho sản xuất chiếm tỷ lệ lớn 92% Nguyên nhân là do các doanh nghiệp sản xuất nhựa còn ở giai đoạn đang phát triển, ở hình thức kinh doanh vừa và nhỏ nên yêu cầu về vốn để đầu tư phòng thí nghiệm là không khả thi Ngoài
ra, tồn tại một vấn đế lớn mà các doanh nghiệp nhựa vừa và nhỏ luôn phải đắn
đo, cân nhắc là với nguồn vốn hạn chế như hiện nay có nên chăng đầu tư vào một phòng thí nghiệm hay đầu tư đối mới công nghệ tiên tiến thay cho công nghệ đã cũ và lạc hậu Thực tế thì phần lớn các doanh nghiệp đều chọn phương án đầu tư công nghệ sản xuất mới nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực sản xuất Tỷ lệ các doanh nghiệp có đầu tư phòng thí nghiệm cho riêng công ty chiếm tỷ lệ thấp Chỉ có các công ty với bề dày hoạt động cũng như thương hiệu có đủ khả năng về tài chính mới có thể đầu tư một phòng thí nghiệm riêng
Mặc dù tỉ lệ không đầu tư phòng thử nghiệm riêng lên đến 92%, nhưng khi được khảo sát về việc nhu cầu xây dựng phòng thử nghiệm, giám định và chứng nhận chung cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nhựa phía Nam hay mỗi doanh nghiệp tự xây dựng riêng Kết quả cho thu được như trong biểu đồ 2.5
Biểu đồ 2.5: Nhu cầu về phòng thí nghiệm chung hay riêng cho doanh nghiệp ngành
Xây dựng riêng 30%
Cả hai 3%
Xây dựng chung 67%
XÂY DỰNG PHÒNG THỬ NGHIỆM, GIÁM ĐỊNH VÀ
CHỨNG NHẬN CHUNG HAY RIÊNG
Trang 39Từ kết quả khảo sát về nhu cầu trên thì rút ra được một số nhận xét sau
về hoạt động đánh giá sự phù hợp:
Đa số các doanh nghiệp đều có đề xuất chung là cần thiết đầu tư và xây dựng một trung tâm thử nghiệm, giám định, chứng nhận sản phẩm và nguyên vật liệu ngành nhựa phục vụ cho sự phát triển chung của ngành nhựa
Còn lại một số ý kiến về việc đầu tư riêng phòng thí nghiệm cho từng công ty chiếm tỷ lệ thấp so với ý kiến chung (30%) Nguyên nhân là do các doanh nghiệp sản xuất nhựa còn ở giai đoạn đang phát triển, ở hình thức kinh doanh vừa và nhỏ nên yêu cầu về vốn để đầu tư phòng thí nghiệm là không khả thi
Bên cạnh đó, có một số doanh nghiêp có đề xuất xây dựng phòng thử nghiệm riêng, nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp này có vốn đầu tư lớn, thị trường tiêu thụ chính là nước ngoài nên cần sự chủ động trong sản xuất và kinh doanh Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp này đều nhận thấy việc xây dựng một trung tâm thử nghiệm, giám định và chứng nhận chuyên sâu là yêu cầu cấp thiết đối với ngành nhựa
Khảo sát điểm
Việc triển khai khảo sát điểm được thực hiện sau khi có kết quả của việc khảo sát diện rộng Khảo sát điểm được thực hiện tại 10 doanh nghiệp theo hình thức trao đổi trực tiếp với người có trách nhiệm của doanh nghiệp như: giám đốc, phó giám đốc kỹ thuật, trưởng phòng kỹ thuật hoặc trưởng phòng kiểm tra chất lượng Các doanh nghiệp này được phân theo các khu vực tập trung các doanh nghiệp ngành công nghiệp nhựa phía Nam gồm: thành phố Hồ Chí Minh; tỉnh Long An; tỉnh Đồng Nai; tỉnh Bình Dương và các tỉnh miền Tây (Cần Thơ, Kiên Giang) Kết quả khảo sát điểm 10 doanh nghiệp đã giúp cho việc khẳng định tính khách quan và chính xác của kết quả khảo sát diện rộng nêu trên Đồng thời qua tiếp xúc, trao đổi với cán bộ có liên quan của các doanh nghiệp này đã giúp cho nhóm nghiên cứu có thêm các thông tin đầy đủ và sâu sắc hơn về sự phát triển và tiềm năng của ngành
Trang 40công nghiệp nhựa phía Nam Các kết quả khảo sát có thể được rút kết lại như sau:
- Các doanh nghiệp đều ý thức rõ sự cần thiết và vai trò quan trọng của việc đổi mới công nghệ, coi đó như giải pháp quyết định khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp Vì vậy mà hầu hết các doanh nghiệp trong
số 10 doanh nghiệp khảo sát đều đã, đang và có kế hoạch trong 1, 2 năm tới trong việc đổi mới từng bước công nghệ sản xuất
- Bên cạnh đổi mới công nghệ, các doanh nghiệp rất quan tâm đến việc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm và ổn định chất lượng trong quá trinh sản xuất Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp được khảo sát đều áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001 và được các tổ chức chứng nhận trong nước hoặc nước ngoài chứng nhận
- Một số doanh nghiệp có số lượng sản phẩm xuất khẩu lớn đã quan tâm đầu tư phòng thí nghiệm với các thiết bị thử nghiệm hiện đại, chính xác nhằm phục vụ kịp thời cho hoạt động xuất khẩu Ngoài ra, một số doanh nghiệp tuy không đầu tư phòng thử nghiệm song thực hiện nghiệm túc việc quản lý chất lượng và định kỳ gửi mẫu vật tư, nguyên liệu, sản phẩm đến các phòng thử nghiệm nước ngoài (Pháp, Đức, Đài Loan ) để kiểm tra Thậm chí có nhiều sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp đã thực hiện việc chứng nhận theo các chuẩn mực của nước nhập khẩu như: dấu CE (Châu Âu); phù hợp tiêu chuẩn một số nước như BS (Anh); ASTM (Mỹ); FDA (Mỹ); AS (Australia)