1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP CHO CỔ PHẦN HOÁ NHTM NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

19 243 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải pháp cho cổ phần hóa NHTM nhà nước ở Việt Nam
Chuyên ngành Kinh tế - Tài chính
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 30,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.1.2 Nguyên tắc cổ phần hoá NHTM Nhà nước Việc cổ phần hoá NHTM Nhà nước cần được thực hiện theo các nguyên tắc: Đảm bảo duy trì sự ổn định trong hoạt động Ngân hàng, không gây trở ngạ

Trang 1

GIẢI PHÁP CHO CỔ PHẦN HOÁ NHTM NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

3.1 Định hướng cổ phần hoá NHTM nhà nước trong giai đoạn tới 3.1.1 Mục tiêu cổ phần hoá NHTM nhà nước.

Về nguyên tắc, mục tiêu cổ phần hoá là định hướng chi phối, quyết định toàn bộ quá trình cổ phần hoá của doanh nghiệp nói chung và của NHTM nhà nước nói riêng Việc xác định chính xác các mục tiêu cổ phần hoá sẽ giúp ngân hàng lựa chọn được hình thức, phương pháp cổ phần hoá phù hợp Ở Việt Nam xuất phát từ thực trạng hoạt động của NHTM và sự cần thiết phảI cổ phần hoá, cổ phần hoá NHTM nhà nước nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản sau:

- Tăng vốn tự có và đạt được hệ số an toàn vốn tối thiểu theo thông lệ quốc tế

- Hiện đại hoá công nghệ ngân hàng

- Nâng cao năng lực quản trị điều hành ngân hàng phù hợp với sự vận hành của cơ chế thị trường theo định hướng XHCN

- Nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các NHTM nhà nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

3.1.2 Nguyên tắc cổ phần hoá NHTM Nhà nước

Việc cổ phần hoá NHTM Nhà nước cần được thực hiện theo các nguyên tắc: Đảm bảo duy trì sự ổn định trong hoạt động Ngân hàng, không gây trở ngại cho hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán trong nền kinh tế Do vai trò quan trọng

và tính nhạy cảm của những hoạt động này, chúng có liên quan đến mọi hoạt động khác của nền kinh tế Bất cứ sự thay đổi nào của chúng cũng có thể tác động lớn đến các ngành khác Nếu quá trình cổ phần hoá NHTM Nhà nước gây ra bất cứ ảnh hưởng tiêu cực nào thì sẽ không có lợi cho nền kinh tế

Cổ phần hoá NHTM nhà nước theo hướng đa sở hữu, trong thời gian trước mắt nhà nước vẫn nắm cổ phần chi phối Trước hết việc này để đảm bảo vấn đề an

Trang 2

ninh tài chính, tránh sự thôn tính của các nhà đầu tư nước khác nhất là nhà đầu tư nước ngoài khi chúng ta còn chưa có đủ kinh nghiệm quản lý trong giai đoạn đầu của cổ phần hoá Thứ hai, khi chưa triển khai được các giải pháp quản lý gián tiếp bằng chính sách tiền tệ, Nhà nước vẫn cần tiếp tục điều hành chúnh sách này thông qua hệ thống các NHTM Nhà nước cần được cổ phần hoá

Thực hiện đồng thời cổ phần hoá và tổ chức lại các NHTM Nhà nước theo một đề án tổng thể Hiện nay, các NHTM Nhà nước đều có mạng lưới các chi nhánh tại các địa phương, vùng lãnh thổ và các đơn vị thành viên hạch toán độc lập như Công ty chứng khoán, công ty liên doanh, công ty cho thuê tài chính… Vì vậy,

để có thể đảm bảo các NHTM sau cổ phần hoá có cơ cấu tổ chức hợp lý trước khi các Ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài được đối xử bình đẳng như các Ngân hàng trong nước cần đồng thời thực hiện cổ phần hoá toàn bộ hệ thống mạng lưới của từng NHTM

Cổ phần hoá NHTM phải đạt được các mục tiêu đề ra Các mục tiêu được đặt ra đối với cổ phần hoá NHTM nhà nước đều nhằm hướng tới kết quả thống nhất là khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng

Cổ phần hoá được lựa chọn làm lối ra cho các NHTM nhà nước là bởi nó là mô hình tối ưu nhất trong việc thực hiện những mục tiêu đó Bởi vậy, thực hiện cổ phần hoá NHTM nhà nước phảI đảm bảo nguyên tắc luôn hướng tới các mục tiêu

đã được xác định

Cơ cấu lại hệ thống NHTM Nhà nước phải gắn liền với việc sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân Yêu cầu này xuất phát từ đặc điểm của ngành Ngân hàng là có mối liên hệ mật thiết với các ngành khác Các doanh nghiệp là những khách hàng lớn và chủ yếu của các Ngân hàng Các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thì nguồn vốn cho vay của Ngân hàng mới có hiệu quả, do vậy hoạt động của ngành Ngân hàng mới

Trang 3

hiệu quả Nếu các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì Ngân hàng sẽ không làm ăn hiệu quả được vì nguồn vốn cho vay ra có thể bị mất

3.1.3 Các giai đoạn của quá trình cổ phần hoá:

Có thể chia lộ trình thực hiện cổ phần hoá làm ba giai đoạn Việc thực hiện triệt để từng giai đoạn một sẽ là bước đệm để thực hiện cổ phần hoá thành công

Giai đoạn chuẩn bị:

Chính phủ và ban ngành xây dựng môi trường pháp lý làm cơ sở thực hiện

cổ phần hoá

Phát triển hoạt động của thị trường chứng khoán

Các Ngân hàng củng cố về tài chính quản trị Ngân hàng

+ Giải quyết nợ xấu làm sạch bảng tổng kết tài sản

+ Tăng vốn tự có

+ Xây dựng chiến lược kinh doanh có hiệu quả

+Xác định hình thức cổ phần hoá

Giai đoạn thực hiện:

+Định giá NHTM +Phát hành cổ phiếu

Giai đoạn sau cổ phần hoá:

+Giải quyết một số khó khăn sau cổ phần +Tổ chức quản lý phù hợp với mô hình quản lý công ty cổ phần

3.2 Các giải pháp cho quá trình cổ phần hoá NHTM Việt Nam

3.2.1 Chính phủ các bộ ngành liên quan cần xây dựng hệ thống văn bản pháp quy cụ thể rõ ràng làm cơ sở cho cổ phần hoá NHTM Nhà nước, phù hợp với tính chất đặc thù của ngành Ngân hàng.

Đây là tiền đề đầu tiên cho cổ phần hoá NHTM Nhà nước Việt Nam Một khung pháp lý chuẩn mực sẽ tránh được sự lúng túng và ảnh hưởng tiêu cực phát sinh trong quá trình cổ phần hoá Các văn bản này cần có những qui định hướng

Trang 4

dẫn riêng đối với việc định giá, phát hành cổ phiếu khi NHTM Nhà nước cổ phần như qui định về xác định giá trị thực tế Ngân hàng với khung giá đất, xác định giá trị thương hiệu, tiềm năng phát triển phù hợp với các Ngân hàng Bên cạnh đó, một

số các văn bản pháp quy không phù hợp cũng cần phải sửa đổi bổ sung Hiện nay,

số văn bản được sửa đổi bổ sung còn rất ít Việc Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 thay thế cho Nghị định 64/2002/NĐ-CP về chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần trong đó có cả các NHTM Nhà nước và thông tư 126/2004/TT-BTC để hướng dẫn thực hiện Nghị định 187 đã giúp giải quyết được một số vướng mắc Những khó khăn vướng mắc còn tồn tại cần sớm được khắc phục giải quyết để tiến độ quá trình cổ phần hoá có thể diễn ra nhanh chóng hơn

3.2.2 Phát triển hệ thống thị trường chứng khoán

Theo Nghị định 187/2004/NĐ- CP, những doanh nghiệp Nhà nước có tổng mệnh giá cổ phiếu trên 10 tỷ thì đấu giá cổ phần sẽ được đấu giá tại trung tâm giao dịch Như vậy việc đấu giá cổ phần của NHTM Nhà nước sẽ phải thực hiện trên sàn giao dịch Nhưng với thực tế là hệ thống các trung tâm giao dịch chứng khoán còn kém phát triển quy mô nhỏ (tổng giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán 3/2005 chỉ đạt 1,6%GDP).Vì vậy để chuẩn bị cho quá trình cổ phần hoá các NHTM, tập trung để phát triển hệ thống thị trường chứng khoán Việt Nam cũng là một giải pháp cần thiết

Trước hết cần tạo dựng khuôn khổ pháp lý đầy đủ, vững chắc, phù hợp với thực tiễn hoạt động của thị trường chứng khoán Củng cố thị trường giao dịch và hiện đại hoá nâng cấp hệ thống thông tin, xây dựng hệ thống giám sát tự động Cần nâng cao nhận thức hiểu biết và khả năng tham gia của công chúng trên thị trường chứng khoán

Giải pháp này sẽ giúp thu hút các nhà đầu tư tạo điều kiện cho mua bán trao đổi

cổ phiếu từ đó lựa chọn được những nhà đầu tư lớn, nâng cao giá trị cổ phiếu của các Ngân hàng được cổ phần hoá

Trang 5

Bên cạnh đó nên nâng cao chất lượng hàng hoá chứng khoán đa dạng hoá hơn nữa hoạt động của thị trường chứng khoán bằng nhiều loại hàng hoá, nhiều loại chứng từ có giá Cho phép các NHTM cổ phần được niêm yết cổ phiếu trên thị trường nếu đã hội đủ các điều kiện theo quy định Có vậy, thị trường chứng khoán mới thực sự trở thành kênh dẫn vốn đầu tư quan trọng cho nền kinh tế

3.2.3 Xử lý nợ xấu và các tài sản kém giá trị:

Làm sạch bảng cân đối tài chính của Ngân hàng để nâng cao chất lượng tài sản trong quá trình định giá sau này, tối đa hoá giá trị của Ngân hàng TMNN, tối

đa hoá lợi ích của Nhà nước

Cũng như các Ngân hàng của các nước trên thế giới, nợ xấu cũng đang ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động của các NHTM Nhà nước Việt Nam và gây khó khăn cho quá trình cổ phần hoá của các NHTM Nhà nước Mặc dù đã nỗ lực

xử lý, nhưng các khoản nợ xấu vẫn chưa được loại bỏ triệt để ra khỏi bảng cân đối

kế toán của các Ngân hàng Vì vậy, việc tìm ra biện pháp để xử lý các khoản nợ này đang là vấn đề cấp bách

Trước hết,việc xử lý nợ xấu của các Ngân hàng cần thực hiện có nguyên tắc

Đó là:

- Không để tái diễn

- Không gây mất ổn định hoạt động của hệ thống NHTM và nền kinh tế

- Có biện pháp để tận thu tài sản quốc gia và tiết kiệm cho Ngân sách Nhà nước

- Việc bán tài sản nợ tồn đọng trên thị trường bảo đảm công khai, minh bạch theo quy định hiện hành của pháp luật, hạn chế tổn thất và ngăn chặn các tiêu cực phát sinh trong qúa trình xử lý

Từ kinh nghiệm xử lý nợ của một số nước cho thấy trước hết phải xác định được các khoản nợ có đảm bảo hay không và các con nợ có còn và có nỗ lực xử lý hay không Nợ tồn đọng của Việt Nam hiện đã được chia làm ba nhóm: nhóm nợ

Trang 6

có tài sản đảm bảo, con nợ còn tồn tại; nhóm nợ không có tài sản đảm bảo, con nợ không còn tồn tại Việc phân loại này giúp đưa ra các biện pháp phù hợp để xử lý các khoản nợ

Trước hết, với nhóm nợ có tài sản đảm bảo, con nợ còn tồn tại đòi hỏi thủ tục pháp lý phức tạp vì liên quan đến phát mại tài sản Các công ty quản lý tài sản của các NHTM Nhà nước được chuyển giao xử lý các tài sản đảm bảo nợ vay kể cả tài sản là bất động sản bao gồm đất, tài sản gắn liền với đất thuộc quyền định đoạt của Ngân hàng cần chủ động hơn trong việc bán theo các hình thức như tự bán công khai trên thị trường hoặc bán qua trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản,… Đối với những tài sản nợ vay chưa bán được thì các NHTM, Công ty quản lý nợ của các NHTM cần áp dụng các biện pháp như: cải tạo, sửa chữa, nâng cấp tài sản

để bán cho thuê, khai thác kinh doanh bằng tài sản để thu hồi nợ…Năm 2004 Chính phủ đã quyết định thành lập Công ty xử lý tài sản DNNN với vốn điều lệ là

2000 tỷ đồng Công ty này cần được thúc đẩy hoạt động để hỗ trợ các Công ty quản lý nợ của các NHTM trong xử lý các khoản nợ tồn đọng

Đối với nhóm nợ không có tài sản đảm bảo nhưng con nợ còn tồn tại ,các NHTM Nhà nước được bán lại nợ để thu hồi vốn Trong nhóm nợ này, nợ của các DNNN chiếm chủ yếu và việc xử lý nợ liên quan đến tiến độ cơ cấu, sắp xếp lại DNNN mà thời gian qua thực hiện chậm hơn so với tiến trình xử lý nợ của các NHTM Nhà nước.Để tạo điều kiện cho các NHTM Nhà nước xử lý nợ, Bộ tài chính cần có các văn bản cụ thể hướng dẫn các NHTM Nhà nước đánh giá lại các khoản nợ của DNNN và tăng cường hoạt động của công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của DN

Đối với nhóm nợ không có tài sản đảm bảo mà con nợ không còn tồn tại, thì các Ngân hàng phải xử lý nợ bằng các quỹ dự phòng rủi ro của NHTM, bằng nguồn tài chính của Chính phủ.Ngân hàng Ngoại thương đã xử lý được phần lớn các khoản nợ bằng nguồn lợi nhuận để lại

Trang 7

Trước khi cổ phần hoá, đòi hỏi các NHTM Nhà nước phải loại được hết các khoản nợ xấu ra khỏi bảng cân đối tài chính

3.2.4 Tăng vốn tự có cho các NHTM Nhà nước

Trước cổ phần hoá, việc bổ sung nguồn vốn tự có cũng là cần thiết đối với các NHTM Nhà nước.Về cơ bản, trước mắt các Ngân hàng đều chưa đạt được tỷ lệ

an toàn vốn quốc tế Điều này làm ảnh hưởng tới khả năng phát triển mở rộng ra thị trường quốc tế của các NHTM nhà nước, gây tâm lý ngần ngại và giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu ngân hàng trong con mắt nhà đầu tư khi cổ phần hoá ngân hàng

Việc tiếp tục tăng nguồn vốn tự có sẽ giúp các Ngân hàng giải quyết được khó khăn đó Tính đến tháng 1/2005, Chính phủ đã hoàn thành 100% kế hoạch cấp vốn điều lệ cho các NHTM Nhà nước Khả năng của Ngân sách nhà nước có hạn không thể bổ sung vốn mãi cho các Ngân hàng Bởi vây, các Ngân hàng không thể chỉ trông chờ nguồn vốn nhà nước mà phải tự phát huy nội lực, bổ sung vốn cho chính mình Nguồn vốn ấy chính là phần lợi nhuận vượt chỉ tiêu, là nguồn thu từ các khoản nợ Để có được những nguồn vốn đấy, các NHTM Nhà nước phải nỗ lực hoạt động hơn nữa với hiệu quả cao hơn nữa để có doanh thu cao hơn

Ngoài ra, trong điều kiện hiện tại của ngân hàng, nhà nước cần cho phép phát hành tráI phiếu thứ cấp dài hạn để huy động thêm vốn Việc làm này là phù hợp với định hướng của Đảng và pháp luật hiện hành, không làm thay đổi cơ cấu

sở hữu của ngân hàng và giúp ngân hàng chủ động điều chỉnh mức vốn phù hợp với sự gia tăng quy mô hoạt động của mình trong từng thời kì

3.2.5 Xây dựng chiến lược kinh doanh có hiệu quả.

Một chiến lược kinh doanh có hiệu quả sẽ đem lại nhiều thuận lợi cho NHTM như: Tăng vốn tự có, nâng cao giá trị của cổ phiếu Ngân hàng khi Ngân hàng được cổ phần hoá, tăng khả năng cạnh tranh cho Ngân hàng, đáp ứng các chuẩn mực theo thông lệ quốc tế trước khi cổ phần hoá

Trang 8

Để xây dựng một chiến lược kinh doanh có hiệu quả, các NHTM Nhà nước cần phải:

Thứ nhất ,tăng cường năng lực quản trị điều hành Các Ngân hàng cần tiếp

tục tạo điều kiện mở rộng phạm vi hoạt động, phát triển các nghiệp vụ mới; nâng cao kỹ năng quản lý rủi ro và nâng cao công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động của Ngân hàng nâng cao hiệu quả hoạt động của các bộ phận và tăng cường hiệu lực của công tác quản trị điều hành, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng và nâng cao chất lượng khách hàng Đẩy mạnh việc cơ cấu lại tổ chức và hoạt động, xây dựng các giảI pháp đảm bảo tăng trưởng có chất lượng và hiệu quả, ngăn ngừa việc phát sinh nợ xấu Việc tăng trưởng tài sản có tín dụng phải gắn với việc tăng vốn tự có và trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro

Thứ hai, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ trên nền tảng công nghệ tiên

tiến Các NHTM Nhà nước cần nhanh chóng hoàn thiện nền tảng công nghệ hiện đại, trên cơ sở đó đưa ra các sản phẩm dịch vụ nhiều tiện ích cho khách hàng Cần chuẩn hoá trong công tác quản lý trong công nghệ thông tin, các hình thức và phương tiện an toàn bảo mật cơ sở dữ liệu, xây dựng các hệ thống dự phòng đảm bảo cung ứng dịch vụ thông suốt

Thứ ba, đầu tư cho công tác đào tạo đội ngũ cán bộ Thực hiện cơ chế tài

chính thông thoáng hơn nhằm thu hút và giữ được lao động giỏi có tay nghề cao Cần gắn kết cam kết đào tạo với việc bố trí, sử dụng cán bộ, sử dụng đúng việc, tạo động lực khuyến khích người lao động

3.2.6 Xác định hình thức cổ phần hoá

Hiện nay,việc cổ phần hoá đối với từng DNNN được thực hiện theo một trong các hình thức sau:

+ Giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu

để thu hút thêm vốn

+ Bán một phần vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp

Trang 9

+ Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp

+ Bán toàn bộ vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp kết hợp với phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn

Căn cứ vào mục tiêu,nguyên tắc của cổ phần hoá là để tăng thêm vốn chủ sở hữu của NHTM nhà nước đồng thời đảm bảo tỷ lệ nắm giữ cổ phần chi phối 51% của nhà nước trong giai đoạn đầu có thể lựa chọn hình thức giữ nguyên vốn nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu để thu hút thêm vốn, tăng năng lực vốn chủ sở hữu- mặt yếu kém nhất hiện nay của các NHTM nhà nước

Cổ phần hoá sẽ được thực hiện ở cả 5 NHTM quốc doanh Các Ngân hàng này tuy có những đặc điểm chung nhưng cũng có những đặc điểm riêng nhất định Bởi vậy trong giai đoạn chuẩn bị cổ phần hoá cũng cần xây dựng những đề án thích hợp và cụ thể đối với từng ngân hàng Trên cơ sở cổ phần hoá từng ngân hàng tạo những bước chuyển an toàn cho toàn hệ thống, có thể vừa làm, vừa rút kinh nghiệm Trước mắt cần đúc rút những bài học từ quá trình cổ phần hoá ngân hàng Ngoại thương Đấy sẽ là những bài học ban đầu thực tiễn nhất, cần được đúc rút để áp dụng cho những NHTM nhà nước được cổ phần hoá tiếp theo

3.2.7 Định giá NHTM Nhà nước.

Đây là khâu rất quan trọng trong tiến trình cổ phần hoá bởi tính phức tạp trong việc xác định chính xác lượng giá trị này đòi hỏi phảI có phương pháp khoa học khả thi Từ việc định giá ngân hàng để đảm bảo cổ phần hoá đưa ra một mức gía mà cả người mua và người bán đều chấp nhận được mới đảm bảo gọi vốn cổ đông dễ dàng

Nhìn một cách tổng quát, giá của một doanh nghiệp nói chung, của một NHTM nhà nước nói riêng gồm 4 nhóm sau

i Giá trị còn lại của vốn tự có tính đến ngày định giá: Gồm giá trị còn lại của tài sản cố định, quyền sử dụng đất, thiết bị không thuộc

Trang 10

nhóm tài sản cố định, vốn đầu tư vào các tổ chức liên doanh, liên kết hay các tài sản tài chính và vốn bằng tiền khác

ii Chênh lệch ròng của tổng các khoản phải thu so với tổng các khoản phải trả (gồm các rủi ro có liên quan)

iii Các quỹ chưa chi (nếu có)

iv Giá trị danh tiếng- bao gồm giá trị của thương hiệu, tay nghề , tính bền vững của loại ngành nghề, thị phần các quan hệ thị trường truyền thống, là nhóm giá trị mang tính định tính, tạo sức hút mạnh nhất với nhà đầu tư

Từ đó có những căn cứ để xác định giá trị thực tế của ngân hàng, bao gồm: số liệu trong sổ sách kế toán của ngân hàng tại thời điểm cổ phần hoá, số lượng và chất lượng tài sản theo kiểm kê phân loại tài sản thực tế của ngân hàng tại thời điểm đó, tính năng kỹ thuật của tài sản, nhu cầu sử dụng và giá trị thị trường tại thời điểm cổ phần hoá, giá trị quyền sử dụng đất, lợi thế kinh doanh, uy tín của ngân hàng, tính chất độc quyền và sản phẩm dịch vụ, thương hiệu, khả năng sinh lời của ngân hàng xác định trên cơ sở tỉ suất lợi nhuận của ngân hàng trên vốn sở hữu của ngân hàng Bởi vậy, khi định giá ngân hàng cần chú ý những nội dung sau:

Về phương pháp định giá, theo thông tư 126/2004/TT-BTC, NHTM sẽ được xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp dòng tiền chiết khấu.Theo đó:

Giá trị Giá trị thực Nợ thực tế Số dư quỹ Nguồn

thực tế = tế phần vốn + phải trả + khen thưởng + kinh phí doanh nghiệp nhà nước phúc lợi sự nghiệp

Đây là phương pháp phổ biến được áp dụng xác định giá trị doanh nghiệp thông thường Tuy nhiên, trong đó có những điểm yếu nhất định Và những điểm yếu này càng bộc lộ rõ khi áp dụng cho NHTM nhà nước

Thứ nhất, giá trị thương hiệu của ngân hàng chưa được tính ở trong công thức mà như trên đã nói, đối với NHTM nhà nước giá trị thương hiệu là một tài sản

Ngày đăng: 19/10/2013, 17:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w