Nhìn vào tác phẩm, người ta nhận ra không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tính cách của các nhân vật, của từng phận người trong xã hội được nhà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
–––––––––––––––––––––
PHẠM TIẾN TRIỀU
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN HÀ THỊ CẨM ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
–––––––––––––––––––––
PHẠM TIẾN TRIỀU
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN HÀ THỊ CẨM ANH
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lí luận văn học
Mã số: 60.22.01.20
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN KHÁNH THÀNH
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hà
Thị Cẩm Anh” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học
của PGS.TS Trần Khánh Thành và những kết quả nghiên cứu ở trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực
Luận văn của tôi đã được chỉnh sửa theo những ý kiến đóng góp của các thầy,
cô giáo trong hội đồng khoa học
Xác nhận của khoa Văn học Xác nhận của người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Trần Khánh Thành
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, bản thân tôi
đã nhận được sự động viên, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình và quý báu của các thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới:
PGS.TS Trần Khánh Thành - một người thầy tâm huyết, có trách nhiệm đã
hết lòng, hết sức giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn từ những ngày hình thành ý tưởng đến khi hoàn chỉnh luận văn
Các thầy cô giáo ở khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội; đặc biệt là các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy lớp cao học ngành văn học khóa 2016-2018, đã mang đến cho tôi rất nhiều kiến thức qúy báu
và truyền cho tôi sự tâm huyết, yêu nghề để tôi có động lực và niềm tin theo đuổi lĩnh vực hết sức mới mẻ mà tôi tâm huyết và đam mê nghiên cứu
Gia đình, bố mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp của tôi; đặc biệt là người vợ của tôi đã đồng cảm và sát cánh bên tôi trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn
Các bạn học viên lớp cao học ngành văn học (khóa học 2016-2018) đã luôn chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và cảm xúc trong những ngày tháng tôi học tập tại trường
Hà Nội, ngày 22 tháng 11 năm 2018
Phạm Tiến Triều
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… ….6
1 Lí do chọn đề tài ……… …… 6
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu……… 8
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 13
4 Phương pháp nghiên cứu……… 14
5 Bố cục của luận văn……… 14
CHƯƠNG 1: KHÁI LƯỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC CỦA HÀ THỊ CẨM ANH 15
1.1 Khái lược về thế giới nghệ thuật……… 15
1.1.1 Thế giới nghệ thuật ……… 15
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn……… 16
1.2 Khái lược về sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh……… 17
1.2.1 Hành trình sáng tạo của Hà Thị Cẩm Anh……… 17
1.2.2 Vị trí của Hà Thị Cẩm Anh……… 20
1.2.2.1 Cây bút xuất sắc của văn xuôi dân tộc Mường hiện đại……… 20
1.2.2.2 Nhà văn nữ tiêu biểu của văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam… 21
CHƯƠNG 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT ……… 25
2.1 Khái niệm về thế giới nhân vật và nhân vật trong truyện ngắn… 25
2.1.1 Thế giới nhân vật……… 25
2.1.2 Nhân vật trong truyện ngắn……… 27
2.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh………… 29
2.2.1 Nhân vật dị biệt……… 30
2.2.2 Nhân vật cô đơn……… 33
2.2.3 Nhân vật tha hóa ……… 42
2.2.4 Nhân vật tự ý thức ……… 45
2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật…… 50
Trang 6CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC TỔ CHỨC THẾ GIỚI NGHỆ
THUẬT… 54
3.1 Tổ chức không gian nghệ thuật……… 54
3.1.1 Khái niệm về không gian nghệ thuật……… 54
3.1.2 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh………… 55
3.1.2.1 Không gian địa lí……… 55
3.1.2.2 Không gian văn hóa……… 56
3.2 Tổ chức thời gian nghệ thuật……… 60
3.2.1 Khái niệm về thời gian nghệ thuật……… 60
3.2.2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh……… 61
3.2.2.1 Thời gian quá khứ……… 61
3.2.2.2 Thời gian hiện tại……… 64
3.2.2.3 Thời gian đan cài giữa quá khứ và hiện tại……… 66
3.3 Tổ chức tình huống truyện và cốt truyện……… 67
3.3.1 Tổ chức tình huống truyện……… 67
3.3.1.1 Tình huống truyện bất ngờ, kịch tính……….68
3.3.1.2 Tình huống truyện ly kỳ, hấp dẫn………71
3.3.2 Tổ chức cốt truyện……… 76
3.3.2.1 Cốt truyện kết thúc có hậu………77
3.3.2.2 Cốt truyện thay đổi trật tự ……… 80
3.3.2.3 Cốt truyện vừa mang tính hiện thực vừa mang tính huyền ảo……… 86
3.4 Tổ chức văn bản ngôn từ……….88
KẾT LUẬN……….93
TÀI LIỆU THAM KHẢO ………95
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
DTTS: Dân tộc thiểu số
VHDG: Văn học dân gian
UBND: Ủy ban nhân dân
VHNT: Văn học nghệ thuật
Nxb: Nhà xuất bản
VHDT: Văn hóa dân tộc
VHTĐ: Văn học trung đại
GS: Giáo sư
PGS.TS: Phó giáo sư, tiến sĩ
TS: Tiến sĩ
THCS: Trung học cơ sở
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thành tựu của nền văn học Việt Nam được tạo thành bởi văn học nghệ thuật của 54 dân tộc anh em cùng sinh sống và xây dựng nên Do đó, nói đến văn học Việt Nam, chúng ta không chỉ kể đến bộ phận văn học của người Việt (người Kinh) mà còn có sự tham gia tạo dựng và vun đắp của bộ phận văn học các DTTS Qua tìm hiểu và nghiên cứu, chúng ta đã tự hào về nhiều kiệt tác thuộc nhiều thể loại VHDG của các DTTS mà ở VHDG của người Kinh không có được như sử thi, truyện thơ dân gian, của các dân tộc Mường, Thái, Tày, Ê đê, Mơ nông, Đó là sự bổ sung đáng
kể, làm phong phú thêm đời sống VHDG đa dạng và giàu bản sắc của dân tộc Việt Nam Tuy nhiên, ở bộ phận văn học viết thì văn học các DTTS phát triển muộn hơn
so với văn học viết của người Kinh Nói chính xác hơn, các trí thức người DTTS sáng tác văn học trong thời kì trung đại còn khá khiêm tốn và ít để lại dấu ấn Mãi đến thời
kì hiện đại, nhất là từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, bộ phận văn học viết của các DTTS Việt Nam mới dần hình thành và tạo nên diện mạo, góp phần quan trọng vào
sự phát triển chung của nền văn học Việt Nam hiện đại với hàng loạt tên tuổi lớn như Nông Quốc Chấn, Vi Hồng, Bàn Tài Đoàn, Y Phương, Cao Duy Sơn, Y Điêng, Nông Minh Châu, Vương Anh, Bùi Tuyết Mai, Hà Thị Cẩm Anh Tác phẩm của họ đã tạo tiếng vang trong dư luận với nhiều giải thưởng lớn trong nước và quốc tế Đó là tài sản quý báu góp phần cùng với bộ phận văn học viết của người Kinh làm phong phú thêm di sản VHNT của dân tộc Việt Nam, đánh dấu bước phát triển lớn của văn chương nước nhà
Thế giới nghệ thuật của nhà văn mang ý nghĩa chỉnh thể thống nhất của nhà văn trong suốt sự nghiệp sáng tác Nhìn vào tác phẩm, người ta nhận ra không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tính cách của các nhân vật, của từng phận người trong xã hội được nhà văn khái quát lên trong tác phẩm của mình Thông qua thế giới nghệ thuật đó, người đọc nhận ra tài năng, nhân cách và tầm văn hóa của tác giả qua việc tổ chức về thế giới nghệ thuật, xây dựng nhân vật, tổ chức các sự kiện diễn ra trong tác phẩm để đạt tới trình độ chuẩn mực trong tổ chức tác phẩm Trong quá trình nghiên cứu văn học hiện đại các DTTS Việt
Trang 9Nam, chúng ta dễ nhận ra các nhà văn DTTS đã có sự tổ chức tác phẩm hết sức độc đáo và hấp dẫn Trong khi các cây bút người Kinh đa phần ảnh hưởng của các phương pháp sáng tác hiện đại từ phương Tây thì các nhà văn người DTTS lại vận dụng một cách tài tình các yếu tố văn hóa, ngôn ngữ, lối ăn nói, cách nghĩ, cách cảm, của dân tộc mình, của đồng bào nơi mình sinh ra, lớn lên và được trải nghiệm, cách tổ chức tác phẩm trong các câu chuyện dân gian của người miền núi Điều đó vừa phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, vừa tạo nên sự “lạ hóa” trong tác phẩm để thu hút người đọc Vì thế, nghiên cứu thế giới nghệ thuật của các nhà văn người DTTS phải dựa trên các yếu tố thi pháp đã nêu ở trên để có thể khám phá ra những vẻ đẹp riêng của tác phẩm
So với các nhà văn người dân tộc thiểu số trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Hà Thị Cẩm Anh tuy đến sau nhưng đã khẳng định được tên tuổi, nhất là trong khoảng gần 20 năm cầm bút trở lại (tính từ năm 2000 đến nay) Nếu nói về thời gian cầm bút, không phải đến những năm đầu của thế kỉ XXI Hà Thị Cẩm Anh mới viết
Tác phẩm đầu tay Thím Cò Khoai được viết năm nhà văn mới 11 tuổi cùng hàng loạt
truyện ngắn khác Truyện ngắn này sau đó được đăng trên tập san Người bạn văn
hóa của Ban vận động thành lập Hội văn nghệ của tỉnh Thanh Hóa và được đưa vào
các tuyển tập in chung do Ty văn hóa Thanh Hóa xuất bản Dù sau này Hà Thị Cẩm Anh về công tác tại Hội VHNT tỉnh, được đi học Bổ túc văn hóa công nông, tham dự lớp Bồi dưỡng viết văn Nguyễn Du cùng nhiều cây bút tên tuổi nhưng cuộc sống cơm
áo, mưu sinh đã không cho phép nhà văn thực hiện những dự định viết của mình Tuy vậy, sau khi xin về hưu (năm 2000), Hà Thị Cẩm Anh cầm bút trở lại Ngay lập tức, tác phẩm của bà để lại tiếng vang trong dư luận Hầu như từ năm 2002, năm nào bà cũng cho ra đời một tập truyện Đặc biệt, tại cuộc thi truyện ngắn Báo văn nghệ 2004-
2005, truyện ngắn Gốc gội xù xì của bà được trao giải nhất Từ đó bà viết khá đều tay
và liên tục xuất bản sách với hàng loạt giải thưởng lớn nhỏ được trao Đọc tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh, người đọc rất dễ nhận ra thế giới nghệ thuật của bà là một thế giới đậm đặc chất Mường được nhà văn chưng cất từ chính mảnh đất, con người, những năm tháng được sinh ra, lớn lên, trưởng thành và cả những hoài niệm về vùng đất Si Dồ quê hương Đóng góp của Hà Thị Cẩm Anh cho văn học Mường, văn học
Trang 10các DTTS và rộng hơn là văn xuôi Việt Nam đương đại là không hề nhỏ Tuy nhiên,
do nhiều yếu tố mà sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh vẫn chỉ dừng lại ở miền đất hứa, ít người đặt chân tìm hiểu, khám phá, đặc biệt là nghiên cứu một cách có hệ thống về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của bà Với đề tài nghiên cứu này, tôi mong muốn đóng góp một phần về hướng nghiên cứu truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh từ góc nhìn thế giới nghệ thuật để hiểu hơn về những giá trị mà tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh đóng góp cho văn chương đương đại Việt Nam, nhất là ở mảng văn học viết của người DTTS - mảnh đất tiềm năng và nhiều hứa hẹn đối với các nhà nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử nghiên cứu văn học DTTS, hầu như rất ít công trình nghiên cứu riêng biệt về một tác giả Nhà văn Hà Thị Cẩm Anh cũng không phải là một ngoại lệ Căn cứ vào các bài viết, nghiên cứu, tìm hiểu về Hà Thị Cẩm Anh, căn cứ vào nội dung các văn bản đề cập đến các sáng tác của nhà văn, chúng tôi phân loại các bài
viết, nghiên cứu về nhà văn Hà Thị Cẩm Anh thành bốn dạng bài: một là, các bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu giới thiệu các tập sách của Hà Thị Cẩm Anh; hai là,
các bài viết, nghiên cứu của các tác giả về Hà Thị Cẩm Anh công bố trên các báo và
tạp chí; ba là, các bài viết về văn học DTTS có nhắc đến Hà Thị Cẩm Anh, các bài viết về Hà Thị Cẩm Anh đăng trên các trang cá nhân; bốn là các luận án, luận văn về
Hà Thị Cẩm Anh hoặc có nhắc đến Hà Thị Cẩm Anh
2.1 Các bài viết của các nhà văn, nhà nghiên cứu giới thiệu các tập sách của Hà Thị Cẩm Anh
Có thể kể đến như bài viết Từ Nguyên Tĩnh giới thiệu tập truyện kí Người con
gái mường Biện, lời tựa tập truyện ngắn Lời xường ru từ núi do Đỗ Đức viết, bài
viết của Lã Thanh Tùng giới thiệu tập truyện ngắn Nước mắt của đá,… Trong các
bài viết này, tuy các tác giả chưa đi sâu nghiên cứu về thế giới nghệ thuật truyện ngắn
Hà Thị Cẩm Anh nhưng ở các bài viết cũng đã có những nhận định, đánh giá thấu đáo về nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, trình bày được những cảm nhận về
hệ thống nhân vật, cách tổ chức về thế giới nghệ thuật,… Từ đó, người đọc nhận ra chân dung một Hà Thị Cẩm Anh cũng như vị trí của bà trong văn xuôi đương đại Việt Nam, nhất là ở bộ phận văn xuôi các DTTS
Trang 11Trong lời giới thiệu tập truyện ký Người con gái mường Biện, Từ Nguyên
Tĩnh đã nhận xét về các truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh có trong tập truyện là
“…xinh xắn có nét riêng của núi rừng Vẫn hồn hậu hơi thở của Thím Cò Khoai thuở nào, nhưng cách nhìn, cách nghĩ sâu hơn, trắc nghiệm qua thời gian, mất mát hi sinh của con người, và hé mở một triết lí mà ta thường bắt gặp: Con người sống là hi sinh cho người khác, là gặp cái lớn lao của con người, của hạnh phúc…” [1]
Với Đỗ Đức trong bài viết Đọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh làm tựa cho tập
truyện ngắn Bài xường ru từ núi lại có một cái nhìn khác trong tìm hiểu truyện ngắn Hà
Thị Cẩm Anh Ông đi từ không gian sống của nhà văn làm nên nét riêng của Hà Thị Cẩm
Anh “Mảnh đất chị chọn cho văn chương là mường Vang, là làng Chiềng, là thung lũng
Si Dồ xứ Thanh” [3,tr.5] Tác giả bài viết so sánh Hà Thị Cẩm Anh với Raxun Gamza
-tốp để thấy dù lối viết khác nhau, cái nhìn khác nhau và ở thời đại, nền văn hóa khác nhau
“Nhưng cái giống nhau lại gần như trùng khít, đó là ngòi bút của họ chỉ quanh quẩn trên quê hương xứ sở của mình Con đường văn nghiệp gắn chặt với mảnh đất mình được sinh thành” [3, tr.5]
Khi đọc tập truyện ngắn Nước mắt của đá, tác giả Lã Thanh Tùng nhận xét
“Trên tay các bạn đang là máu thịt chị, bảy truyện ngắn tròn trịa, ấm nóng, bảy tiếng thở dài và bảy bài ca u buồn… Bảy truyện ngắn trong tập này giống như bảy chú lùn siêng năng kết đoàn cùng xây đắp một tổ ấm ngăn nắp mời gọi, để mỗi độc giả khi lạc vào có thể tự mình thể nghiệm một vai Bạch Tuyết ê chề mà hạnh phúc” [4,tr.6] Để rồi ông kết lại về Hà Thị Cẩm Anh “Cây bút của chị cũng gió mưa, hoa lá sâu rầy ong bướm như hàng nghìn nhà văn trên trái đất này, nhưng cái niềm vui và nỗi đau của chị thì lại đặc trưng cho bản thể chị, chúng “ngún” lên từ từng tế bào, giọng nói, cái lối hành xử của chị, về cuộc sống đang ngổn ngang bề bộn nơi cái xứ mường Vang, mường Dồ âm u đại ngàn Bắc Trung Bộ Việt Nam” [4,tr.6]
Đó là những đánh giá đầu tiên và bao quát nhất về các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh Các bài viết đã cho ta thấy được nét riêng của nhà văn này trong văn xuôi Việt Nam đương đại Từ những nét riêng độc đáo đó giúp người đọc nhận diện tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh có đóng góp và xứng đáng ở vị trí tiêu biểu trong văn học dân tộc Mường nói riêng, văn xuôi các DTTS nói chung
Trang 122.2 Các bài viết, nghiên cứu của các tác giả về Hà Thị Cẩm Anh công bố trên các báo và tạp chí
Hầu hết các bài viết này đều có những nhận định, đánh giá về các phương diện khác nhau trong sáng tác của nhà văn từ phương diện nội dung đến nghệ thuật Tiêu biểu là các bài viết của Thy Lan, Trần Thị Việt Trung, Trọng Miễn, Nguyễn Thị Bích Dậu, Hỏa Diệu Thúy, Viên Lan Anh,…
Trong bài viết Nhà văn Hà Thị Cẩm Anh và hồn Mường trong tập truyện ngắn Một nửa của người đàn bà, nhà nghiên cứu Thy Lan đã có những đánh giá khá toàn
diện về thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh nói chung, tập truyện
Một nửa của người đàn bà nói riêng Đánh giá chung về tác phẩm của Hà Thị Cẩm
Anh, Thy Lan viết “Điều ám ảnh, lôi cuốn người đọc ở tác phẩm của chị nhìn chung, mang "hồn Mường", chưng cất lại những trải nghiệm, vốn sống của đồng bào mình được chị nâng lên, sáng tạo thành truyện đầy chất thơ” [40,tr.16] Tác giả bài viết đã
đánh giá khá chân thực và sâu sắc về cách tổ chức các yếu tố nghệ thuật trong truyện ngắn
của Hà Thị Cẩm Anh Thy Lan đánh giá cao Hà Thị Cẩm Anh trong việc “…miêu tả thiên nhiên, mối quan hệ gắn bó con người với thiên nhiên, bộc lộ cái tôi nhà văn, quan điểm văn hóa, thẩm mỹ, lựa chọn các tình huống, chi tiết truyện bất ngờ, cách
mở truyện, kết truyện tự nhiên, hấp dẫn, ngôn ngữ trong sáng, gần gũi,…” [40,tr.16]
Trong một bài nghiên cứu của mình, PGS.TS Trần Thị Việt Trung đã có cái nhìn
sâu sắc về hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh: “Trái tim tôi như bị bóp nghẹt, thổn thức và buốt nhói khi đọc những tác phẩm viết về thân phận của những người phụ nữ Mường ở thung lũng Si Dồ của chị Hiếm có một nữ nhà văn nào lại trung thành đến thế, thủy chung đến thế, yêu thương, thiết tha và trăn trở, xót
xa đến thế với mảnh đất Xứ Mường, với những thân phận của những người phụ nữ
Xứ Mường như chị” [74] Từ điểm nhìn này, Trần Thị Việt Trung đã tập trung đi sâu và
làm nổi bật hình tượng người phụ nữ Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh - thân phận khái quát nhất của những con người ở thung lũng Si Dồ Tác giả cũng đánh giá tài năng của Hà Thị Cẩm Anh trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, trong tổ chức không gian
và thời gian nghệ thuật, các tín hiệu về văn hóa, ngôn ngữ Mường để làm nên vẻ đẹp riêng, độc đáo và hấp dẫn, lôi cuốn người đọc trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh
Trang 13Nhà nghiên cứu Trọng Miễn trong bài viết Nhìn ra được mất đăng trên báo Văn nghệ trẻ, số 33 ra ngày 17/8/2013 cũng đánh giá“Văn của Hà Thị Cẩm Anh thấm đẫm hồn cốt của người Mường… Phải là người hiểu văn hoá Mường, yêu quý văn hoá Mường mới viết được như thế” [46,tr.15]
Trong một số bài viết khác, nhiều cây bút cũng đã có những đánh giá khá chân thực, khách quan về sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh Tác giả Nguyễn Thị Bích Dậu trong
bài Cảm hứng về vẻ đẹp dân tộc Mường trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đăng
trên Tạp chí Văn hiến điện tử ngày 27/6/2014, tác giả đã tập trung đi sâu làm nổi bật những nét bản sắc văn hóa Mường trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh như là một minh chứng tạo nên nét độc đáo và sự thành công của nhà văn này Viết về sáng
tác của Hà Thị Cẩm Anh, tác giả bài viết cho rằng “ nhà văn đã thổi hồn dân tộc vào trang viết của mình nhờ việc sử dụng ngôn ngữ Mường, câu văn mang âm hưởng
sử thi dân gian và một thế giới nghệ thuật giàu tính dân tộc Tuy nhiên, bản sắc dân tộc thể hiện đậm nét nhất trong cảm hứng về vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của đồng bào dân tộc Mường” [17]
Cũng nói về yếu tố không gian nghệ thuật, PGS.TS Hỏa Diệu Thúy trong bài viết
Hà Thị cẩm Anh với những chuyện ở thung lũng Si Dồ lại tập trung làm nổi bật hành
trình sáng tạo của Hà Thị Cẩm Anh từ góc nhìn không gian nghệ thuật Từ điểm nhìn này, tác giả đưa ta đi vào thế giới nghệ thuật của Hà Thị Cẩm Anh từ cảm hứng sáng tác, đề tài, cốt truyện đến ngôn ngữ, giọng điệu đều bắt nguồn từ những câu chuyện ở thung lũng Si Dồ được nhà văn khái quát lên trong tác phẩm của mình Tác giả kết
luận:“Hà Thị Cẩm Anh đã tận dụng khai thác khá hợp lí những gì thuộc về sở hữu riêng trong ngôn ngữ và cách diễn đạt của dân tộc mình tạo nên sự duyên dáng, hấp dẫn trong những trang viết” [67,tr.24]
Các bài viết của nhà văn Viên Lan Anh đăng chủ yếu trên báo Thanh Hóa cũng
đã có những đánh giá về một số đóng góp của Hà Thị Cẩm Anh ở một số phương diện trong sáng tác về truyện ngắn Trong bài viết mới nhất đăng trên báo Thanh Hóa
điện tử 24/10/2018, tác giả đã viết “Nhà văn Hà Thị Cẩm Anh luôn sáng tạo được những cốt truyện hay, ấn tượng với hình ảnh những người phụ nữ do số phận đưa đẩy mà họ ràng rịt lấy nhau trong hành trình đi tìm đáp số cuộc đời” [12]
Trang 142.3 Các bài viết về văn học DTTS có nhắc đến Hà Thị Cẩm Anh, các bài viết về Hà Thị Cẩm Anh đăng trên các trang cá nhân
Ở dạng bài viết này có thể nhắc đến các bài tiêu biểu như Văn xuôi dân tộc thiểu số, khác biệt từ vùng miền của nhà thơ, nhà nghiên cứu Inrasara (dân tộc Chăm) đăng trên trang Blog cá nhân Tác giả Đào Thuỷ Nguyên có đề tài nghiên cứu Bản sắc dân tộc trong sáng tác của một số nhà văn dân tộc thiểu số, Đề tài khoa học và
công nghệ cấp Bộ, ĐHSP Thái Nguyên năm 2013 Nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Yên có
bài viết Người phụ nữ trong xã hội hiện đại qua những trang văn nữ trên tạp chí Văn nghệ quân đội điện tử, đăng ngày 15.4.2015 Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh có bài viết Hà Thị Cẩm Anh và thung lũng Si Dồ, đăng trên trang nguyentinh.vnweblog.com năm
2011 Tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền có bài Văn học hiện đại dân tộc Mường: những khuôn mặt đăng trên trang Vănchươngviet.org năm 2006
2.4 Các luận án, luận văn về Hà Thị Cẩm Anh hoặc có nhắc đến Hà Thị Cẩm Anh
Theo tìm hiểu, cho đến thời điểm hiện tại, chúng tôi chỉ mới tìm thấy hai luận văn viết riêng về Hà Thị Cẩm Anh được công bố đều là luận văn thạc sĩ của Đại học
Thái Nguyên Đó là luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam Bản sắc văn hóa Mường
trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh của Nguyễn Thị Bích Dậu do PGS.TS Đào
Thủy Nguyên hướng dẫn bảo vệ thành công năm 2014 và luận văn thạc sĩ Văn học
Việt Nam Nhân vật phụ nữ Mường trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh của Nông
Thị Thúy Hương do PGS.TS Trần Thị Việt Trung hướng dẫn bảo vệ thành công đầu năm 2018 Chưa thấy có luận án tiến sĩ nào viết riêng về Hà Thị Cẩm Anh TS Phạm Duy Nghĩa trong luận án tiến sĩ Ngữ văn bảo vệ thành công tại Viện Văn học năm
2010 mang tên Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi cũng có điểm tên
Hà Thị Cẩm Anh với một sự trân trọng đối với một tài năng văn chương nữ
Thông qua nghiên cứu, tìm hiểu về các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, chúng ta đều nhận thấy, dù nói trực tiếp hay gián tiếp đều tập trung làm nổi bật thế giới nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn Tuy nhiên, các bài viết, các luận văn thạc sĩ mới chỉ dừng lại ở một khía cạnh nhỏ trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh mà chưa có cái
nhìn toàn diện về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của bà Luận văn thạc sĩ Thế
giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh của tôi hi vọng sẽ góp phần
Trang 15giúp cho bạn đọc có cái nhìn toàn diện về truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh để chúng ta trân trọng và có sự đánh giá đúng vị trí của Hà Thị Cẩm Anh trong văn học Mường nói riêng, văn xuôi các DTTS nói chung, rộng hơn nữa là trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại Từ đó, định hướng nghiên cứu về các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh nói chung, truyện ngắn của bà nói riêng trong cái nhìn tương quan với sự phát triển chung của văn chương đương đại Việt Nam
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh
nhằm mục đích: Một là, làm nổi bật thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh cũng như hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Hai là, chỉ ra và phân
tích được những biểu hiện về thế giới nhân vật trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh
thông qua một số kiểu nhân vật Ba là, chỉ ra và phân tích được các phương thức tổ
chức thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh như tổ chức không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, tổ chức tình huống truyện và cốt truyện, tổ chức văn bản ngôn từ,
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu vấn đề Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh, khảo sát tất cả các tập truyện của nhà văn từ năm 2002 đến nay
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tài liệu nghiên cứu của đề tài Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Hà
Thị Cẩm Anh là các truyện ngắn được in trong các tập truyện, tuyển tập tác phẩm của Hà
Thị Cẩm Anh: Người con gái mường Biện (Tập truyện và kí) - Nxb Văn hoá dân tộc 2002; Bài xường ru từ núi (Tập truyện ngắn) - Nxb Văn hoá dân tộc 2004: 8 truyện ngắn; Nước mắt của đá (Tập truyện ngắn) - Nxb Văn hoá dân tộc 2005: 7 truyện ngắn; Mưa bụi (Tập truyện ngắn) - Nxb Văn hoá dân tộc 2008: 5 truyện ngắn; Một
nửa của người đàn bà (Tập truyện ngắn) - Nxb Văn hoá dân tộc 2013: 9 truyện
ngắn; Bình minh xanh (Tập truyện ngắn) - Nxb Quân đội nhân dân 2017: 8 truyện ngắn; Tuyển tập Hà Thị Cẩm Anh - Nxb Đại học Thái Nguyên 2017 Những sáng
tác khác của Hà Thị Cẩm Anh chưa được công bố, chúng tôi tạm chưa khảo sát
Trang 16Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, đề tài sẽ nghiên cứu tìm hiểu một số bài viết, tác phẩm thuộc các thể loại khác truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh Tìm hiểu thêm các truyện ngắn của các tác giả khác để so sánh, đối chiếu với truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh trên các phương diện khác nhau về thế giới nghệ thuật
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp cấu trúc hệ thống
Phương pháp này giúp cho việc tìm hiểu, hệ thống hóa các truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh Từ đó phân loại các đối tượng nhân vật, về không gian và thời gian nghệ thuật, về tổ chức tình huống truyện và cốt truyện, về tổ chức văn bản ngôn từ trong cấu trúc chỉnh thể của thế giới nghệ thuật
4.2 Phương pháp so sánh
Phương pháp này nhằm làm nổi bật những đặc trưng riêng trong thế giới nghệ thuật của nhà văn Hà Thị Cẩm Anh trong tương quan với văn xuôi Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong bộ phận văn học dân tộc Mường nói riêng, văn xuôi các DTTS nói chung
4.5 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Sử dụng phương pháp này để làm nổi bật các đóng góp toàn diện của Hà Thị Cẩm Anh trong sáng tác truyện ngắn hiện đại
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái lược về thế giới nghệ thuật và sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh Chương 2: Thế giới nhân vật
Chương 3: Các phương thức tổ chức thế giới nghệ thuật
Trang 17CHƯƠNG 1:
KHÁI LƯỢC VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
VÀ SÁNG TÁC CỦA HÀ THỊ CẨM ANH 1.1 Khái lược về thế giới nghệ thuật
hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [43,tr.78]
Trong cuốn Giáo trình lí luận văn học (tập 2, do Trần Đình Sử chủ biên) đã
cho rằng: “Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn Thế giới này chỉ có trong tác phẩm và trong tưởng tượng nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thế giới tư tưởng, thế giới thẩm mĩ, thế giới tinh thần của con người” [59,tr.83] Và “Một thế giới nghệ thuật nhất định với tư cách là một hệ thống không chỉ đặc trưng cho tác phẩm đó, mà còn đặc trưng cho cả nhà văn nói chung Nghiên cứu cấu trúc của thế giới nghệ thuật vừa cho ta hiểu hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm, quan niệm của tác giả
về thế giới, vừa có thể khám phá thế giới bên trong ẩn kín của nhà văn, cái thế giới chi phối sự hình thành phong cách nghệ thuật” [59,tr.83]
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học viết:“Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh
rằng: Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc
tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù
nó phản ánh các thế giới ấy.Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng,
có quy luật tâm lí riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… Như vậy, khái niệm thế giới nghệ thuật giúp ta hình dung tính độc đáo và
tư duy nghệ thuật của sáng tạo nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan, văn hóa chung, văn hóa nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ” [25,tr.303]
Trang 18Như vậy, có thể hiểu rằng, trong hoạt động nghệ thuật, thế giới nghệ thuật chính là thế giới hình tượng nghệ thuật được người nghệ sĩ tạo dựng nên trong tác phẩm theo những quan điểm thẩm mĩ, những nguyên tắc tư tưởng của mình Một tác phẩm văn học phải là một chỉnh thể nghệ thuật sống động, được xây dựng nên bằng ngôn từ nghệ thuật và các phương thức tổ chức, phải chứa đựng những giá trị lớn lao được chưng cất lên trong quá trình trải nghiệm cuộc sống của nhà văn
1.1.2 Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn
Trong sáng tạo văn học nghệ thuật, tác phẩm là thước đo tài năng nghệ thuật của một người cầm bút Tác phẩm văn học là một sản phẩm sáng tạo nghệ thuật của nhà văn Trong sản phẩm nghệ thuật ấy, nhà văn xây dựng nên một thế giới nghệ thuật mang dấu ấn riêng của mình Mỗi tác phẩm có một thế giới nghệ thuật riêng Khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn quả không hề đơn giản Giáo sư Nguyễn
Đăng Mạnh cho rằng:“Đọc văn nghiên cứu văn là đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn Thế giới ấy được xây dựng nên cốt là để “tha hồ muôn khách đến” (Xuân Diệu)
Ấy thế mà, trước người đọc, cách cửa nghệ thuật nhiều khi dường như khép chặt”
[43,tr.82] Chính vì khó khăn như vậy nên việc khám phá thế giới nghệ thuật của nhà văn luôn là một nhu cầu, là khao khát chính đáng mà các thế hệ người đọc luôn quan tâm Đồng thời, cũng định hướng cho các nhà nghiên cứu tìm tòi, khám phá một cách chuẩn xác mà linh hoạt về thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn chương
Tuy nhiên, để có thể mở được cánh cửa để bước chân vào thế giới nghệ thuật của nhà văn không phải là điều đơn giản GS Nguyễn Đăng Mạnh cũng đã gợi ý
“Văn học nghệ thuật là một hoạt động tư tưởng” [43,tr.71], “Tư tưởng nghệ thuật là một cái gì rất riêng, nó là tài và tình riêng kết hợp, là tư tưởng cá nhân và hình tượng độc đáo thống nhất hài hòa, là chỗ mạnh riêng, là sở trường riêng của mỗi cây bút,
là cái tạng riêng của mỗi nhà văn” [43,tr.71]
Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn cũng không nằm ngoài quan điểm chung
về thế giới nghệ thuật trong tác phẩm văn chương Tuy nhiên, để có thế khám phá thế giới nghệ thuật văn chương nói chung, của truyện ngắn nói riêng, chúng ta cần phải dựa vào đặc trưng của từng thể loại kết hợp với hành trình tư tưởng của nhà văn để có thể khám phá ra vẻ đẹp đích thực mà tác phẩm muốn hướng đến
Trang 19Với truyện ngắn, tác phẩm là một lát cắt, một khoảnh khắc để nhà văn khái quát lên cuộc đời của nhân vật và mở ra thế giới nghệ thuật của tác phẩm, từ đó truyền tải tư tưởng của bản thân nhà văn đến bạn đọc Một nhà văn tài năng là nhà văn giỏi về chọn lọc tình tiết, tình huống truyện Phải có tình huống tiêu biểu thì mới giải quyết được những dụng ý nghệ thuật mà nhà văn đặt ra Nhưng việc lựa chọn tình huống hấp dẫn để mở ra thế giới nghệ thuật ấy không hề giản đơn Do đó, một tác phẩm văn chương có giá trị bao giờ cũng chứa đựng sự công phu, cẩn thận trong
nghệ thuật dựng truyện của tác giả Nguyễn Minh Châu trong cuốn sách Trang giấy
trước đèn từng quan niệm: “Với truyện ngắn và với một tác giả có kinh nghiệm viết,
tôi nghĩ rằng đôi khi người ta nghĩ ra được một cái tình thế xảy ra truyện, thế là coi như xong một nửa…”, “… những người cầm bút có cái biệt tài có thể chọn ra trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc sống… nhưng bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi là khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, một đời nhân loại”[16,tr258]
1.2 Khái lƣợc về sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh
1.2.1 Hành trình sáng tạo của Hà Thị Cẩm Anh
Nhà văn Hà Thị Cẩm Anh tên thật là Hà Thị Ngọ, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1948 tại xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Thuỷ, tỉnh Thanh Hoá (xưa gọi là mường Dồ) Đây là vùng đất Mường cổ gắn với nhiều huyền thoại, nhiều câu chuyện kể về nguồn gốc tộc người Có lẽ chính mảnh đất quê hương giàu trầm tích văn hóa đã làm nên chất văn hóa thấm đẫm trong mỗi trang viết của Hà Thị Cẩm Anh Trong con người nhà văn
Hà Thị Cẩm Anh, chúng ta dễ dàng nhận ra chất văn hóa dân tộc Mường rất đậm đặc Trong kí ức tuổi thơ của nhà văn vẫn in sâu những câu chuyện cổ về nguồn gốc con người, về tộc người Mường, về những làn điệu xường, rang, bọ meẹng,… mê đắm trong tâm hồn mỗi còn người Tất cả những điều ấy đã thấm sâu vào mỗi trang viết của bà, làm nên diện mạo độc đáo, đậm đà bản sắc văn hóa trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh Có thể khẳng định rằng, ở một khía cạnh nào đó, thế giới nghệ thuật trong mỗi trang viết của
Hà Thị Cẩm Anh là một thế giới đậm đà bản sắc VHDT
Trang 20Cuộc đời của Hà Thị Cẩm Anh cũng trải qua vô vàn khó khăn trước những đổi thay của thời cuộc Bà nghỉ học sớm và sớm bươn chải giữa cuộc đời Chỉ học hết lớp
5 vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bà tham gia phụ giúp gia đình trong cuộc sống mưu sinh với bao công việc nhọc nhằn Lớn lên đi học tiếp rồi làm trại viên trại chăn nuôi của xã rồi làm việc ở văn phòng hội văn học nghê thuật tỉnh Tất cả những va đập của cuộc sống đã thai nghén nên nhiều ý tưởng viết của nhà văn Do đó, khi nghiên cứu, tìm hiểu về tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh, chúng ta dễ dàng bắt gặp một Hà Thị Cẩm Anh vừa mềm mại trong văn hóa truyền thống, vừa thẳng thắn, bộc trực trong đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu trong xã hội Trang văn của bà vì thế rất giàu cảm xúc, vừa trân trọng, tin tưởng vào truyền thống văn hóa, tính nhân văn trong văn hóa Mường, vừa luyến tiếc, xót xa trước sự chảy trôi của những giá trị văn hóa, vừa căm phẫn tột độ trước cái ác, cái xấu lộng lành
Bước ngoặt lớn nhất của Hà Thị Cẩm Anh là truyện ngắn đầu tay Thím Cò Khoai viết năm 11 tuổi được độc giả biết đến Sau đó, nhà văn vinh dự được theo học
bổ túc văn hóa và tham gia lớp bồi dưỡng viết văn khóa VI của trường viết văn Nguyễn Du Có thể khẳng định, đây vừa là một cơ hội thể hiện tài năng văn chương, vừa là thử thách đối với một cây bút nữ người DTTS Bà được học cùng lớp với những nhà văn đầy tài năng như Phạm Tiến Duật, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê… Trong thời gian này, bà làm việc tại trại chăn nuôi của xã Vì một số lí do riêng, Hà Thị Cẩm Anh không tiếp tục theo học Trường viết văn Nguyễn Du Sau đó, nhà văn được điều khỏi trại chăn nuôi của xã về Ban vận động thành lập Hội văn nghệ Thanh Hoá Bà là một trong những người thuộc lứa hội viên tham gia sáng lập của Hội văn nghệ Thanh Hoá Thời kì bao cấp kéo dài, cuộc sống đầy khó khăn, có lúc người ta
tưởng nhà văn cất bút hẳn Nhưng niềm đam mê văn chương và tình yêu cuộc sống
không thể nào cắt đứt duyên nợ của bà với nghiệp cầm bút Từ năm 2000 đến nay, nhà văn nghỉ chế độ nhưng vẫn tham gia ban chấp hành Hội VHNT tỉnh Thanh Hoá Đây cũng là lúc nhà văn bắt đầu cầm bút trở lại và thể hiện một sức viết rất dồi dào Bao cảm hứng về miền quê xứ Mường dồn nén bây giờ đã tuôn trào trên đầu ngọn bút Hầu như năm nào, bà cũng sáng tác và liên tục cho ra đời các tập truyện ngắn Hành trang ấy đã góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học các
Trang 21DTTS hiện đại Có thể nói, Hà Thị Cẩm Anh là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học xứ Mường đã có những khám phá, phát hiện độc đáo về hiện thực cuộc sống, con người miền núi
Về sự nghiệp sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, ta có thể kể đến các tác phẩm
chính: Người con gái Mường Biện (Tập truyện và ký, Nxb Văn hoá dân tộc, năm 2002), Những đứa trẻ mồ côi (Truyện dài, Nxb Kim Đồng, năm 2003), Bài xường ru
từ núi (Tập truyện ngắn, Nxb Văn hoá dân tộc, năm 2004), Nước mắt của đá (Tập
truyện ngắn, Nxb Văn hoá dân tộc, năm 2005), Lão thần rừng nhỏ bé (Truyện dài, Nxb Kim Đồng, năm 2007), Tiếng xường ru từ trong hang núi (Kịch bản phim truyện, 2 tập, năm 2004), Con đường dài lắm (Kịch bản phim truyện, đề tài thiếu nhi năm 2005), Một
nửa của người đàn bà (Tập truyện ngắn, Nxb Văn hoá dân tộc, năm 2013), Bình minh xanh (Tập truyện ngắn, Nxb Quân đội nhân dân, năm 2016), Tuyển tập Hà Thị Cẩm Anh (Tuyển tập tác phẩm, Nxb Đại học Thái Nguyên, năm 2017)
Hà Thị Cẩm Anh đã nhận được nhiều giải thưởng và phần thường cao quý về VHNT như: Huy chương vì sự nghiệp VHNT Việt Nam, Huy chương vì sự nghiệp VHNT các DTTS Việt Nam, Giải thưởng năm 2002, 2003, 2004, 2005, 2007, 2008 của Hội VHNT các DTTS Việt Nam, Giải B cuộc thi truyện và ký của Hội VHNT các DTTS
Việt Nam năm 2000, Giải nhì truyện ngắn cuộc thi Môi trường qua thơ và truyện
của Hội nhà văn Việt Nam và Báo thiếu niên Tiền Phong năm 2001, Giải nhất cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ, Hội nhà văn Việt Nam năm 2003 - 2004, Giải thưởng 5 năm của UBND tỉnh Thanh Hoá về VHNT năm 2005, Giải thưởng Lê Thánh Tông của Hội VHNT Thanh Hoá năm 2003, 2004, 2007, 2008 Gần đây, nhà văn còn tham gia viết nhiều kịch bản phim và nhận được giải ba - giải thưởng điện
ảnh cho kịch bản Tiếng hát trong hang núi của Bộ Văn hoá thông tin Với sức sáng
tạo dồi dào, năm 2013, Hà Thị Cẩm Anh vinh dự được nhận giải A của Hội VHNT các DTTS Việt Nam, giải đặc biệt của Ủy ban toàn quốc liên hiệp các hội VHNT Việt
Nam cho tập truyện ngắn Một nửa của người đàn bà Hiện nay bà vẫn sống và viết
tại Thanh Hóa Giờ đây, nhà văn ấp ủ, thai nghén nhiều dự định sáng tạo văn học Chúng ta hi vọng và chờ đợi vào sự thành công của Hà Thị Cẩm Anh trong những sáng tác tiếp theo
Trang 221.2.2 Vị trí của Hà Thị Cẩm Anh
1.2.2.1 Cây bút xuất sắc của văn xuôi dân tộc Mường hiện đại
Văn học dân tộc Mường đã vinh dự được kế thừa kho tàng VHDG đồ sộ với
các pho sử thi thần thoại như Đẻ đất đẻ nước, Mo lên trời, các truyện thơ dân gian như Nàng con côi, Nàng Nga - Hai Mối, Nàng Ờm - chàng Bồng Hương, Út Lót - Hồ Liêu,…, kho tàng tục ngữ, ca dao, các làn điệu xường, rang, bọ meẹng,…, kho tàng
văn chương gắn liền với nghi lễ của người Mường và kho tàng các truyện cổ dân gian Đó là một di sản to lớn, là niềm tự hào của người Mường, không chỉ khẳng định giá trị văn hóa của một dân tộc mà còn góp phần quan trọng làm phong phú kho tàng văn học dân gian Việt Nam Tuy nhiên, cũng như nhiều dân tộc anh em khác, văn học viết của người Mường ra đời và phát triển khá muộn Trong VHTĐ, do khó khăn trong việc tiếp thu hệ thống chữ viết từ Trung Hoa mà những người biết về chữ Hán rất ít nên rất hiếm có các cây bút sáng tác văn học Thời kì Pháp thuộc cũng vậy Mãi đến sau cách mạng tháng Tám 1945, các trí thức người dân tộc Mường mới được đào tạo và trở thành các cây bút sáng tác văn chương Đó là những thế hệ đầu Tuy nhiên, các sáng tác của họ hầu hết chưa để lại dấu ấn và thành tựu Qua thời gian, chất lượng sáng tác của các tác giả người Mường mới dần được khẳng định Về thơ có Vương Anh, Đinh Đăng Lượng, Bùi Tuyết Mai,… Về văn xuôi có Hà Trung Nghĩa, Bùi Minh Chức, Hà Thị Cẩm Anh, Hoàng Thanh Hương,…
Trong số các cây bút dân tộc Mường đã khẳng định được tên tuổi, Hà Thị Cẩm Anh thuộc hàng những cây bút tiêu biểu nhất Các tác phẩm của bà chủ yếu viết miền đất và con người xứ Mường với một tấm lòng thương mến, trân trọng Trong cuộc sống hiện đại hôm nay, Hà Thị Cẩm Anh luôn khao khát được lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Mường, giữ mãi vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ như chính nó vốn có như vậy Qua hàng loạt truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh đã giúp người đọc hiểu rõ thêm về vẻ đẹp hồn hậu, nhân ái, thuỷ chung, giàu nghị lực và khát vọng vươn lên trong cuộc sống của đồng bào dân tộc Mường nói chung và người phụ nữ Mường nói riêng Hà Thị Cẩm Anh xứng đáng là nhà văn nữ dân tộc Mường tiêu biểu xuất sắc có đóng góp nhiều trong thời kì đổi mới và hội nhập hôm nay
Trang 23Nguồn gốc xứ Mường với những trải nghiệm trong cuộc đời của nhà văn đã cho ra đời những tác phẩm đặc biệt xuất sắc tiêu biểu về đất và người xứ Mường Ở
đó, người đọc không chỉ thấy được tâm hồn, tính cách, chất văn hóa của người Mường mà còn thấm thía nỗi đau đáu của nhà văn về những gì đang đổi thay trên mỗi ngọn núi, con suối, con sông, mỗi ngôi nhà xứ Mường trong mọi thời điểm Xét trên
cả nguồn gốc xuất thân, hành trình sáng tạo và cả những biểu hiện về giá trị nội dung
và nghệ thuật, có thể khẳng định Hà Thị Cẩm Anh là một trong những cây bút xuất sắc nhất của văn xuôi dân tộc Mường đương đại
1.2.2.2 Nhà văn nữ tiêu biểu của văn xuôi các DTTS Việt Nam
Trong bộ phận văn xuôi các DTTS Việt Nam đương đại, Hà Thị Cẩm Anh cũng là một gương mặt nữ tiêu biểu Không chỉ vì tuổi tác, kinh nghiệm hay những trải nghiệm của cuộc đời khi nhà văn cầm bút trở lại dù tuổi đã ngoài 50 mà quan trọng hơn trong mỗi trang viết của Hà Thị Cẩm Anh đều đậm đặc một không gian miền núi với đầy đủ các cung bậc cảm xúc của tác giả Dù thoát li khỏi quê hương hàng chục năm nhưng dường như những truyện ngắn của bà không thể tách khỏi miền đất của núi rừng, của đại ngàn miền Tây xứ Thanh Ở mỗi câu chuyện, nhà văn thật khéo léo lồng vào đó không chỉ là chuyện về phận người mà còn là chuyện về dân tộc, chuyện về cả vùng đất, những trăn trở của nhà văn về núi rừng quê hương xứ Mường Thanh Hóa Vì thế, truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh đậm đặc không gian của núi rừng và văn hóa miền Tây xứ Thanh
Nội dung bao trùm trong các sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh là đi sâu phản ánh
về cuộc sống của con người miền núi, về quê hương xứ Mường Thanh Hoá Với cái nhìn của một người con quê hương, bà luôn tự hào về những vẻ đẹp văn hoá truyền thống, về phong tục tập quán của dân tộc Mường Bên cạnh đó tình yêu của nhà văn còn dành cho vẻ đẹp tự nhiên của quê hương Khi viết cuộc sống con người nơi xứ Mường nhà văn đã tập trung xây dựng hình ảnh những con người giàu lòng nhân ái,
vị tha, thuỷ chung son sắt, chân thực, hồn hậu và giàu nghị lực Họ là những nhân vật chính trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh Ta luôn thấy được một tấm lòng ưu ái, trân trọng và tràn đầy yêu thương, cảm thông con người của tác giả Như trong lời tựa
Khi đá cũng được giải oan, Lã Thanh Tùng có nhận xét về những niềm vui và nỗi
Trang 24đau cũng mang nét riêng biệt trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh: “Cây bút của chị cũng gió mưa, hoa lá sâu rầy ong bướm như hàng nghìn nhà văn trên trái đất này, nhưng cái niềm vui và nỗi đau của chị thì lại đặc trưng cho bản thể chị, chúng
“ngún” lên từ từng tế bào, giọng nói, cái lối hành xử của chị, về cuộc sống đang ngổn ngang bề bộn nơi cái xứ Mường Vang, Mường Dồ âm u đại ngàn Bắc Trung Bộ Việt Nam” [4,tr.6] Có thể thấy trên mỗi trang văn của Hà Thị Cẩm Anh là tấm lòng
đôn hậu và đầy sự cảm thông cho từng hoàn cảnh, từng số phận của những con người bất hạnh nhưng lúc nào cũng giàu nghị lực sống Nhà văn viết nhiều về hình tượng người phụ nữ Mường - những người luôn phải chịu nhiều nỗi buồn, nỗi khổ đau cùng bao oan khuất trong cuộc đời
Cùng với sự từng trải, cùng những chiêm nghiệm về cuộc đời, nhà văn Hà Thị Cẩm Anh đã gửi gắm bao suy ngẫm, bao bài học mang ý nghĩa nhân văn: Khi con người biết hy sinh cho người khác, biết sống vì người khác, biết tha thứ cho người khác thì con người sẽ có được niềm vui hạnh phúc hay ít nhất là sự thanh thản của tâm hồn Đây là điều mà nhà văn muốn gửi tới bạn đọc vì trong cuộc sống hiện tại đầy phức tạp hôm nay những điều tốt đẹp, nhân văn, nhân ái đó càng có giá trị đối với con người
Bên cạnh đề tài viết về cuộc sống của những con người nơi xứ Mường, Hà Thị Cẩm Anh còn viết về những phong tục tập quán mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc
Đó là niềm tự hào về những phong tục tập quán đẹp của dân tộc như: tục ăn hỏi, cưới xin, ở rể, cúng ma, giải vía, lễ hội Khua Luống, lễ hội Pồn Pôông, lễ hội mùa xuân với cảnh trai gái ném còn, hát xường giao duyên, trong âm thanh ấm áp, vang dội của tiếng cồng chiêng Tuy nhiên, rải rác trong các sáng tác của nhà văn còn đượm nỗi lo lắng về sự phai nhạt, thậm chí bị mất đi các phong tục tập quán đẹp của dân tộc
Thông qua các truyện ngắn của nhà văn, có thể thấy, Hà Thị Cẩm Anh đã rất trung thực, thẳng thắn trong việc phê phán những hủ tục, tập quán xấu trong đời sống của người Mường còn tồn tại đến tận ngày nay Những hủ tục đó không những thể hiện hạn chế trong phong tục truyền thống mà còn đi ngược lại với bản chất nhân văn vốn có của người Mường nói chung
Trang 25Dù viết về đề tài gì, nhà văn vẫn giữ được tấm lòng ưu ái, trân trọng, yêu
thương con người: “Ta gặp một niềm tự hào Một tình yêu sâu đậm đối với xứ Mường
là quê hương của chị Đói no mặc lòng nhưng chị vẫn tha thiết với ngôi làng ấy, bãi sông ấy và những con người thật thà chất phác biết bao nhiêu?” [40,tr.16]
Về đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, có thể nhận thấy rằng, bà có một cách viết rõ ràng, giản dị, dễ hiểu Đó chính là cách nói, cách cảm, cách nghĩ của người dân miền núi Từ cách viết dung dị, hồn nhiên ở các tập đầu đến những tập truyện sau này, nhà văn đã có những câu văn uyển chuyển, tinh tế và giàu hình ảnh so sánh, liên tưởng cùng cách viết mộc mạc, chân thành và sống động về quê hương, về cuộc sống sinh hoạt của bà con dân bản; bằng việc sử dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt, khéo léo cùng cách diễn đạt của dân tộc mình tác giả đã tạo nên một không gian miền núi Trong thế giới nghệ thuật của Hà Thị Cẩm Anh người đọc còn được ngắm nhìn, thưởng ngoạn một thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng và trữ tình, nhiều
khi tác giả như hoá thân vào thiên nhiên để đối thoại: “Thiên nhiên trong trang viết của
nữ sĩ có một gương mặt riêng, mang đậm dấu ấn của cuộc sống dân tộc Mường xứ Thanh này” [46,tr.15] Truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh có lời văn tự nhiên giàu hình ảnh, giàu chất thơ như tác giả Thy Lan đã nhận xét cách viết của nhà văn:“Văn chương chị trong trẻo, tự nhiên như nước suối, lại phong phú mượt mà như lá rừng, dung dị như nhà sàn, bếp lửa, đôi khi cũng dữ dội như suối dâng, thác đổ và trần trụi, hoang dã như cây cổ thụ ngàn năm Đọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh ta có được cái say của hương rượu cần, ta nhìn thấy cái bảng lảng của gió thổi, mây bay, cái điệp trùng và vững chãi của núi cao rừng rậm” [40,tr.16]
Đọc truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, người đọc dễ dàng nhận ra giọng điệu, ngôn ngữ riêng - thứ ngôn ngữ mang đậm chất Mường, chất miền núi Với gần 10 đầu sách gồm hàng chục truyện ngắn đã được công bố, Hà Thị Cẩm Anh đã có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của văn xuôi đương đại Việt Nam, nhất là ở thể loại truyện ngắn và mảng đề tài sáng tác về miền núi, về DTTS Có thể thấy, sự sáng tạo và hiệu quả trong nghệ thuật viết truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh đã góp phần khẳng định vị trí của nhà văn trong nền văn học các DTTS Việt Nam hiện đại với tư cách nhà văn nữ tiêu biểu của văn xuôi các DTTS Việt Nam
Trang 26Tiểu kết chương 1
Trong nghiên cứu về thế giới nghệ thuật, các nhà nghiên cứu đã có nhiều ý kiến đánh giá, có cái nhìn tổng quan về các phương diện của thế giới nghệ thuật Nghiên cứu về văn học nghệ thuật các DTTS cần phải đưa về những bối cảnh, không gian, thời gian ở miền đất núi rừng mà nó sinh ra, chuyển tải được về tâm hồn, tính cách và VHDT mà nó đề cấp tới
Văn xuôi các DTTS đã trải qua các giai đoạn phát triển trong dòng chảy chung của văn học hiện đại và đã có những bước tiến đáng kể, đạt được những thành tựu đáng ghi nhận Đó là sự gia tăng nhanh chóng về đội ngũ tác giả, về số lượng và chất lượng tác phẩm; chủ đề, đề tài được mở rộng và ngày càng phong phú hơn; nghệ thuật xây dựng truyện ngày càng được nâng cao nên đã đủ điều kiện để hoà mình vào dòng chảy của văn xuôi hiện đại cả nước, có đóng góp đáng kể vào thành tựu chung của nền VHNT chung của dân tộc
Trong đội ngũ các nhà văn thuộc nhiều dân tộc ở nhiều vùng miền khác nhau
có những đóng góp đáng khẳng định có nhà văn Hà Thị Cẩm Anh - một nhà văn nữ DTTS tiêu biểu xuất sắc thời kỳ đương đại, người đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với nền văn học DTTS nói chung, với văn xuôi dân tộc Mường nói riêng Dù thành công trên nhiều phương diện thể loại nhưng qua khảo sát, tìm hiểu toàn bộ hệ thống tác phẩm của nhà văn, chúng tôi nhận thấy, Hà Thị Cẩm Anh có sự đóng góp xuất sắc ở thể loại truyện ngắn Bằng sự sáng tạo độc đáo, Hà Thị Cẩm Anh đã xây dựng nên một thế giới nghệ thuật riêng với lối viết mộc mạc, giản dị, tự nhiên mà hết sức lôi cuốn Bằng sự khéo léo của mình, nhà văn đã lồng ghép vào trong tác phẩm những tín hiệu văn hóa hết sức sinh động, hấp dẫn và lôi cuốn người đọc Qua các nhân vật của mình, Hà Thị Cẩm Anh đã giúp người đọc hiểu thêm về tính cách và tầm hồn, văn hóa của người Mường
Với những tác phẩm được viết bằng cả trái tim đầy nhân hậu về những câu chuyện đặt ra trong tác phẩm, với lối viết vừa truyền thống vừa hiện đại (rất chân thực nhưng cũng đầy sắc sảo) về miền đất và con người xứ Mường, Hà Thị Cẩm Anh rất xứng đáng là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của văn học dân tộc Mường nói riêng, văn xuôi các DTTS nói chung
Trang 27CHƯƠNG 2:
THẾ GIỚI NHÂN VẬT 2.1 Khái niệm về thế giới nhân vật và nhân vật trong truyện ngắn
2.1.1 Thế giới nhân vật
Trong hoạt động văn học nghệ thuật, nhân vật là sản phẩm sáng tạo của nhà văn Qua nhân vật, nhà văn gửi gắm lí tưởng thẩm mĩ, quan niệm nghệ thuật của mình về con người và thế giới khách quan Thế giới nhân vật là sự sáng tạo nghệ thuật, là sản phẩm của hoạt động có ý thức của nhà văn Thế giới nhân vật không chỉ tồn tại trong dòng ý thức của nhà văn khi sáng tạo tác phẩm mà còn thể hiện trong trí tưởng tượng phong phú, khác nhau của độc giả khi tiếp nhận, cảm thụ tác phẩm
Về khái niệm thế giới nhân vật đã có nhiều sách chuyên khảo của các nhà
nghiên cứu đưa ra Trong cuốn Từ điển tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn
đã đưa ra khái niệm chung như sau: “Nhân vật là đối tượng (thường là con người) thể
hiện trong tác phẩm văn học nghệ thuật” [79,tr.705] Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học lại định nghĩa cụ thể hơn: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả
trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như “thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều” [25,tr.162]
Nhân vật không chỉ là nơi thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm mà còn tập trung các giá trị nghệ thuật của tác phẩm Một tác phẩm được xem là thành công hay không chính là nhờ vào quá trình xây dựng nhân vật Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Có những nhân vật có tên như Thạch Sanh,Thuý Kiều, Từ Hải, Chí Phèo Có những nhân vật không tên (như “thằng bán tơ”, “chú tiểu đồng” ), có những nhân vật có khi chỉ hiện ra qua đại
từ nhân xưng (như “tôi”, “chàng”, “thiếp”, “mình”, “ta”) Trong một số trường hợp thì nhân vật lại không phải là con người mà là những con vật (ví dụ như: Con cóc, con cáo, con sói, con sư tử thậm chí là ma, là quỷ, là thần tiên); những sự vật, đồ vật trở thành nhân vật “người hoá” mang tâm hồn tính cách như con người Như vậy nhà văn tạo ra nhân vật để nhận thức con người, nhận thức xã hội và để thể hiện tư tưởng, thái độ của mình đối với con người và xã hội
Trang 28Qua khảo sát, nghiên cứu có thể thấy, nhân vật văn học được hình thành theo quá trình vận động tư tưởng của nhà văn, từ số phận đến tính cách, hành động được hoàn chỉnh dần trong quá trình sáng tạo của nhà văn Để có được nhân vật hoàn chỉnh theo đúng ý tưởng của mình, nhà văn phải có quá trình hình thành, thai nghén ý tưởng đến sáng tạo và hoàn thiện tác phẩm Trong quá trình đó, nhân vật được bộc lộ ngày một đầy đủ, toàn diện Sự xuất hiện của nhân vật trong tác phẩm cũng hết sức đa dạng và phong phú dưới nhiều hình thức khác nhau Có khi nhân vật chỉ xuất hiện trong một khoảnh khắc, chi tiết, tình huống hay một biểu hiện xúc cảm nào đó như
nhân vật trữ tình trong bài thơ Thu vịnh của nhà thơ Nguyễn Khuyến chỉ xuất hiện trong hai câu thơ cuối, nhân vật “tôi” trong bài Tương tư của Nguyễn Bính nhưng cũng có khi nó hiện lên cả cuộc đời của nhân vật như Thúy Kiều trong Truyện Kiều,
Hộ trong Đời thừa, Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên,… Nhân vật văn học có thể
được xây dựng theo một nguyên mẫu ngoài đời được nhà văn hư cấu thêm theo ý tưởng của mình, nhưng cũng có những nhân vật được hư cấu hoàn toàn theo chủ ý của nhà văn Do đó, nhân vật văn học thường mang tư tưởng và quan niệm nghệ thuật của nhà văn Chính vì lẽ đó, cảm thụ về nhân vật văn học không phải là điều dễ dàng bởi phải hiểu rõ về dụng ý nghệ thuật, mục đích sáng tác của nhà văn dẫn đến những
hư cấu có chủ đích của nhà văn mới hiểu rõ về nhân vật Các tác giả cuốn Từ điển
thuật ngữ văn học định hướng, để có thể hiểu rõ về nhân vật văn học, cần phải xác
định “Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [25,tr.200]
Đối với một tác phẩm văn học, thế giới nhân vật là yếu tố không thể thiếu Thông qua thế giới nhân vật, nhà văn khái quát lên hiện thực đời sống, đồng thời thể hiện quan niệm nhân sinh của mình về hiện thực đời sống được nhắc tới trong tác phẩm Nhân vật càng sinh động, hiện lên như những hình tượng điển hình, bất hủ thì tác phẩm càng giàu giá trị bởi nó khái quát lên được một hạng người, phận người
trong hiện thực xã hội được nói tới Đọc Truyện Kiều, người ta thấy Thúy Kiều chính
là biểu hiện tiêu biểu nhất của hình ảnh người phụ nữ trong xã hội cũ, hơn thế, nàng
là đại diện cho số phận của những con người tài hoa, nhan sắc mà bạc mệnh Đọc Chí Phèo, người đọc cũng nhận ra được đây là hình tượng điển hình, bất hủ của người
Trang 29nông dân ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng,… Nhân vật chính là sản phẩm sáng tạo của nhà văn qua quá trình chiêm nghiệm, đúc kết từ hiện thực đời sống Và những yếu tố ấy nếu cứ trở đi trở lại như một tín hiệu nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn sẽ tạo nên phong cách nghệ thuật của nhà văn đó Nói về vấn đề này, Nguyễn
Đăng Mạnh từng viết: “Trong thế giới nghệ thuật của nhà văn, thường có một hình tượng tâm huyết cứ trở đi trở lại như là một ám ảnh đối với nhà văn Những hình tượng như thế càng có tính phổ biến bao nhiêu, càng có ý nghĩa tư tưởng sâu sắc và
cơ bản bấy nhiêu” [43,tr.48] Đọc tập truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân,
chúng ta thấy trở đi trở lại trong tác phẩm là hình ảnh những nhà Nho cuối mùa, những con người tài hoa, bất đắc chí Hay trong sáng tác của Hồ Xuân Hương là số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ
Như vậy, thế giới nhân vật là hệ thống hình tượng nghệ thuật do nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm Trong tác phẩm văn học, thế giới nhân vật được biểu hiện rất phong phú và đa dạng Đó có thể là con người, cũng có thể là loài vật, đồ vật,… Đó
có thể là thế giới của con người hay thế giới kì ảo những đều hướng tới con người
Dù được biểu hiện như thế nào thì thế giới nhân vật có vai trò hết sức quan trọng của tác phẩm văn học, góp phần làm nên sức sống và giá trị của một tác phẩm văn học
2.1.2 Nhân vật trong truyện ngắn
Trong tác phẩm văn học, nhân vật trong mỗi thể loại có những biểu hiện khác nhau Trong thơ, nhân vật chủ yếu bộc lộ tâm trạng, cảm xúc về một vấn đề nào đó trong hiện thực đời sống Trong tiểu thuyết, con người được nếm trải, được biểu hiện trong cả quá trình, những cảnh ngộ, số phận có thể thay đổi cả diện mạo, tính cách thì truyện ngắn là một khoảnh khắc, một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật Từ những khoảnh khắc, những chi tiết nghệ thuật mà khái quát lên số phận của nhân vật Trong quá trình sáng tác, mỗi nhà văn lại đưa ra một phương pháp xây dựng nhân vật khác nhau Tự đó tạo ra nét riêng trong nghệ thuật viết truyện ngắn của mỗi nhà văn
Đọc các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, người đọc hầu hết đều nhận ra nhà văn tập trung khai thác một vài tình tiết nhỏ nhưng chưa đựng nhiều ý tưởng phê
phán theo dụng ý nghệ thuật của nhà văn Chẳng hạn, trong truyện Đồng hào có ma,
chỉ qua một tình tiết nhỏ là hành động tên quan huyện khẽ đặt chân mình lên đồng
Trang 30hào, mặt tỉnh như không khi người đàn bà nghèo khó tìm mãi không thấy, đợi khi người đàn bà đi khuất, tên quan huyện khẽ cúi xuống nhặt đồng hào lên, thổi bụi và cho tọt vào túi đã làm lột tả bản chất “ăn bẩn” của hắn ta Hầu hết sáng tác của Nguyễn Công Hoan đều lựa chọn kiểu chuyện như vậy Dù là tình tiết nhỏ nhưng không hề vụn vặt mà hơn thế còn cho thấy tài năng lựa chọn chi tiết bậc thầy trong truyện ngắn của nhà văn bởi tính khái quát của các tình tiết không chỉ dừng lại ở tình cách, hành động mà còn lột tả bản chất bỉ ổi, đê tiện của một hạng người trong xã hội
Khác với Nguyễn Công Hoan, trong các truyện ngắn của mình, Nam Cao lại lựa chọn kiểu xây dựng nhân vật ở tính khái quát cao nên khi tìm hiểu nhân vật, người đọc dễ dàng nhận ra cả cuộc đời, số phận hay bi kịch của cả một hạng người trong xã hội Kiểu nhân vật trong truyện ngắn của Nam Cao vì thế gần với kiểu nhân
vật trong tiểu thuyết Đọc xong truyện ngắn Chí Phèo, người đọc nhận ra ngay chân
dung về cuộc đời của một con người từ khi lọt lòng đến lúc tự sát là cả một chặng dài, một bi kịch dai dẳng của một phận người trong xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám 1945 Thông qua đó, nhà văn khái quát thành hình tượng điển hình
về bi kịch bế tắc dai dẳng, không lối thoát của người nông dân nghèo trong xã hội cũ
Có thể thấy rằng, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhà văn đều lựa chọn cho mình một kiểu xây dựng nhân vật khác nhau để chuyển tải dụng ý nghệ thuật và những quan niệm nhân sinh của mình thông qua nhân vật Trong các truyện ngắn của mình, nhà văn Thạch Lam thường tìm về thế giới những con người bé nhỏ, những số phận mòn mỏi, quẩn quanh, bế tắc tồn tại đâu đó nơi góc khuất của cuộc sống thường nhật Từ đó, nhà văn muốn phản ánh cái không khí ngột ngạt của xã hội, thể hiện ước mơ của mình về một thế giới đủ đầy, nhân ái hơn Với Nguyễn Tuân lại nghiêng về những con người tài hoa, khí phách, mang cốt cách của người nghệ sĩ Cái tài hoa nghệ sĩ ấy của nhân vật không chỉ biểu hiện trong tư cách người nghệ sĩ sáng tạo nghệ thuật mà ở trong tất cả mọi hoạt động của đời sống hàng ngày Đó chính là nét riêng không trộn lẫn được của truyện ngắn Nguyễn Tuân Còn Nam Cao lại nghiêng về kiểu con người bi kịch dù cho đó là nông dân hay trí thức Tài năng của Nam Cao đã khái quát lên những nhân vật bi kịch, mang ý nghĩa điển hình, đặc biệt trong việc miêu tả tính cách, tâm lí nhân vật
Trang 312.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh
Nhà văn Marxim Gorki từng quan niệm “Văn học là nhân học”, nghĩa là văn
học chính là khoa học về con người Nói như vậy để thấy rằng, dù miêu tả trực tiếp hay gián tiếp thì yếu tố con người vẫn là yếu tố trung tâm của tác phẩm văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng Trong tác phẩm văn học, con người không chỉ được miêu tả là con người tự nhiên hay con người xã hội chung chung mà là những hình tượng cụ thể mang đặc điểm riêng được xây dựng trên quan điểm thẩm mĩ và dụng ý nghệ thuật của nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật
Có thể nói, nhân vật mang dấu ấn cá nhân đậm nét của nhà văn Nhân vật là nơi biểu hiện rõ nhất quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người Qua số phận, tính cách, hành động của nhân vật, nhà văn đã có sự cắt nghĩa, lí giải thông qua tất cả các biểu hiện của nhân vật trong tác phẩm Từ đó, người đọc nhận ra tư tưởng, quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, về thế giới nhân sinh Mỗi một giai đoạn lịch sử, kiểu nhân vật cũng được các nhà văn xây dựng theo cách khác nhau
Trong văn học hiện đại Việt Nam cũng vậy, các kiểu nhân vật được thay đổi theo từng chặng đường phát triển của lịch sử xã hội Trước cách mạng tháng Tám, nhà văn đi sâu khắc họa sự quẩn quanh, bế tắc của nhân vật Ở đó, người đọc nhận ra cái Tôi cá nhân của tác giả trong việc thể hiện quan điểm nhân sinh của mình Trong văn học kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, kiểu nhân vật lại được thay đổi theo chiều hướng phản ánh các vấn đề về chính trị - xã hội Sau 1975, nhất là ở chặng đường đổi mới đến nay, nhân vật lại hầu hết mang cảm hứng thế sự Nhà văn đi sâu vào miêu tả những vấn đề khác nhau trong đời sống hằng ngày của con người Đặc biệt là các nhà văn đã xây dựng được những nhân vật đa tính cách Điển hình như kiểu nhân vật vừa anh hùng vừa hèn hạ trong truyện ngắn của Nguyễn Quang Lập, kiểu nhân vật cô đơn đầy cay đắng nhưng cũng giàu nghị lực trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Hay nhân vật vừa đáng ghét vừa đáng thương như trong các tác phẩm của Ma Văn Kháng
Khảo sát hệ thống nhân vật của truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh, chúng ta có thể thấy, nhà văn đã xây dựng nên hệ thống nhân vật rất đa dạng Dù khi viết về nhân vật người phụ nữ, nhân vật trẻ em hay các nhân vật có vai trò trong xã hội thì Hà Thị
Trang 32Cẩm Anh đều gửi gắm trong đó cái nhìn riêng của mình về một vấn đề nào đó trong
xã hội Từ góc độ đó, nhà văn xây dựng trong trang văn của mình các kiểu nhân vật khác nhau, hành động khác nhau, tính cách và số phận khác nhau Tuy nhiên, đa số tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh là viết về người phụ nữ Căn cứ vào các truyện ngắn trong gần 10 đầu sách của nhà văn, chúng tôi đã phân loại và sắp xếp hệ thống nhân vật trong các truyện ngắn của nhà văn thành các kiểu nhân vật như: nhân vật dị biệt, nhân vật cô đơn, nhân vật tự ý thức, nhân vật tha hóa
như nhân vật Tấm trong truyện cổ tích Tấm Cám,… Hay thần lấy người, người lấy
thần, người hóa thành vật, vật hóa thành người trong nhiều câu chuyện dân gian khác,…
Khác với văn học dân gian, con người dị biệt trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn hiện đại không nhấn mạnh đến yếu tố hoang đường, kì ảo Đó là những nhân vật có ngoại hình, tính cách khác thường (bất thường) hoặc có một số phận đặc biệt
Sự dị biệt đó có thể thấy từ khi lọt lòng nhưng cũng có thể do quá trình sống, nhân vật bị xã hội làm cho trở nên dị biệt Đó là những con người sinh ra là người nhưng gặp những chuyện không bình thường mà trở nên dị biệt ở cả ngoại hình lẫn tính
cách Chẳng hạn như hai nhân vật chính Chí Phèo và Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, sự dị biệt được bộc lộ ở cả ngoại hình lẫn tính cách, nhân vật Quaximodo trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris của Victo Hugo vừa mù vừa dị
hình, dị dạng,… Tuy nhiên, cần phải xác định rõ, nhân vật dị biệt trong các tác phẩm được nhà văn xây dựng hoàn toàn không phải là mặt trái của xã hội mà là một góc khuất, một nạn nhân của xã hội Do đó, chính những nhân vật này lại chở theo những quan niệm nhân sinh của nhà văn về xã hội, về con người Mỗi giai đoạn lịch sử, kiểu
Trang 33nhân vật này cũng được biểu hiện khác nhau Trong các truyện ngắn trước năm 1945, hình tượng con người dị biệt được các nhà văn xây dựng chủ yếu phản ánh bản chất
xã hội đã đẩy con người trở nên dị hình dị dạng, tha hóa, biến chất Đến văn học giai đoạn 1945-1975, hình tượng nhân vật này ít xuất hiện vì nhiệm vụ của văn học giai đoạn này chủ yếu phản ánh và phục vụ đời sống cách mạng và kháng chiến Do đó, văn học cần thực hiện các nhiệm vụ chính trị xã hội, phản ánh yêu cầu của thời đại Cho đến văn học giai đoạn sau 1975, nhất là từ sau đổi mới đến nay, kiểu nhân vật dị biệt lại xuất hiện nhiều trong các truyện ngắn đương đại Ở đó nhà văn gửi gắm những góc nhìn khác nhau của mình về xã hội và đời sống con người
Khảo sát các truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, chúng tôi thấy rằng, hầu hết ở các truyện ngắn của bà viết về những con người dị biệt đều vì một mục đích phản ánh một vấn đề nào đó của xã hội mà nhà văn muốn khái quát Trong tập truyện và ký đầu
tay mang tên Người con gái mường Biện (gồm 10 tác phẩm, nhưng chỉ có 4 truyện
ngắn), kiểu nhân vật dị biệt đã xuất hiện Đó là những đứa trẻ nạn nhân chất độc da
cam đã trở nên dị hình, dị dạng trong truyện ngắn Câu hát xường của mẹ Đó là đứa
con đẻ của Út Sam sinh ra đã là một quái thai vì chồng đi chiến đấu ở mặt trận phía Nam Trong một lần về phép, hai người đã có con, sau đó người chồng hi sinh, Út Sam đã sinh nở ra đứa bé này và bị người làng Chiềng đuổi vào rừng sâu Đứa bé chết vì không có thuốc men, bị người làng ruồng bỏ Đó là con Cài và thằng Mật, hai đứa trẻ bị bỏ rơi vì sinh ra bất thường về hình dáng Con Cài bị đẻ rơi thiếu tháng ở rừng sâu khi mẹ đi nương rồi bị bỏ lại vì tưởng đã chết Thằng Mật thì sinh là không lành lặn, lông mọc đầy người Cả hai đứa trẻ được Út Sam nhặt được trong rừng Cô
đã đem về chăm sóc, nuôi nấng và dạy dỗ đến khi lớn khôn Dù truyện kết thúc có hậu khi những người có trách nhiệm ở làng Chiềng và dòng họ Bùi đã xin lỗi, Út Sam tha thứ cho những lỗi lầm, thằng Mật được về đi học, con Cài được cha mẹ ruột tìm về,… thì người đọc vẫn bị ám ảnh vô cùng bởi những trang viết thấm đẫm nước mắt
về thân phận những đứa trẻ dị biệt so với phần còn lại của xã hội Khi Út Sam mới
nhặt thằng Mật khi nó bị người ta bỏ trong rừng: “Thằng Mật giống người, nhưng cũng rất giống con Voọc con lông vàng mà mẹ nó vẫn cõng về sân nhà tôi xin chuối chín Người thằng Mật rất nhiều lông Mặt thằng Mật nhăn nhúm như mặt người già
Trang 34Mồm nó rộng hoác, lại chìa hỉa một cái răng cửa rất to” [1,tr.130] Khi thằng Mật lớn lên, nhà văn viết “Thằng Mật nằm co tròn trên đệm Cái chăn bông bị thằng Mật đạp tung ra sàn Thằng Mật không thích đắp chăn Nó ngứa Khắp người thằng Mật, lông mọc vằn vện như lông con hổ rách tai ở rừng Cúc Phương, thỉnh thoảng vẫn sang rừng Ca Gia săn mồi Sau lưng thằng Mật, có những túm lông dài, đen và cứng như lông lợn rừng Mẹ thương thằng Mật, đã lấy dao cạo đi một lần, nhưng lông trên lưng thằng Mật lại mọc nhanh hơn Thằng Mật không đắp được chăn khi nằm ngủ…”
[1,tr.123] Viết về thằng bé con đẻ của Út Sam, Hà Thị Cẩm Anh đã gây xúc động
cho bao độc giả khi Út Sam sinh con: “Út Sam đẻ con trai Thằng bé đó có đủ tay, đủ chân nhưng lại thiếu một con mắt, một bên mũi và nửa cái miệng trên cái mặt dị dạng của nó” [1,tr.127] Nhìn thấy đứa bé, người làng Chiềng hoảng loạn, hãi hùng tưởng
đó là ma lang, ma cớt Bà mẹ chồng Út Sam vì đau buồn vì con trai hi sinh, cháu nội sinh ra thì dị hình dị dạng mà sinh ra ốm chết Mẹ con Út Sam bị người làng đuổi vào rừng sâu trong thung lũng Mụ Dạ Dần Cả con Cài nữa cũng bị bỏ rơi vì một người
mẹ đẻ thiếu tháng mà bỏ lại Tất cả những trang viết trong truyện ngắn này đều thấm đẫm chất nhân văn trên ngọn bút của nhà văn khi nói về những đứa trẻ bất hạnh, vì chất độc da cam, vì sự tàn ác của chiến tranh mà chúng trở nên những con người dị biệt về hình hài Qua các trang viết này, nhà văn đã phê phán sự tàn phá của chiến tranh không chỉ gây ra trong chốc lát, trong thời điểm mà nó dai dẳng qua nhiều thế
hệ, làm tổn thương biết bao nhiêu con người Đồng thời qua đó, nhà văn kêu gọi tình yêu thương con người Đó chính là điều làm nên chất nhân ái, nhân văn trong mỗi trang viết của Hà Thị Cẩm Anh
Viết về nhân vật dị biệt về thân xác, hình dạng, hầu hết sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh đều viết về những nạn nhân của chiến tranh, của chất độc da cam Ngoài ba đứa trẻ kể trên còn có nhiều truyện ngắn Hà Thị Cẩm Anh đã viết khá thành công với
một ngòi bút khá sắc sảo về dạng nhân vật này Trong truyện ngắn Cây cội già tàn tật đạt giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Báo văn nghệ năm 2004-2005 với tên gọi Gốc gội
xù xì, hình tượng nhân vật tôi được miêu tả khá tỉ mỉ về hình dạng dị biệt của mình
Đó là một đứa trẻ sinh ra bị cả người làng đến người nhà ghẻ lạnh mà không hiểu vì sao Chỉ đến khi nhìn thấy gương mặt mình trong cái sành đựng nước ở sàn chồ, nhân
Trang 35vật mới hoảng loạn với chính mình vì nhìn thấy “Con thú không có môi trên, mũi nó chỉ là hai cái lỗ rộng hoác, đen ngòm đục thủng cái khối thịt dày, xám xịt rất ngắn
mà người ta quen gọi là mặt, bởi vì, ở phía trên còn có một cái đầu với những sợi tóc
lơ thơ, đỏ như râu quỷ thọt chân của rừng Chuông Cò…”[3,tr.12] Viết về nạn nhân của chất độc da cam còn có những đứa con của ông Nênh trong truyện Đêm khua luống dành cho người chết Trong truyện ngắn này, nhà văn đã viết về ông Nênh và những đứa con: “Ông già rồi! Sáu mươi tuổi rồi! Lại bị nhiễm cái chất độc chết toi, chết tiệt gì đó? Con ông đứa què đứa câm” [3,tr.76]
Trong các truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, chúng tôi nhận thấy, những tác phẩm nhà văn viết khi mới cầm bút trở lại sau khi nghỉ công việc ở văn phòng Hội văn học nghệ thuật tỉnh hầu hết là nạn nhân của chiến tranh, của chất độc da cam, của
di chứng để lại với sự dị biệt về hình hài thân thể, méo mó về thể xác là chủ yếu thì các truyện về sau nhà văn quan tâm đến những con người lệch lạc về tinh thần Đó là những con người không đủ bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ của xã hội mà trở nên biến chất, lệch lạc, dị biệt về tâm hồn, nhân cách Điều này sẽ được chúng tôi thể hiện trong mục 2.2.3 Viết về những nhân vật dị biệt, nhà văn đã có cách tiếp cận và phản ánh hiện thực xã hội theo cách riêng của mình Đó là hãy nhìn vào hiện thực để phản ánh, để nói lên tiếng nói trách nhiệm và nhân văn của người cầm bút trước những số phận bất hạnh
2.2.2 Nhân vật cô đơn
Xét đến cùng, sự cô đơn cũng chính là một phần của đời sống con người Vì thế, trong sáng tạo văn học nghệ thuật viết về sự cô đơn cũng chính là cách nhìn, cách phản ánh trung thực về một mảng không thể thiếu được của cuộc sống Theo cách hiểu thông thường nhất, cô đơn là cảm giác của con người khi rơi vào một trạng thái lạc lõng, xa lạ với thế giới xung quanh không người thân, bạn bè, không sự kết nối,
Ở trạng thái càng cô đơn, con người ta càng khao khát sự nối kết, nhưng cũng có những con người lại thu mình lại Và vì thế kiểu con người cô đơn xuất hiện Văn học viết về nhân vật cô đơn là viết về kiểu con người như thế
Kiểu nhân vật cô đơn được văn học nói đến rất nhiều Trong văn học dân gian
có các bài ca dao - dân ca than thân hầu hết là những bài ca viết về nỗi cô đơn của
Trang 36con người VHTĐ cũng có nhiều tác phẩm ám ảnh người đọc bởi nỗi cô đơn của nhân
vật như hình ảnh người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc, người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm, những đoạn miêu tả nỗi cô đơn của nàng Kiều, tâm trạng cô đơn
của người phụ nữ trong thơ Hồ Xuân Hương,… Đến văn học giai đoạn 1930-1945, kiểu nhân vật cô đơn được nói nhiều kể cả trong thơ lẫn văn xuôi, cả văn học lãng mạn tới văn học hiện thực Trong văn học thời kì sau đổi mới đến nay, kiểu nhân vật
cô đơn lại quay trở lại nhiều bởi nhu cầu phản ánh đời sống hiện thực được nói tới khá cao Cuộc sống càng phát triển, con người càng cảm thấy cô đơn, lạc lõng trước thế giới xung quanh, vì thế văn học viết về nhân vật cô đơn xuất hiện càng nhiều
Trong hầu hết sáng tác của Hà Thị Cẩm Anh, nhà văn thường viết về những thân phận bất hạnh, khổ cực Nhà văn qua đó đã ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người Đó là sự hi sinh âm thầm, lặng lẽ, sự thủy chung trong tình cảm con người, lòng vị tha, bao dung của con người dành cho nhau, ý thức trách nhiệm của con người trước cộng đồng xã hội Tuy nhiên, ám ảnh nhất, nhân văn nhất, cảm động nhất vẫn là những trang viết về kiểu nhân vật cô đơn Có thể nói, trong sáng tác của
Hà Thị Cẩm Anh, nhà văn viết về nỗi cô đơn khá thành công Ở đó, nhà văn vừa thể hiện được vốn sống, vốn hiểu biết, sự trải nghiệm của nhà văn trước hiện thực, vừa bộc lộ tài năng miêu tả, phân tích tâm lí, tính cách nhân vật hết sức tài tình
Trong các trang viết của mình, Hà Thị Cẩm Anh viết khá đa dạng về các nhân vật cô đơn Đó là những người già cô đơn trước thời cuộc như nhân vật Già Ban trong
truyện ngắn Chuyện ông già bên cầu Đại Lạn vợ con chết trong chiến tranh, ông ở
vậy, có lúc bị người đời cho là bị điên, bị tâm thần Đó là những đứa trẻ sinh ra không
lành lặn, bị người đời ghẻ lạnh (Câu hát xường của mẹ, Cây cội già tàn tật, Đêm khua luống dành cho người chết,…) Tuy nhiên, viết về nhân vật cô đơn, nhà văn
dành nhiều tâm huyết cho những nhân vật phụ nữ éo le, bất hạnh Qua các trang viết này, Hà Thị Cẩm Anh đã thể hiện sự xót xa thương cảm, là đau đớn uất nghẹn, sự yêu thương, kính trọng, là sự sẻ chia, đối với những số phận, những hoàn cảnh, thân phận đầy đớn đau và bất hạnh của những người phụ nữ Mường nơi xứ Mường xa xôi ấy Người phụ nữ trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh, dù ở mường Vang, mường Chiềng hay mường Dồ thì đều có những nỗi khổ và phải chịu thiệt thòi riêng trong
Trang 37cuộc sống Trong truyện ngắn Câu hát xường của mẹ - nhân vật Sam chịu bao nỗi
khổ đau bất hạnh Một người con gái xinh đẹp, hiếu thảo, đảm đang nhưng không được hưởng một hạnh phúc trọn vẹn mà cam chịu chấp nhận đúng như lời tâm sự của
chính nhân vật trong tác phẩm: "Đàn bà thì lúc nào chả phải chịu thiệt thòi Mường này, đất nước này thiếu gì những kẻ bị mắc tiếng oan như tôi “Phúc đức tại mẫu mà!”, cái gì tốt đẹp thì người đàn bà được hưởng không đáng là bao Những cái gì không tốt đẹp thì họ cứ oằn lưng ra mà gánh” [1,tr.134] Đây cũng chính là lời tác
giả thốt lên trong nỗi cay đắng, xót xa Nhà văn đã đi sâu nhìn nhận và phản ánh số phận của người phụ nữ Mường trong các tác phẩm của mình một cách chân thực, sinh động Đó trước hết là sự bất bình đẳng nghiêm trọng giữa người phụ nữ với người đàn ông trong gia đình cũng như trong xã hội (được thu nhỏ ở đơn vị bản, làng,
mường này) Đến với truyện ngắn Bài xường ru từ núi, ta thấy một cô Cầm mạnh
mẽ, thẳng thắn và rất quyết liệt đấu tranh để đòi sự công bằng cho người phụ nữ
Mường Cô nói với bố, mế mình: “Tôi muốn con trai tôi có một ngôi nhà sàn để ở Tôi muốn có một bếp lửa trong ngôi nhà đó để sưởi ấm Tôi muốn dưới sân nhà tôi cũng có lợn, có gà Tôi muốn trên dấng nhà tôi cũng có lúa, có ngô Ở chái nhà tôi có cái khung dệt vải Tôi muốn: Anh trai có cái gì, em gái cũng có cái đó Anh là con, tôi cũng là con bố, mế.” [3,tr.114] Cuối cùng, cô đã đòi được quyền bình đẳng giữa nam
và nữ trong gia đình mình Cô cũng có nhà, có vốn làm ăn và mế cũng lên trông con cho cô Người phụ nữ trong truyện ngắn của Hà Thị Cẩm Anh thường bị rơi vào bi kịch cuộc sống, nhưng trong chính hoàn cảnh đó nhân vật đã bộc lộ được niềm tin cùng những khát vọng chân chính của mình Đó là những khát vọng chính đáng về quyền được sống, được yêu, được làm vợ, làm mẹ, làm chủ cuộc đời và tương lai của
chính mình Với truyện ngắn Quả còn - người đọc không khỏi xót xa cho nhân vật cô
gái trẻ ở mường Bi mới 10 tuổi đã bị đón về mường Vang “lạy ma nhà chồng” để làm “dâu ma” Bởi vì nhà cô đã nhận nhiều bạc, nhiều trâu nhà người ta Và vì một lời hứa giữa hai người thợ săn mường Vang và mường Bi sẽ làm “du gia” với nhau
từ lúc hai đứa con chưa chào đời Đến khi cô cất tiếng khóc chào đời thì lễ vật của nhà trai đã được gửi đến Nhưng trong lễ hỏi của nhà trai có chiếc bánh chưng có nhân bên trong khiến cho họ nhà gái rất tức giận Họ cho rằng như thế là ám chỉ con
Trang 38gái họ không còn trinh tiết nữa Như để trút giận họ hàng nhà gái ở mường Bi lợi
dụng tục “ném rể” trong ngày lễ ăn hỏi ném những trận mưa quả chuối xanh, quả
sung, quả vả và cả những hòn đá cuội to dội xuống chú rể khiến cho cậu bé tơi tả, máu chảy mãi không cầm Sợ hãi, đau đớn và cậu đã bị ốm chết Nhưng cô vẫn phải theo về nhà trai để trở thành vợ ma đến năm mươi tuổi, cô gái ấy phải sống trong nỗi
cô đơn như một chiếc bóng trong chính ngôi nhà sàn của mình Ngôi nhà sàn to, “cửa man” rộng rãi, nhưng không một ai bước chân vào nhà cô, “bếp khách của cô nguội lạnh” Cô chỉ biết gửi lòng theo quả còn nói hộ một lời với trời cao đất rộng rằng:
“Chị cầu mong một ngày nào đó có chàng trai Mường tốt dám nhận quả còn, rồi đến giải thoát cho chị khỏi con ma chồng mà chi chưa bao giờ biết nó ra sao?” [4,tr.20]
Thậm chí người bản làng xa lánh chị vì cho rằng chị là ác ma khiến nhà chồng héo hon, ốm đau Phải chăng vì những hủ tục, lòng tham, sự hận thù mông muội của hai
dòng họ đã đẩy: “Người con gái vô tội, xinh đẹp, rực rỡ, thảo hiền, tài hoa, khéo tay may vá, hát xường rất hay, làm nương rẫy giỏi vào cuộc đời bất hạnh - như một ngục
tù tăm tối, không lối thoát Cô đã bị tước đoạt tất cả: quyền yêu, quyền làm vợ, làm mẹ một cách tàn bạo từ chính những người thân của mình” [75,tr.262]
Lắng đọng trên từng trang viết của Hà Thị Cẩm Anh là tiếng lòng thổn thức
bà dành cho nỗi cô đơn của người phụ nữ Mường trong cuộc sống hiện tại xô bồ
hôm nay Đó là nhân vật vạ Cát trong Chuyện xưa chị bị rơi vào một hoàn cảnh,
một bi kịch đau đớn, xót xa Đau đớn hơn, chị lại bị chính người chồng của mình lừa gạt Chỉ vì lòng tham mà anh ta bỏ rơi người vợ của mình Người đã cứu “danh
dự” của gia đình khi anh ta “ăn lá cứt chim để cáo bệnh trốn nghĩa vụ quân sự”
[3,tr.40] Trong khi đó vạ Cát thì xung phong đi thanh niên xung phong nhưng không được nhận nên vạ xin vào trung đội dân quân trực chiến, trực tiếp bắn máy bay Mỹ Nhưng vạ là con người trung thực thẳng thắn khi thấy chồng mình “nhận
vơ” công trạng bắn rơi máy bay Mỹ để đi báo cáo điển hình khắp nơi: “Vạ Cát xăm xăm đi đến gặp Bí thư Đảng uỷ xã nói tuột ra sự thật” [3,tr.43] Nên vạ bị “vu oan
giá hoạ” với tội danh “chỉ điểm” cho máy bay địch và bị bắt giam ba ngày, bị viết tới hàng chục bản tường trình Nhưng thật tệ bạc và kinh tởm hơn chính ông Giáp - chồng vạ đã dựng lên những màn kịch trong cuộc đời vạ rồi lại giả vờ ra tay cứu vớt
Trang 39vạ Hắn đã thuê lão Cò Cà cố tình bẫy vạ để bỏ vạ rồi sau đó tìm cơ hội lấy con gái ông cán bộ tổ chức dưới tỉnh - vừa già vừa xấu làm bước đệm tiến thân Hắn dựng lên màn kịch “ngoại tình” của vợ mình và cũng chính hắn lại còn làm ra vẻ một người chồng tốt đứng ra bảo vệ vợ khỏi sự sỉ nhục, đánh đập của mường và xin
trưởng bản cho vạ Cát về nhà:“Làng Cốc Vàn đồng ý cho anh đem vợ về mà giáo dục” [3,tr.46] Nhưng đáng thương thay, câu chuyện ấy vạ Cát cứ tưởng thật để rồi
mang ơn hắn suốt bao năm trời Để rồi, hắn còn lợi dụng vạ bằng việc mua chịu, hay đúng hơn là cướp không 7 tấn cá lồng - vạ nuôi trên sông với biết bao mồ hôi công sức và nước mắt Một con người đáng thương như vạ Cát cứ âm thầm chịu đựng nỗi oan mà không thể nào hoá giải được Câu chuyện kết thúc trong sự buồn thương, đau đớn, xót xa cho thân phận người phụ nữ Mường vốn xinh đẹp, chăm chỉ, khoẻ mạnh, dũng cảm, trung thực thế nhưng lại bị chính người chồng tàn ác, thâm độc của mình lừa lọc, tàn hại, lợi dụng, và bị đày đoạ cho đến lúc chết Vạ
chết trong sự khổ sở, cô đơn, co quắp trên chiếc thuyền rách nát: “Trong đống chăn
cũ, hình một người nhỏ bé, gầy gò đang nằm co quắp Vạ Cát không trả lời Chân tay vạ lạnh ngắt Vạ Cát đã qua đời” [3,tr.47]
Dường như đau đáu trong những trang viết của Hà Thị Cẩm Anh là nỗi băn khoăn, trăn trở trước số phận của những con người thật thà, tốt bụng mà lại chịu nhiều oan khốc, bất công Nhà văn đã gắn bó sâu sắc với cuộc sống của người dân xứ Mường để rồi cảm thông chia sẽ cho những số phận bất hạnh của người phụ nữ Mường Còn có bao nhiêu thân phận thiệt thòi, đau khổ, bao bi kịch cuộc đời như thế nữa trong các tác phẩm của Hà Thị Cẩm Anh - khiến cho người đọc không thể không cảm thương, xa xót, bùi ngùi Đó là hoàn cảnh số phận của một cô gái Mường trong
truyện Của hồi môn, cô là một cô gái xinh đẹp, trong sáng, lãng mạn, cả tin để đến
nỗi bị mất chồng, mất con, bị hành hạ, gả bán cho một thằng nghiện ngập, phải làm
con ở, là con “ma xó” chính trong ngôi nhà của người đàn bà nanh ác, tàn độc cướp chồng cướp con của mình Biến cô thành con “ma xó” trong bếp khách, đói ăn, rách mặc Khiến cô héo hon, mòi mỏi, đau khổ “xanh như lá, gầy như que”[7,tr.123] Và chết trong sự cô độc, trong một đêm mưa gió ở mường Dồ: “Một mình sống và một mình chết trong căn nhà sàn nhỏ xiêu vẹo ở thẻo đất thừa, chật hẹp tận cuối làng
Trang 40Chiềng Va” [7,tr.106] Sự ân hận muộn màng cùng với “của hồi môn” là “một bài thơ chân thực và tử tế” của người đàn ông lãng mạn nhưng hèn nhát, vô trách nhiệm
gửi cho con gái của cô - thật là một sự mai mỉa, thật là một cái giá quá đắt đối với cuộc sống, tình yêu với sự trong sáng, cả tin, với sự dâng hiến, hy sinh hết mình của
cô đối với một kẻ bạc tình, hèn nhát Điều đó khiến người đọc không khỏi bùi ngùi xót xa cho số phận của người phụ nữ Mường Bằng trái tim yêu thương trĩu nặng nhà văn cảm thông và bệnh vực cho người phụ nữ Cùng cảnh ngộ số phận như bao người
phụ nữ Mường khác trong truyện Suối lạnh số phận người con gái Mường cũng hiện
lên với bao đau khổ xót xa và đầy tủi nhục Cô đem lòng yêu một kẻ đào ngũ với một
tình yêu chân thành “ta đã yêu thật lòng Ta đã trao thân cho người đó” [10,tr.107]
Tưởng rằng tình yêu ấy đủ sức mạnh để cảm hoá anh ta đồng ý quay trở về mặt trận Nhưng trên đường trở về đơn vị anh ta đã bỏ trốn mà cô không hay biết rồi còn nhận nhầm người đứng ra che chắn bom đạn cứu mạng mình chính là anh ta Cô cảm thấy hạnh phúc và tự hào biết bao khi khẳng định với các nữ thanh niên xung phong người
ấy, người đã hy sinh để cứu em “là chồng em” Và cùng họ chôn cất cho anh ta, đánh dấu phần mộ để sau này khi giải phóng sẽ tìm lại xương cốt Người phụ nữ Mường luôn sống trong sự thuỷ chung, tình nghĩa vì thế cô đã nghĩ đến cái ơn, cái tình khi con gái cô mới chập chững biết đi cô đã gửi con ở mường Dồ, bán tất cả những gì cô
có để đi tìm: “Hài cốt người đó về giao cho người cha và quỳ lạy để xin ông tha thứ”
[10,tr.109], vì giải phóng đã nửa năm và cô sợ sẽ quên mất chỗ người đó đang nằm Nhưng cũng vì lý do ấy lại khiến cho cô dằn vặt, day dứt đau khổ suốt ba mươi năm trời khi cô bị kẻ gian lấy mất chiếc va li đựng hài cốt của người lính trên chuyến tàu
mà phải bất lực nhìn theo Nhưng với nghĩa tình sâu nặng dành cho người lính ấy cô
đã quyết tâm bằng được phải tìm kiếm lại cái mà cô đã đánh mất cho dù cuộc tìm
kiếm đó khiến cô gặp bao vất vả, cơ cực, đắng cay, tủi nhục: “Ta phải tìm lại cái mà
ta đã đánh mất Thế là ta bắt đầu cuộc tìm kiếm của mình Ta tìm kiếm suốt mấy tháng trời dọc theo tuyến đường sắt dài dằng dặc Ta lang thang như một kẻ không nhà, không cửa Ta vật vờ như một hồn ma không người thờ cúng Ta cô đơn giữa biển người xa lạ Tiền hết, ta phải đi xin cơm thừa, canh cặn của những người tốt bụng để sống qua ngày Ta phải chịu đói, chịu rét Ta bị người ta hãm hiếp Ta đã