Rất nhiều người cho rằng việc dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai là một điều dễ dàng, hầu như người Việt Nam nào cũng có thể làm được.Tuy nhiên thực tế cho thấy, việc dạy và học tiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG LÊ THỦY TIÊN
KHẢO SÁT LỖI TRẬT TỰ TỪ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
CỦA SINH VIÊN LÀO HỌC TIẾNG VIỆT
(TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Hà Nội, 20018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
ĐẶNG LÊ THỦY TIÊN
KHẢO SÁT LỖI TRẬT TỰ TỪ TRONG CÂU TIẾNG VIỆT
CỦA SINH VIÊN LÀO HỌC TIẾNG VIỆT (TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60220240 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Phạm Thị Thúy Hồng
Hà Nội, 20018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, minh bạch và chưa được công
bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 18 tháng 06 năm 2018
Tác giả luận văn
Đặng Lê Thủy Tiên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu tại khoa
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS Phạm Thị Thúy Hồng, người đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện
đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 06 năm 2018
Tác giả luận văn
Đặng Lê Thủy Tiên
Trang 5MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Lịch sử nghiên cứu 11
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 13
5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu 14
6 Đóng góp của đề tài 15
7 Bố cục của luận văn 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 16
1.1 Lỗi và lý thuyết phân tích lỗi 16
1.2 Trật tự từ 22
1.3 Câu và cụm từ 27
CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT LỖI VỀ TRẬT TỰ TRONG CỤM TỪ VÀ MỘT SỐ BÀI TẬP KHẮC PHỤC LỖI 32
2.1 Dẫn nhập 32
2.2 Lỗi trật tự từ trong cụm danh từ 33
2.3 Lỗi trật tự từ trong cụm động từ 43
2.4 Thiết kế một số bài tập khắc phục lỗi trật tự từ trong ngữ 54
2.5 Tiểu kết 59
CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT LỖI VỀ TRẬT TỰ THÀNH PHẦN CÂU VÀ MỘT SỐ BÀI TẬP KHẮC PHỤC LỖI 61
3.1 Dẫn nhập 61
3.2 Lỗi trật tự từ trong câu 62
3.3.Thiết kế một số bài tập khắc phục lỗi về trật tự câu 76
3.4 Tiểu kết 83
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
T1 Trung tâm 1 T2 Trung tâm 2
TT Trung tâm Đ1 Định tố ở vị trí số 1 Đ2 Định tố ở vị trí số 1 Đ3 Định tố ở vị trí số 1 Đ4 Định tố ở vị trí số 1 Đ5 Định tố ở vị trí số 1 Đ6 Định tố ở vị trí số 1
B (td) Phụ từ chỉ sự tiếp diễn trong thời gian
B (ph) Phụ từ có chức năng chỉ phương hướng
B (kcđt) Kết cấu đặc trưn
Trang 7Bảng 2.3: Các cấu trúc sai về trật tự từ trong cụm từ
Bảng 3.1: Tỷ lệ lỗi về trật tự trạng ngữ chia theo trình độ
Bảng 3.2: Tỷ lệ lỗi về trật tự tình thái ngữ chia theo trình độ
Bảng 3.3: Tỷ lệ lỗi về trật tự chủ ngữ và vị ngữ chia theo trình độ
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trước xu thế mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế, việc dạy
và học tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng đòi hỏi phải có sự thay đổi và phát triển để phù hợp với nhu cầu của người học và sự phát triển của xã hội Việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài không chỉ giúp phát triển quan hệ hợp tác quốc tế mà đồng thời còn giúp duy trì, giữ gìn và lan tỏa nền văn hóa, bản sắc dân tộc Việt Nam ra cộng đồng quốc tế
Không thể phủ nhận một thực tế hiện nay là nhu cầu học tiếng Việt ngày càng một tăng cao Số lượng người nước ngoài đến học tập và làm việc ở Việt Nam ngày càng nhiều cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các
cơ sở giáo dục, các trung tâm đào tạo, dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.Hiện nay, rất nhiều trường đại học mở ra các khóa học tiếng Việt ngắn hạn cho những học viên là người nước ngoài có nhu cầu học tập để sống hoặc làm việc tại Việt Nam.Không dừng lại ở những lớp học ngắn hạn, các trường đại học cao đẳng còn mở những chương trình đào tạo cử nhân chính quy Đối tượng theo học là những sinh viên ngành Đông Phương học ở nhiều nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Thái LAn Các cơ sở đào tạo tiếng Việt chủ yếu ở các trường đại học Ngoại ngữ, đại học Khoa học xã hội và nhân văn, đại học sư phạm ở hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Ngoài các cơ sở đào tạo chính quy, còn có nhiều trung tâm dạy tiếng Việt được mở ra, có thể kể đến nhiều trung tâm lớn như Vietnam Teaching Group (VTG), Trường tiếng Việt Sài Gòn VLS (Vietnam Language Studies Saigon), Trung tâm dạy tiếng Việt cho người nước ngoài (CED Việt Nam), Trung tâm dạy tiếng Việt HaCo Số lượng người học tiếng Việt tại các cơ sở dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng ngày một tăng Ở trường Đại học sư
Trang 9phạm TP.HCM tăng trung bình từ 20 – 30% (Năm 2009 tăng 30%, năm
2010 tăng 26%) (Đại học Sư phạm TP.HCM) Ở một số tỉnh khác như Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình, nơi có mối quan hệ gần gũi với các nước bạn như Lào, Campuchia, Thái Lan, số lượng lưu học sinh sang học tiếng Việt cũng tăng qua mỗi năm Theo thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo thì tính đến thời điểm hiện nay Trường đại học Hà Tĩnh là trường đào tạo lưu học sinh Lào nhiều nhất trong tất cả các trường ở Việt Nam có lưu học sinh Lào theo học chiếm 17% tỷ lệ đào tạo lưu học sinh Lào trong cả nước Trường đại học Hà Tĩnh thành lập năm 2007 mới chỉ có 52 em lưu học sinh Lào học tiếng Việt tại trường Từ năm 2007 đến năm 2015, số lượng lưu học sinh Lào, Cam pu chia, Thái Lan tăng mạnh qua mỗi năm Đến năm 2015, trường đang đào tạo 1333 em lưu học sinh nước ngoài Tại trường đại học Quảng Bình, số lượng lưu học sinh sang học tiếng Việt tăng nhanh qua mỗi năm Năm 2012, nhà trường mới chỉ tiếp nhận và giảng dạy tiếng Việt cho khoảng 50 em lưu học sinh (chủ yếu là lưu học sinh từ Lào, Thái Lan) thì đến năm 2015, số lượng lưu học sinh đã tăng gấp ba lần Tổng số lưu học sinh đang theo học tại trường tính đến thời điểm hiện nay là khoảng hơn
400 người (Trung tâm Nghiên cứu và phát triển văn hóa Asean - Đại học Quảng Bình)
Hiện nay chương trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài chỉ có ở một số trường đại học như các trường sư phạm, xã hội nhân văn, ngoại ngữ
ở các thành phố lớn Trên cả nước có khoảng gần 20 trường đại học có chương trình giảng dạy tiếng việt cho người nước ngoài, với số lượng giảng viên dạy học phần tiếng Việt cơ bản, tiếng Việt chuyên ngành phần nào đáp ứng được nhu cầu học và tìm hiểu tiếng việt của người nước ngoài Tuy nhiên, việc học tiếng Việt đã không hề đơn giản với chính người Việt Nam, thì sự khó khăn ấy càng nhân lên gấp nhiều lần so với người nước
Trang 10ngoài.Đặc biệt là với những dân tộc không sử dụng hệ chữ cái La – tinh như Việt Nam.Bởi riêng việc nhớ được bảng chữ cái tiếng Việt, nguyên
âm, phụ âm cũng như phân biệt được thanh sắc là vô cùng phức tạp Hơn nữa việc truyền thụ tiếng Việt như một ngoại ngữ còn là lấp đầy cái hố kiến thức về văn hóa Nói khác đi người học phải trau dồi tiếng Việt một cách thích đáng để biết được những đặc điểm về ngôn ngữ và văn hóa của người Việt trước và trong khi truyền thụ, cũng như cách truyền bá những điều đó
Học tiếng Việt rất khó, đó là nhận định của hầu hết những người nước ngoài đang sinh sống, học tập và làm việc tại Việt Nam So với tiếng Anh, một ngôn ngữ có cùng hệ chữ la tinh, thì tiếng Việt có hệ thống thanh điệu, cách phát âm và ngữ pháp phức tạp hơn, điều này dễ gây lúng túng cho người học, đặc biệt là về mặt phát âm Rất nhiều người cho rằng việc dạy tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai là một điều dễ dàng, hầu như người Việt Nam nào cũng có thể làm được.Tuy nhiên thực tế cho thấy, việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ gặp rất nhiều khó khăn.Hiện nay, trong dạy và học ngôn ngữ hiện đại, đã có sự dịch chuyển từ chú trọng vào việc giảng dạy ngữ pháp đến việc xác định nhu cầu giao tiếp của người học trong việc học ngôn ngữ.Cùng với việc xác định mục tiêu giao tiếp trong việc học ngoại ngữ là khái niệm lấy học sinh làm trung tâm đã trở thành động lực trong việc giảng dạy và học tập ngôn ngữ Trong khái niệm Chomsky về việc tiếp nhận ngôn ngữ, những người học ngôn ngữ thứ hai trải qua cùng một quá trình xây dựng giả thuyết về ngôn ngữ đích mà họ đang học.Trong quá trình tiếp nhận một ngôn ngữ mới như vậy, lỗi là một sai lầm đơn giản của người học và không thể tách rời của việc học ngôn ngữ.Người học ngoại ngữ nói chung và người học tiếng Việt như một ngôn ngữ thứ hai nói riêng không biết về sự tồn tại của một hệ thống hoặc quy
Trang 11tắc cụ thể bằng tiếng Việt Theo lý thuyết phân tích lỗi thì lỗi của người học được xác định là sự can thiệp của tiếng mẹ đẻ của người học với ngôn ngữ thứ hai họ đang học Theo giả thuyết phân tích tương phản, các lỗi có thể phát sinh khi có sự khác biệt lớn giữa ngôn ngữ mẹ đẻ của người học hoặc bất cứ ngôn ngữ nào đã có trước đó và ngôn ngữ mà người đó đang cố gắng đạt được Bản thân lỗi là sự can thiệp hoặc xâm nhập của tiếng mẹ đẻ và họ phải vượt qua trong quá trình tiếp thu và ứng dụng nó Đã có rất nhiều công trình khảo sát, nghiên cứu về các lỗi của người nước ngoài học tiếng Việt, tuy nhiên việc nghiên cứu các lỗi về trật tự từ của người nước ngoài khi học tiếng Việt như một ngoại ngữ thì chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào Dựa trên thực tế giảng dạy tiếng Việt cho lưu học sinh Lào tại trường đại học Quảng Bình, chúng tôi tiến hành khảo sát về lỗi nói chung và lỗi về trật tự từ của học viên người Lào học tiếng Việt nói riêng nhằm góp phần vào việc phục vụ thực tiễn giảng dạy và học tập tiếng Việt như một ngoại ngữ
2 Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều bài nghiên cứu, nhiều bài báo, nhiều tác giả bàn về vấn đề lỗi của người nước ngoài khi học tiếng Việt như một ngoại ngữ từ những năm 70, 80, vấn đề lỗi của học viên học tiếng Việt được đề cập đến trên tất
cả các phương diện như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Tuy nhiên các bài viết mới chỉ là những bài viết nhỏ, mang tính chất nêu lên quan điểm hay kinh nghiệm cá nhân.Khi việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ càng ngày càng phát triển thì vấn đề về giảng dạy cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm hơn.Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả nghiên cứu về lỗi của người nước ngoài học tiếng Việt
như Luận án tiến sĩ Ngữ văn của tác giả Nguyễn Văn Phúc “Nghiên cứu các dạng lỗi phát âm tiếng Việt của sinh viên nói tiếng Anh”; “Khảo sát lỗi
Trang 12ngữ pháp tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề liên quan”,
luận án tiến sĩ Ngữ văn của tác giả Nguyễn Thiện Nam Luận án đã giới thiệu một cách hệ thống những cơ sở lý luận của vấn đề lỗi và phân tích lỗi của người học ngôn ngữ thứ hai theo cách nhìn của ngôn ngữ học ứng dụng Khảo sát hệ thống lỗi ngữ pháp tiếng Việt của người nói tiếng Khơme, tiếng Nhật và Tiếng Anh khi học tiếng Việt (chủ yếu là người nói tiếng Khơme và tiếng Nhật), thủ pháp xử lí lỗi ngữ pháp cho giáo trình tiếng Việt dành cho người nước ngoài góp phần không nhỏ vào thực tiễn giảng dạy cũng như học tiếng Việt như một ngoại ngữ Luận án cũng mang đến một cách hiểu đúng hơn về bản chất ngữ nghĩa – ngữ pháp của một số hiện tượng ngữ pháp tiếng Việt mà từ xưa đến nay các sách ngữ pháp,cáctừđiểnvàcácsáchdạytiếngViệtchongườinướcngoàicònbỏ sót hoặc
bỏ qua [18;tr 12] Trước luận án này, tác giả Nguyễn Thiện Nam còn có
một số bài viết liên quan đến lỗi đã được công bố như: “Một vài nhận xét
và lý giải về lỗi dùng từ Hán – Việt của người Nhật Bản” được đăng trong
Kỷ yếu hội nghị “Tiếng Việt như một ngoại ngữ”, “Hiện tượng tỉnh lược chủ ngữ trong tiếng Nhật đối với lỗi giao thoa trong tiếng ViệtcủangườiNhậtBản”đượcđăngtrêntạpchíNgữhọctrẻ97;“Mộtvài
nhậnxétvềlỗigiaothoacủangườiCampuchiakhihọctiếngViệt”được đăng trong Kỷ yếu hội nghị quốc tế lần thứ năm về các ngôn ngữ Châu Á, 2000;
“Một vài nhận xét về lỗi sử dụng các từ “cả”, “tất cả”, “mọi” trong tiếng Việt của người nước ngoài”, trên Ngữ học trẻ 2000,
Luận án “Lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt (trên tư liệu lỗi từ vựng, ngữ pháp của người Anh, Mỹ, 2009)” của tác giả Nguyễn
Linh Chi, luận án đã nghiên cứu một cách toàn diện lỗi từ vựng, ngữ pháp của người nước ngoài học tiếng Việt, xác định và phân loại lỗi, tiến hành
mô tả, phân tích và giải thích những kiểu loại về về từ vựng – ngữ pháp của
Trang 13người Anh, Mỹ học tiếng Việt ở trình độ sơ cấp Từ đó chỉ ra một số nguyên tắc mắc lỗi khi học và sử dụng tiếng Việt.Đề xuất những phương pháp sửa lỗi để nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Về việc khảo sát, nghiên cứu các lỗi của học viên người Lào, Thái
Lan thì có một số đề tài như “Lỗi sử dụng một số hành vi ngôn ngữ của học viên Lào học tiếng Việt (tại đoàn 871 – TCCT)” của tác giả Hứa Thị Chính
Luận văn nhìn chung đã cung cấp một bức tranh toàn diện về nguồn gốc nảy sinh lỗi tiếng Việt trong sử dụng hành vi khen và tiếp nhận lời khen của học viên người Lào Phân tích và chỉ ra cơ chế làm nảy sinh các dạng lỗi của người học mắc phải, trên cơ sở đó làm tiền đề cho người dạy và người học đề ra các chiến lược và giải pháp sửa lỗi sử dụng hành vi ngôn ngữ, đặc biệt là hành vi khen và tiếp nhận lời khen trong giao tiếp tiếng Việt sao cho
đúng và hiệu quả hơn Đề tài “Bước đầu khảo sát lỗi ngữ âm của người Lào học tiếng Việt” của tác giả Soudchai Simmalavong đã chỉ ra các lỗi
phát âm của người Lào khi nói tiếng Việt, đưa ra các biện pháp khắc phục
mà qua đó còn có thể góp được một phần nhỏ vào việc nâng cao thêm chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung và người Lào nói riêng
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu lỗi về trật tự từ trong sử dụng tiếng Việt của sinh viên người Lào tại trường Đại học Quảng Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát những bài viết và bài thi từ trình độ A đến trình độ C của các học viên người Lào đang học dự bị tiếng Việt tại trường Đại học Quảng Bình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn xác định và phân loại cụ thể các loại lỗi về trật tự từ
Trang 14- Tiến hành thống kê, mô tả các kiểu loại lỗi về trật tự từ của người Lào học tiếng Việt ở các trình độ khác nhau
- Qua đó nếu lên ý kiến, đưa ra các loại bài tập nhằm sửa lỗi cho học viên và nâng cao chất lượng việc giảng dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài, cũng như góp phần tích cực cho việc biên soạn giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài một cách phù hợp và có hiệu quả hơn
- Với việc thống kê, khảo sát hệ thống các lỗi về trật tự từ tiếng Việt
và đưa ra một số bài tập sửa lỗi, chúng tôi mong muốn có thể giúp sinh viên Lào học tiếng Việt và giáo viên tại trường đại học Quảng Bình có thể đạt hiệu quả tốt hơn trong dạy và học, sửa chữa được những lỗi thường gặp trong quá trình thụ đắc tiếng Việt như một ngoại ngữ
5 Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Tư liệu nghiên cứu
Luận văn đã khảo sát nguồn tư liệu từ 320 bài thi, bài viết, bài tập hàng ngày của sinh viên Lào tại trường Đại học Quảng Bình ở cả
ba trình độ A, B và C
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Thủ pháp thống kê, phân loại dùng trong việc thống kê và phân loại lỗi
Từ những ngữ liệu thu thập được, người viết tiến hành thống kê lại những lỗi về trật tự từ của học viên người Lào , từ đó tiến hành phân loại lỗi theo các nhóm lỗi khác nhau
- Phương pháp phân tích lỗi dùng trong phân tích lỗi ngữ pháp của sinh viên
- Phương pháp so sánh đối chiếu dùng trong nhiều trường hợp để so sánh đặc điểm ngữ pháp về trật tự từ giữa tiếng Lào và tiếng Việt , từ đó thấy được những nét tương đồng và khác biệt trong ngữ pháp tiếng Lào và tiếng Việt nhằm tùm ra nguyên nhân và cơ chế mắc lỗi của sinh viên
Trang 156 Đóng góp của đề tài
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ các kiểu loại lỗi về trật tự từ của học viên người nước ngoài học tiếng Việt, từ đó đưa ra các giải pháp, các hệ thống bài tập sửa lỗi thích hợp
- Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả học tập tiếng Việt của người nước ngoài và tăng cường chất lượng giảng dạy tiếng Việt, biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
7. Bố cục của luận văn
Mở đầu
Chương 1: Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Lỗi về trật tự từ trong ngữ và một số bài tập khắc phục lỗi Chương 3: Lỗi về trật tự từ trong câu và một số bài tập khắc phục lỗi Kết luận
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Lỗi và lý thuyết phân tích lỗi
1.1.1 Khái niệm lỗi
Lỗi (error), theo quan điểm tri nhận, là một hiện tượng đương nhiên trong quá trình người học thụ đắc một ngoại ngữ Lỗi không phải là hiện tượng tiêu cực trong quá trình học ngoại ngữ, không phải là phiên bản méo
mó của ngôn ngữ đích mà lỗi thể hiện sự tham gia tích cực của người học trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ đích, thể hiện những chiến lược quan trọng mà người học áp dụng để khám phá ngôn ngữ đích, và lỗi là chứng
cứ rõ ràng nhất về hệ thống ngôn ngữ đang phát triển của người học - ngôn ngữ trung gian (Interlanguage) [18; tr 227] Ngôn ngữ trung gian này luôn biến đổi trong quá trình người học thụ đắc ngôn ngữ đích và tiệm tiến đến ngôn ngữ đích nhưng không thể trở thành ngôn ngữ đích hoàn toàn Người khởi xướng cho quan niệm "cách mạng" về lỗi này là Pit Corder với hàng loạt công trình để lại những dấu ấn rõ nét và giúp định hướng cho ngành phân tích lỗi (Error Analysis) (Corder, 1973, 1981 ) Những nhà ngôn ngữ học ứng dụng có cách nhìn mới đối với lỗi bao gồm L Selinker (1992), J.C Richards (1985) và R Ellis (1992)
Trong việc học ngoại ngữ, đặc điểm khác nhau về ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa và cấu trúc ngữ pháp giữa các ngôn ngữ thường gây ra những trở ngại đối với người học Những trở ngại đó có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau, ví dụ như người học hiểu không đúng hoặc áp dụng quá cứng nhắc những quy luật của thứ ngoại ngữ mà họ đã từng học qua vào việc sử dụng ngôn ngữ là đối tượng mình đanghọc Trong quá trình thụ đắc một ngôn ngữ thứ hai, việc mắc lỗi là điều không thể tránh khỏi Việc các nhà ngôn ngữ học và giáo học pháp theo trường phái dạy ngôn ngữ giao tiếp nhấn mạnh đến ý nghĩa và tầm quan trọng của lỗi trong việc dạy và
Trang 17học ngoại ngữ đã làm cho lỗi của người học trở thành một hiện tượng tự nhiên, một thành phần tất yếu trong quá trình học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Việt nói riêng Do vậy, phát hiện và phân tích lỗi cũng như tìm hiểu nguyên nhân gây lỗi là một công việc hết sức cần thiết nhằm đem lại hiệu quả cao cho việc dạy và học ngoại ngữ [34;tr 1]
Đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau về lỗi Theo Từ điển ngôn ngữ học ứng dụng và dạy tiếng (Nhà xuất bản Longman, 1985), “lỗi” được định nghĩa như sau: “Lỗi của người học (trong khi nói hoặc viết một ngôn ngữ thứ hai hay ngoại ngữ) là hiện tượng sử dụng một đơn vị ngôn ngữ (chẳng hạn một từ, một đơn vị ngữ pháp, một hành vi ngôn từ ) bằng cái cách mà người bản ngữ hoặc người giỏi thứ tiếng đó cho là sai hoặc cho là chưa đầy đủ” [19; tr 7]
Hendrickson cho rằng: “Lỗi là một phát ngôn, một hình thức biểu đạt hoặc là một kết cấu mà một giáo viên ngôn ngữ đặc biệt thấy rằng không thể chấp nhận được bởi các cách sử dụng không hợp lí của chúng hoặc là
sự vắng mặt của chúng trong các diễn ngôn đời thường”
Giáo sư Lê Quang Thiêm định nghĩa về lỗi như sau: “Lỗi học và dùng ngoại ngữ là tài liệu thô rất quý về nhiều mặt mà ta cần thu thập, hệ thống hóa và phân tích, nghiên cứu Thiếu nó, chúng ta không thể có một cách hiểu đầy đủ về những tiến bộ xảy ra trong cảm thức ngôn ngữ của người học tiếng” [33; tr 68]
Dựa trên những quan điểm đi trước, tác giả Phạm Đăng Bình đã đưa
ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về lỗi như sau: “Lỗi thể hiện sự khiếm khuyết về năng lực giao tiếp của người học trong cách nhìn nhận, đánh giá của người bản ngữ và những người song ngữ Lỗi là nguyên nhân gây ra các hiện tượng trống nghĩa, mơ hồ về nghĩa và là nguyên nhân trực tiếp gây
ra những sự hiểu nhầm hoặc ngưng trệ giao tiếp Sự có mặt của lỗi trong
Trang 18giao tiếp liên ngôn nhiều khi trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến các xung đột hoặc sốc văn hóa”[5; tr 4]
Trên thực tế nghiên cứu, tác giả Hà Lê Kim Anh cũng nhấn mạnh rằng người học ngôn ngữ sẽ trải qua quá trình: không hiểu – xuất hiện lỗi –
sử dụng đúng Có thể nói, lỗi có vai trò quan trọng trong tất cả các quá trình nghiên cứu, dạy và học ngoại ngữ Đối với người học lỗi là một cách thức thể nghiệm những kiến thức mà mình đã học được, để từ đó có thể biến ngoại ngữ đó thành của mình [19;tr 11]
Pit Corder, một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên đưa ra lý thuyết phân tích lỗi cho rằng: Lỗi (error) là sự lệch chuẩn so với ngữ pháp và vi phạm các tắc sử dụng ngôn ngữ và các quy ước văn hóa Người học không những không nhận ra các lỗi của mình mà còn không thể tự chữa được chúng khi lưu ý Thậm chí họ còn mắc thêm lỗi khác khi làm việc đó.Lỗi thể hiện dự khiếm khuyết về năng lực giao tiếp của người học trong cách nhìn nhận đánh giá của người bản ngữ và những người song ngữ.Lỗi là nguyên nhân gây ra các hiện tượng trống nghĩa, mơ hồ về nghĩa và là nguyên nhân trực tiếp gây ra những hiểu lầm hoặc ngưng trệ giao tiếp.Sự
có mặt của lỗi trong giao tiếp liên ngôn nhiều khi trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột văn hóa Ở đây Pit Corder cũng phân biệt hai loại lỗi là “mistake” – lỗi do nhầm lẫn, không có tính hệ thống và
“errors” – lỗi xuất hiện lặp đi lặp lại có tính hệ thống do sự tiếp nhận ngôn ngữ đích còn hạn chế Một số nguyên nhân có thể tạo ra lỗi trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai như sau [19; tr 34]:
- Vượt tuyến: Là chiến lược người học nới rộng những quy tắc ngôn ngữ ra ngoài phạm vi của nó Hay nói cách khác là đã sử dụng những tri thức đã biết ở ngôn ngữ đích để khám phá ngôn ngữ đích
Trang 19- Chuyển di: Là chiến lược người học mượn những tri thức có sẵn trong tiếng mẹ đẻ để khám phá ngôn ngữ đích
- Chiến lược giao tiếp: Người học tìm mọi cách để giao tiếp mặc dù câu nói có sai ngữ pháp
Lỗi có thể xuất phát từ bản thân người học, do người học tự tìm tòi khám phá ngôn ngữ mới hoặc do năng lực không hoàn hảo của người học, tuy nhiên lỗi cũng có thể do quá trình giảng dạy, do kết quả của những tình huống học cụ thể trên lớp dẫn đến những lỗi của người học Tuy nhiên dù
là do người học hay do giảng dạy thì lỗi cũng là một phần tất yếu của quá trình thụ đắc một ngôn ngữ mới Trong xu hướng dạy và học ngoại ngữ theo định hướng giao tiếp như hiện nay, thì “lỗi” là một phần tất yếu không thể thiếu được đối với người học, giúp người học đi từ nhận diện đến thích ứng và sử dụng đúng ngôn ngữ thứ hai Như vậy việc định nghĩa về “lỗi” trong quá trình học ngoại ngữ sẽ giúp người dạy và người học hiểu rõ hơn
về lỗi, để từ đó có phương pháp giảng dạy cũng như tiếp nhận “lỗi” một cách đúng đắn hơn và có hiệu quả hơn
1.1.2 Lý thuyết phân tích lỗi
Lý thuyết về phân tích lỗi trong việc học một ngôn ngữ thứ hai được Stephen Pit Corder và các đồng nghiệp đưa ra vào những năm 60 S.P Corder cho rằng phân tích lỗi như là một phương pháp khoa học trong ngôn ngữ học Như các trích dẫn của Rod Ellis"Cho tới những năm 1970, phân tích lỗi đã trở thành một phần được thừa nhận trong ngôn ngữ học ứng dụng, và sự phát triển phần lớn là do công việc của Corder"[39; tr3] Trước Corder, các nhà ngôn ngữ học đã nhận ra lỗi của người học, phân chia chúng thành các loại, cố gắng xem những lỗi nào là lỗi phổ biến nhưng không thực sự chú ý nhiều đến vai trò của chúng trong việc giảng dạy và tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai
Trang 20Theo Pit Corder, phân tích lỗi là thủ thuật do các nhà nghiên cứu và giáo viên sử dụng Nó bao gồm việc thu thập các mẫu ngôn ngữ của người học, xác định lỗi các mẫu, miêu tả lỗi, phân loại lỗi và đánh giá mức độ nghiên trọng của lỗi Ông cho rằng việc phân tích lỗi không chỉ quan tâm đến mục đích ứng dụng của nó là chữa lỗi mà còn phải quan tâm đến mục đích lý thuyết của nó là giải thích sự thể hiện cơ chế ngôn ngữ của người học, tức là nghiên cứu những chiến lược học và những giả thuyết mà người học đã sử dụng để tạo ra ngôn ngữ của riêng mình Quá trình phân tích lỗi được Pit Corder chia làm các giai đoạn [38; tr 8]:
- Thu thập mẫu ngôn ngữ của người học: Để có thể phân tích lỗi thì trước hết cần phải thu thập các ngữ liệu của người học Căn cứ vào ngữ liệu
đã thu thập được để tiến hành thống kê và nhận diện lỗi theo hệ thống
- Nhận diện lỗi: Ở giai đoạn này cần phân biệt giữa lỗi (error) và sai lầm (mistake) của người học Đầu tiên để nhận diện được lỗi hay sai lầm của người học thì cần kết hợp với việc kiểm tra tính nhất quán của hiệu suất của người học ngôn ngữ thứ hai Nếu một người học đôi khi sử dụng đúng dạng của một cấu trúc hoặc quy tắc nào đó và sau đó sử dụng sai cấu trúc, thì đó là một sai lầm và có thể tự sửa chữa Tuy nhiên, nếu người học luôn
sử dụng nó sai thành hệ thống, thì đó là một lỗi Lỗi xảy ra do sự hạn chế
về năng lực ngoại ngữ, người học chưa nắm vững các quy tắc của ngôn ngữ thứ hai và thường sử dụng ngoại ngữ như một bản năng Người học không phát hiện ta rằng mình đã mắc lỗi và không có khả năng tự sửa lỗi
- Miêu tả lỗi: Giai đoạn này được thực hiện sau bước nhận diện lỗi Không có mô tả nào có thể được thực hiện mà không xác định lỗi Việc miêu tả lỗi có thể giúp thống kê và phân loại được các loại lỗi xuất hiện trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai của người học dựa trên các tiêu chí khác nhau Cách phân loại lỗi thường gặp nhất là phân loại theo các cấp
Trang 21độ của của ngôn ngữ như lỗi ngữ âm, lỗi từ vựng, lỗi ngữ pháp, lỗi ngữ dụng
- Giải thích lỗi: Mục tiêu cuối cùng của lý thuyết phân tích lỗi là giải thích các lỗi Do đó, giai đoạn này được coi là quan trọng nhất đối với nghiên cứu phân tích lỗi Để đạt được một số biện pháp khắc phục có hiệu quả, Sanal (2007) tuyên bố rằng các nhà phân tích nên nhận thức được cơ chế gây ra từng loại lỗi Có hai cách giải thích về nguyên nhân của các câu sai (câu trong ngôn ngữ trung gian): Cách thứ nhất cho rằng, người học mang sang ngôn ngữ thứ hai những thói quen trong tiếng mẹ đẻ của họ Cách thứ hai cho rằng, việc học ngoại ngữ là một hoạt động tri nhận, hình thành các giả thuyết và xử lý ngữ liệu; và lỗi là bộ phận đương nhiên, không thể thiếu trong quá trình học ngoại ngữ S.P.Corder chỉ ra rằng:
“Chúng ta không thểsửdụngbất cứ nguyên tắc nào trong các câu của ngôn ngữ người học để cải tiến việc giảng dạy trừ phi chúng ta hiểu được vì sao chúng xuất hiện và xuất hiện như thế nào”
- Đánh giá lỗi: Bước cuối cùng của quá trình phân tích lỗi là đánh giá, xem xét các mức độ của lỗi Bước này sẽ đề cập đến các mức độ tác động của lỗi đến hiệu quả giao tiếp cũng như hiệu quả tiếp nhận ngôn ngữ của học
Việc nghiên cứu và phân tích lỗi sẽ giúp cho nhà nghiên cứu ngôn ngữ hiểu rõ thêm về mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy trong quá trình giao tiếp liên ngôn.Phân tích lỗi cũng có ý nghĩa quan trọng với người học và người dạy tiếng, nó liên quan chặt chẽ đến nghiên cứu xử lý lỗi trong giảng dạy ngôn ngữ Việc phân tích lỗi có thể giúp người dạy lẫn người học giải thích được cơ chế trong việc thể hiện ngôn ngữ của người học và từ đó có thể sẽ tìm ra những phương pháp phù hợp để
Trang 22sửa lỗi, giúp người học hoàn thiện hơn về khả năng sử dụng ngôn ngữ đích của mình
Bất cứ loại hình ngôn ngữ nào cũng có quy tắc của trật tự từ riêng của nó.Quy tắc đó được coi là ngữ pháp.Từ đó, mối quan hệ giữa cụm với cụm
từ cũng quyết định ý nghĩa và để cuối cùng chúng trở thành một câu có nghĩa Nghiên cứu trật tự từ là làm sáng tỏ các lớp trong cụm từ và cấu tạo câu
Ngay từ thế kỷ 19, việc nghiên cứu các cấu trúc ngữ pháp hình thức và trật tự đã được đặt ra.Điều này có thể dẫn ra từ một loại hình ngôn ngữ biến tố điển hình, ngôn ngữ rất khác với tiếng Anh và tiếng Việt, đó là tiếng Nga Trong ngôn ngữ này, việc sử dụng trật tự từ như một phươngthức ngữ pháp đã được nhiều tác giả quan tâm và đề cập tới
đó là lý thuyết về các hình thức ngữ pháp mà A.A Fortunatov đã xây dựng nên trường phái Moscơva nổi tiếng A A Fortunatov đã xây dựng mộtlý thuyết về cấu trúc của các từ tổ mà hạt nhân của nó là các trật tự
và tôn ti của các từ Tiếp theo A.A Fortunatov là A.A Peskopskij trong:
“Cú pháp Nga dưới ánh sáng của khoa học” (1914) đã hoàn thiện lý
Trang 23thuyếtvề cấu trúc ngữ pháp theo quan niệm của ngôn ngữ học Ngamới [20; tr 4]
Thành công lớn nhất về nghiên cứu các đơn vị ngữ pháp màtrước hếtlà cấu trúc cú pháp thuộc về ngôn ngữ học cấu trúc luận, đặc biệt là ngôn ngữ học miêu tả Mỹ, bắt đầu từ L Bloomfield (1933) đến z.Harris (1961).Ngôn ngữ học miêu tả Mỹ trong khichủ trương miêu tả hình thức hoá triệt để đồng thời cũng nêu ra hàng loạt khái niệm về đơn
vị, cấp độ Nhờ có những phương pháp và kỹ thuật miêu tả chính xác, ngônngữhọc miêu tả Mỹ đã xây dựng được một hệ thống các đơn vị cúpháp với các cấu trúc ngữ pháp làm nòng cốt Để nhận diện các đơnvị này, ngôn ngữ học miêu tả Mỹ đã đưa ra được lý thuyết phân bố Việc xác lập các quan hệ cũng đưa ra ý niệm về tập hợp các từtrong một cấu trúc mà nội dung chủ yếu là trật tựtừ
Về sau N Chomsky dù vượt ra khỏi khuôn khổ của ngôn ngữ học miêutả nhưng vấn đề trật tự từ của các yếu tố trong cấu trúc cú pháp vẫn
là những gợi ý hết sức quan trọng để Chomsky xây dựng tiếp lý thuyết
về ngôn ngữ học cải biến và tạo sinh
Ở châu Âu ngữ pháp học truyền thống vẫn duy trì những quan niệmriêng của mình về vấn đề trật tự trong các cấu trúc ngữ pháp, đặc biệt là có sự định hướng về các bình diện chức năng: cụ thể là các phân tíchtrật tự từ về mặt chức năng và tâm lý như Mathezius (trường phái Praha, 1936,1945) cho đến các nhà chức năng hiệnđại như Austin, Searle, Haliday w
Người đầu tiên xem xét trật tự từ tiếng Việt trong cả hệ thốngcó
lẽ là Lê Văn Lý (1948) Khi Ông vận dụng lýthuyết về khả năng kết hợp của từ để mô tả ngữ pháp tiếng Việt,ông đã nhìn thấy vai trò kết hợp quan trọng của phương thức trật tự ngữ pháp.Ông cũng cho rằng
Trang 24sựthay đổicác trật tự trong câu tiếng Việt tất sẽ dẫn đến quá trình tạo nghĩa mới Như vậy, vai trò của trật tự từ trong tiếng Việt rất to lớn và vị trí đứng trướcvị ngữ của chủ ngữ có tính chất ổn địnhcao
Sau đó là các nhà nghiên cứu Việt ngữ như: F Martini (1950); Nguyễn Tài Cẩn (1960); L Thompson (1965); Nguyễn Kim Thản (1963/1964); Hoàng Trọng Phiến (1980); Lý Toàn Thắng (1981/1984); Cao Xuân Hạo (1992) .đã quan tâm nhiều về vấn đề trật tự trong câutiếng Việt
Nghiên cứu trật tự từ thực chất là phân chia các từ vào các từ loại (động từ, danh từ, tính từ , ) hoặc phân chia các từ vào thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ ) theo từng nhóm, tìm rõ quy luật, cách sắp xếp từ hoặc cụm từ Và nếu muốn nghiên cứu sâuhơn thì trật
tự từ không thể không nói đến vấn đề cấu tạocâu
Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát các lỗi
về trật từ từ trong câu và trong ngữ của sinh viên Lào học tiếng Việt tại trường đại học Quảng Bình
1.2.1 Trật tự từ tiếng Việt
Từ của tiếng Viê ̣t không biến đổi hình thái Đặc điểm này sẽ chi phối các đặc điểm ngữ pháp khác Khi từ kết hợp từ thành các kết cấu như ngữ , câu, tiếng Viê ̣t rất coi tro ̣ng phương thức trâ ̣t tự từ và hư từ Diệp Quang Ban đã khẳng định rằng trật tự từ là một công cụ, phương tiện ngữ pháp quan trọng bởi vì tiếng Việt là một điển hình của các ngôn ngữ phân tích và cô lập, trong các ngôn ngữ đó thì ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện chủ yếu thông qua trật tự từ và các thay đổi trong trật tự từ thường dẫn đến sự thay đổi trong các chức năng ngữ pháp trong cụmtừ
Tuy nhiênviệc nghiên cứu trật tự từ tiếng Việt chưa có công trình nào được trình bày theomột hệ thống Thay vào đó, có nhiều côngtrình
Trang 25nghiên cứu cú pháp để khám phá cấu tạo của tiếng Việt, về việc nghiên cứu trật từ từ của tiếng Việt từ năm 1954 trở lại đây, chúng tôi có thể đưa ra một số công trình tiêu biểu của Nguyễn Kim Thản(1963/1964), Nguyễn Tài Cẩn (1975),Hoàng Trọng Phiến (1980),Nguyễn Kim Thản (1981) Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp tiếng Việt” (1992) đề cập đến cấu tạo từ, cấu tạo cụm từ,cấu tạo câu
Tuy vậy, vai trò của trật tự từ với tư cách là một phương thức ngữ pháp không giống nhau trong các ngôn ngữ khác nhau Trong một số ngôn ngữ thì ý nghĩa ngữ pháp của từ không phụ thuộc vào chỗ chúng được sắp xếp kế tiếp nhau theo trật tự thế nào Trái lại, trong các ngôn ngữ như tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng Lào phương thức trật tự có vai trò rất quan trọng Vấn đề này biểu hiện rất rõ ở những trường hợp nếu ta thay đổi trật tự sắp xếp của các từ trong một câu, thì ý nghĩa ngữ pháp của các từ đó cũng thay đổi, và vì vậy, ý nghĩa của cả câu cũng khác Viê ̣c sắp xếp các từ theo mô ̣t trâ ̣t tự nhất đi ̣nh là cách chủ yếu để biểu thi ̣ các quan hê ̣ cú pháp Trong tiếng Viê ̣t khi nói “Anh ta la ̣i đến” là khác với “La ̣i đến anh ta” Khi các từ cùng loại kết hợp với nhau theo quan hệ chính phụ thì từ đứng trước giữ vai trò chính, từ đứng sau giữ vai trò phụ Nhờ trật tự kết hợp của từ mà
“củ cải” khác với “cải củ”, “tình cảm” khác với “cảm tình” Trâ ̣t tự chủ ngữ đứng trước, vị ngữ đứng sau là trật tự phổ biến của kết cấu câu tiếng Việt Xét hai ví dụ có cách sắp xếp trật tự từ khác nhau như sau:
Trang 261 Tôi ăn cơm
2 Cơm ăn tôi Trong các công trình ngữ pháp tiếng Việt từ trước đến nay, các nhà Việt ngữ học đều không thể không đề cập đến vai trò của trật tự từ.Tuy nhiên trong lĩnh vực nghiên cứu về lỗi trật tự từ của người nước ngoài học tiếng Việt thì chưa được chú trọng
1.2.2 Trật tự từ tiếng Lào
Việt Nam và Lào thuộc khu vực Đông Nam Á Cả hai nước đều có quan hệ qua lại lâu năm, có sự giúp đỡ và trao đổi lẫn nhau trong nhiều lĩnh vực, càng ngày càng có quan hệ chặt chẽ và phát triển Đối với các Ngôn ngữ Đông Dương như Lào, Campuchia, Việt Nam và Thái Lan thì ngữ pháp có rất nhiều điểm tương đồng Tiếng Lào và tiếng Việt đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, do đó hai ngôn ngữ này tuy cũng có những điểm dị biệt nhưng lại có nhiều điểm tương đồng trong cả lĩnh vực ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa và ngữ pháp Chính những dị biệt và tương đồng ở trên là một mặt thuận lợi nhưng mặt khác cũng là nguồn gốc gây những trở ngại trong việc dạy và học tiếng Sự giống nhau giữa tiếng Lào và tiếng Việt
là ở chỗ cả hai ngôn ngữ đều coi trật tự từ như là một phương tiệnngữ pháp và trật tự từ đóng một vai trò rất quan trọng Tuy nhiên, không có ngôn ngữ nào mà trật tự từ của nóhoàn toàn cố định cũng như không có ngôn ngữ nào mà trật tự từ của nó hoàn toàn tựdo
Khi muốn diễn nghĩa một câu tiếng Lào, tiếng Thái hoặc tiếng Campuchia sang tiếng Việt thì có thể dịch nghĩa từng từ và xếp theo đúng thứ tự tương ứng thì sẽ thành nghĩa một câu tiếng Việt khá hoàn chỉnh, loại trừ một số trường hợp đặc biệt trong ngữ pháp của các nước Tuy nhiên đặc điểm tương đồng này cũng là một trong những lí do dẫn đến lỗi trong diễn đạt câu, sắp xếp từ ngữ khi sử dụng tiếng Việt
Trang 27Theo bảng phân loại loại hình ngôn ngữ, tiếng Việt, tiếng Lào được xếp vào loại hình đơn hay còn gọi là loại hình phi hành thái, không biến hình, ngôn ngữ đơn tiết hay phân tiết… với những đặc điểm chính nhưsau: Trong hoạt động ngôn ngữ, từ không biến đổi hìnhthái và ý nghĩa ngữ pháp nằm ở ngoàitừ
Ví dụ: Tôi nhìn anh ấy và Anh ấy nhìn tôi
Xét về loại hình trật tự từ thì tiếng Việtvà tiếng Thái có cùng chung loại hình đối với thành phần câu, đó là loại hình: S V O,có nghĩa là trong một câu bình thường (không đánh dấu), thứ tự các thành phần câu được sắp xếp như sau:
S (chủ ngữ) – V (động từ) – O (bổ ngữ) Đây là loại hình phổ biến thứ nhì, chiếm từ 32,4% đến 41,8% trong toàn bộ các ngôn ngữ trên thế giới (chỉ sau loại hình SOV, chiếm 41% đến 51,8%) Tuy nhiên, trật tự từ trong tiếng Lào và tiếng Việt nói chung là khác nhau trong cụm từ, nhất là trong cụm danh từ, điều này dẫn đến các lỗi trong trật tự câu cũng như trật tự ngữ của sinh viên Lào học tiếng Việt
1.3 Câu và cụm từ
1.3.1 Khái niệm câu
Như chúng ta đã biết, câu là một hiện tượng đa dạng và phức tạp trong nghiên cứu ngôn ngữ, vì vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau trongngôn ngữ học đã được ghi lại, người ta coi định nghĩavề câu sau đây là định nghĩa tiêu biểu của ngôn ngữ học truyền thống: “Câu là sự
tổ hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”
Ở phương diện cấu tạo ngữ pháp, cũng tức là ở bậc trừu tượng, khái quát câu là đơn vị ngôn ngữ được tạo nên bởi các đơn vị nhỏ hơn (từ, ngữ cố định, cụm từ tự do) theo những quy tắc ngữ pháp nhất định Ở phương diện sử dụng, mỗi câu luôn gắn với một tình huống
Trang 28cụ thể, biểu hiện một ý nghĩa cụ thể.Câu cụ thể đó được gọi là phát ngôn
Câu là một sản phẩn của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, là loại đơn vị không có sẵn trong ngôn ngữ, là sự kết hợp tự do của những đơn vị có sẵn (từ, cụm từ cố định) hoặc của những đơn vị không có sẵn (các kiểu cụm từ tự do) Về ngữ pháp câu là cốt lõi của phát ngôn, là đơn vị nhỏ nhất cấu tạo văn bản
Câu chứa đựng một nội dung thông báo, thể hiện một ý tương đối trọn vẹn Nội dung đó có thể là hiện thực được phản ánh vào câu như vật, việc, hiện tượng, hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ Hiện thực này sẽ tạo nên phần nghĩa miêu tả (nghĩa sự vật – nghĩa biểu hiện) của câu; quan hệ, thái độ của người nói đối với người nghe
và sự đánh giá chủ quan của người nói đối với hiện thực được nói đến trong câu, nội dung này chính là một yếu tố tạo nên phần nghĩa tình thái của câu Bình diện ngữ pháp của câu nghiên cứu về các quy tắc, các cách thức liên kết các từ thành cụm từ (gọi là cú pháp cụm từ), và thành câu; nghiên cứu các kiểu câu (gọi là cú pháp câu) [1; tr 80]
GS Nguyễn Tài Cẩn định nghĩa câu và ngữ như sau: “Câu là đơn
vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập Ngữ là một cấu tạo ngữ pháp có chính tố và thường có các phụ tố; quan hệ giữa chính tố với phụ tố là quan hệ chính phụ.Nó chỉ có mộttrung tâm về nghĩa” Tác giả giải thích thêm về sự phânbiệt câu vàngữ như sau: “Trong tiếng Việt cần phải đặc biệt chú ý tới sự phân biệt câu và ngữ, tức là chú ý tới sự đối lập quan trong giữa hai trường hợp: trường hợp “đã thành câu” và trường hợp “chưa thành câu” [6, tr 167]
Trang 29Trong nghiên cứu ngôn ngữ, người ta cố gắng tìm cách đưa ra nhữngđịnh nghĩa mà được cho là đầy đủ, sát đúng với đối tượng hơn L Bloomfield, nhà ngôn ngữ học Mỹ viết: “Mỗi câu là một hình thái ngônngữ độc lập, không bị bao hàm vào bất kỳ một hình thái ngôn ngữ nào phức tạp hơn bởi một kiến trúc ngữ pháp này hay kiến trức ngữ pháp nọ” L Bloomfield [20; tr 31] Có thể nói rằng định nghĩa của L Bloomfieldchỉ nêu các dấu hiệu hình thức, vì ông chủ trương chỉ căn cứ vào những gì có thể khảo sátđược
Hoàng Trọng Phiến trong: “Ngữ pháp tiếng Việt: Câu” của mình
đã định nghĩa về câu như sau: “Với tư cách là một đơn vị bậc cao của
hệ thống các đơn vị ngôn ngữ, câu là ngữ tuyến được hình thành một cách trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định,là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và về thái độ của người nói đối với hiện thực ” [26; tr31]
Theo Diệp Quang Ban thì “Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ có cấutạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tựlậpvà ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” Câu đơn được tác giả định nghĩa:“Câu đơn bình thường là câu được làm thành từ một cụm chủ - vị ở vị trí tự lập và mang một ngữ điệukết thúc”[2; tr 107]
1.3.2 Khái niệm cụm từ
Trong hoạt động của lời nói, các từ phải thường xuyên kết hợp với nhau để tạo nên những đơn vị lớn hơn nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp và tư duy của con người Trong số những đơn vị ngôn ngữ được tạo nên có cụm từ Có thể hiểu cụm từ là tổ hợp các từ theo một quan hệ ý nghĩa và quan hệ ngữ pháp nhất định, đảm nhiệm
Trang 30chức năng một thành phần cú pháp trong câu.[1; tr 52]
Nguyễn Tài Cẩnđã đề cập đến đoản ngữ(cụm từ) là tổ hợp tự do
có thể chia thành ba loại quan hệ khác nhau Đó là từ tổ bằng quan hệ liên hợp (như là: thông minh và tích cực), quan hệ mệnh đề (ví dụ: Nó ngủ), quan hệ chính phụ (ví dụ: tỉnh lớn ) là đoảnngữ Tác giả định nghĩa ngữ như sau: “Ngữ là một cấu tạo ngữ pháp có chính tố và thường có các phụ tố; quan hệ giữa chính tố với phụ tố là quan hệ chính phụ Nó chỉ có mộttrung tâm về nghĩa”[6;tr 47]
Theo Diệp Quang Ban thì: “Cụm từ là những kiến trúc gồm hai
từ tổ trở lên kết hợp “tự do” với nhau theo những quan hệ ngữ pháp hiển hiện nhất định và không chứa kết từ ở đầu (để chỉ chức vụ ngữ pháp của kiến trúc này).Khi các từ được kết hợp với nhau theo những quan hệ khác nhau ta sẽ thu được các đơn vị cú pháp Đơn vị cú pháp nhỏ
nhất là cụm từ Đó là những tổ hợp từ gồm từ hai từ trở lên, trong đó có ít
nhất là một thực từ [3; tr.6]
Ví dụ: 1) Tôi và anh
2) Đẹp nhưng lười
3) Thành phố bên sông Trong ngôn ngữ, có hai loại cụm từ: cụm từ tự do và cụm từ cố định Cụm từ cố định được hình thành trong lịch sử, đã được cố định hóa (tương đối) về cấu tạo, ngữ âm và ngữ nghĩa Thành ngữ, quán ngữ chính là những cụm từ cố định Cụm từ tự do là những kết hợp từ được tạo ra một cách tức thời trong quán trình giao tiếp, theo những quy tắc ngữ pháp và những kiểu quan hệ ngữ pháp nhất định Các cụm từ tự do sẽ tự động giải thể sau khi hoạt động giao tiếp kết thúc Cụm từ tự do không có tính ổn định, bền vững như cụm từ cố định
Trang 31Cụm từ tự do có vai trò rất quan trọng trong việc cấu tạo câu vì các cụm từ tự do đảm đương chức năng của các thành phần câu
Căn cứ vào kiểu quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố, có thể phân biệt ba kiểu cụm từ tự do là: cụm từ đẳng lập, cụm từ chủ vị và cụm từ chính phụ
Mỗi ngôn ngữ có những cách thức khác nhau để cấu tạo các cụm từ, vì vậy không nắm vững các nguyên tắc cấu tạo cụm từ trong tiếng Việt sẽ dẫn đến việc tạo ra những câu không đúng ngữ pháp Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉđề cập đến lỗi của học viên người Lào học tiếng Việt xảy
ra trong các cụm từ chính phụ là loại cụm từ mang nhiềuđặc trưng cú pháp của tiếng Việt Cụm từ chính phụ là cụm từ có một thành tố chính(trung tâm) và một hay nhiều thành tố phụ đứng trước và sau thành tố chính Căn
cứ vào vị trí của thành tố phụ có thể phân biệt thành tố phụ trước và thành
tố phụ sau
Ví dụ: 1) Đang đọc sách
2) Những học sinh ấy
Thành tố chính thường chỉ có một từ, thành tố phụ có thể là một từ hoặc một cụm từ (chính phụ, đẳng lập, chủ vị) Cụm chính phụ được chia thành: cụm danh từ,cụm động từ, và cụm tính từ
Trang 32CHƯƠNG 2: KHẢO SÁT LỖI VỀ TRẬT TỰ TRONG CỤM TỪ VÀ
MỘT SỐ BÀI TẬP KHẮC PHỤC LỖI 2.1 Dẫn nhập
Đối với việc học ngoại ngữ, mắc lỗi là việc không thể tránh khỏi.Lỗi
về trật tự từ là một trong những lỗi về ngữ pháp mà học viên thường mắc phải trong quá trình học tiếng Việt như một ngoại ngữ.Như đã đề cập ở trên, trật tự từ đóng một vai trò quan trọng trong việc liên kết các đơn vị ngôn ngữ cơ bản để diễn đạt một ý nghĩa nhất định.Sự giống nhau giữa tiếng Lào và tiếng Việt là ở chỗ cả hai ngôn ngữ đều coi trật tự từ là một phương tiện ngữ pháp và trật tự từ đóng một vai trò rất quan trọng Việc sắp xếp sai trật tự từ trong cụm từ hay trong câu có thể dẫn đến sai về nghĩa hoặc không đúng với quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt Xét về loại hình trật tự từ thì tiếng Việtvà tiếng Lào có cùng chung loại hình đối với thành phần câu, đó là loại hình: S V O,có nghĩa là trong một câu bình thường (không đánh dấu), thứ tự các thành phần câu được sắp xếp như sau:
S (chủ ngữ) – V (động từ) – O (bổ ngữ)
Đây là loại hình phổ biến thứ nhì, chiếm từ 32,4% đến 41,8% trong toàn bộ các ngôn ngữ trên thế giới (chỉ sau loại hình SOV, chiếm 41% đến 51,8%) Tuy nhiên, trật tự từ trong tiếng Lào và tiếng Việt nói chung là khác nhau trong cụm từ, nhất là trong cụm danh từ (noun phrase) mà ta sẽ xét trong chương này Qua thực tế khảo sát các lỗi về trật từ từ của học viên người Lào, chúng tôi ghi nhận lỗi về trật tự từ trong cụm tính từ hầu như không xuất hiện, hơn nữa đặc điểm về cụm tính từ tiếng Lào cũng tương tự như đặc điểm của cụm động từ và không có gì khác biệt so với tiếng Việt cho nên chúng tôi sẽ tiến hành mô tả và phân tích các lỗi thuộc nhóm cụm danh từ và cụm động từ Trong phạm vi của đề tài chỉ xem xét các lỗi về
Trang 33trật tự từ của học viên người Lào học tiếng Việt cho nên luận văn sẽ không
đề cập đến những lỗi khác
2.2 Lỗi trật tự từ trong cụm danh từ
2.2.1 Đặc điểm cụm danh từ trong tiếng Việt
Cụm danh từ là loại cụm từ chính phụ trong đó thành tố trung tâm là danh từ còn các thành tố phụ là những từ có chức năng bổ sung ý nghĩa cho
danh từ trung tâm đó Cụm danh từ gồm ba phần, được kết hợp ổn định với nhau theo thứ tự:
- Phần trung tâm của cụm danh từ không phải là một từ mà một bộ phận
ghép gồm 2 vị trí nhỏ T1 và T2
+ T1 là trung tâm chỉ về đơn vị, T2 là trung tâm chỉ về sự vật được đem ra
kế toán đo lường T1 nêu chủng loại khái quát, T2 nêu sự vật cụ thể
+ T1 là trung tâm về mặt ngữ pháp, T2 là trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng Đứng về mặt thực tế mà xét thì T2 có phần quan trọng hơn; nhưng đứng về mặt tìm hiểu quy tắc ngôn ngữ mà xét thì T1 lại có phần quan trọng hơn
Trang 34+ Với hai vị trí T1, T2, bộ phận trung tâm có thể xuất hiện dưới 3 biến dạng:
Dạng đầy đủ: T1 T2 (con chim, chiếc bàn )
Dạng thiếu T1: - T2 (chim, bàn, sách )
Dạng thiếu T2: T1 – (con, chai (này)
+ Vị trí T1 là các danh từ chỉ đơn vị như: chiếc, đứa, con, tạ
– Phần phụ trước có cấu trúc tối đa gồm ba định tố: Đ1 + Đ2 + Đ3
+ Đ3 là định tố chỉ xuất “cái” đứng ngay trước danh từ trung tâm.Thành
phần này có thể kết hợp với các danh từ loại thể khác (trừ danh từ chiếc) để nhấn mạnh hoặc thể hiện những thái độ khác nhau của người nói Ví dụ :
1) Cái con mèo này chỉ hay ăn vụng
2) Cái tấm rèm kia hợp hơn với màu cửa sổ;
3) Ai cũng kêu cái vị lãnh đạo bất tài đó
+ Đ2 là định tố có chức năng biểu thị ý nghĩa số lượng Đó có thể là :
Định từ chỉ số lượng như: những, các, mọi, mỗi, một, từng
Ví dụ :
1) Những con lạc đà này giúp người dân Sahara đi qua sa mạc
2) Cảnh sát kiểm tra từng ngôi nhà
Số từ chỉ số lượng như: năm, vài, dăm, mươi…
Ví dụ :
1) Nhà tôi nuôi năm con mèo
2) Dưới chân núi chỉ có vài nóc nhà
+ Đ1 là các đại từ chỉ tổng lượng: tất cả, tất thảy, hết thảy, cả… Ví dụ :
1) Mùa đông, tất cả những con thiên nga này sẽ bay xuống miền
nam
2) Đói quá, nó ăn hết cả một ổ bánh mì
Trang 35Trên đây là cấu trúc tối đa của thành phần phụ trước danh từ trung tâm.Trong thực tế, cụm danh từ có thể thiếu một hoặc hai định tố
Ví dụ : tất cả những đêm sáng trăng (không có Đ3); có những đêm không ngủ (không có Đ1 và Đ3) ; cái đêm ấy (không có Đ1 và Đ2)
– Phần phụ sau có cấu trúc tối đa gồm ba định tố: Đ4 + Đ5 +Đ6
+ Đ4 là định tố đứng ngay sau danh từ trung tâm để bổ sung ý nghĩa hạn
định Đó có thể là :
Tính từ Ví dụ :
1) Đó là những sinh viên nghèo
2) Bốn người đi trên một chiếc thuyền độc mộc
Danh từ hoặc giới ngữ
Ví dụ :
1) Học sinh đang chơi trên sân trường
2) Tôi đã đến thăm quê hương của Sôpanh
3) Đây là loại máy bay do Mỹ sản xuất
Động từ Ví dụ :
1) Phòng làm việc này thiếu ánh sáng
+ Đ5 cũng là định tố đứng sau danh từ trung tâm để bổ sung thêm ý nghĩa hạn định Điểm khác nhau giữa Đ4 và Đ5 là: Đ4 nêu đặc trưng thường xuyên, còn Đ5 biểu thị đặc trưng không thường xuyên Ví dụ:
1) Chiếc máy ảnh kĩ thuật số mới mua chụp rất nét
(Đ4) (Đ5)
+ Đ6 là định tố biểu thị sự chỉ định về không/thời gian đối với danh từ
trung tâm, do vậy ở vị trí này luôn là các đại từ chỉ định: này, kia, ấy, nọ, đó… Ví dụ:
1) Những buổi học lịch sử khô khan đó không mang lại hiệu quả 2) Mọi người vẫn nhớ những năm tháng khó khăn đó
Trang 36ý nghĩa
số lượng
Từ chỉ xuất cái
Trung tâm
Định tố biểu thị
ý nghĩa
hạn định
Định tố biểu thị
2.2.2 Đặc điểm cụm danh từ trong tiếng Lào
Tiếng Lào hiện nay được xếp vào loại hình đơn lập, tức là các từ thuộc lớp từ vựng cơ bản trong ngôn ngữ phần lớn là từ một âm tiết và là hoạt động tự do không phụ thuộc về mặt hình thái với các từ khác trong câu, có thể nói “ từ là hình thái tự do” (boundless form) Đặc điểm đơn lập
có thể thấy rõ trong lớp từ cơ bản thường được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Mặc dù giữa tiếng Việt và tiếng Lào có nhiều nét tương đồng với nhau về mặt ngữ pháp, nhưng trong cấu trúc cụm danh từ của tiếng Lào
có một số nét khác biệt rõ ràng Nếu như cụm danh từ tiếng Việt gồm ba
phần rõ rệt, được kết hợp ổn định với nhau theo thứ tự: Phần phụ trước – phần trung tâm – phần phụ sau; thì trong cấu trúc cụm danh từ của tiếng Lào lại phổ biến theo thứ tự: Phần trung tâm – phần phụ sau mà cụ thể hơn
là có trật tự như sau:
Trang 37Danh từ
trung
tâm
Phụ tố miêu
tả, hạn định
Phụ tố chỉ sốlƣợng
Danh
từ chỉ đơn vị
Phụ tố chỉ tổng thể
Phụ tố chỉ định
Trong đó :
- Danh từ trung tâm cũng giống trong tiếng Việtluôn đứng đầu trong cụm danh từ và giữ vai trò chính
- Phụtốmiêutả,hạnđịnhnhư:lớn (nhay), mới (may), cũ (cau)
- Phụtốchỉtổngthểnhư: cả, tất cả (thăng một), mọi (thuk thuk)
- Phụtốchỉsốlượngnhư: một, hai, vài (báng), dăm
- Danhtừchỉđơnvịnhư: เลquyển (húa), tờ (báy), chai (quật)
- Phụtốchỉđịnh: đây (ni) đó, kia, ấy (năn)
Theo cấu trúc đã chỉ ra ở trên, ta có thể thấy rằng, loại từ tiếng Lào được phân bố phổ biến ở phía sau danh từ trung tâm nhưng cũng có một số trường hợp đặc biệt được đặt trước trung tâm (số từ + loại từ + danh từ trung tâm) tương tự như trong cấu trúc cụm danh từ tiếng Việt và có ý nghĩa hoàn toàn như nhau
Ngoài ra trong tiếng Lào còn có một điểm đặc biệt khác với tiếng Việt.Trong tiếng Lào, tiếng Thái và tiếng Khmer có một biến cách Ngữ pháp rất đặc biệt giống nhau đó là liên quan đến số đếm nếu số lượng người hay vật hay sự kiện nhiều hơn 1 thì trật tự của cụm từ vẫn giống như trong
tiếng Việt hoặc nhiều Ngôn ngữ khác là: Số lượng (số đếm) + Danh
từ (người, vật, sự vật)
Trang 38Nhưng nếu chỉ là một duy nhất thì cấu trúc cụm từ lại thay đổi ngược lại là:
Danh từ (người, vật, sự vật) + 1 (chỉ số lượng)
Ví dụ:
Sorng kon (xoong khôn) (hai người) Hai người
Kon neung (khôn nừng) (người một) Một người
Điểm khác biệt này cũng ảnh hưởng đến quá trình học tiếng Việt của học viên người Lào, dẫn đến mỗi số lỗi liên quan đến đặc điểm này
2.2.3 Một sỗ lỗi về trật tự trong cụm danh từ
1 Người Việt Nam tất cả
thích giúp đỡ người
Lào
Tất cả người Việt Nam thích giúp đỡ người Lào
A
2 Chúng em tất cả đi
tham quan động Phong
Nha vào ngày thứ bảy
Tất cả chúng em đi tham quan động Phong Nha vào ngày thứ bảy
Trang 396 Em đi với bạn 6 người Em đi với 6 người bạn A
7 Anna đi chợ mua vài 2
tấm để may áo dài
Anna đi chợ mua 2 tấm vải để may áo dài
A
8 Bàn gỗ cái kia là của
ông nội làm cho tôi lâu
rồi
Cái bàn gỗ kia là của ông nội làm cho tôi lâu rồi
10 Tôi khát nước quá lấy
cho tôi nước một
ngôi mới ở đây
Chúng tôi sẽ xây ngôi nhà mới ở đây
B
Phụ lục 1: Một số lỗi trong trật tự cụm danh từ
Như đã trình bày ở trên, cụm danh từ trong tiếng Việt và tiếng Lào
có một trật tự sắp xếp khác nhau Trong tiếng Việt, ngữ đoạn danh từ trong dạng đầy đủ nhất được chia làm ba phần rõ rệt gồm: phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau Trong thực tế, cụm danh từ tiếng Việt có thể xuất hiện dưới dạng chỉ có hai phần: dạng chỉ có phần phụ trước và phần trung tâm và dạng chỉ có phần trung tâm và phần phụ sau Trong khi đó, trong cụm danh từ tiếng Lào tất cả các thành phần phụ đều thường đứng sau danh từ trung tâm Dựa trên bảng so sánh cụm danh từ trong tiếng Việt
Trang 40– tiếng Lào và ngữ liệu thu thập được, chúng tôi đã phân loại các lỗi trong cụm danh từ thành một số nhóm như sau:
- Lỗi ở vị trí Đ1: tất cả, cả, tất thảy
Trong cụm danh từ tiếng Việt “tất cả” thường nằm ở phần phụ trước (Đ1 + TT) nhưng trong tiếng Lào “tất cả” thường đứng sau danh từ trung tâm
Cấu trúc sai: TT + Đ1
Ví dụ: 1) Người Việt Nam tất cả thích giúp đỡ người Lào
2) Người lớn mọi đều phải đi làm
3) Học sinh lớp A và lớp B tất cả đi tham quan với nhau
- Lỗi ở vị trí Đ2 là định tố có chức năng biểu thị ý nghĩa số lượng
(Đ2+TT): những, các, mọi, mỗi, một, từng, năm, vài, dăm
Cấu trúc sai: TT +Đ2
Ví dụ: 1) Mỗi người ngồi bàn một
2) Tôi có tiền một ít
- Lỗi ở vị trí Đ3 là từ chỉ xuất “cái” (cái + TT)
Cấu trúc sai: TT + cái
Ví dụ:1) Con mèo cái này nhảy lên bàn làm lọ hoa vỡ rồi
2) Điện thoại cái này bị hỏng rất nhiều lần rồi
Về mặt ý nghĩa, trong tiếng Việt loại từ “cái” được dùng để diễn đạt
ý nghĩa cá thể; định tố “cái” trong cụm danh từ, trái lại, dùng để nhấn mạnh vào sự vật, để chỉ xuất sự vật, thường đứng trước các từ chỉ đơn vị ở danh
từ trung tâm và không thể thay thế bởi một từ nào khác Khác với cụm danh từ tiếng Việt, cụm danh từ tiếng Lào lại không đặt từ “cái” trước danh
từ trung tâm