Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TRỊNH THỊ MAI HẠNH CÁC CHỈ TỐ LIÊN KẾT BÁO HIỆU SỰ PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ HỘI T
Trang 1Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRỊNH THỊ MAI HẠNH
CÁC CHỈ TỐ LIÊN KẾT BÁO HIỆU
SỰ PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ HỘI THOẠI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRỊNH THỊ MAI HẠNH
CÁC CHỈ TỐ LIÊN KẾT BÁO HIỆU
SỰ PHÁT TRIỂN CHỦ ĐỀ HỘI THOẠI
Trang 3Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Gia đình đã ủng hộ, động viên
và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Hà Nội, ngày 01 tháng 04 năm 2014
Người thực hiện
Trịnh Thị Mai Hạnh
Trang 4Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Đối tượng 2
3 Mục đích và nhiệm vụ 2
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài luận văn 2
5 Giới hạn, tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG 6
Chương 1: Cơ sở lý thuyết 6
1 Lý thuyết hội thoại 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Các đơn vị hội thoại 6
1.3 Vận động của hội thoại 9
1.4 Nguyên tắc cộng tác hội thoại 12
2 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ 13
2.1 Khái niệm hành vi tại lời 14
2.2 Tiêu chuẩn phân loại các hành vi tại lời 15
2.3 Các loại hành vi tại lời 16
3 Các chỉ tố liên kết văn bản 17
3.1 Khái niệm 17
3.2 Phân loại 18
4 Tiểu kết 19
Chương 2: Chỉ tố liên kết đa chức năng với việc phát triển chủ đề hội thoại 21
1 Hình thức phát triển chủ đề hội thoại 22
1.1 Phát triển bằng cặp chêm xen 22
1.2 Phát triển bằng hành vi ở lời 26
2 Các chỉ tố liên kết đa chức năng tham gia vào sự phát triển chủ đề hội thoại 34
Trang 5Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
2.1 Đại từ hồi chỉ - khứ chỉ 34
2.2 Phó từ chỉ thời, thể 36
2.3 Tiểu từ tình thái cuối câu 41
2.4 Quán ngữ tình thái 42
3 Tiểu kết 48
Chương 3: Chỉ tố liên kết đơn chức năng với việc phát triển chủ đề hội thoại 50
1 Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ về trình tự thời gian 50
2 Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ nhân – quả 54
3 Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ tương đồng 59
4 Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ tương phản 63
5.Tiểu kết ……… ……… 68
KẾT LUẬN 70
NGUỒN NGỮ LIỆU TRÍCH DẪN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, khi sự phát triển của internet cùng mạng xã hội cho phép con người kết nối toàn cầu với nhau thì nhu cầu giao tiếp, trao đổi thông tin cũng trở nên đa dạng hơn, hội thoại cũng dần thay đổi cả về mặt hình thức lẫn nội dung Mối quan hệ và hình thức của các vai tham thoại giữa người phát và người tiếp nhận cũng trở nên linh hoạt hơn Song, những phương thức, nguyên lý cơ bản để tạo lập cuộc hội thoại thì vẫn giữ nguyên giá trị
Trong giao tiếp hội thoại, người nói (viết) và người nghe (đọc) luôn luôn tác động lẫn nhau nhằm làm thay đổi nhận thức, tình cảm, hành động của đối ngôn Tùy thuộc mục đích của hội thoại mà những người tham gia giao tiếp sử dụng chiến lược và ý đồ duy trì cuộc thoại riêng, một trong những cách làm cho chủ đề hội thoại mở rộng hay phát triển là sử dụng phương tiện phát triển chủ
đề Trong nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, các phương tiện đó được gọi là chỉ
tố (indicator hay marker)
Tuy nhiên, để chỉ ra mối liên quan giữa các chỉ tố liên kết với việc báo hiệu sự phát triển chủ đề hội thoại thì chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách sâu sắc Chính điều đó đã tạo động lực cho chúng tôi thực hiện
đề tài Công việc tưởng như đơn giản này hóa ra lại rất cần khi chúng ta tiến hành kiến tạo các cuộc thoại trong đời sống thực (chẳng hạn, trong đàm phán, thương lượng) cũng như trong việc phân tích diễn ngôn, tìm hiểu các tác phẩm văn chương, nghệ thuật
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi không có tham vọng lấn sâu vào các mặt phức tạp của hội thoại nói riêng và ngữ dụng học nói chung Chúng tôi xuất phát từ nhu cầu trao đổi thông tin, nội dung liên kết ngữ nghĩa của cuộc thoại, từ nghiên cứu những mặt biểu hiện ngôn ngữ, hình thức biểu đạt của nó thông qua các tín hiệu ngôn ngữ có vai trò làm cho chủ đề hội thoại được mở rộng, phát triển hoặc báo hiệu hội thoại kết thúc Đó cũng là hướng giải quyết xuyên suốt của luận văn
Trang 7Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Tính thời sự của đề tài luận văn thể hiện ở chỗ vừa đáp ứng nhu cầu của thực tiễn phân tích hội thoại và phân tích diễn ngôn, vừa góp phần làm phong phú thêm lí thuyết chung về hội thoại từ thực tiễn của tiếngViệt
2 Đối tƣợng
Đối tượng mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu là các cuộc hội thoại giao tiếp trong tiếng Việt Các hội thoại này được thu thập qua các tác phẩm văn học, internet, mạng xã hội, trong lời nói giao tiếp hàng ngày
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài luận văn
Việc nghiên cứu các dấu hiệu phát triển cuộc hội thoại trong tiếng Việt góp phần nhất định vào việc nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp, góp phần nâng cao chất lượng cũng như hình thức, mục đích sử dụng ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày
Về mặt lý thuyết: Bước đầu xác định các dấu hiệu, các từ ngữ và các hành động ngôn ngữ tham gia phát triển cuộc hội thoại trong tiếng Việt Điều này sẽ làm sáng tỏ hơn những vấn đề về chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, các hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày
Về thực tiễn: Những kết quả khảo sát này sẽ bước đầu được ứng dụng trong một số lĩnh vực ứng dụng của Việt ngữ học như giúp cho việc dạy học tiếng Việt; trong việc nghiên cứu và sáng tạo văn chương, nghệ thuật… vốn là lĩnh vực sử dụng lời nói tự nhiên hàng ngày với mạch lạc và liên kết của nó, trong số đó có mạch lạc và liên kết về chủ đề
Trang 8Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
5 Giới hạn, tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Giới hạn: Do trình độ của học viên và thời gian hạn hẹp, chúng tôi không thể đi sâu hơn vào phân tích mọi khía cạnh của hội thoại cũng như các phương tiện liên kết trong tiếng Việt Vì vậy, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về đặc điểm cấu tạo, vị trí của các từ ngữ và các hành động ngôn ngữ có tác dụng mở rộng, phát triển và thậm chí kết thúc chủ đề hội thoại
Tư liệu: Luận văn lấy tư liệu là những câu cụ thể trong đàm thoại giao tiếp hàng ngày, internet, mạng xã hội như facebook, hội thoại trong các tác phẩm văn học, truyện ngắn Việt Nam Số lượng tư liệu được thu thập bằng cách tổng hợp sau đó phân chia ra theo từng phương tiện biểu hiện
Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này, với mục đích của mình, luận văn sẽ được nghiên cứu trên quan điểm ngữ pháp chức năng hiện đại, đi từ nội dung đến hình thức, từ mục đích đến phương tiện, từ ý nghĩa đến cấu trúc ngữ pháp Trong khi nghiên cứu chúng tôi cũng chú ý tới mối quan hệ tương tác qua lại giữa ba bình diện: Kết học - nghĩa học - dụng học
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Để làm nổi bật những vấn đề mà luận văn quan tâm, chúng tôi sử dụng các phương pháp: Thống kê, miêu tả, phân tích, so sánh… Cách thức làm việc được xác định dựa trên phương pháp nghiên cứu và được chúng tôi thực hiện nhất quán trong từng phần cũng như trong toàn
bộ luận văn
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tư liệu khảo cứu, luận văn gồm ba chương được sắp xếp như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
1 Lý thuyết hội thoại
1.1 Khái niệm hội thoại
1.2 Các đơn vị hội thoại
1.3 Vận động của hội thoại
1.4 Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Trang 9Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
2 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ
2.1 Khái niệm hành vi tại lời
2.2 Tiêu chuẩn phân loại hành vi tại lời
2.3 Các loại hành vi tại lời
3 Chỉ tố liên kết
3.1 Khái niệm
3.2 Phân loại
4 Tiểu kết
Chương 2: Chỉ tố liên kết đa chức năng với việc phát triển chủ đề hội thoại
1 Hình thức phát triển chủ đề hội thoại
1.1 Phát triển bằng cặp chêm xen
Chương 3: Chỉ tố liên kết đơn chức năng với việc phát triển chủ đề hội thoại
1 Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ về trình tự thời gian
2 Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ nhân – quả
3 Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ tương đồng
4 Chỉ tố liên kết biểu thị quan hệ tương phản
5 Tiểu kết
Trang 10Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý thuyết
1 Lý thuyết hội thoại
1.1 Khái niệm
Hội thoại là một hoạt động xã hội, được nảy sinh nhờ vào sự tham gia của người phát lời và người thụ lời Trong cuộc thoại khi hoạt động phản hồi nảy sinh, vai trò của hai người tham gia cuộc thoại đã thay đổi Bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe
Có nhiều yếu tố tham gia vào tạo lập hội thoại Theo Đỗ Hữu Châu, các cuộc thoại có thể khác nhau ở nhiều khía cạnh như: Thời gian, không gian, số lượng người tham gia, về cương vị và tư cách người tham gia cuộc thoại, về tính chất cuộc thoại, về vị thế giao tiếp, về tính có đích hay không có đích, tính hình thức hay không hình thức, về ngữ điệu hay động tác kèm lời… Những yếu tố này không tách rời nhau mà liên kết nhau, tạo thành một khối lượng thống nhất
Trang 11Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
hữu quan trong hội thoại, chi phối và điều hòa cuộc thoại để đạt đến đích cuối cùng của mỗi bên giao tiếp theo những quy tắc nhất định
Hội thoại là một sự nỗ lực hợp tác giữa các bên tham gia, có thể có ba bên hoặc nhiều hơn thế Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn của mình, chúng tôi chỉ chủ yếu đề cập đến hội thoại hai bên hay còn gọi là song thoại
1.2 Các đơn vị hội thoại
Hội thoại cũng có cấu trúc nội tại của nó Mục đích của việc phân tích cấu trúc hội thoại là làm rõ người phát lời muốn biểu đạt cái gì và người thụ lời lý giải nghĩa như thế nào và phản ứng ra sao
Theo tổng kết của Đỗ Hữu Châu trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học tập
2, nghiên cứu về cấu trúc hội thoại có 3 trường phái tiêu biểu, đó là: trường phái phân tích hội thoại ở Mỹ, trường phái phân tích diễn ngôn ở Anh và trường phái
lý thuyết hội thoại Thụy Sỹ - Pháp
Lý thuyết phân tích hội thoại cho rằng hội thoại có hai tổ chức tổng quát,
đó là: tổ chức cặp và tổ chức được ưa thích Các tổ chức đó được xây dựng từ lượt lời Như vậy, theo quan điểm này thì lượt lời chính là đơn vị cơ sở, tổ chức nên các đơn vị lớn hơn của hội thoại Lượt lời do các hành vi ngôn ngữ tạo ra và khi chúng đi với nhau lập thành từng cặp Cặp kế cận (cách gọi của Schegloff và Sacks, 1973) là hai phát ngôn mang đặc điểm: kế cận nhau, do hai người khác nhau nói ra, được tổ chức thành bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai, có tổ chức riêng sao cho bộ phận riêng thứ nhất đòi hỏi phải có bộ phận riêng thứ hai Trong một số trường hợp, bộ phận thứ hai của cặp kế cận không xuất hiện ngay sau bộ phận thứ nhất thì giữa chúng có sự có mặt của cặp chêm xen Chúng tôi coi cặp chêm xen là một yếu tố làm cho chủ đề hội thoại phát triển và sẽ khảo sát kỹ hơn ở chương sau
Trong khi đó, trường phái phân tích diễn ngôn và trường phái lý thuyết hội thoại tuy có sự khác nhau đôi chút về tên gọi song giống nhau về cấu trúc tầng bậc của các đơn vị hội thoại và gần với thực tế giao tiếp hơn Theo đó, các đơn vị làm nên một cấu trúc hội thoại bao gồm: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp
Trang 12Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
thoại, tham thoại (bước thoại, lượt lời) và hành động ngôn từ Trong đó,cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại là ba đơn vị lưỡng thoại (do hai thoại nhân tạo nên nhờ vận động trao đáp) Tham thoại (bước thoại) và hành động ngôn ngữ là đơn
vị đơn thoại (do một thoại nhân tạo ra)
b Đoạn thoại
Mỗi cuộc thoại bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc, chúng làm nên ranh giới của một cuộc thoại Mỗi cuộc thoại lại chứa đựng nhiều chủ đề, mỗi chủ đề lại có nhiều vấn đề Tập hợp các lượt lời trao đổi về một vấn đề làm thành một đoạn thoại Chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu khi cho rằng: “Đoạn thoại là mảng diễn ngôn do một số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng” Trong đoạn thoại những người tham gia hội thoại nói về cùng một chủ đề
Một đoạn thoại thông thường bao gồm ba phần: mở thoại (dẫn nhập đề tài), thân thoại (triển khai đề tài) và kết thoại (kết thúc hội thoại) Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi không có ý định đi sâu nghiên cứu mô hình của đoạn thoại và sự dẫn nhập đề tài hội thoại như thế nào, mà chỉ muốn chỉ ra một ranh giới tương đối của các đơn vị trong cấu trúc của hội thoại làm cơ
sở cho các bước khảo cứu của chúng tôi ở chương 2 và chương 3
c Cặp thoại
Trang 13Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất tạo nên đoạn thoại và qua đoạn thoại mà góp phần tổ chức nên cuộc thoại Các loại cặp thoại thường gặp: Cặp thoại tối thiểu, cặp thoại một tham thoại, cặp thoại chủ hướng và cặp thoại phụ thuộc
Cặp thoại tối thiểu tương đương với sự kiện lời nói tối thiểu, tức là tối thiểu cặp thoại phải là một cặp kế cận với hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp
Cặp thoại một tham thoại xảy ra khi: người nghe thực hiện một hành động vật lý (gật đầu, lắc đầu, xua tay,…) thay cho hành động ngôn ngữ hoặc khi người nghe im lặng, không có hành động hồi đáp nào, trường hợp như vậy gọi là cặp thoại hẫng
d Tham thoại
Tham thoại hay còn gọi là Bước thoại Cặp thoại là cấu trúc gồm hai tham thoại do hai đối tác của cuộc hội thoại tạo nên Tham thoại là phần đóng góp của một thoại nhân vào một cặp thoại Tham thoại do hành động ở lời tạo nên Dựa trên phân loại về hành vi cơ sở của Hinderlang, Đỗ Hữu Châu cho rằng có 7 tham thoại cơ sở: Dẫn nhập (DN), Phản hồi tích cực (PHTC), Phản hồi tiêu cực (PHTiC), Tái dẫn nhập (TDN), Phản dẫn nhập (PDN), Xét lại (XL) và Từ bỏ (TB)
Về tổ chức nội tại, tham thoại do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo
nên Một tham thoại có một hành vi chủ hướng (hành động quyết định đích của
tham thoại, cùng với hành động chủ hướng của tham thoại kia trong cặp thoại
lập thành một cặp kế cận) và có thể có hành vi phụ thuộc (làm rõ lý do hoặc bổ
sung nghĩa cho hành động chủ hướng)
Hành động chủ hướng của một tham thoại hoặc đòi hỏi hành động chủ hướng của tham thoại kia trong cặp thoại hồi đáp hoặc hồi đáp cho hành động chủ hướng của tham thoại ấy
1.3 Vận động của hội thoại
Trang 14Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định Những quy tắc chi phối trực tiếp đến cuộc thoại theo C.K.Orecchioni bao gồm: quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời, quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại và quy tắc chi phối quan hệ liên cá nhân trong hội thoại Tác giả Đỗ Hữu Châu [8] đề nghị bổ sung thêm một nhóm quy tắc điều hành nội dung của hội thoại Ông cho rằng các loại quy tắc đó có vai trò “làm cơ sở, đứng đằng sau sự vận hành của hội thoại”
Nguyên lí chi phối các quy tắc hội thoại là nguyên lí cộng tác bởi vì hội thoại là một hoạt động xã hội Từ nguyên lí chung này mà các quy tắc hội thoại ràng buộc các đối tác hội thoại trong một hệ thống những quyền lợi và trách nhiệm
Luân phiên lượt lời là nguyên tắc của sự tương tác qua lại trong hội thoại Trong cuộc thoại mỗi lúc có một người nói và không đồng thời Người nói luân phiên nhau và đó là lượt lời Sẽ không có lượt lời nếu nhiều người nói cùng một lúc Như vậy vai nói sẽ thường xuyên thay đổi, trật tự của những người nói không cố định mà luôn thay đổi Đồng thời lượt lời thứ nhất có chức năng định hướng cho lượt lời thứ hai Khi nói một điều, người ta dự đoán chờ một điều khác sẽ xảy ra Nghĩa là hai lượt lời có quan hệ mật thiết với nhau, liên kết chặt chẽ với nhau Hội thoại là một hình thức hoạt động xã hội, nên theo G.Yule lượt lời hoạt động theo một “hệ thống điều hành cục bộ” (thuật ngữ của Diệp Quang Ban) được hiểu theo lối quy ước giữa thành viên trong một nhóm xã hội Đây thực chất là quy ước nắm giữ lượt lời, giữ hoặc trao lượt lời cho người đối thoại một cách uyển chuyển Kiểm soát được quyền được nói, chủ động nắm giữ đề tài và lượt lời là một quyền lực đáng kể trong hội thoại, có thể chi phối cuộc thoại
Về quy tắc chi phối cấu trúc của hội thoại, theo Nguyễn Đức Dân [10], những phát ngôn trong một lượt lời là hành vi hội thoại Sự liên kết giữa hai lượt lời là sự liên kết giữa hành vi dẫn nhập và hành vi hồi đáp Trong hội thoại, hành
vi ngôn ngữ gây ra những dạng hành vi nhất định Rất nhiều loại phát ngôn trong hội thoại đòi hỏi phải có sự hồi đáp riêng biệt như: Hành vi chào yêu cầu
Trang 15Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
một lời chào trở lại; hành vi hỏi yêu cầu có một câu trả lời; hành vi đề nghị cần một phản hồi; hành vi cảm ơn cần một yêu cầu đáp lời… Wardhaugh gọi hành
vi ngôn ngữ này là điều muốn nói Một hành vi ngôn ngữ xuất hiện có thể được tiếp nhận tích cực hoặc tiếp nhận tiêu cực, chấp nhận hoặc từ chối Tuy nhiên người tham gia hội thoại có thể lờ đi mà không có biểu hiện ngôn ngữ nào
Với những hành vi ngôn ngữ đòi hỏi thông tin phản hồi, Wardhaugh cho rằng, người tham thoại có quyền lựa chọn cách thức hồi đáp khác nhau: Hoặc tuân theo, hoặc từ chối, hoặc đơn giản là lờ đi những gì người ta nói với mình Nhưng dù tuân theo hành vi dẫn nhập từ chối hay lờ đi, người tham gia hội thoại vẫn phải có chiến lược giao tiếp và sử dụng phương tiện biểu đạt trong hành vi hồi đáp của mình Một số khuôn mẫu về hình thức biểu hiện các hành vi này đã được định sẵn cho người tham gia hội thoại lựa chọn Nhưng trong hành vi hội thoại, sự liên kết các hành vi tại lời chỉ có giá trị trên bề mặt phát ngôn Sự liên kết các hiệu lực tại lời của hành vi ngôn ngữ mới có giá trị đích thực Có nhiều hình thức biểu đạt ngôn ngữ cũng đem lại một hiệu lực tại lời là rất quan trọng Điều này quyết định hiệu quả giao tiếp Trong thực tế, mỗi chúng ta cần phải lựa chọn một cách nào đó đem lại hiệu quả giao tiếp cao nhất chứ không chỉ yêu cầu bằng một mệnh đề từ chối thẳng thừng Nghi thức, thói quen, phong tục, tập quán… làm thành quy ước xã hội mà mỗi cá nhân đều phải tuân theo Những quy ước này giữ gìn và tạo độ cân bằng trong cuộc thoại Những quy ước mang tính nghi thức này được quy định theo một trình tự chặt chẽ với những hành vi
cụ thể mà mỗi bên tham gia cuộc thoại cần tuân theo ở mỗi loại hội thoại xác định [42]
Quan hệ giữa những người tham thoại cũng đóng vai trò đặc biệt trong quá trình hội thoại Cần phải kể tới các nhân tố như: Quan hệ thân – sơ, quan hệ
vị thế xã hội, tuổi tác, quyền lực… được thể hiện khác nhau ở từng cộng đồng người Theo tác giả Nguyễn Đức Dân, quan hệ cá nhân được xem xét dưới các góc độ: Quan hệ ngang (hay còn gọi là quan hệ thân sơ), quan hệ dọc (hay còn gọi là quan hệ vị thế)
Trang 16Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
1.4 Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Khái niệm “cộng tác hội thoại” được tác giả P.Grice đưa ra lần đầu vào năm 1967, sau đó được nhắc lại trong công trình nghiên cứu Logic và hội thoại (1978) và các bài thuyết minh sau đó
Trước hết, phải nói rằng “cộng tác” mà Grice gọi tên “không phải để nhằm đạt được những mục đích chung trong thế giới bên ngoài ngôn ngữ Cái mục đích chung – đích và phương hướng của cuộc hội thoại được nêu ra trong nguyên tắc cộng tác hội thoại – là mục đích ở lời, là mục đích sử dụng ngôn ngữ ngay trong cuộc hội thoại” [8, trang 233]
Theo P.Grice, nguyên tắc cộng tác hội thoại làm cho “cuộc hội thoại được xem xét đúng như mục đích hay phương hướng mà cuộc thoại đòi hỏi” Nguyên tắc này đúng với cả người nói và người nghe Khi nói, người tham gia hội thoại phải quan sát và thực hiện nguyên tắc cộng tác theo phương châm nhất định Nguyên tắc cộng tác hội thoại có vai trò trung tâm trong lý thuyết hội thoại Hai bên tham gia giao tiếp cùng cố gắng để đối tác của mình hưởng ứng, phát triển cuộc thoại Nguyên tắc này bao gồm các phương châm: Lượng, chất, quan hệ và cách thức
Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của bạn có lượng tin đúng như đòi hỏi của mục đích cuộc thoại Hãy đảm bảo nội dung vừa đủ
Phương châm về chất: Đừng nói điều gì mà bạn tin là sai, đừng nói điều
Trang 17Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
trang 237] Nguyên tắc và phương châm hội thoại của Grice có hiệu lực cả cho nội dung được nói ra trực tiếp, cả nội dung hàm ẩn
Trong thực tế giao tiếp, người nói có thể vô tình hoặc cố ý vi phạm nguyên tắc và phương châm hội thoại Grice phân biệt hai trường hợp này và gọi chúng là vi phạm và phạm lỗi Trường hợp phạm lỗi về nguyên tắc và phương châm hội thoại là do người nói vụng về, không cố ý và sẽ khiến người nghe hiểu sai ý mình Còn xúc phạm, vi phạm, từ bỏ chúng là sự cố ý không tuân thủ, tôn trọng phương châm để tạo ra các hàm ý, gài vào phát ngôn trực tiếp của mình những hàm ngôn hội thoại Tuy nhiên, cách phân biệt này chưa thực sự rành mạch nên vấp phải sự phản đối của một số tác giả khác
Bên cạnh đó, cũng có không ít trường hợp được cho là vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại do sự khác biệt về về văn hóa và ngôn ngữ mà Grice chưa khảo cứu hết được Mặt khác, lí thuyết của Grice cũng có những hạn chế khi chỉ
bó hẹp trong những nội dung thông tin mà không đưa ra đượcmô hình, cơ chế tạo ra nội dung và đích liên cá nhân; nhắc tới tính quan yếu tuy nhiên không khai thác triệt để dẫn đếnkhông coi trọng vai trò của ngữ cảnh đối với sự vận hành lượt lời cả về hình thức lẫn nội dung, Đây cũng chính là lý do sau này lý thuyết quan yếu được phát triển bởi D Sperber và D Wilson và lí thuyết về lịch
sự ra đời giống như một sự bù đắp cho lỗ hổng trong lí thuyết của Grice
Mặc dù vậy, lý thuyết nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice vẫn có giá trị lớn lao và là cơ sở cho các công trình nghiên cứu hội thoại về sau
2 Lý thuyết hành vi ngôn ngữ
Người có công đầu tiên khởi xướng lý thuyết hành vi ngôn ngữ đó chính
là Austin (1962) trong công trình nghiên cứu của mình: “How to do things with words”, tác giả đã đưa ra khái niệm “hành vi nói năng” Nội dung chủ yếu của khái niệm này là, khi con người nói năng đều muốn sử dụng ngôn ngữ để làm việc gì đó, hoàn thành một hành vi nhất định nào đó Chẳng hạn như có thể dùng lời nói để trần thuật, hỏi, cầu xin, đề xuất, hứa hẹn, dọa nạt,…
(Dẫn theo [20], trang 170)
Trang 18Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Lý thuyết này về sau được nhà triết học J.Searle phát triển Trong công trình nghiên cứu của mình, Austin đã đưa ra các tiêu chí phân biệt sự khác nhau trong cùng một hành vi ngôn ngữ (hành vi ở lời, hành vi tạo lời và hành vi mượn lời) Cụ thể như sau:
Hành vi tại lời: Là những hành vi được người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng thuộc về ngôn ngữ, có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận
Hành vi tạo lời: Là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như: ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp thành câu… để tạo ra một phát ngôn có hình thức và nội dung nhất định
Hành vi mượn lời: Là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ để gây
ra một hiệu lực ngoài ngôn ngữ nào đó (hiệu quả tâm lí) ở người nghe, người nhận hoặc chính người nói
Hành vi ngôn ngữ chính là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại Các hành vi ngôn ngữ trên đây xét trong quan hệ hội thoại thì hành vi tại lời được quan tâm hơn cả, khi tham gia hình thành nên tham thoại thì chúng tạo ra tính đối thoại giữa người nói và người nghe: người nói có trách nhiệm đối với phát ngôn của anh ta và anh ta có quyền đòi hỏi người đối thoại phải hồi đáp lại bằng một hành vi ở lời tương ứng
2.1 Khái niệm hành vi tại lời
Trong giao tiếp một phát ngôn được đưa ra bao giờ cũng nhằm một mục đích nhất định Sự thực hiện hành vi như vậy gọi là hành vi tại lời Nó cho người nghe biết ý định và mục đích mà người nói hướng tới Chính vì thế loại hành vi này thường có những động từ ngữ vi tương ứng để gọi tên như: Khẳng định, hỏi, mời, chào, chúc, khuyên, ra lệnh, yêu cầu…
Khác với hành vi mượn lời, hành vi tại lời có ý định qui ước và có thể chế mặc dù điều này không bộc lộ rõ ràng Vì vậy, việc biết một ngôn ngữ không chỉ dừng lại ở chỗ nắm được ngữ âm, từ ngữ, câu và cách kết hợp bởi đó chỉ là bề
Trang 19Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
mặt… sâu hơn chúng ta cần phải nắm được những qui tắc điều khiển các hành vi tại lời của ngôn ngữ đó
2.2 Tiêu chuẩn phân loại các hành vi tại lời
Theo Nguyễn Đức Dân, từ những nghiên cứu nền tảng của Austin, Searle
đã nêu ra tới 12 phương diện mà các hành vi tại lời có thể khác nhau Trong số này ông chọn ra ba tiêu chí cơ bản để phân loại các hành vi tại lời đó là: Đích ở lời, hướng khớp ghép lời và trạng thái tâm lý được biểu hiện
a Đích tại lời
Đích tại lời của một hành vi ngôn ngữ là mục đích của hành vi ngôn ngữ
đó Đích tại lời không trùng với hiệu lực tại lời, chỉ là bộ phận của hiệu lực tại lời Ví dụ: Đích tại lời của hành vi đề nghị là mong muốn người nghe giải quyết, xem xét ý kiến mình nêu ra; hay đích tại lời của hành vi xin là làm cho ai đó bị thuyết phục để cho mình cái gì; đích tại lời với hành vi hỏi là mong muốn nhận được thông tin từ phía người nghe…
b Hướng khớp ghép lời
Tiêu chuẩn này quy định mối quan hệ giữa từ ngữ và thực tại mà hành động đề ra Hướng khớp ghép này có thể được xây dựng theo hai chiều, từ ngôn ngữ tới hiện thực và từ hiện thực tới ngôn ngữ Các hành vi đề nghị, yêu cầu, mệnh lệnh,… là các loại hành vi mà ngôn từ có xảy ra trước và hiện thực diễn ra như thế, tức hiện thực khớp với lời Các loại hành vi như trần thuật, miêu tả, khẳng định, hỏi… là các loại hành vi mà hiện thực xảy ra trước, ngôn ngữ diễn
ra sau và phản ánh đúng hiện thực ấy, tức lời khép với hiện thực
c Trạng thái tâm lý được thể hiện
Khi thực hiện một hành vi nào đó người ta có thể biểu hiện lòng tin, mong muốn, điều đáng tiếc… Tiêu chuẩn này cho phép ta nhìn nhận nhiều hành vi khác nhau về bề ngoài dưới cùng một góc độ
Chúng ta có thể dựa vào ba tiêu chuẩn cơ bản này để xác định một hành vi
cụ thể nào đó Mặc dù khi đi vào thực tế chắc chắn chỉ với ba tiêu chí này chúng
Trang 20Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
ta có thể gặp khó khăn khi nhận diện một hành vi tại lời, song chúng vẫn là cơ
sở khoa học cho ta cái nhìn đầu tiên cơ bản về hành vi được nói tới
2.3 Các loại hành vi tại lời
Việc phân loại hành vi ngôn ngữ suy cho cùng có thể căn cứ vào phản ứng qua lại của những người tham gia giao tiếp Đây cũng chính là căn cứ để nhận ra hành vi tại lời
a Cách phân loại của Austin
Austin đã đưa ra một bảng phân loại hành vi tại lời bao gồm: Phán định: (đánh giá trên cơ sở sự kiện và lý lẽ xác đáng), hành xử (thể hiện quyền thế, luật lê), ước kết (ràng buộc vào trách nhiệm), ứng xử (phản ứng lại), bày tỏ (trình bày, thể hiện)
b Cách phân loại của Searle
Tác giả này đã liệt kê 12 điểm được dùng làm tiêu chí phân loại hành vi ngôn ngữ Từ đó phân lập được 5 loại hành vi ở lời: Tái hiện, điều khiển, cam kết, biểu cảm, tuyên bố
Tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp cụ thể, hành vi tại lời có thể chia thành hành vi tại lời trực tiếp và hành vi tại lời gián tiếp Trong đó:
Hành vi tại lời trực tiếp: Là hành vi có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây ra
Hành vi tại lời gián tiếp: Là hành vi không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiêu lực của nó gây nên Nói cách khác, hành vi tại lời gián tiếp là hành động mà trên cấu trúc bề mặt là A nhưng gây một hiệu lực là
B Tuy nhiên cũng tùy thuộc từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể mà xem đó là hành
vi tại lời trực tiếp hay gián tiếp
(Dẫn theo Đỗ Hữu Châu [8])
3 Các chỉ tố liên kết văn bản
3.1 Khái niệm
Cái từ ngữ liên kết văn bản đã được bàn đến nhiều trong công trình của Trần Ngọc Thêm và các nhà ngữ pháp văn bản ở Việt Nam Tuy nhiên, trong
Trang 21Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
phạm vi cú pháp học, khái niệm chỉ tố liên kết cũng được Nguyễn Văn Hiệp đề cập trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (2009) Tác giả cho rằng “các yếu tố tham gia tạo lập liên kết cho văn bản không chỉ giới giạn trong phạm vi các loại đề” (mô hình cấu trúc Đề - Thuyết của Halliday) mà còn “trải rộng cho toàn câu, đặc biệt ở tiếng Việt, nhiều khi phương tiện tạo lập mạch lạc và liên kết văn bản được thể hiện một cách tinh tế” Vậy nên, cũng không có gì lạ khi cuốn sách có cách triển khai khác với thực tế phân loại của Halliday trước đó về các phương tiện liên kết văn bản (phương thức quy chiếu, phương thức nối, phương thức tỉnh lược, phương thức liên tưởng trường từ vựng,…)
Với cách tiếp cận chức năng và ngữ nghĩa, tác giả nhận định, có nhiều loại nghĩa mà câu chuyển tải chỉ có thể hiểu được thấu đáo khi câu được đặt trong hoạt động giao tiếp, trong diễn ngôn Vì vậy mà cuốn sách chỉ ra cần thiết phân loại và miêu tả các yếu tố liên kết câu với những câu khác trong diễn ngôn, các yếu tố đánh dấu sự tương thích của câu với ngữ cảnh Quan điểm như vậy rất gần với quan điểm của Halliday khi ông cho rằng cấu trúc Đề - Thuyết của câu là cấu trúc đảm bảo cho câu (mà ông gọi là cú/clause) tương thích với những câu đi trước nó và tương thích với ngữ cảnh
3.2 Phân loại
Nguyễn Văn Hiệp đề xuất chia các dấu hiệu này thành hai loại: loại dấu hiệu đa chức năng và loại dấu hiệu đơn chức năng, trong đó loại dấu hiệu thứ hai được đặc biệt quan tâm
Loại dấu hiệu đa chức năng là những yếu tố trong câu vừa mang một nội dung nào đó, thực hiện một chức năng nào đó lại vừa thể hiện chức năng liên kết văn bản Căn cứ theo khung miêu tả ngữ nghĩa của câu, tác giả xếp khả năng tham gia biểu thị nghĩa của những yếu tố này vào 4 nhóm: nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái, nghĩa chủ đề và nghĩa mục đích phát ngôn
Trang 22Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Những đại từ hồi chỉ - khứ chỉ, những từ có quan hệ thượng danh - hạ danh, những vị từ tình thái tính, những phó từ chỉ thời thể, những tiểu từ tình thái cuối câu, những quán ngữ tình thái được xếp vào loại dấu hiệu đa chức năng
Loại dấu hiệu đơn chức năng được biết đến với tính chuyên dụng của nó:
là những dấu hiệu chuyên dùng để liên kết văn bản Về cương vị cấu trúc, chúng thuộc về văn bản, hay bậc cấu trúc trên câu, nhưng tồn tại theo lối “biệt phái công tác” trong câu Về bản chất, chúng là những tác tử biểu thị những mối quan
hệ logic – ngữ nghĩa giữa các câu Đó là quan hệ về trình tự thời gian, quan hệ nhân – quả, quan hệ tương phản, quan hệ tương đồng, quan hệ giải thích,…
Sự phân biệt tầng bậc cấu trúc của các thành tố đã được manh nha nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỉ XX, gắn với lí thuyết từ tổ được du nhập vào Việt Nam, khi đó các nhà nghiên cứu ngữ pháp đã đề cập đến vấn đề phân biệt thành phần phụ của câu với thành phần phụ của từ tổ Và sau đó với sự phát triển của ngữ pháp văn bản, xuất hiện các ý kiến phân biệt giữa thành phần của câu với những yếu tố thuộc cấu trúc bậc trên câu, có chức năng liên kết văn bản (Nguyễn Kim Thản, Trần Ngọc Thêm, Diệp Quan Ban, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp) Trong cuốn “Phân tích diễn ngôn”, hai tác giả Brown và Yule cho rằng các yếu tố này có vai trò quan trọng trong việc hình thành nên mạch lạc và liên kết của văn bản
Ứng dụng trong kỹ thuật soạn thảo văn bản, những yếu tố liên kết này được xem là những chuyển đoạn Những chuyển đoạn trong văn bản có thể quy
về một số nhóm như chuyển đoạn về trình tự, chuyển đoạn thể hiện quan hệ nhân – quả, chuyển đoạn thể hiện quan hệ giải thích, chuyển đoạn thể hiện quan
hệ tương phản hay tương đồng,… Trần Ngọc Thêm và Halliday xếp những chuyển đoạn này vào nhóm phương thức liên kết nối
Căn cứ theo cách phân loại này và khảo sát thực tế sử dụng trong tiếng Việt, tác giả Nguyễn Văn Hiệp đề nghị bổ sung vào nhóm những yếu tố “thường trú” này những từ ngữ cho biết mối quan hệ giữa câu nói và tình huống giao
Trang 23Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
tiếp Đó là trường hợp “thì, là” đứng đầu câu, như là chỉ báo cho sự tương thích của câu nói đối với tình huống giao tiếp
4 Tiểu kết
Như đã nói ở trên, để chỉ ra mối quan hệ giữa các chỉ tố liên kết và sự phát triển của chủ đề hội thoại thì cần đến lý thuyết về hội thoại và lý thuyết về hành vi ngôn ngữ làm cơ sở
Hội thoại là một hoạt động xã hội, có sự tương tác chặt chẽ giữa người nói
và người nghe, dựa trên sự vận hành, trao đáp lượt lời của các nhân vật tham gia giao tiếp Vì vậy, việc chỉ ra một cách tương đối các đơn vị cấu thành nên hội thoại cũng như các nguyên tắc chi phối tới hội thoại giúp xác định được cuộc thoại đó vận động ra sao, phát triển theo hướng nào, có chệch khỏi đích ban đầu hay không Điều đó có vai trò to lớn của các hành vi ngôn ngữ, chính những hành vi ngôn ngữ sẽ tạo lập nên các đơn vị cơ sở của hội thoại, thể hiện thái độ, mục đích và trạng thái tâm lý của người nói
Khi hội thoại vận động, phát triển, nó tác động nhất định tới nội dung và hình thức của chính nó Mặt nội dung sẽ quyết định tới hình thức biểu hiện, tức
là tùy theo mục đích cần đạt được về mặt hành vi và ngữ nghĩa mà người nói sẽ
sử dụng các chỉ tố liên kết tương ứng để nhằm kéo dài, tiếp tục hay chấm dứt hội thoại
Trang 24Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Chương 2: Chỉ tố liên kết đa chức năng với việc phát triển chủ đề hội
thoại
Mỗi cuộc hội thoại đều có một đề tài độc lập Trong khi hội thoại vận động thì đề tài đó được triển khai theo nhiều cách khác nhau, thể hiện qua các chủ đề được nói đến
Mỗi một mô hình hội thoại cơ bản thường mang một chủ đề trao đổi Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, các mô hình thường có sự đan xen phức hợp với nhau Như vậy, khi mô hình hội thoại phát triển hay mở rộng ra thì chủ đề của hội thoại cũng vận động theo
Ngữ pháp hội thoại cho rằng cách để phát triển các mô hình hội thoại có thể là bằng cặp chêm xen hoặc bằng các hành vi ở lời dùng trong các kiểu hành
vi cơ sở tạo nên mô hình hội thoại
Theo Đỗ Hữu Châu [8], trên cơ sở phân loại các cuộc hội thoại đơn giản theo tiêu chí kết hợp đích và lời của Franke (1990) và Hundsnurscher (1995), Gotz Hinderlang đưa ra 4 mô hình hội thoại sau:
Hội thoại có đích
Trang 25Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Hài hòa Bất hòa
Đồng nhất Tương hợp Nhượng bộ Không nhượng bộ Hình thức tối thiểu của những cuộc hội thoại trên do các chuỗi 7 hành vi sau lập nên:
(1) Hành vi dẫn nhập (DN): Bằng hành vi dẫn nhập, Sp1 nêu ra đích (2) Hành vi phản hồi tích cực (PHTC): Bằng hành vi phản hồi tích cực, Sp2 chấp nhận đích mà Sp1 nêu ra ở DN
(3) Hành vi phản hồi tiêu cực (PHTiC): Bằng hành vi này, Sp2 chối bỏ đích của Sp1 nêu ra ở DN
(4) Hành vi từ bỏ (TB): Bằng hành vi này, người nói từ bỏ đích đã nêu ra
Với bảy hành vi cơ sở nêu trên, có các mô hình hội thoại cơ sở như sau:
(I) Hội thoại hài hòa, (II) Hội thoại bất hòa nhượng bộ và (III) Hội thoại bất hòa không nhượng bộ
Ở mô hình (I) Hội thoại hài hòa thì dù hội thoại diễn tiến theo hướng tích
cực (Sp2 ngay lập tức chấp nhận đích của Sp1) hay tiêu cực (Sp 2 đưa ra phản hồi là sự phản bác và Sp1 dễ dàng từ bỏ đích của mình), cũng không có chỗ cho cặp chêm xen nào chen vào giữa “gây rối” hay mở rộng hội thoại Vì vậy, chúng tôi tạm thời loại bỏ những hội thoại theo mô hình này ra khỏi đối tượng khảo
Trang 26Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
cứu của luận văn Chúng tôi sẽ mô tả kỹ hơn mô hình (II) và (III) ở phần sau bởi chủ đề hội thoại được phát triển trong hai mô hình này
1 Hình thức phát triển chủ đề hội thoại
1.1 Phát triển bằng cặp chêm xen
Như đã nói ở chương 1, trong các cuộc hội thoại các lượt lời thường đi với nhau thành từng cặp được tổ chức thành bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai Nếu vì một lý do nào đó, bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai bị gián đoạn, không đứng kế cận nhau thì khi đó cặp chêm xen xuất hiện
Phụ thuộc vào quan hệ giữa cặp chêm xen với các tham thoại bao chứa nó
mà cặp chêm xen được chia thành hai loại: cặp chêm xen phụ và cặp chêm xen đẳng lập Cặp chêm xen phụ là cặp chêm xen phụ thuộc vào một tham thoại, giải thích, chú thích, đặt điều kiện cho tham thoại đó Giữa cặp chêm xen và tham thoại có quan hệ chính phụ Có cặp chêm xen phụ cho tham thoại dẫn nhập, có cặp chêm xen phụ thuộc vào tham thoại hồi đáp
Cặp chêm xen đẳng lập là cặp chêm xen đề cập đến những đề tài không quan hệ trực tiếp đến điều được nêu ra trong hai tham thoại dẫn nhập và hồi đáp Những cặp tham thoại đẳng lập này thường gặp trong trò chuyện đời thường Những cặp thoại sửa chữa, thương lượng về chữ nghĩa cũng là những cặp chêm xen đẳng lập thường gặp
Vậy vấn đề đặt ra là, ranh giới của cuộc thoại được xác định như thế nào khi những cặp thoại đẳng lập phát triển với độ dài đáng kể thì chúng ta có còn nguyên cặp thoại chứa nó không? Có những cuộc thoại mà khi nó vận động thì những cặp thoại chêm xen phát triển thành một đoạn thoại đẳng lập Khi đó, khoảng cách giữa tham thoại dẫn nhập và tham thoại hồi đáp quá lớn, rất khó để kết luận chúng ta vẫn còn nguyên một cặp thoại dù là cặp thoại mở rộng Chúng tôi đồng ý với nhận định rằng khi đó những cặp chêm xen đã tự chúng tạo nên một “câu chuyện” riêng với chủ đề và hình thức tương đương với một đoạn thoại độc lập
1.1.1 Cặp chêm xen gây nhiễu hội thoại
Trang 27Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Trong thực tế giao tiếp, nhiều khi câu chuyện của những người tham gia hội thoại bị gián đoạn do ngoại cảnh tác động Chẳng hạn, A đến nhà B chơi, đang trò chuyện thì ấm đun nước phát ra tiếng kêu báo hiệu là nước sôi, A đứng
dậy nói: Tôi xin phép, B đáp lại: Không sao Sau đó, khi A quay trở lại thì A và
B tiếp tục câu chuyện đang dang dở của họ
Hoặc trong một trường hợp khác, A và B đang trao đổi công việc tài bàn làm việc của A thì màn hình máy tính báo có email tới (đó là email quan trọng
của đối tác A đang đợi) thì A nói với B: Chờ mình check mail chút nhé, B đáp:
Ừ, cậu cứ làm đi
Hoặc khi A đang nói, B bỗng nhiên vô thức, chợt nhớ ra điều gì đó đang
làm dở, liền xen ngang vào câu nói của A một cách không cố ý như: A, hình như mình quên gì đó A sẽ hoặc ngừng nói chờ phản ứng tiếp theo của B hoặc sẽ hỏi: Sao thế? B nhận ra sự vô ý của mình làm gián đoạn hội thoại sẽ đáp lại: Ừ, không sao, cậu nói tiếp đi để dẫn nhập lại câu chuyện đang dang dở của cả hai
bên
Trong những trường hợp như vậy, các cặp chêm xen vẫn nằm trong diễn tiến hội thoại, tuy nhiên về mặt nội dung, ý nghĩa, chúng không có liên quan gì tới chủ đề đang được nói đến B có thể phản hồi lại lời đề nghị của A cho phép mình gián đoạn chủ đề bằng hành vi phi lời hoặc kèm lời
Chính vì vậy, những cặp chêm xen không có giá trị làm cho chủ đề được
mở rộng hay phát triển, những cặp chêm xen gây nhiễu tới chủ đề đó không phải
là đối tượng được đề cập trong phần nội dung chính sau đây của chúng tôi
1.1.2 Cặp chêm xen với tư cách là thành phần bổ sung, mở rộng chủ đề
Trước tiên, cần nhắc lại rằng hội thoại là hoạt động có đích và có hướng
Ở vận động đầu tiên của mô hình hội thoại, một đối tác Sp1 sẽ nêu ra một đích
dự kiến, đối tác thứ hai Sp2 sẽ phải phản ứng lại cái đích đó Tùy thuộc vào Sp2 phản hồi như thế nào mà xác định hội thoại sẽ tiến triển ra sao hay nói cách khác, đích ban đầu của Sp1 sẽ đạt được nhanh hay chậm, dễ dàng hay khó khăn, suôn sẻ hay gặp trở ngại gì phụ thuộc vào lượt phản hồi đầu tiên của Sp2
Trang 28Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Nhiều khi người nghe, trước khi đưa ra lời hồi đáp cho lời dẫn nhập cần phải hỏi lại cho rõ, hoặc nêu lý do để trì hoãn câu trả lời hoặc chuyển hướng câu chuyện theo ý của mình buộc người nói thứ nhất phải trả lời trong lượt lời tiếp theo thì khi đó chính Sp2 là người khởi xướng ra cặp chêm xen
đó ăn nhẹ chút gì xong vẫn có thể kịp suất chiếu lúc 6h30
B2: Okie, vậy lần sau xem ở đó nhé
(Nguồn: Yahoo) Trong ví dụ này, cũng có cặp chêm xen là B1 và A2 Khi được đề nghỉ đổi rạp xem phim trong lần tới, do chưa biết địa điểm mới ở đâu nên người nghe muốn nhận được thêm thông tin về nó trước khi đưa ra quyết định Sau khi A trả lời câu hỏi của B và đưa ra một số lý lẽ vì sao nên chọn rạp mới đó, có lẽ B cảm thấy hợp lý nên đã đồng ý Ở đây chúng ta có cặp chêm xen phụ gồm B1 và A2 phụ cho tham thoại hồi đáp của B Chính cặp chêm xen này khiến cho việc đạt tới đích của hội thoại được kéo dài hơn dự kiến ban đầu và khi đó chủ đề nội tại của hội thoại đã phát triển, không chỉ là việc đề nghị - xác nhận đổi rạp nữa mà có thêm sự giải thích, bổ sung cho địa điểm được đề nghị
Ví dụ 2:
- Mợ đã mua cho con chiếc bánh tây rồi đấy Ăn đi rồi đi
- Mợ ơi, bây giờ người ta không gọi là bánh tây nữa Gọi là bánh mỳ mợ
ạ
- Ừ, mợ lạc hậu Nhưng ăn đi đã rồi đi
- Thôi để cho các em, mợ ạ Chúng con được phát bánh mỳ pa-tê
(Những mùa lá bàng rơi – Nguyễn Quốc Hùng)
Trang 29Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Do có sự thương lượng về chữ nghĩa, cách dùng từ “bánh mỳ” và “bánh tây” giữa hai nhận vật “mợ” và “con” nên ở đây có cặp chêm xen đẳng lập Tuy nhiên, sắp đến giờ “con” phải đi rồi nên “mợ” không muốn tranh luận thêm về điều đó, thay vào đó là lặp lại đề nghị và có ý thúc giục con là hãy ăn sáng trước rồi đi học
Hưng mừng quá, nói:
- Giáp vào đây Thả luôn xuống bể cá nhà mình
(Những mùa lá bàng rơi – Nguyễn Quốc Hùng) Đây cũng là một cặp chêm xen nhằm phụ giải cho từ “nhớ” của tham thoại ở lượt lời đầu tiên Tuy nhiên, việc hỏi – trả lời của cặp chêm xen này có
vẻ hơi khiên cưỡng và dường như xuất phát từ vô thức của cả người hỏi lẫn người trả lời nên nhanh chóng sau đó hội thoại được điều chỉnh lại chủ đề ban đầu
1.2 Phát triển bằng hành vi ở lời
Một cách khác phức tạp hơn khiến cho chủ đề hội thoại phát triển chính là các hành vi ở lời Nói phức tạp bởi chúng có sự tham gia của nhiều yếu tố, sự phát triển của chủ đề hội thoại trong những trường hợp này không chỉ dựa vào mặt hiển ngôn của câu nói mà đôi khi chúng còn có những hàm ý ẩn trong đó, giữa các lượt lời của các nhân vật tham gia giao tiếp Và khi không dùng cặp chêm xen thì hội thoại nói chung và chủ đề hội thoại nói riêng cũng có hướng phát triển đa dạng hơn rất nhiều
Ví dụ:
Trang 30Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
A: Lâu không gặp thấy mày trẻ ra và xinh lên nhiều đấy
B: Được lời khen của Mai Xuka tao thấy như vén mây mù trông thấy trời xanh Mày vẫn là vợ ông Vinh hở?
A: Ôi, mày vẫn nhớ tên chồng tao à, may quá vẫn là vợ ông ấy mày ạ B: Nếu tao nói mày yêu khoảng 18 lão Dũng rồi mới lấy lão Vinh, thì có
bị coi là đốt nhà mày không?
A: Chuyện này bí mật đấy, chồng tao không biết đâu, sao mày nhớ lâu thù dai thế không biết
Tao còn được cái nước gì khác ngoài chuyện nhớ lâu thù dai đâu Mày là tấm gương sáng cho tao về chuyện vừa yêu vừa say nắng đến gần chục lão cùng tên cơ mà
(Nguồn: Facebook)
Ở đoạn thoại này, chúng ta thấy chủ đề hội thoại được phát triển khá là tự nhiên và “có duyên” giữa hai người bạn lâu ngày không gặp nhau Ở lời dẫn nhập, A chỉ có một phát ngôn song ở đó có hai hành vi: (1) Nhận định về khoảng thời gian A và B không gặp nhau đã lâu rồi và (2) Khen B trẻ và xinh hơn trước Vì thế, đến lượt mình, B cũng sử dụng hai hành vi hồi đáp tương ứng
Ta có thể mô tả cấu trúc hội thoại như sau:
A1a: Lâu rồi không gặp
A1b: Mày trẻ ra và xinh lên nhiều đấy
B1a: Được lời khen của Mai Xuka tao thấy như vén mây mù trông thấy trời xanh
B2b: Mày vẫn là vợ ông Vinh hở?
Có thể coi B1a và A1b tạo nên một cặp thoại, trong đó tham thoại B1a là
sự đáp lại lời khen của tham thoại A1b Còn B2b và A1a tạo nên một cặp thoại khác, trong đó B2a đóng vai trò là nhân tố khiến chủ đề hội thoại được mở rộng hơn với sự góp sức của một hành vi hỏi và tác tử tình thái là “vẫn” “Vẫn là vợ của Vinh”, được đặt trong một câu hỏi, A muốn ngầm hỏi thăm B rằng: Đã lâu như vậy rồi, liệu cuộc sống của B đã có gì thay đổi hay chưa Đây là cách phát
Trang 31Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
triển câu chuyện khá thông minh của B.Bằng một hành vi ở lời gián tiếp để hỏi thăm tình hình hiện tại của bạn, B cũng đồng thời tạo điều kiện, đưa đẩy A theo lối nói chuyện hóm hỉnh của mình, nhắc lại những kỷ niệm của hai người, kéo dài cuộc nói chuyện giữa hai người bạn đã lâu không có liên lạc với nhau
Quay trở lại mô hình hội thoại, với mô hình (II) Hội thoại bất hòa nhượng
bộ, sau khi Sp2 phản hồi tiêu cực hay phản dẫn nhập lời của Sp1 thì Sp1 có hành
vi xét lại đích của mình Sau đó, Sp2 sẽ lựa chọn từ bỏ phản hồi tiêu cực hoặc từ
bỏ đích của mình và chấp nhận đích của Sp1 xét lại
A2: Chị chờ ở thang máy nhé
B2: Vâng, em ra ngay đây
(Nguồn: Yahoo) Trong ví dụ này, đích ở lời của A vừa là rủ B đi ăn chung với mình, vừa hàm ý là nhắc A đến giờ nghỉ trưa rồi, hãy dừng công việc lại đó Tuy nhiên, do còn dở việc (“đang dở tay” có nghĩa là vẫn tiếp tục làm việc cho tới lúc nói) và
có ý muốn làm cố thêm một chút nữa để hoàn thành, B đáp lại lời đề nghị của A bằng một hành vi ở lời gián tiếp với mục đích bảo A chờ mình một lúc nữa, nhanh thôi, tức là B đã tạo ra một hành vi phản dẫn nhập nhằm làm thay đổi đích của A Tiếp theo đó, A cũng đáp lại lời gián tiếp của B bằng một hành vi ở lời gián tiếp, đồng thuận với đề nghị của B Với tham thoại “chờ ở thang máy nhé” thì A đã có sự xét lại đích của mình cho phù hợp với đề nghị của B
Ví dụ 2:
A1: Tớ không muốn tranh cãi thêm nữa
Trang 32Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
B1: Không, tớ phải nói cho ra lẽ
A2: Vậy cậu nói nhanh đi, tớ có việc phải đi bây giờ
B2: Thôi, để sau tớ nói, cậu đi đi vậy
(Nguồn: Yahoo) Trong ví dụ này thì B phản bác lời đề nghị không tiếp tục tranh cãi của A bằng hành vi PHTiC, chưa nhượng bộ A bởi vẫn còn điều gì đó ấm ức, muốn phải nói chuyện đến tận cùng của vấn đề Tuy nhiên, sau đó khi A có sự điều chỉnh đích thì B lại đồng thuận với nó và chấp nhận dừng tranh luận
Nhận thấy hội thoại được tiến hành theo mô hình II thì nội dung thường
có một sự dùng dằng nhỏ giữa các bên tham gia trước khi đi đến đích của hội thoại Ở lượt nói đầu tiên, Sp2 đưa ra một lý lẽ, một lập luận để cho biết vì sao mình không hoặc chưa thực hiện được đích của Sp1 nêu ra ở câu nói liền trước với mình Những cuộc thoại ngắn ngủi này diễn ra rất nhanh chóng và nếu có bất hòa thì cũng không trở nên gay gắt vì vai tham thoại Sp2 sẵn sàng nhượng
bộ để giữ hòa khí Những mô hình này xét về mặt cấu trúc hội thoại đã thay đổi chút ít, song về ý nghĩa, giá trị thông tin thì sự chuyển hướng không quá lớn
Tuy nhiên, sự phân biệt các hình thức phát triển chủ đề hội thoại bằng cặp chêm xen hay hành vi ở lời chỉ là một cách tương đối, để tiện phân tích về mặt nội dung và ý nghĩa và cách thức sử dụng của các chỉ tố liên kết ở phần sau Bởi nếu xét về vị trí,khi bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai không đứng cạnh nhau thì ắt hẳn giữa chúng phải có cặp chêm xen Cho nên, trong khi khảo sát và phân tích, chúng tôi vẫn giữ cách gọi cặp chêm xen chung cho những cặp tham thoại khiến cho chủ đề hội thoại phát triển
Trong những mô hình này, cặp chêm xen xuất hiện nhằm mục đích tạo ra một sự thương lượng ngắn trong hội thoại Như vậy, qua các mô hình này, cũng
dễ dàng nhận thấy rằng đây là nơi “trú ngụ” của những yếu tố tác động tới sự phát triển chủ đề hội thoại, là môi trường để cho hội thoại mở rộng hay kết thúc Qua đây, chúng ta cũng xác định được cặp chêm xen tối thiểu xuất hiện ở mô
Trang 33Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
hình II này và vì mục đích hòa khí của hội thoại mà cặp chêm xen này không có điều kiện phát triển thêm hơn nữa
Ở mô hình (III) Hội thoại bất hòa không nhượng bộ có thể thấy hội thoại
vẫn còn khả năng tiếp diễn theo trục tuyến tính tùy vào mức độ, tính chất tham gia của các vai thoại
(a) DN/Sp1 – PHTiC/Sp2 – TDN/Sp1 – TDN/Sp2…
(b) DN/Sp1 – PDN/Sp2 – TDN/Sp1 – TDN/Sp2…
Sp1 đáp lại PHTiC của Sp2 bằng một hành vi TDN, còn Sp2 nhấn mạnh vào hành vi PHTiC hoặc vào hành vi PDN của mình Nếu cả 2 phía tham gia hội thoại đều khăng khăng giữ lập trường, quan điểm của mình thì hội thoại sẽ khó
đi đến “hồi kết” Cặp TDN của Sp1 và Sp2 sẽ lặp đi lặp lại cho đến khi ai đó bỏ cuộc và nói ra một hành vi TB Sự lặp đi lặp lại có tính tuần hoàn cặp TDN – TDN là đặc trưng cho những cuộc hội thoại tranh luận và sự tuần hoàn của cặp
XL – XL là đặc trưng cho những cuộc thương lượng, mặc cả
Đối với những trường hợp này, khi gia tăng về số lượng cặp chêm xen tỏ
rõ vai trò và quyền lực của chúng trong vận động hội thoại, chúng không chỉ làm thay đổi hình thức cấu trúc hội thoại mà còn làm cho chủ đề trao đổi được mở rộng, phát triển
Ví dụ:
(Sau khi tham dự sự kiện về)
A1: Băng Châu hôm nay xinh như minh tinh
B1: Í, không dám, bạn cứ nói thế, hihi
A2: Soi từ lúc Băng Châu đi vào đến lúc ngồi xem có giống ảnh không nhưng không ngờ xinh hơn cả ảnh
B2: Lại chém
Trang 34Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
A3: Không, không chém chút nào!
A3: Ngại quá
tế Qua đó, Acũng nhắc lại đích của mình đã nêu ra từ đầu (bày tỏ cảm xúc trước
vẻ xinh đẹp với Băng Châu và muốn Băng Châu chấp nhận lời khen đó) Giả như B có khiêm tốn từ chối lời khen thì A sẽ tiếp tục chứng minh điều mình nói cho tới khi B tin và chấp nhận lời “nịnh đầm” của A
Mặt khác, O Ducrot cho rằng lập luận cũng là một hành động ở lời Tác giả đã chứng minh rằng hành vi lập luận cũng thay đổi tư cách pháp nhân của người lập luận và người tiếp nhận lập luận, rằng lập luận cũng có ý định, cũng là một hành vi quy ước và có những thể chế như những hành vi ở lời khác Khi đưa
ra một lập luận, người lập luận phải tin vào và chịu trách nhiệm về các luận cứ
và kết luận mà mình đưa ra Đối với người tiếp nhận, thì sự thay đổi về tư cách pháp nhân thể hiện ở chỗ người này đang ở trạng thái vô can chuyển sang trạng thái chờ đợi lập luận, tức chờ đợi hoặc kết luận, hoặc luận cứ
Trong thực tế giao tiếp, ít khi ta miêu tả để miêu tả, đưa ra một lí lẽ hoặc một luận cứ để dừng ở lí lẽ, luận cứ đó Nói ra một phát ngôn hoặc một chuỗi phát ngôn – tức là nói ra một câu hay/hoặc một chuỗi câu – một hành vi ở lời bao giờ cũng để đi tới một cái gì đó khác nữa, để đi tới một kết luận Chỉ khi nào lời nói có kết luận thì người nói và người tiếp nhận mới cảm thấy thỏa mãn Nói
ra một phát ngôn (một câu) chưa có kết luận mà không nói nữa, người tiếp nhận thường cảm thấy ấm ức (Dẫn theo [8])
Những phát ngôn không có kết luận là những phát ngôn “lửng lơ”, buộc người tiếp nhận cảm thấy bị thôi thúc, tò mò, có khi không kìm nén được phải bật ra câu hỏi: Rồi thế nào nữa? Thế thì sao?
Trang 35Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Đặt những câu hỏi như vậy trước phát ngôn nghe được hoặc trước hành vi
ở lời tiếp nhận được là biểu hiện của sự thay đổi tư cách pháp nhân của người tiếp nhận, chờ đợi sự hoàn chỉnh của lập luận mà anh ta mới nghe được một phần
Chẳng hạn, xét trong đoạn trao đổi sau giữa một nhân viên truyền thông sản phẩm (A) với một đại diện của đơn vị báo chí (B) Bỏ qua phần chào hỏi mào đầu, chúng ta đi vào phân tích nội dung chính của hội thoại:
A1: Anh ơi, bên em sắp ra gMO Hoàng Đế
B1: Rồi sao?
A2: Thời gian Open Beta dự kiến là vào đầu tháng tới Hiện bên em đang gấp rút hoàn thiện các khâu cuối cùng để tung sản phẩm ra thị trường
B2: Game này có gì khác những game khác?
A3: Đây là game thuộc thể loại nhập vai chiến thuật, nhiệm vụ đa dạng,
đề tài mới lạ, cốt truyện hấp dẫn Điểm đặc biệt nhất của nó là đồ họa 2,5D, hiện chưa có game mobile nào có Đặc biệt, tạo hình nhân vật theo lối vẽ chibi rất ngộ nghĩnh, chuyển động mượt và hỗ trợ tối đa các nền tảng Nội dung chi tiết, em gửi trong mail, anh xem giúp em với nhé
B3: Okie, để anh xem
A4: Nếu anh muốn tìm hiểu thêm về sản phẩm, anh có thể trải nghiệm bản Việt hóa cùng với đội bên em nhé, em sẽ cung cấp bộ cài
B4: Ok
(Nguồn: Skype) Hành vi dẫn nhập của A1 có hành vi ở lời trực tiếp là một thông báo: Công ty A sắp ra sản phẩm Hoàng Đế Tuy nhiên, nhận thấy mục đích của A không đơn thuần là một thông báo và muốn A phải nêu ra cái đích đó, B đã hỏi lại: “Rồi sao?” với thái độ hơi trịch thượng vì B biết rõ vị thế của mình trong trường hợp này - là đại diện của đơn vị báo chí, được quyền đăng tải thông tin của nhà phát hành tới bạn đọc một cách nông hay sâu, có lợi hay không có lợi cho nhà phát hành
Trang 36Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Khi B đặt câu hỏi: “Rồi sao?”, A đã có thể bước đầu đạt được mục đích, dẫn dụ B vào “ma trận” hội thoại của mình, từ đó có cớ đưa ra những thông tin
bổ sung, giới thiệu về đặc tính, đặc điểm của sản phẩm (game này hot ra sao, cách chơi thế nào, phù hợp với đối tượng nào, các tính năng đặc sắc, ), thời gian ra mắt,… để từ đó thuyết phục “đối tác” hội thoại (cũng là đối tác truyền thông của mình trong trường hợp này), đi đến kết luận (lời đề nghị): Em đã gửi bài viết, nhờ anh xem và đưa thông tin sản phẩm tới bạn đọc của báo hay nói cách khác là hỗ trợ về mặt đăng tải thông tin cho chiến dịch truyền thông sắp tới của bên A
Đây chính là trường hợp sử dụng hành vi tại lời gián tiếp khi mà phát ngôn trên bề mặt và hiệu lực của nó không tương ứng với nhau A đã sử dụng hành vi chủ hướng ẩn, hành vi ở lời gián tiếp để thăm dò phản ứng của B A không đưa ra lời đề nghị ngay từ đầu mà chờ phản ứng của B rồi mới tiếp tục hành vi hội thoại của mình Tham thoại thứ nhất của B là hành vi đáp lại đích ẩn
đó
Từ ví dụ này có thể thấy, tham thoại thứ nhất (có thể coi như là một lập luận chưa có kết luận) là điều kiện để cho hội thoại phát triển, song mốc đánh dấu hội thoại đã thực sự phát triển hay chưa phải dựa vào tham thoại hồi đáp B1 với câu hỏi: Rồi sao?, Rồi thế nào, Thế thì sao?,… Bởi nếu Nếu với thái độ không hợp tác, B hoàn toàn có thể nói một cách khiên cưỡng rằng: “Anh không quan tâm” và A không có cơ hội nêu ra đích hội thoại hoặc buộc phải dẫn nhập cách khác để đạt được đích
2 Các chỉ tố liên kết đa chức năng tham gia vào sự phát triển chủ đề hội thoại
Ở phần trên, chúng tôi đã phần nào xác lập được các trường hợp làm phát triển chủ đề hội thoại Và ở phần này chúng tôi sẽ phân tích và mô tả về vai trò của các chỉ tố liên kết trong diễn tiến hội thoại đó Trước hết, ở chương hai này, chúng tôi sẽ nói tới các chỉ tố liên kết đa chức năng, là những yếu tố mà khi đứng trong câu nó vừa mang một nội dung nghĩa lại vừa thể hiện chức năng liên kết
Trang 37Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Thảo mỉm cười nói:
- Đấy ta thì cứ cho trái lời cha mẹ là bất hiếu
Loan quả quyết đáp:
- Ngày xưa thế, bây giờ không thế nữa Nhưng tôi chắc anh Dũng không phải buồn vì mang tiếng là một người con bất hiếu hay buồn vì phải nghèo khổ, anh Dũng buồn vì có một ông bố nhát gan
Thảo mở to mắt nhìn Loan:
- Chị táo bạo lạ Nhiễm những tư tưởng quá mới
Loan buồn rầu bảo bạn:
- Tôi cũng nhận thấy như vậy, nhưng biết làm thế nào Không thể mỗi chốc mà đổi được hết tư tưởng mình đi được Tôi biết là rồi tôi cũng sẽ gặp những cảnh ấy
Loan cúi đầu, trong lòng bối rối, lo sợ cho tương lai mù mịt
(Đoạn tuyệt – Nhất Linh)
Trang 38Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Thế = trái lời cha mẹ là bất hiếu, là một đại từ hồi chỉ Nhân vật chị Loan
đặt hai từ thế ở hai vế, vế đầu đại diện cho quan niệm xã hội cũ được nhắc đến
trong lời của Thảo ở câu trước, vế thứ hai là ý kiến của mình, đại diện cho quan niệm mới, với ngầm ý phủ định quan niệm cũ Từ đó, Loan tiếp tục đưa ra nhận định của mình, lý do vì sao Dũng buồn, là vì Dũng “có một ông bố nhát gan”
Ví dụ 2:
- Cô giúp tôi việc này nhé, cô nhé?
Thiếu nữ ngắm cậu bé quần áo lôi thôi, chân tay đầy mực thì đoán chắc rằng không phải con nhà giàu có, bỗng đem lòng thương người có lẽ cùng ở trong một cảnh với mình Cô dịu dàng hỏi:
- Em muốn chị giúp điều gì vậy?
- Chị làm ơn xin phép cho tôi ra
(Nửa chừng xuân – Khái Hưng)
Này = xin phép cho tôi ra Này trong câu “Cô giúp tôi việc này nhé, cô
nhé?” là một đại từ khứ chỉ Người nói đưa ra lời đề nghị giúp đỡ nhưng không
chắc về việc người được đề nghị sẽ nhận lời, cho nên trong lời dẫn nhập của mình, người nói chưa nói rõ việc cần nhờ là việc gì, và chờ đợi sự phản ứng của người nghe mà quyết định có nói tiếp để xem “việc này” là việc gì hay không
2.2 Phó từ chỉ thời, thể
Trong bản thân các phó từ chỉ thời đã bao chứa hàm nghĩa về tiền giả định, nên về mặt hình thức, câu chứa nó bắt buộc phải có câu đứng trước hoặc đứng sau để tường minh cho cái tiền giả định đó, và chúng là sợi dây nối kết giữa các câu với nhau
Các phó từ chỉ thời, thể được tìm thấy trong luận văn gồm có: vẫn, cũng,
tiếp Các từ này xác lập một quan hệ nối tiếp, bổ sung Khi kết hợp với tham
thoại có yếu tố chỉ tương lai, nó báo hiệu một sự việc được mong chờ sẽ xảy ra
ở tương lai gần
Ví dụ:
- Sao cô biết tôi sắp đi xa?
Trang 39Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
- Chị giáo báo tin cho em hay
Dũng hơi cau mày, nhưng vội tươi cười nói:
- Cũng còn lâu tôi mới đi
Loan nhìn Dũng trách:
- Sao anh lại muốn giấu em?
Dũng cười đáp:
- Tôi có muốn giấu cô đâu Tôi cũng sắp nói chuyện để cô biết
(Đoạn tuyệt – Nhất Linh)
Trong câu này, vị từ tình thái cũng xác lập một quan hệ nối tiếp, bổ sung
cho điều Dũng vừa khẳng định bên trên, đó là không muốn giấu Loan việc đi xa, chỉ là chưa có cơ hội để nói sớm hơn Nó thể hiện một khả năng về một điều sắp xảy ra trong hiện thực, một sự ngầm cam kết của người nói đối với việc được nói ra đó là nói chuyện với Loan về việc mình sắp rời xa nơi này Điều đó cho phép Loan chờ đợi một sự giãi bày của Dũng vì sao anh phải ra đi mà không thông báo từ sớm, tạo điều kiện cho câu chuyện tiếp tục
Ví dụ 2:
- Ta đứng chờ xe điện, chị ạ
- Chúng ta đi bộ có hơn không em? Đỡ được một hào mà lại khỏe người Ban nãy từ nhà bác Phán lên trường, chị cũng đi bộ đấy
- Trời ơi! Chị đi bộ từ phố chợ Hôm lên trường Sao chị biết đường?
- Bác Phán bảo cứ theo đường xe điện mà đi
(Nửa chừng xuân – Khái Hưng)
Nếu ở ví dụ trên, hành động đi sau cũng được đề cập ở thì tương lai gần
thì trong trường hợp này, người nói nhắc lại một hành động ở thì quá khứ, hành động đã xảy ra rồi (đi bộ từ nhà bác Phán lên trường) Người chị nói như vậy để chứng minh cho người em (đối tác hội thoại) của mình thấy rằng quãng đường
xa như vậy còn đi được huống hồ là bây giờ, và để thuyết phục người em đi bộ
để tiết kiệm tiền và từ bỏ lời đề nghị của mình là hai chị em sẽ đi xe điện
Ví dụ 3:
Trang 40Luận Văn Cao Học Trịnh Thị Mai Hạnh
Vừa ở Thanh Hóa về được vài hôm, hôm nay Hưng thật bất ngờ thấy Giáp xuất hiện trước cửa nhà, tay cầm khư khư cái hộp nhựa, Hưng chào hỏi:
- Cậu đi đâu đấy? Mấy năm nay chẳng gặp nhau
- Hồi học xong tiểu học bố mẹ mình dự định cho mình sang Pháp, cho nên xin cho mình vào học trường An-be-Sa-rô
- Mình và anh Vũ vào trường Dũng Lạc
Giáp kể tiếp:
- Nhà mình có ông bác ở Pa-ri Năm nay hai bác muốn cho mình sang đấy học tiếp Hai bác mình không có con
Hưng buột miệng:
- Ôi, thật là tuyệt… La France! (Ôi nước Pháp!) Bao giờ cậu đi?
(Những mùa lá bàng rơi – Nguyễn Quốc Hùng)
“Học tiếp” có nghĩa là đã học rồi, bây giờ học nữa, ở đây là tiếp tục học
theo chương trình giáo dục của Pháp bậc học phổ thông mà Giáp đã được làm quen tại trường An-be-Sa-rô trước đó như đã giới thiệu bên trên Đây cũng chính
là một trong những lý do mà Giáp có mặt tại nhà Hưng để thông báo về việc sang Pháp sắp tới: sang đó để đi học, bởi nhà bác bên đó không có con Và phó
từ chỉ thời gian “tiếp” cũng đóng vai trò làm cầu nối với câu chuyện đã được khai mở đằng trước
Theo chúng tôi quan sát, “tiếp” thường xuất hiện trong những câu có hành
vi mang ý nghĩa cầu khiến, đề nghị hoặc hứa hẹn,… của giao tiếp đời thường
Ví dụ 1:
(Mẹ đang kể chuyện cho bé trước khi đi ngủ)
Mẹ: Hôm nay dừng ở đây nhé Ngày mai Moon của mẹ sẽ biết người thợ săn mang Bạch Tuyết đi đâu
Con: Nhưng Moon muốn nghe bây giờ cơ, mẹ kể tiếp cho Moon nghe đi Thế Bạch Tuyết có bị trói tay chân không hả mẹ? Bác thợ săn có phải là người
ác không?