1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013: Luận án TS. Nhân văn khác: 62 22 03

191 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 2,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, khảo cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp từ 1997 đến năm 2013, nhằm đánh giá khách quan sự quán triệt đường lối Trung ươn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

NGUYỄN THỊ THANH NGA

§¶NG Bé TØNH VÜNH PHóC L·NH §¹O THùC HIÖN NHIÖM Vô §µO T¹O NGUåN NH¢N LùC CHO N¤NG NGHIÖP

Tõ N¡M 1997 §ÕN N¡M 2013

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

NGUYỄN THỊ THANH NGA

§¶NG Bé TØNH VÜNH PHóC L·NH §¹O THùC HIÖN NHIÖM Vô §µO T¹O NGUåN NH¢N LùC CHO N¤NG NGHIÖP

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới

sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Viết Thảo

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực, đảm bảo tính khách quan Các tài liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Thị Thanh Nga

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận án, Nghiên cứu sinh đã nhận được rất nhiều

sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, các nhà khoa học, của các thầy giáo, cô giáo các cơ sở đào tạo, các cơ quan nghiên cứu

Trước hết, Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, truyền đạt tri thức, kỹ năng trong suốt quá trình Nghiên cứu sinh học tập và nghiên cứu tại khoa Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô và bạn đồng nghiệp đã khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Nghiên cứu sinh trong quá trình học tập

Nghiên cứu sinh xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn luôn quan tâm, động viên trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, Nghiên cứu sinh xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Viết Thảo - người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ để Nghiên cứu sinh hoàn thành luận án này

NGHIÊN CỨU SINH

Nguyễn Thị Thanh Nga

Trang 6

Tiểu kết chương 1 28 Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC VỀ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1997 - 2005 29

2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc (1997 - 2005) 292.2 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc quán triệt chủ trương của Đảng về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp giai đoạn 1997 - 2005 44

Tiểu kết chương 2 59 Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHO NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 2005 - 2013 62

3.1 Yêu cầu mới và chủ trương của Đảng về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp giai đoạn 2005 - 2013 623.2 Tình hình mới và chủ trương đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2005 - 2013 683.3 Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc chỉ đạo thực hiện đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp (2005 - 2013) 82

Tiểu kết chương 3 109

Trang 7

Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 111

4.1 Nhận xét về quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1997 - 2013) 111

4.2 Một số kinh nghiệm chủ yếu 128

Tiểu kết chương 4 144

KẾT LUẬN 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 174

Trang 8

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 3.1: Lao động ngành nông, lâm, thuỷ sản từ năm 2006 - 2013 97

Bảng 3.2: Các cơ sở có tổ chức đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc phân theo cấp quản lý từ năm 2006 - 2013 101

Bảng 3.3: Kinh phí đào tạo phát triển nhân lực giai đoạn 2006 - 2013 103

Bảng 3.4: Số lượng giáo viên tỉnh Vĩnh Phúc năm 2006 - 2013 103

Bảng 3.5: Trình độ giáo viên tỉnh Vĩnh Phúc năm 2006 - 2013 104

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, nguồn lực con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, là nguồn lực quan trọng, cốt yếu nhất đối với sự phát triển của mọi quốc gia dân tộc

Nhận thức được xu thế khách quan của lịch sử, bước vào công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước nhận thức về vai trò, vị trí của NNL

và công tác đào tạo NNL, từ đó đã có nhiều chủ trương, chính sách chỉ đạo các

bộ, ban, ngành, địa phương về xây dựng, đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Từ thực tiễn của 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) của Đảng xác định phát triển NNL, nhất là NNL chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược quan trọng để đưa đất nước phát triển bền vững

Là một quốc gia có xuất phát điểm về kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, xã hội chủ yếu là nông thôn, cư dân chủ yếu là nông dân, ngay những năm đầu đổi mới Đảng đã chú trọng coi nông nghiệp là "mặt trận hàng đầu" để ổn định và phát triển đất nước Khi bước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng đã xác định:

“Vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng” [66; tr.191] Trong đó, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, do đó, đào tạo NNL phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ được Đảng quan tâm hàng đầu trong quá trình đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện [7; tr.123] Đây chính là những định hướng quan trọng cho các địa phương triển khai nâng cao NNL cho nông nghiệp, trong đó trọng tâm là công tác đào tạo, bồi dưỡng NNL cho nông nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động

và cơ cấu kinh tế phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

Là tỉnh nằm ở vùng chuyển tiếp, cầu nối giữa các tỉnh miền núi phía Bắc với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, Vĩnh Phúc có nhiều lợi thế trong

Trang 10

phát triển kinh tế - xã hội Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Vĩnh Phúc hội tụ khá nhiều yếu tố thuận lợi cho quá trình phát triển nhờ có đủ cả ba vùng sinh thái: Đồng bằng - trung du - miền núi Tuy nhiên, là một tỉnh thuần nông, với tỷ lệ đất nông nghiệp chiếm tới 46,4%, dân số 1,1 triệu người, trong đó dân số nông nghiệp chiếm tới 91,35%; Tỷ trọng nông nghiệp chiếm tới 59,2% giá trị GDP, công nghiệp - xây dựng chiếm 13,98%, dịch vụ 36% [52; tr 11]; Dịch vụ chậm phát triển, kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn, thiếu thốn Qua hơn 15 năm (1997 - 2013),

từ một tỉnh mới tái lập, còn nhiều khó khăn, thiếu thốn mọi bề, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã bám sát đặc điểm của địa phương, tận dụng lợi thế, phát huy

có hiệu quả tiềm năng của tỉnh, đặc biệt quán triệt sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, đẩy nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội trên mọi lĩnh vực Từ một tỉnh tổng thu nội địa chỉ đạt hơn 114 tỷ đồng (1997), phải nhận trợ cấp từ ngân sách Trung ương, đến năm 2013 thu nội địa đã lên tới 16.184 tỷ đồng - được đánh giá là một trong những tỉnh có số thu ngân sách nội địa đạt tỷ lệ cao so với cả nước, là một trong những tỉnh tự cân đối được ngân sách và có đóng góp cho ngân sách Trung ương trong nhiều năm qua [174; tr 41] Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thành tựu vượt bậc ấy là Đảng bộ tỉnh đã sớm xác định vai trò của NNL

là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững Bên cạnh, chủ trương xác định phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư, xây dựng cơ bản, tạo bước đột phá cho sự tăng trưởng, thu ngân sách; phấn đấu đưa du lịch trở thành

ngành kinh tế "mũi nhọn", với quan điểm "phi nông bất ổn", "nông suy bách nghệ bại" [225; tr.2], tỉnh Vĩnh Phúc đã tăng cường thúc đẩy phát triển nông nghiệp,

quan tâm đầu tư thích đáng tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp toàn diện Vĩnh Phúc là tỉnh đi đầu trong cả nước thực hiện miễn phí thủy lợi cho nông dân, dành kinh phí đầu tư từ nguồn ngân sách của tỉnh cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có nguồn kinh phí đào tạo NNL, tạo nền tảng vững chắc cho quá trình CNH, HĐH của tỉnh [174; tr 37] Đặc biệt, Vĩnh Phúc là một trong những địa

phương đi đầu cả nước khi ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TU, ngày 27/12/2006 về

Trang 11

phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao đời sống nông dân giai đoạn 2006 -

2010, định hướng đến năm 2010 Trong đó xác định để nông nghiệp, nông thôn

phát triển tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nông nghiệp phải đạt mức

độ phát triển cao theo hướng CNH, HĐH, lực lượng lao động nông nghiệp, nông thôn phải đảm bảo là động lực duy trì và phát triển Do vậy, nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp có những thay đổi thích ứng nhằm bảo đảm yêu cầu của tình hình mới Tỉ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh từ 9% năm 2000, đến năm 2013 đã tăng lên 59% [174; tr.45] Tuy nhiên, trên thực tế, đào tạo NNL cho nông nghiệp còn nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết Trong đó, ngoài vấn đề đào tạo giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi, chuyển đổi mục đích sử dụng đất , đặc biệt chú trọng tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho nông dân, từ đó giúp người nông dân có cách nghĩ, cách làm mới phù hợp, đáp ứng với yêu cầu có một nền

nông nghiệp phát triển toàn diện, hiệu quả, bền vững là một nhiệm vụ cấp bách

Do vậy, khảo cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện nhiệm

vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp từ 1997 đến năm 2013, nhằm đánh giá khách quan sự quán triệt đường lối Trung ương Đảng đối với một địa phương có nhiều đặc thù của khu vực đồng bằng Bắc Bộ, góp phần quan trọng vào việc tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công tác phát triển NNL cho nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế (qua thực tế tỉnh Vĩnh Phúc); Đồng thời góp phần cung cấp cho Đảng bộ và chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc những luận cứ khoa học để tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện chủ trương, chính sách, chỉ đạo công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp trong thời gian tới có hiệu quả

hơn, tạo tiền đề quan trọng để tỉnh Vĩnh Phúc "thành một trong những tỉnh giàu có, phồn vinh nhất ở miền Bắc nước ta" như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi

về thăm tỉnh ngày 02/03/1963 Với những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn

đề: “Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân

lực cho nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013” làm đề tài Luận án Tiến sĩ,

chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 12

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về thực hiện nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp từ khi tái lập tỉnh năm 1997 đến năm 2013; từ đó đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn, góp phần tiếp tục thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp có hiệu quả hơn, đáp ứng với yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích nghiên cứu, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp;

- Trình bày có hệ thống các quan điểm, chủ trương của Đảng về đào tạo NNL nói chung, NNL cho nông nghiệp nói riêng trong công cuộc đổi mới;

- Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp qua 2 giai đoạn: 1997 - 2005, 2005 - 2013;

- Đánh giá một cách khách quan những thành công, hạn chế, nguyên nhân thành công, hạn chế của quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013;

- Luận án đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn đối với

sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về đào tạo NNL

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về đào tạo NNL trong nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về thời gian: Luận án lấy mốc mở đầu nghiên cứu từ năm 1997 (thời

điểm tái lập tỉnh Vĩnh Phúc); Mốc kết thúc nghiên cứu là năm 2013 (là năm

Trang 13

tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của BCH Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; cũng là thời

điểm Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sơ kết sau 3 năm thực hiện

Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giai đoạn 2011 - 2020 (QĐ số 2534/QĐ-BNN-TCCB, ngày 26/10/2011),

để tiếp tục ban hành quyết định Phê duyệt Đề án Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn (2014 - 2020)

Năm 2013 cũng là thời điểm nhìn lại 50 năm tỉnh Vĩnh Phúc làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Phúc (2/3/1963

- 2/3/2013) trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, để tiếp tục có những phương hướng, giải pháp tiếp tục thực hiện lời mong mỏi của Người

- Về không gian: Nghiên cứu quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp trên địa bàn nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc (chủ yếu khảo sát qua Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Vĩnh Phúc và các trung tâm đào tạo nghề cho ngành nông nghiệp do tỉnh Vĩnh Phúc quản lý)

- Về nội dung: Tập trung vào làm rõ chủ trương và quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng NNL trong lĩnh vực dạy nghề cho lao động nông nghiệp ở nông thôn của tỉnh Vĩnh Phúc Đào tạo NNL cho nông nghiệp bao gồm đội ngũ công chức, viên chức; đội ngũ kỹ thuật viên; Đào tạo nghề cho lao động nông thôn; Đội ngũ cán bộ quản lý hợp tác xã Trong khuôn khổ của Luận án chỉ tập trung khảo sát đào tạo nghề cho lao động nông thôn, mà tập trung chủ yếu là lao động nông thôn

4 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu

4.1 Cơ sở lý luận

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác đào tạo NNL cho nông nghiệp nói riêng và đào tạo nguồn nhân lực nói chung

Trang 14

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận án chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic để nghiên cứu Sử dụng phương pháp lịch sử để phục dựng một cách khách quan, chân thực quá trình từ hoạch định chủ trương đến quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013, qua phân kỳ lịch sử với 2 giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2005

và từ năm 2005 đến năm 2013 Sử dụng phương pháp logic để làm rõ những vấn

đề trọng tâm, chủ yếu trong chủ trương và chỉ đạo thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, đánh giá khái quát những thành công, hạn chế, đúc kết một số kinh nghiệm chủ yếu có giá trị lý luận và thực tiễn về đào tạo NNL cho nông thôn nói riêng, nông nghiệp nói chung

Ngoài ra, Luận án kết hợp với các phương pháp nghiên cứu liên ngành khác, như phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh và khảo sát thực

tế để làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013

4.3 Nguồn tư liệu

- Nguồn tư liệu để thực hiện Luận án là các văn kiện của Đảng, Nhà nước, của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc, các cơ quan, ban ngành về đào tạo NNL nói chung, NNL cho nông nghiệp nói riêng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc; Hội nông dân tỉnh Vĩnh Phúc; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Vĩnh Phúc )

- Các công trình nghiên cứu của các cá nhân, tập thể liên quan đến đào tạo NNL nói chung, NNL cho nông nghiệp nói riêng trên cả nước

- Các số liệu được khảo sát qua hoạt động của các cơ sở đào tạo, Trung tâm đào tạo nghề và các sở, ban, ngành có liên quan thuộc tỉnh Vĩnh Phúc quản lý

5 Đóng góp về khoa học của luận án

- Luận án góp phần tổng kết thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng chủ trương của Đảng về đào tạo NNL cho nông nghiệp từ khi tái lập tỉnh (năm 1997) đến năm 2013

Trang 15

- Từ thực tiễn lãnh đạo thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp của Đảng

bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2013, góp phần tổng kết một nội dung quan trọng trong quá trình hiện thực hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy của

BCH Trung ương khóa X (2008) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

- Những nhận định, đánh giá khách quan về ưu điểm, hạn chế và những kinh nghiệm đúc kết được từ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 1997 đến 2013, góp phần cung cấp những cơ sở lịch sử cho các cấp bộ đảng, chính quyền địa phương tiếp tục bổ sung, hoàn thiện chủ trương, chính sách về đào tạo NNL cho nông nghiệp trong thời gian tới

có hiệu quả hơn

- Luận án có thể làm tư liệu tham khảo cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu các đề tài liên quan đến NNL cho nông nghiệp, nông thôn nói chung, đào tạo NNL cho nông nghiệp ở Vĩnh Phúc nói riêng

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả luận án có liên quan đến đề tài đã được công bố; Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận án gồm: 4 chương, 9 tiết

Trang 16

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Nguồn nhân lực và đào tạo NNL nói chung, đào tạo NNL cho nông nghiệp nói riêng là một trong những chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới Do vậy, đã có rất nhiều công trình khoa học đề cập trực tiếp, gián tiếp, với nhiều mức độ và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể chia thành 3 nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến NNL, đào tạo NNL nói chung, đào tạo NNL và đào tạo NNL cho nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực nói chung

Vấn đề nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực là một trong những vấn đề thời sự, khá hấp dẫn, do đó nhiều nhà nghiên cứu thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau đã tập trung nghiên cứu, khảo sát Đáng chú ý trong số đó là các các cuốn sách đã xuất bản sau:

Cuốn sách Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá của tác giả Nguyễn Thanh, xuất bản năm 2002 [159] Tác giả đã trình bày

những vấn đề chung về cơ sở lý luận và thực tiễn, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển NNL đến năm 2001, đưa ra những giải pháp phát triển NNL có chất lượng cao, đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam Những nội dung được trình bày trong công trình này, luận án

có thể kế thừa về những lý luận chung và một số quan điểm khái quát của Đảng

và Nhà nước khi trình bày những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc đối với công tác đào tạo NNL dưới góc độ nghiên cứu của đề tài

Cuốn sách Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế - xã hội 2001 - 2010,

của nhóm tác giả Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường, Nguyễn Kim Liệu xuất bản

Trang 17

năm 2004 [71] Cuốn sách đã tập hợp các bài viết về vai trò của NNL Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế 2001 - 2010 Với 4 nội dung: Kinh tế tri thức; Chiến lược phát triển NNL Việt Nam trong chiến lược kinh tế - xã hội giai đoạn

2001 - 2010; Hướng tới nền kinh tế tri thức; Cả nước với chương trình phát triển NNL giai đoạn 2001 - 2010; Những thông tin về Giáo dục - Đào tạo Về cơ bản, cuốn sách đã làm rõ: Nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững - con người và NNL là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Công trình có thể sử dụng khi nghiên cứu về chiến lược phát triển NNL Việt Nam làm cơ sở đánh giá những thành tựu, khó khăn hạn chế trong phát triển NNL của tỉnh Vĩnh Phúc

Cuốn sách Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, của Đoàn Văn Khái, xuất bản năm 2005 [90], đã phân tích vai trò

của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta,

lý giải hợp lý nguồn lực con người là yếu tố quyết định của sự nghiệp CNH, HĐH Tác giả đã làm rõ: cơ sở lý luận cho việc đề ra chiến lược phát triển nguồn nhân lực; một số thực trạng, giải pháp cho lao động đào tạo nghề; yêu cầu đặt ra đối với NNL trong quá trình đổi mới ở Việt Nam

Cuốn sách Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam của tác giả Phan Văn Kha, xuất bản năm 2007 [89], đã đề cập đến cơ sở lý

luận về mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế Thực trạng và giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa đào tạo với sử dụng nhân lực ở các cấp, các trình độ

Cuốn sách Giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Bùi Đức Tú, xuất

bản năm 2013 [175], đề cập tới một số khái niệm liên quan đến quản lí và quản lí giáo dục; vấn đề giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông ở nước ngoài; giáo dục nghề nghiệp cho học sinh phổ thông theo hướng gắn với kinh tế - xã hội, giải pháp tổ chức hoạt động giáo dục nghề phổ thông gắn với kinh tế - xã

Trang 18

hội vùng miền Hiện nay, trong bối cảnh mới, nông thôn đang là khu vực có tiềm năng phát triển nhưng thiếu lực lượng lao động có chất lượng, tâm lý di cư

ra thành thị kiếm việc làm đã khiến cho nông thôn thiếu hụt lực lượng lao động, ảnh hưởng đến quá trình CNH, HĐH nông thôn

Những công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra những cơ sở lý luận về vấn đề nhân lực, vai trò của nhân lực, đào tạo NNL nói chung, trong lĩnh vực nông nghiệp nói riêng; bàn luận về những tiêu chí, cơ chế phát triển NNL nông nghiệp nông thôn, quan điểm định hướng về đào tạo nghề, hướng nghiệp cho từng đối tượng lao động khu vực nông thôn

Cùng với các cuốn sách đã xuất bản là các công trình khoa học các chuyên ngành khác nhau ở các cơ sở đào tạo Đáng chú ý là một số luận án Tiến sĩ đã được bảo vệ sau:

Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, năm 2003, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

của Phan Chính Thức: “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [163], đề

cập đến hệ thống đào tạo nghề ở góc độ hệ thống cung ứng nhân lực lao động qua đào tạo nghề cho nền kinh tế và đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và các vấn

đề của hệ thống đào tạo nghề của Việt Nam

Luận án Tiến sĩ Kinh tế của Bùi Tôn Hiến: “Nghiên cứu việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở Việt Nam”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội,

năm 2009 [79], đề cập đến hệ thống lý luận về việc làm của lao động qua đào tạo nghề, phân tích cơ hội việc làm khác biệt thu nhập của lao động qua đào tạo và mối quan hệ biện chứng giữa việc làm với đào tạo nghề và đề xuất những giải pháp cho việc đào tạo nghề và giải quyết việc làm

Ngoài ra cũng phải kể đến khá nhiều bài viết về nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực được đăng tải trên các tạp chí Trong số đó có thể kể đến như:

“Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam trên bước đường toàn cầu hóa”

của Mạc Văn Tiến, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 340, tháng 9/2006 [164];

Trang 19

“Đào tạo nghề theo nhu cầu sử dụng của xã hội” của Dương Đức Lân, Tạp chí Lao động xã hội, số 317, tháng 8/2007 [99]; “Đa dạng hóa cơ cấu để phát triển

số lượng và chất lượng nguồn nhân lực”, của Nguyễn Thanh Tuấn, Tạp chí Lao động xã hội, số 318, tháng 9/2007 [170]; “Giáo dục - Đào tạo với sự phát triển nguồn nhân lực” của Trần Thanh Đức, Tạp chí Thương mại số 42/2007 [73];

“Về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới”, Nguyễn Thắng Lợi,

Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12/2007 [102]; “Đào tạo nguồn nhân lực: còn nhiều việc phải làm”, của Phạm Vĩnh Thái, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 7/2013

[156]; “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hóa, hiện đại hóa” của tác giả Trần Thị Kiều Nga, Tạp chí Lịch sử Đảng,

bền vững đất nước hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Nga, Tạp chí Lý luận

nhân tố con người trong phát triển đất nước” của tác giả Đoàn Nam Đàn,

Tạp chí Lý luận chính trị, số 6/2016 [50].

Các công trình trên đã tập trung nghiên cứu vai trò, tầm quan trọng của NNL trong mọi lĩnh vực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH, đồng thời nhất quán chủ trương coi đào tạo NNL, nhất là NNL chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH Trên cơ sở đó, các tác giả nêu lên chủ trương của Đảng về xây dựng và phát triển NNL, thực trạng

về đào tạo và sử dụng NNL trên các lĩnh vực hiện nay, luận giải những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết đối với công tác đào tạo NNL nói chung, đào tạo nghề, nâng cao trình độ lao động kỹ thuật nói riêng

Các đề tài, chương trình nghiên cứu, hội thảo đáng chú ý là một số đề tài:

Đề tài khoa học cấp Bộ: “Xây dựng cơ sở lý luận cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ” của Bộ Khoa học Công nghệ Môi trường

do Nguyễn Thị Thu Anh làm chủ nhiệm, Hà Nội, tháng 7/1997 [3]; “Lý luận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển

Trang 20

nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2020” của Ban Nguồn nhân lực - Viện Nghiên cứu chiến lược - Bộ Kế

hoạch và Đầu tư tháng 1/1998, do Trần Thị Tuyết Mai làm chủ nhiệm [103]

Hội thảo quốc gia “Đào tạo nghề theo nhu cầu xã hội”, do Bộ Giáo dục và

Đào tạo tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2007) [16] đã đưa ra 7 nhóm giải pháp nhằm thực hiện đào tạo nghề theo nhu cầu xã hội Bao gồm: 1 Thành lập các

cơ quan dự án theo nhu cầu xã hội; 2 Xây dựng cơ chế năng động; 3 Tăng cường hợp tác giữa nhà rường với nhà tuyển dụng; 4 Phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy

và cán bộ quản lý; 5 Xây dựng danh mục nghề và các tiêu chuẩn nghề nghiệp; 6 Kiểm định và đánh giá năng lực nghề nghiệp; 7 Tư vấn hướng nghiệp

Kỷ yếu Hội thảo Đào tạo nghề giữ vai trò trọng tâm trong chính sách phát triển, do Học viện Chính sách và phát triển biên soạn, xuất bản năm 2008 [81],

các bài viết tập trung phân tích, đánh giá sâu sắc về những khía cạnh của đào tạo nhân lực nông nghiệp, nông thôn Hội thảo đưa ra quan điểm phải coi nông nghiệp là một nghề thì đào tạo nhân lực cho nông nghiệp mới được coi trọng Còn hiện nay có một thực tế là nông nghiệp vẫn được xem là một hoạt động tiếp nối từ cha mẹ, có tính chất cha truyền con nối

Kỷ yếu Hội thảo Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc tế, xuất

bản năm 2009 [93], các bài viết khẳng định trình độ của người lao động là điểm tựa của hệ thống đòn bẩy để thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội Do vậy,

Kỷ yếu Hội thảo chỉ ra rằng muốn tăng cường hợp tác, hội nhập quốc tế có hiệu quả Việt Nam không thể chậm trễ trong việc nâng cao tính cạnh tranh của NNL

Từ đó, chỉ rõ tầm quan trọng của công tác đào tạo NNL và xác định, sự cần thiết trong mọi lĩnh vực là nhiệm vụ trọng yếu của Việt Nam hiện nay, trong đó có đào tạo NNL cho nông nghiệp, nông thôn

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế lần thứ ba: Việt Nam hội nhập và phát triển - Tập 6: Giáo dục và Đào tạo nguồn nhân lực Những nghiên cứu tổng hợp theo khu vực Quan hệ quốc tế của Việt Nam với các nước và khu vực do Đại học Quốc gia Hà

Trang 21

Nội tổ chức năm 2011 [4], của các tác giả: Đặng Danh Ánh, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đức Chính Kỷ yếu gồm các báo cáo khoa học về cải cách cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân đáp ứng nhu cầu nhân lực trong bối cảnh toàn cầu hoá, chính sách quốc gia về giáo dục và phát triển NNL, làm cơ sở cho luận án tham khảo khi luận giải vể vai trò, hiệu quả của những chính sách giáo dục, phát triển NNL nói chung, nông nghiệp nói riêng

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên là hệ thống cơ sở lý luận cơ bản, quan trọng giúp tác giả luận giải về vai trò, tầm quan trọng của NNL, đánh giá những thành công, hạn chế trong các chính sách đào tạo, phát triển NNL nói chung; là cơ sở lý luận cho luận án tham khảo để giải quyết những vấn đề có liên quan đến chủ trương về đào tạo NNL cho nông nghiệp, nông thôn

1.1.2 Các công trình nghiên cứu đề cập đến nguồn nhân lực cho nông nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn

Trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực cho nông nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn, có khá nhiều công trình của các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực và các thời kỳ khác nhau Về các cuốn sách

Cuốn sách Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế, chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn do

tác giả Vũ Năng Dũng chủ biên, xuất bản năm 2004 [47], đưa ra nhiều cơ sở cho việc xây dựng cơ chế, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Với một quốc gia phát triển nông nghiệp ngàn đời như Việt Nam thì

Trang 22

đào tạo NNL phục vụ nông nghiệp, nông thôn trong bối cảnh toàn cầu, hội nhập

là tất yếu lịch sử Theo tác giả, nguồn lực con người đạt chuẩn cả về số lượng và chất lượng là cơ sở quan trọng nhất để hoạch định chính sách phát triển không chỉ lĩnh vực nông nghiệp mà còn các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác

Cuốn sách Con đường và bước đi công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Việt Nam do Nguyễn Kế Tuấn chủ biên, xuất bản năm 2006

[178], làm rõ yêu cầu xây dựng và phát triển NNL ở nông thôn trong công cuộc đổi mới; thực trạng của quá trình đào tạo và sử dụng NNL của nông thôn Việt Nam hiện nay; những cơ sở lý luận để xây dựng tiêu chí, cơ chế, chính sách về đào tạo NNL ở nông thôn đáp ứng yêu cầu mới

Cuốn sách Tác động của hội nhập kinh tế đối với phát triển nông nghiệp Việt Nam, tác giả Nguyễn Từ chủ biên, xuất bản năm 2008 [183], đã phản ánh

những thay đổi của nông nghiệp, nông thôn hiện nay theo sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế Tác giả cũng cho rằng để theo kịp sự thay đổi ấy, NNL nông nghiệp nông thôn cũng phải được đào tạo, phát triển để không bị tụt hậu

Cuốn sách Nông dân, nông thôn và nông nghiệp, những vấn đề đang đặt ra,

xuất bản năm 2008 [177], là sự tập hợp các bài viết về đề tài tam nông của nhiều tác giả như Ðào Thế Tuấn, Ðặng Kim Sơn… trên nhiều lĩnh vực khác nhau Mỗi tác giả tuy xuất phát từ góc nhìn khác nhau để nêu và giải quyết vấn đề nhưng đều chung nhau ở một cách nhìn về thực trạng, hướng đi của nông thôn, nông dân và nông nghiệp Việt Nam hiện nay là muốn CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thành công thì điều cốt yếu là phải đào tạo những người nông dân đủ năng lực làm giàu trên chính mảnh đất của mình

Cuốn sách Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 - 2011) của tác giả Nguyễn Ngọc Hà, xuất bản

năm 2012 [75] Từ các văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đến Đại hội XI của Đảng (năm 2011), tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình hoạch định đường lối phát

Trang 23

triển kinh tế nông nghiệp; Khái quát hóa những quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các đại hội và hội nghị Trung ương từ năm 2011 kinh tế nông nghiệp, đánh giá thành tựu, hạn chế của quá trình thực hiện phát triển kinh

tế nông nghiệp qua 25 năm đổi mới Từ đó, đúc kết một số kinh nghiệm, trong

đó có đề cập đến vai trò của NNL và công tác đào tạo NNL đối với sự phát triển

kinh tế nông nghiệp trong công cuộc đổi mới

Cuốn sách Mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn nhóm tác giả

Nguyễn Tiến Dũng, Mạc Văn Tiến, Hà Đức Ngọc, Nguyễn Quang Hùng, xuất bản năm 2014 [48] Trên cơ sở khảo sát các mô hình đào tạo lao động nông thôn, các tác giả đã tổng kết thực tế, từ đó nêu ra những vấn đề đặt ra cùng mô hình thí điểm đối với mô hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn và thực tế triển khai

mô hình thí điểm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Nội dung cuốn sách là tài liệu tham khảo cho luận án khi viết về các mô hình đào tạo nghề cho lao động trong ngành nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc

Cuốn sách Chính sách đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, của tác giả

Nguyễn Hà Anh, xuất bản năm 2014 [2], tác giả đã khái quát một số vấn đề chung về đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, làm rõ cơ sở lý luận và thực

tế của chính sách đào tạo nghề đối với lao động nông thôn hiện nay và giới thiệu chính sách đào tạo nghề ngắn hạn, đào tạo nghề cho một số đối tượng chính sách khác thuộc khu vực nông thôn Việt Nam Cuốn sách đã cung cấp lý luận chung

về chính sách đào tạo nghề đối với lao động nông thôn khi luận án nghiên cứu các chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc

Cuốn sách Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay: Những trăn trở và suy ngẫm của tác giả Vũ Trọng Khải, xuất bản năm 2015 [91] Cuốn

sách là tập hợp các bài viết về những vấn đề mà tác giả trăn trở trong suốt thời gian tham gia nghiên cứu và giảng dạy về kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Tác giả đã phân tích, đánh giá tác động và khiếm khuyết của các chính sách vĩ mô về nông nghiệp và phát triển nông thôn; những nội dung chủ

Trang 24

yếu của lý thuyết hệ thống, được áp dụng vào việc quản lý tất cả các tổ chức, trong đó có doanh nghiệp, trang trại và hợp tác xã

Cuốn sách Những điều cần biết về đào tạo nghề và việc làm đối với lao động nông thôn, tác giả Hà Anh, xuất bản năm 2015 [1] Tác giả trình bày một số vấn đề

chung về đào tạo nghề và việc làm; đào tạo nghề và hỗ trợ tạo việc làm đối với lao động nông thôn; tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn ở cấp xã Cuốn sách đã cung cấp một số nội dung liên quan tới nội dung, chương trình, cách thức tổ chức đào tạo nghề và việc làm đối với lao động nông thôn mà luận án cần giải quyết khi vận dụng vào địa phương tỉnh Vĩnh Phúc

Các luận án Tiến sĩ về nội dung này cũng khá phong phú Đáng quan tâm

là những luận án sau:

Luận án Tiến sĩ Kinh tế Chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn nhằm tạo việc làm và sử dụng hợp lý nguồn lao động vùng đồng bằng Sông Hồng của tác giả

Trần Thị Tuyết, năm 1996 [182], Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đã nghiên cứu

cơ cấu và thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn vùng đồng bằng Sông Hồng thời kỳ 1989 - 1994, qua đó đề xuất phương hướng đến năm 2010

Luận án Tiến sĩ Kinh tế Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam, tác giả Trần Thanh Bình, Trường Đại

học Kinh tế Quốc dân, năm 2003 [15], đã đi sâu vào cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo NNL phục vụ quá trình CNH, HĐH nông thôn Nêu thực trạng đào tạo NNL cho nông nghiệp và nông thôn và các giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo này

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 1991 đến năm 2002 của Lê Quang Phi, Học viện

Chính trị Quân sự - Bộ Quốc Phòng, năm 2005 [116] Luận án làm rõ yêu cầu

khách quan của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trong công cuộc

đổi mới; Hệ thống khái quát hóa quan điểm, đường lối và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1991

Trang 25

đến năm 2002 Từ đó, nhận xét những ưu điểm, hạn chế và đúc kết một số kinh nghiệm về sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng trong lãnh đạo sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1991 - 2002, có giá trị lý luận và thực tiễn có thể vận dụng trong thời gian tiếp theo

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp (1996 - 2006) của

tác giả Đặng Kim Oanh, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia

Hà Nội, năm 2011 [114] Luận án đã tổng kết quá trình phát triển của kinh tế nông nghiệp dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1996 đến năm 2006, quan trọng hơn đó

là tác giả đã đưa ra một số kinh nghiệm của Đảng trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế nông nghiệp, trong đó có đề cập đến các yếu tố NNL cho phát triển nông nghiệp Theo tác giả, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và cơ cấu lao động với hệ thống chính sách đã phản ánh nguyện vọng của nông dân, trong

đó có biện pháp đào tạo phát triển NNL nông thôn, sẽ góp phần khơi dậy và phát huy mạnh mẽ nguồn lực, tiềm năng nông nghiệp, nông dân và nông thôn, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Nguyễn Văn

Đại, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012 [51] Luận án đã nghiên cứu các vấn đề về phân công lao động xã hội và sự cần thiết đào tạo nghề cho lao động nông thôn; Nội dung và các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn; CNH, HĐH

và yêu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số quốc gia và địa phương trong và ngoài nước; Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng những năm 2006 - 2010; Các giải pháp đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng thời kỳ CNH, HĐH

Luận án Tiến sĩ Khoa học Chính trị Các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng lãnh đạo đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giai đoạn hiện nay bảo vệ năm 2012 của Nguyễn Thị Tố Uyên, đã làm rõ cơ sở lý

Trang 26

luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của các tỉnh ủy vùng đồng bằng sông Hồng đối với đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; chỉ ra nội dung, phương thức các tỉnh ủy lãnh đạo đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn; đề xuất phương hướng, giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ các tỉnh đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đến năm 2020, trong đó có vấn đề quan trọng đó là lãnh đạo chỉ đạo thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp [230]

Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng” của Nguyễn Thị

Kim Nguyên, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 [113], đã trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về NNL phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, thực trạng tại vùng Đồng bằng Sông Hồng, những quan điểm

và giải pháp phát triển NNL phục vụ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn vùng Đồng bằng Sông Hồng

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010 của Phạm Thị Kim Lan, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh, năm 2015 [96], xác định đào tạo NNL là một trong những khâu đột phá quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, đưa ra tổng quan về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò của Đảng bộ tỉnh Thái Bình trong lãnh đạo thực hiện đào tạo nguồn nhân lực, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quan trọng trong sự nghiệp lãnh đạo của Đảng trong phát triển nhân lực cho nông nghiệp Đây là tài liệu tham khảo có giá trị đã cung cấp một số khái niệm, nội dung về quan điểm, đường lối chung của Trung ương Đảng về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp giai đoạn 2001 đến 2010; Đồng thời, kế thừa được cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu đề tài có liên quan trực tiếp đến đào tạo NNL

cho nông nông nghiệp Tuy nhiên, luận án Đảng bộ tỉnh Thái Bình lãnh đạo đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp từ năm 2001 đến năm 2010, tập trung

nghiên cứu sự vận dụng của Đảng bộ địa phương tỉnh Thái Bình với nhiều đặc

Trang 27

điểm khác biệt với tỉnh Vĩnh Phúc, do vậy, những yếu tố tác động, cơ sở lý luận

và thực tế để Đảng bộ và chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc hoạch định chủ trương và chỉ đạo thực hiện có nhiều nội dung và phương pháp tiếp cận khác với nội dung

và phương pháp tiếp cận khi nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh

Ngoài các công trình nghiên cứu trong nước, còn có một số công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài về vấn đề NNL cho nông nghiệp

Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo xây dựng nông thôn mới giai đoạn hiện nay của

Bun Thoong Chit Ma Ni, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh,

năm 2010 [19], đã đánh giá vai trò quan trọng của Đảng Nhân dân cách mạng Lào

trong việc lãnh đạo xây dựng nông thôn mới hiện nay ở Lào, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo, đề xuất giải pháp nâng cao hơn nữa vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc đưa ra chính sách phát triển nông nghiệp, đặc biệt là xây dựng NNL cho nông thôn, đào tạo nghề cho lao động nông thôn, giải quyết việc làm, nâng cao dân trí và đời sống mọi mặt cho người dân khu vực nông thôn Nội dung của Luận án đã cung cấp thêm những dữ liệu, những bài học kinh nghiệm quý được đúc kết từ bức tranh tổng thể về nông thôn mới của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay

Các công trình đăng trên các tạp chí về nguồn nhân lực cho nông nghiệp

và đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn cũng có khá nhiều, có thể kể đến một số bài viết có những nội dung đáng quan tâm:

Đó là các công trình: “Phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn” của

Trần An Phong, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 11/2005 [117]; “Nâng cao chất

lượng lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

nông thôn” của Hồ Văn Vĩnh, Tạp chí Cộng sản tháng 12/2009 [235]; “Liên kết

4 nhà tạo đường băng để nông dân cất cánh” của Mai Văn Quyền, Tạp chí Cộng sản tháng 2/2010 [118]; “Xây dựng nông thôn mới và vấn đề đặt ra” của Phạm

Trang 28

Tất Thắng, Tạp chí Cộng sản tháng 12/2011 [158]; “Đất và nghề: Nhu cầu bức thiết của nông dân” của Trần Văn Đông, Tạp chí Cộng sản tháng 3/2012 [72];

“Việc làm và vấn đề đạo tạo nghề của lao động nữ nông thôn” của Nguyễn Thị

Phương, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 4 năm 2009 [121]; “Vài nét về

thực trạng đào tạo nghề cho nông dân bị thu hồi đất ở vùng phát triển khu công

nghiệp và đô thị hoá” của Nguyễn Thị Hoa, Tạp chí Tâm lý học, số 5/2013 [80];

“Đào tạo nghề và việc làm cho nông dân: Vấn đề bức xúc của "hậu giải phóng mặt

bằng" của Nguyễn Minh Phong, đăng trên Tạp chí Thương mại số 26/2009, [118];

“Một số vấn đề đặt ra đối với công tác đào tạo nghề cho lao động vùng chuyên

canh” của Phạm Ngọc Thắng, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 364/2009 [157];

“Thực trạng và định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”

của Đàm Hữu Đắc, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 372/2009 [49]; “Đào tạo

nghề cho nông dân - yêu cầu cấp bách của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại

hoá”của Bùi Thị Ngọc Lan, Tạp chí Lý luận chính trị, số 2/2009, [97]; "Tăng

cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong công tác dạy nghề cho lao động nông

thôn" của Phạm Thị Kim Lan, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 5/2012 [94];

“Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn - chủ trương và một số kết quả”

độ giác ngộ và vị thế chính trị của nông dân trong công cuộc đổi mới hiện nay”

của tác giả Nguyễn Trọng Phúc, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11/2016 [119].

Các bài viết trên, từ nhiều góc độ khác nhau, đã tập trung làm rõ tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn đối với sự phát triển bền vững trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam; đánh giá thực trạng của nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay: ruộng đất bị chia nhỏ manh mún không phù hợp với sản xuất hàng hóa, tiến độ áp dụng khoa học kỹ thuật chậm dẫn đến năng suất lao động thấp, làng nghề thiếu công nghệ, sức cạnh tranh kém Từ đó, các công trình đưa ra các giải pháp, các đề xuất để nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo NNL cho nông nghiệp, nông thôn

Trang 29

Ngoài ra, có các đề tài, các hội thảo khoa học đã đề cập đến những vấn đề

có liên quan:

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông

thôn “Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”, do Vũ Thị Kim Mão làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm 2008 [101], đã tập

trung nghiên cứu, phân tích thực trạng lao động nông thôn, đề xuất các giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

Hội thảo khoa học với chủ đề: “Chân dung người nông dân Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập” do Viện Hàn lâm Khoa học

Xã hội Việt Nam, tổ chức tại Hà Nội, ngày 05/12/2013 [232] Hội thảo khẳng định vai trò của người nông dân với nông nghiệp, nông thôn, khẳng định tầm quan trọng của đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng, Nhà nước trong công cuộc đổi mới Từ đó, Hội thảo đề ra những gợi mở có tính định hướng nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn của nông dân, nông thôn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập

Hội thảo khoa học: “Động lực mới cho phát triển nông nghiệp Việt Nam hiện nay”, do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội, ngày 25/5/2017 Hội thảo tập trung phân tích ba vấn đề lớn: Những vấn đề chung về phát triển nông nghiệp ở Việt Nam; những rào cản phát triển nông nghiệp Việt Nam hiện nay; động lực mới cho phát triển nông nghiệp Việt Nam

và gợi ý chính sách Trên tinh thần đó, Hội thảo tập trung xác định rõ những

“điểm nghẽn” và nguyên nhân của từng “điểm nghẽn” đối với nông nghiệp Việt Nam, tìm giải pháp xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững, tăng liên kết theo chuỗi giá trị khép kín và có khả năng cạnh tranh quốc tế

1.1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung tỉnh Vĩnh Phúc đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho nông nghiệp nói riêng

Đây là mảng đề tài hẹp, nhưng khá hấp dẫn, do đó cũng có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Đáng chú ý về công trình nghiên cứu liên quan đến nội

Trang 30

dung tỉnh Vĩnh Phúc đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực cho nông nghiệp nói riêng là các công trình sau:

Công trình Lịch sử phong trào nông dân và hội nông dân tỉnh Vĩnh Phúc

1930 - 2005, của Hội nông dân tỉnh Vĩnh Phúc, xuất bản năm 2005 [87], đã khái

quát đặc điểm kinh tế, xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc và sự đóng góp của nông dân Vĩnh Phúc qua các thời kỳ cách mạng Đặc biệt, làm rõ quá trình hình thành và hoạt động của hội nông dân tỉnh Vĩnh Phúc, nhất là từ Đại hội đại biểu nông dân tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ nhất (1976) cho đến Đại hội đại biểu tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ VI (2003) Trong đó, công trình đã đánh giá những thành tựu, hạn chế của Hội nông dân tỉnh trong quá trình hoạt động và phát triển, những đóng góp quan trọng của Hội nông dân tỉnh trong quá trình phát triển của tỉnh trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là trên mặt trận nông nghiệp trong quá trình triển khai đường lối đổi mới (1986 - 2005) Vì vậy, công trình có đề cập với một dung lượng nhất định và dưới góc độ hoạt động của một tổ chức chính trị xã hội triển khai chủ trương và

sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc thực hiện đào tạo NNL nói chung, NNL cho nông nghiệp, nông thôn nói riêng trong giai đoạn đầu (1997 - 2005) nằm trong phạm vi thời gian luận án nghiên cứu

Công trình Lịch sử Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc (1930 - 2005), của Ban Chấp

hành Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2007 [165], đề cập đến quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trên nhiều phương diện từ năm 1930 - 2005 Đặc biệt, trong chặng đường từ năm 1997 (tái lập tỉnh) với quá trình triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII (1997), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (2001) và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (2005), qua đó, giúp người đọc có được cái nhìn tổng thể về quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cũng như tầm quan trọng, cần thiết về xây dựng NNL trên lĩnh vực nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2005 Đồng thời, công trình cũng đặt ra một số vấn đề cần giải quyết cho quá trình đào tạo,

phát triển NNL đối với tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn tiếp theo

Trang 31

Cuốn Địa chí Vĩnh Phúc của tác giả Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Thế

Trường, Nxb Khoa học xã hội, năm 2012 Cuốn sách làm rõ nét cơ bản về đất đai, địa hình, sông núi, khí hậu, con người, truyền thống lịch sử, quá trình phát triển và nêu được thế mạnh, tiềm năng, đặc trưng cơ bản, riêng biệt của truyền thống con người Vĩnh Phúc [160]

Các công trình: Tổng kết Chương trình mục tiêu giải quyết việc làm giai đoạn 2001 - 2005 [186]; Tổng kết Chương trình mục tiêu giải quyết việc làm giai đoạn 2006 - 2010 [193] của Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã tổng kết

về những kết quả đạt được, hạn chế cần khắc phục và phương hướng đào tạo NNL cho nông nghiệp nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn tiếp theo

Ngoài ra, tỉnh Vĩnh Phúc còn có Đề án: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Vĩnh Phúc thời kỳ 2001 - 2010 đã nêu lên căn

cứ xây dựng đề án, quá trình thực hiện đề án nhằm giải quyết vấn đề công ăn việc làm của người nông dân khi tiến hành CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn [185]

Công trình Vĩnh Phúc 50 năm làm theo lời Bác - Thành tựu và triển vọng, tháng 1/2013 [11] của Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, đã giới thiệu khái quát

một số nét đặc trưng tiêu biểu của Vĩnh Phúc; Hệ thống những lần Bác Hồ về thăm tỉnh Vĩnh Phúc (từ lần thứ nhất ngày 12/2/1945 đến lần thứ tám ngày 16/7/1963) và giới thiệu bài nói chuyện của Bác tại buổi mít tinh ngày 02/03/1963; Công trình đã trình bày khái quát quá trình 50 năm Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã phát huy giá trị truyền thống của địa phương, nỗ lực phấn đấu vượt qua gian khó, thách thức đạt được những thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội,

an ninh, quốc phòng, xây dựng Đảng và mục tiêu, triển vọng phát triển của Vĩnh Phúc trong tương lai để tiếp tục thực hiện lời căn dặn của Người Trong nội dung công trình có đề cập liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và NNL cho nông nghiệp

để xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc thành một trong những tỉnh giàu có, phồn vinh nhất ở miền Bắc

Trang 32

Công trình Vĩnh Phúc 65 năm xây dựng và phát triển, tháng 01/2015 [12],

của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Phúc - Tài liệu tuyên truyền 65 năm Ngày thành lập tỉnh (12/02/1950 - 12/02/2015), đã khái quát quá trình 65 năm xây dựng và phát triển về mọi lĩnh vực của tỉnh Vĩnh Phúc qua các chặng đường lịch

sử Công trình đã khẳng định những bước phát triển "ngoạn mục" về kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc, nhất là từ khi tái lập tỉnh (1997) đến 2015, trong đó có

đề cập đến thành tựu của nông nghiệp và quá trình xây dựng NNL cho ngành nông nghiệp và nông thôn Vĩnh Phúc

Bên cạnh đó còn có các luận án tiến sĩ nghiên cứu sâu hoặc đề cập liên quan đến vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, nhân lực, phát triển kinh tế - xã hội

Vĩnh Phúc Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp Ảnh hưởng của đô thị hoá đến việc làm của nông dân tỉnh Vĩnh Phúc của Ngô Thị Cẩm Linh, Trường Đại học Thái

Nguyên, năm 2014 [100], trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về những ảnh hưởng của đô thị hoá đến việc làm của người nông dân Phân tích làm rõ những ảnh hưởng của đô thị hoá đến việc làm của nông dân tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm giúp nông dân tiếp cận được việc làm trong quá trình đô thị hoá

ở tỉnh Vĩnh Phúc Luận án Tiến sĩ Kinh tế Phát huy lợi thế so sánh để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Phúc của Nguyễn Thế Vinh, Viện Chiến lược phát

triển, năm 2015 [234], đã nêu cơ sở lý luận và thực tiễn về lợi thế so sánh của tỉnh; hiện trạng khai thác và định hướng, giải pháp phát huy lợi thế so sánh của tỉnh Vĩnh Phúc để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Ngoài ra còn có nhiều bài báo đề cập đến vấn đề đào tạo NNL cho tỉnh Vĩnh Phúc như: “Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997

đến nay” của Bùi Mỹ Linh, Tạp chí Quản lí nhà nước, số 132/2007 [101; tr.39-43];

“Vĩnh Phúc vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng trong quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Phạm Văn Vọng, Tạp chí Cộng sản, số 859/2014

[236; tr.38-42]; “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở Vĩnh Phúc theo hướng

công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của Đặng Kim Oanh, Tạp chí Lịch sử Đảng, số

Trang 33

6/2005 [115; tr.39-41]; “Vĩnh Phúc giải quyết việc làm” của Lê Xuân Đăng, Tạp chí Lao động và xã hội”, số 273/2005 [70; tr.3-6]; “Xoá đói giảm nghèo bền vững

ở Vĩnh Phúc” của Đặng Huy Bảo, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 273/2005 [14;

tr.7-11]; “Vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp ở

Vĩnh Phúc” của Trần Thị Tuyết Lan, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 336/2008

[98; tr 39-42]; “Kết quả thực hiện 10 chương trình phát triển kinh tế - xã hội của

Vĩnh Phúc” của Nguyễn Khắc Bộ, Tạp chí Kinh tế và dự báo số 11/2005 [17; tr

41-43]; “Định hướng giải quyết việc làm trong quá trình phát triển khu công

nghiệp ở Vĩnh Phúc” của Phan Thị Khanh, Tạp chí Lao động và Xã hội số

323/2007 [92; tr 29-30] Các bài viết trên từ nhiều góc độ khác nhau đã làm rõ thực trạng thực trạng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Vĩnh Phúc, từ đó đưa ra một số phương hướng, giải pháp về đào tạo nghề, về giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn của tỉnh

Đáng lưu ý tác giả Hà Vũ Tuyến có hai công trình: "Công tác đào tạo nghề ở

tỉnh Vĩnh Phúc - kết quả và một số kinh nghiệm" Tạp chí Lịch sử Đảng, số 9/2014 [180]; "Đào tạo nghề, giải quyết việc làm ở khu vực nông nghiệp, nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc" Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10/2015 [181] Kết quả nghiên cứu của hai

công này chủ yếu tập trung làm rõ thực trạng công tác đào tạo nghề nói chung, giải quyết việc làm đối với các đối tượng khu vực nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Vĩnh Phúc trong công cuộc đổi mới, từ đó đúc kết một số kinh nghiệm có thể vận dụng trong thời gian tiếp theo Đây là những tư liệu quý, luận án kế thừa để giải quyết nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông dân ở tỉnh Vĩnh Phúc

Qua quá trình khảo cứu các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án, có thể khẳng định rằng đã có các công trình nghiên cứu liên quan đến xây dựng NNL nói chung của tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp, đặc biệt tập trung đối tượng là nông dân góc độ Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 34

1.2 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

1.2.1 Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án

- Các công trình nghiên cứu trên đây đã đề cập đến những vấn đề lý luận chung về NNL và đào tạo NNL trên phạm vi cả nước: Các công trình đã đưa ra khái niệm về NNL theo nhiều góc độ khác nhau, từ đó đánh giá thực trạng NNL và đào tạo NNL hiện nay, từ đó khẳng định quá trình nhận thức và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và phát triển NNL, đầu tư cho đào tạo NNL là đúng đắn Đây là một trong những khâu đột phá của Việt Nam trong thời đại kinh tế tri thức, được nhấn mạnh rõ nét khi bước sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Các công trình cũng đã đưa ra một số giải pháp đẩy mạnh đào tạo NNL nói chung

- Các công trình đã đưa ra những vấn đề lý luận chung về nông nghiệp, nông thôn và đánh giá thực trạng lực lượng lao động nông thôn của Việt Nam Vấn đề đào tạo NNL cho nông nghiệp đã có nhiều công trình, đề tài đề cập tới dưới nhiều chiều cạnh khác nhau Các công trình đã nghiên cứu đề cập đến NNL, NNL nông nghiệp; vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ các tỉnh Từ

đó, các tác giả đề xuất giải pháp đào tạo NNL cho nông nghiệp, nông thôn

- Các công trình nghiên cứu về tỉnh Vĩnh Phúc đã đề cập một cách khái quát những đặc điểm của tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh, những thách thức, khó khăn của tỉnh qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt từ năm 1997 đến 2015 Với nhiều góc độ khác nhau, một số các công trình đã đề cập đến các nhân tố tác động đến quá trình xây dựng NNL nói chung của tỉnh Vĩnh Phúc, quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về đào tạo NNL nói chung; trong đó có đào tạo NNL cho nông nghiệp, nhưng chỉ mới dừng lại ở việc đưa ra các số liệu có liên quan để minh chứng cho quá trình chú trọng xây dựng NNL nói chung và để làm

rõ nguyên nhân dẫn đến thành tựu mà tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được

Nhìn chung, cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu, khảo sát một cách có hệ thống về quá trình lãnh đạo Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về thực

Trang 35

hiện nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp chặng đường từ khi tái lập tỉnh cho

đến tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (2008), để làm rõ cơ sở lịch sử quan trọng cho việc xác lập và tiếp tục thực hiện Đề án Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2014 - 2020, của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn (quyết định năm 2014) Tuy nhiên các công trình trên là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để luận án kế thừa các tư liệu quan trọng liên quan đến những quan điểm, chủ trương về phát triển NNL nói chung của Trung ương Đảng, của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, góp phần giải quyết tốt hơn những nhiệm vụ luận án đặt ra

1.2.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

Qua nghiên cứu, khảo sát các công trình nêu trên, chúng tôi nhận thấy một

số vấn đề đặt ra cần tiếp tục được nghiên cứu trong luận án như sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của những quan điểm, chủ trương của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về đào tạo NNL cho nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH ở nông thôn tỉnh Vĩnh Phúc từ khi tái lập tỉnh (1997) cho đến năm 2013

- Nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc về đào tạo NNL cho nông nghiệp qua hai giai đoạn (1997 - 2005 và 2005 - 2013) qua các nhiệm kỳ đại hội Đảng bộ tỉnh (Đại hội XII đến Đại hội XV), từ đó làm rõ tính chủ động, sáng tạo của Đảng bộ và chính quyền của tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình chỉ đạo thực hiện đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm 1997 đến năm 2013

- Qua kết quả khảo sát các cơ sở đào tạo chủ yếu của tỉnh Vĩnh Phúc về NNL cho nông nghiệp, luận án nhận xét thành công, ưu điểm, hạn chế, khiếm khuyết và nguyên nhân của những thành công, ưu, khuyết từ quá trình hoạch định chủ trương cũng như kết quả chỉ đạo thực hiện của Đảng bộ tỉnh từ năm

1997 đến năm 2013 Đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn đối với Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc trong quá trình lãnh đạo đào tạo NNL cho nông nghiệp, để tiếp tục triển khai trong thời gian tới có hiệu quả hơn

Trang 36

Tiểu kết chương 1

Vấn đề NNL, đào tạo NNL nói chung và đào tạo NNL cho nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã và đang được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, nhưng cho đến nay có thể khẳng định chưa có công trình chuyên khảo nào đề cập một cách hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ đào tạo NNL cho nông nghiệp từ năm

1997 đến năm 2013 Tổng quan khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ở ba nhóm chính: Các công trình nghiên cứu chung về NNL và đào tạo NNL; Các công trình nghiên cứu liên quan đến NNL cho nông nghiệp và đào tạo NNL cho nông nghiệp; Các công trình nghiên cứu về NNL nói chung và đào tạo NNL cho nông nghiệp nói riêng ở tỉnh Vĩnh Phúc Sau khi hệ thống khái quát các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án, tác giả làm rõ những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Tác giả luận án mong muốn trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và tổng kết thực tiễn của quá trình lãnh đạo đào tạo NNL cho nông nghiệp của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1997 đến năm 2013, góp phần thực hiện có hiệu quả hơn quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đối với tỉnh Vĩnh Phúc; kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc có thể là bài học quý đối với một số địa phương có những đặc điểm tương đồng

Trang 37

Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH VĨNH PHÚC VỀ

THỰC HIỆN NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

CHO NÔNG NGHIỆP GIAI ĐOẠN 1997 - 2005

2.1 Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc

về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc (1997 - 2005)

2.1.1 Nguồn nhân lực và yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH đất nước

Về khái niệm NNL và NNL cho nông nghiệp

Khái niệm NNL có thể hiểu theo 2 nghĩa Nghĩa rộng: NNL là số dân và chất lượng con người bao gồm toàn diện: thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và tác phong làm việc Nghĩa hẹp: NNL là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực và tâm lực của họ được huy động vào quá trình lao động NNL có thể hiểu là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong

độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi)

Nguồn nhân lực cho nông nghiệp là một bộ phận cấu thành của NNL xã hội, phục vụ cho sự phát triển ngành nông nghiệp nói riêng, phục vụ cho sự

phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nói chung Bao gồm: lực lượng lãnh đạo, quản lý hành chính sự nghiệp; cán bộ quản lý doanh nghiệp nhà nước, cán bộ quản lý hợp tác xã, tổ hợp tác; đội ngũ công chức, viên chức; đội ngũ

kỹ thuật viên phục vụ cho ngành nông nghiệp; lực lượng nông dân trực tiếp lao động sản xuất Trong đó, có thể xác định nông dân là lực lượng đông đảo trong NNL cho nông nghiệp

Trang 38

Về đào tạo NNL là hoạt động dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay

kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người

đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được công việc nhất định Đào tạo NNL gồm các nội dung: Trang bị kiến thức phổ thông (giáo dục phổ thông); Trang bị kiến thức chuyên nghiệp (giáo dục chuyên nghiệp); Trang bị kiến thức quản lý Đào tạo NNL cho nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH là hoạt động nhằm tạo ra NNL có số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của giai đoạn CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn Đào tạo NNL cho nông nghiệp quan trọng hàng đầu là chuyển giao khoa học, công nghệ

và dạy nghề cho nông dân để đáp ứng với quá trình CNH, HĐH nông nghiệp Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, ngày 23/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, thực hiện đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn tập trung vào: Đào tạo lao động nông thôn có trình độ sơ cấp nghề; Kỹ thuật viên có chứng chỉ hành nghề; Tập huấn kỹ thuật cho lao động trực tiếp sản xuất nông nghiệp; Đào tạo lao động nông thôn có chứng chỉ hành nghề để đủ điều kiện hợp đồng lao động với các doanh nghiệp lao động nông nghiệp

Yêu cầu về đào tạo NNL cho nông nghiệp trong quá trình CNH, HĐH đất nước

Bước sang thời kỳ đổi mới đất nước, thực hiện CNH, HĐH, trong đó CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn được coi là một trong những yếu tố cơ bản của chiến lược phát triển quốc gia Trong chiến lược này, nguồn lực kinh tế có giá trị nhất của Việt Nam là đội ngũ lao động dồi dào, nhưng điều kiện quan trọng nhất để thực hiện chiến lược tăng trưởng việc làm ở nông thôn là nâng cao tố chất của người lao động Vì vậy, nâng cao chất lượng NNL cho nông nghiệp là một trong những giải pháp cơ bản nhất nhằm sử dụng có hiệu quả NNL, phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Để thúc đẩy CNH nông nghiệp, nông thôn cần tập trung nâng

cao năng suất lao động nông nghiệp Đây thực chất là sự biến đổi từ phương thức

Trang 39

sản xuất nông nghiệp truyền thống theo chiều rộng, hiệu quả thấp, sang sản xuất nông nghiệp hiệu quả cao, theo chiều sâu Sự tăng trưởng của nông nghiệp chủ yếu

do nâng cao năng suất của toàn bộ các yếu tố sản xuất mang lại Như vậy, CNH dẫn tới sự chuyển đổi phương thức tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp và tất yếu sẽ

có ảnh hưởng quan trọng tới việc làm của người lao động Trước hết, thực hiện CNH sẽ tạo cơ hội mới cho việc làm đầy đủ sức lao động ở nông thôn, bởi vì số lượng việc làm nhiều hay ít chủ yếu do quy mô và tốc độ phát triển kinh tế quyết định Thông thường tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, quy mô sản xuất lớn sẽ có thể cung cấp tương đối nhiều việc làm, thúc đẩy gia tăng việc làm Ở đây, sự chuyển đổi của phương thức tăng trưởng nông nghiệp là dựa trên cơ sở tái sản xuất mở rộng, đa dạng hóa cây trồng Tiến bộ kỹ thuật được áp dụng vào nông nghiệp không những thúc đẩy nâng cao năng suất lao động mà còn nâng cao trình độ sản xuất chuyên môn hóa, mở rộng quy mô sản xuất, kéo dài dây chuyền ngành và phát triển các lĩnh vực sản xuất kiểu mới… điều này sẽ tạo ra những nhu cầu mới về lao động Nhưng ở khía cạnh khác cũng phải thấy tác động của CNH sẽ đem lại những thách thức mới đối với người lao động ở nông thôn

Thứ nhất, theo số liệu điều tra của Viện Chiến lược Phát triển (năm 2000),

trong khu vực nông nghiệp, nông thôn đến năm 2010 lao động nông thôn sẽ là 36,4 triệu, chiếm 63,2% so với dân số nông thôn Như vậy, từ năm 2000 đến năm 2010 phải giải quyết việc làm cho khoảng 6 triệu lao động, đó là chưa kể số lao động chưa có việc làm năm 2000 còn hơn 7 triệu người Sử dụng nguồn lực lao động nông thôn trong giai đoạn tới đặt trong môi trường sức ép về tình trạng thiếu việc làm của Việt Nam (cả ở nông thôn và thành thị) còn rất lớn Điều này

sẽ tác động mạnh mẽ đến phương thức tăng trưởng nông nghiệp và kinh tế nông thôn cũng như toàn bộ nền kinh tế của đất nước trong quá trình CNH, HĐH

Thứ hai, xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của

cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đòi hỏi phải tăng nhanh chất lượng NNL Nhân loại đang từng bước sử dụng tri thức cho phát triển, với việc hình thành nền

Trang 40

kinh tế tri thức, trên cơ sở sử dụng những thành tựu mới nhất của cách mạng khoa học - công nghệ vào sản xuất với ba mũi nhọn chủ yếu là: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới Chính vì vậy, trong xu thế hội nhập quốc tế khả năng cạnh tranh của mỗi nước trước hết dựa vào chất lượng của nguồn lực con người, vào tri thức khoa học - công nghệ Khi Việt Nam tham gia vào các tổ chức quốc tế đòi hỏi phải cải thiện mạnh mẽ sức cạnh tranh về nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên, những thách thức về chất lượng NNL đang đặt ra cho Việt Nam nhiệm vụ phải nhanh chóng nâng cao tố chất nguồn vốn con người Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để Việt Nam có thể đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn và nhanh chóng hội nhập vào thị trường thế giới

Thứ ba, tác động của CNH đến vấn đề sử dụng NNL cho nông nghiệp,

nông thôn trong giai đoạn tới với đòi hỏi phải có sự thay đổi về chất trong phương thức sản xuất nông nghiệp Ở nét chung nhất CNH, HĐH là "quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, quản

lý kinh tế, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [60; tr 42]

Do vậy, đào tạo NNL cho nông nghiệp là yêu cầu khách quan, cấp thiết đối với Việt Nam khi tiến hành CNH, HĐH, trong xu thế toàn cầu hóa và hội

nhập quốc tế

2.1.2 Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp giai đoạn đầu tiến hành CNH, HĐH

Trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000,

Đảng chỉ rõ nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam có truyền thống cần

cù, sáng tạo, có nền tảng văn hóa, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học

và công nghệ… đó là nguồn lực quan trọng nhất Tuy nhiên, người Việt Nam đang có những hạn chế về thể lực, kiến thức, tay nghề, còn mang thói quen sản

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w