Về thực trạng sử dụng ngôn ngữ trên biển hiệu cửa hàng ở đô thị Việt Nam, từ trước tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt tập trung vào sự hiện diện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐỖ THỊ MAI PHƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM TÊN CÁC BIỂN HIỆU CỬA HÀNG TRÊN ĐỊA BÀN HAI PHƯỜNG HÀNG ĐÀO, HÀNG GAI,
QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN VĂN KHANG
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ với đề tài: “Đặc điểm tên các biển hiệu cửa hàng trên địa bàn hai phường Hàng Đào, Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trên bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày ….tháng… năm 2018
TÁC GIẢ
Đỗ Thị Mai Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy GS.TS Nguyễn Văn Khang - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin trân trọng cảm ơn toàn thể quý Thầy Cô trong khoa Ngôn ngữ - trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày ….tháng… năm 2018
HỌC VIÊN
Đỗ Thị Mai Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 3
6 Bố cục của Luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 5
1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài 7
1.2.1 Cơ sở lí thuyết về cảnh quan ngôn ngữ 7
1.2.2 Cơ sở lý thuyết về biển hiệu 11
1.2.3 Một số vấn đề về thái độ ngôn ngữ 18
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ BIỂN HIỆU TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG HÀNG ĐÀO, HÀNG GAI 26
2.1 Các xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng 26
2.1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng từ cách tiếp cận của ngôn ngữ học xã hội 26
2.1.2 Nghiên cứu ngôn ngữ BHCH từ cách tiếp cận của ngôn ngữ học ứng dụng 30
2.2 Kết quả khảo sát ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng trên địa bàn hai phường Hàng Đào, Hàng Gai - quận Hoàn Kiếm 31
Trang 62.2.1 Vài nét về địa bàn khảo sát 31
2.2.2 Thực trạng chung 34
2.2.3 Phân loại biển hiệu theo tên cửa hàng 35
2.2.4 Phân loại biển hiệu theo thành phần ngôn ngữ 39
2.2.5 Sử dụng đa ngữ trên BHCH tại các phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Quạt thuộc hai phường Hàng Đào, Hàng Gai 44
2.3 Thảo luận về ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng trên địa bàn hai phường Hàng Đào, Hàng Gai 56
2.4 Tiểu kết chương 2 61
CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT THÁI ĐỘ NGÔN NGỮ CỦA NGƯỜI DÂN Ở HÀ NỘI 63
3.1 Lựa chọn đối tượng và nội dung khảo sát 63
3.2 Cách thức điều tra thái độ ngôn ngữ 63
3.3 Kết quả khảo sát 63
3.3.2 Thái độ ngôn ngữ của nhóm nghề nghiệp là công an 70
3.3.3 Thái độ ngôn ngữ của nhóm nghề nghiệp là sinh viên 74
3.4 Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 88
Trang 7tế, biển hiệu cửa hàng là một thành phần quan trọng của bộ mặt đô thị được giới thiệu với công chúng, tạo nên môi trường ngôn ngữ của thành phố
Về thực trạng sử dụng ngôn ngữ trên biển hiệu cửa hàng ở đô thị Việt Nam, từ trước tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt tập trung vào sự hiện diện tràn lan của ngoại ngữ trên các biển hiệu Hiện tượng này một mặt là tín hiệu có ý nghĩa tích cực của một đất nước đang muốn làm bạn với tất cả các nước, mặt khác, khi trở thành tự phát và tùy tiện, đã trở thành mối lo ngại của những người muốn “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”
Trong khuôn khổ cho phép, luận văn tập trung nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng trên địa bàn hai phường Hàng Đào, Hàng Gai - hai phường trọng điểm về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thuộc khu phố cổ của Thủ đô Hà Nội Từ kết quả nghiên cứu, góp một nét vẽ hoàn thiện bức tranh mô tả cảnh quan ngôn ngữ ở Thủ đô, gợi mở ra tầm quan trọng của việc tuân thủ quy định của Nhà nước đối với ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay
Trang 8Thông qua thực trạng và thái độ của người dân, đưa ra một số ý kiến thảo luận, đề xuất phù hợp với chính sách của Đảng và Nhà nước “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, “bảo vệ, phát triển và hiện đại hóa tiếng Việt”
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ như sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Xây dựng cơ sở lí thuyết cho đề tài, chú trọng hệ thống hóa các khái niệm
- Chụp ảnh, thu thập, phân tích dữ liệu về biển hiệu cửa hàng trên địa bàn hai phường Hàng Đào, Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
- Lập bảng hỏi để tìm hiểu thái độ của người dân trên cơ sở các tiêu chí
về tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố đó tới thái độ ngôn ngữ
- Trên nền tảng văn bản quy phạm pháp luật đã có về vấn đề ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng, thử đưa ra một số đề xuất, kiến nghị phù hợp
3 Đối tƣợng, phạm vi và tƣ liệu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
+ Tên các biển hiệu cửa hàng
+ Thái độ ngôn ngữ của người dân đối với tên biển hiệu cửa hàng theo một số nhóm đối tượng ở Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Biển hiệu tại địa bàn hai phường Hàng Đào, Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Trang 93
3.3 Tư liệu nghiên cứu:
Tư liệu nghiên cứu sử dụng cho luận văn gồm ảnh chụp 773 biển hiệu cửa hàng được tác giả chụp trực tiếp trên địa bàn hai phường Hàng Đào, Hàng Gai
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp miêu tả và điều tra nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội (phỏng vấn trực tiếp, dùng bảng hỏi) Bên cạnh đó có sử dụng thủ pháp thống kê, phân loại để xử lý tư liệu trong quá trình khảo sát
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn
- Bổ sung tài liệu tham khảo trong việc dạy và học ngôn ngữ tiếng Việt cho người nước ngoài
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có bố cục gồm 3 chương với nội dung như sau:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2 Khảo sát thực trạng sử dụng ngôn ngữ biển hiệu
Chương 3: Khảo sát thái độ ngôn ngữ của người dân
Trang 104
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu cảnh quan ngôn ngữ, đặc biệt là biển hiệu cửa hàng mới được chú ý trong khoảng hai thập kỷ gần đây như một hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa nảy sinh trong quá trình đô thị hóa Các nghiên cứu chủ yếu đi vào tìm hiểu thực trạng sử dụng ngôn ngữ biển hiệu trong thời kì đổi mới và hội nhập của đất nước, tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… Một trong những nghiên cứu sớm nhất là
bài viết của Trần Thị Thìn (2000) “Biển hiệu ở Hà Nội nhìn từ góc độ ngôn
ngữ học” Qua bài viết, tác giả đã phân tích đặc điểm cấu tạo tên biển hiệu, từ
đó khái quát sơ bộ các loại biển hiệu hiện có ở Hà Nội và đưa ra kết luận “đã đến lúc, các nhà ngôn ngữ học nên có định hướng cho biển hiệu về mặt ngôn ngữ” Tiếp theo đó là khá nhiều khóa luận tốt nghiệp và luận văn cao học về
chủ đề này Nguyễn Minh Nguyệt (2007) trong luận văn “Nhận xét về ngôn
ngữ biển hiệu và thương hiệu trên hai phố Hà Nội(Nguyễn Lương Bằng và Tôn Đức Thắng)” đã khảo sát đặc điểm hình thức và nội dung ngôn ngữ trên
biển hiệu, biển quảng cáo để thấy được vai trò quan trọng của ngôn ngữ đối với quảng cáo, đồng thời nêu lên những biến đổi về ngôn ngữ mà theo tác giả
là ngày càng trở nên phổ biến hiện nay Luận văn “Khảo sát ngôn ngữ bảng
hiệu tại thành phố Hồ Chí Minh” của Phan Thanh Bảo Trân (2009) thì đi vào
tìm hiểu cách viết chính tả, phân tích thành phần và đặc điểm của từng kiểu loại biển hiệu Cũng phân tích đặc điểm nội dung, hình thức của biển hiệu
quảng cáo, luận văn thạc sỹ của Trương Thị Mai (2010) “ Nghiên cứu ngôn
ngữ quảng cáo trên các biển hiệu ở thành phố Vinh” cònđánh giá ưu nhược
Trang 115
điểm trong sử dụng ngôn ngữ quảng cáo, góp phần chỉnh sửa các loại lỗi
trong quảng cáo Đề tài “Hiện tượng đa ngôn ngữ trong đời sống đô thị Việt
Nam thời hội nhập - Khảo sát trường hợp các biển hiệu quảng cáo đa ngôn ngữ trên đường phố Đà Nẵng” của Nhóm nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa Đại
học Đà Nẵng (2011) lại tiếp cận ngôn ngữ biển hiệu từ một khía cạnh là hình thức sử dụng đa ngôn ngữ xếp theo nội dung kinh doanh dịch vụ Đặc biệt, thực trạng sử dụng ngôn ngữ biển hiệu ở Hà Nội qua góc nhìn của chuẩn hóa
được thấy rõ qua khảo sát “Thực trạng ngôn ngữ biển hiệu ở Hà Nội nhìn từ
trường hợp phố Mã Mây” của Nguyễn Hồng Cổn (2013) Và gần đây nhất là
đề tài cấp Bộ của tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Loan (2017) “Nghiên cứu thái độ
của người dân ở Hà Nội về ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng theo phân tầng xã hội” đã khởi đầu cho việc tìm hiểu thái độ phản ứng của xã hội đối với lĩnh
vực này
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới, các nhà nghiên cứu đã thực hiện nhiều khảo sát thực trạng cũng như tìm hiểu thái độ người dân đối với việc sử dụng ngôn ngữ trên biển hiệu, đặc biệt là biển hiệu tiếng nước ngoài mà chủ yếu là tiếng Anh
Trong bài viết “Englishization of business names in Brazil”, tác giả
TereseThonus (1991) đã khảo sát hiện tượng Anh hóa tên các cơ sở kinh doanh ở 05 thành phố của Brazil (Rio, Sao Paulo, Manaus, Brasilia, Recife, Porto Alegre) Ở khu vực châu Âu cũng có khá nhiều nghiên cứu đã được
triển khai N.Ross (1997) trong “Signs of international English” tập trung vào
hiện tượng Anh hóa tên cửa hàng ở Italia, đặc biệt là các trung tâm thành phố Milan McArthur (2000) qua khảo sát thực trạng ở hai thành phố châu Âu là
Zurich (Thụy Sĩ) và Uppsala (Thụy Điển) trong bài viết “Interanto: The
global language of signs”, đã khám phá ra bản chất của quá trình đa ngôn ngữ
trong việc đặt tên cửa hàng, và đưa ra kết luận là sự phổ biến của tiếng Anh
Trang 12ba quốc gia châu Âu là London và Nuneaton (Anh), Vienna, Leoben, Trieste, Pordenone (Áo); Ljubljana, Kranj (Slovenia) Griffin (2004) qua nghiên cứu
“The presence of Englishinthe streets of Rome” lại đưa ra cách tiếp cận sâu
rộng và toàn diện hơn so với các nghiên cứu trước đây, để hiểu rõ hơn mức độ phổ biến của tiếng Anh trên các đường phố của một quốc gia không nói tiếng Anh và ngữ cảnh mà nó xuất hiện Ở Bồ Đào Nha, năm 2004, Penny Stewart
và Richard Fawcett đã thực hiện khảo sát “Shop signs in some small towns in
Northern Portugal”, qua đó mô tả tần số xuất hiện của các ngôn ngữ ngoài
tiếng Bồ Đào Nha trên 271 biển hiệu cửa hàng ở sáu thị trấn nhỏ phía Tây Bắc nước này (Fermentelos, Afife, Arcos de Valdevez, Caminha, Ponte da Barca, Vila Praia de Ancora) Kết quả chỉ ra, đa số các biển hiệu cửa hàng là đơn ngữ, chủ yếu là tiếng Bồ Đào Nha, 27 biển hiệu (10%) bằng tiếng Anh, cụm từ không phải tiếng Bồ Đào Nha xuất hiện thường xuyên nhất ở sáu thị
trấn được khảo sát là snack bar Trong thế giới Ả rập, vấn đề này cũng thu hút
sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu Salch và Al-Yassin (1994) đã tiến hành khảo sát độ phổ biến của các biển hiệu cửa hàng bằng tiếng nước ngoài tại Jordan từ quan điểm xã hội học Họ tìm hiểu nguyên nhân các chủ cửa hàng lựa chọn sử dụng ngoại ngữ trên biển hiệu, đồng thời chỉ ra khả năng có những ảnh hưởng tiêu cực đến ngôn ngữ quốc gia và thái độ của thế hệ tương
Trang 137
lai Jordan đối với tiếng Ả rập và tiếng Anh Thời gian gần đây, Ahmed Jamal
Mansour (2013) qua đề tài “A sociolinguistic study of shop signs in Jordan:
Opinions and Attitudes” đã tìm hiểu ý kiến và thái độ của người dân về tình
hình sử dụng ngôn ngữ trên biển hiệu cửa hàng ở thủ đô Amman - Jordan Thực tế cho thấy, các biển hiệu trên địa bàn được khảo sát sử dụng nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, và đa số người dân có thái độ tích cực đối với việc sử dụng ngôn ngữ ngoài tiếng Ả rập trên biển hiệu cửa hàng
Ở khu vực châu Á, Mac Gregor (2003) cũng có nghiên cứu về ảnh hưởng của tiếng Anh lên các biển hiệu cửa hàng ở Tokyo - Nhật Bản, quốc gia được coi là điển hình về đơn ngữ Một nghiên cứu khác đã được thực hiện năm 2014 bởi nhóm tác giả ở Đại học Tokyo Metropolitan và Đại học Osaka
về cảnh quan ngôn ngữ ở Tokyo Kết quả cho thấy, hầu hết các biển hiệu công cộng và biển báo hướng dẫn ở Tokyo đều được viết bằng bốn thứ tiếng: Nhật, Anh, Trung, Hàn, và thường tiếng Nhật được viết đầu tiên Một số tác giả khác cũng nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng Anh trên biển hiệu ở Bangkok
- Thái Lan
Nhìn tổng quan tình hình nêu trên có thể thấy, ngôn ngữ biển hiệu nói chung và biển hiệu cửa hàng nói riêng là nội dung nghiên cứu đã và đang thu hút sự quan tâm chú ý của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước, đặc biệt là vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ và đa ngữ Từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, thái độ ngôn ngữ đối với vấn đề này cũng là một nội dung cần xem xét khi triển khai nghiên cứu ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng
1.2 Cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài
1.2.1 Cơ sở lí thuyết về cảnh quan ngôn ngữ
1.2.1.1 Khái niệm cảnh quan ngôn ngữ
Theo Backhaus, P., nghiên cứu ngôn ngữ trên các biển hiệu xuất hiện
từ thập niên 1970, song chỉ từ sau khi có bài viết mang tính khai mở của
Trang 148
Landry và Bourhis năm 1997 thì mới trở thành một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học xã hội, được sự quan tâm ngày càng nhiều từ các nhà ngôn ngữ học và nhà nghiên cứu khác trên thế giới Từ đây đánh dấu sự tập trung vào một đối tượng nghiên cứu mới: một loại văn bản viết được yết thị nơi không gian công cộng ở môi trường đô thị Là thực thể mang tính văn hóa, giống như các thực thể cấu thành cảnh quan đô thị như kiến trúc, cư dân, sinh thái, loại văn bản viết đó cũng là hợp phần của cảnh quan đô thị Nó được sinh ra
từ nhu cầu của đời sống xã hội, cũng vì thế mà nó mang bản sắc và dấu ấn văn hóa của khu vực địa lí ở từng thời điểm khác nhau Hợp phần ngôn ngữ mang bản sắc xã hội - văn hóa này được các nhà chuyên môn gọi là “cảnh quan ngôn ngữ”
Landry và Bourhis lần đầu tiên định nghĩa cảnh quan ngôn ngữ như sau: “Ngôn ngữ trên các biển báo công cộng, biển quảng cáo, tên đường phố, tên địa điểm, biển hiệu cửa hàng, biển hiệu treo trước cơ quan công quyền, tất
cả chúng tạo nên cảnh quan ngôn ngữ của một lãnh thổ, một vùng hay một đô thị nhất định” [23, tr.25] Theo từ điển Wikipédia: “Cảnh quan ngôn ngữ của một lãnh thổ được hình thành bởi ngôn ngữ của những tấm biển hiệu, biển báo giao thông công cộng, những tấm áp phích và những bản khắc khác hiện diện trong không gian công cộng Các ngôn ngữ được sử dụng truyền đạt ý nghĩa xã hội học, và là những dấu hiệu nhận dạng của một lãnh thổ […] Được sử dụng trong bối cảnh nghiên cứu ngôn ngữ, thuật ngữ này cũng có thể chỉ trạng thái (số người nói, sử dụng) các ngôn ngữ khác nhau trong một lãnh thổ nhất định”
Trong nghiên cứu về cảnh quan ngôn ngữ, ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng thường xuất hiện như một đối tượng trung tâm, là một thành phần chủ đạo tạo nên cảnh quan ngôn ngữ Cùng với việc mở rộng phạm vi và tăng cường nghiên cứu loại văn bản viết ở không gian công cộng đô thị, cho đến
Trang 159
nay, cụm từ “cảnh quan ngôn ngữ” đã trở thành thuật ngữ khá quen thuộc trong nhiều phạm vi nghiên cứu ngôn ngữ, nhất là trong địa hạt của ngôn ngữ học xã hội, đặc biệt là những nghiên cứu về đời sống ngôn ngữ đô thị Nghiên cứu cảnh quan ngôn ngữ không chỉ có ích cho bản thân nó, mà còn mở ra những vấn đề lí thú khác như: lịch sử, chính trị, xã hội học, tâm lý học, dân tộc ngôn ngữ học…
Ở Việt Nam hiện nay, “cảnh quan ngôn ngữ” vẫn còn là khái niệm tương đối mới trong ngôn ngữ học, tuy nhiên nghiên cứu cảnh quan ngôn ngữ, chủ yếu là ngôn ngữ quảng cáo và ngôn ngữ biển hiệu là những vấn đề nóng hổi đã và đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà ngôn ngữ học, đặc biệt là ngôn ngữ học xã hội, xem xét mối quan hệ tương tác ngôn ngữ - xã hội ở không gian đô thị Trước làn sóng đô thị hóa, toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ, tác động không nhỏ và làm nảy sinh nhiều vấn đề đáng lưu tâm về ngôn ngữ - văn hóa, mà có thể nói cảnh quan ngôn ngữ là môi trường hiển lộ tương đối bao quát về những hiện tượng ngôn ngữ ở đô thị Những kết quả nghiên cứu ngôn ngữ biển hiệu ở không gian đô thị Việt Nam là minh chứng hiển nhiên cho một hướng đi mới đồng hành với hoạt động nghiên cứu ngôn ngữ trên thế giới
1.2.1.2 Phân loại cảnh quan ngôn ngữ
Trong những nghiên cứu cảnh quan ngôn ngữ trên thế giới, đa phần các nhà nghiên cứu đều có chung sự nhất trí chia cảnh quan ngôn ngữ làm hai loại xếp theo phạm vi chức năng mà loại văn bản ngôn ngữ hướng đến Dựa trên
cơ sở nguồn của các loại văn bản xuất hiện ở những nơi công cộng, nhóm Ben
- Rafael [17] đã phân chia cảnh quan ngôn ngữ làm hai loại là: những biển hiệu mang tính trên xuống (top-down) hay chính thức và những biển hiệu mang tính dưới lên (bottom-up) hay phi chính thức Danh mục loại top-down bao gồm những văn bản phát sinh từ hệ thống hành chính quốc gia, những
Trang 1610
thông tin quảng cáo nơi công cộng và tên đường phố Danh mục loại
bottom-up bao gồm những văn bản phát sinh từ hoạt động cá nhân như chủ cửa hàng
và công ty, tên cửa hàng, công việc buôn bán, biển hiệu và thông tin quảng cáo của cá nhân Sự phân loại này được cụ thể hóa trong bảng dưới đây:
Top-down 1 Public institutions: religious, governmental, municipal -
cultural and educational, medical
2 Public signs of general interest
3 Public announcements
4 Signs of street names Bottom-up 1 Shop signs: e.g clothing, food, jewellery
2 Private business signs: offices, factories, agencies
3 Private announcements: “wanted” ads, sale or rentals of flats or cars
Về mức độ “chính thức” và “phi chính thức” của văn bản xuất hiện trong phạm vi cảnh quan ngôn ngữ được miêu tả giảm dần theo chiều mũi tên
từ trên xuống dưới như sau:
Trang 1711
1.2.2 Cơ sở lý thuyết về biển hiệu
1.2.2.1 Khái niệm biển hiệu
“Giao tiếp” là hai từ không còn xa lạ gì trong xã hội ngày nay, là một trong những nhu cầu quan trọng của con người Nó được đề cập rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày, trong học tập, công việc, hoạt động kinh doanh buôn bán, đặc biệt là ở không gian đô thị, nơi điển hình nhất về sự đa dạng và phức tạp của ngôn ngữ Để giao tiếp, con người chủ yếu sử dụng ngôn ngữ (nói hoặc viết) và các dấu hiệu phi ngôn ngữ phụ trợ (nét mặt, cử chỉ, trang phục…) nhằm trao đổi thông tin, tạo dựng các mối liên hệ, sự tương tác giữa các đối tượng giao tiếp Hệ thống biển hiệu - một bộ phận của cảnh quan ngôn ngữ đô thị - là một trong những kênh giao tiếp khá điển hình của đặc trưng giao tiếp đô thị nhưng ít khi được biết đến như một kiểu giao tiếp thông thường trong xã hội Kênh giao tiếp này là hệ thống các loại biển hiệu, được phân biệt về mặt chức năng trong đó bao gồm các loại như biển hiệu giao thông, biển hiệu quảng cáo, biển hiệu doanh nghiệp, hay biển hiệu công ty và biển hiệu cửa hàng Trong đó, biển hiệu cửa hàng, với tư cách là bộ phận không thể tách rời với đời sống kinh tế - văn hóa của xã hội đô thị gần đây thường dành được rất nhiều sự chú ý trong những nghiên cứu thuộc lĩnh vực ngôn ngữ, đặc biệt là địa hạt của ngôn ngữ học ứng dụng và ngôn ngữ học xã hội đô thị
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, theo các định nghĩa được cập nhật,
khái niệm “biển hiệu” dường như chưa được chỉ ra một cách rõ ràng Đặc biệt
là ngày nay, khái niệm “biển hiệu” thường được hiểu là “biển hiệu cửa hàng”,
trong khi thực sự nó chỉ có ý nghĩa là vật thể được dùng để hiển thị những nội dung thông tin có chức năng khác nhau dành cho công chúng Chính vì vậy trong ngôn ngữ mới có những cụm từ chỉ các loại biển hiệu khác nhau như
biển hiệu giao thông, biển hiệu quảng cáo, biển hiệu doanh nghiệp, biển hiệu
Trang 1812
côngty và biển hiệu cửa hàng Biển hiệu giao thông, như đã biết là loại biển
dành cho người tham gia giao thông, trên đó có những thông tin như hướng dẫn, hiệu lệnh, hay cảnh báo Biển quảng cáo, biển hiệu doanh nghiệp hay biển hiệu công ty và biển hiệu cửa hàng là các loại biển cùng nằm trong lĩnh vực hoạt động thương mại phục vụ cho hoạt động thương mại, nhưng giữa chúng có sự phân biệt với nhau về mặt chức năng
Biển hiệu quảng cáo, hay còn gọi là bảng hiệu quảng cáo đóng một vai trò quan trọng trong việc quảng bá thương hiệu Nó được coi như Bộ nhận diện thương hiệu của đơn vị kinh doanh hay cửa hàng cửa hiệu trong cách nhìn của người tiêu dùng, và được phân biệt với biển hiệu cửa hàng
Biển hiệu doanh nghiệp hay biển hiệu công ty là biểu tượng cho công
ty, là bộ mặt đại diện quảng bá thương hiệu công ty đến với khách hàng, thể hiện tinh thần đặc thù của ngành nghề kinh doanh của công ty Biển hiệu công
ty luôn phải gắn liền với bộ nhận diện của doanh nghiệp Nó có thể được định nghĩa là “một biển quảng cáo có ghi tên chính thức của công ty, doanh nghiệp
và cả địa chỉ, thông tin liên hệ treo trên cổng, tòa nhà, tầng hay phòng ban Biển tên công ty còn là hình thức thể hiện quan trọng về thương hiệu của mỗi doanh nghiệp Vì vậy, biển tên công ty sẽ được coi như một đại diện chính thức của công ty đó” [11]
Biển hiệu cửa hàng là một hợp phần quan trọng gắn liền với cơ sở kinh doanh Là một kênh giao tiếp đặc biệt, nó là cái đầu tiên mà khách hàng tiếp xúc để biết đến chủ kinh doanh và mặt hàng buôn bán Mặc dù chưa có định nghĩa rõ ràng, nhưng qua các tài liệu liên quan đến vấn đề biển hiệu trong và ngoài nước cũng có thể thấy được nội hàm cơ bản của khái niệm biển hiệu và biển hiệu cửa hàng trong sự phân biệt về mặt chức năng với những loại biển hiệu khác Tìm hiểu một số từ điển đã xuất bản và từ điển tra cứu trên mạng,
có thể dẫn một vài định nghĩa biển hiệu của nước ngoài như sau:
Trang 191 Dấu hiệu bao gồm một biểu tượng, một dòng chữ hoặc một vật thể tượng trưng cho phép chỉ báo sự có mặt của cơ sở kinh doanh tới công chúng [19]
2 Tấm biển mang một biểu tượng hoặc một dòng chữ hoặc một vật thể tượng trưng cho dấu hiệu một cơ sở [20]
3 Tấm bảng có dòng chữ, hình ảnh, biểu tượng hay bất kỳ dấu hiệu nào khác mà một thương gia, một thợ thủ công… đặt ở nhà để chỉ ra nghề nghiệp của mình [24]
- Bảng ghi tên và một vài thông tin riêng, cần thiết nhất, dùng trong quảng cáo và giao dịch [24]
Trong một số định nghĩa khác thì biển hiệu là:
- Tấm bảng mang thông tin hay dấu hiệu nào đó [25]
- Bảng, tín hiệu, nhãn hiệu, hình vẽ, chỉ dẫn mà một thương nhân, một thợ thủ công, một chủ quán… đặt tại cửa hàng, xưởng sản xuất, cơ sở của mình để quảng bá bản thân [27]
Và gần đây là định nghĩa biển hiệu nêu trong sắc lệnh của Pháp năm 2012: “Biển hiệu là một hình ảnh hay biểu tượng cho phép chỉ ra sự có mặt của doanh nghiệp đối với khách hàng Biển hiệu là hợp phần của phông kinh doanh cho phép chỉ báo sự có mặt của những điểm bán hàng thuộc cùng chủ hay cùng một nhóm Nói chung nó cho phép phân biệt cửa hàng buôn bán với nhau và có thiên hướng kêu gọi sự trung thành của khách hàng” [28]
Trang 2014
Ở Việt Nam, khái niệm biển hiệu có thể tìm thấy ở một vài tài liệu quy
định những nội dung liên quan đến hoạt động thương mại Như: Biển ghi tên
và thông tin, trong quảng cáo, giao dịch Bảng hiệu cửa hàng [12] Hoặc hiểu khái niệm trong sự so sánh tính chất biển hiệu cửa hàng và biển quảng cáo nêu tại Quy chế quản lí hoạt động quảng cáo của Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Hà Nội: “về cơ bản quảng cáo là giới thiệu nội dung, còn biển hiệu chỉ là tên cửa hàng” (Ví dụ: “Cafe Nắng Sài Gòn” là biển hiệu, còn “Cafe Nắng Sài Gòn mang lại sự sảng khoái” là quảng cáo) Dù không nêu định nghĩa, song
Nghị định 103/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng cũng đã có quy định về ngôn
ngữ sử dụng, nội dung và việc treo biển hiệu của doanh nghiệp tại điều 22, 23,
cụ thể:
Điều 22: Các hình thức biển hiệu: Việc viết, đặt, treo, dán, dựng, lắp biển hiệu, sau đây gọi chung là viết, đặt biển hiệu, tại trụ sở, nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân dưới các hình thức bảng, biển, hộp đèn, hệ thống đèn néon uốn chữ (neon sight) hoặc các hình thức khác, nhằm giới thiệu tên gọi, địa chỉ giao dịch của tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam không phải xin phép nhưng phải tuân theo những quy định tại Quy chế này
Điều 12: Mỹ quan, chữ viết, vị trí và nội dung biển hiệu
1 Mỹ quan, chữ viết biển hiệu:
a Biển hiệu phải đảm bảo mỹ quan
b Biển hiệu phải viết bằng chữ Việt Nam; trường hợp muốn thể hiện tên viết tắt, tên giao dịch quốc tế, tên, chữ nước ngoài phải ghi ở phía dưới, kích thước nhỏ hơn chữ Việt Nam
2 Vị trí biển hiệu:
Biển hiệu chỉ được viết, đặt sát cổng, hoặc mặt trước của trụ sở hoặc nơi kinh doanh của tổ chức, cá nhân; mỗi cơ quan, tổ chức chỉ được viết, đặt
Trang 2115
một biển hiệu tại cổng; tại trụ sở hoặc nơi kinh doanh độc lập với tổ chức, cá nhân khác chỉ viết, đặt một biển hiệu ngang và không quá hai biển hiệu dọc
3 Nội dung biển hiệu:
a) Tên cơ quan chủ quản trực tiếp (nếu có);
b) Tên gọi đầy đủ bằng chữ Việt Nam đúng với quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp;
c) Loại hình doanh nghiệp hoặc hợp tác xã;
d) Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh chính (đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ);
đ) Địa chỉ giao dịch, số điện thoại (nếu có);
e) Trên biển hiệu được thể hiện biểu tượng (logo) đã đăng ký với cơ quan
có thẩm quyền, diện tích logo không quá 20% diện tích biển hiệu, không được thể hiện thông tin, hình ảnh quảng bá cho bất cứ loại hàng hóa, dịch vụ nào”
Từ những định nghĩa và qui định nêu trên có thể thấy những điểm chung liên quan đến khái niệm biển hiệu:
- Biển hiệu là một loại nhãn mác, dấu hiệu, thông qua loại hình văn bản viết nhằm mục đích chỉ báo sự có mặt của một cơ sở kinh doanh nào đó
- Nó là hình thức giao tiếp đầu tiên giữa người bán và người mua Người bán nêu mặt hàng kinh doanh hoặc dịch vụ cung cấp, còn người mua đến đó để mua sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhu cầu
- Biển hiệu là dấu hiệu phân biệt giữa các chủ thể kinh doanh, do đó nó
là sở hữu độc quyền Chính vì vậy nó có thể là nguồn gốc của những tranh chấp nếu có hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp tên thương mại của các cơ sở kinh doanh
1.2.2.2 Chức năng của biển hiệu
Trong nghiên cứu ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng tại thành phố Setif (Algeria), Barouchi Mustapha đã chỉ ra hai chức năng cơ bản của biển hiệu [16, tr.20]:
Trang 2216
- Chức năng thông tin (information):
Chức năng thông tin đưa ra lý do cho công việc kinh doanh, hay có thể coi đó là tên thương mại Tên thương mại này có chức năng cá biệt hóa chủ thể kinh doanh hoặc công việc kinh doanh Ví dụ: Cà phê Giảng, Vàng bạc Thành Đạt Trong các biển hiệu này, các yếu tố đầu tiên “Cà phê”, “Vàng bạc” đề cập đến lý do kinh doanh, còn cụm từ thứ hai “Giảng”, “Thành Đạt”
có chức năng phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực
và khu vực kinh doanh Việc cá nhân hóa này có ý nghĩa cực kỳ thiết yếu đối với biển hiệu cửa hàng, đặc biệt ở các đô thị lớn luôn chứa đựng sự cạnh tranh
thương nghiệp
- Chức năng phô trương (ostentation):
Bên cạnh chức năng thông tin, chức năng phô trương (hiển thị nhằm gây ấn tượng) cũng đóng vai trò quan trọng đối với biển hiệu thương mại nói chung, biển hiệu cửa hàng nói riêng Với tư cách là kênh giao tiếp đầu tiên giữa người bán với người mua, có mục đích hướng tới, thu hút sự chú ý của lượng khách hàng tiềm năng, biển hiệu sử dụng nhiều yếu tố khác nhau để tạo
ấn tượng Chẳng hạn: dùng cường độ ánh sáng mạnh, đèn nhấp nháy, dùng hình ảnh, cách phối màu sắc bắt mắt cho biển hiệu, nhằm mời gọi và thu hút
sự chú ý của công chúng, khiến họ nảy sinh nhu cầu đọc các thông tin trên biển hiệu, từ đó có thể dẫn đến nhu cầu xem xét, mua sản phẩm hay dịch vụ
mà cơ sở đó cung cấp Chức năng này đôi khi lấn át chức năng thông tin, làm cho chức năng thông tin trong nhiều trường hợp trở nên ít quan trọng hơn, và biển hiệu trở thành một phương tiện quảng cáo trái với vai trò ban đầu của nó
là thông tin Đây cũng chính là lý do để Bernard P và Verdier H cho biển hiệu “là phương tiện quảng cáo […] miễn là nó được hình thành bởi trí thông minh và hương vị, góp phần vào sự sáng chói về đêm của các thành phố lớn […]” [15, tr.20]
Trang 2317
Thực tế thì biển hiệu cửa hàng không chỉ đơn giản là một kiểu giao tiếp truyền thông tin từ người phát sang người nhận, mà nó còn có những mục đích văn hóa khác Bởi việc lựa chọn sử dụng ngôn ngữ ở bình diện từ vựng,
cú pháp hay các yếu tố phụ trợ như màu sắc, hình ảnh, logo… khiến biển hiệu trở thành một sản phẩm đặc biệt nếu không muốn nói đó là một sản phẩm quảng cáo Xét cho cùng thì biển quảng cáo cũng như biển hiệu cửa hàng, khi
sử dụng các phương tiện biểu đạt (ngôn ngữ, màu sắc, hình ảnh…) đều nhằm một mục đích cuối cùng là tăng cường quảng bá cho hoạt động thương mại của cửa hàng, công ty hay doanh nghiệp của mình
1.2.2.3 Cấu tạo chung của một biển hiệu
Một biển hiệu đầy đủ và tiêu chuẩn thông thường gồm bốn thành phần: Thông tin loại hình cửa hiệu, tên hiệu, thông tin nội dung, thông tin địa chỉ
- Thông tin loại hình cửa hiệu:
Thông tin loại hình chỉ ra hình thức hoạt động, loại hình kinh doanh của cơ sở đó, ví dụ: đại lý, công ty, quán, cửa hàng, shop…
- Tên hiệu:
Tên hiệu là thông tin nổi bật, đáng chú ý và thiết yếu trên biển hiệu một cửa hàng Nó sẽ là thông tin mà khách hàng lưu tâm và ghi nhớ nhất Đây là một cái tên được cá nhân chủ thể kinh doanh đặt và là bộ mặt đại diện cho cơ
sở kinh doanh đó
- Nội dung thông tin biển hiệu:
Đây là phần nêu thông tin chi tiết nhằm giới thiệu để khách hàng hiểu
rõ về sản phầm hay dịch vụ mà cửa hiệu cung cấp Ví du: Đại Thành: chuyên
sản xuất các mặt hàng tôn hoa - inox (51 Hàng Thiếc)
- Thông tin liên hệ:
Phần này cung cấp thông tin về địa chỉ (số nhà, tên đường phố, quận…)
và cách thức liên lạc (số điện thoại, địa chỉ mail, fax, trang web…) Tuy
Trang 2418
không nổi bật, thường được viết dưới cùng nhưng đây lại là thông tin rất quan trọng, không thể thiếu của một biển hiệu Có thể bắt gặp nhiều biển hiệu khuyết phần thông tin loại hình hoặc nội dung chi tiết về sản phẩm, dịch vụ, nhưng hiếm khi thấy được biển hiệu thiếu phần thông tin liên hệ, trừ những biển hiệu tối giản hoặc ở một vài hàng quán vỉa hè
Ngoài ra, trên biển hiệu còn có một số thành phần bổ trợ như hình ảnh, logo Các hình ảnh in kèm trên biển hiệu, bên cạnh phần nội dung được thể hiện bằng chữ viết cũng giữ vai trò nhất định Chúng cung cấp cái nhìn trực quan, giúp công chúng dễ dàng hình dung về sản phẩm hay dịch vụ của cửa hàng, hơn nữa còn góp phần khiến biển hiệu bắt mắt, sinh động, gây ấn tượng với khách hàng Ví dụ: cửa hàng đồng hồ có hình đồng hồ cách điệu, cửa hàng đồ trẻ em in nhiều hình ảnh đồ chơi đẹp mắt, cửa hàng bán đồ ăn in nhiều món ăn bốc hơi nóng hổi… Tuy nhiên, phạm vi của đề tài chỉ nghiên cứu khảo sát phần ngôn ngữ chữ viết trên biển hiệu cửa hàng mà không đề cập đến các yếu tố khác ngoài ngôn ngữ
1.2.3 Một số vấn đề về thái độ ngôn ngữ
1.2.3.1 Khái niệm thái độ ngôn ngữ
Từ điển tiếng Việt trực tuyến Soha nêu định nghĩa “thái độ” như sau: (1) Tổng thể nói chung những biểu hiện của ý nghĩ, tình cảm được thể hiện ra bên ngoài qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động trước một đối tượng, một sự việc nào đó
(2) Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề hay một tình hình cụ thể
“Thái độ ngôn ngữ” (language attitude) phân biệt với thái độ nói chung
ở chỗ nó thuộc về ngôn ngữ Thái độ ngôn ngữ có thể được hiểu là “sự đánh giá về giá trị khuynh hướng hành vi của một cộng đồng hay cá nhân đối với một ngôn ngữ hoặc một hiện tượng ngôn ngữ nào đó” [2, tr.74] Theo quan
Trang 2519
điểm của một số nhà nghiên cứu, có thể chia thái độ ngôn ngữ làm hai loại dựa trên cách nhìn phân biệt tương tự như cách mà F.de Saussure phân biệt khái niệm ngôn ngữ/lời nói (langue/parole) như sau:
- Một là attitudes linguistiques, trong đó thái độ ngôn ngữ được xem như sự phản ứng về mặt tâm lí của người sử dụng đối với ngôn ngữ/việc sử dụng ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống ký hiệu tồn tại trong quần thể/xã hội Ví dụ, điều tra phân tầng xã hội về việc sử dụng tiếng Pháp ở Algérie hay những vùng nói tiếng Pháp ở Canada cho thấy sự khác biệt khá rõ về vai trò của ngôn ngữ này ở hai quốc gia mà tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức
- Hai là attitudes langagières, trong đó thái độ ngôn ngữ là phản ứng tâm
lí của người sử dụng đối với các biến thể/hiện tượng ngôn ngữ thực tế Chẳng hạn, nghiên cứu “Thái độ ngôn ngữ đối với những hiện tượng biến đổi trong tiếng Việt trên mạng Internet hiện nay” của Trịnh Cẩm Lan [4] thể hiện thái độ
đa chiều của cộng đồng mạng đối với các hiện tượng biến đổi ngôn ngữ trên Internet như biến đổi ngữ âm, hiện tượng trộn mã và sử dụng tiếng lóng
Từ góc độ này, đã có nhiều định nghĩa khái niệm “thái độ ngôn ngữ” được các nhà khoa học đưa ra Trong từ điển của Dubois và các cộng sự năm
2007 có nêu: “Thái độ ngôn ngữ (attitudes langagières) là tập hợp những ý kiến rõ ràng hay không rõ ràng về sự sử dụng một ngôn ngữ" [21] Hernandez-Compoy lại coi thái độ ngôn ngữ là “sự phản hồi của trí não có tính cảm xúc mang tính võ đoán và chủ quan của những thành viên trong một
xã hội đối với các ngôn ngữ và các biến thể thuộc môi trường xã hội của họ” [22] Xuất phát từ quan điểm cho rằng giữa thái độ ngôn ngữ và ứng xử ngôn ngữ có mối quan hệ cộng sinh, Henri Boyer cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hình ảnh ngôn ngữ và sự lựa chọn sử dụng ngôn ngữ trong thực tế của đời sống xã hội Khái niệm “hình ảnh ngôn ngữ” ở đây là toàn bộ những vấn
đề nghiên cứu của ngôn ngữ học đương đại như: miêu tả các ngôn ngữ, miêu
Trang 2620
tả ngữ điệu hay biến thể phương ngữ; các nghiên cứu trong ngôn ngữ học đại cương, ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học lịch sử; và gần đây là sự phát triển của hướng nghiên cứu khoa học liên ngành để lý giải những vấn đề về ngôn ngữ dưới mọi góc độ
Thái độ ngôn ngữ có thể gồm nhiều khía cạnh nghiên cứu như: Thái độ đối với vấn đề đa ngữ, đa thể ngữ; thái độ ngôn ngữ đối với ngôn ngữ dân tộc thiểu số, thái độ đối với việc học ngôn ngữ thứ hai, thái độ đối với ngôn ngữ quốc gia hướng tới việc thực thi chính sách và kế hoạch hóa ngôn ngữ, thái độ ngôn ngữ đối với người nói một ngôn ngữ hay phương ngữ nào đó, thái độ hướng tới người nói hoặc bản thân những biến thể ngôn ngữ trong các phạm
vi, lĩnh vực khác nhau… Do đó, thái độ ngôn ngữ trở thành một nội dung quan trọng cơ bản của ngôn ngữ học xã hội chính từ những bình diện nghiên cứu đa dạng, phong phú nêu trên
1.2.3.2 Các nhân tố hình thành thái độ ngôn ngữ
Thái độ ngôn ngữ được hình thành và chịu ảnh hưởng từ rất nhiều nhân
tố con người - xã hội Theo Nguyễn Văn Khang, thái độ ngôn ngữ là “kết quả tổng hợp của các nhân tố như địa vị xã hội, bối cảnh văn hóa, quan hệ xã hội,
sự phát triển kinh tế, giáo dục, số lượng nhân khẩu, tuổi tác, giới, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, sự phát triển của bản thân ngôn ngữ” [3, tr.85] Chẳng hạn:
- Địa vị xã hội: Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế khác nhau sẽ dẫn đến sự khác biệt về địa vị xã hội và do đó tạo nên sự khác nhau về thái độ ngôn ngữ
- Kinh tế: Mối quan hệ kinh tế giữa dân tộc này với dân tộc khác, nhu cầu của sự phát triển kinh tế, lợi ích kinh tế của dân tộc có tác động, làm thay đổi thái độ ngôn ngữ
Trang 2721
- Dân số: Ở những khu vực cộng cư, dân tộc nào có dân số đông hơn thì ngôn ngữ dân tộc đó thường chiếm ưu thế trong sử dụng và thái độ của dân cư nơi đó là đồng tình với chức năng ưu thế của ngôn ngữ này
- Tuổi tác: Giới trẻ dễ thay đổi thái độ ngôn ngữ do có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp xúc với cái mới, dễ thích nghi với sự thay đổi quan niệm giá trị trong xã hội Ngược lại, người lớn tuổi thường thận trọng, có khi còn bảo thủ, khó chấp nhận những giá trị, quan niệm xã hội mới dẫn đến khó thay đổi thái độ đối với ngôn ngữ
- Giới tính: Thái độ ngôn ngữ của nam giới và nữ giới cũng có những
sự khác nhau Nữ giới thường có xu hướng bảo thủ hơn so với nam giới trong việc thay đổi thái độ trung thành đối với ngôn ngữ Mẫn cảm của nữ giới mạnh hơn nam giới
- Nghề nghiệp: Thái độ ngôn ngữ của con người thường là cố gắng theo ngôn ngữ mà yêu cầu mưu sinh đòi hỏi
- Trình độ văn hóa: Người có trình độ văn hóa cao có nhu cầu giao tiếp rộng hơn người có trình độ văn hóa thấp Do vậy, chỉ có ngôn ngữ giao tiếp chung ở phạm vi rộng mới có thể đáp ứng được nhu cầu giao tiếp này Điều này dẫn đến thái độ ngôn ngữ của người có trình độ văn hóa cao đối với ngôn ngữ giao tiếp chung là khẳng định hơn so với thái độ ngôn ngữ của người có trình độ văn hóa thấp
- Sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn cũng tạo nên thái độ khác nhau đối với ngôn ngữ Xã hội nông thôn có quy mô nhỏ, khép kín, quan hệ chủ yếu
là gia đình, dòng tộc, xã hội thành thị có quy mô rộng lớn hơn, lại hội tụ các thành viên từ các cộng đồng khác nhau Do đó, thái độ trung thành ngôn ngữ của những người ở xã hội nông thôn thường đậm nét và có xu hướng bền vững hơn
so với ở thành thị
- Đặc điểm bản thể của ngôn ngữ như: sự phong phú của từ vựng, tính mạch lạc của ngữ pháp, hệ thống văn tự… cũng ảnh hưởng nhất định đến thái
Trang 2822
độ đối với ngôn ngữ đó, bởi chúng có sự liên quan chặt chẽ tới hiệu quả giao tiếp trên thực tế
1.2.3.3 Phân loại thái độ ngôn ngữ
Thái độ ngôn ngữ về cơ bản được các nhà nghiên cứu chia làm ba loại chính: thái độ trung thành ngôn ngữ, thái độ tự ti về ngôn ngữ và thái độ kì thị
ngôn ngữ
a, Thái độ trung thành ngôn ngữ
Sự trung thành đối với ngôn ngữ dân tộc thường là hiện tượng phổ biến, tự nhiên, bởi lẽ ngôn ngữ là công cụ gắn bó tình cảm giữa con người với con người trong giao tiếp của một dân tộc, một quốc gia, bao hàm trong đó lịch sử văn hóa, thế giới quan của dân tộc Nói như Nguyễn Văn Khang: “Đây
là cái lẽ giải thích vì sao khi người ta giao tiếp bằng ngôn ngữ của dân tộc mình thì lại cảm thấy thân thiết: giao tiếp giữa các thành viên trong gia đình, trong làng xóm bẳng tiếng dân tộc, tiếng quê hương; những câu chuyện cũ nhắc lại giữa những người thân gặp lại, những câu chuyện tâm tình, trút bầu tâm sự nói chung đều sử dụng tiếng dân tộc, tiếng quê hương” [3, tr.89]
Việc sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình nhiều khi trở thành một áp lực cộng đồng Những người có xu hướng không trung thành với ngôn ngữ dân tộc thường vấp phải sự lãnh đạm của cộng đồng Có thể thấy rõ minh chứng điều này qua thái độ phản cảm của người bản xứ đối với những ai sinh sống ở nước ngoài trở về không nói được tiếng dân tộc mình, xa quê lâu ngày trở về không nói được tiếng địa phương, hoặc những người dân tộc thiểu số ra thành phố dần quên tiếng mẹ đẻ
Thiên kiến ưu việt đối với ngôn ngữ dân tộc mình là một hệ quả tất yếu của sự trung thành ngôn ngữ Đó là việc coi trọng, đề cao giá trị tiếng dân tộc, quốc gia mình, coi nó là ngôn ngữ chuẩn mực, logic hơn các ngôn ngữ khác Điều này dẫn đến việc các dân tộc, quốc gia đều cố gắng bảo vệ tính thuần khiết, giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc
Trang 2923
b, Thái độ tự ti ngôn ngữ
Thái độ tự ti ngôn ngữ “thường xuất hiện trong sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ/ phương ngữ có số lượng người sử dụng ít, lịch sử không dài, ít ưu thế với một ngôn ngữ/ phương ngữ có số lượng người sử dụng lớn, lịch sử lâu đời
và có ưu thế” [4, tr.86] Bên cạnh đó, thái độ này còn xuất hiện trong nhiều hoàn cảnh, điều kiện khác nhau Theo Nguyễn Văn Khang [3, tr.92], đó là:
- Thái độ tự ti ngôn ngữ thể hiện rõ ở các quốc gia, dân tộc khi chưa giành được độc lập: một số chính quyền bù nhìn, thân đế quốc đã lấy hình ảnh nước đế quốc làm mẫu quốc và coi ngôn ngữ của thống trị ngoại bang sử dụng là “mẫu ngữ” và sẵn sàng từ bỏ đồng thời bắt người dân phải từ bỏ ngôn ngữ của Tổ quốc dân tộc mình
Tuy nhiên, không phải tất cả những thái độ tự ti về ngôn ngữ đều dẫn đến việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ của mình Trong rất nhiều trường hợp, do trình độ văn hóa, đời sống kinh tế - chính trị thuộc về cộng đồng nói ngôn ngữ thứ hai cao hơn cộng đồng bản ngữ nên người nói đã cố gắng sử dụng ngôn ngữ thứ hai chỉ cốt để thay đổi tình trạng đối xử bất bình đẳng này thôi
- Sự tự ti ngôn ngữ nhiều khi xuất phát từ lý do mưu sinh Ở Việt Nam, tại một số vùng dân tộc thiểu số, vì mưu sinh, thuận lợi cho phát triển tương lai về sau, một số gia đình đã chủ động cho con học tiếng Việt từ bé, trong gia đình chỉ sử dụng tiếng Việt để tăng cường khả năng giao tiếp tiếng Việt cho các em
- Có khi thái độ này lại hình thành từ áp lực của quan điểm chính thống, hay chính sách ngôn ngữ Ở Nhật Bản chỉ sử dụng tiếng Nhật và tiếng Nhật chuẩn hóa dựa trên cơ sở tiếng Tokyo Trong quá trình chuẩn hóa tiếng Nhật, chính phủ Nhật Bản làm cho người dân tự nhận thức và ủng hộ tiếng Tokyo chuẩn mực bằng cách xã hội tạo ra cảm giác nói tiếng địa phương là đáng xấu hổ
Trang 3024
c, Thái độ kì thị đối với ngôn ngữ
Hiện tượng phân biệt đối xử do thành kiến trong ứng xử đối với ngôn ngữ được gọi là thái độ kì thị ngôn ngữ Điều này có nghĩa là đề cao, coi trọng ngôn ngữ dân tộc mình, cộng đồng mình, tìm cách mở rộng chức năng, tạo mọi điều kiện cho nó phát triển; đồng thời xem thường, thậm chí bài xích, tẩy chay, hạn chế chức năng giao tiếp của ngôn ngữ dân tộc khác, từ đó có thể dẫn đến nguy cơ tiêu vong ngôn ngữ
Thái độ kì thị ngôn ngữ được thể hiện qua nhiều phương diện như:
- Chủ nghĩa dân tộc nhằm vào mục đích phi ngôn ngữ, trong đó ngôn ngữ trở thành phương tiện để thực hiện đồng hóa dân tộc, mà đồng hóa ngôn ngữ là một nội dung quan trọng Theo chân gót giày xâm lược, ngôn ngữ của dân tộc xâm chiếm, đô hộ trở thành công cụ thực thi chính sách đồng hóa đối với người dân bản địa
- Sự đề cao thái quá ngôn ngữ của dân tộc, quốc gia mình Hoặc trong phạm vi nội bộ một quốc gia là thái độ đề cao vai trò độc tôn của ngôn ngữ/phương ngữ chính thức; làm giảm uy tín của các ngôn ngữ/phương ngữ còn lại Hậu quả của chính sách này tạo nên sự bất bình đẳng về ngôn ngữ, dẫn đến sự suy yếu hoặc diệt vong của các ngôn ngữ/phương ngữ yếu
- Sự bế quan tỏa cảng ngôn ngữ, bài xích ngôn ngữ nước ngoài, cấm du nhập yếu tố nước ngoài vào ngôn ngữ dân tộc mình
1.3 Tiểu kết chương 1
Chương 1 đã trình bày những nội dung lý thuyết cơ bản về cảnh quan ngôn ngữ, biển hiệu cửa hàng và thái độ ngôn ngữ Cảnh quan ngôn ngữ là khái niệm học thuật tương đối mới, từ sau khi có bài viết mang tính khai mở của Landry và Bourhis năm 1997 đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học xã hội, thu hút sự quan tâm ngày càng nhiều từ các nhà ngôn ngữ học và nhà nghiên cứu khác trên thế giới cũng như ở Việt Nam Về lý
Trang 31Chương 1 cũng nêu một số vấn đề về thái độ ngôn ngữ như khái niệm thái độ ngôn ngữ, các nhân tố hình thành thái độ ngôn ngữ và phân loại thái
độ ngôn ngữ Thái độ ngôn ngữ được hình thành từ nhiều nhân tố, gồm: tuổi tác, giới, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, địa vị xã hội, quan hệ xã hội, bối cảnh văn hóa, quan hệ xã hội, sự phát triển kinh tế, giáo dục, số lượng nhân khẩu, sự khác biệt thành thị - nông thôn, sự phát triển của bản thân ngôn ngữ
Với những nội dung nêu trên, chương 1 sẽ tạo tiền đề, cơ sở lý thuyết cho việc nghiên cứu, khảo sát thực trạng ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng, tìm hiểu thái độ người dân ở các chương sau và là căn cứ để đề xuất một số giải pháp góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Trang 3226
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ BIỂN HIỆU
TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG HÀNG ĐÀO, HÀNG GAI
2.1 Các xu hướng nghiên cứu ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng
Là một bộ phận quan trọng của cảnh quan ngôn ngữ, biển hiệu cửa hàng (BHCH) được coi như nguồn tư liệu chứa đựng nhiều vấn đề của ngôn ngữ và đời sống xã hội, và về cơ bản thường được xem xét nghiên cứu từ hai cách tiếp cận Đó là ngôn ngữ học ứng dụng và ngôn ngữ học xã hội, mà chính xác hơn là ngôn ngữ học xã hội đô thị Đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này, trong đó có một số lượng lớn những đề tài và ấn phẩm đã xuất bản về ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng mang tính đổi mới trong lí thuyết liên quan đến nhiều vấn đề như đa ngữ, văn học, chính sách ngôn ngữ, tính đa dạng của ngôn ngữ, chuẩn hóa ngôn ngữ, ngôn ngữ dân tộc…
2.1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng từ cách tiếp cận của ngôn ngữ học xã hội
Với đặc điểm là nơi hội tụ của các luồng di dân, đồng thời cũng là điểm hội tụ của các ngôn ngữ và phương ngữ, vì thế ở đô thị đồng tồn mối quan hệ phức tạp giữa các yếu tố, như L.J.Calvet [18] đã nhận định, thành phố vừa là nơi thống nhất vừa là nơi diễn ra các xung đột ngôn ngữ, là môi trường có sự hòa trộn và cùng tồn tại của các ngôn ngữ Là một hình thức giao tiếp đặc biệt
ở đô thị dưới dạng văn bản viết, BHCH mang trong mình những minh chứng
rõ ràng nhất về tính chất phức tạp này Các nghiên cứu về đề tài BHCH theo hướng tiếp cận của ngôn ngữ học xã hội thường đi vào xem xét hai nội dung chủ yếu: một là hiện tượng đa ngữ thông qua BHCH, hai là nghiên cứu khảo sát thái độ người dân đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong phạm vi này
Các nhà nghiên cứu phân định hai trạng thái đa ngữ Thứ nhất là đa ngữ
xã hội, mà thông qua nghiên cứu BHCH ta có thể thấy được danh sách các
Trang 3327
ngôn ngữ đang hành chức tại địa phương, đồng thời hiểu được thực trạng mối quan hệ giữa các ngôn ngữ Thứ hai là trạng thái đa ngữ ở xã hội đơn ngữ trong đó ngôn ngữ được sử dụng lại phản ánh sự hướng tới đa ngữ, hệ quả của quá trình toàn cầu hóa, giao lưu văn hóa - kinh tế - xã hội
a, Nghiên cứu BHCH ở xã hội đa ngữ
Xã hội đa ngữ là một xã hội (hoặc một khu vực/quốc gia/cộng đồng…)
sử dụng từ hai ngôn ngữ trở lên để giao tiếp Nghiên cứu BHCH ở những xã hội như vậy thường đặt ra vấn đề phân tích, lí giải thực trạng các mối quan hệ giữa ngôn ngữ và cảnh huống chính trị - xã hội như hiện tượng di dân, sự thay đổi chế độ hay chính sách ngôn ngữ… Xem xét các tài liệu nghiên cứu đã được công bố có thể thấy, nội dung thường được đề cập chính là khảo sát thực trạng ngôn ngữ BHCH, qua đó phân tích vai trò, vị thế và uy tín của các ngôn ngữ, để nêu bật được ảnh hưởng có tính bao trùm rộng rãi của tiếng Anh ở các
xã hội đa ngữ Hình ảnh của tiếng Anh ở các xã hội khác nhau xuất hiện không giống nhau Có khi nó là ngôn ngữ phản ánh dấu vết của quá trình lịch
sử của quốc gia, khu vực nào đó với tư cách là ngôn ngữ chính thức, hoặc là ngôn ngữ thứ hai Cũng có khi tiếng Anh lại là kết quả tất yếu của hiện tượng giao thoa văn hóa Có nghiên cứu lại cho thấy, tiếng Anh bị coi là mối đe dọa
vị thế của các ngôn ngữ khác trong bối cảnh đa ngữ, nơi tồn tại nhiều ngôn ngữ có cùng địa vị Một nghiên cứu điển hình phản ánh quá trình thuộc địa dẫn đến hệ quả tiếng Anh trở thành một trong những ngôn ngữ chính thức ở Hồng Kông sau hơn 100 năm là thuộc địa của Anh, đó là “English in the Linguistic Landscape of Hong Kong: A case study of shop signs in linguistic competence” (Tiếng Anh trong cảnh quan ngôn ngữ ở Hồng Kông: nghiên cứu trường hợp biển hiệu cửa hàng và năng lực ngôn ngữ) của Anna Magdalena Finzel năm 2012 Kết quả nghiên cứu của Ahmad Jamal Mansour năm 2013 về ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng ở Jordan và thái độ người dân đối
Trang 3428
với việc sử dụng ngôn ngữ này, đã cho thấy “Trong một xã hội đa ngữ như Jordan, ngoài tiếng Ả rập vừa là tiếng mẹ đẻ, vừa là ngôn ngữ chính thức của người dân Jordan, còn có nhiều ngoại ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ý Tuy nhiên, tiếng Anh vẫn được coi là ngoại ngữ uy tín hàng đầu, đặc biệt là trong giáo dục và thương mại” [6, tr.61] Số liệu khảo sát trong nghiên cứu chỉ ra: 55% biển hiệu cửa hàng ở Jordan có sử dụng ngoại ngữ, trong đó đại đa số là tiếng Anh; 55% ý kiến người dân bản địa về vấn đề này cho rằng tên biển hiệu bằng tiếng nước ngoài có uy tín hơn tên bằng tiếng Ả rập
Từ hướng tiếp cận của ngôn ngữ học xã hội, một số nghiên cứu khảo sát BHCH ở xã hội đa ngữ không những cho biết sự hiện diện của các ngôn ngữ trong một cộng đồng/xã hội, mà qua đó còn hiểu được chính sách ngôn ngữ sở tại qua việc điều tiết sử dụng ngôn ngữ ở một quốc gia hay khu vực nào đó Đây là vấn đề khá phức tạp, trong một số trường hợp thậm chí hết sức nhạy cảm Thực tế chứng minh ngay cả khi một chính sách ngôn ngữ được thực thi tích cực không phải lúc nào cũng có thể giải quyết được vấn đề này Bởi bản thân việc sử dụng ngôn ngữ hàm chứa tình cảm, con người khó có thể
áp đặt quyền lực nếu ý thức của người sử dụng không muốn BHCH còn có thể cho thấy sức sống của một hoặc một vài ngôn ngữ trong một lãnh thổ nhất định Tuy nhiên, thực tế này không phải bao giờ cũng đúng Nhiều nghiên cứu chỉ ra, sự hiện diện thường xuyên của một ngôn ngữ trên BHCH ở một khu vực không đại diện cho sức sống của nó trong khu vực đó Chẳng hạn, đến Nha Trang và Hạ Long chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều biển hiệu sử dụng hoàn toàn tiếng Nga hay tiếng Trung, đặc biệt tập trung ở một số khu phố có khách du lịch thường xuyên qua lại Song, hiện tượng đó chỉ là hệ quả của quá trình kinh tế, với mục đích phục vụ du lịch Sự có mặt với mật độ cao của tiếng Nga và tiếng Trung trên biển hiệu ở hai thành phố này không phản ánh
Trang 3529
bản chất đa ngữ của một xã hội đa ngữ Nghĩa là, hai ngoại ngữ nêu trên chỉ được sử dụng lâm thời vì mục đích thương mại, chứ không phải là các ngôn ngữ được sử dụng để giao tiếp thường xuyên trên địa bàn khảo sát
b, Nghiên cứu BHCH ở xã hội đơn ngữ
Từ góc độ của ngôn ngữ học xã hội, đa số nghiên cứu BHCH ở xã hội đơn ngữ có xu hướng tập trung vào việc phân tích các quá trình đa ngữ trong môi trường cảnh quan ngôn ngữ và chỉ ra mức độ ảnh hưởng của ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh thông qua bối cảnh xã hội - ngôn ngữ của địa phương
Là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất thế giới, vai trò của tiếng Anh ngày nay là không thể phủ nhận Theo thống kê có hơn 50 quốc gia coi tiếng Anh
là ngôn ngữ chính thức, khoảng 2 tỷ người đang nói và học tiếng Anh trên toàn cầu, đồng thời là ngôn ngữ được sử dụng trong ngoại giao, thương mại, giao lưu văn hóa quốc tế Sự phổ biến của tiếng Anh khiến nó không còn đơn thuần là ngoại ngữ, mà có nhà nghiên cứu đã đề xuất nên coi tiếng Anh là
“ngôn ngữ phi ngoại ngữ” Những nghiên cứu về đa ngữ trên BHCH “không chỉ nhấn mạnh vai trò toàn cầu của tiếng Anh mà còn cho thấy rõ ràng hơn những vấn đề về hội nhập ở các xã hội đơn ngữ qua các mặt kinh tế, văn hóa,
xã hội trong quá trình toàn cầu hóa, trong đó sử dụng ngoại ngữ là một thông
số chỉ dẫn quan trọng” [6, tr.64]
Hầu hết kết quả nghiên cứu theo hướng tiếp cận này cho thấy, sự ảnh hưởng của tiếng Anh là tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhưng cũng vì thế mà đặt ra nhiều vấn đề đáng lưu tâm, đó là sự mai một dần về văn hóa, tính thuần khiết của ngôn ngữ dân tộc, hiện tượng lạm dụng ngoại ngữ vì lí do kinh tế, những ảnh hưởng tiêu cực có thể tác động đến thế hệ tương lai… Nhật Bản là quốc gia điển hình cho một xã hội truyền thống đơn ngữ, với tư tưởng luôn ghi nhớ tầm quan trọng của tiếng Nhật trong việc đặt tên doanh nghiệp, nhưng nghiên cứu so sánh đa ngữ của Backhaus [15] trên biển hiệu ở
Trang 3630
Tokyo cho thấy đã có sự thay đổi lớn ở quốc gia này Theo tác giả, tiếng Anh đang hiện diện ngày một nhiều hơn trên biển hiệu ở Tokyo chứng tỏ vị thế đáng tin cậy của tiếng Anh ở đây, và nó đã trở thành một phần của cuộc sống hàng ngày ở Nhật Bản Thái Lan cũng cho thấy dấu ấn rõ ràng về hiện tượng
đa ngữ hóa qua chứng minh của Huebner về sự đa ngữ hoàn toàn trên những đường phố ở Bangkok Ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu ngôn ngữ - văn hóa Đại học Đà Nẵng năm 2012 đã tiến hành khảo sát thực trạng sử dụng ngoại ngữ trên biển hiệu theo phân nhóm ngành nghề ở Đà Nẵng qua nghiên cứu
Hiện tượng đa ngôn ngữ trong đời sống đô thị Việt Nam thời hội nhập - khảo sát trường hợp các biển hiệu quảng cáo đa ngôn ngữ trên đường phố Đà Nẵng Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định hai vấn đề: thứ nhất, đa ngữ
là xu thế tất yếu của đô thị đương đại toàn cầu, thứ hai, ngoại ngữ tuy là nhân
tố tích cực trong quá trình phát triển kinh tế, song không vì thế mà lạm dụng
nó Trên quan điểm ủng hộ về mặt nguyên tắc với hiện tượng đa ngôn ngữ ở
Đà Nẵng hiện nay, nhóm tác giả cho rằng, vấn đề không phải ngăn cấm việc
sử dụng ngoại ngữ trên các biển hiệu mà phải biết dung hợp các yếu tố ngoại ngữ, sử dụng chính xác và có hiệu quả
2.1.2 Nghiên cứu ngôn ngữ BHCH từ cách tiếp cận của ngôn ngữ học ứng dụng
Ngôn ngữ học ứng dụng là một nhánh của ngành ngôn ngữ học, tập trung vào việc xác định, điều tra, cung cấp giải pháp cho các vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ trong thực tiễn cuộc sống Từ góc nhìn của ngôn ngữ học ứng dụng, đa phần các nghiên cứu đều đi vào khảo sát thực trạng sử dụng ngôn ngữ ở một loại văn bản cụ thể nào đó trong hệ thống cảnh quan ngôn ngữ, như biển hiệu cửa hàng, biển quảng cáo, biển chỉ dẫn… Từ đó các nhà nghiên cứu tiến hành các bước phân tích ngôn ngữ học như tìm ra đặc điểm
về mặt từ vựng, phân tích cú pháp hay hình thái cú pháp được thể hiện, phân
Trang 3731
tích đặc điểm cấu trúc thông tin của loại văn bản viết, hoặc chỉ ra những vấn
đề về chính tả và chữ viết được sử dụng trong tương quan giữa hình thức biểu hiện với nội dung thông điệp mà văn bản muốn truyền tải
Ở Việt Nam, các nghiên cứu chủ yếu là tìm hiểu thực trạng sử dụng ngôn ngữ biển quảng cáo và BHCH bằng việc phân tích đặc trưng ngôn ngữ (nội dung, hình thức) của diễn ngôn biển hiệu quảng cáo, BHCH và biển hiệu thương mại qua cách tiếp cận phân tích của kí hiệu học để thấy rõ được thực trạng cũng như xu hướng sử dụng ngôn ngữ trên các loại văn bản nêu trên
2.2 Kết quả khảo sát ngôn ngữ biển hiệu cửa hàng trên địa bàn hai phường Hàng Đào, Hàng Gai - quận Hoàn Kiếm
2.2.1 Vài nét về địa bàn khảo sát
a Về địa giới hành chính:
Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội, sát bờ Nam sông Hồng Phía Bắc và Tây Bắc giáp quận Ba Đình, phía Nam giáp quận Hai Bà Trưng, phía Đông giáp sông Hồng, phía Tây giáp quận Ba Đình và Đống Đa
Do sự hình thành các khu vực theo từng giai đoạn nên quận Hoàn Kiếm được phân chia thành 3 khu vực:
Khu phố cổ gồm các phường: Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Đào, Cửa Đông, Hàng Buồm, Hàng Mã, Hàng Gai, Đồng Xuân và một phần của 2 phường Lý Thái Tổ và Hàng Bông Các công trình chủ yếu là nhà ở kết hợp với cửa hàng, mật độ xây dựng cao, đường giao thông nhỏ và ngắn
Khu phố cũ gồm các phường Cửa Nam, Trần Hưng Đạo, Phan Chu Trinh, Tràng Tiền, Lý Thái Tổ, Hàng Bông, Hàng Trống, Hàng Bài Nhiều loại công trình như nhà ở, biệt thự, công sở, nhà hát, cửa hàng, khách sạn, bảo tàng, thư viện với những kiến trúc đẹp mắt
Khu ngoài đê gồm 2 phường Phúc Tân và Chương Dương
Trang 3832
Trước đây, vùng đất Hoàn Kiếm là ngã ba sông, nơi dòng sông Tô Lịch tách từ sông Nhị từ phường Giang Khẩu rồi chảy qua các phố phường Hoàn Kiếm là đầu mối giao lưu với “tứ trấn” và cũng là điểm hội tụ nhân tài bách nghệ bốn phương
Hai phường Hàng Đào, Hàng Gai - phạm vi khảo sát của luận văn đều thuộc Khu phố cổ của quận Hoàn Kiếm Về địa bàn cụ thể:
(1) Phường Hàng Gai: có diện tích 0,09 km2; dân số 1.499 hộ = 4.982 nhân khẩu (số liệu tháng 1/2018); bao gồm 11 tuyến phố, ngõ:
Trang 39b Về đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội:
Quận Hoàn Kiếm là trung tâm hành chính - kinh tế - văn hóa - xã hội của Thủ đô Hà Nội, nơi có Tháp Rùa, Hồ Gươm và tập trung khu phố cổ nên các dịch vụ thương mại, du lịch được khai thác hiệu quả Nhiều tuyến phố chuyên kinh doanh như Đông Nam dược Lãn Ông, Tơ lụa Hàng Gai được xây dựng, các tuyến phố đi bộ Hàng Đào - Hàng Giấy, chợ đêm Đồng Xuân ngày càng hoàn thiện hơn… Nhờ đó, hoạt động dịch vụ, thương mại, du lịch của quận có tốc độ tăng trưởng ổn định, bình quân hàng năm đạt 18,21%, chiếm
tỷ trọng 97,01% trong cơ cấu kinh tế quận; trong đó có thể nói Khu phố cổ, bao gồm hai phường Hàng Đào, Hàng Gai là khu trọng điểm, đóng góp đáng
kể vào tiến trình phát triển nêu trên
Địa bàn quận Hoàn Kiếm tập trung nhiều các cơ quan quản lí nhà nước cấp Bộ, Ban, Ngành, nhiều đại sứ quán của các nước Hoàn Kiếm còn là một trung tâm văn hoá lớn của thành phố Hà Nội với hệ thống các nhà hát, rạp chiếu phim, nhà văn hoá, thư viện và bảo tàng, trong đó đặc biệt là Nhà Hát Lớn là nơi diễn ra mọi hoạt động văn hoá lớn của Thủ đô Hai phường Hàng Đào, Hàng Gai cũng có nhiều di tích lịch sử như: đình Yên Thái, Đông Môn
Tự, nhà lưu niệm 48 Hàng Ngang, đình Đồng Lạc, Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục… Toàn bộ khu phố cổ đều nằm trong mục bảo tồn di sản quốc gia
Toàn bộ các đặc điểm trên là những mặt thuận lợi, đồng thời cũng đặt
ra nhiều thách thức trong việc vừa đảm bảo phát triển kinh tế, du lịch, vừa
Trang 40- Nhóm 1: Biển hiệu cửa hàng sử dụng hoàn toàn tiếng Việt
- Nhóm 2: Biển hiệu cửa hàng có sử dụng tiếng nước ngoài
Nhóm thứ hai lại được chia thành 2 loại chính:
- Biển hiệu sử dụng hoàn toàn ngoại ngữ, bao gồm:
+ Loại biển hiệu chỉ sử dụng một ngoại ngữ (hoặc tiếng Anh, hoặc tiếng Pháp hay một ngoại ngữ nào đó)
+ Loại biển hiệu sử dụng hai ngoại ngữ trở lên (Anh - Pháp, Anh - Nhật hay Anh - Pháp, Trung…)
- Biển hiệu sử dụng hỗn hợp tiếng Việt - ngoại ngữ (ví dụ: Việt - Anh, Việt - Pháp, Việt - Anh - Hàn…)
Kết quả thống kê đối với 773 biển hiệu cửa hàng:
Sử dụng hoàn toàn tiếng Việt
Sử dụng ngoại ngữ
Sử dụng hoàn toàn ngoại ngữ
Sử dụng hỗn hợp tiếng Việt - ngoại