Hàng loạt các nghiên cứu đã được thực hiện như: Thông điệp truyên thông vê' đổng tính luyến ái trên báo in và báo mạng IS E E , 2009, Khó khăn và thách thức trong quá trình khẳng định xu
Trang 1LÝ THUYẾT MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BẢN DẠNG ĐỐNG TÍNH
VÉ NGƯỜI ĐÓNG TÍNH
Lê Thị Mai Trang'
1 Dần nhập
ở Việt Narrựheo ước tính; số lượng ngiíời đổng tính và song tính trong độ tuổi 15-59 rơi vào khoảng 1,65 triệu người - chiếm 3% tổng dân số cả n ư ớ c (lS E E , 2012) Như vậy,
cứ 100 người thì có 3-5 người là người đổng tính.Vể mặt luật pháp, mặc dù chưa thừa nhận hôn nhân cùng giới nhưng quan hệ đồng tính ở Việt Nam không bị tội phạm hóa (U N D P , 2014) Dựa trên các bằng chứng khoa học, đổng tính cũng đả được Hiệp hội
T â m lý học M ỹ loại khỏi danh sách các bệnh rối loạn tâm thần từ năm 1973 (A PA ,
2 0 1 3 ).T u y nhiên, sự kỹ thị với nhóm thiểu số tính dục này vản rất phổ biến trong xã hội
V iệt Nam Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy: 87% khách thể nghiên cứu vẫn hiểu sai (ít hoặc nhiểu) vể người đổng tính (Nguyễn T h u Nam, 2012) và chỉ có 33.7% người dần V iệt Nam ủng hộ người đổng tính kết hôn (Đặng Nguyên Anh, 2013) Chính thái
độ tiêu cực này khiến cho cộng đổng người đổng tính gặp rất nhiéu bất lợi trong cuộc sống, khiến họ trở thành một nhóm yếu thế trong xã hội (Nguyễn Tuấn A nh và Lê T h ị
M ai Trang; 2014)
Chiếm tỷ lệ nhất định trong cấu trúc dân số, nhưng người đồng tính vẫn là nhóm
xã hội ấn chứa nhiếu bí ẩn và chưa nhận được nhiều sự quan tâm của giới học thuật Cho đến cuối năm 2009, vẫn còn rất ít các nghiên cứu về người đồng tính ở Việt Nam
N hóm thiểu số tính dục này hầu hết chỉ được nhắc đến rải rác trong một số nghiên cứu
Trang 28 3 6 Lê Thị Mai Trang
liên quan đến H I V và hành vi tình dục của người đồng tính nam (M S M : men have sex
w ith m en ) Có thể kể đến các nghiên cứu như Tổng quan về nhóm M S M ở Việt Nam
(D on n C o lb y và S erg e Doussantousse, 2004) hay công trình Đ ối m ặt với sự thật - Tình dục đồng giới nam và H IV / A ID S ở Việt N a m (V ũ Ngọc Bảo và Philippe Girault, 2005)
C h ỉ từ sau năm 2009, cùng với sự phát triển của các phong trào đấu tranh vì quyển của người đổng tính do các tổ chức xã hội dân sự phát động, số lượng các nghiên cứu vể chủ đề đồng tính có xu hướng gia tăng (Nguyễn Tu ấn Anh và L ê T h ị M ai Trang, 2014) Hàng loạt các nghiên cứu đã được thực hiện như: Thông điệp truyên thông vê' đổng tính luyến ái trên báo in và báo mạng (IS E E , 2009), Khó khăn và thách thức trong quá trình khẳng định xu hướng tình dục của đồng tính nữ tại một số tỉnh miên Bắc V iệt Nam (L ê Hồng Giang và cộng sự, 2 0 0 9 ), Sống trong một xã hội dị tính: câu chuyện từ 40 người nữ yêu nữ (N guyẽn Q uỳnh T ran g và cộng sự, 2010), K ỳ thị và phân biệt đối x ử của nhân viên y tế qua cung cấp ảịch vụ y tế cho nam quan hệ tình dục đống giới ( IS E E , 2011),
Nghiên cứu trực tuyến vê'kì thị, phân biệt đối xử và bạo lực vớ: người đổng tính, song tính và chuyển giới tại trườnghọc (C C IH P , 2012), Khảo sát thăm dòýkỉến của người dân vẽhôn nhân cùng giới (Đ ặng Nguyên A n h, 2013)
C ác nghiên cứu trên đã phần nào phác họa cuộc sống của người đồng tính ở
V iệ t N am : H ọ là ai? M ối quan hệ của họ với bạn bè, gia đình, đổng nghiệp và cộng đồng như thế nào? Những khó khănvà trải nghiệm của họ về sự kì thị, phân biệt đối xử?
X ã hội nhìn nhận như thế nào vể người đổng tính? Các nghiên cứu đã khẳng định sự tổn tại của người đổng tính cũng như muôn vàn khó khăn mà họ gặp phải T u y nhiên,
số lượng nghiên cứu vẫn còn hạn chế so với các để tài liên quan tới các nhóm yếu thế khác Đ iểu này khiến các học giả, nhà nghiên cứu, N C S , học viên cao học, sinh viên và những người quan tâm gặp nhiểu khó khăn trong quá trình tìm kiếm thông tin, tài liệu liên quan đến người đổng tính ở Việt Nam Đặc biệt, rất ít nghiên cứu chú trọng tới việc ứng dụng các lý thuyết liên quan đến người đồng tính để phân tích đặc điểm tâm lý, hành vi và nhu cẩu đặc thù của họ N ó i cách khác, mặc dù các lý thuyết và mô hình vể người đông tính được biết đến và ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu quốc tế; ở
V iệ t N am , các lý thuyết này còn rất xa lạ và ít được biết tới
Tro n g bối cảnh này, việc hệ thống hóa và giới thiệu các lý thuyết vế người đồng tính là yêu cầu cấp thiết, nhằm hỗ trợ người làm nghiên cứu xây dựng nến tảng lý luận khoa học có cơ sở cho các nghiên cứu thuộc mảng để tài đổng tính Bài viết dưới đầy đi sâu
Trang 3LÝ THUYẾT MÕ HÌNH PHÁT TRIỂN BẢN DANG ĐỐNG TÍNH CỦA 8 3 7
phân tích lý thuyết mô hình phát triển bản dạng đồng tính (Hom osexual Iđentity
M odel) của Vivience Cass - một lý thuyết được đánh giá là tiêu biểu và có tẩm ảnh hưởng nhất trong hệ thống các lý thuyết về người đổng tính
2 Lý thuyết m ô hình phát triển bản dạng đồng tính
Vivience Cass là nhà tầm lỷ học và tình dục học người ú c Bà nổi tiếng các nghiên cứu liên quan đến hành vi tình dục của con người, trong đó, được biết tới nhiều nhất là M ô hình phát triển bản dạng đổng tính (Homosexual Identity M odel) Thuật ngữ bản dạng đổng tính
được một số nhà nghiên cứu giới thiệu từ đấu những năm 1970 như Bell (1973), Weinberg
(1974), Warren ( 1974) nhưng chỉ đến khi xuất hiện trong M ô hình của Cass ( 1979) thì
thuật ngữ này mới được biết đến rộng rãi Bản dạng đổng tính là sự tự ý thức của cá nhân về
xu hướng tình dục đổng giới và cách thê’ hiện xu hướng tình dục đó ra bên ngoài Cho đến nay, lý thuyết mô hình phát triển bản dạng đồng tính của Vivience Cass vẫn được đánh giá
là lý thuyết có ảnh hưởng và được sử dụng rộng rãi nhất trong các nghiên cứu vể người đổng
tính trên toàn thế giới (Brent L Bilodeau và cộng sự, 2005)
Trong mô hình phát triển bản dạng đồng tính của Cass, bà mô tả đặc điểm tâm lý và hành vi của người đồng tính từ khi phát hiện xu hướng tình dục của mình cho đến khi công khai với mọi người Mô hình này được áp dụng cho cả người đồng tính nam và đổng tính
nữ Theo Cass, mỗi người đổng tính thường phải trải qua 6 giai đoạn đặc thù đê’ có thề phát
triển bản dạng đổng tính một cách đầy đủ và toàn diện nhất (Vivience Cass, 1979).
Bảng 1: Mô hình phát triển bản dạng đồng tính của Vivience Cass
Trang 48 3 8 Lê Thị Mai Trang
1 / Giai đoạn bối rối: Người đồng tính bắt đấu có những cảm nhận đầu tiên vể xu hướng tình dục “khác biệt” của mình Họ cảm thấy bị thu hút vể mặt tình cảm và có ham muốn tình dục với người cùng giới K h i nhận thấy điều này, họ ngạc nhiên, phân vân và cảm thấy hỗn loạn với cảm xúc phức tạp của mình Họ không muốn tin rằng mình là người đổng tính H ọ tìm mọi cách chối bỏ, phủ nhận bằng việc cố ép bản thân yêu người khác giới; tránh tìm đọc thông tin về người đồng tính Một số người trong giai đoạn bối rối thậm chí có thái độ dè bỉu, kì thị người đồng tính
2/ Giai đoạn so sánh: Cá nhân dần chấp nhận việc mình là người đồng tính T u y nhiên,
họ vẫn chưa quen với ý nghĩ này và vẫn có những so sánh, nuối tiếc nhất định giữa việc
“là người đổng tính” và “là người dị tính” Người đồng tính trong giai đoạn so sánh thường cảm thấy cô đơn và thất vọng về bản thân mình V ì thế, họ tự cô lập, sống tách biệt với mọi người
3 / Giai đoạn dung nạp: Tro ng giai đoạn nàyj người đồng tính cởi mở hơn trong việc chấp nhận xu hướng tinh dục đồng giới của mình H ọ chủ động tiếp cận các thông tin liên quan đến đồng tính, tìm đọc tài liệu, tham gia vào các diễn dàn Người đồng tính ở giai đoạn dung nạp cũng bắt đầu tìm kiếm những người bạn đóng đẳng, những người có cùng xu hướng tình dục thiểu số giống họ Họ cảm thấy bớt cô đơn và lạc lõng vì nhận
ra rằng "mình khôngphài là người duy tihăt".
A /G ia i đoạn thừa nhận: Người đồng tính chấp nhận xu hướng tình dục của mình một cách tích cực hơn, không còn thái độ tiêu cực và tâm lý bẫt hạnh như trước T h a y vì nghĩ “mình bị đổng tính”, họ tự nhủ với bản thân: “ mình là người đổng tính và mình sẽ ổn
thôi". Họ hạn chế dẩn sự tương tác với người dị tính, thay vào đó, tăng cường sự giao tiếp với người đổng tính Họ tìm cách "hòa nhập" với cộng đồng thiểu số tính dục, cảm thấy thoải mái hơn khi xuất hiện ở nơi công cộng vớí nhóm người đồng tính Trong giai đoạn này, người đổng tính có thể công khai xu hướng tình dục của mình với một số đối tượng thân thiết có chọn lọc V ì vậv, họ bắt đầu có những trải nghiệm đầu tiên về việc bị phân biệt đối xử và kỳ thị
s / Giai đoạn tự hào: M ong muốn được lộ diện, công khai xu hướng tình dục cùa người đồng tính trở nên mạnh mẽ Họ tự hào vì mình là người đồng tính, vì sự "khác biệt" của mình Họ chia thế giới thành hai phẩn riêng biệt: '‘đổng tính” và ",không đống tính". Bởi những trải nghiệm từ sự ki thị và phân biệt đổi xử đến từ xã hội, một số người đồng tính có thê’ có thái độ tiêu cực với người dị tính như: tức giận và căm ghét
Trang 5LÝ THUYẾT MÕ HÌNH PHÁT TRIỂN BẢN DANG ĐỔNG TÍNH CÙA 83 9
người dị tính, cho rằng người dị tính là xấu xa, thiến cận Những người đổng tính ở giai đoạn tự hào có xu hướng tự hào quá vế bản thân mình Ho gia tăng sự tương tác với cộng đồng đổng tính, hạn chế đến mức tối đa sự kết nối xã hội vớ i người dị tính
ố / G iai đoạn hòa nhập: G iai đoạn này đánh dẩu sự cân bằng trở lại của người đổng tính H ọ bớt đi cảm xúc thù địch, trở nên khoan dung hơn, gia tãng sự hợp tác và tương tác với người dị tính K h i bước vào giai đoạn hòa nhập, người đồng tính thường cởi mở
và công khai xu hướng tình dục với những người xung quanh (gia đình; bạn bè; đồng nghiệp ) V ấn đề mà người đồng tính gặp ở giai đoạn hòa nhập cũng giống như bất kỳ người dị tính nào khác: Công việc của tôi có ổn định không? Gia đình tôi có hạnh phúc không? L à m thế nào để tôi có thể tìm người yêu, kết hôn và có con?
Các giai đoạn được Vivienne Cass trình bày theo dạng nối tiếp sáu bước, và chỉ khi hoàn thành một giai đoạn thì người đồng tính mới chuyển sang các giai đoạn tiếp theo Theo Cass, nếu dừng lại ở một giai đoạn, người đồng tính sẽ bị “ mắc kẹt” trong giai doạn đó và không thể phát triển bản dạng lên mủc cao hơn Cass cũng cho rằng; giai
đoạn 6 khó để đạt đến; nhưng là mục tiêu mà người đống tỉnh Ị uốn hướng tới để có một
bản dạng “khỏe mạnh” (Vivience Cass, 1979).
Mô hình của Cass không phải là mô hình đầu tiên dề cập đến sự phát triển bản dạng của người đổng tính.Trư ớc và sau Cass, đã có một số nhà nghiên cứu xây dựng mô hình vể sự phát triển bản dạng của nhóm thiểu số tính dục này 'B e ll, 1973; Weinberg và
W illiam s, 1974; W arren, 1974; D ’Augelli, 1994).Tuy nhiên, chỉ đến khi mô hình của Cass được đưa ra, thuật ngữ bản dạng đổng tính mới được quan tâm và ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu vể người đồng tính trên toàn thế giỏi (B ren t L Bilodeau và cộng sự, 2005) Đáng chú ý, mô hình này lý giải đặc điểm tâm lý và hành vi của người đổng tính, nhưng không phải là tâm lý và hành vi nói chung, mà gắn liền với quá trình
“lộ diện” (thuật ngữ gốc trong tiếng Anh là “come-out”, trong một số tài liệu được dịch
là “công khai”) Đ ây là một quá trình đặc thù và rất quan trong trong đời sống của các
nhóm thiểu số tính dục (M orrow & Messinger, 2006) Theo Sha.llenberger( 1996:204),
lộ diện bao gồm quá trình tự nhận thức và tự chấp nhận bản thản như một người đổng tính
chứ không chi nói riêng quá trình công khai xu hướng tình dục I ổi người khác. V ì thế, mô
hình phát triển bản dạng đồng tính của Cass đôi khi còn được gọi là mô hình các bước
lộ diện (M o rro w & Messinger, 2006), bắt đầu khi người đong tính tự lộ diện với bản thân cho đến khi lộ diện công khai với xã hội
Trang 68 4 0 Lẽ Thị Mai Trang
T ự lộ diện với bản thân là giai đoạn khó khăn nhất trong trong quá trình xây dựng bản dạng tích cực Trong mô hình của Cass, người đồng tính phải trải qua 4 giai đoạn tự
lộ diện (bối rối, so sánh, dung nạp và thừa nhận) trước khi hoàn toàn chấp nhận bản dạng đổng tính của mình Quá trình lộ diện công khai gắn liền với 2 giai đoạn sau (tự hào v.'à hòa nhập), người đồng tính lúc này phải đối phó với những rủi ro và nguy cơ bị kì thịị, phân biệt đối xử và bạo lực Cầu hỏi đặt ra là, tại sao người đồng tính phải lộ diện? Theo Rust (2003:227), quá trình này rất cần thiết đối với người đổng tính khi họ sóng trong xả hội độc tôn dị tính, nơi mà người đổng tính từ khi sinh ra đã nghiễm nhiên bị gán với bản dạng dị tính Nếu không lộ diện thì họ phải sống với bản dạng “giả” của mình, luôn phải giấu giếm, giữ bí mật hoặc sống cuộc đời hai mặt (giả vờ yêu người dị tính) Lộ diện giúp
người đống tính được sống thật với bản thần mình, giảm cảm giác cô đơn và kết nối được
với những người đồng tính xung quanh Lộ diện giúp người đổng tính có một cuộc sống trọn vẹn và đúng nghĩa hơn V ì vậy, khi phân tích và ứng dụng lý thuyết mô hình phát
triển bản dạng đổng tính của Cass, cần nhận thức được rằng IĨ1Ô hình nàỵgắn liền với một
quá trình rất đặc thù của người đổng tính - quá trinh lộ diện Không thê’ tách rời đặc điểm hành vi và tâm lý của người đồng tính ra khỏi quá trình lộ diện
3 ứng dụng lý thuyết trong nghiên cứu về người đồng tính
L ý thuyết mô hình phát triển bản dạng đổng tính được ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn (Brent L Bilodeau và cộng sự, 2005) L ý thuyết này giúp người làm nghiên cứu dự đoán và phân tích đặc điểm tâm lý và hành vi đặc thù của người đồng tính Tro n g bối cảnh các tài liệu và thông tin vể người đồng tính V iệt Nam còn nhiểu hạn chế, đầy là lý thuyết có vai trò quan trọng, giúp các nhà nghiên xây dựng nển tảng khoa học có cơ sở cho các nghiên cứu thuộc mảng để tài này
Đáng chú ý, lý thuyết mô hình của Cass được đánh giá là rất phù hợp với các nghiên cứu thuộc lĩnh vực công tác xã hội (Denise, 2009) Công tác xã hội ( C T X H ) là một nghể, một hoạt động chuyên môn, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người Đồng thời; C T X H cũng là một ngành khoa học với hệ thống lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu đặc thù của ngành (N A SW , 1999) Trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực C T X H với người đổng tính, mô hình phát triển bản dạng đồng tính của Cass được sử dụng như một cồng cụ thay thế cho mô hình bậc thang nhu cầu của M aslow khi tìm hiếu vể nhu cẩu của người đổng tính L ý thuyết nhu cầu của M aslow phân tích những nhu cầu mà cả người dị tính và ngưòi đổng tính
Trang 7LÝ THUYẾT MỒ HÌNH PHÁT TRIỂN BẢN DANG ĐÓNG TINH C U A 8 4 1
đểu có; ví dụ như nhu cầu thê’ lý (ăn, uống, tình d ụ c ), nhu cấu an toàn cho đến những nhu cầu ở bậc cao hơn như nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu phát triển (Richard Schott, 1992) Trong khi đó với mô hình cua Cass đi kèm với 6 giai đoạn phát triển bản dạng đồng tính là các nhu cầu đặc thù - những nhu cầu mà chi người đồng tính mới có Đáng chú ý, các nhu cầu này gắn liến với hệ thống dịch vụ hỗ trợ do ngành C T X H cung cấp Đ ể làm rõ vấn đé này, bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu của
đề tài "Nhu cầu và mức độ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ của người đổng tính nữ ở H ả N ội từ
góc nhìn của công tác xã hội" - được thực hiện trên cơ sở khảosát Online với 109 người đổng tính nữ hiện đang sinh sống tại Hà N ội, kết hợp với phỏng vấn sâu 5 người sử dụng dịch vụ và 5 người cung cấp dịch vụ C T X H cho người đồng tính nữ1 Kết quả nghiên cứu cho thấy, người đổng tính nữ có nhu cầu với các dịch vụ hỗ trợ C T X H , gắn liền với từng giai đoạn phát triển bản dạng theo mô hình của Vivience Cass như sau:
Bâng 1 Nhu cầu về các dịch vụ công tác xã hội cùa người đồng tính nữ (%)
Dịch vụ hỗ trự Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết Tống
Hỗ trợ kết nối với cộng đồng
người đồng tính - song tính và
chuyển giới
Hỗ trợ cho cha mẹ và người thân 64.22% 33.94% 1.83% 100%
T ừ kết quả khảo sát ở bảng 1 cho thấy, tư vấn - hỗ trợ tâm lỹ là dịch vụ được người đổng tính nữ quan tâm hơn cả Điểu này phù hợp với những phân tích của Vivience vể đặc điểm và nhu cầu của người đổng tính trong giai đoạn: ( ỉ ) Giai đoạn bối rối và giai đoạn (2 ) Giai đoạn so sánh. Giai đoạn bối rối là khoảng thời gian mà người đổng tính gặp nhiều rối loạn vé tâm lý vì bắt đầu cảm nhận xu hướng tình dục “khác lạ” của mình, họ có nhiều hành vi phủ nhận và
1 T ê n c ủ a tất c à n h ữ n g n g ư ờ i c u n g c á p th ỏ n g t in / n h ữ n g n g ư ờ i d ư ợ c p h ỏ n g v ấ n m à c h ú n g tô i để cậ p đ ến tro n g b ài
Trang 88 4 2 Lê Thị Mai Trang
chối bỏ mang tính tiêu cực Người đồng tính trong giai đoạn này có nhu cầu được tiếp cận các nguồn thông tin chính thống và tài liệu phù hợp về chủ đề đổng tính; giúp họ hiểu rõ xu hướng tình dục và nhận diện bản dạng của mình Họ cũng rất cần được tư vấn
- tham vấn tâm lý đê’ giải tỏa cảm giác hoang mang, bối rối, hỗn loạn Trong khi đó, ở giai đoạn so sánh, đặc điểm nổi bật củangười đồng tính là cảm giác cô đơn, thất vọng về bản thần Họ tự cô lập, sống tách biệt hoặc có ý định tự tử để tìm cách giải thoát.Người đổng tính lúc này rất cấn nhận được sự tư vấn - tham vấn tâm lý phù hợp đê’ giải tỏa cảm giác thất vọng, tránh những hành vi tiêu cực N hư vậy, ở cả 2 giai đoạn đẩu trong mô hình phát triển bản dạng của Vivience Cass, nhu cầu tham vấn - tư vấn tâm lý là nhu cầu lớn nhầt của người đồng tính Kết quả khảo sát đã khẳng định điều này khi có tới 75.23% người trả lời đánh giá dịch vụ này là rất cắn thiết, chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các dịch vụ công tác
xã hội được đề cập đến trong nghiên cứu
D ịch vụ C T X H tiếp theo nhận được nhiều sự quan tâm của người đồng tính nữ tham gia khảo sát là dịch vụ kết nối cộng đổng (64.22% ) Theo mô hình phát triển bản dạng đồng tính của Vivience Cass, dịch vụ này gắn liền với giai đoạn: (3 ) Giai đoạn dung nạp. Người đồng tính dần chấp nhận xu hướng tình dục đông giới và bắt đẩu tìm kiếm những người đổng đẳng giống mình N hu cẳu nổi bật trong giai đoạn này là được tham gia, kết nối, tiếp cận với những nhóm đồng tính trong cộng đồng nơi họ đang sinh sống V iệc tham gia các nhóm đồng đẳng giúp họ vơi bớt cảm giác cô đơn, lạc lõng trong xã hội độc tôn dị tính
Trong giai đoạn ( 4 ) G iai đoạn thừa nhận, nhu cầu của người đồng tính nữ gắn liền với dịch vụ nâng cao năng lực với một bộ phận lớn khách thế đánh giá dịch vụ rất cấn thiết (39.45% ) và cần thiết (56.88% ).Th e o lý thuyết của Cass, ở giai đoạn này, người đồng tính nhìn nhận vấn để của m ình một cách tích cực hơn H ọ bắt đấu mong muốn công khai, lộ diện xu hướng tình dục của mình với một số đối tượng thân thiết như gia đình, bạn bè V ì thế, người đổng tính có nhu cầu được nâng cao năng lực để có thế xây dựng kế hoạch lộ diện một cách hơp lý (C huẩn bị công khai như thê' nào? Các bước công khai? Các nguy cơ cẩn lường trước?), có khả năng ứng phó, xử lý các tình huống kỳ thị và phân biệt đối xử đến từ việc công khai của họ
Kết quả khảo sát từ nghiên cứu củng chỉ ra những nhu cẩu đặc thù của người đồng tính nữ trong giai đoạn (6 ) G iai đoạn hòa nhập. T ro ng giai đoạn này, mô hình của Cass
có sự giao thoa với mô hình của Maslow Số liệu khảo sát cho thấy, ngoài các nhóm dịch
vụ ở trên, người đồng tính nữ có nhu cầu với các dịch vụ vận động chính sách (56.88% ),
Trang 9LÝ THUYẾT MÕ HÌNH PHÁT TRIỂN BẢN DẠNG ĐỐNG TÍNH CỦA 8 4 3
hỗ trự việc làm (53.21% ), chăm sóc sức khỏe (40.37%)và hỗ trựvà tư vấn pháp lý (35.78% )
N hư vậy, nhu cầu của người đổng tính trở nên dung hòa, củng giống như nhu cầu của bất kỳ người dị tính khác Có chăng, vì sự kì thị và phân biệt đổi xử đến từ xã hội khiến những nhu cầu cơ bản của họ như có công ăn việc làm, được bảo vệ, được chăm sóc ỵ tế, được tôn trọng và phát triển khó được đáp ứng như người dì tinh V ì vậy, mong muốn lớn nhất của người đồng tính là nhận được sự thừa nhận từ pháp luật và cộng đổng, sự
hỗ trợ từ các dịch vụ xã hội đê’ đảm bảo cuộc sống và sự an toàn của họ
Riêng với giai đoạn ( s ) G ia i đoạn tự hào, nghiên cứu chưa đi sâu khảo sát và phân tích nhu cẩu đặc thù của người đồng tính nữ trong giai đoạn này T u y nhiên, từ các phỏng vấn sâu thực hiện với nhản viên C T X H cho thấy: do tự hào thái quá vê' xu hướng tình dục “khác biệt” của m ình nên một số người đổng tính nữ có thể có thái độ tiêu cực
và nhạy cảm thái quá với nhân viên C T X H là người dị tính:
"H ổi mới bắt đâu làm cùng các bạn ấy, mình đôi lẩn vồ ý nói là "người bị đồng tính" và
"người bình thường".Các bạn tỏ thái độ rất khó chịu Nói thật là mình không hể cố ý, chỉ do
quen miệng mà thôi Nhưng cái này cũng không trách (ác bẹn lỉựỵc lặị cũng do mình chưa
chú ý khi giao tiếp Ngoài ra, một sổ bạn khác thì tỏ ỷ xem thường mình vì cho rằng mình không hiểu nhiều về cộng đồng đổng tính bâng các bạn" (Nhân viên C T X H 28 tu ổ i).1
Quá nhạy cảm khi tương tác với người dị tính là một trong những vấn đề được Vivience Cass để cập đến trong giai đoạn tự hào của người đổng t'n h T ừ sự tự hào thái quá,
họ có thê’ có hành vi căm ghét người dị tính và hạn chế tối đa sự tương tác xã hội với người
dị tính Trong giai đoạn này, người đồng tính rất cần được hỗ trơ, tham vấn tâm lý đê’ giải tỏa cảm giác tức giận, thù địch và chống đối cộng dồng dị tính, từ đó lấy lại được sự cân bằng ở bản thân để có thê’ tiến tới giai đoạn hòa nhập một cách ốn định nhất
4 Kết luận
Mặc dù được ứng dụng rộng rãi và được thừa nhận trong rất nhiều nghiên cứu, nhưng
mô hình phát triển bản dạng đổng tính của Cass vẫn còn mộ t số hạn chế, cụ thê’ như sau:
Thứ nhất, Cass cho rằng các giai đoạn phải diễn ra theo thứ tự và không có hiện tượng nhảy cóc Đ ây là nguyên nhân chính khiến mô hình của bà gặp nhiều chỉ trích Trong thực
tế, không phải người đồng tính nào cũng trải qua cả sáu giai đoạn Degges-White, Rice,
Trang 108 4 4 Lẽ Thị Mai Trang
và Myers ( 2000) đã kiểm tra mô hình của Cass và thấy rằng người đổng tính nư không
nhất thiết phải đi qua tất cả các giai đoạn theo đúng trật tự Họ có thể bỏ qua, quay ngược hoặc dừng ở một giai đoạn nào đó trong suốt cuộc đời của mình
T h ứ hai, một điểm hạn chế nữa của lý thuyết là không tính tới sự khác biệt về giới tính, dân tộc, nghế nghiệp và những đặc điểm khác có thể ảnh hưởng tới bản dạng đồng tính của một người Trong khi:
"Các bắn dạng không tách rời mà đan xen với nhau Bản dạng đổng tính của một người có
sự đan xen với bản dạng giới, bản dạng tôn giáo, bản dạng chủng tộc và những bản dạng khác
K hi có sự biến đổi ở một bản dạng thì những bản dạng khác củng bị ảnh hưởng' (Rust, 2003:232).
Như vậy, bản dạng đông tính có mối quan hệ tương tác và chịu ảnh hưởng bởi các bản dạng khác tổn tại trong cùng một con người T u y nhiên, ảnh hưởng này khòng hề được nhắc đến trong mô hình của Cass Mô hình được dùng chung cho cả người đống tính nam
và người đổng tính nữ mà không tính đến sự khác biệt về giới và giới tính Trong khi, thực tế cho thấy, trải nghiệm về sự phát triển bản dạng của đồng tính nam và đóng tính nữ có sự
khác biệt Gonsiorek ( 1995) phát hiện ra rằng sự phát triển bản dạng đồng tính ở người
đông tính nam diẻn ra đột ngột hơn, rõ ràng hơn nhưng lại mang tính phù định nhiều hơn Còn với người đồng tính nữ, họ thường mơ hồ và hay nhảy cóc giữa các giai đoạn
T h ứ ba, không chi mô hình của Cass mà đa phẩn các mô hình phát triển bản dạng
đồng tính khác đểu bị chỉ trích vì tính rập khuôn Rust ( 2003) cho rằng các mô hình tạo
nên khuôn mẫu và định kiến khi đánh giá về sự phát triển bản dạng của người đồng tính
L ý thuyết của Cass cho rằng các giai đoạn là cẩn thiết đê’ xây dựng một bản dạng đồng tính khỏe mạnh, và giai đoạn 6 được hướng tới như một mục tiêu của mô hình Do dó, với những người đồng tính không trải qua cả 6 giai đoạn, hoặc khòng đi đến giai đoạn cuối cùng, họ có thề bị đánh giá là chưa phát triển bản dạng một cách đấy đủ và tích cực
N hư vậy, lý thuyết mô hình phát triển bản dạng đổng tính của Cass khỏng chỉ được ứng dụng đế dự báo đặc điểm tâm lý và hành vi của người dông tính, mà còn có thể được sử dụng đế phân tích nhu cáu của họ về các dịch vụ C T X H T u y nhiên, trong quá trình áp dụng lý thuyết vào nghiên cứu, cần chú ý một số điểm như sau:
T h ứ nhất, không nên áp dụng lý thuyết một cách rập khuôn, máy móc Người làm nghiên cứu cẩn nhận thức được tính cá biệt của từng trường hợp Ngưòi đổng tính không nhất thiết phải trải qua cả sáu giai đoạn hoặc tuân thủ các giai đoạn theo trật tự