ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN XUÂN HOA NHẬN DẠNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT CHẾ BIẾN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN XUÂN HOA
NHẬN DẠNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
THÔNG QUA NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT CHẾ BIẾN KINH DOANH HẢI SẢN VỚI CỘNG ĐỒNG
DÂN CƯ SỐNG XUNG QUANH
PHÚ HÀI & ĐỨC THẮNG TP.PHAN THIẾT, BÌNH THUẬN )
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TP.HCM - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN XUÂN HOA
NHẬN DẠNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG GIỮA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT CHẾ BIẾN KINH DOANH HẢI SẢN
VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ SỐNG XUNG QUANH
(NGHIÊN CỨU CÁC TRƯỜNG HỢP Ở PHƯỜNG MŨI NÉ, PHÚ HÀI &
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ NGÀNH : 60.34.72
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHẠM XUÂN HẰNG
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC 1
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT 4
1 PHẦN 1 MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu 7
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 10
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Khách thể và phạm vi nghiên cứu 11
6 Câu hỏi (vấn đề nghiên cứu) 12
7 Giả thuyết nghiên cứu 12
8 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Cấu trúc của luận văn 14
2 PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 16
1 Nhận dạng MT, mối quan hệ giữa MT với cuộc sống con người 16
1.1 Khái niệm Môi trường 16
1.2 Mối quan hệ giữa môi trường với cuộc sống con người 17
1.3 Ô nhiễm môi trường 17
1.4 Nguồn gây ô nhiễm môi trường 18 1.5 Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường 19 1.6 Phát triển bền vững 19
1.7 Cộng đồng và cộng đồng dân cư 20
1.8 Khái niệm cộng đồng 20
1.9 Khái niệm cộng đồng dân cư 21
2 Khái niệm xung đột môi trường 21
2.1 Khái niệm xung đột 21
2.2 Khái niệm xung đột môi trường 22
Trang 42.3 Các dạng xung đột môi trường 24
2.4 Các đặc điểm của xung đột môi trường 24
2.5 Nguyên nhân xung đột môi trường 24
2.6 Mức độ xung đột môi trường 26
2.7 Giải quyết xung đột môi trường 27
3 Quản lý xung đột môi trường và các khái niệm liên quan 27 3.1 Khái niệm quản lý 27 3.2 Khái niệm quản lý mội trường 28 3.3 Nội dung quản lý xung đột môi trường 28 3.4 Các công cụ quản lý môi trường 29 CHƯƠNG 2 NHẬN DẠNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA NHẬN DIỆN XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG Ở THÀNH PHỐ PHAN THIẾT (qua các phường: Mũi Né, Phú Hài) 30 I Nhận diện xung đột môi trường ở phường Mũi Né và Phú Hài 30 1 Đặc điểm tự nhiên Tỉnh Bình Thuận 30
1.1 Điều kiện tự nhiên, KT – XH và hoạt động CBHS của Phan Thiết 30
1.2 Điều kiện tự nhiên, KT – XH của phường Mũi Né 32 1.3 Điều kiện tự nhiên, KT – XH của phường Phú Hài 33 2 Nhận diện tình hình ô nhiễm MT do hoạt động của khu quy hoạch 34
2.1 Tác động môi trường trong hoạt động SX của khu quy hoạch 34
2.2 Tình hình SX của 1 trong 4 cơ sở SX trong khu quy hoạch 44
2.3 Đánh giá tình hình ô nhiễm môi trường do các cơ sở SX gây nên 47 2.4 Tình hình ô nhiễm môi trường ở các CSSX của Phú Hài, Mũi Né 48 3 Các dạng XĐMT của các CSSX và Khu quy hoạch với CĐDC 51
3.1 Các dạng xung đột 51
3.2 Xung đột giữa các đương sự……… 60
3.3 Nguyên nhân xung đột……… 61
3.4 Tác động của xung đột……… 62
3.5 Thực trạng quản lý XĐMT tại phường Mũi Né và Phú Hài………… 64
II Nhận dạng môi trường ở Thành phố Phan Thiết (trường hợp phường 68
Trang 5Mũi Né và Phú Hài)
1 Đặc điểm và bản chất của quá trình hình thành và phát triển các cơ sở
sản xuất chế biến hải sản…
68
2 Nguyên nhân (ai gây ra) dẫn đến sự ô nhiễm môi trường 69
3 Các dạng môi trường chính ta nhận biết (dạng) được thông qua nhận
diện xung đột môi trường ở phường Mũi Né và Phú Hài
71
4
Một số phương thức nhằm hạn chế xung đột môi trường giữa các cơ
sở sản xuất với cộng đồng dân cư nhằm làm cho vấn đề môi trường
nơi đây ngày càng tốt hơn
73
PHẦN 3 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
1 Kết luận 79
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 87
Trang 7PHẦN I - MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Môi trường sinh thái và con người là một chỉnh thể thống nhất có mối quan hệ biện chứng rất khăng khít và chặt chẽ với nhau Môi trường (MT) có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống con người, sinh vật và sự phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội của từng địa phương, của đất nước và của nhân loại.Trong cuộc sống hàng ngày, con người đã không ngừng tác động tới môi trường nhưng không phải ai cũng
có ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường (BVMT) Nhiều khi do vô tình hay cố ý con người không tuân thủ những quy định của Pháp luật, thực hiện những hành vi gây ra tác hại không nhỏ, làm ô nhiễm MT và phá vỡ sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của nó Điều đó dẫn đến những hậu quả tác hại mà cuộc sống của chính con người đang phải gánh chịu Sự biến đổi khí hậu, sự ô nhiễm các nguồn nước (Ngầm, mặt ) sự ô nhiễm không khí, sự cố MT và phát sinh các loại dịch, bệnh ngày càng nguy hiểm hơn: dịch Sart, cúm gia cầm: H5N1, H1N1… những hậu quả đó không chỉ đối với hiện tại mà còn tiềm ẩn những nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đối với cuộc sống con người chưa thể lường hết được
Cạnh đó, trong quá trình đô thị hoá và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng hiện nay, ngày càng nảy sinh những xung đột (XĐ) về ô nhiễm MT đặc biệt là giữa các
Xí nghiệp nhỏ, cơ sở nhỏ hoặc hộ gia đình sản xuất chế biến kinh doanh hải sản với cộng đồng dân cư (CĐDC) sống xung quanh Trong nhiều trường hợp, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp(DN), các cơ sở sản xuất (CSSX) và cộng đồng dân
cư khó đạt được những thoả hiệp vừa lòng các bên và cũng khó tìm ra một giải pháp
ôn hoà
Từ khi nhà nước thực hiện tiến trình đổi mới, chính sách kinh tế mở cửa đã khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển… tạo ra MT thuận lợi cho việc phát huy tính năng động của người dân trong việc đầu tư vào sản xuất, phát triển các CSSX và đã tạo ra nhiều hàng hoá, của cải vật chất cho xã hội, tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho người lao động nhất là ngư dân nghèo ven biển
Trang 8Tuy nhiên, ngoài các doanh nghiệp lớn, công nghệ tương đối hiện đại, hệ thống xử lý các chất thải (nước thải, chất thải , khí thải…) được trang bị tương đối hoàn chỉnh thì các CSSX nhỏ phần lớn thiết bị là thủ công, chắp vá, công nghệ lạc hậu, tiêu tốn vật tư nguyên liệu, sử dụng các hoá chất một cách tuỳ tiện Đặc biệt là các CSSX này sản xuất (SX)có khi là tại hộ gia đình chung với nơi sinh sống nhằm tận dụng thời gian nhàn rỗi, tận dụng lao động nhằm tăng thu nhập thêm và giải quyết một phần việc làm cho các lao động phổ thông, đơn giản không cần trình độ
Do SX trên một thực trạng hạ tầng không được tính toán quy hoạch trước nên chất thải không được tập trung xử lý mà bị trộn lẫn với chất thải sinh hoạt rồi thải ra cống, rãnh thoát nước chung hoặc trực tiếp ra sông, ra biển dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm cho nhau và cho MT rất khó khắc phục Việc xả thải một cách bừa bãi các chất thải là nguồn gốc chính gây ô nhiễm MT, phát sinh các bệnh tật, làm mất vệ sinh chung, ảnh hưởng đến sức khoẻ và cuộc sống con người, từ đó xảy ra các xung đột môi trưòng(XĐMT) ngay trong các CSSX và với CĐDC sống xung quanh Thực tế hiện nay, hoạt động của các cơ sở sản xuất trên toàn quốc nói chung
và tại Phan Thiết (Tỉnh Bình Thuận) nói riêng rất phát triển và theo đó XĐMT dạng tiềm ẩn khá nhiều và một số mâu thuẫn đã bộc lộ mà cơ chế chính sách hiện nay về
MT chưa đủ để có thể thực hiện phát triển bền vững trong các CSSX… gây khó khăn cho công tác quản lý môi trường (QLMT) ở địa phương
Tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu để nhận dạng vấn đề
MT thông qua nhận diện XĐMT nhằm xác định nguyên nhân và đặc điểm XĐ, cũng như để góp phần vào việc đề xuất cơ chế, chính sách quản lý XĐMT phù hợp trong các CSSX và CĐDC chúng tôi chọn đề tài: “Nhận dạng vấn đề môi trường thông qua nhận diện xung đột môi trường giữa các Cơ sở Sản xuất Chế biến Kinh doanh Hải sản với cộng đồng dân cư sống xung quanh” (Nghiên cứu các trường hợp cụ thể ở các Phường: Mũi Né, Phú Hài tại Thành Phố Phan Thiết ) Qua đó để nhận dạng vấn đề môi trường đồng thời phát hiện các dạng XĐ và trên cơ sở đó đề xuất các phương thức nhằm quản lý XĐMT nơi đây hiệu quả hơn
Môi trường các CSSX có nhiều điều để quan tâm để tìm lời giải nhằm khôi phục một cách cơ bản theo quan điểm phát triển bền vững (PTBV), là:1 Các CSSX
Trang 9ngày càng phát triển trong khi chưa có những phương thức xử lý ô nhiễm thích hợp dẫn đến XĐMT ngày càng phức tạp.2.Việc quản lý các XĐ này tại CSSX chưa tốt dẫn đến nảy sinh những mâu thuẫn về điều kiện SX, ảnh hưởng xấu đến phát triển
KT - XH của địa phương.3.Môi trường các CSSX nhiều nơi ô nhiễm nặng đã ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ những người ở đây cũng như CĐDC xung quanh
Việc nghiên cứu tìm các phương thức để giải quyết được vấn đề môi trường nêu trên nhằm đảm bảo cho cuộc sống và sức khoẻ của mọi người trong các CSSX
và CĐDC là bài toán mà các cấp chính quyền cần có lời giải phù hợp nhằm góp phần ổn định XH, tăng thu nhập, giải quyết việc làm, cải thiện MT, bảo đảm PTBV
2 Lịch sử nghiên cứu:
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Năm 1990, lần đầu tiên Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thuộc Đại học Quốc gia Ôxtrâylia đã được cấp một khoảng kinh phí ưu tiên để tổ chức một khóa đào tạo về quản lý XĐMT trên cơ sở những nghiên cứu điển hình QLMT ở Ôtrâylia XĐMT là một dạng xung đột XH liên quan đến hoạt động quản
lý, sử dụng tài nguyên MT XĐMT là một vấn đề bức xúc và đang diễn ra rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới, phong trào đấu tranh vì sự bình đẳng trong việc sử dụng lợi thế tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn MT sống như phong trào “Hòa bình xanh” đang trở thành một phong trào chính trị
Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Công nghệ Châu Á (AIT) (1993): XĐMT
là XĐ quyền lợi của cộng đồng, vị trí nghề nghiệp và ưu tiên chính trị; là những mâu thuẫn giữa hiện tại và tương lai, giữa bảo tồn và phát triển Kết quả của XĐMT
có thể là xây dựng hoặc phá hủy phụ thuộc vào QLXĐ.XĐMT là kết quả của việc
sử dụng tài nguyên do một nhóm người gây bất lợi cho nhóm khác.XĐMT là kết quả của việc khai thác quá mức hoặc lạm dụng tài nguyên thiên nhiên (TNTN) Năm 1993, Trung tâm đào tạo thường xuyên của Học viện Công nghệ Châu Á(AIT) đã đưa nội dung XĐMT vào chương trình đào tạo chính thức trong khóa
học: Mội trường và Phát triển Tài nguyên Môi trường và sử dụng Trong chương
trình này, người ta đề cập đến khái niệm và nguyên nhân XĐMT Đồng thời đã đưa
Trang 10ra những lý thuyết về các phương thức giải quyết XĐMT như một bộ phận quan trọng của chính sách quản lý môi trường (QLMT)
Năm 1995, Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi Trường ( CRES) thuộc Đại học Quốc Gia Ôxtrâylia đã xuất bản cuốn sách : Những rủi ro và cơ hội Quản
lý tổng hợp xung đột môi trường Đây là tài liệu hướng dẫn cho quản lý (QL) biến đổi môi trưòng và giải quyết thành công các xung đột môi trường
Năm 1998, quốc hội Mỹ đã thành lập Viện nghiên cứu giải quyết XĐMT nhằm hỗ trợ các đối tác trong việc giải quyết các XĐ và các tranh cãi về MT, TNTN, sử dụng đất thông qua các cuộc hòa giải, thương lượng và hợp tác giải quyết khó khăn Từ khi thành lập, Viện này đã tổ chức nhiều khóa đào tạo, bồi dưỡng tập huấn về XĐMT cho nhiều nước khác nhau như: Thái Lan, Úc, Mỹ, Canada…
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam vấn đề XĐMT những
năm gần đây cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu: Nguyên nhân và giải pháp quản lý XĐMT của Nguyễn Quang Tuấn (2000) – kỷ yếu hội thảo XHH
MT, Bộ KHCN MT – số 11/2000; Chính sách QLMT đối với việc giải quyết XĐMT của Lê Thanh Bình (2000); Nghiên cứu XĐMT tại Việt Nam qua một điểm khảo sát của Nguyễn Thị Hiền và Đặng Đình Long (2000); Khoa học MT của Lê Văn Khoa (NXB Giáo dục); Giải pháp chính sách giảm thiểu XĐMT trong sử dụng tài nguyên của CĐDC vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (Nghệ An) của Chu Thị Thu Hà (2002); QLXĐ trong các Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng của Đặng Thị Ánh Nguyệt (2004); Tổng quan các mô hình giải quyết XĐ có sự tham gia của các tổ chức XH dân sự trong QL bãi rác ở một số nước của Trần Chí Đức (2005)… Theo Vũ Cao Đàm(*)
“Xung đột môi trường là một khái niệm của xã hội học môi trường, là một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu môi trường ở nước ta Xung dột môi trường luôn có thể xảy ra giữa xí nghiệp hoặc bệnh viện với cộng đồng dân cư hoặc trong nội bộ cộng đồng dân cư trong các làng nghề”
(*) Vũ Cao Đàm, Giải quyết xung đột mội trường trong các làng nghề, nội dung tất yếu của quản lý môi trường, tạp chí bảo vệ môi trường số 9/2001.
Trang 11Cũng theo Vũ Cao Đàm “Xung đột môi trường đáng được xem là một chủ đề quan trọng hàng đầu trong xã hội học mội trường và thực tiễn hoạch định chính sách và quản lý môi trường Cũng chính vì vậy , xung đột môi trường ngày càng trở nên một phạm trù khoa học có ý nghĩa then chốt trong các nghiên cứu lý thuyết của
bộ môn khoa học về xã hội học môi trường [18, tr.37]
Theo Lê Thanh Bình (*1) “ Nói đến các vấn đề môi trường là nói đến xung đột môi trường, bởi vì những vấn đề MT khi phát sinh ra đòi hỏi phải có những xử lý, giải quyết là vì có những XĐ XĐMT được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau qua nhiều bước : Trước hết là những mục đích tiềm ẩn khác nhau , tiến đến những hành động không tương hợp, đến giai đoạn cao hơn là những mâu thuẩn ,bất đồng trong quan điểm khai thác sử dụng tài nguyên môi trường và chia sẽ các nguồn lợi ; nếu những mâu thuẩn này không được giải quyết sẽ phát triển lên mức cao hơn , gay gắt hơn, dẫn đến các hành động đấu tranh của những nhóm người đông làm mất ổn định
xã hội, mất ổn định chính trị”
Theo Nguyễn Quang Tuấn(*2) “Cơ chế chính sách yếu kém cũng là nguyên nhân làm gia tăng các XĐMT Trong đó quyền sử dụng các tài sản MT không được xác định rõ là một nguyên nhân trọng yếu Sự phát triển của khoa học - công nghệ cũng như sự gia tăng dân số đã làm gia tăng tốc độ khai thác tài nguyên dẫn đến gia tăng tính khan hiếm của tài nguyên Kết quả là sự gia tăng khả năng XĐMT, đặc biệt đối với những tài nguyên mà ở đó quyền sử dụng không được xác định rõ” Năm 2002, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường( INEST) Trường Đại học Bách khoa Hà Nội chủ trì một đề tài cấp nhà nước với tên : “ Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn
đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam” Với mã hiệu KC 08-09 Đề tài đã nêu được khái quát một bức tranh ô nhiễm của các loại hình ngành nghề trong làng của
cả nước, đánh giá và phân loại ô nhiễm theo các tiêu chuẩn Việt Nam về MT, đề xuất các giải pháp kỹ thuật, giải pháp quy hoạch
(*1) Lê Thanh Bình, Chính sách quản lý môi trường đối với việc giải quyết xung đột môi trường luận văn Thạc sỹ khoa học(2000)
(*2) Nguyễn Quang Tuấn, Xung đột môi trường: Nguyên nhân và giải pháp quản lý xung đột môi trường, Kỹ yếu hội thảo xã hội học môi trường, Bộ KH&CN, số 11/2000
Trang 12Ở nước ta hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về nhận dạng vấn đề môi trường thông qua nhận diện XĐMT tại các CSSX với CĐDC sống xung quanh
Vì vậy, chúng tôi chọn “ Nhận dạng vấn đề môi trường thông qua nhận diện
xung đột môi trường giữa các Cơ sở Sản xuất chế biến Kinh Doanh Hải sản với cộng đồng dân cư sống xung quanh”.(Nghiên cứu các trường hợp cụ thể ở
phường: Mũi Né, Phú Hài tại thành phố Phan Thiết- tỉnh Bình Thuận) làm đề tài Luận văn cao học nhằm nhận dạng vấn đề môi trường thông qua nhận diện XĐMT
để đi sâu nghiên cứu các xung đột giữa con người với môi trường tự nhiên, giữa các CSSX gây ô nhiễm với các CĐDC; và xem xét vấn đềtrong mối quan hệ với các cơ quan quản lý môi trường, chính quyền địa phương để đề xuất các phương thức điều chỉnh hành vi, thái độ và cách ứng xử của từng cá nhân, tổ chức, cộng đồng trong mối quan hệ phát triển bền vững (PTBV)
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ sung lý thuyết về
XĐMT giữa các CSSX với cộng đồng dân cư sống xung quanh; đánh giá thực trạng xung đột và công tác quản lý xung đột môi trường, từ đó nhận dạng các điểm yếu cần khắc phục trong công tác quản lý và BVMT tại các CSSX
Đóng góp mới về khoa học của luận văn :quản lý XĐMT nơi các CSSX và CĐDC là một lĩnh vực còn mới so với các lĩnh vực khác, nên bước đầu luận văn chỉ tìm ra những điểm mới sau:
Nhận rõ các dạng môi trường, các XĐMT giữa các CSSX và CĐDC, chỉ ra nguyên nhân dẫn đến XĐ Đưa ra những mặt hạn chế trong công tác QL nhà nước về
MT, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học cho các nhà QL, các nhà thực hiện quy hoạch, các DN và CĐDC nhằm BVMT và phát triển SX theo hướng bền vững
Đề xuất các phương pháp xử lý chất thải phù hợp đối với các cơ sở sản xuất không những trên địa bàn Phan Thiết mà chung cho Tỉnh Bình Thuận
Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu lý thuyết và đánh giá thực trạng công
tác quản lý XĐMT trong các CSSX và CĐDC; kết quả nghiên cứu đã đề xuất các
Trang 13phương thức để khắc phục các điểm yếu trong công tác quản lý XĐMT các CSSXnhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với MT trong các CSSX
Luận văn góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư, của các Chủ CSSX trong vấn đề BVMT Bên cạnh đó việc giữ gìn cảnh quan, vệ sinh MT sẽ làm tăng thẩm mỹ sinh thái, hấp dẫn, thu hút khách du lịch nhằm góp phần làm cho ngành kinh tế du lịch tại Bình Thuận ngày càng phát triển Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan chức năng ở địa phương để nghiên cứu, phục vụ công tác giảng dạy và tuyên truyền giáo dục ý thức BVMT trong nhân dân
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
4.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Nhận dạng vấn đề môi trường giữa các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân cư sống xung quanh ở các phường: Mũi Né, Phú Hài của thành phố Phan Thiết
Chỉ ra những xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân
cư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan quản lý môi trường quản lý và xử
lý tốt các xung đột khi mới xảy ra
Đánh giá hiệu quả xử lý xung đột của hệ thống quản lý xung đột từ tỉnh đến
cơ sở
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm hiểu các lý thiết về môi trường để nhận dạng môi trường tại địa bàn
nghiên cứu
Tìm hiểu những nguyên nhân xung đột, đặc điểm xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân cư ở các phường: Mũi Né, Phú Hài
Điều tra, khảo sát, phân tích và xử lý thông tin định lượng và định tính
Đề xuất các phương thức nhằm xử lý các xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân cư đến mức thấp nhất; đồng thời giới thiệu các phương pháp xử lý chất thải phù hợp cho các cơ sở sản xuất
5 Khách thể và phạm vi nghiên cứu:
Trang 145.1 Khách thể nghiên cứu: Các cơ sở sản xuất chế biến kinh doanh hải sản
đang gây ô nhiễm MT ảnh hưởng đến cộng đồng dân cư sống xung quanh tại các phường Mũi Né, Phú Hài
5.2 Phạm vi nghiên cứu:Thời gian nghiên cứu: thời điểm từ năm 2004 – 2009
Phạm vi nghiên cứu bao gồm tất cả các CSSX ít gây ô nhiễm và các CSSX gây ô nhiễm nặng tập trung tại các phường: Mũi Né, Phú Hài với cộng đồng dân cư sống xung quanh
6 Câu hỏi nghiên cứu:
Con người luôn tồn tại trong những MT nhất định.Vậy, việt nhận dạng môi trường hiện nay tại Việt Nam nói chung và Phan thiết nói riêng như thế nào?
Có sữ xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân cư hay không? Có bao nhiêu dạng xung đột môi trường? Nó diễn ra như thế nào? Và nguyên nhân của nó là gì?
Quản lý xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân cư tại Phan Thiết hiện nay ra sau?
Làm gì để quản lý xung đột môi trường ở các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân cư đạt hiệu quả cao nhất
7 Giả thuyết nghiên cứu:
Nhận dạng môi trường là vấn đề cốt tử trong hoạt động sống của con người
mà đặc biệt trong quản lý môi trường
Xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân cư ngày càng trở nên căng thẳng, nó diễn ra dưới nhiều dạng thức: Xung đột về lợi ích, xung đột về giá trị, xung đột về nhận thức, xung đột về mục tiêu…nguyên nhân là do thiếu thông tin, do sự khác nhau về lợi ích giữa các nhóm dân cư
Quản lý của nhà nước đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất với cộng đồng dân cư
8 Phương pháp nghiên cứu:
8.1 Phương pháp luận:
Trang 15Luận văn đã áp dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng (DVBC) và chủ nghĩa duy vật lịch sử (DVLS) của K.Marx để nhận thức các vấn đề nghiên cứu Theo quan điểm chủ nghĩa DVBC các sự vật, hiện tượng phải được xem xét trong mối quan hệ, tác động qua lại, trong mâu thuẫn, vận động và phát triển không ngừng của lịch sử XH Theo quan điểm của chủ nghĩa DVLS, mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong không gian, và thời gian nhất định Chủ nghĩa DVBC và chủ nghĩa DVLS cho ta phương pháp luận nhận thức các sự vật và hiện tượng với quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử cụ thể và thực tiễn Trên cơ sở phương pháp luận nhận thức DVBC và DVLS, luận văn sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống và các phương pháp của xã hội học, xã hội học
MT và quản lý học với sự cùng tham gia của CĐDC xung quanh trong việc thu thập
và xử lý thông tin nhằm kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu
8.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
8.2.1 Phương pháp kế thừa và phân tích tài liệu: Kế thừa và phân tích các tài
liệu liên quan đến đề tài gồm:Cơ sở lý thuyết và các thành tựu đạt được liên quan đến đề tài Các kết quả nghiên cứu của các đồng nghiệp đã công bố.Các chủ trương
và chính sách có liên quan.Các tài liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
8.2.2 Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát và khảo sát thực tế XĐ cũng
như tình trạng ô nhiễm MT và công tác QLMT tại các nơi nghiên cứu: xem xét về đầu tư, trang thiết bị cơ sở vật chất của các CSSX và cơ sở hạ tầng nơi SX, khu quy hoạch… đồng thời tham dự vào các cuộc hội thảo, hội nghị bàn về vấn đề ô nhiễm
MT tại các nơi này
8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu, chuyên gia, hội thảo: Phỏng vấn sâu
người dân, các nhà QLMT ở địa bàn nghiên cứu, các cán bộ các ngành, các cấp có
liên quan; mở hội thảo
8.2.3.1 Phương pháp phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi: phỏng vấn bằng bảng hỏi với 100 phiếu cho CĐDC xung quanh các CSSX ở phường Mũi Né, Phú Hài, với 50 phiếu hỏi đối với các CSSX ít gây ô nhiễm và gây ô nhiễm nặng
Trang 168.2.3.2 Phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp: do có quá trình làm việc và tiếp xúc trực tiếp với các cán bộ lãnh đạo các phường Mũi Né và Phú Hài, các cán bộ của TP.Phan Thiết và các chuyên gia về MT của tỉnh, nên tác giả luận văn đã thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu các cán bộ này trên cơ sở các vấn đề đã được chuẩn bị trước và có bảng hướng dẫn dành riêng cho từng đối tượng
8.2.4 Phương pháp xử lý thông tin:Tập hợp các kết quả đo các chỉ tiêu môi
trường nơi các CSSX do Chi cục BVMT cung cấp Thống kê xử lý toán học để theo dõi diễn biến các thành phần MT, các chỉ số phát triển kinh tế, đầu tư và thu nhập
9 Cấu trúc của luận văn:
Luận văn được bố cục thành 3 phần chính:
Phần 1: Mở đầu (bao gồm các nội dung):
Lý do nghiên cứu (tính cấp thiết của đề tài).Lịch sử nghiên cứu.Ý nghĩa Lý luận và thực tiễn.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.Khách thể và phạm vi nghiên cứu Câu hỏi (vấn đề) nghiên cứu.Giả thuyết nghiên cứu.Phương pháp nghiên cứu
Phần 2 : Nội dung nghiên cứu (gồm 2 chương):
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Nhận dạng vấn đề môi trường thông qua nhận diện xung đột môi trường ở thành phố Phan Thiết ( qua phường Mũi Né và Phú Hài)
I Nhận diện xung đột môi trường ở phường Mũi Né và Phú Hài
1 - Tình hình phát triển các cơ sở sản xuất ở Bình Thuận
2 - Tình hình ô nhiễm môi trường do hoạt động của khu quy hoạch CBHS Phú Hài và các cơ sở CBHS đến các yếu tố tài nguyên, môi trường và CĐDC
3 - Các dạng Xung đột môi trường của các hộ, CSSX và khu quy hoạch (các
cơ sở sản xuất nước mắm, chế biến cá khô, bột cá, phân mắm…) với CĐDC
II Nhận dạng môi trường ở thành phố Phan Thiết (trường hợp phường Mũi Né
và Phú Hài)
Trang 171 Đặc điểm và bản chất của quá trình hình thành và phát triển các cơ sở sản xuất chế biến hải sản
2 Nguyên nhân(ai gây ra) dẫn đến sự ô nhiễm môi trường
3 Các dạng môi trường chính ta nhận dạng được thông qua nhận diện xung đột môi trường ở hai phường Mũi Né và Phú Hài
4 Một số phương thức nhằm hạn chế xung đột môi trường giữa các cơ sở sản xuất và cộng đồng dân cư nhằm làm cho vấn đề môi trường nơi đây ngày càng tốt hơn
Trang 18PHẦN 2 – NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Chương 1: Cơ sở lý luận
1 Nhận dạng môi trường, mối quan hệ giữa môi trường với cuộc sống con người
1.1 Khái niệm môi trường:
Trên thế giới và ở Việt Nam đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về MT Các tác giả nghiên cứu đã nêu các định nghĩa về MT
Chương trình Môi trường của UNEP định nghĩa: “Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế-xã hội (KT-XH), tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng”[3,tr.185]
Ở nước ta, một số tác giả, từ những góc độ tiếp cận khác nhau cũng đã đưa ra những quan niệm về Môi trường Chẳng hạn, khi bàn đến khái niệm môi trường, có
ý kiến cho rằng “Theo định nghĩa rộng, môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể”[4,tr.185]
Có thể phân chia môi trường thành 3 hệ thống:
Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố được hình thành, tồn tại và phát
triển theo các quy luật tự nhiên như: đất, nước, không khí, động thực vật, khí hậu …
Môi trường xã hội: Là tổng thể các mối quan hệ giữa cá thể con người, cộng
đồng người hợp lại thành XH, tạo nên các hình thái tổ chức, các thể chế KT-XH
Môi trường nhân tạo: Bao gồm những nhân tố do con người tạo ra và chịu sự
chi phối của con người như: hệ thống cấp, thoát nước, đường sá, các di tích lịch sử, văn hóa Xét về mối quan hệ tổng thể, biện chứng thì ba loại môi trường trên luôn tồn tại cùng nhau, xen kẽ lẫn nhau và có mối quan hệ tương tác, chặt chẽ với nhau Theo Luật bảo vệ môi trường năm 2005: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất, nhân tạo bao quanh con ngườì, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”[42,tr.8]
Luận văn này quan niệm môi trường là sự tổng hợp các yếu tố vật chất tự nhiên gồm: lý học, hóa học, sinh học, các yếu tố xã hội thể hiện mối quan hệ giữa con người với cộng đồng và các yếu tố nhân tạo cùng tồn tại trong một không gian
Trang 19bao quanh con người Các yếu tố đó có quan hệ khăng khít, tương tác lẫn nhau và tác động lên các cơ thể con người và sinh vật nói chung trong quá trình tồn tại và phát triển Tổng hòa về chiều hướng phát triển của các yếu tố đó quyết định chiều hướng phát triển của hệ sinh thái nói chung và của xã hội con người
Đối với con người và xã hội loài người, các yếu tố bao quanh đó, không chỉ là những điều kiện tự nhiên mà bao gồm cả những điều kiện xã hội
1.2 Mối quan hệ giữa Môi trường với cuộc sống con người:
Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, yếu
tố MT có ảnh hướng rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của con người Trái lại
sự tác động của con người và XH ngày càng đóng vai trò quan trọng, mang tính
quyết định đối với sự biến đổi chiều hướng phát triển (tích cực hoặc tiêu cực) của môi trường
Theo sự phân tích, đánh giá của UNESCO thì môi trường tự nhiên trong mối quan hệ với con người, có 3 chức năng cơ bản: “Thứ nhất, cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết đối với sự tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người.Thứ hai, nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm phục vụ cho các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của con người.Thứ ba, là nơi đồng hóa các chất thải do kết quả của các hoạt động đó”[3,tr16]
Có thể nói rằng sinh quyển là môi trường sống của con người là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ bản nhất của tồn tại xã hội Điều đó khẳng định rằng không thể ở đâu khác, chính MT là nơi tập hợp các chất tạo nên sự sống như: Cácbon(C), Hidrô(H), Ôxy(O2), Nitơ(N), Phốtpho(P), Cácbonic(CO2) Đồng thời MT cũng là nơi tập hợp toàn bộ các cơ thể sống từ đơn giản đến phức tạp, từ động vật bậc thấp đến con người - xã hội loài người và sự sống trên hành tinh của chúng ta hiện nay
1.3 Ô nhiễm môi trường
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “Ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất thải hoặc các nguyên liệu vào môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khỏe của con người và sự phát triển của sinh vật hoặc làm
Trang 20giảm chất lượng môi trường sống”[3,tr.75] Luật bảo vệ môi trường năm 2005 của
nước ta đã định nghĩa: “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi
trường, vi phạm tiêu chuẩn của môi trường”[42,tr.8]
Ô nhiễm, suy thoái môi trường hiện nay bức xúc và nghiêm trọng nhất là trên
các lĩnh vực thành phần cơ bản của môi trường như:
Ô nhiễm và suy thoái Môi trường đất: Hiện nay đất ở nước ta đang bị suy
giảm cả về số lượng và chất lượng Có nhiều nguyên nhân, trước hết là do rừng bị
tàn phá nặng nề, làm cho độ che phủ ngày càng bị giảm sút, dẫn đến mưa và lũ bất
thường làm cho đất bị sạt lở, xói mòn, bị bạc màu Mặt khác đất còn bị ô nhiễm do
các chất thải công nghiệp và do việc lạm dụng các loại hóa chất, phân bón hóa học
Ô nhiễm Môi trường nước: là loại ô nhiễm nguy hại nhất Nguồn gốc của ô
nhiễm có thể là do các chất hữu cơ bị phân hủy; ngoài ra bão, lũ, nước thải từ các
khu dân cư, các nhà máy, xí nghiệp, từ phân bón, thuốc trừ sâu, cũng là một trong
những nguyên nhân gây ra ô nhiễm Ô nhiễm nước sẽ tác động trực tiếp đến sức
khỏe của con người, là nguồn gốc gây ra các loại bệnh đường ruột như tả, lỵ, tiêu
chảy, giun sán, các bệnh về da, đồng thời ảnh hưởng xấu đến sự sống của sinh vật
Ô nhiễm không khí: Có thể là do nguyên nhân từ tự nhiên như các quá trình
phân hủy thối rữa xác động, thực vật, nhưng chủ yếu là do quá trình phát triển của
các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải… và
ô nhiễm do các hoạt động khác của con người gây nên
Sự cố môi trường: Nguyên nhân gây ra có thể là: do thiên nhiên như lốc, gió
xoáy, bão, lũ lụt, hạn hán, sạt lở đất, sự biến đổi khí hậu, sóng thần Cũng có thể do
con người gây ra như hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố tràn dầu Sự cố MT đã gây ra
không ít thiệt hại đối với đời sống của con người và của sinh vật nói chung, nhất là
hiện nay nhân loại đang đối mặt với sự biến đổi khí hậu toàn cầu
1.4 Nguồn gây ô nhiễm Môi trường:
Nguồn điểm: là các nguồn gây ô nhiễm có thể xác định được vị trí, bản chất,
lưu lượng phóng thải tác nhân gây ô nhiễm;Nguồn không có điểm: là nguồn gây ô
nhiễm không có điểm cố định, không xác định được vị trí, bản chất, lưu lượng các
Trang 21tác nhân gây ô nhiễm; Nguồn diện: là nguồn ô nhiễm phát ra từ diện rộng.Nguồn tuyến: là nguồn phát theo tuyến đường
1.5 Các tác nhân gây ô nhiễm
Là các tác nhân hoá học (phân bón, thuốc trừ sâu), tác nhân vật lý ( màu, mùi, tia bức xạ, nhiệt độ ), tác nhân sinh học (vi sinh, tác nhân sinh học gây bệnh ) Liều lượng, nồng độ, cường độ của tác nhân ô nhiễm chính là yếu tố quan trọng quyết định khả năng tác động MT của chúng Khi tác nhân ô nhiễm được đưa vào
MT chúng sẽ bị biến đổi dưới ảnh hưởng của các yếu tố MT (ánh sáng, nhiệt độ, hơi
ẩm, nước ) Sau đó tiếp xúc với đối tượng nhận (con người, sinh vật, thực vật ) gây tác hại đến các đối tượng nhận Mức độ tác động của các tác nhân gây ô nhiễm đến đối tượng nhận phụ thuộc vào nhiều yếu tố: bản chất hoá lý của các tác nhân ô nhiễm, nồng độ ô nhiễm ban đầu của các tác nhân, các yếu tố MT xung quanh và độ nhạy cảm của đối tượng nhận cũng như khả năng miễn dịch của từng cá thể
1.6 Phát triển bền vững:
Có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững, một trong những định nghĩa hay được sử dụng: Phát triển bền vững là sự phát triển sử dụng tài nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường hiện có để thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ đang sống, nhưng lại phải đảm bảo cho các thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên môi trường cần thiết để họ có thể sống tốt hơn ngày nay
Năm 1987, WCED đã công bố công trình “Tương lai chung của chúng ta - Báo cáo Brundtland” đã đưa ra định nghĩa về phát triển bền vững và trở thành phổ biến “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn nhu cầu của thế hệ tương lai”
Để xây dựng một xã hội Phát triển bền vững Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc đã đề ra 9 điểm:1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng 2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người 3 Bảo vệ sức sống và tính
đa dạng của Trái đất 4 Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được.5 Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất 6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân 7 Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình 8 Tạo ra một khuôn
Trang 22mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ 9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu
Phát triển bền vững là mục tiêu của tăng trưởng kinh tế làm giảm nghèo đói và khai thác tài nguyên cho phát triển, đồng thời ngăn ngừa sự suy thoái môi trường trong tương lai PTBV là phát triển để cải thiện nâng cao sức khỏe, giáo dục và phúc lợi xã hội PTBV phải bao gồm sự biến đổi nhanh chóng về cơ sở công nghệ của văn minh công nghiệp Một thành phần quan trọng của PTBV là sự công bằng
1.7 Cộng đồng và cộng đồng dân cư
1.7.1 Khái niệm cộng đồng:Thuật ngữ cộng đồng (Community) chỉ một tập
thể gồm những thành viên gắn bó với nhau bằng những giá trị chung
Về bản chất của cộng đồng hoàn chỉnh, J.H.Fichter cho rằng, cộng đồng bao gồm bốn yếu tố: (1) Có sự tương quan cá nhân mật thiết với những người khác; (2)
Có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc nơi cá nhân trong những nhiệm vụ và công tác xã hội của tập thể; (3) Có sự hiến dâng tinh thần đối với những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; (4) Một ý thức đoàn kết đối với những người trong tập thể Ngày nay chỉ có những cộng đồng truyền thống (như làng truyền thống) mới có đủ bốn đặc tính trên
Theo quan niệm Mác xít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng các lợi ích của các thành viên có sự giống nhau
về các đìều kiện tồn tại và hoạt động của những con người hợp thành cộng đồng đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi
Trang 23giữa họ về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá tri và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động
1.7.2 Khái niệm cộng đồng dân cư: Cộng đồng dân cư là những người cùng
sinh sống trong một không gian địa lý nhất định, như: tổ dân phố, thôn, làng, ấp,
bản, buôn, phum, sóc hoặc điểm dân cư tương tự
2 Khái niệm xung đột môi trường
2.1 Khái niệm xung đột: Trên thế giới có nhiều tác giả đưa ra những quan
điểm khác nhau về khái niệm “Xung đột” Xung đột là sự khác nhau về quyền lợi hoặc về niềm tin là khát vọng hiện tại của các bên không thể đạt một cách đồng thời(*3) hoặc “Xung đột là sự tác động qua lại giữa những người phụ thuộc lẫn nhau,
mà những người này hướng vào các mục tiêu khác nhau và có các hoạt động cản phá lẫn nhau trong việc thực hiện mục tiêu của riêng họ(*4)
Cách thức xử lý xung đột: Về cách thức xử lý xung đột, rất nhiều nghiên cứu
đã trích dẫn 5 nguyên tắc trong xử lý xung đột là đối đầu, đối thoại, nhượng bộ, thỏa hiệp và tránh né được minh họa trong Hình 1.1:
Hình 1.1: Sơ đồ các nguyên tắc xử lý xung đột(Vũ Cao Đàm, 2002)
Đối đầu: Khi cả hai phía đều không thỏa mãn nhu cầu nào đó, khi cả hai bên
đều không thống nhất sẽ dẫn đến đối đầu, cũng có thể xảy ra XĐ vũ trang
Đối thoại: Khi cả hai bên đều có nhu cầu là đạt tới một thỏa thuận nào đó, (*3) Pruitt và Rubin (1986) (*4) Folger và Cộng sự (1997)
Trang 24được thực hiện thông qua các cuộc họp, hội nghị không chính thức, trong đó có sự đại diện của các cơ quan khác nhau trên một nhóm liên cơ quan.
Thỏa hiệp: Để đạt tới sự thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên
Tránh né: Khi một trong hai bên không quan tâm về sự thỏa mãn nhu cầu của mình hoặc của người khác, tức không có hành động
Nhượng bộ: Khi một trong hai bên chấp nhận thua cuộc có thể trong một thời điểm nào đó hoặc thua luôn
Các nguyên nhân xung đột: Theo C.W.Moore có 5 nguyên nhân gây xung
đột : quyền lợi, giá trị, dữ liệu, cơ cấu và quan hệ [C.W Moore, 1986, tr.27][57]
Các hậu quả của xung đột: Xung đột có thể mang lại nhiều hậu quả tích cực
cũng như tiêu cực Việc tìm hiểu và đo lường các hậu quả của xung đột trên thực tế
là rất quan trọng, là cơ sở để chúng ta quyết định xem có cần phải can thiệp điều chỉnh các xung đột này không, và nếu có thì ở mức độ nào và bằng cách nào, nhằm tối đa hóa hậu quả tích cực và giảm thiểu các hậu quả tiêu cực Sự không có xung đột không phải lúc nào cũng tốt, vì nó có thể chỉ ra sự thờ ơ, sự không hiểu biết hoặc sự kém năng lực của một bộ phận trong cộng đồng Xung đột chính là một phần của mọi quá trình giải quyết sự khác biệt, phân hóa [Valerie Brown, 1995][59] Xung đột có thể có những hậu quả tích cực như tạo ra những nỗ lực cứng rắn hơn dẫn đến chiến thắng; tăng những cam kết, tăng nhóm trung thành; tăng tính rõ ràng và tường minh về vấn đề; dẫn tới những đột phá sáng tạo và những thành tựu mới; làm sáng tỏ những vấn đề đang tồn tại và thúc đẩy sự biến đổi; tập trung sự chú ý đến các vấn đề cơ bản và đi đến giải quyết; và sự tham gia vào XĐ có thể làm tăng khả năng hòa giải, gây ảnh hưởng và cạnh tranh Bên cạnh đó, XĐ có thể có các kết quả tiêu cực như dẫn đến sự tức giận, tránh né, công kích, sự lo sợ thất bại, cảm giác của sự không bình đẳng, kìm hãm thông tin quan trọng; hạ thấp năng suất; nghề nghiệp có thể thay đổi, một số quan hệ bị hủy hoại; làm gián đoạn các phương thức làm việc; và tiêu phí một số lớn thời gian [Vũ Cao Đàm, 2002,tr.102][18]
2.2 Khái niệm xung đột môi trường (Environmental Conflict)
Trang 25Xung đột môi trường được coi là một trường hợp của xung đột XH trong QL,
sử dụng TN&MT Mọi XĐMT đều xuất phát từ vấn đề lợi ích và gắn liền với việc tồn tại các đương sự chống đối Có nhiều cách định nghĩa về XĐMT chẳng hạn: XĐMT là những XĐ nảy sinh do các hoạt động của con người, ở những điều kiện xác định, trong việc sử dụng và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Một số định nghĩa khác về xung đột môi trường dựa trên hai khía cạnh là XĐMT là một khái niệm cơ bản của xã hội học về môi trường và XĐMT được xuất phát từ hiện tượng xung đột tranh chấp về môi trường và sự xâm lược sinh thái giữa các nhóm, các tập đoàn xã hội, giữa các quốc gia
Để có thể quản lý tốt các xung đột môi trường và có những giải pháp hiệu quả
để xử lý, giải quyết tốt các XĐMT, có thể hiểu XĐMT trên 4 phương diện sau đây:XĐ vì môi trường;XĐ với môi trường XĐ do môi trường Xung đột của MT
* Xung đột vì môi trường: được thể hiện trong những xung đột giữa con người với con người trong việc sử dụng một nguồn tài nguyên nào đó Ví dụ tranh chấp một nguồn nước, vì một con sông, vì một ngọn núi,
* Xung đột với môi trường: được thể hiện trong nhiều mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình phát triển KT-XH Đó là những XĐ trong SX khi sử dụng quá mức làm cạn kiệt các nguồn TN.Các CSSX, bệnh viện thải chất thải làm ô nhiễm MT
* Xung đột do môi trường: xảy ra khi tài nguyên môi trường(TNMT) có hạn
mà yêu cầu lại quá nhiều XĐ nảy sinh khi sử dụng TNMT quá nhiều cho thế hệ hôm nay làm cạn kiệt các nguồn TNMT để đáp ứng các nhu cầu của thế hệ mai sau
* Xung đột của môi trường: Môi trường - TN tồn tại và phát triển theo các quy luật khách quan của tự nhiên Bản thân các thành tố MT: đất, nước, sinh vật cũng
có MT tồn tại Trong điều kiện MT thuận lợi chúng phát triển mạnh và ngày càng phong phú Trong điều kiện không thuận lợi chúng sẽ bị suy kiệt, thoái hoá
Đề tài này sử dụng khái niệm xung đột môi trường như sau: Xung đột môi trường là xung đột về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên môi trường Nhóm này muốn tước đoạt lợi thế
Trang 26của nhóm khác trong việc đấu tranh giữa các nhóm để phân phối lại lợi thế về tài nguyên (Wertheim, 1999; Vũ Cao Đàm,2000)
2.3 Các dạng xung đột môi trường:
Theo Vũ Cao Đàm [Vũ Cao Đàm, 2002,tr.40][18] có 4 dạng xung đột MT: Xung đột nhận thức: Đây là dạng xung đột đơn giản nhất, có căn nguyên từ sự hiểu biết khác biệt nhau trong hành động của các nhóm, dẫn tới phá hoại môi trường Ví dụ: đó là những bất đồng trong việc nên hay không nên xây dựng khu quy hoạch chế biến hải sản tập trung gần khu dân cư
Xung đột mục tiêu: mục tiêu hoạt động của các nhóm dẫn đến xung đột Ví dụ: các hộ chế biến hải sản dùng các hóa chất bảo quản và sơ chế hải sản để đạt mục tiêu giữ chất lượng không bị hư nhưng thải ra nguồn nước có độc tố, dẫn đến xung đột mục tiêu bảo vệ sức khỏe của cộng đồng dân cư sống xung quanh
Xung đột lợi ích: xung đột lợi ích xuất hiện khi các nhóm tranh dành lợi thế sử dụng tài nguyên Ví dụ: các CSSX thải nguồn nước thải sang ruộng muối của diêm dân, xâm phạm lợi ích của diêm dân
Xung đột quyền lực: nhóm có quyền lực mạnh hơn, lấn át nhóm khác, chiếm dụng lợi thế của nhóm khác, dẫn đến ô nhiễm môi trường Ví dụ: Các DN của Nhà nước ỷ thế mình là cơ quan nhà nước đè ép tranh dành thu mua hải sản với tư nhân Trên thực tế, mỗi sự kiện xung đột môi trường có thể chỉ xuất phát từ một loại xung đột, song thường tồn tại một số loại xung đột và cuối cùng cái đọng lại lớn nhất là xung đột lợi ích, vì lợi ích vị kỷ của một nhóm hoặc vì sự thỏa hiệp lợi ích giữa các nhóm, môi trường bị hủy hoại; nhưng có thể nhờ sự cam kết theo chuẩn mực môi trường hoặc sự đấu tranh giữa các nhóm mà môi trường được bảo vệ
2 4 Các đặc điểm của xung đột môi trường:
Xung đột là một bộ phận hiển nhiên của quá trình biến đổi; xung đột là một bước trong quá trình giải quyết vấn đề; xung đột có thể chia sẻ;xung đột là một quá
trình; xung đột có thể quản lý được[Valerie Brown, 1995.tr.36][59]
2.5 Nguyên nhân xung đột môi trường:
Trang 27Theo tài liệu của Teresita D Suselo - AIT, 1993, có các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến xung đột môi trường là:
Thiếu thông tin - bỏ qua thông tin: Nguyên nhân chính trong các vấn đề tranh chấp môi trường là sự cạnh tranh nguồn tài nguyên, sự khác nhau về giá trị nhân văn liên quan đến giá trị tương đối của tài nguyên, và kiến thức hoặc hiểu biết không đầy
đủ về chi phí, lợi ích và nguy cơ trong các hoạt động
Thiếu sự tham gia đóng góp: khi xem xét nguyên nhân trong xung đột môi trường thì thiếu sự quan tâm đến ý kiến của CĐDC là nguyên nhân cơ bản Sự tham gia của CĐDC không những đảm bảo được lợi ích của CĐDC mà còn có thể phát huy được kiến thức bản địa của cộng đồng phục vụ cho phát triển Kinh nghiệm ở Việt Nam cũng như trên thế giới cho thấy thiếu sự tham gia của các cộng đồng thì khó có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa BVMT và phát triển kinh tế Các hệ thống giá trị khác nhau: Trong việc khai thác cùng một nguồn tài nguyên môi trường thì các hệ thống giá trị khác nhau đối với các nhóm xã hội khác nhau cũng dễ dàng dẫn đến xung đột môi trường
Xung đột môi trường: Có những biểu hiện rất phong phú trong thực tiễn về các mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên Những biểu hiện đó có thể sắp xếp lại trong 4 nhóm xung đột (mâu thuẫn) dưới đây:
Xung đột giữa các hoạt động sản xuất và đời sống của con người với tài nguyên môi trường: Các hoạt động SX và đời sống sử dụng TNMT và làm hao kiệt
dần các nguồn TN đó Trường hợp này thường xảy ra khi các hoạt động của con người vượt quá sức chịu tải của TNMT, vượt lên trên khả năng hồi phục, khả năng
tự bù đắp của thiên nhiên
Xung đột giữa các hoạt động sản xuất và đời sống với sự phát triển của tài
nguyên môi trường Xung đột này dẫn đến sự phát triển không bền vững của cả nền
kinh tế - xã hội TNMT không thể chỉ sử dụng cho các nhu cầu của thế hệ hôm nay
mà còn phải không ngừng phát triển cho các thế hệ tương lai
Xung đột giữa các hoạt động sản xuất và đời sống khác nhau trong việc sử dụng cùng một nguồn tài nguyên môi trường: Trong thực tiễn sản xuất, những xung
Trang 28đột này thường nảy sinh và chúng ta gặp nhiều lúng túng trong việc khắc phục Ví dụ:Xung đột giữa bảo vệ nguồn lợi thủy sản và khai thác, săn bắt quá mức làm cạn
kiệt các nguồn lợi thủy sản
Xung đột giữa phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ nhanh mạnh và phát triển bền vững: Các biểu hiện ở nhóm xung đột này thường được thể hiện ở việc tích tụ
các chất thải làm ô nhiễm môi trường, ở việc khai thác một chiều, khai thác kiệt quệ một số loại tài nguyên thiên nhiên có thế mạnh của từng địa phương
Xung đột môi trường thường chỉ phát sinh khi các hoạt động SX và đời sống của con người được tiến hành thiếu quy hoạch, thiếu các cơ sở và căn cứ khoa học cũng như thực tiễn XĐMT cũng thường nảy sinh khi con người sử dụng các công nghệ lạc hậu, các công nghệ có những tác động mạnh mẽ và gay gắt lên TNMT Một điều quan trọng nữa là cần phân biệt các nguyên nhân cơ bản của xung đột và các triệu chứng của nó Trong một số trường hợp một sự XĐ có thể xuất hiện cho đến khi được giải quyết, nhưng trong thực tế thì chỉ có sự biểu hiện của XĐ được loại bỏ mà thôi Để giải quyết XĐ một cách hợp lý, cần thiết phải xác định rõ mối quan tâm của các bên có XĐ với nhau và tìm kiếm các giải pháp nhằm tối đa hoá các lợi ích của họ trong thời gian trước mắt cũng như lâu dài
2.6 Mức độ xung đột môi trường: Có 4 mức độ chính:
Không nghiêm trọng: đây là những xung đột ở mức thấp, không bắt nguồn từ những chênh lệch lợi thế về quyền lực, lợi ích; đồng thời các bên đương sự đều hiểu rất rõ, nó cũng không dẫn đến những tác hại lớn cho mỗi bên
Ít nghiêm trọng: xung đột ở mức độ này thường xuất hiện giữa các chủ đầu tư đang cùng khai thác nguồn lợi từ một địa bàn Trong chừng mực nào đó, giữa họ dễ dàn xếp với nhau
Nghiêm trọng: xung đột nghiêm trọng là những xung đột có thể dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ giữa các đương sự xung đột
Trang 29Rất nghiêm trọng: đây là những xung đột bắt nguồn từ những bất bình đẳng lớn về quyền lực, không chỉ về mặt tài nguyên, mà cả những bất bình đẳng về tài chính và bất bình đẳng về chính trị Loại XĐ này có thể dẫn tớì XĐ vũ trang
2.7 Giải quyết xung đột môi trường: về giải quyết xung đột môi trường
trong làng nghề, theo Vũ CaoĐàm: Bản chất XH của việc BVMT chính là sự điều
hòa quyền lợi giữa các nhóm xã hội Về 1ý thuyết, tất cả các nhóm đều hiểu tác hại của phát thải ô nhiễm ra môi trường, nhưng vì lợi ích riêng của họ, họ sẵn sàng xâm hại hoặc tước đoạt lợi ích của cộng đồng trong việc sử dụng các nguồn lực tự nhiên
Về cơ bản có 5 khả năng để các đối tác có thể lựa chọn trong khi tìm biện pháp
xử lý XĐMT(*5): đối đầu, đối thoại, nhượng bộ, tránh né và thỏa hiệp, trong đó “đối thoại” là khả năng được đánh giá cao nhất, hướng vào việc chia sẻ quyền lợi dựa trên nguyên tắc “hai bên cùng có lợi”, tiếng Anh gọi là nguyên tắc “win - win” Tuy nhiên, tùy mỗi tình huống cụ thể mà các nhà quản lý môi trường và các đương sự lựa chọn một giải pháp thích hợp trong 5 khả năng đã nêu trên Bất kể tình huống nào, mọi đàm phán và thỏa thuận đều cần phải căn cứ trên chuẩn mực giá trị chung
về BVMT và phát triển bền vững Đây là cơ sở cho các đối thoại, thương lượng, điều hòa và phân chia lợi ích nhằm chống lại những hành vi phá hoại môi trường
3 Quản lý xung đột môt trường và các khái niệm liên quan:
3.1 Khái niệm quản lý:
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý Có tác giả cho rằng quản lý là hoạt
động thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác Cũng có tác giả cho quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng
QL nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của MT Theo Vũ Cao Đàm (*6)
đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là điều khiển một nhóm người (đối tượng trực tiếp) thực hiện những nhiệm vụ (đối tượng gián tiếp) nhằm đạt mục đích đã định trước”
(*5) Vũ Cao Đàm, Giải quyết xung đột môi trường trong các làng nghề, nội dung tất yếu của quản lý môi trường Tạp chí Bảo vệ môi trường số 9/2001
(*6) Vũ Cao Đàm(2002) Xã hội học môi trường, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
Trang 303.2 Khái niệm quản lý môi trường:
Quản lý môi trường:(*7) “là sự điều khiển hành vi của những con người hoặc nhóm người trong cộng đồng (đối tượng trực tiếp), nhằm định hướng cho họ tác động lên các yếu tố của MT (đối tượng gián tiếp) sao cho có thể duy trì được một chuẩn mực chất lượng môi trường phù hợp với những chuẩn mực được một cộng đồng chấp nhận” (Vũ Cao Đàm, 2002)
Các nguyên lý quản lý môi trường:Thừa nhận rằng quản lý môi trường là QL
sự thay đổi XH, là dung hòa những đối lập hình thành trong hoạt động XH giữa: Lợi ích tư nhân và công cộng Lợi ích chính phủ và lợi ích phi chính phủ.Các quan điểm nghề nghiệp đã thiết lập Hiện tại và tương lai Toàn cầu và cục bộ
Dung hòa các quan điểm đối lập, làm cho quản lý xung đột trở thành một bộ phận liên kết của QLMT, bao gồm mọi người chơi, chủ yếu cũng như thứ yếu.Làm cho quản lý xung đột không phải là một quá trình phá huỷ mà là xây dựng, có khả năng giảm tới mức bé nhất các rủi ro và tăng tới mức cao nhất các cơ hội, phục vụ
sự phát triển bền vững trong tương lai
Quản lý XĐMT là sử dụng các thiết chế xã hội, hệ thống pháp luật, chính sách về
MT cũng như các chính sách về xã hội có liên quan để thiết lập trật tự trong việc khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng như việc xử lý chất thải các loại
3.3 Nội dung quản lý xung đột môi trường
Mục tiêu của quản lý xung đột là mang lại lợi ích cho các bên Nó không chỉ
có ý nghĩa là làm ngừng sự XĐ; mà nếu không có nó thì sự thù địch và tranh chấp
sẽ tiếp tục diễn ra, sẽ dẫn đến việc loại trừ một bên hoặc xấu hơn là tất cả các bên Hoạt động quản lý xung đột môi trường không phải nhằm mục đích thủ tiêu xung đột môi trường, bởi vì xung đột môi trường là một tất yếu khách quan trên con đường phát triển kinh tế (Vũ Cao Đàm, 2002)(*8)
(*7) Vũ Cao Đàm(2002) Xã hội học môi trường, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
(*8) Vũ Cao Đàm(2002) Xã hội học môi trường, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội
Trang 31Quản lý xung đột môi trường gồm những nội dung chính dưới đây: Nhận dạng các xung đột môi trường và các đương sự xung đột môi trường Tìm giải pháp
dự báo, ngăn ngừa và giải quyết xung đột môi trường.Thực hành các thiết chế điều hòa xung đột môi trường, nâng cao hiệu quả của quản lý môi trường nói chung, duy trì tương quan giữa các thứ nguyên của một chiến lược phát triển bền vững
Để duy trì phát triển bền vững trong các cơ sở sản xuất về môi trường phải làm tốt công tác QL để bên cạnh tăng trưởng KT-XH ổn định, MT phải ở trạng thái cân bằng, đảm bảo các chức năng của nó được duy trì Quản lý xung đột môi trường trong các CSSX là một nội dung quan trọng trong công tác QL nói chung và QLMT nói riêng
Các loại công cụ quản lý môi trường gồm: Công cụ pháp lý (các bộ luật, các chính sách, ) Công cụ kinh tế dựa trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” kết hợp với các loại thuế, phí, quỹ…Một công cụ đặc biệt vô cùng quan trọng trong quản lý môi trường đó là có sự tham gia của cộng đồng dân cư
Trang 32CHƯƠNG 2 Nhận dạng vấn đề môi trường thông qua nhận diện xung đột môi trường ở thành phố Phan Thiết ( qua phường Mũi Né và Phú Hài)
I Nhận diện xung đột môi trường ở phường Mũi Né và Phú Hài
1 Đặc điểm tự nhiên Tỉnh Bình Thuận:
Bình Thuận là tỉnh thuộc vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ Có địa hình kéo dài từ Cà Ná (Ninh Thuận) đến bãi bồi Bình Châu (Bà Rịa-Vũng Tàu).Diện tích tự nhiên: 783.047km2
Phía Đông và Đông Nam: Giáp Biển đông Phía tây và Tây Nam: Giáp Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu Phía Bắc và Tây Bắc: Giáp Lâm Đồng Phía Đông và Đông bắc: Giáp Ninh Thuận Phía Tây nam: Giáp Bà Rịa-Vũng tàu
Hiện nay tỉnh có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: TP Phan Thiết (tỉnh lỵ); thị xã La Gi; các huyện: Tuy phong; Bắc Bình; Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận Nam; Hàm Tân, Tánh Linh; ĐứcLinh, Đảo Phú Quý, và 126 xã, phường, thị trấn
Dân số có gần 1.200.000 người Mật độ dân số trên 150 người /km2
1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và hoạt động chế biến hải sản của thành phố Phan Thiết:
1.1.1 Điều kiện tự nhiên: Phan Thiết là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Bình Thuận,
Diện tích tự nhiên là 20.646,59 ha , phân bố theo địa bàn 18 đơn vị hành chính gồm
14 phường và 4 xã Với vị trí nằm ở giữa các trung tâm đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha Trang; có quốc lộ 1A chạy qua
Tài nguyên biển và ven biển: Biển Phan Thiết được đánh giá là một trong những vùng biển giàu nguồn lợi về các loại hải sản Ngoài những yếu tố về MT, nhiệt độ, nồng độ mặn, rất thích nghi với nguồn lợi biển, còn có những đặc điểm khác mà những vùng biển khác không có, đó là vùng giao lưu của 2 dòng hải lưu, đưa theo các loài cá hải dương, hình thành vùng nước trồi với đa dạng các loài động thực vật phù du, là nguồn thức ăn dồi dào cho cá và các loài đặc sản biển
1.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
Trang 33Dân số:Theo thống kê năm 2008, dân số toàn TP là 213.898 người, bao gồm 189.746 nhân khẩu thành thị (chiếm 92%) và 24.152 nhân khẩu nông thôn Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 13,03%; mật độ dân số bình quân 1.036 người/Km2,
Kinh tế: Nền kinh tế của Phan Thiết có bước tăng trưởng và phát triển khá toàn diện, chất lượng tăng trưởng của một số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội tiếp tục phát huy hiệu quả Tiềm năng, lợi thế của Thành phố được tập trung khai thác, chất lượng sản phẩm được từng bước nâng cao gắn với chế biến và xuất khẩu 1.1.3 Tình hình phát triển các cơ sở sản xuất của Phan Thiết: Phan Thiết có một số địa điểm thuận lợi để phát triển một số ngành nghề thủ công, như nguồn lao động rẻ và dồi dào, nghề thủ công có bề dày truyền thống như làm nước mắm và CBHS, Đặc biệt, nhờ có sự gắn kết chặt chẽ với thị trường, cơ cấu sản phẩm của các CSSX đã có chuyển biến mạnh mẽ theo hướng càng ngày sản phẩm phục vụ thiết thực hơn đối với nhu cầu của thị trường, nhiều CSSX đã hình thành từ lâu cùng với các CSSX mới cũng đã có sự phát triển nhanh chóng
Sản xuất tại các cơ sở sản xuất đa số ở quy mô nhỏ , trình độ thủ công có ứng dụng thêm một số máy móc nhỏ (như máy bơm nước, máy phát điện nhỏ, lò hơi, lò sấy…) tổ chức SX phân tán, nhiều CSSX chỉ là hộ gia đình hoặc liên kết 5 – 7 hộ gia đình Tuy nhiên, cơ cấu ngành nghề và các sản phẩm thường đa dạng, đáp ứng được nhu cầu của thị trường Một số ngành nghề gắn với đời sống, với SX tiểu thủ công nghiệp chế biến hải sản đang phát triển mạnh ở nhiều phường trong TP
Nhìn chung các cơ sở sản xuất có trình độ lạc hậu, thiết bị phần lớn đã cũ, một
số được dùng lại từ thải loại của SX công nghiệp quy mô lớn hơn, do đó không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và vệ sinh MT Cùng với sự phát triển của các thành phần kinh
tế khác, các CSSX này đã dùng một số hóa chất không đảm bảo và dùng quá nhiều nguồn nguyên liệu hải sản , đã làm cho MT nhiều nơi bị ô nhiễm nặng nề Cùng với các cơ sở hạ tầng khác tuy thời gian qua có đầu tư nâng cấp, nhưng nhiều nơi vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu SX như: đường giao thông hẹp, hệ thống cấp – thoát nước chưa đạt yêu cầu, cung ứng điện không ổn định, nhiều nơi không có bãi tập kết nguyên liệu còn để xen kẽ ở các hộ dân, làm mất mỹ quan và ô nhiễm MT
Trang 34Hoạt động của nhiều cơ sở sản xuất hiện nay trên 1 số phường nơi tập trung nhiều CSSX như: Mũi Né, Phú Hài…có khả năng thải ra các chất gây ô nhiễm MT gần tương đương với các nhà máy công nghiệp Do công nghệ lạc hậu thủ công, quy
mô nhỏ nên tại các CSSX thường có tỷ suất tiêu hao nguyên liệu, năng lượng nhiên liệu và thải lượng trên 1 đơn vị sản phẩm cao hơn so với sản xuất có công nghệ tiên tiến (như 1 số DN lớn của tư nhân và nhà máy của nhà nước trong chế biến hàng hải sản) Mặt khác, do thiếu các phương pháp BVMT mà căn bản là thiếu kiến thức về
MT (thường các chủ CSSX chỉ chú ý đến mức để đạt lợi nhuận tối đa) nên các tác hại của các nguồn thải gây ô nhiễm này đến hệ sinh thái, đến sức khỏe cộng đồng là rất lớn Vấn đề này sẽ ngày càng thêm nguy hiểm hơn khi các chủ CSSX không những chưa có ý thức BVMT mà còn chưa có cả những kiến thức cơ bản về BVMT
1.2.Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội phường Mũi né:
Diện tích: 32,058 Km2 Tổng số nhân khẩu: 5027 hộ/ 31.230 nhân khẩu; người trong độ tuổi lao động: 2/3 dân số; mật độ dân số: 970 người/km2; Đa phần dân Mũi Né sống chuyên nghề khai thác và CBHS Sản lượng khai thác hàng năm khoảng 12.000 tấn.Mũi Né là 01 địa điểm du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước Hàng năm, địa phương thu hút trên 1 triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan du lịch Cùng với những phường làm nước mắm nổi tiếng như: Đức Thắng, Phú Hài, Thanh Hải… nước mắm Mũi Né cũng đã nổi tiếng trong cả nước và đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm, cùng với đó là các ngành nghề chế biến hải sản truyền thống khác như: các loại khô: cá khô, mực khô, tôm khô, nhuyễn thể khô (điệp, dòm, hàu, sò…); gần đây có thêm những mặt hàng mới như: cá, tôm, mực tẩm gia vị, hàng hải sản đông lạnh xuất khẩu
*Cơ sở hạ tầng: hệ thống đường sá đa số được nhựa hóa, một số ít còn đường cấp phối; hệ thống thoát nước không đạt chuẩn; hệ thống cấp nước khoảng 25% dân
số được sử dụng nước máy tại nhà, nước thải sinh hoạt chưa xử lý, thấm xuống đất;
* Môi trường: Rác thải của các cơ sở sản xuất và của hộ dân bị ô nhiểm Khí thải: (mùi hôi của các cơ sở sản xuất gia công hải sản): gây mùi hôi.Nước thải: (của các cơ sở gia công chế biến hải sản) gây mùi hôi Số lượng cơ sở chế biến hải sản: 140.Số lượng cửa hàng bán hải sản phục vụ khách du lịch: trên 100
Trang 35Tình hình khiếu kiện của người dân và cách giải quyết của địa phương: Khiếu kiện do các cơ sở gia công CBHS gây ra: tình hình diễn ra khá phức tạp, thường xuyên tập trung vào mùa cá cơm, chủ yếu là do các CSSX thải khói bụi, rác
và nước thải vào MT nằm trong khu vực khu phố 14 của phường
Hướng giải quyết của địa phương:- Vận động các CSSX ký cam kết vệ sinh
MT do UBND thành phố quy định, xử lý nước thải đúng cách trước khi thải ra đất
- Kiến nghị với các ngành chức năng đầu tư xây dựng khu chế biến hải sản tập trung cách xa dân cư để đảm bảo vệ sinh MT và sức khỏe người dân cũng như mỹ quan của phường để thu hút khách du lịch (nguồn: UBND phường Mũi Né)
1.3 Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của phường Phú Hài:
Phú Hài là phường ven biển, diện tích tự nhiên: 1.213ha, dân số toàn phường trên 13.000 khẩu với 2.908 hộ Như phường Mũi Né, Phú Hài cũng là nơi SX nước mắm nổi tiếng về chất lượng thơm, ngon Ngoài ra, phường cũng có nhiều cơ sở CBHS như phường Mũi Né Trên địa bàn phường có 01 khu quy hoạch CBHS tập trung của Thành phố Phan Thiết với hơn 45 cơ sở đang hoạt động với nhiều ngành nghề khác nhau như: chế biến nước mắm, làm tôm, chế biến thức ăn gia súc, cá khô, làm phân mắm nằm tại khu phố 1 và giáp với thôn Ung Chiếm – xã Hàm Thắng Ngoài ra còn có hơn 40 cơ sở chế biến nước mắm, làm mực, cá khô nằm ngoài khu CBHS cạnh nhà dân Sản lượng khai thác hàng năm trên 10.000 tấn Vấn đề ô nhiễm môi trường của địa phương hiện nay chủ yếu là nước thải tập trung tại khu CBHS và khí thải của một số cơ sở trong khu CBHS UBND phường cũng đã nhận được nhiều đơn khiếu nại của các hộ dân tại khu phố 1 xung quanh mùi hôi và nước thải của các cơ sở trong khu chế biến Khi nhận được đơn thư khiếu nại về MT, phường đã tiến hành kiểm tra, nhắc nhở một số cơ sở (do trang thiết bị và chuyên môn về việc xác định mức ô nhiễm như mùi hôi, nước thải của địa phương còn hạn chế, chủ yếu nhìn bằng mắt thường và theo cảm tính), đồng thời kiến nghị Phòng TN & MT , các ngành chức năng của tỉnh để phối hợp giải quyết và có biện pháp xử lý kiên quyết mạnh đối với một số cơ sở vi phạm Đồng thời, hướng dẫn yêu cầu có biện pháp khắc phục Hiện nay, tình trạng ô nhiễm MT
Trang 36tại khu CBHS và trong khu dân cư đã có chuyển biến Đơn thư khiếu nại về MT đã
giảm Tuy nhiên, về lâu dài địa phương cùng với UBND Thành Phố và các ngành
chức năng của tỉnh đã kiến nghị tỉnh sớm đầu tư nhà máy xử lý nước thải cho khu
CBHS để đảm bảo MT trong khu vực và trên toàn phường.Nguyên nhân gây ô
nhiễm MT chủ yếu là do các cơ sở CBHS Nước thải, rác thải sinh hoạt của dân ;
trình độ, ý thức của nhân dân chưa cao trong việc BVMT Ngoài ra, hệ thống xử lý
nước thải, hệ thống thoát nước chưa được đầy đủ.(Nguồn:UBND phường Phú Hài)
2.Nhận diện tình hình ô nhiễm môi trường do hoạt động của khu quy
hoạch chế biến hải sản Phú hài (khu quy hoạch) và các cơ sở chế biến hải sản
đến các yếu tố tài nguyên môi trường và cộng đồng dân cư:
2.1.Tác động môi trường trong hoạt động sản xuất của khu quy hoạch:
Ngành nghề hoạt động chính trong khu quy hoạch chủ yếu là:Ngành sản xuất
nước mắm,Chế biến cá khô,Sản xuất bột cá, sản xuất phân bón từ bã xác mắm
Do đó nguồn thải phát sinh từ các cơ sở trong khu vực bao gồm: Nguồn thải
do quá trình sản xuất chế biến nước mắm, bột cá, cá khô, sản xuất phân bón từ bã
xác mắm Nguồn thải do nhu cầu sinh hoạt và vận chuyển, kinh doanh
Dây chuyền sản xuất nước mắm
Nguyên liệu cá
Mùi hôi tanh do cá phân hủy hữu cơ
Mùi hôi Chất thải rắn , mùi hôi Nước nước mặt bằng, dụng cụ ,bể
Bể chượp
Chứa, lọc, pha
Bã thải
Trang 37Quy trình Sản xuất bột cá:
Khí thải Nước thải
Dây chuyền sản xuất cá khô
:
Mùi tanh Mùi tanh Mùi tanh
Rửa Ướp muối Phơi khô
Thành phẩm Nguyên liệu cá
Trang 38Quy trình chế biến phân vi sinh từ bã xác mắm và hải sản
Trang 39Bảng 2.1: Liệt kê các nguồn gây tác động trong quá trình hoạt động của các cơ sở
(Nguồn: Trung tâm Quan Trắc môi trường Bình Thuận)
2.1.1 Tác động môi trưòng do khí thải: cụ thể như sau
Mùi hôi: phát sinh chủ yếu khi vận chuyển các loại hải sản mua về Quá trình
ủ chượp ban đầu Một phần mùi nước mắm phát sinh từ bể chứa, quá trình bơm, pha đấu và rót chai nước mắm Do đặc thù của ngành sản xuất nước mắm nên mùi nặng nhất chính là công đoạn muối chượp ban đầu, Thành phần mùi gồm có các chất gây mùi như: mercaptan, amin, sunfua, amoniăc, nồng độ của các chất gây mùi ở dạng vết (rất nhỏ) nên không tiến hành đo đạc được Nếu nhà xưởng không được thông
Stt Hoạt động Các nguồn gây tác động môi trường
- Chất thải rắn công nghiệp
- Chất thải nguy hại
3 vệ sinh khu tập kết hải
sản
- Nước thải từ rửa sàn
- Rác thải rơi vãi rửa trôi theo nước
4 Sinh hoạt hàng ngày của
Trang 40thoáng tốt mùi hôi sẽ tích tụ gây cho con người những cảm giác khó chịu, gây dị ứng, ức chế thần kinh, gây nhức đầu và giảm khả năng làm việc
Xung quanh khu vực quy hoạch không có các công trình che kín, nhà xưởng sản xuất của các cơ sở nằm ở vị trí thoáng gió, khu quy hoạch không trồng cây xanh xung quanh nên mùi hôi dễ dàng lan toả đến khu dân cư nằm cạnh khu quy hoạch gây khó chịu và ảnh hưởng đến cộng đồng Các cơ sở sản xuất phân bón từ bã xác mắm cũng gây ô nhiễm mùi hôi do quá trình ủ bã xác mắm Các cơ sở CBHS khô
và bột cá sử dụng nồi hơi để sấy hấp cá, dẫn đến việc phát sinh các khí thải Quá trình sơ chế hải sản sẽ phát sinh mùi do sự phân huỷ cá và các chất hửu cơ trong nước cá từ các khâu lưu trữ, dịch ly tâm và các quá trình sơ chế hải sản Mùi có hỗn hợp các chất axít hữu cơ, amin hữu cơ, aldehyt hữu cơ và Methyl mercaptan,
- Các sản phẩm dạng khí chính từ quá trình phân huỷ chất hữu cơ sẽ phát sinh các khí gồm H2S, Methyl mercaptan, CO2, CH4 Trong đó, H2S và Methyl mecarptan là các chất gây mùi hôi chính, còn CH4 là chất gây cháy nổ nếu bị tích tụ
ở một nồng độ nhất định
Khí thải từ quá trình đốt nhiên liệu phục vụ sản xuất (dầu DO):
Trong quá trình sản xuất, dầu DO sử dụng làm nhiên liệu chính cho hoạt động cuả máy phát điện Ngoài ra, dầu DO còn làm chất đốt cấp nhiệt cho lò hơi, lò sấy hải sản Dầu DO khi đốt cháy sẻ sinh ra các chất gây ô nhiễm không khí như: CO,
NO2, SO2, , Hydrocarbon, bụi Ngoài ra còn có các hợp chất của lưu huỳnh và nitơ Khi đốt cháy phát sinh các sản phẩm cháy chủ yếu là các khí CO, CO2, SO2,
NO2, hơi nước, muội khói, trong đó các tác nhân cần kiểm soát là SO2, NO2 và bụi ( các chất chỉ thị ô nhiễm do đốt dầu)
Khí thải phát sinh từ hệ thống thoát nước và trạm xử lý nước thải tập trung (XLNTTT): nếu xử dụng mương bị hư, hở thì trong quá trình di chuyển sẻ có một lượng chất ô nhiễm thoát ra MT Tại khu xử lý nước thải cục bộ của các nhà máy hoặc khu xử lý tập trung, các loại hơi khí độc cũng có điều kiện phát sinh từ các bể cân bằng, hồ sinh học hoặc sân phơi bùn Thành phần của các hơi độc hại này rất đa dạng như NH3, H2S…