1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu phủ định tiếng Hán trong sự đối chiếu với tiếng Việt

95 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 747,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Cao Danh Khải viết trong cuốn Bàn về ngữ pháp tiếng Hán 《汉语语法论》[23] cho biết, để biểu thị cấu trúc phủ định, một số ngôn ngữ chỉ thay đổi về thanh điệu của nh

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -LÝ BẢO MỴ

CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60220240

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hùng Việt

Hà Nội – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -LÝ BẢO MỴ

CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 60220240

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hùng Việt

Hà Nội – 2015

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn thành ngoài sự cố gắng của bản thân còn có sựgiúp đỡ của các thầy cô, bạn bè… Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắcđến thầy giáo PGS.TS Phạm Hùng Việt, người đã tận tình giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian hoàn thành đề tài

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô giáo khoa ngôn ngữ trường Đạihọc Khoa học Xã hội và Nhân văn đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho tôinhững vấn đề lí luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đã đóng góp những ý kiếnquý báu cho luận văn.

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân đã động viên, tạo điều kiện đểtôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 1 tháng 1 năm 2015

Tác giả luận văn

Lý Bảo Mỵ

Trang 5

Danh mục phiên âm từ phủ định tiếng Hán

trong luận văn

TT chữ Hán Phiên âm TT Chữ Hán Phiên âm

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 01

2 Lịch sử vấn đề 02

3 Mục đích và nghiện vụ nghiên cứu 04

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 04

5 Phương pháp nghiên cứu 05

6 Đóng góp của luận văn 05

7 Cấu trúc của luận văn 05

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Phủ định xét về mặt lô-gích học 06

1.1.1 Khái niệm phủ định trong Lô-gích học nói chung 06

1.1.2 Khái niệm phủ định trong lô-gích toán 06

1.2 Một vài ý kiến tổng quan về việc nghiên cứu câu phủ định trên quan điểm ngôn ngữ học 07

1.2.1 Ký hiệu phủ định trong ngôn ngữ 08

1.2.2 Sự không tương ứng giữa khẳng định và phủ định trong ngôn ngữ 09

1.3 Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc về câu phủ định 14

1.3.1 Quan điểm về mặt hình thức và ngữ nghĩa của ký hiệu phủ định “不” và “没” 15

1.3.2 Quan điểm về tính chủ quan và tính khách quan của ký hiệu phủ định “不” và “没” 16

1.3.3 Quan điểm về phủ định trung tính và phủ định về “thời hoàn thành” của ký hiệu phủ định “不” và “没” 17

1.3.4 Quan điểm về tính chia tách và tính chắp dính liên tiếp của ký hiệu phủ định “不” và “没” 18

1.3.5 Quan điểm về phủ định cấm của ký hiệu phủ định “别” 19

1.4 Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam về câu phủ định 20

1.4.1 Về khẳng định và phủ định trong tiếng Việt 21

1.4.2 Về cách bày tỏ ý phủ định trong tiếng Việt 22

1.5 Tiểu kết 23

CHƯƠNG II ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC CỦA CÂU PHỦ ĐỊNH

TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG Việt

Trang 7

2.1 Một số nguyên tắc cần bàn luận 24

2.11 Phạm vi nghiên cứu của cấu trúc phủ định trong luận văn 24

2.1.2 Câu phủ định miêu tả và câu phủ định bác bỏ 24

2.2 Đặc trưng cấu trúc của câu phủ định tiếng Hán 26

2.2.1 Các phương thức thể hiện câu phủ đinh 26

2.2.2 Loại hình của câu phủ định 27

2.2.3 Sự phân bố của các từ phủ định trong tiếng Hán hiện đại 33

2.3 Những đặc trưng cấu trúc của câu phủ định tiếng Việt 54

2.3.1 Các phương thức thể hiện câu phủ định 54

2.3.2 Phân loại của câu phủ định 55

2.3.3 Sự phân bố của các từ phủ định trong tiếng Việt hiện đại 57

2.4 Tiểu kết 69

CHƯƠNG III ĐỐI CHIẾU CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 3.1 Sự tương đồng và khác biệt cơ bản về phương thức phủ định giữa tiếng Hán và tiếng Việt 71

3.1.1 Sự tương đồng trong phương thức phủ định 71

3.1.2 Sự khác nhau về phương thức phủ định 72

3.2 Sự tương đồng và khác biệt cơ bản về cấu trúc phủ định giữa tiếng Hán và tiếng Việt 73

3.2.1 Sự tương đồng và khác biệt về cấu trúc phủ định giữa “不” và “không 73

3.2.2 Sự tương đồng và khác biệt về cấu trúc phủ định giữa “ 没 ” và “chẳng/chả” 80

3.2.3 Cấu trúc và từ phủ định đặc biệt “别” với từ phủ định “đừng” trong tiếng Việt 85

3.3.Tiểu kết 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trang 9

Câu phủ định là loại câu thường dùng trong ngôn ngữ Các nhà nghiên cứu

đã đưa ra một số tiêu chuẩn để phân biệt câu phủ định với các loại câu khác,Tựu trung lại, có bốn tiêu chuẩn như sau: tiêu chuẩn về hình thức của câu; ýnghĩa của câu; hình thức và ý nghĩa của cấu trúc câu; và cách sử dụng ngữ khícủa câu

Câu phủ định là sự thể hiện tư duy của con người, nó cũng là hình thứcphán đoán về mặt lô-gích trong nhận xét sự vật hiện tượng trong sinh hoạt đờisống của con người Câu phủ định là sự phán đoán phủ định trái ngược vớiphán đoán khẳng định về mặt ngữ nghĩa, bất kể ở ngôn ngữ nào cũng có sự tráingược như vậy Ngoài đặc tính này, để xác định một cấu trúc phủ định , cầnphải căn cứ vào tiêu chí là trong câu có từ phủ định hay không và về nội dungthì nó phủ định thành phần nào trong câu

Nói chung, cấu trúc phủ định thuộc về phạm trù ngữ pháp, và mỗi mộtngôn ngữ sẽ có một hệ thống ngữ pháp khác nhau Nhà ngôn ngữ học Trung

Quốc Cao Danh Khải viết trong cuốn Bàn về ngữ pháp tiếng Hán (《汉语语法论》)[23] cho biết, để biểu thị cấu trúc phủ định, một số ngôn ngữ chỉ thay đổi

về thanh điệu của những từ nòng cốt, như từ “yêu” trong tiếng Bantu châu Phi

là “tỏnda”, nhưng “không yêu” là “tonda”; có một số ngôn ngữ thì biểu thị phủđịnh bằng cách thêm phụ tố cho từ, như từ “tôi mặc” trong tiếng Lithuania là

“neszù”, nhưng từ “neneszù” biểu thị “tôi không mặc”; tiếng Hán cũng giốngvới tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức, đều dùng một thành phần ngữ pháp độclập (“不” hoặc “not” v.v) để biểu thị cấu trúc phủ định [ 3,tr 432.]

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập không biến hình, cũng giống như tiếngHán, cấu trúc phủ định trong câu cũng thường dùng những từ phủ định riêng đểbiểu thị Tuy vậy, tiếng Hán và tiếng Việt vẫn có rất nhiều khác biệt về mặt cấutrúc ngữ pháp của câu, cho nên trong cấu trúc phủ định của hai ngôn ngữ này,bên cạnh những đặc điểm giống nhau còn có những điểm khác biệt Sự giốngnhau và khác nhau đó thể hiện như thế nào ? Khi người Việt học tiếng Hán hayngười Trung Quốc học tiếngViệt, thì về phần phủ định của câu, cần phải lưu ýnhững gì, đó chính là những vấn đề mà luân văn của chúng tôi quan tâm , và đócũng là lý do để chúng tôi chọn đề tài này cho luận văn của mình

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay, cấu trúc phủ định tiếng Hán đã được rất nhiều nhà ngônngữ Trung Quốc nghiên cứu và trình bày trong các công trình nghiên cứu ngôn

Trang 10

ngữ tiếng Hán Cuốn sách ngữ pháp đầu tiên của Trung Quốc Mã thị văn thông (《马氏文通》)[40] đã bắt đầu có sự nghiên cứu cấu trúc phủ định Trong suốt

một thế kỷ sau cũng có nhiều nhà ngôn ngữ tiếp tục tiến hành việc nghiên cứucấu trúc phủ định, đặc biệt từ thập kỷ 80 thế kỷ 20 đến nay, các nhà ngôn ngữhọc Trung Quốc đã và đang tập trung nghiên cứu về từ - câu - cấu trúc củanhững thành phần phủ định trên các bình diện khác nhau

Trong tiếng Hán, Từ nòng cốt của cấu trúc phủ định chủ yếu gồm ba từ

“不” “没” “别” Vậy ba từ này có sự phân bố ra sao? đặc điểm ngữ pháp, ngữnghĩa và cách dùng của chúng như thế nào? Những vấn đề trên đã thu hút đượcnhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực như ngữ pháp truyềnthống, ngữ pháp hình thức hay ngữ pháp chức năng v.v Các nhà ngôn ngữ họcnhư Thompson [58] cho rằng từ phủ định “没” chỉ dùng cho phủ định những sựkiện đã hoàn thành; Lô Giáp Văn [32] và Trần Thuỳ Dân [22] từ nhiều góc độtìm hiểu sự khác biệt về ý nghĩa ngữ pháp của hai từ phủ định “ 不” và “没”;Ernst [54] và Huang [56] đưa ra một khái niệm mới là cấu trúc chắp dính của từphủ định “不”, còn Lee và Pan [57] thì đưa ra cấu trúc nòng cốt của từ này; LãThúc Tương [37][38] cho rằng, hai từ phủ định “不” và “没” thể hiện sự khubiệt về chủ quan và khách quan của câu; Lin [59] cho rằng, sự khác biệt của hai

từ “不” và “没” thể hiện ở chỗ sự lựa chọn khác nhau về đối thể; còn La HiểuAnh [42] thì đi sâu tìm hiểu về ý nghĩa ngữ pháp của từ phủ định “别”, v.v Như vậy, việc nghiên cứu về câu phủ định và từ phủ định trong tiếng Hán

đã được triển khai từ rất lâu, theo nhiều hướng và đã thu được những kết quảkhả quan Đây chính là thuận lợi cơ bản để chúng tôi có điều kiện tiếp nhận cáckết quả đã đạt được, tổng hợp các ý kiến, tiến hành việc so sánh đối chiếu vớicâu phủ định và từ phủ định trong tiếng Việt

Cũng như đối với việc nghiên cứu cấu trúc phủ định trong tiếng Hán,không ít nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã có những nghiên cứu về phủ địnhtrong tiếng Việt và họ cũng đưa ra những nhận định về cấu trúc này Nhà ngônngữ học Trần Trọng Kim là người bước đầu khảo sát và nghiên cứu cấu trúcphủ định trong tiếng Việt, ông cũng từng định nghĩa về câu phủ định trong

“Việt Nam văn phạm” như sau: “Câu phủ định là câu có một tiếng phủ định

trạng từ như: không, chẳng, chớ, đừng, chưa v.v Đặt trước tiếng động từ haytiếng tính từ”, “Cái nghĩa phủ định của những câu phủ định phải tùy theo cáinghĩa của tiếng phủ định trạng từ dùng ở trong câu.” [9, tr32]

Bên cạnh đó, nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo cũng có sự trình bày về

Trang 11

cấu trúc phủ định trong tiếng Việt, ông đã nghiên cứu phủ định và có bài viết

đăng trên “Tạp chí Ngôn ngữ” số 8, năm 1999 với tiêu đề là “Nhận định tổng

quát, phủ định tổng quát, phủ nhận tính tổng quát của nhận định tổng quát vàphủ định tổng quát”, ông cho rằng: “Phủ định tổng quát là một nhận định phủnhận sự tồn tài của mọi sự vật hay mọi hoàn cảnh làm Đề hay làm Tham tố chomọi sự tình được biểu đạt trong câu hữu quan Khi Đề của câu là đối tượng của

sự phủ định tổng quát, câu sẽ có hình thức của một câu tồn tại phủ định Khiđối tượng của sự phủ định tổng quát là một bộ phận của phần Thuyết, câu sẽ cóhình thức của một câu phủ định bình thường.” Về định nghĩa của phủ nhận tínhtổng quát, ông đưa ra nhận định sau: “là một hành động ngôn từ (hành vi ngônngữ) có tính siêu ngôn ngữ được biểu đạt 1) bằng một tập hợp vị từ hình thái

“không/ chẳng phải (là)”, đặt trước một câu nhận định tổng quát, hay đặt ngaytrước ngữ đoạn cần phủ định trực tiểp trong câu ấy - có thể có tiểu tố “đâu” ởcuối câu (dạng thức “trần thuật”); hoặc 2) bằng tổ hợp tình thái “có phải (là)”đặt trước cho câu có nhận định tổng quát có tiểu tố tình thái “đâu” mở đầu haykết thúc toàn câu (dạng thức “nghi vấn không chính danh”) [7]

Ngoài ra, còn có rất nhiều nhà ngôn ngữ như Diệp Quang Ban, NguyễnKim Thản, Nguyễn Đức Dân v.v cũng đã xác định cấu trúc phủ định cơ bảntrong tiếng Việt phải có các từ hoặc những yếu tố phủ định, tầm tác động củayếu tố phủ định trong câu v.v

Tuy vậy, sự so sánh đối chiếu câu phủ định giữa hai ngôn ngữ Hán và Việtvẫn là một lĩnh vực mới, ít được chú ý Những vấn đề đặt ra là: về cấu trúc ngữpháp, ý nghĩa biểu đạt và cách thức sử dụng câu phủ định và từ phủ định giữahai ngôn ngữ này có gì giống nhau và có gì khác nhau? Những người học tiếngcần chú ý những gì trong khi sử dụng câu phủ định của hai ngôn ngữ này?Những điều thắc mắc này chúng tôi rất muốn tìm hiểu và làm rõ, cũng như cáchọc giả hay những người đang học tiếng Hán, tiếng Việt đang quan tâm chú ý Trong luận văn này chúng tôi sẽ dựa trên các công trình nghiên cứu đã cócủa các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc cũng như Việt Nam để tìm hiểu vànghiên cứu thêm những vấn đề này

3 Mục đích và nghiện vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn này đặt ra các mục đích sau:

Trên cơ sở trình bày câu phủ định và những từ phủ định tiêu biểu trong

Trang 12

tiếng Hán và tiếng Việt hiện đại, tiến hành việc so sánh cấu trúc phủ định giữahai ngôn ngữ để tìm ra những tương đồng và khác biết giữa hai ngôn ngữ này

và tổng hợp lại những yếu tố khu biệt về cách thức sử dụng câu phủ định củatiếng Hán và tiếng Việt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Trình bày những nét tổng quát về câu phủ định và những từ phủ định tiêubiểu trong tiếng Hán hiện đại

- Trình bày những nét tổng quát về câu phủ định và những từ phủ định tiêubiểu trong tiếng Việt hiện đại

- So sánh đối chiếu câu phủ định của hai ngôn ngữ này, tìm ra nhữngtương đồng và khác biệt để góp phần vào việc nghiên cứu câu phủ định của haingôn ngữ, tạo thuận lợi cho người học tiếng Hán hay học tiếng Việt khi gặp

những câu phủ định

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là câu phủ định của hai ngôn ngữ:tiếng Hán hiện đại và tiếng Việt hiện đại

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn này là những câu phủ định của tiếngHán và tiếng Việt được dẫn từ một số tác phẩm văn học của Trung Quốc vàViệt Nam Trong khuôn khổ của một luận văn, tác phẩm văn học được sử dụng

để khảo sát là những truyện ngắn, tiểu thuyết của nhà văn Lỗ Tấn, Chu TựThanh ở Trung Quốc và một số phiên bản dịch sang tiếng Việt của hai nhà vănnày Về ngữ liệu tiếng Việt, luận văn sử dụng một số tác phẩm cùng thời kỳ củahai nhà văn Việt Nam là Anh Đức và Nam Cao

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện ngiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phươngpháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp miêu tả - phân tích: Được sử dụng để miêu tả các dạng cấutrúc phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt, đồng thời phân tích các ví dụ đượcdẫn từ những tác phẩm văn học của Trung Quốc và Việt Nam Trên cơ sở miêu

tả, phân tích, chúng tôi sẽ đi đến những đặc điểm chính của câu phủ định trong

Trang 13

tiếng Hán và tiếng Việt.

- Phương pháp thống kê - phân loại: Được sử dụng để thống kê cấu trúccâu phủ định được dẫn từ những tác phẩm văn học nổi tiếng Trung Quốc vàViệt Nam, thống kê số lượng sử dụng câu phủ định, tỷ lệ sử dụng các yếu tốphủ định trong tác phẩm văn học được dẫn, đồng thời phân loại câu phủ định

về các mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Được sử dụng trong chương cuối để sosánh đối chiếu các kiểu câu phủ định giữa tiếng Hán và tiếng Việt nhằm tìm ranhững điểm tương đồng và khác biệt của kiểu câu này trong hai ngôn ngữ

6 Đóng góp của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn sẽ đóng góp cho việc nghiên cứu câu phủ địnhtrong tiếng Hán và xác định các điểm tương đồng cũng như sự khác biệt về câuphủ định và từ dùng để phủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt

Về mặt thực tiễn, trên cơ sở kết quả đạt được, luận văn sẽ góp phần giúpcho những người học tiếng Hán hay tiếng Việt có thêm sự hiểu biết về câu phủđịnh và có thể sử dụng đúng loại câu này trong ngôn ngữ đang học

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:

CHƯƠNG I Cơ sở lý thuyết

CHƯƠNG II Đặc điểm cấu trúc của câu phủ định tiếng Hán và tiếng Việt CHƯƠNG III Đối chiếu câu phủ định tiếng Hán và tiếng Việt

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Phủ định xét về mặt lô-gích học

1.1.1 Khái niệm phủ định trong Lô-gích học nói chung

Từ xưa đến nay, phủ định đã là một vấn đề được các nhà ngôn ngữ học vàlô-gích học cùng quan tâm chú ý Từ góc nhìn của một mệnh đề lô-gích, thì phủ

Trang 14

định có đặc tính để xem xét và làm thay đổi một mệnh đề có đúng hay không Mệnh đề gồm có hai mặt là mệnh đề khẳng định và mệnh đề phủ địnhtương ứng của nó, và trong hai mệnh đề này chắc chắn sẽ có và chỉ có mộtmệnh đề đúng, quy luật này được gọi là quy luật của mâu thuẫn Nếu tiến hànhviệc phủ định của một mệnh đề phủ định, thì chúng ta sẽ có một mệnh đềkhẳng định tương ứng, và đây chính là quy luật phủ định của phủ định Trongtrường hợp này, khẳng định với phủ định tương ứng với nhau Nhà lô-gích họcFrege cho rằng: mỗi một tư tưởng và cách suy nghĩ đều có một tư tưởng mâuthuẫn trái ngược với tư tưởng vốn còn đó [26,tr172]

1.1.2 Khái niệm phủ định trong lô-gích toán

Với mệnh đề trong lô-gích toán - một phân ngành của lô-gích học thườngdùng số 1 hay số 0 biểu thị sự đúng sai của mệnh đề: mệnh đề có giá trị chân lýtức mệnh đề đúng được đánh dấu bằng số 1, ngược lại, mệnh đề không có giátrị chân lý tức mệnh đề sai được đánh dấu bằng số 0 Thì ở trong phép phủ địnhcủa lô-gích toán, nếu phủ định của một mệnh đề “a” , thì ký hiệu của phép phủđịnh này là “-a”, hãy xem bảng giá trị chân lý của phép phủ định trong lô-gíchtoán:

a = “Đứa bé ấy chính là Nhuận Thổ.” [109]

-a = “Đứa bé ấy không phải là Nhuận Thổ.”

Với trường hợp này a=1, -a = 0

2) Nếu mệnh đề:

a = “Dầu xăng là loại chất lỏng được sử dụng trong việc cứu hoả.”

-a = “Dầu xăng không phải là loại chất lỏng được sử dụng trong việc cứuhoả.”

Với ví dụ này, a = 0, -a =1

Như vậy, trong lô-gích toán của sự phủ định, trong hai mệnh đề chỉ có mộtmệnh đề đúng, tức mệnh đề a đúng (hoặc sai) thì mệnh đề -a sai (hoặc đúng) Trong ngôn ngữ thường dùng, mối quan hệ giữa cấu trúc khẳng đỉnh củacâu với cấu trúc phủ định của câu có thể gọi là mối liên hệ chủ yếu của mâu

Trang 15

thuẫn (contradictory), tức là hai dạng câu - câu khẳng định và câu phủ định củacùng một mệnh đề không thể hoàn toàn đúng, cũng không thể hoàn toàn sai; vàngược lại, chúng có thể có mối quan hệ tương phản (contrary), tức câu khẳngđịnh và câu phủ định của cùng một mệnh đề tuy không thể hoàn toàn đúng,nhưng chúng lại có thể hoàn toàn sai

Sự phủ định trong ngôn ngữ và sự phủ định trong lô-gích tuy đều là phạmtrù quan trọng của hoạt động giao tiếp và cách phản ánh thế giới khách quancủa con người cũng như việc nhận thức thế giới, nắm bắt thông tin hay bày tỏtình cảm cá nhân v.v và tuy chúng có những điểm tương đồng như trên, nhưngchúng cũng có sự khác biệt: ngôn ngữ là công cụ giao lưu về tư tưởng hay sựsuy nghĩ của con người, ngoài việc chịu ảnh hưởng và giới hạn của thế giớikhách quan ra, còn chịu sự hạn chế của những điều kiện ngữ dụng như đốitượng giao tiếp, bối cảnh nhận thức của con người, ngữ cảnh và nội dung tronggiao tiếp, mục đích của giao tiếp v.v

1.2 Một vài ý kiến tổng quan về việc nghiên cứu câu phủ định

trên quan điểm ngôn ngữ học

Trong giao tiếp hàng ngày, giữa mỗi một cá thể con người bất kể có sựkhác biệt gì về chủng tộc, màu da hay địa vị xã hội v.v, đều có nhu cầu phủnhận và bác bỏ những quan điểm hay ý kiến mà mình không chấp nhận trongnhững phát ngôn do người đối thoại đưa ra Vì vậy, với tư cách là một trongnhững phạm trù ngôn ngữ, tính phủ định thực sự là một thuộc tính chung củatất cả mọi ngôn ngữ trên thế giới

So với các phạm trù ngôn ngữ khác, cấu trúc phủ định không thể phân tíchtheo hướng ngữ nghĩa dưới góc độ tự nhiên, vì phủ định không có dạng quákhứ hay dạng tương lai về mặt ngữ pháp; phủ định cũng không có thuộc tính

âm - dương; về số lượng thì phủ định cũng không có số nhiều hay số ít, chẳnghạn cấu trúc phủ định trong tiếng Anh cũng vậy, nó chỉ có dạng “no”, “not” v.vchứ không có dạng thêm phụ tố “s/es” làm số nhiều vào các từ phủ định thành

“noes” hay “nots” để biểu thị phủ định nhiều lần

Vì vậy, từ góc độ trên chúng ta thấy rằng, bất kể ngôn ngữ nào, để cho mộtcâu mang nghĩa phủ định thì chúng ta chỉ có cách đặt một dấu hiệu phủ định(negative marker) vào trong câu, và cái dấu hiệu phủ định này sẽ có chức năngphủ định và bác bỏ những yếu tố trong câu mà cần phủ định, đồng thời câu này

Trang 16

cũng sẽ có ý nghĩa phủ định

1.2.1 Dấu hiệu phủ định trong ngôn ngữ

Dấu hiệu phủ định được tồn tại ở trong tất cả các ngôn ngữ, thông thườngdấu hiệu phủ định trong một ngôn ngữ có tính đa dạng, tức là trong một ngônngữ không chỉ có một dấu hiệu phủ định, và giữa các dấu hiệu phủ định sẽ có

sự khác biệt về chức năng hay cách dùng, và chúng được tập hợp thành một hệthống phủ định nhất định, từ đó tạo ra cấu trúc phủ định trong ngôn ngữ đó Mỗi một ngôn ngữ đều có một cách trình bày dấu hiệu phủ định riêng,chẳng hạn có thể dùng những từ mang nghĩa phủ định đảm nhiệm, như trongtiếng Anh có những từ “no”, “not” mang nghĩa phủ định ; hay thêm phụ tốmang nghĩa phủ định ghép với những yếu tố cần phủ định, như trong tiếngLithuania là “neszù” là tôi mặc và “ne+neszù” biểu thị “tôi không mặc” [23];ngoài ra còn có thể dùng những kết cấu ngữ pháp để biểu thị phủ định, chẳnghạn ở tiếng Hungary thì dấu hiệu phủ định “nem” dùng trong phủ định câutrường thuật, còn dấu hiệu phủ định “ne” thì phủ định cho cấu trúc cầu khiến[60]

Cách thức sử dụng dấu hiệu phủ định có sự giống nhau hay không thườngdựa vào quy thuộc của hệ ngôn ngữ, tức là những thứ tiếng này có cùng mộtnhóm trong hệ ngôn ngữ hay không Tiếng Hán và tiếng Việt đều thuộc loạingôn ngữ đơn lập và không biến hình, chúng có một số đặc điểm giống nhau vềdấu hiệu phủ định (CHƯƠNG III sẽ trình bày cụ thể sự giống nhau và khácnhau về phủ định của hai ngôn ngữ)

Nói chung, cả tiếng Hán và tiếng Việt đều có khá nhiều dấu hiệu phủđịnh, nhưng xét về mặt mức độ sử dụng thì bất kể ngôn ngữ nào cũng đều cómột số ký hiệu tiêu biểu và thường dùng nhất

Ở tiếng Hán hiện đại, chúng ta thường thấy ba dấu hiệu phủ định sau hayđược sử dụng: “不”, “没”và “别” Thông thường, ba ký hiểu phủ định này cóvai trò và tác dụng riêng mặc dù chúng được đồng thời xuất hiện ở cùng mộtngữ cảnh, nhưng ý nghĩa của những dấu hiệu phủ định này lại hoàn toàn khácnhau, và có lúc chỉ có một ký hiệu mang nghĩa phủ định, còn những ký hiệucòn lại thì có chức năng ý nghĩa khác Ví dụ:

(1)仰起头两面一望,只见许多古怪的人,三三两两,鬼似的在那里徘徊;定睛再看,却也看不出什么别的奇怪。

Dịch: Ngước đầu nhìn xung quanh, lão thấy bao nhiêu người kỳ dị hết sức, cứ hai ba người một, đi đi lại lại như những bóng ma Nhưng nhìn kỹ thì

Trang 17

lại chẳng lấy gì làm quái lạ nữa [118]

Trong ví dụ trên “不” là dấu hiệu phủ định vì nó được sử dụng với kết cấu

“看出” đối lập với “看不出” (không nhìn ra được); nhưng từ “别” ở trườnghợp này chỉ có nghĩa là “cái khác” chứ không mang nghĩa phủ định

(2)康大叔见众人都耸起耳朵听他,便格外高兴,横肉块块饱绽,越发大声说,“这小东西不 1 要命,不 2 要就是了 ”

Dịch: Bác Cả Khang thấy mọi người vểnh tai nghe, lấy làm thú lắm, những thớ thịt trên mặt nổi từng cục Bác ta cao hứng nói càng to:

- Cái thằng nhãi con ấy không 1 muốn sống nữa, thế thôi [118]

Trong ví dụ này “不” là dấu hiệu phủ định, nhưng ở đây “不1” khác với

“不 2” ở chỗ ngữ cảnh và nghĩa của cả một đoạn văn “ 不1” là dấu hiệu phủđịnh vì nó có sự đối lập giữa “ 要命” (muốn sống) và “不要命”, còn “不 2”trong “不要” có nghĩa là chết, cả câu “不要就是了” có nghĩa là “chết là đượcthôi”

Dấu hiệu phủ định trong tiếng Việt được gọi là yếu tố phủ định hay phủđịnh tố, về thực chất thì ba tên gọi về cách diễn đạt phủ định trong ngôn ngữ làhoàn toàn giống nhau Trong tiếng Việt, các dấu hiệu phủ định chủ yếu gồm:

“không”, “chưa” và “chẳng”, ngoài ra còn có các yếu tố phủ định khác như

“đếch” “cóc” v.v Những dấu hiệu phủ định kể sau thuộc loại không lịch sự khichúng ta sử dụng

1.2.2 Sự không tương ứng giữa khẳng định và phủ định trong ngôn ngữ

Bất kể trong tiếng Hán hay trong tiếng Việt, hoặc là các ngôn ngữ kháctrên thế giới, sự không căn bằng giữa khẳng định và phủ định hầu như đều cómột số đặc điểm giống nhau, và đây cũng là một tính chung của ngôn ngữ

Sự không căn bằng giữa khẳng định và phủ định biểu hiện bằng baphương diện khác nhau là sự không tương ứng với cấu trúc câu, sự khôngtương ứng với ngữ cảnh và sự không tương ứng với mức độ ngữ nghĩa của từ

1.2.2.1 Không tương ứng với cấu trúc câu

Xét về mặt lô-gích thì quan hệ giữa khẳng định và phủ định là tương ứngvới nhau, mỗi một mệnh đề khẳng định đều có một mệnh đề phủ định tươngứng, nhưng xét về mặt ngôn ngữ thì chúng chưa chắc đã là tương ứng, và có thể

có những trường hợp có một mệnh đề khẳng định, nhưng không có một mệnh

đề phủ định tương ứng, ví du:

(3) a.“yêu là vì thích.”

b.“yêu là vì không thích.”

Trang 18

Thì ở trong hai ví dụ trên, về cấu trúc ngữ pháp thì hai câu đều đúng,nhưng về mặt ý nghĩa thì câu “b.” là sai, vậy nhóm câu khẳng định và phủ địnhnày không tương ứng với nhau

Ngược lại, cũng có một số trường hợp cấu trúc phủ định trong mệnh đề làđúng, nhưng nếu câu phủ định này tương ứng sang bên khẳng định thì lại sai vềngữ pháp và không thành lập được, ví dụ:

(4) a.“Cô bé nhìn thấy con chuột to chạy qua dưới bàn ăn, sợ hết hồn mà

1.2.2.2 Không tương ứng với ngữ cảnh

Ngoài ra, ở trong một số ngữ cảnh tuy khẳng định với phủ định tương ứngvới nhau, nhưng với nội dung câu nói thì câu khẳng định sẽ là đúng và câu phủđịnh tương ứng đó là sai Chẳng hạn:

(5)A: Anh Hoàng ơi, lâu lắm không gặp anh, dạo này thế nào rồi?

B: 1) À, con anh vừa bảo vệ xong luận văn thạc sĩ đấy!

2) À, con anh chưa bảo vệ luận văn thạc sĩ

Với ngữ cảnh này, mặc dù câu hỏi của A rất trung tính và A cũng khôngbày tỏ sự mong muốn nhận được câu trả lời là khẳng định hay phủ định, nhưngnếu B trả lời theo câu 1) thì sẽ tự nhiên hơn và cũng dễ diễn ra cuộc giao tiếptiếp theo và có thể A sẽ có lời chúc mừng cho B v.v, nhưng nếu B trả lời bằngcâu 2) thì không phù hợp và sẽ khiến mọi người cảm thấy lạ, trừ khi A là ngườithường quan tâm đến đứa con của người B lúc nào bảo vệ luận văn, và khi Ahỏi đến chuyện dạo này thế nào tức có nghĩa đang hỏi về tình hình con của B,thì lúc này B sẽ có câu trả lời theo câu 2) để nối tiếp câu hỏi hàm ẩn của A

Ở những trường hợp trên có sự không căn bằng, không tương ứng giữakhẳng định và phủ định Givón [55] đã trình bày quan điểm để lý giải nguyênnhân hình thành sự khác biệt giữa khẳng định và phủ định Ông cho rằng, vớinhững trường hợp thông thường, câu phủ định thường dùng cho câu khẳng địnhtương ứng đã được đưa ra, hoặc là ở trong tình trạng người nói cho rằng ngườinghe là tin cậy và quen thuộc với câu chuyện mà người nói đang đề cập đến

Trang 19

Nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Thẩm Gia Huyên [44] cũng đồng quanđiểm với Givón Ông cho rằng, tuy hai câu phát ngôn của B trên đều là câu trầnthuật, và chúng chỉ khác biệt về hình thức khẳng định hay phủ định, nhưng vềmặt cung cấp thông tin thì hai kiểu câu này lại hoàn toàn khác nhau: câu 1) là ởtình trạng người A không biết P (cái mệnh đề mà người B đưa ra đầu tiên - conanh vừa bảo vệ xong luận văn thạc sĩ) thì người B đưa ra cái thông tìn này chongười A biết, còn 2) là người B đang đoán rằng người A đã biết chuyện P hoặc

có thể tin chuyện P mà tiến hành việc phủ nhận

Thẩm Gia Huyên còn cho rằng, câu phủ định không phải dùng để dẫn ramột thông tin mới và đối tượng mới trong thông tin, mà là để phủ định hay bác

bỏ những thông tin hay đối tượng đã đề cặp tới Về quan điểm này có một ví dụđược thể hiện bằng nòng cốt từ là danh từ làm tân ngữ trong câu:

(6) a.我昨天在大街上认识一个人。

Dịch: Hôm qua tôi làm quen với một người ở trên phố

b.我昨天在大街上没认识一个人。

Dịch: Hôm qua tôi không làm quen với một người ở trên phố [52]

Với ví dụ trên, cụm danh từ “一个人” (một người) làm tân ngữ thì ở trongcâu “a.” vì là khẳng định nên có thể chỉ định cho một người nào đó đã làmquen, nhưng trong câu “b.” “一个人” là cụm danh từ không chỉ định, và thôngthường, danh từ làm tân ngữ trong câu phủ định phải là danh từ chỉ định và xácđịnh được, nhưng trong câu khẳng định lại không có điều kiện này Và đâychính là sự khác biệt rõ ràng giữa khẳng định và phủ định về chức năng thôngbáo của thông tin

1.2.2.3 Không tương ứng về mức độ ngữ nghĩa của từ

Sự không tương ứng giữa khẳng định và phủ định còn thể hiện ở mức độngữ nghĩa của từ được sử dụng trong câu, chẳng hạn một số động từ chỉ có thểdùng trong câu khẳng định, và một số động từ khác lại chỉ có thể sử dụng trongcâu phủ định

Theo nhà ngôn ngữ học Trung Quốc Thạch Dục Trí [45], những từ có mức

độ ngữ nghĩa thấp thì chỉ có thể sử dụng trong kết cấu phủ định; những từ cómức độ ngữ nghĩa cao thì chỉ có thể sử dụng trong cấu trúc khẳng định; cònnhững từ có mức độ ngữ nghĩa vừa phải thì có thể sử dụng tự do giữa hai cấutrúc khẳng định và phủ định Và những từ chỉ có thể sử dụng trong cấu trúckhẳng định hay cấu trúc phủ định được gọi là ngữ tuyến tính (polarity item)

Ví dụ:

Trang 20

Dịch: Chúng ta phải luôn ghi nhớ trong lòng những điều mà Đảng

yêu cầu với chúng ta [52]

Với ba nhóm ví dụ trên, ba từ “介意” “记得” và “铭记” về khái niệm ngữnghĩa thì giống nhau, đều mang nghĩa là “nhớ tới”, nhưng chúng khác nhau vềmức độ ngữ nghĩa Từ “介意” mức độ ngữ nghĩa rất thấp, thường dùng trongcấu trúc phủ định; từ “铭记” mức độ ngữ nghĩa cao nhất, thường dùng trongcấu trúc khẳng định; còn từ “记得” có mức độ ngữ nghĩa trung bình, vậy trong

cả hai cấu trúc khẳng định và phủ định đều dùng được Dưới đây là sơ đồ mức

độ ngữ nghĩa của ba từ này:

Ghi chú: đánh dấu: + , Không đánh dấu:

-Từ bảng dấu hiệu này chúng ta sẽ có: nếu một từ nào đó có mức độ ngữ

Phạm vi sử dụng PĐ PĐ & KĐ KĐ

Cấu trúc câu Dấu hiệumức độ ngữ nghĩa

Khẳng định Phủ định

Trang 21

nghĩa cao thì từ ấy sẽ dùng trong cấu trúc khẳng định, ngược lại, nếu mức độngữ nghĩa của từ ấy thấp thì sẽ dùng trong cấu trúc phủ định Ví dụ:

(10) 树上的苹果熟透了, 就落到地下。这种现象从来没有引起人们的注意

Dịch: Những quả táo trên cây đã chín và rơi xuống đất Hiện tượng này

từ xưa đến này chưa bao giờ khiến mọi người lưu ý [137]

Với ví dụ này, mức độ ngữ nghĩa của từ “从来” rất thấp và nó chỉ dùngtrong câu phủ định, nhưng có điều thú vị là trong tiếng Việt, cụm từ “từ xưađến nay” lại có mức độ ngữ nghĩa trung bình, nó có thể sử dụng trong cả haicấu trúc - khẳng định và phủ định

1.3 Một số quan điểm của các nhà nghiên cứu Trung Quốc về

câu phủ định

Trong tiếng Hán, vấn đề phủ định nói chung và hình thức biểu hiện củacâu phủ định nói riêng đã được nhiều nhà ngôn ngữ học Trung Quốc chú ý đến,trong đó không ít nhà ngôn ngữ học như Lã Thúc Tương [34], Vương Lực [48],Thảm Gia Huyên [44], Thạch Dục Trí [15], Kim Triệu Tử [31], Liêu Tự Đông[28] v.v đã trình bày những quan điểm về phủ định trên các bài báo hoặc nhữngcuốn sách đã xuất bản

Theo nhà nghiên cứu Kim Triệu Tử trong sách Nghiên cứu văn pháp quốc ngữ (《国文法之研究》) của NXB Thương vụ năm 1983, về hình thức biểu hiện

của câu phủ định trong tiếng Hán, ông cho rằng: “凡是肯定句与否定句的分别,只须看表词中有否‘不’‘无’‘非’‘弗’‘莫’等否定副词,就可辨别得出。(Để phân biệt rõ giữa câu khẳng định với câu phủ định, chỉ cần xem xét trongcâu có phó từ phủ định như ‘bất’ ‘vô’ ‘phi’ ‘phất’ ‘mạc’ hay không thì có thể

phân biệt được.)” Ngoài ra, nhà nhiên cứu Lã Thúc Tương trong sách Văn pháp Trung Quốc (《中国文法要略》) của NXB Thương Vụ năm 1982 cũng chỉ ra

rằng “否定的句子却是必须要有否定的字样。(Câu phủ định nhất thiết phải cónhững từ phủ định đặc điểm)”

Vương Lực, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Trung Quốc cũng bày tỏ sự khẳng

Trang 22

định trong sách Hán ngôn cổ đại (《古代汉语》) của NXB Cục sách Trung Hoa

năm 1962: “表示否定的句子叫否定句。否定句中必须要有否定词。(Nhữngcâu biểu thị phủ định gọi là câu phủ định Trong câu phủ định nhất định phải có

từ phủ định.)” Sau đó, trên cơ sở quan điểm này, ông thu hẹp phạm vi phủ định

và đưa ra một quan điểm khác trong sách Ngữ pháp hiện đại Trung Quốc (《中

Nhà ngôn ngữ học Trần Bình [24] cũng cho rằng, sự phủ định trong ngônngữ chủ yếu là phủ nhận cấu trúc trần thuật của câu, và trong thực tế có thể phủnhận những khái niệm về sự vật cũng như tính chất, động tác, quan hệ haytrạng thái của những sự vật hiện tượng mà mình muốn phủ định; ngoài ra, sựphủ định cũng có những nghĩa rộng để chỉ về ngăn cấm, không tồn tại hay tráingược với thực tế bằng cách sử dụng ngôn ngữ

1.3.1 Quan điểm về mặt hình thức và ngữ nghĩa của dấu hiệu phủ định “” và

Nhà ngôn ngữ học Lã Thúc Tương [37] [38] là người đầu nghiên cứu tỉ mỉnhất về sự khu biệt giữa hai từ phủ định “ 不” và “没” Theo ông, hai từ phủđịnh này có sự khác biệt về hình thức và ngữ nghĩa

Về mặt hình thức, từ “不” là phó từ chuyên làm phụ tố cho động từ và nókhông thể thay thế vị trí của động từ; còn từ “没” là trợ động từ, nó không chỉ

có thể đi kèm với động từ mà còn có thể đảm nhiệm vai trò của động từ

Về mặt ngữ nghia, từ “不” chỉ có nghĩa phủ định; còn từ “没” là sự phủđịnh của hai nội dung: phủ định những việc đã hoàn thành và phủ định củanhững trải nghiệm đã xảy ra Về nội dung phủ định thứ nhất, ở cấu trúc câutrong tiếng Hán thường có từ “了” biểu thị đã hoàn thành hoặc đã được thựchiện, ngoài ra còn có từ “过” biểu thị đã trải nghiệm, từ “没” có nghĩa phủ địnhnhững việc trong quá khứ đã xảy ra

Trang 23

Ở hai nhóm ví dụ dưới đây, chỉ có thể dùng ký hiệu “ 没” phủ định chứkhông thể phủ định bằng ký hiệu “不”, vì với ngữ cảnh cụ thể này là phủ định

về việc hoàn thành hay trải nghiệm:

(13) a.他怎么着也不让我走。

Dịch: Dù thế nào anh ấy cũng không thả tôi về.

b.他怎么着也没让我走。

Dịch: Dù thế nào anh ấy cũng không cho tôi về [39]

Về ví dụ “a.”, “不让我走” (không thả tôi về) có nghĩa chủ quan của “anhấy”, còn “b.” hướng tới một kết quả là “ 我没 走” (tôi chưa đi) là một sự thậtkhách quan

Ngoài ra, Lã Thúc Tương còn cho rằng, từ “不” có thể dùng trước tất cảtrợ động từ, còn từ “没” thì hạn chế hơn, chỉ có thể dùng trước mấy trợ động từnhư “能” “能够” “要” “肯” “敢” v.v

1.3.2 Quan điểm về tính chủ quan và tính khách quan của dấu hiệu phủ định

” và “

Nhà ngôn ngữ học Bạch Thuyên [21] cho rằng, dấu hiệu phủ định “ 不”phủ định về mặt chủ quan, còn dấu hiệu phủ định “没” phủ định về mặt kháchquan

Bạch Thuyên [21] đã đi sâu vào quan điểm này và phân tích rằng: dấu

Trang 24

hiệu phủ định “不” chủ yếu phủ định về ý chủ quan làm một việc nào đó Việcnày còn chưa làm, có thể đang làm hoặc sau này sẽ làm, và như vậy, dấu hiệuphủ định “不” cũng sẽ đi theo những ý thức chủ quan mà dùng trong thời hiệntại hoặc thời tương lai; ngược lại, sự thật khách quan là những việc đã xảy rahoặc những tình huống đã tồn tại, vì vậy dấu hiệu phủ định “没” chỉ có thể phủđịnh những sự thật trong quá khứ

Nói chung, những quan điểm phân tích của Bạch Thuyên và Lã ThúcTương bổ sung lẫn cho nhau, và cũng nêu rõ sự khác biệt về tính chủ quan vàtính khách quan của hai dấu hiệu phủ định “不” và “没”

1.3.3 Quan điểm về phủ định trung tính và phủ định về “thời hoàn thành” của dấu hiệu phủ định “” và “

Nhà ngôn ngữ học Charles N.Li và Sandra A.Thompson [58] có quanđiểm khác với Lã Thúc Tương là sự khác biệt giữa “ 不” và “没” ở chỗ: “不”dùng cho phủ định trung tính (neutral negation), còn “ 没” dùng để phủ địnhcho sự hoàn thành của sự việc Một số trường hợp được phủ định bằng ký hiệu

“不” như sau:

1) Trong cấu trúc câu xuất hiện tính từ hoặc động từ, thì dấu hiệu phủ định “不”dùng để phủ định sự tồn tại của trạng thái tương ứng, và ở đây không đượcdùng “没” Ví dụ:

(14)他不聪明 Dịch: Nó không thông minh [52]

(15)他们不知道他在哪

Dịch: Chúng nó không biết anh ấy ở đâu [52]

2) Trong cấu trúc câu xuất hiện trợ động từ thì sự phủ định của nó sẽ dùng kýhiệu “不” chứ không dùng “没” Ví dụ:

(16)他不会游泳 Dịch: Anh ấy không biết bơi [52]

1.3.4 Quan điểm về tính chia tách và tính chắp dính liên tiếp của dấu hiệu phủ định “” và “

Nhà ngôn ngữ học Thạch Dục Trí [45] đưa ra một quan điểm riêng biệt về

sự khác biệt giữa hai dấu hiệu phủ định “ 不” và “没”, là cách dùng phủ địnhcho những từ hoặc cụm từ mang tính chia tách (discrete) hay tính chắp dínhliên tiếp (continuous)

Ông cho rằng, mọi thành phần trong ngôn ngữ đều được khái quát từnhững hiện tượng tự nhiên, vậy có thể dựa vào tính chất của những sự vật trongthực tế mà quy chúng theo đặc trung chủ yếu, và ông cho rằng thế giới hiệnthực có thể chia thành hai loại cơ bản: chia tách và chắp dính liên tiếp Vì ngôn

Trang 25

ngữ chính là sự phản ánh của hiện thực thế giới, vậy những từ ngữ trong ngônngữ cũng có thể dùng hai đặc điểm ngữ nghĩa - chia tách hay chắp dính liêntiếp để miêu tả Ông cũng đã lập bảng miểu tả đặc điểm về lượng của ba từ chủyếu trong ngôn ngữ về thuộc tính tách rờì hay chắp dính [52]:

Từ bảng trên chúng ta sẽ thấy, danh từ điển hình có đặc điểm ngữ nghĩa vềlượng chia tách; tính từ điển hình có đặc điểm ngữ nghĩa về lượng chắp dínhliên tiếp; còn động từ thì vừa mang tính chia tách vừa mang tính chắp dính liêntiếp Dựa vào cơ sở này, Thạch Dục Trí cho rằng, sự phân công về phủ địnhtrong câu của hai dấu hiệu phủ định “不” và “没” là:

Dịch: Khi vắng người, hắn mới nói chuyện với tôi Vì thế chưa đầy nửa

ngày, chúng tôi đã thân nhau [109]

(18) 他见人很怕羞,只是不怕我……

Dịch: Hắn thấy ai là bẽn lẽn, chỉ không bẽn lẽn với một mình tôi thôi

[109](19)“他不咬人么?” cùng nghĩa với “他没咬人么?”

Trang 26

-Thành tố chủ yếu để cấu thành câu phủ định ngoài hai ký hiệu “ 不” và

“没” ra, còn có ký hiệu “别”, nhưng vì ý nghĩa của ký hiệu này quá rõ ràng,nên các nhà nghiên cứu cũng ít khi bàn đến nó Khuất Thừa Hi [41] cho rằng

ký hiệu “别” chỉ dùng trong cấu trúc cầu khiến; Lã Thúc Tương [34] thì chorằng “别” có nghĩa biểu thị khuyên bảo hoặc cấm; nhưng Thiệu Kính Mẫn và

La Hiểu Anh [42] lại cho rằng, những câu mang ký hiệu “别” theo ngữ nghĩa cảcâu thì cũng có thể coi là phủ định những thứ mà không mong muốn Nhưngtựu trung lại, thì họ cũng có sự thống nhất về ý nghĩa phủ định của ký hiệu

“别” là: nó có thể biểu thị sự phủ định về ngăn trở; sự phủ định về phán đoán;

Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông tập II” đã đưa rađịnh nghĩa về câu phủ định: “câu phủ định là câu xác nhận sự vắng mặt của vật,hiện tượng, hay sự kiện, sự vắng mặt của đối tượng hay của đặc điểm đối tượngtrong hiện thực hoặc trong tưởng tượng bằng những phương tiện hình thức xácđịnh” [1] Trong định nghĩa này, ông chia hình thức của câu phủ định thành bốnloại chủ yếu: yếu tố phủ định làm thành câu đặc biệt; câu có vị ngữ bị phủ định;câu có chủ ngữ bị phủ định; câu có thành phần phụ của từ bị phủ định

Nguyễn Kim Thản trong “Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt”, Nhà xuất bảnGiáo dục, năm 1997, đã đưa ra một kiểu hình thức câu phủ định đặc biệt: câunghi vấn - phủ định Đây là cách phân loại theo mục đích của câu Kiểu cấutrúc này có tỷ lệ xuất hiện cao ở trong khẩu ngữ hay đối thoại để nhấn mạnh ýnghĩa phủ định hay mang nghĩa bác bỏ ý kiến của người khác, và đặc điểm biểuhiện của cấu trúc phủ định này là thường có từ nghi vấn, nhưng thực chất nó lại

là câu phủ định

Nguyễn Thị Lương cũng đã trình bày về hình thức biểu hiện của câu phủ

Trang 27

định trong cuốn “Câu tiếng Việt”,Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, năm 2006.Trong cuốn sách này, có định nghĩa và phân loại hình thức thể hiện của câu phủđịnh gồm có ba loại: “dựa vào các tiêu chí khác nhau, ta có những cách phânloại khác nhau Người ta thường nói đến ba cặp câu phủ định sau: câu phủ địnhtoàn bộ và câu phủ định bộ phận, câu phủ định chung và câu phủ định riêng,câu phủ định miểu tả và câu phủ định bác bỏ.” [10]

Như vậy, có thể thấy rằng, tùy theo nhà nghiên cứu và mục đích phân loạikhác nhau, sự phân loại hình thức biểu hiện của cấu trúc phủ định cũng khácnhau, nhưng chúng có một điều chung giống nhau là: để xác định một câu phủđịnh, trong câu phải có một trong hai yếu tố chủ yếu ở trong câu: nghĩa biểuhiện phủ định hoặc từ phủ định

1.4.1 Về khẳng định và phủ định trong tiếng Việt

Trong ngữ pháp truyền thống, câu phủ định và câu khẳng định được phânbiệt theo hai cách là nghĩa biểu đạt và hình thức biểu đạt Còn ở trong ngữ học,câu phủ định là một phán đoán phủ định và nó có mối quan hệ chặt chẽ với câukhẳng định

Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp Việt Nam phần câu” NXB ĐH Sư

Phạm, 2004 cho biết, phủ định có đặc điểm riêng biệt thể hiện dưới phượngdiện nghĩa và phương diện hình thức trong ngôn ngữ:

“Về phương diện nghĩa, câu phủ định ghi nhận sự vắng mặt (nêu lên tínhâm) của vật, việc, hiện tượng, hay sự vắng mặt đặc điểm, quan hệ của vật tronghiện thực hoặc trong tưởng tượng

Về phương diện hình thức, câu phủ định chứa những yếu tố ngôn ngữđánh dấu sự phủ định.” [2]

Phần CHƯƠNG III trong cuốn sách “Ngữ pháp tiếng Việt” của Trung tâm

khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2000) phân định ra ba tình huống quan

hệ giữa khẳng định và phủ định Trước hết, khẳng định không có một hình thứcriêng như phủ định, tức là với phủ định thì sẽ có thể dùng các phụ từ biểu thị

phủ định như không, không phải là, chưa, chưa phải là, chẳng, chẳng phải là

để biểu thị cấu trúc này là phủ định Trong những trường hợp nhấn mạnh nghĩakhẳng định thì từ “có” sẽ đảm nhiệm ký hiệu khẳng định cho câu Ví dụ:

(20) Thực tình, em có nói dối (khẳng định)

Thực tình, em không nói dối (phủ định)

(21) Anh Tư làm việc tốt (khẳng định)

Anh Tư làm việc không tốt (phủ định) [12]

Trang 28

Thứ hai, nói về việc dùng hình thức phủ định để biểu đạt ý khẳng địnhmạnh, tác giả cuốn sách này đã đưa ra một ví dụ và giải thích như sau:

(22) a.Công việc này không dễ

b.Công việc này không phải là dễ [12]

Với hai ví dụ này, câu 2 “công việc này không phải là dễ” có nghĩa là

“công việc này khó” dùng để phản bác lại ý kiến cho rằng “công việc này dễ”,

và đây là cách “khẳng định mạnh bằng hình thức phủ định” trong tiếng Việt Cuối cùng, chúng ta có thể dùng nguyên lý triết học lý giải tình huống phủđịnh của phủ định, nó sẽ là sự khẳng định của một sự vật hiện tượng đang bị

phủ định “Ngữ pháp tiếng Việt” cũng đã viết: “Có thể có sự liên kết hai hình

thức phủ định mà kết quả là khẳng định Nói cách khác, đó là sự phủ định đốivới một sự phủ định.” Dưới đây, chúng tôi dẫn lại một vài ví dụ đã được đưatrong cuốn sách nói trên:

(23) Em học sinh này không phải (là) không thông minh = thông minh

[12](24) Chẳng ngày nào anh không nghĩ đến em = nghĩ đến em [12](25) Không phải (là) tôi không hiểu anh = hiểu anh [12]

1.4.2 Về cách bày tỏ ý phủ định trong tiếng Việt

Việc bày tỏ ý phủ định rõ ràng và trực tiếp nhất trong tiếng Việt có thể nói

là cách sử dụng những dấu hiệu phủ định (về những trường hợp dấu hiệu phủđịnh không có nghĩa phủ định ở CHƯƠNG II sẽ phân tích sau)

Nguyễn Kim Thản [19] cho rằng có ba cách bày tỏ ý phủ định, và ôngcũng cho biết việc nhận biết dấu hiệu phủ định là cách đầu tiên để chúng tanhận diện câu phủ định Phương thức này cũng là cách biểu thị phủ định phổ

biến nhất Trong cuốn “Nguyễn Kim Thản tuyển tập” của NXB Khoa học xã

hội, năm 2003, ông đã khái quát về cách bày tỏ ý phủ định sau:

1) Dùng từ kèm phủ định (phương thức dùng hư từ như không, chẳng (chả), chưa (chửa), đừng, chớ, không hề, chẳng hề (chả hề), chưa hề (chửa hề), chưa từng

2) Dùng cấu tạo của câu hỏi bộ phận với một giọng điệu đặc biệt

Ví dụ:

(26)Ai biết được!

3) Dùng một số lối nói đặc biệt cộng với một giọng điệu đặc biệt

Ví dụ:

(27)(- Cho tôi nghỉ năm phút! )

Trang 29

- Có mà năm phút [19]

Cũng giống như việc nghiên cứu cấu trúc phủ định trong tiếng Hán, cácnhà ngôn ngữ Việt Nam cũng rất quan tâm đến sự khác biệt giữa các dấu hiệu

phủ định Đái Xuân Ninh trong “Hoạt động của từ tiếng Việt” (1978) đã nêu

lên sự khác biệt giữa “chưa” và “không” xét về mặt chức năng ngữ nghĩa là ở

chỗ: chưa giả định có một khả năng x nào đó, nhưng cho đến lúc nói thì không Còn sự khác biệt giữa “không” và “chẳng” thì ông cho rằng: chẳng được đặt trước từ mà nó xác định Nó nhấn mạnh về sự phủ định hơn yếu tố không

Đái Xuân Ninh cũng đưa ra ví dụ để minh hoạ quan điểm của ông:

(28) a.Mẹ không ăn gì cả

b.Mẹ chẳng ăn gì cả [13]

Với hai ví dụ trên, ông phân tích rằng: thông thường chẳng chỉ dùng trong

các trường hợp thật cần thiết để nhấn mạnh ý nghĩa phủ định hoặc đảm bảo tính

chất cân đối hài hòa trong câu, như thế cũng có nghĩa là sự đối lập không/ chẳng có tính chất linh hoạt và tế nhị

Cách bày tỏ ý phủ định trong tiếng Việt đa dạng và phong phú, về mặthình thức thì ngoài việc có thể dùng những dấu hiệu phủ định ra, còn có thểdùng những cấu trúc nghi vấn nữa, chẳng hạn từ “đâu”, ở một số tình huốngcũng mang ý nghĩa phủ định Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp Việt Nam phầncâu” của ông cũng đã đưa ra một số ví dụ chứa từ “đâu” mang nghĩa phủ định: (29) a.Tôi biết đâu

b.Tôi biết đâu đấy

c.Tôi có biết đâu [2]

Ở đây đáng chú ý là những tổ hợp mang yếu tố phủ định và chúng đã hìnhthành một cái khuôn cố định, như “có đâu”, “ đâu đấy”, “có phải đâu” hay

“làm gì có ” v.v (những kiểu cấu trúc này sẽ được chúng tôi trình bày rõ hơn ởchương 2)

Như vậy, có thể đi đến nhận xét là: các tù phủ định “không”, “chưa”,

“chẳng” hoặc “đâu” có thể gọi là những dấu hiệu phủ định tiêu biểu nhất trongtiếng Việt Ngoài những ký hiệu này, do sự đa dạng về từ ngữ trong việc bày tỏ

ý phủ định, trong khẩu ngữ thông tục còn có những từ như “đếch”, “cóc”,

“khỏi” v.v và những từ ngữ như: “…làm chó gì”, “đéo …”, “quái gi” dùngvới thái độ thô tục (chúng tôi sẽ trở lại với những từ ngữ này ở CHƯƠNG II)

1.5 Tiểu kết

Trang 30

Trong CHƯƠNG I chúng tôi đã trình bày một số lý thuyết cơ bản về phủđịnh về mặt lô-gích học và một vài ý kiến tổng quan về việc nghiên cứu câuphủ định trên quan điểm ngôn ngữ học, trong đó đã xem xét đến vấn đề câuphủ định trong tiếng Hán và tiếng Việt mà thực chất là việc nghiên cứu cấu trúccùng với những cách sử dụng dấu hiệu phủ định trong câu

Đồng thời, chúng tôi cũng đã sơ bộ tìm hiểu về một số khác biệt về cáchdùng của các dấu hiệu phủ định trong tiếng Hán cũng như trong tiếng Việt.Những vấn đề lý luận này là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu về câu phủđịnh trong tiếng Hán và tiếng Việt ở các chương sau

CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA

CÂU PHỦ ĐỊNH TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 2.1 Một số nguyên tắc cần bàn luận

Chúng tôi xin nêu lên một số nguyên tác chung để thực hiện trong việcnghiên cứu cấu trúc câu phủ định như sau:

2.1.1 Phạm vi nghiên cứu của cấu trúc phủ định trong luận văn

Một số câu mang nghĩa phủ định mà không thuộc dạng câu phủ định, nhưnhững câu mệnh lệnh phủ định mang nghĩa cấm đoán, khuyên ngăn; những câunghi vấn phủ định hay những câu cảm thán phủ định; hoặc dùng các phươngthức ngữ âm để phủ định như sử dụng trọng âm, thanh điệu phủ định v.v, sẽkhông phải là đối tượng xem xét của luận văn Luận văn chỉ tập trung ở nhữngcấu trúc phủ định tiểu biểu

2.1.2 Câu phủ định miêu tả và câu phủ định bác bỏ

Về chức năng, cấu trúc phủ định trong tiếng Việt được chia thành hai loại

cơ bản: câu phủ định miêu tả và câu phủ định bác bỏ

2.1.2.1 Câu phủ định miêu tả

Diệp Quang Ban trong sách “Ngữ pháp tiếng Việt” của NXB Giáo dục in

năm 2008 đã đưa ra định nghĩa về câu phủ định miêu tả: phủ định miêu tả đượcthực hiện trong quá trình miêu tả, nhìn nhận sự vắng mặt (tính âm) của vật,hiện tượng hoặc đặc điểm, quan hệ của vật, việc, hiện tượng

Nói cách khác, nếu dựa vào ý nghĩa phủ định của câu, thì câu phủ địnhmiêu tả là thực hiện hành vi khẳng định một thuộc tính không A của sự vật, vàchúng sẽ không hề xuất hiện tình trạng phản bác lại tính khẳng định của thuộc

Trang 31

tính đó Ví dụ:

(30) Nó mới biết cầm vững cái chổi để quét nhà và thổi một niêu cơm con

con không sống, không khê [73]

(31) Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi [71]

(32) Cái ý nghĩ có lẽ chẳng được thơ cho lắm, nhưng cuộc sống vốn không tha thứ những cái gì quá thơ [72]

2.1.2.2 Câu phủ định bác bỏ

Theo “Từ điển tiếng Việt 2008” của Trung tâm từ điển học, NXB Đà

Nẵng, từ bác bỏ có nghĩa là “bác đi, không chấp nhận, không thừa nhận”, vàtrong từ điển cũng đưa ra ví dụ : đề nghị đưa ra bị bác bỏ; bác bỏ tin đồn, đồng

thời từ trái nghĩa của bác bỏ là chấp nhận, chấp thuận Theo giải thích của từ

bác bỏ thì câu phủ định bác bỏ được hiểu là những câu mang nghĩa không chấpnhận thậm chí phản bác sự việc nào đó đã nêu ra

Theo Nguyễn Đức Dân trong “Lô-gích và tiếng Việt” của NXB Giáo dục

năm 1996, câu phủ định bác bỏ được định nghĩa: sự bác bỏ một điều A chỉ xảy

ra khi trước đó đã có sự khẳng định A, khẳng định trực tiếp, gián tiếp haykhẳng định phi ngôn ngữ qua một hành động, cử chỉ nào đó

Trong đó, phủ định bác bỏ được thể hiện theo hai phương diện: tườngthuật và nghi vấn Đặng Thị Hảo Tâm cũng trình bày quan điểm tương tự trong

sách “Hành động ngôn từ gián tiếp và sự tri nhận” - nhà xuất bản Đại học Sư

phạm in năm 2010: hành động bác bỏ là sản phẩm ở lời của những phát ngôn

có hiệu lực ở lời khẳng định nhưng hình thức có thể khác nhau (ví dụ như hỏi,trần thuật)

a) Câu phủ định bác bỏ - tường thuật

Cấu trúc phủ định này nói một cách đơn giản là trước hết phải có sự khẳngđịnh của một nội dung nào đó, và sự khẳng định này tức là nội dung dẫn ra sựphủ định để bác bỏ những ý kiến của nội dung đó, và trong cấu trúc này sẽdùng những từ phủ định như “không, chưa, chẳng, chả ” hoặc những cụm từphủ định như “không phải, chẳng phải, đâu phải ” để thực hiện hành động bác

bỏ Ví dụ:

(33) Ban đầu ba tôi nói: "Nhà tôi cũng như nhà mấy chú, đừng có nghe lời

người ta tới đây đòi dọn đòi dời, tôi không đi đâu!" [85]

b) Câu phủ định bác bỏ - nghi vấn

Câu phủ định bác bỏ - nghi vấn là loại câu dùng từ nghi vấn bác bỏ ý kiếncủa người khác, kiểu cấu trúc câu này có thể coi như kiểu câu chất vấn bác bỏ

Trang 32

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Dân trong bài viết “câu chất vấn” đã trình

bày rõ mối quan hệ giữa câu phủ định bác bỏ - nghi vấn với câu chất vấn:

“Hàm ý hoặc hành vi ngôn ngữ gián tiếp của câu chất vấn là sự phê phán, sựbác bỏ một sự tình nào đó Cơ sở lô gích cho sự hình thành những hàm ý nàynhư sau: Tôi chất vấn sự tình A, nếu người nghe không trả lời được tức làkhông có sự tình A Mà tôi tin là người nghe không trả lời được tức là không có

sự tình A Vậy lời chất vấn của tôi có hàm ý tôi bác bỏ A.” [6]

Theo Nguyễn Đức Dân, cấu trúc chất vấn của câu phủ phủ định sẽ gồm cónhững từ nghi vấn vừa mang nghĩa chất vấn, vừa mang nghĩa bác bỏ, còn Đặng

Thị Hảo Tâm, trong sách “Hành động ngôn từ gián tiếp và sự tri nhận” đã đưa

ra một số khuôn cố định để thể hiện sự phủ định bác bỏ - nghi vấn cũng nhưphủ định - chất vấn: “thế nào được, sao được, làm gì có , có phải đâu,nào đâu, v.v”[16] Ví dụ:

(34) Nó chưa hề gì, dẫu có về, chân nó đã gẫy rồi nào có nối liều lại được đâu? [79]

2.2 Đặc điểm cấu trúc của câu phủ định tiếng Hán

Câu phủ định trong tiếng Hán từ trước đến nay đã được nhiều nhà nghiêncứu quan tâm chú ý Đặc điểm và cấu trúc của câu phủ định tiếng Hán hiện nay

đã có nhiều sự thay đổi về mặt ngữ pháp và ngữ nghĩa, tuy vậy, cách sử dụng

và nghĩa biểu hiện của ba yếu tố phủ định chủ yếu trong tiếng Hán hầu nhưkhông thay đổi Ở phần này chúng tôi chủ yếu tìm hiểu về cấu trúc phủ địnhcủa ba yếu tố “不”, “没”, “别”

2.2.1 Các phương thức thể hiện câu phủ đinh

Xét theo phương thức thể hiện, câu phủ định tiếng Hán có bốn phươngthức thể hiện cơ bản sau:

2.2.1.1 Phương thức vị trí của các yếu tố

Xét về mặt ví trí của yếu tố phủ định trong câu, do sự phân bố của các yếu

tố phủ định, câu phủ định trong tiếng Hán được chia thành hai loại là phủ địnhchung và phủ định ngữ dụng Trong đó, các từ phủ định gồm có: 不, 不是,不能,

没, 没有, 别, 甭, 莫 Ví dụ:

(35)我与父亲不相见已二年余了,我最不能忘记的是他的背影。

Dịch: Bố và tôi không gặp nhau đã hơn hai năm nay Không bao giờ tôi

quên được dáng người của bố nhìn từ sau lưng [124]

(36)他走了几步,回过头看见我,说,进去吧,里边没人。

Trang 33

Dịch: được mấy bước, quay lại thấy tôi còn đứng đó, bố giục: “Lên toa

ngồi đi con Trên ấy đâu có ai!” [124]

2.2.1.2 Phương thức sử dụng cấu trúc cú pháp

Trong tiếng Hán có một số từ không thuộc về từ phủ định, chúng thường

đi với cấu trúc cảm thán hoặc nghi vấn, nhưng ở một số trường hợp riêng biệt,chúng được sử dụng theo một cấu trúc cú pháp nhất định, lúc đó mới mangnghĩa phủ định Những yếu tố phủ định này gồm có: 什么, 哪, 谁 Ví dụ: (37) “他再三再四的请我上湖北,我还没有肯。谁愿意在这小县城里做事情。……”

Dịch: “Anh ta khẩn khoản đến ba bốn lần mời tôi đi lên Hồ Bắc, tôi còn

chưa chịu đi Làm việc trong một thành huyện tí hon này, chán chết, ai mà

(39)知道的人都说阿 Q 太荒唐,自己去招打;他大约未必姓赵,即使真姓赵,有赵太爷在这里,也不该如此胡说的。

Dịch: Những người biết chuyện đều nói A Q láo xược quá, tự mình chuốc

lấy đòn, chứ chưa chắc hắn là họ Triệu ; mà dù cho thật họ Triệu đi nữa, trước

mặt ông cụ Triệu cũng không nên nói bướng như thế [105]

2.2.2 Loại hình của câu phủ định

Theo hình thức ý nghĩa của câu, câu phủ định trong tiếng Hán có thể chiathành hai loại: phủ định chung và phủ định ngữ dụng

2.2.2.1 Phủ định chung

Phủ định chung còn có tên gọi khác là phủ định mặt ngữ nghĩa, kiểu phủđịnh này chuyên dùng để truyền đạt những nghĩa cần phủ định, và nó thườngchỉ có một kết quả phủ định

Ở trong tiếng Hán có hai loại phủ định chung là phủ định miêu tả và phủđịnh giả thiết

Trang 34

a) Phủ định miêu tả trong tiếng Hán

Phủ định miêu tả trong tiếng Hán có tính chất phán đoán đúng - sai chomệnh đề, tức “nếu A đúng, thì B sai” hoặc ngược lại Ví dụ:

(40) 第二,立传的通例,开首大抵该是“某,字某,某地人也”,而我并不知道阿Q 姓什么。

Dịch: Hai là, lệ thường làm truyện cho ai, mở đầu đại khái phải là: Mỗ,

tên chữ là mỗ, người xứ mỗ vậy Thế nhưng tôi chẳng hề biết họ của A Q là gì.

Dịch: “Ta tuy chưa thấy qua sách ấy, song đã là cả đến giáo thụ đại học

cũng khen nó, thì chắc họ cũng đều thích xem ” [117]

Ở trong ví dụ trên, nếu “我没有见过这部书(Ta chưa thấy qua sách ấy)”thì mệnh đề này là đúng; nếu “ 我见过这部书(Ta thấy qua sách ấy)” thì mệnh

đề này là sai

b) Phủ định chung về mặt giả thiết trong tiếng Hán

Phủ định giả thiết là kiểu phủ định đặc biệt, thông thường trước khi đặt ramột mệnh đề phủ định đã có sự khẳng định giả thiết về nội dung mệnh đề,nhưng có lúc khi tiến hành phủ định cũng phủ định luôn nội dung giả thiết củamệnh đề Ví dụ:

Dịch: "Nói bậy! Bây giờ mới nói thì đã muộn rồi Hiện nay bọn đồng

Trang 35

đẳng của mày ở đâu?"  

Dịch: "Chúng nó không hề đến gọi tôi Chính mình chúng khuân đồ đi

mất." A Q nhắc lại với cái vẻ căm tức [105]

Ở ví dụ trên phủ định giả thiết của “ 现在你的同党在那里?(Hiện naybọn đồng đẳng của mầy ở đâu?)” là “có đồng đẳng”, nhưng câu trả lời đã phủđịnh mệnh đề này bằng câu “他们没有来叫我。他们自己搬走了(Chúng nókhông hề đến gọi tôi Chính mình chúng khuân đồ đi mất)” và đồng thời cũngphủ định cả câu phủ định giả thiết “có đồng đẳng”

Về phủ định giả thiết, nhà nghiên cứu ngôn ngữ Trương Bác Giang [49] đãtừng lấy hai ví dụ sau để trình bày và phân tích:

去(có thể đi được)”, nhưng ở đây “不能去(không thể đi được)” đã phủ địnhtính giả thiết “可以去(có thể đi được)”, vậy thì so với “không đi” thì “khôngthể đi được” khiến người nghe cảm thấy vì một lý do bắt buộc nào đó nên

“không đi”, vậy mang tính phủ định mạnh hơn

Đồng nghĩa với trên, phủ định giả thiết của cụm từ “ 不 想 感 动 (khôngmuốn làm xúc động)” là “ 能够感动(có thể làm xúc động)”, thì “ 感动不了(không thể xúc động được)” đã phủ định tính giả thiết của cụm từ “能够感动(có thể làm xúc động được)”,vậy về mặt mức độ phủ định ngữ nghĩa thì “khôngthể làm xúc động được” mạnh hơn

2.2.2.2 phủ định ngữ dụng

Trang 36

Phủ định ngữ dụng mang tính so sánh đối chiếu, nó không chỉ có một kếtquả phủ định, mà còn có thêm nội dung khẳng định liên quan đến việc phủ địnhcủa câu, có thể nói loại phủ định này là một biện pháp tu từ đặc biệt.

a) Đặc điểm của phủ định ngữ dụng

Về phủ định ngữ dụng thì nhiều nhà nghiên cứu như Hà Xuân Yến, TừThịnh Hằng v.v đã tìm hiểu rất sâu sắc, ví dụ nhà nghiên cứu Hà Xuân Yến [29]cho rằng, phủ định ngữ dụng thường dùng trong trường hợp phi chính thức, làmột kiểu tu từ, đó là sự nhận thức của người nói đối với nội dung của giao tiếp.Thẩm Gia Huyên [43] tổng kết ba đặc điểm chung của phủ định ngữ dụngnhư sau: phủ định ngữ dụng là sự phủ định lời dẫn; phủ định ngữ dụng là phủđịnh kiểu biện bạch; phủ định ngữ dụng cùng với sự khẳng định trong phầncuối câu thuộc cùng một hành vi ngôn ngữ Dưới đây là ba ví dụ:

về mặt ngữ dụng thì chúng ta có thể đoán ra “khu Đông Lỗ Trấn” nằm trong LỗTrấn, thì phần trước và phần sau của câu “c.” sẽ mâu thuẫn lẫn nhau, mặc dùxét theo ngữ pháp thì câu này chẳng có vấn đề gì, nói cách khác, trong hai cụn

từ “Lỗ Trấn” hay “khu Đông Lỗ Trấn” không hợp với ngữ cảnh cả câu

b) Loại hình của phủ định ngữ dụng

Phủ định ngữ dụng trong tiếng Hán đa dạng và phong phú, đồng thời tỷ lệ

sử dụng cũng khá cao về mặt tu từ, nói chung, các loại hình phủ định ngữ dụngcũng chiếm một phần quan trọng trong cấu trúc câu phủ định

b1) Phủ định giả thiết

Phủ định giả thiết chỉ có thể xuất hiện ở trong ứng dụng ngôn ngữ, nó dựa

Trang 37

vào ngữ cảch giao tiếp mà tồn tại Ngữ cảnh đã cung cấp thông tin giả thiết chocách biểu đạt nội dung của người nói

Trương Nghị Sinh [53] cho rằng, trong tiếng Hán hiện đại, có hai cách phủđịnh câu tường thuật: cách thứ nhất là phủ định mệnh đề, còn cách thứ hai làphủ định giả thiết Trong đó đối tượng phủ định của phủ định giả thiết khôngphải mệnh đề đó, mà là những nội dung mà người nói và người nghe cùng biết

“他们骂得更厉害(họ lại càng mắng mỏ hơn)”, vì vậy giả thiết “tôi mặc đồtây” là không tồn tại,và sự phủ định này là phủ định giả thiết

Nói chung, phủ định ngữ dụng về mặt giả thiết so với phủ định chung vềmặt giả thiết có sự khác nhau ít nhiều: khi dùng phủ định chung để phủ định giảthiết trong câu, sẽ tăng cường mức độ phủ định những nội dung cần phủ định

và nó chú trọng thực chất của nội dung; còn sau khi tiến hành phủ định ngữdụng về mặt giả thiết, thực chất là mang nghĩa chỉnh sửa thông tin, làm thay đổinòng cốt câu không phải là phủ định nội dung đang nói, mà là khẳng định nộidung phần câu sau, đó mới là nội dung quan trọng cần lưu ý

b.2) Phủ định hàm ý của nội dung giao tiếp

Trong một cuộc giao tiếp, khi một lời nói không được chấp nhận, người tadùng câu phủ định để trình bày thái độ này, trong đó từ phủ định ở trong câu sẽ

có chức năng phủ định về nội dung toàn câu chứ không chỉ phủ định về cụm từnào Ví dụ:

(48)“什么清白?我前天亲眼见你偷了何家的书,吊着打。”孔乙己便涨红了脸,额上的青筋条条绽出,争辩道,“窃书不能算偷……窃书!…

…读书人的事,能算偷么?”

Dịch: "Chính mắt tôi đây hôm kia thấy ông ăn trộm sách nhà họ Hà, bị

treo lên đánh, còn bôi nhọ gì nữa ?" Khổng ất Kỷ bèn đỏ mặt, gân xanh trên

trán nổi lên từng sợi, cãi lại rằng: "Lấy cắp sách không thể kể là ăn trộm

được Lấy cắp sách! ấy là việc của người đọc sách, thế nào kể là ăn trộm

được ?" [110]

Trang 38

Ở ví dụ trên “ăn trộm” là sự thật nhưng ở phần đối thoại sau lại phủ địnhhành vi “ăn trộm”, thì cụm từ phủ định “不能算(không thể kể là)” đã phủ địnhnội dung chủ yếu của toàn phần câu “偷了何家的书(ăn trộm sách nhà họ Hà)”.b.3) Phủ định nòng cốt của nội dung giao tiếp

Một câu thường có một nòng cốt để diễn đạt ý chính Trong giao tiếp, nếungười nói có thắc mắc về phần câu người đối thoại vừa mới nêu ra, thì có thểdùng phủ định ngữ dụng phản bác lại, tức là phủ định nòng cốt câu Ví dụ: (49)“阿 Q,这不是儿子打老子,是人打畜生。自己说:人打畜生!”

Dịch: A Q nè, đây không phải là con đánh cha đâu, mà là người ta đánh

súc vật Hãy nói người ta đánh súc vật đi! [105]

Ở trong ví dụ trên, từ “打(đánh)” là nòng cốt câu, phần trước là “儿子打

老子(con đánh cha)” và phần sau là “人打畜生(người đánh súc vật)”, theo nộidung của truyện ngắn này, khi A.Q bị bắt nạt thì hắn nghĩ rằng đó là “con đánhcha”, nhưng thực chất mọi người đều coi việc đánh A.Q là “ người đánh súcvật”, thì ở đây sự phủ định nòng cốt tuy đều là từ “đánh”, nhưng thực chất lạikhác về kiểu tư duy và hành động của nhân vật trong truyện

b.4) Phủ định ý nghĩa xã hội

Một số từ có hai loại nghĩa biểu hiện, thứ nhất là nghĩa khái niệm nguyêngốc của nó, thứ hai là nghĩa liên tưởng, trong đó nghĩa xã hội là một trongnhững nghĩa liên tưởng của từ Để phủ định nghĩa liên tưởng xã hội của từ đó,người ta thường dùng kiểu phủ định nghĩa xã hội thể hiện Ví dụ:

(50)我不是老爷,我是迅哥。

Dịch: Tôi không phải là ông lão, tôi là anh Tấn [109]

Ví dụ trên, “老爷(ông lão)” mang nghĩa xã hội trong cơ chế cũ là người có

uy vọng quyền lực, nhưng “迅哥(anh Tấn)” chỉ là một tên người bình thường,nhưng thực chất “老爷(ông lão)” với “迅哥(anh Tấn)” là cùng một người Vậythì dùng cách phủ định này có thể phủ định luôn tính xã hội khiến anh ấy thânthiện hơn vì lúc này anh ấy là người thường mang tên “迅哥(anh Tấn)”

2.2.3 Sự phân bố của các từ phủ định trong tiếng Hán hiện đại

Trong phần này, chúng tôi chủ yếu khảo sát cấu trúc phủ định của ba từphủ định “不” “没” “别”, ở phần cuối chúng tôi sẽ trình bày và phân tích thêmnhững từ phủ định khác trong tiếng Hán

2.2.3.1 Những từ phủ định chủ yếu trong tiếng Hán

Từ phủ định ở trong tiếng Hán cũng có thể gọi là phó từ phủ định, theo

các công trình nghiên cứu như Tóm tắt ngữ pháp tiếng Hán (《汉语语法纲要》)

Trang 39

của Vương Lực, Cách tu từ ngữ pháp (《语法修辞讲话》) của Lã Thúc Tương, Chu Đức Hy và những giáo trình dạy bậc đại học Tiếng Hán hiện đại (《现代汉语》) v.v đều cho các từ phủ định thuộc về phó từ Ngoài ra, những công trình

nghiên cứu này cũng thống kê ra một số từ phủ định từ xưa đến nay đã sử dụngtrong tiếng Hán, như “不,没,别,甭,休,莫,非,勿,未,白徒,虚,枉,空” v.v… trong đó chỉ có ba từ “不,没,别” thường dùng nhất và chúngcũng là từ phủ định chủ yếu ở trong tiếng Hán từ xưa đến nay

Trang 40

STT Tên truyện

(tác giả)

Số lần xuất hiện

từ phủ định mangnghĩa phủ định

0(0%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

0(0%)

6 Bóng ánh sau lưng

cửa bố(Chu Tự Thanh)

(92,9%)

2(7,1%)

0(0%)

0(0%)

4(6,5%)

0(%)

1(7,1%)Ngoài ra, chúng tôi còn thống kê thêm 20 bài văn của hai tác giả Lỗ Tấn

và Chu Tự Thanh, những bài văn gồm: Lỗ Tấn ( Cái gia đình có hạnh phúc,Chúc phước, Chuyện cái đầu tóc, Con diều, Một việc nhỏ, Ngày mai, Người côđộc, Ối tình ôi, Sóng gió, Thuốc v.v ) và Chu Tự Thanh ( Một bức thư, Lời mởđầu, Phụ nữ, Hoa mai, Tiếng hát, Xuân, Vội vàng, Văn minh trên thuyền, Dấuvết Ôn Châu, Giải mộng v.v ) Thì từ bảng thống kê chúng ta có thể thấy mộtcách dễ dàng, từ phủ định “不” ở trong tắc phẩm văn học của hai nhà văn Lỗ

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w