ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN TỨ TUYỆT PHI ĐIỂU NGUYÊN ÂM CỦA NHỮ BÁ SĨ – NGHIÊN CỨU VĂN BẢN VÀ GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG uận văn thạc sĩ chuyên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TỨ TUYỆT
PHI ĐIỂU NGUYÊN ÂM CỦA NHỮ BÁ SĨ – NGHIÊN CỨU
VĂN BẢN VÀ GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG
U N VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Hán Nôm
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN TỨ TUYỆT
PHI ĐIỂU NGUYÊN ÂM CỦA NHỮ BÁ SĨ – NGHIÊN CỨU
VĂN BẢN VÀ GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG
uận văn thạc sĩ chuyên ngành: Hán Nôm
Mã số: 60 22 01 04
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Kim Sơn
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, người
đã tận tâm hướng dẫn, hỗ trợ tôi về mọi mặt trong quá trình thực hiện Luận văn của mình
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo đã giảng dạy, chỉ bảo trong suốt khóa học của tôi Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Nguyễn Tứ Tuyệt
Trang 4M C C
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của luận văn 6
6 Bố cục luận văn 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG I: NHỮ BÁ SĨ VÀ TÁC PHẨM PHI ĐIỂU NGUYÊN ÂM 7
1.1 Thân thế và sự nghiệp 7
1.1.1 Tiểu sử tác giả 7
1.1.2 Quan điểm thơ văn và sự nghiệp sáng tác 10
1.2 Tác phẩm Phi điểu nguyên âm 16
1.2.1.Tình hình văn bản 17
1.2.2 So sánh các dị bản và chọn ra thiện bản 22
1.2.3 Nguyên nhân ra đời và nhan đề tác phẩm 26
Tiểu kết 36
CHƯƠNG 2: GIÁ TRỊ VĂN CHƯƠNG PHI ĐIỂU NGUYÊN ÂM 37
2.1 Chủ đề, cảm hứng chủ đạo trong Phi điểu nguyên âm 37
2.1.1 Chủ đề sáng tác trong Phi điểu nguyên âm 38
2.1.2 Cảm hứng chủ đạo trong Phi điểu nguyên âm 60
2.2 Thể loại sáng tác trong Phi điểu nguyên âm 73
2.3 Nghệ thuật ngôn từ trong Phi điểu nguyên âm 89
Tiểu kết 97
KẾT LU N 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PH L C 103
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bức tranh toàn cảnh về diện mạo văn học Việt Nam thì văn học chữ Hán đóng vai trò vô cùng quan trọng Suốt mười thế kỷ kể từ buổi đầu của ngày độc lập tự chủ cho đến khoa thi năm 1919 thì sáng tác chủ yếu của văn học Việt Nam được viết bằng chữ Hán là chính Chữ Hán hiện diện và được sử dụng trong mọi hoạt động của đời sống từ chính trị, văn hóa, lịch sử, y học cho đến phô bày, diễn đạt tâm tư tình cảm của con người Chữ Hán được các nhà thơ nhà văn sử dụng trong sáng tác của mình trải dài cả nghìn năm nên về khối lượng văn chương ngày nay chúng ta được thừa hưởng là không hề nhỏ Nhiều tác phẩm đã được dịch và phổ biến gắn liền với những tên tuổi quen thuộc như: Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ song bên cạnh đó vẫn còn rất nhiều tác phẩm tác giả lớn nchưa được nhiều
người biết đến Nhữ Bá Sĩ và Phi điểu nguyên âm là một trong những điển hình
như vậy
Tuy được xem là một tác gia lớn của thế kỷ XIX song những sáng tác của Nhữ Bá Sĩ vẫn chưa được quan tâm nhiều, người ta chỉ nhắc đến ông qua một số giai thoại, hay trích dẫn sơ lược một vài ý kiến của ông về các vấn đề văn học trong một số bài viết chứ chưa nghiên cứu chuyên sâu về quan điểm tư tưởng cũng như những đóng góp của ông cho văn học thời kỳ đó Đối với thời đại mình Nhữ Bá Sĩ nổi bật ở vai trò là người thầy xuất chúng Cuộc đời của ông gắn liền với việc dạy dỗ và đào luyện nhân tài, ông bắt đầu sự nghiệp dạy dỗ
ngay khi còn rất trẻ, Nghi am học hiệu của ông là một trong những trường đào
tạo có tiếng vào thời đó Ông là người thầy giáo mẫu mực, luôn đề cao điều
nhân và yêu mến học trò Trong số môn sinh của ông có Phạm Thanh đỗ Bảng
nhãn (1851) được ca tụng là 國朝亞狀 (quốc triều á trạng) và Đỗ Xuân Cát đỗ
cử nhân song không ra làm quan
Ngoài dạy học ra thì Nhữ Bá Sĩ còn là một tác gia lớn Ông nghiên cứu rất
Trang 6toán trong đó những sáng tác về văn chương, nhất là thơ chiếm số lượng lớn
Đương thời người ta ca tụng ông là:
Thi văn Cát Xuyên Đối liên Phùng Cầu
(Tài thơ văn thì có Nhữ Bá Sĩ ở Cát Xuyên, đối liên thì có Lê Văn Thạc làng Phùng Cầu)
Dù số lượng sáng tác đa dạng song thơ văn vẫn là trọng tâm trong sự nghiệp của ông Bằng tâm hồn thi sĩ nhạy cảm, xuất phát từ trái tim ưu thời mẫn thế trước hiện thực cuộc sống Nhữ Bá Sĩ đã sáng tác rất nhiều thơ văn Tác
phẩm của ông được ghi lại trong các tập thơ như: Phi điểu nguyên âm, Việt sử tam bách vịnh, Việt hành tạp thảo Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan lẫn
chủ quan mà cho đến nay chỉ mới có một số tác phẩm của ông được dịch và trích dẫn Chính vì lý do đó mà chúng tôi lựa chọn tác phẩm của ông làm đối tượng cho đề tài nghiên cứu Trong khuôn khổ phạm vi luận văn của mình chúng tôi không thể giới thiệu hết những trước tác của Nhữ Bá Sĩ mà chỉ nghiên
cứu Phi điểu nguyên âm - tác phẩm thơ văn tiểu biểu cho khuynh hướng sáng
tác của ông Việc đi sâu vào nghiên cứu văn bản cũng như nội dung tác phẩm này sẽ phần nào giúp chúng ta hiểu thêm con người, quan điểm, lập trường, tư tưởng của Nhữ Bá Sĩ cũng như giá trị văn chương của tác phẩm
2 Lịch sử nghiên cứu
Đối với bất kì một công trình nghiên cứu nào, việc tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, từ đó tổng kết những giá trị và hạn chế của việc nghiên cứu trước khi đưa ra những kiến giải của bản thân người nghiên cứu là một công việc hết sức quan trọng và cần thiết
Là một nhà thơ lớn của thời đại, nên thơ văn của Nhữ Bá Sĩ được ghi
chép trong khá nhiều tư liệu có thể kể ra như: Ai vãn đối liên tập (哀輓對聯集),
Ất Mùi tiến sĩ Nguyễn tiên sinh soạn (乙未進士阮先生撰), Bi ký tạp biên (碑記 雜編), Chư gia văn tập (諸 家 文 集), Dương Đình thi trướng tập (陽亭詩帳),
Trang 7Trung ngoại quần anh hội lục (中 外 群 英 會 錄), Quần anh hội thi (群 英 會
詩) Nghiên cứu Về Nhữ Bá Sĩ hay tác phẩm của ông theo hướng chuyên biệt, cho đến nay, theo sự khảo sát của chúng tôi thì mới chỉ có Đỗ Hoàng Tú Anh
với luận văn tốt nghiệp: Lược khảo và phiên dịch Nghi am sơ định học thức Tuy
nhiên cho đến nay theo khảo sát của chúng tôi thì tên tuổi và tác phẩm của ông mới chỉ được tuyển dịch và giới thiệu sơ lược trong một số tác phẩm
Có thể chia các loại tài liệu đề cập đến Nhữ Bá Sĩ thành hai loại: các công trình thư mục học, từ điển và bài viết có tính chất giới thiệu, trích dẫn hoặc tuyển dịch một số bài rải rác trong các tập thơ của Nhữ Bá Sĩ
2.1 Các công trình thƣ mục học, từ điển
- Di sản Hán Nôm Việt Nam- Thư mục đề yếu, Trần Nghĩa - Francois
Gros, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993 Tác phẩm giới thiệu khái quát về Nhữ Bá Sĩ, bút danh và các sáng tác của ông Phần giới thiệu về tập thơ
Phi điểu nguyên âm chủ yếu điểm qua về kí hiệu văn bản, đồng thời khái quát về
tình hình văn bản của tác phẩm hiện được lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm
- Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (Nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam),
Trần Văn Giáp, Nhà xuất bản Văn Hóa, Hà Nội 1984, Giới thiệu sơ lược về tự,
hiệu, năm sinh, năm mất và tác phẩm của Nhữ Bá Sĩ
- Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng, Nguyễn Bá
Thế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1991 Cũng giới thiệu sơ lược như vậy
- Từ điển văn học (bộ mới), Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), cùng các soạn giả
Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá, Nhà xuất bản thế giới, 2004 Trong công trình này đã có những đánh giá khái quát xác đáng và chi tiết về xuất thân, sự nghiệp quan điểm sáng tác của Nhữ Bá Sĩ cũng như giới thiệu về
tác phẩm Phi điểu nguyên âm Trong đó có đoạn nhận định về ông: “Mặc dù nhận thức còn đề cao sách vở và đạo đức nhà Nho, nhưng với lòng yêu nước sâu sắc, với số lượng tác phẩm có nhiều đóng góp về mặt nội dung và thể loại như
Trang 8Tên tự, tên hiệu các tác gia văn học Việt Nam, Trịnh Khắc Mạnh, Nhà
xuất bản Khoa học xã hội, 2002, Giới thiệu về tác giả Nhữ Bá Sĩ, tên tự, tên hiệu
Giai thoại văn học Việt Nam, Kiều Thu Hoạch, viết lại những giai thoại
về Nhữ Bá Sĩ cũng như sơ lược về tiểu sử của ông đồng thời có trích một số bài
thơ dịch: Hạ tân khoa tiến sĩ bát viên vinh quy, Mã Giang thu nguyệt ký Phạm
Ôn Như Có thể nói sau bộ từ điển văn học thì đây là bài viết về ông chi tiết nhất Thơ văn trong bài được trích từ Phi điểu nguyên âm và Việt sử tam bách vịnh
Những bài viết có nêu tên ông như: Tình hình văn học chữ Hán nửa sau thế kỷ XIX của Trần Thanh Mại viết: “Nhữ Bá Sĩ làm văn tế vợ chết trẻ, hứa với linh hồn vợ sẽ lấy ngay vợ khác, để chóng có con trai nó sẽ thờ cúng người vợ
đã chết đi!” Đây là một bài phê bình thơ văn thời Nguyễn theo tư tưởng giai cấp
một thời nên cái nhìn khá hằn học với các tác giả
Bài Có một dòng thơ vịnh sử trong di sản văn học của cha ông của
Nguyễn Xuân Diện thì chỉ điểm tên và tổng kết 307 bài vịnh sử của Nhữ Bá Sĩ
Tổng tập văn học Việt Nam, (42 tập), Nhà xuất bản khoa học xã hội, 2000
Trong đó, tập 19 của bộ sách này có giới thiệu sơ lược về tác giả tác phẩm và tuyển dịch một số bài thơ tiêu biểu trong các sáng tác của ông
Nhìn chung có thể thấy, tất cả những công trình nghiên cứu trên phần lớn chỉ giới thiệu một cách sơ lược về tác giả, quê quán, các bút danh, chức danh và các sáng tác của ông, đồng thời trích dẫn một số bài thơ tiêu biểu để làm rõ những nhận định mà người viết đánh giá về Nhữ Bá Sĩ Cho đến nay, chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu về tác giả và các sáng tác của ông, đặc
biệt là về vấn đề văn bản của Phi điểu nguyên âm - một trong những sáng tác
Trang 9quan trọng thể hiện tâm tư, tình cảm của Nhữ Bá Sĩ Đó cũng chính là một hạn chế đáng kể trong việc nghiên cứu nền văn học chữ Hán của Việt Nam thời trung đại nói chung và vấn đề nghiên cứu thi ca nhà Nguyễn nói riêng Do vậy,
chúng tôi chọn đề tài Phi điểu nguyên âm của Nhữ Bá Sĩ_ Nghiên cứu văn
bản và giá trị văn chương làm luận văn nghiên cứu tốt nghiệp
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là văn bản 飛鳥元音 Phi điểu nguyên âm
của Nhữ Bá Sĩ 汝伯仕 được lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm với 3 dị bản: VHV.1773, VHV.83 và A.2911
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu về văn bản và giá trị văn
chương của tác phẩm Phi điểu nguyên âm để phần nào hiểu hơn về Nhữ Bá Sĩ
và đóng góp của ông cho văn học thế kỷ XIX
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhau theo hướng tiếp cận liên ngành như:
Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này được sử dụng để
khảo sát các sáng tác của Nhữ Bá Sĩ, thống kê những dẫn chứng từ Phi điểu nguyên âm trực tiếp thể hiện quan niệm văn chương của tác phẩm Trên cơ sở dẫn chứng khảo sát, tiến hành phân loại để tìm ra nội dung, khái quát thành luận điểm cơ bản
Phương pháp thống kê tổng hợp: đây là phương pháp thường được sử
dụng để khai thác dẫn chứng Phương pháp này được vận dụng để xử lý các dẫn chứng, giúp đưa ra kết luận xác đáng
Phương pháp văn bản học: Phương pháp này được sử dụng để so sánh,
đối chiếu, phân loại giữa các dị bản, đưa ra bản đáng tin cậy để phiên dịch và công bố
Phương pháp phân tích tác phẩm: Thông qua phương pháp này chúng tôi
tiến hành tìm hiểu nội dung và giá trị văn chương của tác phẩm
Trang 105 Đóng góp của luận văn
Đưa ra các vấn đề về văn bản Phi điểu nguyên âm và giải quyết phần nào
các vấn đề ấy, góp phần cho văn bản học Hán Nôm nói chung
Nghiên cứu về Nhữ Bá Sĩ với phương tiện thông tin cập nhật hiện nay
Lần đầu tiên giới thiệu tác phẩm Phi điểu nguyên âm của Nhữ Bá Sĩ
Thông qua khảo sát, thống kê, phân loại tìm ra nội dung tác phẩm và giá trị văn chương của nó
Tuyển dịch tác phẩm Phi điểu nguyên âm
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục
phiên âm dịch nghĩa văn bản Phi điểu nguyên âm, luận văn được chia ra làm 2
chương:
Chương 1: Nhữ Bá Sĩ và tác phẩm Phi điểu nguyên âm
Chương 2: Giá trị văn chương Phi điểu nguyên âm
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG I: NHỮ BÁ SĨ VÀ TÁC PHẨM PHI ĐIỂU NGUYÊN ÂM
1.1 Thân thế và sự nghiệp
1.1.1 Tiểu sử tác giả
Nhữ Bá Sĩ 汝伯仕(1788 – 1867), tự Nguyên Lập (元立) hiệu Đạm Trai
澹齋 Tổ tiên vốn người đất Hoạch Trạch (Hải Dương) sau dời vào làng Cát, xã
Cát Xuyên, tổng Chương Sơn nay là huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuy con đường thi cử, quan chức của Nhữ Bá Sĩ lận đận, nhưng ông đã lập nghiệp bằng cách sử dụng kiến thức uyên bác của mình để dạy học và sáng tác, đào tạo cho xã hội một số người tài và đóng góp vào kho tàng văn hóa Việt Nam những tác phẩm giá trị Các bài văn, thơ của Nhữ Bá Sĩ đều toát lên lòng yêu quê hương, đất nước, ý thức tự hào về truyền thống dân tộc và cả nỗi niềm trăn trở của tác giả trước những biến cố thời cuộc
Là người thông minh dĩnh ngộ, năm 11 tuổi, ông học với Hương cống Đặng Văn Chính trong huyện 14 tuổi, học trường tỉnh với ông Đốc học Phan Bảo Định, được xếp loại giỏi Năm 15 tuổi, ông vừa học vừa làm thầy giáo tại nhà, dạy dỗ hai em ruột là Nhữ Đình An và Nhữ Trọng Thực, sau này đều thi đỗ
cử nhân Tuy thông minh, hiếu học song con đường hoạn đồ của ông lại lênh đênh Trong khoa thi Hương năm Kỷ Mão, triều Gia Long (1819), ông và người
em thứ hai Nhữ Đình An cùng dự thi, người em thì đỗ cử nhân, còn ông chỉ đỗ sinh đồ (tú tài) Sang khoa thi năm Minh Mạng thứ 2 (1821), ông mới đỗ cử nhân, song thi Hội chỉ được tam tường (trên cử nhân, dưới tiến sĩ, ngang phó bảng sau này)
Cuộc đời quan trường của Nhữ Bá Sĩ cũng đầy gập ghềnh, chông gai Sau khi thi đỗ, ông được bổ chức Tri huyện, rồi thăng Hình bộ viên ngoại lang lang trung Năm 1830, bị vu cáo trong chuyến đi thanh tra thuế đường ở Quảng Nam,
ông bị cách chức, lãnh án “giảo giam hậu” (thắt cổ nhưng giam lại xét sau) Sau
ba năm sống trong lao ngục, ông được tha, nhưng phải đi hiệu lực trong phái
Trang 12Sau thời gian đi sứ trở về Nhữ Bá Sĩ được bổ chức giáo thọ (phụ trách dạy một huyện), rồi thăng đốc học (phụ trách dạy một tỉnh) Ngán ngẩm con đường làm quan, ít lâu sau vào năm 1839 ông cáo bệnh xin nghỉ, rồi mở trường dạy học
tại quê nhà lấy tên là Nghi Am học hiệu Nhiều người đã thành danh từ trường
này như: Phạm Thanh, Phạm Tứ, Phạm Hòa, Mai Anh Tuấn
Biết Nhữ Bá Sĩ là người có tài đức, triều đình nhà Nguyễn muốn trọng dụng lại, nên đã ba lần mời ông làm quan nhưng ông vẫn từ chối Mãi đến năm 1854, Nhữ Bá Sĩ mới ra nhận chức Hàn Lâm trước tác, rồi Đốc học Thanh
Hóa Ở đây, ông phụng chỉ làm sách Thanh Hóa tỉnh chí Khi sách làm xong,
ông lại xin về hưu, tiếp tục việc dạy học
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nhữ Bá Sĩ cùng một số quan ở Thanh Hóa dâng sớ tâu vua phải chống giặc Tây dương, không thể chủ hòa Năm Giáp Tý (1864) ông lại dâng lên vua Tự Đức tờ biểu tường trình về sách
lược đánh giặc Pháp (Tĩnh Dương tam sách) dài đến mấy vạn chữ! Tự Đức đã phê vào tờ tấu: "Người này tuổi đã cao rồi, đáng tiếc thay!" Năm 1866, mặc dù
tuổi cao sức yếu nhưng Nhữ Bá Sĩ còn đi võng vào Nghệ An, mưu việc chống Pháp với các sĩ phu trong ấy, việc chưa thành thì ông mất, thọ 80 tuổi
Cuộc đời Nhữ Bá Sĩ gắn liền với sự nghiệp dạy học, suốt 20 năm cần mẫn đào luyện nhân tài Sự nghiệp truyền tải đạo lý Nho gia, truyền trao tri thức của ông với thời mình rất to lớn Ông luôn là tấm gương học tập cho học trò noi theo, là một người thầy tài năng, đề cao lòng nhân và thương yêu học trò Chuyện kể, bấy giờ ở huyện Hậu Lộc, cạnh nơi ông Nhữ dạy học, có một thiếu niên là Phạm Thanh (1820-1863), nhà nghèo, bố là Phạm Phổ (đỗ cử nhân, làm
Án sát Tuyên Quang, bị bọn phỉ nhà Thanh bắt, không chịu hàng và đã tuẫn tiết) Ông Nhữ động lòng trắc ẩn, bèn đưa người thiếu niên họ Phạm về nhà dạy
dỗ Phạm Thanh học rất giỏi, nên được thầy yêu quý, đem cô con gái là Nhữ Thị Năng gả cho làm vợ Đến khoa thi Hội năm Tân Hợi, triều Tự Đức thứ 4 (1851), Phạm Thanh dự thi và đã đỗ Bảng nhãn Vì triều Nguyễn không lấy Trạng nguyên, nên Phạm Thanh là người đỗ cao nhất nước Hiện bức đại tự ở đền thờ quê ông còn thấy ghi bốn chữ: ''Quốc triều Á trạng''
Trang 13Nhữ Bá Sĩ xứng đáng được xếp vào danh sách nhà giáo danh tiếng của nước ta Trong hơn 20 năm không những trực tiếp dạy dỗ học trò có đức, có tài
mà ông còn là một nhà nghiên cứu giáo dục rất hiếm thấy thời xưa Trong tác
phẩm Nghi Am sơ định học thức của mình, ông đã đề cập đến nhiều lĩnh vực
thuộc về lý luận giáo dục như: nội dung, hình thức giáo dục, phương pháp dạy – học, quan hệ thầy trò về yêu cầu giáo dục ông nhấn mạnh hai chữ “giới – khí”, nghĩa là không được dối trá, học hành phải chân thật, nghiêm túc
Ông khuyên người dạy và người học cần phát huy tích cực và phải coi
trọng việc tích lũy kiến thức: “không thích thú cũng cứ đọc, không nghi ngờ cũng cứ hỏi”, coi trọng “ngôn hành thống nhất”, giữ mẫu mực trong nói năng
hành động Khi làm việc thì ông luôn chuyên cần chăm chỉ, nền nếp, ăn ngủ đúng giờ, rất điều độ, đọc sách thì tập trung chú ý cao, đến mức ai làm gì xung quanh cũng không hay Ông khuyên học trò phải chín chắn cân nhắc kỹ lưỡng
trước khi nói năng: “Thiên tai đô tòng khẩu xuất, vạn bệnh đô tòng khẩu nhập” -
nghìn tai vạ đều từ miệng mà ra, muôn bệnh khổ đều do miệng mà vào Đương
thời trường học Nghi am của ông rất nổi tiếng, học trò và nhân dân gọi ông là
“cụ đốc Nhữ” để tỏ lòng kính trọng đối với người thầy tài năng đức độ
Về tài năng và sự nghiệp trước tác thì Nhữ Bá Sĩ rất nổi tiếng, ông không ngừng tự học, đọc sách, nên hiểu biết rộng, vốn kiến thức dồi dào Lê Thận
Ngôn trong bài Đạm trai tiên sinh hành trạng đã mô tả: : “… khi đọc sách, tiên sinh để tâm nghĩ ngợi rất chăm chú, thần trí như bị hút cả vào chữ nghĩa, mặc cho xung quanh kẻ khác làm gì cũng không biết Lúc nào bên trái bên phải cũng
có sách vở chất đầy bàn, xếp đầy giường Trừ khi bệnh nặng còn thì không bao giờ tay rời quyển sách Đến khi tuổi cao sức yếu mà vẫn một ngọn đèn, một cuốn sách, cứ thế thâu đêm suốt sáng không biết mệt nhọc” Nhữ Bá Sĩ nghiên
cứu khá nhiều lĩnh vực từ lịch sử, văn học đến thiên văn, địa lí, luật pháp, binh thư, võ nghệ, rồi cả lịch số, bói toán và đã để lại một khối lượng trước tác đáng
kể Theo văn bia do học trò của ông là Hoàng Trọng Vỵ (đỗ cử nhân khoa Giáp
Tý, triều Tự Đức (1864), từng giữ chức Thái tể, Thái phó, Hiệp biện đại học sĩ,
Trang 14phê bình, hiệu đính khác Một số đến nay đã bị thất lạc hiện chỉ còn trên mười tác phẩm lưu trữ tại thư viện Hán Nôm Hà Nội và do gia đình cất giữ Trong số
đó, có hai tác phẩm văn học đáng chú ý là Phi điểu nguyên âm và Việt sử tam bách vịnh, gồm 309 bài vịnh sử nước ta từ Hùng Vương đến hết thời Hậu Trần
Thơ văn của ông ý tứ hàm súc, từ ngữ trau chuốt, vận dụng nhiều tư liệu điển tích xưa nên nếu không có kiến thức rộng thì rất khó đọc và dịch Chuyện
kể có một vị cử nhân đến nhà ông mượn sách, nhưng khi xem qua thì trả lại vì thấy khó hiểu Đó cũng là một trong những lý do mà cho đến nay chúng ta chưa
biết nhiều về trước tác của ông dù ông được xưng tụng là Thi văn Cát Xuyên và hậu thế đánh giá là “nhà văn có tầm cỡ ở thế kỷ XIX”
Nhà văn Trung Quốc Mục Liên Tiên, tức Mục Cẩn đánh giá tài văn của
Nhữ Bá Sĩ: “'Mạnh mẽ, hùng tráng, tình ý mới lạ, lời uyển chuyển, biến hóa theo chủ định của tác giả, ý đối, từ dùng sâu sắc, đẹp, âm điệu hài hòa như trúc mùa thu, màu sắc tươi tắn như lan mùa xuân'' Tuy con đường thi cử, quan chức của
Đạm Trai Nhữ Bá Sĩ lận đận, nhưng ông đã lập nghiệp bằng cách sử dụng kiến thức uyên bác của mình để dạy học và sáng tác, đào tạo cho xã hội một số người tài và đóng góp vào kho tàng văn hóa Việt Nam những tác phẩm giá trị Đúng
như đoạn viết trên tấm bia dựng ở nhà thờ họ Nhữ quê ông: '' Thầy Đạm Trai nếu tài học được trọng dụng sớm, thì sao mà có được mười mấy bộ sách để con cháu giữ làm của quý, nhiều người ngẫm đọc? Sao có được các vị họ Mai, họ Phạm kiệt xuất một thời giúp việc nước? Sao mà mãi đến nay ở xứ Thanh đất nhà vua, sĩ phu đông đảo hết lòng hâm mộ, tôn thầy làm khuôn mẫu đời đời Xem thế biết thầy đâu phải không gặp thời."
1.1.2 Quan điểm thơ văn và sự nghiệp sáng tác
Nhữ Bá Sĩ như đã nói, sở học rất rộng nhưng không vì thế mà kiến thức của ông chắp vá lẫn lộn Ông rất nghiêm khắc đối với bản thân và việc học, và điều quan trọng nhất là kiến thức thu lượm được từ sách vở phải ứng dụng được vào thực tế, nếu không kiến thức chỉ là kiến thức khô héo, cứng nhắc Giống như Khổng Tử từng nói: Đọc 300 bài Kinh Thi, sai đi sứ mà không ứng đối được thì đọc làm gì Việc học theo ông phải thực hiện theo tinh thần sách Trung Dung đã
Trang 15dạy: 有弗學學之弗能弗措也.有弗問,問之弗能弗措 “Hữu phất học, học chi phất năng phất thố dã Hữu phất vấn, vấn chi phất năng phất thố dã) 1 (không
học thì thôi, học thì phải thông đạt, không hỏi thì thôi, hỏi thì phải hỏi cho đến khi hiểu rõ) Chính vì có quan niệm học mang tính ứng dụng thiết thực như vậy nên ở mỗi thể loại ông đều gặt hái những thành tựu lớn
Ở thời trung đại Việt Nam thì văn học là định hướng cho mọi ngành, nó
và triết học, lịch sử bao gồm một khối “văn triết sử bất phân” Văn chương được dùng để truyền tải đạo của thánh nhân, làm sáng tỏ lẽ của cương thường Người
đi học ai cũng bắt buộc phải làm văn, làm thơ tuy nhiên để có được quan điểm sáng tác thơ văn thì số lượng rất hạn chế
Trường hợp Nhữ Bá Sĩ là biệt lệ, ông rất chuộng cổ văn, thường thư từ qua lại với những bậc giỏi cổ văn đương thời Đối với cổ văn ông rất tâm huyết, văn chương cử nghiệp chỉ là kế lập thân còn cổ văn mới là cái dưỡng chí, hướng đạo, hợp với tiền nhân xưa Ông giải thích quan niệm về cổ văn như sau: 文爲古何古者後之對文者貭之對古之氣淳其人多貭從而文之則為彬彬而可观後世
不古其人貭多文又從而文之則幾於文勝滅貭矣 “văn vị cổ hà? Cổ giả hậu chi đối, văn giả chất chi đối Cổ chi khí thuần, kỳ nhân đa chất, tòng nhi văn chi tắc bân bân nhi khả quan Hậu thế bất cổ, kỳ nhân chất đa văn hựu tòng nhi văn chi tắc kỷ ư văn thắng diệt chất hỹ” 2 (Văn gọi là cổ là thế nào? Cổ là so với đời sau,
cái văn đối với cái chất, phong khí của xưa là thuần, người thời đó cái chất nhiều, từ chất đó mà làm văn thì hoàn hảo đáng xem Hậu thế thì không được như người xưa, chất nhiều hơn văn, lại từ cái đó mà làm văn thì phần lớn văn diệt cái chất vậy) Văn chương phải cùng với phẩm hạnh tịnh hành, trọng thực tiễn xa rời ngôn từ phù phiếm thì mới có thể chuyển tải đạo hay làm sáng tỏ đạo được
Trang 16
Để có được cái văn thắng cái chất thì không gì hơn học theo xưa, người làm cổ văn thì phải có nguồn tham khảo, phải có kim chỉ nam để dựa vào, có như vậy thì văn mới đạt: 源菸六經委於諸子以注涵之於文則世皆以古命之以謂能淳於蕘而文於多貭便是古於後有為者亦如是而已此文章之所以古為貴
後學之所以古是式 Nguyên ư Lục kinh, ủy ư chư tử Dĩ chú hàm chi ư văn tắc thế giai dĩ cổ mệnh chi, dĩ vị năng thuần ư nhiêu nhi văn ư đa chất, tiện thị ư cổ hậu hữu vi giả diệc như thị nhi dĩ Thử văn chương chi sở dĩ cổ vi quý, hậu học chi sở dĩ cổ thị thức 3 (Lấy nguồn nơi Lục kinh, ngọn nơi chư tử để chuyên vào
súc dưỡng nơi văn thì đời sẽ lấy cái xưa mệnh cho mình Lấy cái trong sáng tưới gội thì văn mang nhiều chất, xưa với đời sau có làm gì thì cũng chỉ vậy thôi Cái
văn chương ấy sở dĩ cổ là vì quý, hậu học sở dĩ gọi là cổ vì là mô phạm)
Ông phê phán lối văn cử nghiệp cốt chuộng công danh: 我越自古號稱文献李陳盛黎以前諸君子之文麗而雄观而有貭足徴也降及黎季國運日趍文体亦變舉業之家別观一宗矩度粗於經學細於傳疏諸子外之陳言裏之嚴對偶畧
理致体格最為卑弱敦業者方務趍時好以立功名 Ngã Việt tự cổ hiệu xưng văn hiến, Lý Trần Thịnh Lê dĩ tiền, chư quân tử chi văn lệ nhi hùng, phì nhi hữu chất, túc trưng dã Giáng cập Lê quý quốc vận nhật xu, văn thể diệc biến, cử nghiệp chi gia biệt sáng nhất tông quy củ; thô ư kinh học, tế ư truyện sớ, chử tử ngoại chi, trần ngôn lý chi, nghiêm đối ngẫu, lược lý trí, thể cách tối vi ti nhược Đôn nghiệp giả phương vụ xu thời hiếu dĩ lập công danh 4
(Nước Việt ta từ xưa
hiệu xưng là nước văn hiến, thời Lý, Trần, Lê thịnh trở về trước; văn của các bậc quân tử, đẹp mà mạnh mẽ, văn vẻ mà chất có thể viện dẫn ra được Đến cuối thời Lê, vận nước ngày càng nghiêng ngả, văn thể cũng biến đổi Các nhà cử
3
Trai văn tập tự
4
Trang 17nghiệp tạo mở quy củ nhánh riêng; thô thì nơi kinh học, tế thì ở truyện sớ, chư
tử đặt ra ngoài, mở lời thì che giấu, trọng việc đối ngẫu, lược bỏ lý tính, thể cách
vô cùng yếu nhược Văn nghiệp cốt ở nịnh thời, chuộng việc lập công danh)
Nhữ Bá Sĩ quan niệm thơ văn có nhiều chức năng, văn không chỉ chuyển tải đạo mà văn còn là thù tạc, tặng nhau, gửi gắm tâm sự, văn chương gắn bó với cuộc sống ở nhiều phương diện:士之於詩文猶女之於酒观葅醢之属女因以观德為尚中饋亦職之常大而祭祀观客小而日用飮食皆酒观葅醢之用不是之義非女也士之為學固以義理為當務修践為寔著而上之章疏謨論次之著述考議
細之吟观詠歌酬贈往復 sĩ chi ư thi văn, do nữ chi ư tửu tương thư hải chi thuộc, nữ nhân dĩ phụ đức vi thượng, trung quỹ diệc chức chi thường, đại nhi tế
tự tân khách, tiểu nhi nhật dụng ẩm thực giai tửu tương thư hải chi dụng, bất thị chi nghĩa phi nữ dã Sĩ chi vi học cố dĩ nghĩa lý vi đương vụ, tu tiễn vi thật trước nhi thượng chi chương sớ mô luận, thứ chi trước thật khảo nghi, tế chi ngâm khiếu vịnh ca, thù tặng vãng phục 5 (người học đối với thơ văn, giống như phụ
nữ với việc nấu nướng Phụ nữ lấy cái đức người vợ làm đầu, cũng là lẽ thường chức phận, lớn thì tế tự tiếp khách, nhỏ thì ăn uống hằng ngày đều nhờ vào nấu nướng, nếu không phải vậy không phải phụ nữ Người học cố nhiên lấy nghĩa lý
là trách vụ, tu sửa theo sự thật, trên thì chương sớ luận mưu, thứ đến trước thuật nghị bàn, nhỏ thì ngâm nga ca vịnh, thù tặng bạn bè)
Phép làm thơ không phải cứ ghép câu chữ lại với nhau là thành thơ, văn
chương nó dựa vào đức hạnh và học thức Người làm thơ phải ôm cái gốc, nhuận cái ngọn, rộng cái nguồn, khơi mở cái dòng, hơn thế nữa: 有不足菸心而
三年得句十載成詩者何為自苦若哉盖其為文之時出想以意達意以辞不得於辞則返之以意不得於意則侯之以神神全意足方成一篇文故不能不備極苦心
Trang 18也 hữu bất túc ư tâm nhi tam niên đắc cú, thập tải thành thi giả, hà vi tự khổ nhược tai? Cái kì vi văn chi thời, xuất tưởng dĩ ý, đạt ý dĩ từ, bất đắc ư từ tắc phản chi dĩ ý, bất đắc ư ý tắc hầu chi dĩ thần, thần toàn ý túc phương thành nhất thiên Cố bất năng bất bị cực khổ tâm giả 6 (nếu có điều trong lòng chưa thấy
hợp thì ba năm mới được một câu, mười năm mới xong bài thơ Vì sao phải khổ như thế? Bởi lẽ khi làm văn, lấy ý mà đưa ra tư tưởng, lấy từ chương mà thấu suốt cái ý Không đạt nơi từ sẽ làm hỏng cái ý, không đạt nơi ý thì dò ngóng cái thần, cái thần và cái ý đầy đủ mới thành một bài văn Cho nên không thể không
khổ tâm vậy)
Như vậy có thể thấy Nhữ Bá Sĩ là người có tư tưởng, quan điểm nghệ
thuật trong sáng tác, như lời một nhà phê bình đã nói “một say mê, một nhiệt hứng” Trong văn học trung đại ít ai quan niệm một cách cụ thể và có hệ thống
như ông về quan điểm sáng tác như vậy
Chính vì có một sở học rất rộng, lại hứng thú với nhiều thể loại cho nên
sáng tác của Nhữ Bá Sĩ rất đa dạng, thuộc về nhiều lĩnh vực như: văn, triết, sử, địa chí, bói toán… có thể kể ra các tác phẩm sau:
Dịch hệ giải thuyết
Việt sử tam bách vịnh
Việt hành tạp thảo
Đạm Trai quan nghi tập
Phi điểu nguyên âm
Đạm Trai thi khóa
Trang 19Ngoài ra, ông có viết bài bình dẫn truyện Quân trung đối của Nguyễn Chu Kiều năm 1834, và duyệt lại sách Hà Phòng ngũ thuyết
Nhìn chung về số lượng tác phẩm mà ngày nay chúng ta còn có thể tiếp cận là khá nhiều Hiện thư viện Hán Nôm còn lưu trữ các tác phẩm sau:
Đạm Trai áp tuyển tập 观齋壓線集, Nhữ Bá Sĩ soạn, Nhữ Tri Thuật biên
tập Sách gồm 2 bản viết tay Bản ký hiệu: VHv.1738, chia thành 5 quyển, dày
530 trang, khổ 28x16 Bản ký hiệu: A.2152, chia thành 2 quyển, dày 508 trang, khổ 26x14 Thơ văn được sắp xếp theo thể loại: Ký, minh, châm, chương sớ, biểu, tấu, tự, thuật, chúc thọ, mừng thi đỗ, phong chức, cất nhắc, tống tiễn, văn
tế, phả khuyên, điếu viếng Chú giải sách đại học có minh họa bằng hình vẽ; và
bài Đại học ca quyết soạn theo thể thơ 7-7/6/8, thâu tóm ý nghĩa sách Đại học
Việt hành tạp thảo 观行雜草 Sách gồm hai bản viết tay Bản ký hiệu
VHv 1797, chia thành hai quyển Thượng và Hạ, dày 248 trang, khổ 27x15 Bản
ký hiệu A.2793, dày 158 trang, khổ 28x16 Sách gồm hơn 80 bài thơ làm khi đi
sứ Trung Quốc: đề vịnh phong cảnh, tức sự, cảm hoài, thù ứng, họa đáp và một số bài thơ do người Trung Quốc làm tặng
Nguyên Lập việt hành tạp thảo thi 元 立 观 行 雜 草 詩 Sách do Nhữ Bá
Sĩ soạn vào khoảng năm 1823, gồm hai bản viết, 1 tựa, 1 dẫn, 1 lệ ngôn, 1 mục lục Bản kí hiệu Vhv.100, dày 120 trang, khổ 30x17 Bản ký hiệu A.1285, dày
56 trang, khổ 31x32 Nội dung gồm thơ văn Nhữ Bá Sĩ làm trong thời gian đi sứ Quảng Đông (Trung Quốc) khoảng năm Minh Mệnh Quý Tị (1823): vịnh phong cảnh trên đường đi, cảm hoài, thù tặng (bạn thơ Trung Quốc), văn tế, tựa viết
cho tập Thanh Khê ngâm thảo của một danh sĩ Trung Quốc; ký kể lại sự tích Hội
Trung ngoại quần anh (Hội thơ của người Trung Quốc và Việt Nam), và một số thơ tiễn tặng Nhữ Bá Sĩ của bạn thơ Trung Quốc, thơ dự thi của sứ giả Việt nam
ở Quảng Đông
Trang 20Việt sử tam bách vịnh 越史三百詠 Sách gồm ba bản viết tay Bản ký hiệu
VHv.1774, dày 173 trang, khổ 29x17 Bản ký hiệu VHv.1778, dày 144 trang, khổ 30x17 Bản ký hiệu: A.137: 178 trang, khổ 28,5x16 Nội dung gồm 307 bài thơ vịnh các nhân vật lịch sử Việt Nam từ Kinh Dương Vương đến cuối thời Trần
Đạm Trai thi khóa 观 齋 詩 科, Nhữ Bá Sĩ bình, điểm và viết tựa năm Tự
Đức thứ 3 (1850), Phạm Thanh và Lê Bá Nghi biên tập, Nhữ Dĩ Huyến hiệu đính Sách gồm 5 bản viết tay Bản A.2263, dày 264 trang, khổ 24x13 Bản ký hiệu A.1248, dày 184 trang, khổ 26x14 Bản ký hiệu VHv.2418, dày 198 trang, khổ 26x14 Bản ký hiệu VHv.1795, dày 261 trang, khổ 27x15 Bản ký hiệu VHb.12, dày 112 trang, khổ 20x12 Bản ký hiệu MF.2023 Nội dung gồm những bài thơ trích tuyển từ trường học của Nhữ Bá Sĩ, đề tài chủ yếu lấy ở sử Trung
Quốc, thơ theo thể thất ngôn Đường luật, thất ngôn tuyệt cú, ngũ ngôn bài luật
Đạm Trai thi văn tập 观齋詩文集 Sách gồm một bản viết tay, dày 176
trang, khổ 28x16 Nội dung gồm 205 bài thơ vịnh sử, vịnh vật, sớ, trướng, văn tế,
ký, tự
Nghi am sơ định học thức 沂 庵 初 定 學 式 Sách soạn năm Tự Đức
Bính Thìn (1856) gồm hai bản viết tay Bản ký hiệu VHV.2237, dày 107 trang, khổ 29x17 Bản ký hiệu VHV.308, dày 96 trang, khổ 29x16 Nội dung chủ yếu
là phương pháp giáo dục con cháu sửa mình, siêng năng, chăm học
Phi điểu nguyên âm 鳥 元 音 Sách do Nhữ Bá Sĩ biên soạn và viết tựa
năm Minh Mệnh Tân Mão (1831), Lê Văn Thạc viết tựa năm Minh Mệnh Giáp Ngọ (1834), gồm 2 bản viết tay Bản ký hiệu VHV.1773 chia thành 3 quyển, dày
314 trang, khổ 29x17 Bản ký hiệu VHV.83, dày 190 trang, khổ 28x17 Bản ký hiệu A.2911, dày 164 trang, khổ 26.5x15.5 Nội dung gồm thơ, phú, vịnh, ký hữu, tự, điếu văn
1.2 Tác phẩm Phi điểu nguyên âm
Trang 211.2.1.Tình hình văn bản
Về văn bản Phi điểu nguyên âm hiện nay Viện nghiên cứu Hán Nôm có
ba bản Bản A 2911, bản VHV 1773 và bản VHV.83 Cả ba đều là bản chép tay và chưa được dịch ra tiếng Việt Nhìn chung về nội dung, thứ tự, cách trình bày cả ba bản là thống nhất Điểm khác biệt lớn nhất là chữ kỵ húy, nội dung bài
tự
Bản A.2911 Tổng cộng 82 tờ, 164 trang, khổ 26.5 x 15.5, mỗi trang
trung bình 8 hoặc 9 dòng, số lượng chữ xuất nhập mỗi dòng trong khoảng 20-39 chữ, chữ chép theo lối Hành thư do cùng một người chép, văn bản có ngắt câu bằng khuyên tròn Bốn trang đầu là bài tự của Lê Văn Thạc viết vào giữa mùa
hè năm Giáp ngọ (1834) năm thứ 15 niên hiệu Minh Mệnh: 明命十五年歲次甲午仲夏榖日, 執友署太原鎭督學黎文碩倥侗甫恭撰 (Minh Mệnh thập ngũ
niên tuế thứ Giáp ngọ trọng hạ cốc nhật, chấp hữu thự Thái Nguyên trấn đốc học
Lê Văn Thạc Không Đồng phủ cung soạn)
Trang 6 ngoài tựa đề Phi điểu nguyên âm bằng khải thư ra bên dưới còn
đề: 澹齋手观 (Đạm Trai thủ lục), có lẽ người chép lại đã căn cứ vào thủ bản của tác giả hoặc bản chép tay có niên đại sớm nhất Sách Hán Nôm thư mục đề yếu xác nhận bản này là thủ cảo của tác giả Trang 7 – 9 là bài tự của Nhữ Bá Sĩ Điểm đặc biệt là A.2911 Không chép chữ kiêng húy, song ở những chữ theo quy định thì bỏ ngang và đài lên đầu như: 皇, 聖, 明主, 世祖, 帝, 九重, 本朝,
命, 御 Những bài có chú thích thì dòng chú thích viết nhỏ lại dưới nhan đề của bài thơ
VD: Văn Nghệ An thư hồi ức Phạm Lê nhị hữu (hồi thư tự, nhị hữu câu tòng Phan phu tử học)
Trang 22Tên đề mục thấp hơn nội dung 1 chữ, những chữ ghi năm sáng tác viết
cao hơn nội dung một chữ.Văn bản kết thúc bằng bài “Sơ đắc gia thư hữu tác”
初得家書有作 Theo ký hiệu thì đây là bản do Viễn đông bác cổ sao lại
Bản VHV 83 Tổng cộng 95 tờ, 190 trang, khổ 28 x 17 Mỗi trang trung
bình 8 dòng, mỗi dòng xuất nhập từ 21-22 chữ Chữ chép bằng Khải thư trình
bày rõ ràng và đẹp Trang đầu là nhan đề Phi điểu nguyên âm, bên dưới có ghi
清 化 督 學 汝 伯 仕 著 (Thanh Hóa đốc học Nhữ Bá Sĩ trước), chia thành hai dòng Văn bản không có bài tự của Lê Văn Thạc mà chỉ có bài tự của tác giả
Phần nội dung bên dưới tiêu đề bài thơ đầu tiên Tặng Phạm Ôn Như Nghệ An
Du học là dòng chữ Nhữ Bá Sĩ tập soạn 汝伯仕集撰
Văn bản có Bài Tần Thủy Hoàng nhầm thứ tự với bài Hán Cao Tổ, bài Phú Yên thục quán chép hai lần Văn bản hầu như chỉ kiêng húy chữ Nhậm ( )
song có khi lại viết bình thường, ngoài ra không có chữ được đài Thêm vào đó
hiện tượng chép thiếu, chép sai chữ là khá phổ biến Bài thứ 33: Dương Sơn 楊
山 chép thành Sơn Dương 山楊, bài thứ 38: giáo thụ 教授 viết là 教受, bài thứ
62: hữu 友 chép thành phụ 父, bài 65: Văn Nho 文儒 chép là Trân Phủ 珍甫, bài 67 trở 沮 chép là 阻, bài 87: phủ nhậm 府任 chép thành tri phủ 知府, bài 98: mạnh xuân 孟春 chép thành Đông mạnh 冬孟, bài 107: bỏ chữ hý 戲, bài 134:
chữ thứ 次 chép thành dụng 用, bài 140: tác 作 chép thành hoài 懷
Văn bản kết thúc bằng bài 富 安 塾 館 (Phú Yên thục quán) Và dòng chữ
飛鳥元音集畢 (Phi điểu nguyên âm tập tất)
Trang 23Bản VHV.1773 Có đóng dấu của Thư viện khoa học trung ương Tổng
cộng 157 tờ, 314 trang, khổ 29 x 17, mỗi trang trung bình 8 dòng, mỗi dòng trung bình 21 chữ chia thành 3 tập thượng, trung, hạ Chữ chép bằng Khải thư rõ
ràng, đẹp Có bài tự của 黎 文 碩 (Lê Văn Thạc) viết bắng Hành thư, chữ viết to,
một vài chỗ do mất chữ nên không đọc được Nội dung về cơ bản thì giống bài
tự bản A 2911 song một số nơi thì thay đổi, thêm hoặc bớt chữ
Bài tự của Nhữ Bá Sĩ trong bản này viết là tự tự 自序, Trang đầu của phần nội dung chép: 飛 鳥 元 音 卷 上 Phi điểu nguyên âm quyển thượng, dòng bên cạnh chép: 清(巛+華)澹齋汝伯仕元立譔次 Thanh Hoa Đạm Trai Nhữ Bá Sĩ
soạn thứ (chữ Hoa kiêng húy 巛 +華 ) Ngoài ra đa phần chữ hoa trong bài sẽ bỏ nét sổ đi ( ) Chữ nhậm 任 sẽ kiêng húy thành lị 涖 Bản này đa số lược bỏ chữ nhậm ở đề bài Chẳng hạn bài Tặng Nguyễn tri huyện chi sơn dương huyện
(nhậm), Tặng đệ Trọng Tĩnh chi Thiệu Hóa giáo thụ (nhậm) Chữ 宗 kiêng húy
thành 尊 có khuyên tròn bên trái ( ) Trong bài những chữ phải đài so với A.2911 nhiều hơn như: 熙, 國, 神, 盛, 京, 皇, 御, 明, 主, 明辰, 明君, 玉, 恩科,
天恩, 崇文, 詔
Quyển thượng có ghi mục lục từng bài rõ ràng, đầu quyển hạ có phần 飛
鳥 元 音 補 遺 目 錄 Phi điểu nguyên âm bổ di mục lục Quyển thượng từ bài Tặng Phạm Ôn Như Nghệ An du học đến bài Đạt Tài trướng văn, quyển trung từ bài Khách văn bình phục Nguyễn Tri huyện đến bài Sơ đông đắc gia thư hữu tác
Nội dung, cách trình bày giống A.2911 và VHV.83, quyển hạ là thơ văn do gia
Trang 24phàm lệ của bản sao Phi điểu nguyên âm Nguyên văn như sau: 飛鳥 元音鈔本例言.一是集家嚴手錄原本日久紙欲壞。經得請付子姪輩鈔多本。凡鈔本一字莫敢更改,惟原本成於明命中年,自紹治以後國諱禁字,間有所犯,理合遵改。茲鈔倘無誌別,恐後魚观易滋。是本,凡遇禁字應加樣減畫者,即於字旁加一白點;若遇重禁字應改用者,仍於字左加一白圈以示有所誌別。家嚴在部日,惟有僕相從。廣義案發,事出倉卒,文書散失。明年家叔槐齋先生來京探省,訪諸相識者,捨得遺草數紙携观,與家嚴坐繫經兩載間有所作一二,今併編輯成卷。因附於集後。顏曰飛鳥元音補遺,併前二
卷為上中下三卷云。Phi điểu nguyên âm bản lệ ngôn Nhất thị tập gia nghiêm thủ lục nguyên bản nhật cữu chỉ dục hoại Kinh đắc thỉnh phó tử điệt bối sao đa bản Phàm sao bản nhất tự mạc cảm canh cải, duy nguyên bản thành ư Minh Mệnh trung niên, tự Thiệu Trị dĩ hậu quốc húy cấm tự, gian hữu sở phạm, lý hợp tuân cải Tư sao thảng vô chí biệt, khủng hậu ngư lỗ dị tư Thị bản, phàm ngộ cấm tự ưng gia dạng giảm họa giả, tức ư tự bàng gia nhất bạch điểm; nhược ngộ trọng cấm tự ứng cải dụng giả, nhưng ư tự tả gia nhất bạch khuyên dĩ thị hữu sở chí biệt Gia nghiêm tại bộ nhật, duy hữu bộc tương tòng Quãng Ngãi
án phát, sự xuất thảng thốt,văn thư tản thất Minh niên gia thúc Hòe Trai tiên sinh lai kinh thám tỉnh, phỏng chư tương thức giả, thập đắc di thảo số chỉ huề quy, dữ gia nghiêm tọa hệ kinh lưỡng tải gian hữu sở tác nhất nhị, kim tịnh biên tập thành quyển Nhân phụ ư tập hậu, nhan viết: Phi điểu nguyên âm bổ di, tịnh tiền nhị quyển vi thượng trung hạ tam quyển vân (Tập thơ này bản gốc do cha
viết tay lâu ngày giấy sắp hỏng Đã từng xin cho con cháu sao thành nhiều bản Phàm bản sao một chữ cũng không dám sửa Do bản hoàn thành vào giữa niên hiệu Minh Mệnh, từ Thiệu Trị về sau, quốc húy cấm tự, nếu có chỗ phạm, hợp
Trang 25lý mà sửa, bản sao không ghi khác, sợ đời sau dễ thêm “ngư” thành “lỗ” Bản này phàm gặp chữ trọng cấm thì sửa nhưng thêm vào bên trái của chữ một chấm trắng, để chỉ ra chỗ chép khác biệt Cha hằng ngày ở bộ, chỉ một đứa ở theo hầu xảy án ở Quảng Ngãi, việc quá vội vàng, văn thư tản thất Năm ngoái gia thúc là Hòe Trai tiên sinh đến kinh thăm hỏi những người quen, thu được di thảo mấy
tờ mang về, cùng với những cái cha làm trong 2 năm bị bắt, biên tập thành
quyển, nhân đó phụ vào tập sau Nhan đề là Phi điểu nguyên âm bổ di Gộp với
hai quyển trước làm ba quyển thượng trung hạ) Ngoài ra quyển hạ không có ghi năm sáng tác các bài như hai quyển Thượng và Trung
Cuối quyển trung là bài bạt “Độc Phi điểu nguyên âm thư hậu”: 飛鳥元
音與雜文初草二集鎔成一片其气古其筆正如元音自序贈笵温如私齋字心源之學在此观安海門記送瑞原風水與送阮太守東等作都從天地人三字理會来化之之境作者自悞而變之之境未嘗不與人以津涘豈曰騎馬過山終無所得
嗣德元年戊申八月初四日後進上福黎惟忠拜題
Phi điểu nguyên âm dữ tạp văn sơ thảo nhị tập dung thành nhất phiến, kỳ khí cổ, kỳ bút chính, như nguyên âm tự tự Tặng Phạm Ôn Như, Tư Trai tự, tâm nguyên chi học tại thử, Thuận An hải môn ký, tống Thụy Nguyên phong thủy dữ tống Nguyễn thái thủ đông đẳng tác, đô tùng thiên địa nhân tam tự lý hội lai hóa chi chi cảnh, tác giả tự ngộ nhi biến chi chi cảnh, vị thường bất dữ nhân dĩ tân
sỹ Khởi viết kỵ mã quá sơn, chung vô sở đắc
Tự Đức nguyên niên Mậu Thân bát nguyệt sơ tứ nhật, hậu tiến Thượng Phúc Lê Duy Trung 7 bái đề (Phi điểu nguyên âm dữ tạp văn sơ thảo hai tập hợp
thành một, khí văn cổ, bút pháp ngay như bài tự của Nguyên âm Tặng Phạm Ôn Như, Tư Trai tự nguồn tâm của học ở đó, các bài Thuận An hải môn ký, tiễn
7
Theo bia Tiến sĩ khoa thi Hội thời Minh Mệnh 1838 thì ông sinh năm Tân Mão, đỗ Cử nhân năm Giáp Ngọ 1834, người xã Thượng Phúc tổng La Phù huyện Thượng Phúc phủ Thường
Trang 26Thụy Nguyên phong thủy và tiễn Nguyễn thái đi Đông… đều từ ba chữ thiên, địa, nhân mà lý hội; cảnh biến hóa tác giả tự ngộ mà cảnh thay đổi, chưa từng không cùng người làm bờ bến Há có thể nói là cỡi ngựa qua núi, hoàn toàn không sở đắc được!)
Tự Đức nguyên niên, ngày mồng 4 tháng 8 năm Mậu Thân, hậu tiến Lê Duy Trung làng Thượng Phúc bái đề)
Tự Đức nguyên niên Mậu Thân tức năm 1847 Như vậy có thể thấy văn bản này xuất hiện khá sớm), lúc tác giả vẫn còn sống Nhữ Bá Sĩ mất lúc 80 tuổi (1867) vậy lúc này ông 60 tuổi Việc một tác giả còn sống và tác phẩm mang ý nghĩa của mình được con cháu sao chép, hậu bối đề lời bạt mà không hề có ý kiến nhuận sắc gì theo chúng tôi ắt hẳn có nhiều nguyên do đối với văn bản này
1.2.2 So sánh các dị bản và chọn ra thiện bản
Phi điểu nguyên âm do Nhữ Bá Sĩ chép theo như lời tự bản VHV.1771
được chia thành hai quyển, bắt đầu từ năm Giáp Tuất đến mùa đông năm Canh Dần, quãng 17 năm: 是錄分上下二卷起甲戌至庚寅冬凡十有七年 (thị lục phân thượng hạ nhị quyển khởi Giáp Tuất chí Canh Dần đông, phàm thập hữu thất niên) Song ở bản A.2911 và VHV.83 bài tự của tác giả không nhắc đến cũng như không thấy có sự phân chia này
Khác biệt lớn giữa ba văn bản hầu như không nhiều, chủ yếu nằm ở bài tự
là chính Thêm vào đó như lời bài phàm lệ của bản VHV.1771 đã nói “bản gốc lâu ngày giấy hỏng” nên ta sẽ thấy bài tự của Lê Văn Thạc ở bản này có nhiều
khác biệt so với bản A2911 Ngoài ra không có hai bài: 代序南真人家譜 Đại tự Nam chân nhân gia phổ và 擬請除椰酥道疏 Nghĩ thỉnh trừ Gia Tô đạo sớ
Dưới đây là bảng so sánh 2 bài tự của Lê Văn Thạc giữa hai bản A.2911
và VHV 1773:
Trang 27A2911 Giáp Ngọ Mạnh hạ, dư hữu Nhữ quân: Đầu hè năm giáp ngọ, Nhữ quân bạn ta VHV.1773
Kim xuân ngô hữu Nhữ quân: xuân năm nay Nhữ quân bạn ta
10
A.2911 Huấn đạo lữ, quá cố lý ủy từ khổn Nhân phỏng dư, thoại bình sinh, ký nhi viết bị hệ thời
lục sở tác thành tập nhan viết: Phi điểu nguyên âm, hạnh vi tự chi truyền ngã nhi tôn tri thị tập chi sở tòng khổn lai dụng dĩ vi giới nhĩ Dư viết: ô! Hữu thị tai!: huấn đạo đi chơi, qua làng xưa thăm hỏi
Nhân hỏi ta, nói về bình sinh, mà bảo: lúc bị giam chép những cái đã làm thành tập nhan đề: Phi điểu nguyên âm, may mắn nếu được viết tựa truyền cho con cháu biết tập sách này từ lao ngục mà có, dùng
đễ răn dè vậy Ta nói: ôi! Có chuyện như vậy sao! VHV.1771 Quá cố lý ủy từ khổn Dư hứng chi,
thoại bình sanh nhi xuất phi điểu nguyên âm tương thị Ngôn, thử bị hệ thời sở lục, cái bất nhẫn khí tuyệt, dục lịnh nhi bối thức thốn tâm nhĩ! Dư viết: Y! hữu thị tai!: qua làng xưa thăm hỏi Ta vui mừng,
nói chuyện bình sanh và đưa ra Phi điểu nguyên âm cho nhìn (Ông) nói: đây là cái chép ra lúc bị
Trang 28hành chư tác tụng dữ chi văn tắc ký nạn dĩ hậu tác giả: các tác phẩm làm ở kháp nước cùng cái ta hiểu
ra được thì làm sau lúc gặp nạn vậy
12
A.2911.Minh Mệnh thập ngũ niên tuế thứ Giáp Ngọ trọng hạ cốc nhật Chấp hữu thự Thái Nguyên
trấn đốc học Lê Văn Thạc Không Đồng phủ cung soạn: Minh Mệnh năm thứ 15, ngày tốt giữa hè năm
Giáp Ngọ, bạn cùng chí hướng Lê Văn Thạc tự Không Đồng kính soạn VHV.1773 Minh Mệnh Giáp
Ngọ hạ, hữu nhân Thái Nguyên đốc học Lê Văn Thạc Không đồng tự: Minh Mệnh hạ năm Giáp Ngọ
bạn là Thái Nguyên đốc học Lê Văn Thạc tự Không Đồng đề tựa
Trang 29Bảng so sánh bài tự của Nhữ Bá Sĩ ở 3 văn bản VHV.1771, VHV.83 và A.2911:
Trang 30Thân (1824), Ất Dậu (1825), Bính Tuất (1826), Đinh Hợi (1827), Mậu Tí (1828),
Kỷ Sửu (1829), Canh Dần (1830) Thứ tự các bài hầu như thống nhất
Qua quá trình khảo sát chúng tôi quyết định chọn bản A.2911 làm đối tượng nghiên cứu trong luận văn này vì những lý do sau: Đây và bản chép tay của Viễn Đông bác cổ chép lại từ bản theo chúng tôi là có niên đại rất sớm Vì dựa vào cách trình bày, mặc dù không chép chữ húy song rõ ràng những chữ mà văn bản này được đài lên xuất hiện sớm và ít hơn những chữ ở bản VHV.1771
Nó hoàn toàn giống với tập thượng và trung của bản VHV.1773 về nội dung và
từ ngữ (trừ kiêng húy vì bản VHV.1773 chép lại vào thời Tự Đức nên sẽ kiêng
và sẽ đài những từ quốc cấm trọng húy) Vả chăng theo lời bạt ở cuối bản VHV.1771 nói: 一是集家嚴手錄原本日久紙欲壞。經得請付子姪輩鈔多本
“Nhất thị thập gia nghiêm thủ lục nguyên bản nhật cửu chỉ dục hoại Kinh đắc thỉnh phó tử điệt bối sao đa bản” (Tập thơ này bản gốc do cha viết tay lâu ngày
giấy sắp hỏng Đã từng xin cho con cháu sao thành nhiều bản), cho nên theo chúng tôi bản A.2911 đã được chép lại từ một trong các bản sao này
Sở dĩ chúng tôi không chọn bản VHV.1773 vì phần bài tự của nó có nhiều khác biệt so với với bản A.2911 và tập hạ của nó là phần sưu tập về sau của gia đình tác giả nên ở mặt ý nghĩa, giá trị của nó giảm sút so vớt bản A.2911 (do tác giả tự sưu tập lúc ở tù) Còn bản VHV.83 khả năng là bản chân hóa A.2911 hoặc một bản có niên đại tương đương
1.2.3 Nguyên nhân ra đời và nhan đề tác phẩm
Căn cứ vào nội dung bài tự thì vào năm Mậu Tý có người dùng lý số xem
cho Nhữ Bá Sĩ, được quẻ Lôi sơn tiểu quá 小過: 亨, 利貞 可小事, 不可 大事.
飛鳥遺之音, 不宜上, 宜下, 大吉 Tiểu quá: hanh, lợi trinh, khả tiểu sự, bất khả
đại sự, phi điểu di chi âm, bất nghi thượng, nghi hạ, đại cát (Tiểu quá: hanh thông, lợi trinh, có thể làm việc nhỏ, không thể làm đại sự, chim bay để tiếng, không nên bay cao, nên ở thấp, đại cát) Ban đầu ông không tin, cho là giang hồ
dị thuật dối bịp
Trang 31Năm 1830 do bị vu cáo trong vụ thuế đinh ở Quảng Nam ông bị cách
chức và khép vào tội giảo giam hậu - xử tử nhưng giam lại xử sau Lúc này ông
mới thấy quẻ ứng nghiệm, trong lúc bị giam cầm suy nghĩ về những điều đã qua, nhớ lại văn thơ lúc trước thù tạc, ứng đối với bạn bè không nỡ vất bỏ nên ông mới có ý thu thập lại Sau khi hoàn thành tập thơ, nhân nhớ việc cũ mà lấy tên
tác phẩm là Phi điểu nguyên âm Chữ nguyên âm theo ông là âm thanh tự nhiên
của trời: 天观自然之音 Âm thanh lúc ban đầu ví như tiếng chim tiếng dế, gặp
lúc thì tự kêu không phân biệt âm tiết cao thấp, trong đục giống như bản thân ông lúc chưa mắc tội, tiếng thơ cũng tự nhiên như vậy
Nội dung bài tự: “Năm Mậu Tý, lúc vừa nhậm chức ở huyện Tiên Lữ, khách có người dùng Hà lạc lý số xem bói Ta lấy số mệnh đưa hỏi, gieo được quẻ Tiểu quá Khách bảo: “tiểu quá, có thể làm việc nhỏ, không thể làm việc lớn, nếu có chí lớn sợ khó đạt Trước mắt vận hạnh lớn Hào sơ lục, sáu năm Lời từ nói: chim bay, xấu Chim bay hanh vận, tuy nhiên không tránh khỏi hung tai, không bay hãy còn được” Ta nghe ban đầu chưa tin, đến mùa đông năm Canh Dần bị bắt giam, lúc đó mới biết lời khách hiệu nghiệm Rằng: thánh nhân
ca ngợi dịch, dạy người xem tượng bói quẻ, khiến họ biết phương ẩn tránh, vậy nên lấy bốc phệ làm chủ Song dịch tức biến đổi, vạn lý đầy đủ thì đạt tới đạo suy diễn mà nói thì vô chừng, lý của nó có thể thông suốt xét lời thoán trong quẻ tiểu quá: “có thể làm việc nhỏ không thể làm việc lớn chim bay để lại tiếng, không nên ở trên, nên ở dưới, đại cát” Thì mệnh ta thuộc vào quẻ này vậy Việc nên nhỏ mà lời nói nên sau, nghĩa nó quá rõ ràng Ta đã cạn cợt không tin vào mệnh lại cứng nhắc không tin lời bọn đạo thuật, nhắm mắt đi bừa, việc kéo đến liên phiên Cao thì không thể được như chim phụng rực rỡ, thấp chẳng thể làm
dã hạc dưới trời thênh thang Trái với điềm may, an tâm bay trong cái hung hiểm, để đến nỗi mắc vào lưới võng mà không hay Quả thật đáng gọi là con chim ngốc vậy
Người xưa bảo: “khắp trời tội lỗi, không có được một chữ hối hận” Nay
Trang 32sinh, chữ “không” chưa từng nghe đến nỗi lâm nạn, sống chết chưa tính được Việc xảy ra chẳng thể nói lại, chỉ có mấy năm gần đây, các tác phẩm thơ văn thù tặng ngâm vịnh không nỡ bỏ đi, muốn thu thập lại, ngặt vì nguyên tác hư hỏng thất lạc, với lâu ngày không nhớ được cũng khá nhiều Gần đây được các tác phẩm còn sót, cũng như nhớ được chút ít, bèn tự tay chép lại Chép xong, nhớ lại cái ngày bói được quẻ “chim bay hung hiểm” bèn đặt nhan đề: Phi điểu nguyên âm
Nguyên âm: âm thanh tự nhiên Âm thanh này có thể bắt gặp trước lúc ta mắc tội, lúc bấy giờ nếu có lời thì cũng như chim muông, trùng dế, gặp lúc tự kêu Ban đầu không chia thành tiết tấu cao, thấp, trong, đục, đủ để cho người ta nghe được vậy Cũng là để thấy điềm tai hung của ta đến từ việc thăng tiến, không thăng tiến thì không gặp tai hung, không gặp tai hung thì không có tập thơ này Lại gửi tập thơ này về nhà cất giữ, ngày sau con cháu có xem tập thơ này hiểu được lời ta, buồn cho ta bay cao song tiếng kêu còn chưa toại chí, thương cho ta định mệnh khốn cùng mà răn dè sâu xa cái sai lầm ta mắc phải năm đó mà không biết tránh
Minh Mệnh đầu xuân Tân Mão sau rằm một ngày
Thanh Hóa Nhữ Bá Sĩ tự Nguyên Lập viết tại phòng giam cẩm y vệ”
Bảng đề mục chi tiết nội dung phi điểu nguyên âm:
Trang 3311 Bất vũ 9b
Hạ Đại Vũ Thương Thành Thang Chu Văn Vương Thái Công Vọng
Võ Vương Chu Công Đán Tần Thủy Hoàng Hán Cao Tổ Phiếu Mẫu Trương Lương Tiêu Hà
Văn Đế Giả Nghị
Võ Đế Thành Đế Vương Mãng Quang Vũ Đế Nghiêm Quang
Mã Viện Tống Hoằng Minh Đế
Tôn Quyền Tấn Vũ Đế Nguyên Đế
Ân Hạo Đào Tiềm Đường Thái Tông Ngụy Trưng Địch Nhân Kiệt Huyền Tông Thiếu Sùng Lục Chí Hàn Dũ Liễu Tông Nguyên Tống Thái Tổ Thái Tông Triệu Phổ
Hồ Đán Vương Đán Chân Tông Khấu Chuẩn Lâm Bô
Trang 34Chiêu Liệt Đế Gia Cát Lượng Tào Tháo
Phạm Trọng Yêm Thần Tông
Âu Dương Tu
25 Tiễn Lê Không Đồng chi Đông Sơn huyện nhậm 29a-31a
30 Hương thí nhập đệ ngũ canh sơ trương môn trực hầuthư sự 33a
32 Phó hội thí ngộ Quỳnh Lưu biệt Lê tri huyện 33b
Trang 3541 Tặng đệ Trọng Tĩnh chi Thiệu Hóa giáo thụ nhậm 41a-41b
48 Nam Định thí trường thù Phạm giám khảo thời đồngkhảothứ
53 Tiễn Lê Bình Phong chi Thiên Thí huyện nhậm 46a-46b
55 Tiễn Ngô Hội Xuyên chi Kim Hoa huyện nhậm 46b-47b
59 Tiễn Lê Yến Lĩnh chi Hưng Nguyên huyện nhậm 50b
61 Tặng Nguyễn tri huyện chi Dương Sơn nhậm 51a-51b
Trang 3663 Hòa Ngọc Long Khê quy quán tư nghiệp lưu biệt chi tác
64 Tiễn Minh linh Nguyễn tri huyện chi nhậm 52a-52b
67 Phụng phân phái Bắc thành hầu bổ biệt Tiên Đạt chư hữu 53a
69 Tặng Nghệ An tiến sĩ Ngụy Châu Phong chi ĐịnhViễn phủ
77 Nghệ An trấn tặng tham hiệp Nguyễn Cảnh Giang 56b
Trang 3785 Xích đằng thương thu vọng 59b
86 Nghĩ khâm phái tuyển duyệt quan thị trấn hạt nhândân 59b
91 Tiễn tham hiệp Đặng Hầu giáng điều hồi bộ 60b-61a
93 Tặng Nguyễn Định Phủ chi Kinh Môn phủ nhậm 61b-62a
95 Đại nghĩ hình bộ thượng thư Hoàng Kim Sáng tế thiếpvăn 62a-64a
98 Tiễn Tiên Lữ hải thiên Bùi tiến sĩ vinh quy 64b-65a
100 Tiểu tùng trình giám sinh tương thức giả 65a-65b
Trang 38108 Du Phú Gia sơn 67a
115 Quảng Ngãi thương phát túc cấp đường hộ hữu tác 68b
121 Tặng Đỗ Lang Trung phụ lục thập thọ tặng tam chương tịnh
Lựu hỏa
Hà tiền Tùng đào Mạch lãng Vân phong
Liễu nhứ Tuyền cầm Nguyệt kính Oanh tuấn Nhạn tự
Trang 39139 Thu dạ lữ hoài thứ vận phục Bình Sơn Đào Huyện chưng 77a
140 Dạ khởi thư mộng thứ tiền vận ký đào huyện chưng 77b
141 Lưu biệt Quảng Ngãi thông phán Phạm Chi Hương 77b
142 Kinh sư cảnh vật thập lục vịnh tịnh tự 77b-82a
Bình sơn trĩ Thúy Hương Thủy trừng lan Giao đàn thọ tản Văn miếu phong cầm Thủy các giang phong Thư lâu trì nguyệt Tịch điền gia cốc
Vị giám thư phòng
Thiên Mụ chung thanh Công thần miếu mạo Thiên Thai sơn tự Long Thọ cương đình Dinh Châu giang cư Nguyệt Biều sơn xá Tiên Nộn hoa điền Kim Luông tửu điếm
Trang 40144 Lạo 82a
Tổng cộng có 177 bài thơ, 3 bài tế văn, 5 bài tự, 16 bài tự thể loại đưa tiễn,
1 bài trướng văn, 1 bài sớ, 1 bài ký
Tiểu kết
Qua chương 1 chúng tôi đã thực hiện được mấy điểm sau:
Tìm hiểu tiểu sử, quan điểm sự nghiệp sáng tác của Nhữ Bá Sĩ Ông là người thông minh dĩnh ngộ, có hoài bão mang tài năng ra báo ân vua đền nợ nước Ông đỗ đạt và trải qua các chức vụ: giáo thụ, đốc học, tri huyện, hình bộ viên ngoại Tuy nhiên cuộc đời ông gắn liền với sự nghiệp dạy học là chính, học trò dưới tay ông nhiều người có tài, có đức là nguyên khí của nước nhà Đối với sáng tác Nhữ Bá Sĩ đề cao, chủ trương khôi phục cổ văn xa rời lối văn cử nghiệp cốt chuộng công danh So với các tác giả khác cùng thời, tác phẩm của ông còn lại khá nhiều, chủ yếu được lưu giữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm và gia đình là chính
Qua việc so sánh, phân tích các dị bản của Phi điểu nguyên âm mặc dù
không có bản chính, song thông qua nội dung có thể thấy các bản chép lại đã
tuân thủ đúng nguyện vọng của con cháu “không dám sửa đổi, dù chỉ một từ” Điểm khác biệt của các bản là không đáng kể, dù nhiều sách vở giới thiệu về Phi điểu nguyên âm chỉ nói về bản có 3 tập, tức bản VHV.1771 song theo chúng tôi
cách giới thiệu đó chỉ là tổng hợp về số lượng tác phẩm Phải xét ở hoàn cảnh ra đời mới thấy được ý nghĩa của tác phẩm nên chúng tôi chọn bản A.2911 làm bản công bố và tiến hành khảo sát nội dung trên bản này Ngoài ra ở chương này chúng tôi cũng đã giải thích nhan đề cũng như tìm hiểu nguyên nhân ra đời và niên đại của tác phẩm, đồng thời sắp đặt mục lục cho tác phẩm theo số trang