1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài : Luận án TS. Ngôn ngữ và văn hoá nước ngoài: 622202

170 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 170
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài Các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHẠM THÙY CHI

CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG CÁC GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT

CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ VĂN THI

Hà Nội - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Những tƣ liệu và số liệu trong luận án là trung thực do tôi thực hiện Đề tài nghiên cứu và các kết luận chƣa đƣợc ai công bố

Tác giả luận án

Phạm Thùy Chi

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài Các phương tiện biểu thị tình thái trong các

giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp

đỡ, tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo, các nhà khoa học, cán bộ, chuyên viên, giảng viên Khoa Ngôn ngữ học; tập thể Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo; cán bộ, giảng viên các Phòng, Ban chức năng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Vũ Văn Thi - thầy giáo trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo để Tôi hoàn thành luận án này

Tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp của Tôi và gia đình, người thân đã luôn động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án này

Trân trọng cảm ơn!

Phạm Thùy Chi

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

1 Lí do chọn đề tài 6

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3 Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 9

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 10

6 Kết cấu của luận án 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 12 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 12

1.1.1 Những nghiên cứu về tình thái trên thế giới 12

1.1.2 Những nghiên cứu về tình thái ở trong nước 13

1.1.3 Những nghiên cứu về giảng dạy tình thái tiếng Việt cho người nước ngoài 17

1.2 Cơ sở lý luận 18

1.2.1 Khái niệm tình thái 18

1.2.2 Lý thuyết hành động ngôn từ 28

1.2.3 Lý thuyết giao tiếp 34

1.3 Tiểu kết 39

CHƯƠNG 2 CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG TIẾNG VIỆT 41

2.1 Một số vấn đề về phương tiện biểu thị tình thái 41

2.2 Một số nét khái quát về các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt 42

2.2.1 Phương tiện ngữ âm biểu thị ý nghĩa tình thái 42

2.2.2 Các phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái 43

2.2.3 Các phương tiện ngữ pháp biểu thị ý nghĩa tình thái 54

2.3 Những khó khăn trong việc phân định các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt 56

2.4 Tiểu kết 63

Trang 6

CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ VÀ XỬ LÍ CÁC PHƯƠNG TIỆNBIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONG CÁC GIÁO TRÌNHDẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI

NƯỚC NGOÀI 65

3.1 Khảo sát các động từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 65

3.1.1 Cách gọi tên các động từ tình thái 65

3.1.2 Về số lượng các động từ tình thái trong các giáo trình 66

3.1.3 Về tần suất sử dụng các động từ tình thái trong từng giáo trình 69

3.1.4 Cách giải thích ý nghĩa, chức năng và hướng dẫn sử dụng các động từ tình thái trong phần ngữ pháp của giáo trình 70

3.2 Khảo sát các phó từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 78

3.2.1 Về số lượng các phó từ tình thái trong các giáo trình 78

3.2.2 Về tần suất sử dụng các phó từ tình thái trong từng giáo trình 81

3.2.3 Cách giải thích ý nghĩa, chức năng và hướng dẫn sử dụng các phó từ tình thái trong phần ngữ pháp của giáo trình 82

3.3 Khảo sát các trợ từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 89

3.3.1 Về số lượng các trợ từ tình thái trong các giáo trình 89

3.3.2 Về tần suất sử dụng các trợ từ tình thái trong từng giáo trình 91

3.3.3 Cách giải thích ý nghĩa, chức năng và hướng dẫn sử dụng các trợ từ tình thái trong phần ngữ pháp của giáo trình 92

3.4 Khảo sát các tiểu từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài 99

3.4.1 Về số lượng các tiểu từ tình thái trong các giáo trình 99

3.4.2 Về tần suất sử dụng các tiểu từ tình thái trong từng giáo trình 101

3.4.3 Cách giải thích ý nghĩa, chức năng và hướng dẫn sử dụng các tiểu từ tình thái trong phần ngữ pháp của giáo trình 103

3.5 Nhận xét 111

3.6 Tiểu kết 114

Trang 7

CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT HƯỚNG PHÂN BỐ VÀ XỬ LÝ PHÙ HỢPCÁC

PHƯƠNG TIỆN BIỂU THỊ TÌNH THÁI TRONGCÁC GIÁO TRÌNH DẠY

TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 116

4.1 Định hướng phân định các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái cho các trình độ 116

4.1.1 Vấn đề thuật ngữ cho các trình độ 116

4.1.2 Phân định các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong các trình độ, các bậc 118

4.2 Đề xuất cách chú giải hiệu quả trong giảng dạy các yếu tố tình thái 135

4.2.1 Đề xuất diễn giải các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình 136

4.2.2 Giải thích minh họa 137

4.3 Đề xuất phương pháp và thiết kếtài liệu giảng dạy các yếu tố tình thái 139

4.3.1 Chọn phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp 139

4.3.2 Áp dụng ngữ pháp giao tiếp trong giảng dạy phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái 139 4.4 Ứng dụng thiết kế một số kiểu bài luyện, bài tập thực hành các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái 142

4.4.1 Dạng bài tập tạo lập thói quen 143

4.4.2 Dạng bài tập nhận diện 144

4.4.3 Dạng bài tập tạo lập 145

4.4.4 Dạng bài tập tình huống 146

4.5 Tiểu kết 147

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢLIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 161

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU TƢ LIỆU KHẢO SÁT

người nước ngoài 3 (VSL 3), NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh

8

người nước ngoài 4 (VSL 4), NXB Giáo dục, TP Hồ Chí Minh

9

người nước ngoài 1 (VSL 1) (Vietnamese as a second language),

NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM

4

người nước ngoài 2 (VSL 2) (Vietnamese as a second language),

NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM

5

cho người nước ngoài (Vietnamese for Foreigners – Advanced

level), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

10

Vietnamese), NXB Giáo dục, Hà Nội

6

NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Danh sách các động từ tình thái đƣợc sử dụngtrong các phần giải thích ngữ pháp, bài tập và bài luyện của các giáo trình 67 Bảng 3.2 Tần suất sử dụng các động từ tình thái trong phần hội thoại và bài đọc của từng giáo trình……… 68 Bảng 3.3 Danh sách các phó từ tình thái đƣợc sử dụngtrong các phần giải thích ngữ pháp, bài tập và bài luyện của các giáo trình 79 Bảng 3.4 Tần suất sử dụng các phó từ tình tháitrong phần hội thoại và bài đọc của từng giáo trình 81 Bảng 3.5 Danh sách các trợ từ tình thái đƣợc sử dụng trong các phầngiải thích ngữ pháp, bài tập và bài luyện của các giáo trình 89 Bảng 3.6 Tần suất sử dụng các trợ từ tình tháitrong phần hội thoại và bài đọc của từng giáo trình 91 Bảng 3.7 Danh sách các tiểu từ tình thái đƣợc sử dụng trongcác phần giải thích ngữ pháp, bài tập và bài luyện của các giáo trình 99 Bảng 3.8 Tần suất sử dụng các tiểu từ tình tháitrong phần hội thoại và bài đọc của từng giáo trình 102

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong những năm gần đây, tình thái tính nổi lên như là một trong những trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học nói chung và ngôn ngữ học dạy tiếng nói riêng Ngôn ngữ học hiện nay không chỉ quan tâm đến những mô hình ngôn ngữ học trừu tượng, tĩnh tại

mà còn quan tâm cả đến ngôn ngữ trong hoạt động với tư cách là công cụ giao tiếp tương tác liên nhân Vai trò của chủ thể giao tiếp, tính chủ quan trong giao tiếp được chú trọng hơn trước rất nhiều Quan tâm đến các bình diện của tình thái sẽ giúp chúng ta hiểu được bản chất của ngôn ngữ với tư cách là công cụ mà con người sử dụng để phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và giao tiếp xã hội Trong giao tiếp xã hội, không

có tình thái, nội dung được thể hiện trong câu nói chỉ là những mảng nguyên liệu rời rạc Một số công trình nghiên cứu cho thấy vai trò của tình thái trong hoạt động ngôn ngữ càng được khẳng định, một số chức năng tình thái chỉ xuất hiện trong giao tiếp trực diện, nghĩa là chúng không chỉ phụ thuộc vào người nói mà còn phụ thuộc vào quan hệ tương tác, có tính đối thoại giữa người nói và người nghe

Tuy nhiên, cho đến nay, các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài chưa được quan tâm một cách thích đáng và chưa được xây dựng một cách có hệ thống Vì vậy, việc giảng dạy các phương tiện này gây không

ít khó khăn cho cả người dạy lẫn người học Trong khi đó, tình thái lại là linh hồn của phát ngôn, một người học chỉ có thể trở nên xuất sắc khi biết sử dụng hiệu quả các phương tiện này trong quá trình giao tiếp

Chính vì những lý do nêu trên, việc khảo sát, nghiên cứu các phương tiện tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài là rất cần thiết, có ý nghĩa

lý luận và thực tiễn đáp ứng nhu cầu giảng dạy và biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài hiện nay Do vậy, chúng tôi chọn hướng nghiên cứu của luận án

là: Khảo sát các phương tiện biểu thị tình thái trong các sách dạy tiếng Việt cho người

nước ngoài trên cơ sở các sách dạy tiếng Việt tiêu biểu từ năm 1980 đến nay Qua đó,

nêu hướng xử lí và phân bố tối ưu các phương tiện này một cách hợp lí và hệ thống cho các giáo trình tiếng Việt thực hành

2 Mục đíchvà nhiệm vụ nghiêncứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nhằm tìm hiểu các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình

Trang 11

thái được phân bố và xử lí như thế nào trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài; đánh giá tính thỏa đáng của các phương tiện tình thái được sử dụng trong các giáo trình; phân định hợp lí các phương tiện biểu thị tình thái vào các bậc, các trình

độ của giáo trình để giảng dạy hiệu quả các phương tiện biểu thị tình thái cho người nước ngoài

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án cũng xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu, hệ thống hóa những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài

- Khảo sát định lượng và định tính các phương tiện tình thái được sử dụng trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Khảo sát cách thức diễn giải và hướng dẫn sử dụng các phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái cũng như sự phân

bố theo mục đích, cấu phần và trình độ của các giáo trình

- Đề xuất các giải pháp phù hợp cho việc thiết kế giáo trình và giảng dạy các phương tiện tình thái tiếng Việt cho người nước ngoài

3 Đối tượng, phạm vi và nguồn ngữ liệu nghiên cứu

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Tuy nhiên, các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái là một phạm trù rất lớn nênluận án tập trung, giới hạn phạm vi nghiên cứu là 4 loại phương tiện từ vựng biểu thị

ý nghĩa tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài là: động từ tình thái, phó từ tình thái, trợ từ tình thái và tiểu từ tình thái

3.2 Nguồn ngữ liệu nghiên cứu

Luận án thu thập tư liệu chủ yếutừ nguồn ngữ liệu các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài hiện đại (từ năm 1980 đến nay) Cụ thể, tư liệu khảo sát trong luận án được thu thập từ các giáo trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài là:

3.2.1 Sách trình độ A gồm có:

1 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) (2008), Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài

1 (VSL 1) (Vietnamese as a second language), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ

Chí Minh, TP Hồ Chí Minh

Trang 12

2 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên) (2008), Giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài

2 (VSL 2) (Vietnamese as a second language), NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ

Chí Minh, TP Hồ Chí Minh

3 Vũ Văn Thi (2006), Tiếng Việt cơ sở (Vietnamese for Beginners), NXB Đại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội

4 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên) (2014), Tiếng Việt - trình độ A T 1, NXB Thế

1 Vũ Thị Thanh Hương (chủ biên) (2004), Tiếng Việt nâng cao dành cho người nước

ngoài (Vietnamese for Foreigners – Advanced level), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

2 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên) (2004),Thực hành tiếng Việt - trình độ C, NXB

Thế giới, Hà Nội

Những giáo trình được luận án lựa chọn để khảo sát thuộc cả ba trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao cấp Việc lựa chọn giáo trình thuộc cả ba trình độ để khảo sát, luận án mong muốn có một cái nhìn toàn diện và hệ thống về các phương tiện biểu thị tình thái được giảng dạy và phân bố như thế nào hiện nay trong các giáo trình Đồng thời, những giáo trình được khảo sát cũng là những giáo trình được sử dụng giảng dạy phổ biến hiện nay trong các cơ sở dạy tiếng như: Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Hà Nội, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Viện Ngôn ngữ học…

Trang 13

Ngoài ra, luận án cũng sử dụng một số tư liệu khác như báo chí, truyện ngắn và những tư liệu được quan sát, ghi chép trong quá trình giảng dạy và cuộc sống hàng ngày

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi áp dụng tổng hợp các phương pháp

và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: là phương pháp nghiên cứu xuyên suốt của luận án Với tư cách là một quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp, diễn ngôn không chỉ bao gồm các yếu tố ngôn ngữ mà còn bao gồm các yếu tố ngoài ngôn ngữ như ngữ cảnh tình huống, yếu tố dụng học và tác dụng của các chiến lược giao tiếp của người sử dụng ngôn ngữ Ý thức được sự chi phối của các nhân tố này, đặc biệt là nhân tố ngữ cảnh tình huống, chúng tôi xem xét, xác định, phân tích, mô tả các phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái một cách toàn diện, trong các cảnh huống cụ thể

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: là phương pháp phân tích mối quan hệ nghĩa của các đơn vị từ vựng, nét nghĩa được sử dụng trong ngữ cảnh, nét ngữ nghĩa mang tính lịch sử, văn hóa của các từ Mỗi một phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái được sử dụng ở mỗi phát ngôn trong giao tiếp đều mang tính logic và mang ý nghĩa thể hiện chiến lược giao tiếp của người sử dụng Từ tư liệu thu thập được trong quá trình khảo sát, chúng tôi tiến hành việc phân tích ngữ nghĩa của từng phương tiện, trên cơ sở

đó phân xuất, quy loại các đơn vị vào các nhóm và các tiểu nhóm phương tiện Từ đó, chúng tôi vận dụng phương pháp phân tích quy nạp từ tư liệu để tìm ra những đơn vị được lặp lại trong các giáo trình cũng như trong các cấu phần của các giáo trình Dựa trên sự phân tích này, chúng tôi đưa ra các cách thức giải thích của các giáo trình đối với đối tượng nghiên cứu, từ đó đề xuất cách diễn giải hiệu quả hơn

- Phương pháp mô tả: mô tả việc trình bày các cách thức diễn giải, cách thức sử dụng các phương tiện biểu thị tình thái trong phần ngữ pháp của các giáo trình Đồng thời, phương pháp này cũng được sử dụng thông qua các hình thức biểu bảng để làm nổi bật những đặc trưng cơ bản của đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng liên tục và xuyên suốt trong luận

án Từ kết quả sau khi thống kê, phân loại và so sánh, luận án phân tích, tổng hợp nhằm đề xuất sự phân định hợp lí các phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái vào các giáo trình thuộc các trình độ cũng như đề xuất phương pháp giảng dạy và thực hành hiệu quả Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số thủ pháp nghiên cứu khác:

Trang 14

- Thủ pháp thống kê, phân loại: luận án thống kê, phân loại các đơn vị từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái bao gồm: các động từ tình thái, các phó từ tình thái, các trợ từ tình thái và các tiểu từ tình thái Việc thống kê, phân loại này nhằm đưa ra những đánh giá, nhận xét khách quan và khoa học về đối tượng nghiên cứu

- Thủ pháp so sánh: thủ pháp này được dùng để so sánh cách đưa, cách giải thích các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình Việc so sánh này nhằm tìm ra những nét tươmg đồng cũng như khác biệt trong việc giải thích các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình

- Thủ pháp điều tra: luận án sử dụng thủ pháp điều tra sử dụng bảng hỏi (anket) để điều tra, khảo sát đánh giá, lấy ý kiến của các giảng viên về việc phân định các phương tiện biểu thị tình thái vào các bậc, các trình độ cho giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

- Việc sử dụng linh hoạt các phương pháp và thủ pháp trên trong quá trình thực hiện đề tài là hết sức cần thiết Việc phối hợp, hỗ trợ giữa các phương pháp, thủ pháp trong nghiên cứu, thu thập tư liệu, số liệu sẽ có tác dụng lớn đến kết quả của luận án

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

5.1 Ý nghĩa lý luận

Về phương diện lý thuyết, trên cơ sở xem xét và tổng kết các vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài, luận án góp phần làm sáng rõ thêm một số khía cạnh về các phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong tiếng Việt nói chung và các phương tiện từ vựng biểu thị ý nghĩa tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt thực hành cho người nước ngoài nói riêng Cụ thể, luận án có những đóng góp như sau về mặt lý luận:

- Xác định được vai trò của các phương tiện tình thái trong tiếng Việt và việc dạy tiếng

- Xác định và đánh giá được sự phân bố và xử lý phương tiện tình thái thể hiện trong giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài

- Đề xuấthướng phân bố và xử lý hiệu quả các phương tiện tình thái trong giáo trình tiếng Việt ở các trình độ

- Đề xuất phương pháp giảng dạy hiệu quả về tình thái tiếng Việt cho người nước ngoài

5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Luận án khảo sát đơn vị ngôn ngữ hết sức quen thuộc, thể hiện ở sự cần thiết phải

sử dụng chúng trong suy nghĩ, diễn đạt và giao tiếp hàng ngày, nhưng cũng lại là đơn vị

Trang 15

khó nắm bắt và giải thích Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần tích cực vào việc giảng dạy cũng như biên soạn tài liệu giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Đồng thời, kết quả của luận án cũng có thể là những tham khảo hữu ích cho công tác biên soạn

từ điển, biên dịch, phiên dịch, so sánh đối chiếu tiếng Việt với các ngôn ngữ khác…

6 Kết cấu của luận án

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm có bốn chương như sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 2: Các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt

Chương 3: Khảo sát sự phân bố và xử lí các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Chương 4: Đề xuất hướng phân bố và xử lí phù hợp các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Trang 16

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về tình thái trên thế giới

Tình thái là một vấn đề rất rộng và phức tạp mà các nhà logic học, ngôn ngữ học đều quan tâm Các nhà logic học là những người đi đầu trong nghiên cứu vấn đề tình thái Ngay từ thời cổ đại, Aristotle đã bàn về mệnh đề tình thái và gắn tình thái với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những đặc trưng cơ bản của mối liên hệ giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở góc độ phù hợp của phán đoán với thực tế

Đến năm 1932, việc đưa khái niệm tình thái vào ngôn ngữ học mới được thể hiện

rõ Ch Bally đã chủ trương phân biệt trong câu hai yếu tố: nội dung biểu thị có tính chất cốt lõi về ngữ nghĩa của câu; thái độ của người nói đối với nội dung ấy Trong tác phẩm

Linguistique générale et linguistique francaise, Ch Bally dùng thuật ngữ dictum để chỉ

nội dung cốt lõi của câu và modus hay modalité để chỉ thái độ của người nói, tức tình

thái [Hoàng Tuệ, 2001, tr 734]

Khi bàn về tình thái, nhà ngôn ngữ học Vinogradov cho rằng “tình thái thuộc vào

số những phạm trù ngôn ngữ học trung tâm, cơ bản” và xem tình thái như một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với phạm trù vị tính, biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế Tác giả còn cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ đối với hiện thực” Nội dung thông báo, có thể được người nói hiểu như là hiện thực hay phi hiện thực, là đã tồn tại trong quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ được thực hiện trong tương lai, là điều

mà người nói mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó…

Theo cách định nghĩa của Xirotinina, tình thái lại nằm trong vị tính của câu Đối với các ngôn ngữ biến hình thì “Thời tính, tình thái tính và ngôi tính nằm trong cấu trúc vị tính

và cùng nhau tạo nên cái gọi là vị tính mà nếu thiếu nó thì không thể có thông báo”

Theo quan điểm của Gak, tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế Tình thái biểu thị nhân tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói

Trang 17

Liapol thì xem “Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan

hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông báo” [dẫn theo Nguyễn Văn Hiệp, 2012, tr 84-85]

Halliday trong tác phẩm An Introduction to Functional Grammar cũng có nhiều ý kiến bàn về tình thái Một mặt, ông chú trọng vào phạm trù thức (mood), mặt khác, ông đặt ra yêu cầu về việc cần phải xem xét tính tình thái qua việc sử dụng động từ Với

phạm trù động từ, tác giả hi vọng sẽ giải thích được những gì còn sót lại của tính tình thái mà nếu chỉ dùng riêng khái niệm vị tính thì chưa giải quyết trọn vẹn Thành phần thức gồm hai tiểu thành phần: (i) chủ ngữ (subject) là một cụm danh từ, (ii) tác tử hữu định (finite) là một phần của cụm động từ Thành phần hữu định là một trong số ít

những tác tử động từ biểu đạt thì (tense) (ví dụ: is, has) hay tình thái (ví dụ: can, must)

Đặc biệt, Searle đã dùng lí thuyết hành động ngôn từ để thảo luận những vấn đề thức và tình thái Searle nêu ra năm phạm trù cơ bản của hành động tại lời là: xác quyết, khuyến lệnh, kết ước, tuyên bố và biểu lộ Cách tiếp cận vấn đề của Searle đã cung cấp một khung ngữ nghĩa rộng lớn cho việc thảo luận các vấn đề về tình thái Bởi vì, với cách tiếp cận này thì vai trò của người nói, với tư cách là chủ thể nhận thức, chủ thể tác động trong quan hệ liên nhân được đặc biệt nhấn mạnh Lý thuyết hành động ngôn từ là

lý thuyết đặc biệt quan tâm đến quan hệ giữa người nói với những gì được nói, vì thế lý thuyết này đã trở thành khung để thảo luận những vấn đề của tình thái

Lyons thì cho rằng, tình thái logic được biểu thị qua khái niệm tính khả năng và tính tất yếu, còn trong ngôn ngữ, tình thái được nhận thức qua hai phạm trù cơ bản là tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality) Tình thái nhận thức phải được thể hiện thông qua tính tất yếu và khả năng về tính xác thực của mệnh đề, có liên quan đến tri thức và niềm tin Tình thái đạo nghĩa thì có liên quan đến chức năng xã hội của phép tắc hay là nghĩa vụ Và ông xem tình thái là “thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay các sự tình mà mệnh đề đó miêu tả” [Lyons, 1995, tr 823]

Sự khác nhau trong quan niệm về tình thái như trên cho thấy tính phức tạp của vấn

đề về tình thái Đồng thời cũng cho thấy cách giải quyết vấn đề nội dung ý nghĩa của tính tình thái có sự khác nhau giữa các tác giả

1.1.2 Những nghiên cứu về tình thái ở trong nước

Trước đây, trong suốt một thời gian dài, tình thái không được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm và nghiên cứu một cách thấu đáo Sở dĩ có tình trạng này là vì,

Trang 18

trong suốt một thời gian dài, tình thái được xem thuộc lĩnh vực lời nói (parole) chứ không thuộc ngôn ngữ (langue) theo quan điểm của Saussure Vì sự phân biệt rạch ròi giữa parole và langue nên các nhà nghiên cứu ngữ pháp không động tới nó [Hoàng Tuệ,

2001, tr 729]

Hiện nay, các nhà nghiên cứu trong nước đã quan tâm nhiều đến vấn đề tình thái

Có rất nhiều các bài viết, các chuyên luận nghiên cứu về vấn đề tình thái Tuy nhiên, hiện nay, trong giới Việt ngữ học chưa có nhiều công trình tập trung nghiên cứu toàn diện vềvấn đề này Đồng thời, cách hiểu về tình thái trong giới Việt ngữ học chưa hoàn toàn thống nhất, thậm chí có sự hiểu lầm Nhận xét về vấn đề này, Cao Xuân Hạo đã viết:

“Hai chữ tình thái nếu có được sự quan tâm lại thường đi đôi với những định kiến sai lạc

Sự hiểu lầm phổ biến nhất là nghĩ rằng tình thái là những sắc thái tình cảm, cảm xúc của người nói trong khi phát ngôn” [Đỗ Hữu Châu – Cao Xuân Hạo, 1995, tr 66]

Điểm qua các bài viết, các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy vấn đề tình thái được các tác giả đề cập với những mức độ khác nhau, có những khảo sát, phân tích về vấn đề tình thái ở nhiều phương diện khác nhau Tiêu biểu là các tác giả như Phan Mạnh Hùng (1982), Hoàng Tuệ(1984, 1988), Nguyễn Minh Thuyết (1986, 1995), Nguyễn Đức Dân (1987, 1998), Lê Đông (1991), Hồ Lê (1992), Cao Xuân Hạo (1991, 1999, 2001, 2002), Phạm Hùng Việt (1996), Nguyễn Văn Hiệp (1994, 1998, 2001, 2002, 2012), v.v… Quan điểm chung của các tác giả này là có sự phân biệt rõ ràng giữa hai phạm trù ngôn liệu và tình thái Tuy nhiên, khi đi vào từng vấn đề cụ thể, mỗi tác giả lại có những kiến giải khác nhau

Nguyễn Đức Dân đã bàn về vấn đề logic – tình thái trong tiếng Việt Sau này, ông

đã nêu lên những khái niệm căn bản về tình thái trong logic học Tác giả cho thấy mối quan hệ giữa logic tình thái và ngôn ngữ, trong đó tính tất yếu và tính có thể được coi là nền tảng của vấn đề tình thái trong ngôn ngữ [Nguyễn Đức Dân, 1987]

Đến năm 1979, Cao Xuân Hạo đã có bài nghiên cứu đi sâu miêu tả, phân tích những phương diện diễn đạt ý nghĩa tình thái qua việc phân tích tiền giả định và hàm ý của một số vị từ tình thái Ông còn nêu lên sự phân biệt rõ ràng giữa tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Tác giả này cũng cho rằng: “Nội dung của bất kỳ một lời phát ngôn nào cũng chứa đựng một tình thái (nếu không phải là kết hợp nhiều lớp tình thái)” [Cao Xuân Hạo, 1991, tr 51]

Trang 19

Hoàng Tuệ(1988) đã nêu ra những nét khái quát về tình thái khi bàn về vấn đề thời, thể và tình thái trong tiếng Việt và khái niệm tình thái Trong đó, ông phân biệt

rạch ròi trong tiếng Việt hai yếu tố khác nhau là ngôn liệu (dictum) và tình thái (modus)

Đỗ Hữu Châu cho rằng, phạm trù tình thái truyền đạt quan hệ giữa nhận thức của người nói với nội dung của câu và quan hệ của nội dung này với thực tại ngoài ngôn ngữ Nội dung câu nói có thể được khẳng định, được phủ định, được yêu cầu hay bị cấm đoán, được cầu mong hay đề nghị, v.v… [Đỗ Hữu Châu, 1993]

Nguyễn Văn Hiệp đã trình bày sự đối lập giữa tình thái và ngôn liệu Ông viết:

“Đối lập cơ bản nhất để hiểu tình thái là đối lập giữa tình thái và ngôn liệu hay nội dung mệnh đề Đây là một sự đối lập được thừa nhận rộng rãi, được coi là then chốt trong những nghiên cứu về tình thái Ngôn liệu thực chất là thông tin miêu tả ở dạng tiềm năng, còn tình thái là phần định tính dành cho thông tin miêu tả ấy” [Nguyễn Văn Hiệp,

2012, tr 85-86]

Phạm Hùng Việt đã có cả một chuyên luận nghiên cứu về trợ từ trong tiếng Việt là

Một số đặc điểm chức năng của trợ từ tiếng Việt hiện đại Trong công trình này, dựa vào

những tiêu chí về đặc điểm cú pháp, về ngữ nghĩa – chức năng, tác giả đã đưa ra một danh sách bao gồm 77 trợ từ tiếng Việt Tác giả đã phân loại các trợ từ tiếng Việt thành trợ từ câu (là những phương tiện biểu thị tình thái xuất hiện cuối câu) và các trợ từ bộ phận câu Tác giả cũng đã phân tích một số đặc điểm chức năng của trợ từ tiếng Việt Theo đó, trợ từ tiếng Việt có bốn chức năng: chức năng biểu cảm, chức năng đánh giá, chức năng nhấn mạnh, chức năng tham gia biểu thị mục đích phát ngôn [Phạm Hùng Việt, 1996]

Bài báo Hướng đến một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu

tiếng Việt của Nguyễn Văn Hiệp đã có những miêu tả và cố gắng hướng đến việc phân

loại các tiểu từ tình thái cuối câu một cách rõ ràng, cụ thể Dựa vào vai trò của các tiểu

từ tình thái cuối câu trong việc hình thành hiệu lực tại lời của phát ngôn, tác giả đã xác lập một cách miêu tả và phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu Tác giả phân loại các tiểu từ tình thái cuối câu thành ba nhóm: Nhóm 1 là các tiểu từ được dùng khá ổn định trong một số kiểu hành vi nhất định Trong nội bộ nhóm này, có thể tiếp tục phân chia các tiểu từ theo hành vi ngôn ngữ (hành vi tại lời) mà chúng biểu thị một cách điển hình

và đã được ngữ pháp hóa thành các cấu trúc ngôn ngữ tương đối ổn định như: các tiểu từ tình thái chuyên dùng trong các câu hỏi, các tiểu từ tình thái chuyên dùng trong câu cầu

Trang 20

khiến, các tiểu từ tình thái chuyên dùng trong câu trần thuật Nhóm hai là các tiểu từ không có sự ổn định về kiểu hành vi mà chúng biểu thị, tùy theo mệnh đề đi kèm hay tùy theo tình huống sử dụng mà chúng có thể biểu thị các kiểu hành vi đã được nêu ở nhóm 1 Nhóm thứ ba là nhóm các tiểu từ không tham gia trực tiếp vào việc hình thành mục đích phát ngôn mà chỉ thể hiện những nét nghĩa liên quan đến sự thúc giục nói chung hoặc quan hệ giữa người nói và người nghe [Nguyễn Văn Hiệp, 2001a]

Trong luận ánTiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi và việc biểu thị các hành vi

ngôn ngữ trong tiếng Việt, Nguyễn Thị Lương đã nghiên cứu 10 tiểu từ tình thái dứt câu

dùng để hỏi trong tiếng Việt: à, ư, hả, sao, phỏng, chắc, chăng, chứ, nhỉ, nhé Dựa vào lí

thuyết dụng học và lí thuyết hành vi ngôn ngữ, tác giả đã xác định được 12 kiểu hỏi do các tiểu từ tình thái cuối câu biểu thị Tác giả đã chỉ ra các khả năng kết hợp, khả năng biểu thị các kiểu hỏi, nội dung các kiểu câu hỏi có chứa tiểu từ tình thái dứt câu, so sánh

sự khác nhau giữa 10 tiểu từ tình thái dứt câu về các phương diện: khả năng biểu thị các sắc thái hỏi, sắc thái biểu cảm, khả năng kết hợp và tần suất sử dụng [Nguyễn Thị Lương, 1996]

Trong luận ánMột số phương tiện biểu thị ý nghĩa tình thái trong câu ghép tiếng

Việt, Ngô Thị Minh đã miêu tả, khảo sát và biện giải 26 cặp tác tử với 40 biến thể trong

10 phát ngôn có dạng câu ghép khác nhau Tác giả đã khẳng định sự hiện diện của các cặp tác tử là một trong những phương tiện có tính chuyên biệt quan trọng nhất của câu ghép tiếng Việt Các tác tử tình thái với chức năng siêu ngôn ngữ và ý nghĩa đánh giá có vai trò tạo nên các đặc điểm ngữ dụng của phát ngôn có dạng câu ghép Các hành vi ngôn ngữ khẳng định, phủ định, bác bỏ, giả định hiện thực… trong phát ngôn được hình thành từ các tác tử tình thái [Ngô Thị Minh, 2001]

Bùi Trọng Ngoãn, trong luận án Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt, đã

thống kê và phân loại 122 động từ tình thái tiếng Việt Tác giả đã chỉ ra những động từ tình thái chuyên dụng và những động từ thường hoạt động với tư cách động từ tình thái Tác giả đã nghiên cứu các động từ tình thái này trên cả 3 bình diện kết học, nghĩa học, dụng học Tác giả đã phân chia các động từ tình thái thành các lớp, các nhóm và các tiểu nhóm sau đó tiến hành giải thích, miêu tả nghĩa của 21 nhóm động từ tình thái và nghĩa của từng động từ tình thái [Bùi Trọng Ngoãn, 2004]

Trang 21

1.1.3 Những nghiên cứu về giảng dạy tình thái tiếng Việt cho người nước ngoài

Trong các nghiên cứu về giảng dạy tình thái tiếng Việt cho người nước ngoài, có

thể kể đến luận văn thạc sĩ của Trần Thị Ánh Tuyết,Bước đầu nhận xét việc thể hiện

cách dùng phụ từ trong các sách giáo khoa dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ - Trên tư liệu các tài liệu trong nước xuất bản từ năm 1980 đến năm 2005 Trong luận văn của

mình, tác giả đã phân tích cách biểu hiện của các phụ từ tiếng Việt trong 24 cuốn sách ở bậc cơ sở và nâng cao Tác giả đã giới thiệu và mô tả được ý nghĩa và chức năng của152 phụ từ ở cả hai trình độ Tác giả đã đi đến kết luận, sách nâng cao thường tập trung giải thích các nét nghĩa và các cách sử dụng của phụ từ ở cùng một bài Các phụ từ xuất hiện

ở trình độ nâng cao thường là các phụ từ ít phổ biến hơn và có tần số sử dụng thấp nhưng lại diễn đạt được lối tư duy phức tạp của người tham gia giao tiếp [Trần Thị Ánh Tuyết, 2007]

Nghiên cứu về các phương tiện tình thái trong các giáo trình dạy tiếng, trong luận

vănthạc sĩTrợ từ tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, tác

giả Đinh Thị Thùy Trang đã thống kê được 35 trợ từ tình thái được giảng dạy trong 25 giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Tác giả đã khẳng định: trợ từ tình thái

có số lượng không nhiều nhưng có sự linh hoạt trong cách dùng và thường không có vị trí cố định trong cấu trúc câu Theo tác giả, có những trợ từ tình thái xuất hiện ở cuối phát ngôn, có những trợ từ tình thái có thể vừa xuất hiện ở đầu phát ngôn vừa xuất hiện

ở giữa phát ngôn, và có những trợ từ tình thái chỉ xuất hiện ở giữa phát ngôn Tác giả cũng cho rằng, trợ từ là một vấn đề khó nắm bắt với đối tượng là người châu Âu, châu Mỹ… Đối với người châu Á thì việc học từ tình thái tiếng Việt không quá khó vì tiếng Việt và ngôn ngữ ở một số nước châu Á có sự tương đồng nhất định về mặt ngữ âm, từ vựng và văn hóa Vì vậy, đối tượng là người châu Á thường có sự tiếp thu nhanh hơn so với người Âu – Mỹ [Đinh Thị Thùy Trang, 2009]

Về giảng dạy các phương tiện tình thái tiếng Việt cho người nước ngoài, trong

luận vănPhương pháp giảng dạy từ tình thái và quán ngữ tình thái cho sinh viên nước

ngoài ở trình độ nâng cao, Phan Thanh Sơn đã đưa ra hai thủ pháp được đánh giá cao về

mặt hiệu quả trong giảng dạy các yếu tố tình thái là so sánh đối lập tương phản và đồng nghĩa cú pháp Việc loại suy các yếu tố chu cảnh để làm nổi bật tiêu điểm thông tin hay thêm các yếu tố ngầm ẩn đều mang lại “những giá trị giao tiếp rõ ràng” cho các yếu tố tình thái [Phan Thanh Sơn, 2015]

Trang 22

Những kết quả nghiên cứu của các tác giả trong các công trình này đã mang lại những hiệu quả rất lớn Có thể nói, những kết quả nghiên cứu này đã giúp cho giới Việt ngữ học có những quan tâm nhiều hơn, mạnh mẽ hơn đến vấn đề tình thái Đồng thời, những kết quả nghiên cứu này cũng tạo tiền đề cho những nghiên cứu về những phương diện cụ thể về tình thái trong tiếng Việt

Như trên đã nói, những nghiên cứu chung về tình thái của các tác giả đi trước đã tạo ra cái nhìn mới mẻ hơn, đa diện hơn, sâu sắc hơn trong giới Việt ngữ học về những vấn đề cụ thể của tình thái Các công trình, các bài viết về các phương tiện biểu thị tình thái trong tiếng Việt được các tác giả đề cập đến với những mức độ khác nhau Và cũng tùy theo mục đích nghiên cứu mà mỗi tác giả có những nghiên cứu về từng loại phương tiện khác nhau Có những công trình nghiên cứu về trợ từ tình thái, động từ tình thái, quán ngữ tình thái…

Việc biên soạn giáo trình và giảng dạy các yếu tố tình thái tiếng Việt cho người nước ngoài là một vấn đề khó nhưng lại thật sự cần thiết vì số lượng, khả năng sử dụng các yếu tố tình thái trong quá trình giao tiếp của người học là thước đo để đánh giá mức

độ thâm nhập nông hay sâu vào ngôn ngữ và văn hóa Vì vậy, việc nghiên cứu cơ chế cũng như đề xuất được phương hướng giảng dạy các yếu tố này cho người nước ngoài thực sự là một hướng nghiên cứucần thiết và lí thú

1.2 Cơ sở lý luận

Luận án Các phương tiện biểu thị tình thái trong các giáo trình dạy tiếng Việt cho

người nước ngoài liên quan đến ba vấn đề lí thuyết là tình thái, tình thái gắn với hành

động ngôn từ và lí thuyết giao tiếp Vì vậy, để xử lí đề tài, luận án đề cập đến ba khái niệm lí thuyết chủ yếu là: tình thái, hành động ngôn từ và lí thuyết giao tiếp

1.2.1.Khái niệm tình thái

Khái niệm tình thái thường được các nhà ngôn ngữ học dùng để phản ánh các quan

hệ đa diện giữa người nói và điều được nói ra, giữa nội dung phát ngôn với hiện thực khách quan và giữa người nói với người nghe Như vậy, nói một cách đơn giản nhất, phạm trù tình thái bao gồm hai bình diện là mối quan hệ giữa người nói với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn với thực tế

Tuy nhiên, đây chỉ là một cách hiểu đơn giản nhất vì trên thực tế, tình thái là một khái niệm vô cùng phức tạp Nhận định về tình hình này, Panfilov đã phát biểu: “không có một

Trang 23

phạm trù nào mà bản chất ngôn ngữ học và các thành phần ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều

ý kiến khác biệt và đối lập nhau như phạm trù tình thái” [Panfilov, 1977, tr 37-38]

Sự phức tạp này cũng được Perkins nhận xét: “Nghiên cứu về tình thái cũng như là

cố di chuyển trong một căn phòng quá chật chội mà không giẫm lên bước chân người khác” [Perkins, 1983, tr 4]

Điều này cũng được Jongeboer khẳng định: “So sánh các ngữ pháp liên quan và các chuyên khảo về các chủ đề của các bình diện tình thái nói chung, người ta kinh ngạc khi thấy dường như không có một lĩnh vực ngữ pháp nào mà sự thiếu nhất trí lại nổi rõ như trong cái mà tôi tóm lược lại dưới tên gọi tình thái Đây thực sự là một mê cung mà

ở đó các nhà ngữ pháp đang tìm kiếm con đường của mình” [Wynmann, 1996, tr 14] Xảy ra tình trạng này là vì tình thái là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học trong đó điển hình là logic học và ngôn ngữ học

1.2.1.1.Khái niệm tình thái trong logic học

Các nhà logic học là những người đầu tiên quan tâm đến vấn đề tình thái Aristotle được coi là người đầu tiên xác lập các khái niệm tất yếu, khả năng và phi khả năng, cùng với những quan hệ tồn tại giữa chúng như mệnh đề tình thái và phép tam đoạn luận tình thái tạo cơ sở cho ngành logic tình thái Đến những năm 50 của thế kỉ XX, các nhà logic phát triển ý tưởng trên và cho rằng khái niệm tất yếu và khả năng có thể được diễn đạt theo tiêu chí các thế giới khả năng

Tình thái trong logic học được gọi là tình thái khách quan Khái niệm tình thái khách quan gắn với sự phân loại các phán đoán, các mệnh đề logic dựa trên những thành phần đặc trưng cơ bản giữa hai thành phần chủ từ và vị từ, xét ở khía cạnh phù hợp của phán đoán trong thực tế Các phán đoán được chia thành ba nhóm lớn như sau:

-Phán đoán khả năng phản ánh xác suất có mặt hay vắng mặt của một đặc trưng nào đó ở đối tượng của phán đoán

-Phán đoán tất yếu phản ánh đặc trưng được gán cho đối tượng ở mọi điều kiện trong mọi thế giới khả năng

-Phán đoán hiện thực đơn thuần xác nhận sự có mặt hay vắng mặt của đặc trưng được gán cho đối tượng

Như vậy, tình thái khách quan chỉ nhằm vào một số kiểu quan hệ chung nhất giữa phán đoán với hiện thực, mang tính khách quan, bản thểvà được coi như là một đặc trưng cấu trúc nội tại của cấu trúc chủ từ - vị từ logic, gạt bỏ mọi nhân tố chủ quan như ý

Trang 24

chí, sự đánh giá, mức độ cam kết, thái độ hay lập trường của người nói Người nói chỉ trình bày lại hiện thực một cách khách quan như nó vốn có mà thôi

1.2.1.2.Khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học

Trong khi khái niệm tình thái của logic chỉ giới hạn ở một số kiểu quan hệ chung nhất của phán đoán với hiện thực, hoàn toàn tách khỏi những nhân tố thuộc mục đích, nhu cầu, ý chí, thái độ, tình cảm, đánh giá của con người nói chung thì việc nghiên cứu tình thái trong ngôn ngữ lại đặc biệt nhấn mạnh đến những yếu tố này Trên thực tế, con

người không chỉ có năng lực xem xét sự vật như nó là hay nhớ lại sự vật theo cách thức

nó đã là mà còn có khả năng suy nghĩ và tưởng tượng các sự vật theo cách thức có thể

là hay phải là

Là một trong những người nghiên cứu tiên phong, Jespersen đã đề cập đến tình thái khi thảo luận về thức Ông đã đánh giá cao tính chủ thể trong giao tiếp Theo ông, các thức xác định (indicative), thức giả định (subjunctive), thức cầu khiến (imperative) đều biểu thị thái độ, quan niệm của người nói về nội dung của câu, mặc dù trong nhiều trường hợp, việc chọn lựa thức được xác định không phải bằng thái độ thực tế của người nói mà bằng chủ thể của mệnh đềvà nó độc lập với người nói

Jespersen đề xuất hai hệ thống tình thái Một hệ thống bao gồm sự bắt buộc, khẩn cầu, cho phép, hứa hẹn, cầu khiến,… Hệ thống còn lại bao gồm sự xác nhận, xác thực, giả định, điều kiện, khả năng… Dựa vào hai cách phân loại này, quan niệm của Jespersen thực chất đã đặt nền móng cho sự phân chiahai phạm trù nội dung ý nghĩa tình thái: tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo nghĩa (deontic modality) Sau Jespersen, Von Wright (1951) đưa ra các kiểu tình thái như: tình thái chân ngụy (alethic), tình thái nhận thức (epistemic), tình thái đạo nghĩa (deontic) và tình thái tồn tại (existential)

Dựa trên cơ sở triết học và logic, ngoài bốn phạm trù mà Von Wright đã chỉ ra, Rescher bổ sung thêm bốn loại nữa là: nhóm tình thái thời gian (temporal modalities); nhóm tình thái mong ước (boulomaic modalities); nhóm tình thái đánh giá (evaluative modalities); nhóm tình thái gây khiến (causal modalities) [Perkin, 1983,tr 120]

Hầu hết các nhà ngữ học ở mức độ này hay mức độ khác đều bộc lộ quan điểm ngữ pháp – ngữ nghĩa của mình khi đề cập đến yếu tố người nói trong các định nghĩa của mình về tính tình thái

Trang 25

“Tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả” [Lyons, 1977, tr 425] Theo đó, ông nêu ra ba loại ý nghĩa tình thái:

-Tình thái tất yếu và khả năng, liên quan đến logic, giá trị đúng/sai của mệnh đề -Tình thái nhận thức, liên quan đến tính thực tế, tính hiện thực

-Tình thái đạo nghĩa gắn với lĩnh vực của logic tình thái, đó là logic về sự bắt buộc

và cho phép, trách nhiệm

Tính tình thái của ngôn ngữ thuộc bình diện ngữ pháp – ngữ nghĩa Tình thái là một bộ phận nghĩa tất yếu của phát ngôn Không thể có một câu nói không mang một tình thái nhất định Theo đó, đưa ra một phát ngôn có nghĩa là thông tin về một sự tình Trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn có hai thành phần cơ bản tương ứng với cách gọi

của Ch Bally là modus và dictum Trong đó, dictum là bộ phận biểu thị một nội dung sự tình ở dạng tiềm năng Vì vậy, dictum gắn với chức năng thông tin, chức năng miêu tả của ngôn ngữ Modus là bộ phận tình thái, thuộc bình diện tâm lí, thể hiện những nhân

tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với điều được nói ra, xét trong mối quan hệ với thực tế, với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp

Bộ phận nghĩa tình thái tham gia vào quá trình thực tại hóa, biến nội dung sự tình ở dạng tiềm năng thành phát ngôn hiện thực Nó cho biết sự tình nêu ra trong phát ngôn là khả năng hay hiện thực, khẳng định hay phủ định, mức độ cam kết của người nói đối với độ tin cậy của thông tin, đánh giá, tình cảm, mong muốn, ý đồ của người nói khi phát ngôn Ví dụ, một sự tình là “mai mưa”, người ta có thể thể hiện những nội dung tình thái khác nhau:

(6)Mai mới mưa cơ

(7)Mai nhỡ mưa thì sao?

Trong phát ngôn (1), người nói thể hiện phát ngôn như một sự thông báo với người đối thoại về một sự tình được coi là hiện thực Trong phát ngôn (2), người nói vừa thông

báo sự tình mai mưa vừa đưa ra cam kết một cách chắc chắn về khả năng hiện thực của

sự tình Người nói có những cơ sở chắc chắn để xác nhận, xác tín về tính hiện thực của

Trang 26

sự tình Khác với phát ngôn (2), ở phát ngôn (3), người nói không cam kết về khả năng hiện thực của sự tình mà chỉ đưa ra phỏng đoán về khả năng xảy ra của sự tình Ngược lại, ở phát ngôn (4), người nói lại phủ định khả năng xảy ra trong hiện thực của sự tình Đến phát ngôn (5), người nói vừa đưa ra một giả định về hiện thực của sự tình, vừa yêu cầu người nghe xác nhận về giả định đó… Sự đối lập giữa hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nghĩa của phát ngôn là một đối lập cơ bản tạo nên cơ sở cho lí thuyết tình thái Chomsky cũng rất chú ý đến vấn đề tình thái nhưng với một cách nhìn có phần hơi khác so với Bally Theo ông, câu bao giờ cũng là câu tường thuật hay câu nghi vấn, câu mệnh lệnh Tính chất khác nhau của những câu đó là tình thái Như vậy, tình thái là yếu

tố bắt buộc, có thể gọi là tình thái bắt buộc và không có hai tình thái bắt buộc trong một câu Theo đó, Chomsky cho rằng, tình thái (bắt buộc) chính là yếu tố xác định kiểu câu Như vậy, tuy ông không xét riêng đến thái độ, tình cảm của người nói như Bally nhưng

có thể nhận thấy rằng: thái độ tình cảm đã được bao hàm trong tình thái – yếu tố xác định kiểu câu, vì kiểu câu là sự biểu thị hai quan hệ gắn bó với nhau: quan hệ giữa người nói với thế giới bên ngoài và quan hệ giữa người nói với người nghe

Theo Fillmore (1968)thì cấu trúc nghĩa của một câu bao gồm hai thành phần chính: thành phần mệnh đề là tập hợp những quan hệ có tính chất phi thời (tenseless) giữa các động từ và các danh từ, phân biệt với thành phần còn lại là tình thái, gồm các loại ý nghĩa liên quan đến toàn bộ câu (the sentence as a whole) như phủ định, thì, thức và thể Quan niệm này được thể hiện trong công thức: S = M + P (trong đó, S là nghĩa của câu,

M là thành phần tình thái và P là thành phần mệnh đề)[Fillmore, 1968, tr 23]

Quan điểm của các nhà Việt ngữ học trong các công trình nghiên cứu về tiếng Việt cũng nhấn mạnh yếu tố chủ quan của người nói từ góc độ ngữ nghĩa – ngữ dụng

Trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt – Câu, Hoàng Trọng Phiến đã khẳng định

tính tình thái như một thuộc tính cố hữu của câu đồng thời hàm ý một góc độ tri nhận của người nói với việc biểu diễn thế giới, thể hiện ở việc biến đổi môi trường tri nhận ở người nghe: “Tình thái là phạm trù ngữ pháp của câu ở dạng tiềm tàng, nó có mặt trong tất cả các kiểu câu Điều này thể hiện ở chỗ các câu có giá trị thời sự, nó có tác dụng thông báo một điều mới mẻ Qua đó, người nghe hiểu rằng người nói có thái độ thế nào đối với hiện thực” [Hoàng Trọng Phiến, 1983, tr 30]

Trang 27

Đỗ Hữu Châu đã nhấn mạnh tính chất động của thành phần ngữ nghĩa này: “Tình thái bao gồm toàn bộ những ý nghĩa thuộc phạm vi dụng học và hợp lại thành thông điệp bộc lộ kèm lõi P của câu” [Đỗ Hữu Châu, 1983, tr 16]

Hoàng Tuệ đã đưa ra một nhận định cụ thể hơn về tình thái trong bài báo Về khái

niệm tình thái tiếng Việt: Tình thái là một khái niệm trong sự phân tích theo cái nhìn tìm

đến thái độ của người nói trong hoạt động phát ngôn, tức cũng là tìm đến tác động ngữ dụng, tác động mà người nói tạo ra ở người nghe trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ [Hoàng Tuệ, 1988]

Theo Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp, hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học bao gồm những ý nghĩa sau:

(1)Các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói hay theo lí thuyết hành

vi ngôn ngữ là kiểu mục đích tại lời mà người nói thực hiện (hỏi, đề nghị, cho phép, ra lệnh, bác bỏ, khuyên răn, mời mọc, cảm ơn…)

(2)Các ý nghĩa thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường hay cảm xúc của người nói đối với nội dung được thông báo: người nói đánh giá nội dung thông báo về mức độ quan trọng, về độ tin cậy, xem đó là điều tích cực (mong muốn, có lợi, tốt…) hay tiêu cực (không muốn, bất lợi, xấu…), bất ngờ - ngoài sự chờ đợi hay bình thường, về tính hiện thực hay tính khả năng…

(3)Các ý nghĩa thuộc sự đối lập giữa khẳng định hay phủ định đối với sự tồn tại của sự tình

(4)Những đặc trưng liên quan đến diễn biến của sự tình, liên quan đến khung vị từ

và mối quan hệ được nói đến trong câu với vị từ (thời, thể hay các ý nghĩa được thể hiện bằng các vị từ tình thái)

(5)Các ý nghĩa phản ánh các đặc trưng khác nhau của phát ngôn với ngữ cảnh theo quan điểm của người nói Chẳng hạn đặc tính siêu ngôn ngữ, hỏi lại, sự đánh giá của người nói về mức độ hiểu biết của người nghe, sự đánh giá của người nói đối với các quan điểm, các ý kiến khác nhau…

Khái niệm tình thái được hiểu rộng như vậy, nghĩa là phạm trù tình thái bao gồm tất cả các phương diện nội dung gắn với sự thực tại hóa câu, biến các nội dung mệnh đề

ở dạng tiềm năng trở thành các phát ngôn trong giao tiếp

Như đã trình bày ở trên, tình thái là một phạm trù rộng lớn và phức tạp, từ đó dẫn đến các quan niệm với các phạm vi rộng – hẹp khác nhau Nhưng, tựu trung lại, chúng

Trang 28

ta có thể xác định được khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học là: tình thái thuộc bình diện ngữ pháp – ngữ nghĩa, thể hiện mối quan hệ giữa người nói với thực tại, giữa người nói với người nghe

1.2.1.3.Một số kiểu loại ýnghĩa tình tháichủ yếu trong ngôn ngữ

a.Tình thái khách quan - tình thái tất yếu

Tình thái khách quan được sử dụng trong logic học, thường quan tâm đến giá trị đúng/sai của mệnh đềmang tính khách quan Tình thái khách quan có ba tham số:

-hiện thực / phi hiện thực

-tất yếu / không tất yếu

Trong khi logic học chỉ quan tâm đến tình thái khách quan, trình bày sự việc như

nó vốn có, loại trừ vai trò của người nói thì tình thái chủ quan lại được các nhà ngôn ngữ học đặc biệt coi trọng Đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt tình thái chủ quan với tình thái khách quan là quan tâm đến vai trò của người nói hay tính chủ quan của người nói

về sự đánh giá của người nói, mức độ cam kết của người nói đối với điều được nói ra Nói cách khác, người nói không trình bày hiện thực như nó vốn có mà trình bày theo ý kiến chủ quan của mình hay theo những ý định riêng của cá nhân người nói Tình thái chủ quan được chia thành hai loại: tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa

Tình thái nhận thức (epistemic modality):

Tình thái nhận thức là tình thái về độ chân thực, độ cam kết đối với chuẩn mực chân thực của điều được nói ra là tất yếu hay không tất yếu, có thể hay không có thể Tức là

Trang 29

người nói cam kết về tính chân thực của điều nói ra trong phát ngôn Điều này có nghĩa là người nói hiểu cơ sở thực tế như là các điều kiện cần thiết của phát ngôn Họ tin, họ khẳng định điều họ nói là chân thực

Phạm trù tình thái nhận thức bao gồm các phạm trù sau:

-Tình thái thực hữu (factive): Người nói cam kết điều mình nói ra là đúng với hiện thực, mang tính tất yếu Tính xác thực của phát ngôn được phản ánh thông qua lăng kính chủ quan của người nói, căn cứ từ sự hiểu biết hay trải nghiệm thực tế hoặc từ sự suy luận hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp của người nói Ví dụ:

+Nó đã kết hôn

+Chắc chắn nó đã đi học

+Thế nào nó cũng đến

+Gì thì gì nó cũng gọi điện cho tôi

Thông qua những phát ngôn trên, người nói cam kết về tính chân thực của điều họ nói Họ quả quyết về khả năng xảy ra của sự kiện, sự tình được nêu trong phát ngôn dựa trên kinh nghiệm hoặc dựa trên một số thông tin có liên quan đến đối tượng

-Tình thái phản thực hữu (counter-factive): Người nói cho rằng sự việc nói đến là phi hiện thực hay tất yếu phi hiện thực Tức là người nói bác bỏ tính chân thực của điều được nói trong phát ngôn Họ cam kết điều mình nói là sai, không có khả năng xảy ra

Ví dụ:

+Nếu Đà Lạt có tuyết rơi thì nó đã đi đến đó

+Hôm qua tôi đâu có gặp nó

+Giá mà tôi còn tiền

Trong các phát ngôn trên, nội dung mệnh đề hoàn toàn có tính trái ngược với thực

tế, đây là hình ảnh thế giới khách quan được người nói kiến tạo ra, do vậy, nó không phản ánh những sự kiện đương nhiên là hiện thực Ở phát ngôn thứ nhất, thực tế là nó đã không đến Đà Lạt vì Đà Lạt không có tuyết rơi Đến phát ngôn thứ hai, trên thực tế việc tôi gặp nó đã không xảy ra Tương tự như vậy, “Giá tôi còn tiền”, trong thực tế là tôi đã hết tiền, người nói thể hiện điều này để bày tỏ sự luyến tiếc trong phát ngôn

- Tình thái không thực hữu (non-factive): Tình thái này còn gọi là tình thái chưa thực hữu, người nói cho rằng sự việc được nói đến trong phát ngôn có thể xảy ra trong một thế giới khả năng nào đó Tức là, người nói không cam kết điều mình nói ra trong phát ngôn là đúng hay sai mà chỉ đưa ra sự phỏng đoán về tính có khả năng hay tính tất

Trang 30

yếu của hiện thực Điều này dựa trên những kiến giải chủ quan của người nói hoặc sự mong muốn chủ quan của họ Loại ý nghĩa tình thái này thường kết hợp với các sắc thái đánh giá tích cực hay tiêu cực của người nói Sắc thái đánh giá tích cực thường gắn với

sự mong muốn chủ quan của người nói Còn sắc thái đánh giá tiêu cực lại đi kèm với sự nghi ngờ, e ngại của người nói Ví dụ:

+Tối nay, tôi định đi xem phim

+Tôi không chắc khi nào tôi có thể gặp anh ấy

Tình thái đạo nghĩa (deontic modality):

Loại tình thái này còn gọi là tình thái ràng buộc Đây là loại tình thái gắn với những quy tắc, chế định của đạo đức, luân lí hay các nguyên tắc khi thực hiện hành động Những chế định này mang tính bắt buộc, quy ước của cộng đồng xã hội Nội dung tình thái đạo nghĩa thường được xem xét dưới góc độ:

-Bắt buộc hay không bắt buộc

-Được phép hay không được phép

-Cấm đoán hay không cấm đoán

-Miễn trừ hay không miễn trừ

Ví dụ:

+Anh phải làm xong việc này trong tuần này để kịp tiến độ của dự án

Phát ngôn trên là lời yêu cầu, có tính bắt buộc của người nói đối với người nghe Theo đánh giá của người nói, việc người nghe phải hoàn thành công việc trong tuần này

là một việc tất yếu, mang tính chất chế định để kịp tiến độ của dự án Tính chất trách nhiệm, bắt buộc vì vậy biểu thị rất rõ trong phát ngôn Chẳng hạn, câu khuyến lệnh có một sự liên quan chặt chẽ đến tình thái đạo nghĩa Ví dụ:

+Cấm hút thuốc!

+Đừng nói to!

+Hãy nói không với ma túy!

c.Tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói

Ngoài các khái niệm tình thái tất yếu, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa nêu trên, cácnhà nghiên cứu còn nêu lên hai khái niệm khác nữa là tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói

Tình thái hướng tác thể(Agent-oriented modality)

Trang 31

Tình thái hướng tác thể là loại tình thái biểu thị những nhân tố có tính điều kiện bên trong và bên ngoài của tác thể có liên quan đến việc thực hiện hành động Loại tình thái này có thể được xem xét theo những nội dung như: sự bắt buộc, sự cần thiết, năng lực, mong muốn

- Sự bắt buộc: thể hiện những điều kiện bên ngoài của tác thể thực hiện hành động,

sự bắt buộc là có thể ở mức độ thấp, hoặc ở mức độ rất cao

Ví dụ: Sinh viên phải có sự đồng ý của giáo viên mới được nghỉ học

- Sự cần thiết: thể hiện những điều kiện vật lí bên ngoài để tác thể thực hiện hành động nêu trong câu

Ví dụ: Tôi cần quàng khăn cổ thì mới không bị ho

- Năng lực: thể hiện những điều kiện bên trong, nội tại, để tác thể thực hiện hành động

Ví dụ: Tôi có thể bơi

- Mong muốn: thể hiện những điều kiện bên trong, thuộc ý chí để tác thể thực hiện hành động được nói trong câu

Ví dụ: Anh ấy khuyên em trai, giục nó học hành chăm chỉ nếu nó muốn thi đỗ đại học

Tình thái hướng người nói (Speaker-oriented modality)

Tình thái hướng người nói là tình thái đặc biệt thường thấy trong những phát ngôn thuộc nhóm khuyến lệnh Loại tình thái này cũng thường thấy ở những phát ngôn mà người nói đồng ý, cho phép người nghe thực hiện hành động Người nói có thể yêu cầu, cấm đoán, mong muốn, cổ vũ, cảnh báo, cho phép người nghe thực hiện hành động

Ví dụ: Anh không được hút thuốc

d.Tình thái mang tính “lập trường” thuộc chủ quan của người nói

Tình thái mang tính “lập trường” của người nói là những nội dung vốn không được tính đến trong khung nội dung tình thái khách quan Đây chính là những đánh giá chủ quan, có tính cá nhân của người nói đối với điều được nói ra trong câu, xét theo khía cạnh sự tình là tích cực hay tiêu cực, đánh giá về lượng (nhiều/ít), đánh giá về chủng loại (phong phú/nghèo nàn), đánh giá về thời điểm (sớm/muộn)…

Ví dụ:

Cô ấy ở Hà Nội mỗi 1 tuần (Đánh giá về lượng: 1 tuần là ít)

Cô ấy ở Hà Nội những 1 tuần (Đánh giá về lượng: 1 tuần là nhiều)

Mới 7 giờ mà đường đã tắc (Đánh giá về thời điểm: 7 giờ là sớm)

Đã 7 giờ rồi mà nó chưa đi học (Đánh giá về thời điểm: 7 giờ là muộn)

Trang 32

1.2.2.Lý thuyết hành động ngôn từ

1.2.2.1.Lý thuyết hành động ngôn từ của Austin

Năm 1955, Austin – nhà triết học người Anh đã trình bày 12 chuyên đề tại đại học tổng hợp Harvard Những chuyên đề này đã được tập hợp lại và xuất bản thành sách với

nhan đề How to do things with words (Những hành động ngôn từ) vào năm 1962, hai

năm sau ngày ông mất

Austin là người đầu tiên phát hiện ra khía cạnh nghĩa tương tác xã hội hay nghĩa liên nhân của phát ngôn Ông nhận thấy rằng, cho đến thời điểm đó, các nhà logic học

và các nhà ngôn ngữ học chỉ quan tâm tới những câu tường thuật (hay còn gọi là khẳng định, xác tín, miêu tả, trần thuyết), tức là những câu có thể kiểm chứng được tính đúng – sai theo tiêu chuẩn logic Ông đã chỉ ra rằng có những phát ngôn khác, mặc dù rất giống với những phát ngôn tường thuật về hình thức nhưng không thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng – sai logic Ví dụ:

-Tôi xin lỗi anh

-Tôi cuộc là tối nay Manchester sẽ thắng

-Con hứa con sẽ học hành chăm chỉ

Những phát ngôn như trên là những phát ngôn không thể đánh giá theo tiêu chuẩn

đúng – sai Khi ta nói “Tôi xin lỗi anh” thì ta không nêu lên bất kì một phán đoánnào có

thể đánh giá theo tiêu chuẩn đúng - saimà thực ra là ta đang “xin lỗi”, tức là đang thực hiện một hành động biểu lộ thái độ của mình

Austin cho rằng, trong đời sống hàng ngày, những phát ngôn không nhằm thể hiện phán đoán chiếm số lượng rất lớn Đó chính là những phát ngôn không nhằm báo cáo về

hiện thực mà nhằm làm một việc gì đó như hỏi, hứa, đánh cuộc, mời… và Austin gọi

những phát ngôn như vậy là phát ngôn ngôn hành

Với những phát ngôn kiểu như trên, Austin đã nêu ra sự phân biệt nổi tiếng giữa phát ngôn tường thuật và phát ngôn ngôn hành Theo đó, phát ngôn tường thuật là phát

ngôn nêu nhận định, ví dụ: Sáng nay mưa Đối với những phát ngôn tường thuật kiểu này, có thể đánh giá tính đúng / sai của nó Chẳng hạn khi nghe ai đó nói: “Sáng nay

mưa”, ta có thể cho rằng câu nói đó không đúng bằng cách nói: Anh nói sáng nay mưa nhưng sáng nay có mưa đâu, trời nắng rất to mà

Trang 33

Còn phát ngôn ngôn hành, ví dụ: Tôi cuộc là tối nay Manchester sẽ thắng hay Con

hứa con sẽ học chăm chỉ… là loại phát ngôn mà khi nói ra, người nói đã làm một điều gì

đấy hơn là nói về một điều gì đấy

Tuy nhiên, đến bước phát triển thứ hai thì Austin đã từ bỏ sự đối lập giữa phát ngôn tường thuật và phát ngôn ngôn hành và ông cho rằng tất cả các phát ngôn đều là phát ngôn ngôn hành, có điều cần phân biệt phát ngôn ngôn hành tường minh và phát ngôn ngôn hành nguyên cấp

Đến đây, Austin cho rằng thực ra các phát ngôn tường thuật, tức là các phát ngôn

có thể đánh giá đúng / sai cũng chỉ là một loại phát ngôn ngôn hành Một câu nói như

“Sáng nay mưa” chính là một dạng ngôn hành như “Tôi xác nhận là sáng nay mưa” và vì

vậy tất cả các phát ngôn tường thuật đều có thể là các phát ngôn ngôn hành kiểu như vậy Theo Austin, phát ngôn ngôn hành tường minh là phát ngôn có chứa những dấu hiệu dùng để biểu thị, để nhận biết chính cái hành động được thực hiện khi nói ra phát ngôn đó Ví dụ:

- Tôi xin lỗi anh

- Tôi mời chị uống nước

- Tôi hứa tôi sẽ hoàn thành công việc trong tuần tới

Những phát ngôn như trên được gọi là các phát ngôn ngôn hành tường minh bởi

chúng chứa các động từ chỉ rõ loại hành động phát ngôn được thực hiện: xin lỗi, mời, hứa…

Và các động từ như vậy được gọi là các động từ ngôn hành Tuy nhiên, đối với tiếng Việt, động từ ngôn hành không phải là dấu hiệu duy nhất của phát ngôn ngôn hành

Trong khi đó, những câu ngôn hành nguyên cấp là những câu thiếu vắng những dấu hiệu hình thức như vậy Vì vậy, để hiểu được mục đích phát ngôn hay ngôn trung đích thực của những câu ngôn hành nguyên cấp thì người nghe buộc phải căn cứ vào

hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Ví dụ như một phát ngôn: Mai mưa có thể được hiểu như

một thông báo đơn thuần nhưng lại có thể được hiểu là một lời cảnh báo nếu người nghe đang có ý định đi leo núi vào ngày mai

Austin cho rằng, khi nói ra một câu, ta không chỉ thực hiện một hành động mà đồng thời thực hiện ba hành động Đó là hành động tạo lời, hành động tại lời và hành động mượn lời

Trang 34

Hành động tạo lời là hành động sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu… để tạo ra một phát ngôn thành phẩm với một dạng thức

cụ thể và một ý nghĩa ít nhiều xác định

Hành động tại lời là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói năng và tạo ra những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, đặt trong một thiết chế xã hội, một môi trường

ngôn ngữ - văn hóa cụ thể Đó là các hành động như: ra lệnh, yêu cầu, hỏi, xin lỗi, hứa

hẹn, cảm ơn, thông báo, khuyên nhủ, dọa nạt, bác bỏ…

Hành động mượn lời là những hành động thông qua phương tiện ngôn ngữ để tạo

ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ, thể hiện qua tác động tâm lí mà câu nói đem lại cho người nghe Tương ứng với hành động mượn lời là hiệu lực tại lời, đó là những tác động đối với niềm tin, thái độ và hành động với người nghe, chẳng hạn một lời khen khiến người nghe phấn chấn, một lời đe dọa khiến người nghe lo sợ, một lời cảnh báo khiến người nghe lo lắng…

Hành động tại lời không phải được thực hiện một cách tùy tiện mà phải tuân thủ một số điều kiện nhất định Austin xem các điều kiện sử dụng các hành động tại lời này

là những điều kiện “thỏa đáng” (felicity conditions) nếu chúng được đảm bảo thì mới thành công, đạt hiệu quả, nếu không nó sẽ thất bại Những điều kiện thỏa đáng của Austin là:

1 (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng có tính quy ước

(ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy ước trong thủ tục

2 Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ

3 Thông thường thì (i) những người thực hiện hành động tại lời phải có ý nghĩ, tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hành động diễn ra thì

ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó có

Sau này, Searle đã điều chỉnh bổ sung vào những điều kiện thỏa đáng của Austin

và gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thỏa mãn Mỗi hành động tại lời đòi hỏi phải có một hệ thống những quy tắc để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả đúng với đích của nó Searle cho rằng có 4 loại điều kiện sử dụng hành động tại lời như sau:

a Điều kiện nội dung mệnh đề: là điều kiện liên quan đến cấu trúc quan hệ ngữ nghĩa của nội dung mệnh đề Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay

Trang 35

một hàm mệnh đề Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của người nói hay một hành động của người nghe

b Điều kiện chuẩn bị: là điều kiện liên quan tới những hiểu biết của người thực hiện hành động về những tri thức nền của người tiếp nhận hành động, về quyền lợi, về trách nhiệm, về năng lực tinh thần và vật chất của người tiếp nhận hành động

c Điều kiện chân thành: là điều kiện chỉ ra các trạng thái tâm lí của người thực hiện hành động tại lời thích hợp với hành động tại lời mà mình đưa ra Điều kiện chân thành còn là người nói thực sự mong đợi hiệu quả tại lời của hành động tại lời mà mình thực hiện

d Điều kiện căn bản: theo điều kiện này thì người thực hiện một hành động tại lời nào

đó khi phát ngôn ra biểu thức ngữ vi tương ứng bị ràng buộc ngay vào kiểu trách nhiệm mà hành động tạo lời tạo ra biểu thức ngữ vi đó đòi hỏi

1.2.2.2.Mối liên hệ giữa nghĩa tình thái và hành vi tạo lời, mượn lời

Ngữ nghĩa của câu, đặc biệt là nghĩa tình thái hình thành trong những điều kiện giao tiếp sinh động giữa các cá nhân Muốn bóc tách các lớp nghĩa tình thái này trong phát ngôn, cần xuất phát từ hình thức cấu trúc câu nói Phải phân tích kết hợp các loại ý nghĩa tiền giả định, hàm ẩn trong câu mới có thể thấy rõ được thông tin tình thái, điều người nói muốn thể hiện trong câu Như vậy, vai trò của người nói được xem như chủ thể tình thái, được đánh giá cao trong quá trình thực hiện các hành vi ngôn ngữ Tình thái là một bộ phận ngữ nghĩa có tính tất nhiên khi người nói thực hiện các hành vi ngôn ngữ Chẳng hạn:

-Với hành vi khẳng định, tường thuật, miêu tả, thông tin, giải thích (thuộc lớp xác nhận), người nói bày tỏ sự tin tưởng điều nói ra trong phát ngôn, chịu trách nhiệm về thông báo

-Với các hành vi thách thức, hỏi, đề nghị, yêu cầu, cho phép… thuộc lớp chi phối, người nói đề nghị, yêu cầu người nghe thực hiện điều được thể hiện trong nội dung mệnh đề

-Với các hành vi cam kết, hứa hẹn, thề… thuộc lớp cam kết, người nói cam kết, hứa hẹn sẽ thực hiện điều mình nói

-Với các hành vi tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ… thuộc lớp tuyên bố, người nói có tác động thay đổi hiện thực sau khi phát ngôn

Trang 36

-Với các hành vi xin lỗi, chúc mừng, cảm ơn, mong muốn… thuộc lớp biểu cảm, người nói biểu lộ các trạng thái tâm lí đối với điều được nói ra trong phát ngôn

Nghĩa tình thái có mối quan hệ chặt chẽ với các hành vi tại lời và hành vi mượn lời Trước hết, mối liên hệ này biểu thị từ cách sử dụng ngôn từ với mục đích nhất định của người nói Hình thức biểu thị của phát ngôn hay các phương tiện biểu thị ngữ nghĩa được coi như một chiến lược hành ngôn của người nói trong quá trình thực hiện mục tiêu giao tiếp cụ thể

Trong tiếng Việt, từ hư có vai trò hết sức quan trọng trong việc biểu thị ngữ nghĩa của phát ngôn, đặc biệt là nghĩa tình thái Hư từ thuộc về hệ thống từ phi miêu tảvà là đối tượng nghiên cứu của ngữ nghĩa – ngữ pháp Những lớp từ như: hệ từ, lượng từ, động từ tìnhthái, trạng từ, đại từ chỉ xuất, tiểu từ tình thái… thuộc hệ thống từ phi miêu

tả có tính nhạy cảm cao đối với ngữ cảnh Việc nghiên cứu chúng không thể tách rời khỏi phát ngôn bị quy định bởi ngữ cảnh Mặc dù nằm ngoài khung cấu trúc nhưng hư

từ luôn luôn gắn với chủ ngôn để biểu thị các thái độ đánh giá hiện thực hay phi hiện thực, khẳng định hay phủ định, chắc chắn hay phỏng đoán, nghi ngờ…

Trong thực tế, thông tin phi miêu tả của phát ngôn hay còn gọi là những thông tin ngữ nghĩa – ngữ dụng bổ trợcó tác dụng làm chính xác hơn cấu trúc ngữ nghĩa của câu

và kiểu hành vi mà câu nói biểu thị Nếu không hiểu được các thông tin này thì việc giao tiếp hoặc không thể diễn ra hoặc không đạt được hiệu quả Ngữ nghĩa – ngữ dụng của phát ngôn thường có 4 loại thông tin chủ yếu:

-Thông tin thứ nhất gắn với tình huống giao tiếp nhất định, hay gắn với phát ngôn này hay các phát ngôn khác Kiểu thông tin này liên quan đến việc tổ chức và cấu trúc hóa ý đồ giao tiếp của người nói, nhằm tác động đến người nghe

-Thông tin thứ hai cho biết sự giả định của người nói đối với trạng thái hiển ngôn

và nhận thức của người nghe

-Thông tin thứ ba cho biết vai trò, vị thế xã hội của các đối tác tham gia giao tiếp -Thông tin thứ tư định hướng cho sự phản ứng hồi đáp có thể có trong giao tiếp

Vì vậy khi khảo sát bất kì yếu tố tình thái nào trong phát ngôn cũng cần xác định các thông tin nói trên Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu lực của phát ngôn còn được xác định dựa trên ba nhân tố:

-Dạng thức ngôn ngữ của phát ngôn

-Ý định của người nói

Trang 37

-Khả năng giải thuyết của người nghe

Trong ba nhân tố vừa nêu, cần chú trọng đúng mức nhân tố thứ hai và nhân tố thứ

ba, liên quan đến nhân tố ý đồ của người nói trong giao tiếp

1.2.2.3.Tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn

Tình thái của hành động phát ngôn là đối tượng của lí thuyết hành động ngôn từ

Sự khác nhau cơ bản giữa tình thái của lời phát ngôn và tình thái của hành động phát

ngôn đã được Cao Xuân Hạo trình bày rõ trong tác phẩm Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp

chức năng Theo ông, tình thái của hành động phát ngôn thuộc lĩnh vực dụng học, trong

khi tình thái của lời phát ngôn (mà ông gọi là tình thái lời) thuộc lĩnh vực nghĩa học Tình thái của hành động phát ngôn phân biệt các lời nói về phương diện mục tiêu

và tác dụng trong giao tế: đó là sự phân biệt quen thuộc giữa các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến vốn là những sự phân biệt được ngữ pháp hóa, cùng với những câu có giá trị ngôn trung được đánh dấu: câu xác nhận, câu phản bác và câu ngôn hành

Tình thái của lời phát ngôn thuộc cái nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt trong câu trần thuật hay câu hỏi, nó có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều mình nói ra hoặc đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề

Tình thái của lời phát ngôn trong câu trần thuật có thể chia ra làm hai loại: (1) tình thái của câu và (2) tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân

Tình thái của câu nói phản ánh thái độ của người nói đối với điều được nói ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, giới hạn của tính hiện thực (trong thời gian, chẳng hạn như phạm trù “thì”), mức độ của tính xác thực, của tính tất yếu (khách quan hay đạo nghĩa), tính khả năng (vật chất hay tinh thần), tính chất đáng mong muốn hay đáng tiếc, v.v… của điều được thông báo

Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân phản ánh những dạng thức thể hiện của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do phần thuyết (hay vị ngữ) biểu đạt Dạng thức ở đây gồm những đặc trưng như kéo dài/không kéo dài, bắt đầu/kết thúc v.v… thường gọi là những đặc trưng về thể Nếu hạt nhân vị ngữ của câu có chủ thể thì tình thái phản ánh mối quan hệ của chủ thể đối với tính hiện thực, tính tất yếu, tính khả năng của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do vị ngữ hạt nhân của phần thuyết biểu đạt

Trang 38

1.2.3 Lý thuyết giao tiếp

1.2.3.1 Khái niệm giao tiếp

Giao tiếp là hiện tượng phổ quát trong xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng xã hội để truyền đạt một nội dung nào đó Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể khác không phải là

xã hội Con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện khác nhau như: bằng âm thanh, bằng ánh sáng và bằng hành động vật lí Giao tiếp bằng âm thanh là cách dùng miệng để nói với nhau những điều cần nói; hoặc dùng các phương tiện tạo ra

âm thanh, tiếng động như thổi tù và, đánh trống, đánh mõ để báo hiệu cho nhau

Giao tiếp bằng ngôn ngữ của con người là phương tiện tiện lợi nhất và hữu hiệu nhất Lênin đã nói: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu của con người” Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hiện tượng diễn ra hàng ngày trong các cộng đồng ngôn ngữ và nó thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu có những mối quan tâm khác nhau Theo Diệp

Quang Ban trong công trình Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, giao tiếp được

hiểu theo một số cách sau đây:

a Một cách đơn giản và chung nhất, giao tiếp được hiểu là quá trình thông tin diễn

ra giữa ít nhất là hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định Định nghĩa này sát với việc con người thực hiện các cuộc trao đổi bằng lời trong đời sống thường nhật, và trong định nghĩa này cần chú ý đến ba yếu tố sau:

- Giao tiếp là một “quá trình trao đổi thông tin ít nhất là giữa hai người giao tiếp trao đổi với nhau”, không nhất thiết phải là hai “con người” tách biệt nhau, nghĩa là có thể một người tự trao đổi thông tin với chính mình Tuy nhiên, trường hợp một mình mình nói một mình mình nghe không phải là một hiện tượng phổ biến, nếu hiện tượng này xảy ra đều đặn ở một người, thì đó là một hiện tượng bệnh lí

- Ý “hai người giao tiếp trao đổi với nhau” dùng chỉ sự “cộng tác” của phía người giao tiếp thứ hai, nếu người thứ hai không cộng tác thì giao tiếp không thể diễn ra, người thứ nhất sẽ “bị bỏ rơi”

- Sự giao tiếp bao giờ cũng “gắn với một tình huống và một ngữ cảnh nhất định” Ngữ cảnh là tất cả những yếu tốbên ngoài quá trình trao đổi đó (kể cả hoàn cảnh không gian, thời gian) có quan hệ với quá trình đó Ngữ cảnh là nơi cung cấp đề tài, nhân vật, điều kiện cho giao tiếp diễn ra, và qua đó, quy định cả cách thức tiến hành cuộc giao tiếp Tình huống được hiểu là cái khung sự việc chung thường lặp đi lặp lại có thể hình

Trang 39

dung như một kịch bản cho sẵn (như bữa cơm gia đình, buổi học ở lớp học, cuộc giải trí trong giờ ra chơi, cuộc khám chữa bệnh…)

Như vậy, cả ba yếu tố “quá trình trao đổi tin giữa hai người”, “hai người giao tiếp trao đổi với nhau”, “gắn với một tình huống và ngữ cảnh” đều cần thiết cho cuộc giao tiếp được thực hiện

b Với cách hiểu có tính chất chuyên môn, giao tiếp được định nghĩa là một thuật ngữ chỉ loại, bao trùm tất cả các thông điệpđược phát ra trong những ngữ cảnh và tình huống khác nhau Thông điệp trong ngôn ngữ học được hiểu là tin được mã hóa thành lời nói hoặc lời viết, được truyền từ người phát đến người nhận Trong cách hiểu này, giao tiếp được coi như tên gọi của tất cả các kết quả của hành động xã hội bằng ngôn ngữ, chưa phân biệt các mục đích cụ thể, xuất hiện trong những hoàn cảnh không gian thời gian khác nhau, trong những tình huống xã hội khác nhau (như trong bữa cơm gia đình, trong cuộc trò chuyện đi trên đường…)

c Trong ngôn ngữ học, giao tiếp đôi khi được dùng như là từ đồng nghĩa hoặc phần nào đồng nghĩa với những thuật ngữ như lời nói (trong sự đối lập với “ngôn ngữ”), cách dùng (trong sự đối lập với “lược đồ”), hành vi (trong sự đối lập với “mã”), hành năng (tức là năng lực thực hiện, trong sự đối lập với “tri năng”, tức là “năng lực hiểu biết”) Thông qua những tên gọi đồng nghĩa hoặc gần nghĩa với giao tiếp này thì giao tiếp được nhìn nhận như là những cái vốn có trong thông điệp ngôn ngữ: qua bình diện nội dung và bình diện biểu thị (hình thức) của thông điệp bằng ngôn ngữ, người ta có thể hiểu tình huống, ngữ cảnh, và bản thân những người trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình Cách định nghĩa giao tiếp như thế này được coi là cách định nghĩa có tính chất trung hòa, có quan tâm đến những truyền thống khác nhau trong ngôn ngữ học, chẳng hạn như truyền thống phân biệt giữa một bên là “ngôn ngữ” hay “hệ thống” với bên kia

là “lời nói” hay “hành vi”

Trong quá trình giao tiếp, ngôn ngữ thực hiện hai chức năng quan trọng nhất là chức năng giao dịch và chức năng liên nhân

Chức năng mà ngôn ngữ học được dùng trong việc diễn đạt kinh nghiệm, tức diễn đạt các “nội dung sự việc”, các “mệnh đề” được gọi là chức năng giao dịch (transactional function), còn được gọi là chức năng biểu thị, quy chiếu, quan niệm hay miêu tả Chức năng của ngôn ngữ dùng trong việc diễn đạt các quan hệ xã hội và thái độ của cá nhân có tên gọi là chức năng liên nhân (interpersonal function), còn gọi là chức

Trang 40

năng tương tác hay bộc lộ, biểu cảm hay bộc lộ - xã hội Sự phân biệt giữa hai chức năng này không loại trừ nhau, tức là trong một phát ngôn, trong một văn bản có thể có

cả hai chức năng

Trong hội thoại thường nhật, ngôn ngữ được sử dụng trước hết với đặc trưng của chứcnăng liên nhân Việc sử dụng các phương tiện biểu thị tình thái trong quá trình giao tiếp thể hiện chức năng liên nhân một cách rõ ràng Chẳng hạn, khi hai người ngồi

chung với nhau trên một chuyến xe đường dài, những lời mở đầu như (1) “Anh đi đâu

vậy?”, hay (2) “May quá, hôm nay mát hơn hôm qua, anh nhỉ?”, trước hết là những lời

bắt chuyện chứ không phải là những lời trao tin cần thiết đến người nghe Chức năng liên nhân trong trường hợp này có thể hiểu qua các chi tiết như:

- Qua việc dùng đại từ “anh” và cách diễn đạt của cả câu (không có những lời thưa

gửi như khi nói với người bề trên), người nói muốn đưa ra “sự thương lượng” về quan hệ vai với người nghe, sự thương lượng về chiến lược giao tiếp “thân hữu, bằng vai”

- Sau mỗi phát ngôn có điểm kết thúc rõ rệt báo hiệu điểm cuối của lượt lời của người nói thứ nhất, để ngỏ lượt lời cho người nói thứ hai, đó là sự phân bố lượt lời (tôi

đã nói, đến lượt anh nói)

- Tính lịch sự trong lời diễn đạt cho thấy người nói có ý thức giữ gìn thể diện cho người nghe và qua đó tỏ ra là mình là người có văn hóa ngôn ngữ, cũng tức là giữ thể diện cho mình

- Thông qua bối cảnh giao tiếp, đối với câu hỏi (1) thì người trả lời cũng không nhất thiết trả lời cụ thể và trực tiếp câu hỏi của người hỏi Đối với câu hỏi (2), với quán

ngữ “may quá”, người nói thể hiện sự đánh giá của mình đối với sự kiện được nêu trong phát ngôn Với sự xuất hiện của tiểu từ “nhỉ” ở cuối câu, người nói có ý định hướng câu

trả lời cho người nghe, cụ thể là người nói tìm kiếm sự đồng tình từ phía người nghe

1.2.3.2 Phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp

Trong những năm gần đây, cácnhà giáo học pháp quan tâm nhiều đến chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và hướng việc dạy - học ngôn ngữ vào thực hành giao tiếp Nói cách khác, với phương pháp này, giao tiếp vừa là phương tiện, vừa là mục đích trong giảng dạy ngoại ngữ Từ đó, hình thành phương pháp giao tiếp (communicative approach), trong đó có phương pháp dạy ngữ pháp theo đường hướng giao tiếp, hay còn gọi là phương pháp ngữ pháp giao tiếp trong việc dạy ngôn ngữ thứ hai Phương pháp

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w