Người nổi tiếng nhất trong số họ là Chu Hy 1130 - 1200, sự tổng hợp tư tưởng Khổng giáo với Phật giáo và Đạo giáo của ông cùng với các tư tưởng khác đã trở thành hệ tư tưởng chính thức c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN HÙNG HẬU
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của riêng tôi, được thực hiện trên cơ
sở nghiên cứu, phân tích các tài liệu của Tống Nho, của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hùng Hậu và chưa từng được công bố dưới bất kì hình thức nào trước khi trình, bảo
vệ và công nhận tại hội đồng đánh giá luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Triết học
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả
Nguyễn Ngọc Bích
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TỐNG NHO 11
1.1 Cơ sở hình thành nhận thức trong Nho giáo Thời Tống 11
1.1.1 Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội thời Tống 11
1.1.2 Cơ sở tư tưởng 20
1.2 Đặc điểm, đối tượng, mục đích và con đường nhận thức trong Tống Nho 26 1.2.1 Đặc điểm, đối tượng nhận thức trong Tống Nho 26
1.2.2 Mục đích của nhận thức trong Tống Nho suy cho cùng là hướng tới tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ 31
1.2.3 Con đường nhận thức trong Tống Nho 32
Chương 2 ẢNH HƯỞNG NHẬN THỨC TRONG TỐNG NHO ĐỐI VỚI NHẬN THỨC CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM VÀ LÊ QUÝ ĐÔN 58
2.1 Nhận thức của Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới ảnh hưởng của Tống Nho 58
2.1.1 Giới thiệu sơ lược về cuộc đời và quan điểm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về bản thể, nhân sinh 58
2.1.2 Quan điểm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về nhận thức 68
2.2 Nhận thức của Lê Quý Đôn dưới ảnh hưởng của Tống Nho 78
2.2.1 Giới thiệu sơ lược về cuộc đời và quan điểm của Lê Quý Đôn về bản thể và nhân sinh 78
2.2.2 Quan điểm của Lê Quý Đôn về nhận thức 89
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 4triển: Nho giáo Tiên Tần (Nho giáo nguyên thủy); Hán Nho; Đến đời Tống
Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và
Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu
giường của các nhà Nho Nho giáo thời kỳ nhà Tống được gọi với nhiều tên
gọi khác nhau: Tống nho, đạo học, lý học với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di Phương Tây gọi Tống nho là
“Tân Khổng giáo” Lý học lấy tư tưởng Khổng - Mạnh làm hạt nhân nhưng có nội hàm sâu sắc hơn so với Nho học truyền thống là bởi nó hấp thu triết học của Phật giáo và Đạo giáo, gạt bỏ các yếu tố tiêu cực, bi quan Nhờ đó mà lý luận của Nho học thời Tống tỏ ra tinh vi, thứ lớp Sự hình thành của Lý học, lấy Nho làm chủ có tác dụng to lớn đưa tư tưởng triết học của Trung Quốc bước vào một giai đoạn phát triển mới cao hơn Người nổi tiếng nhất trong số
họ là Chu Hy (1130 - 1200), sự tổng hợp tư tưởng Khổng giáo với Phật giáo
và Đạo giáo của ông cùng với các tư tưởng khác đã trở thành hệ tư tưởng chính thức của triều đình từ cuối thời nhà Tống tới cuối thế kỷ 19 Vì được kết hợp với khoa cử, triết lý Chu Hy liên quan tới tín điều chính thức cứng nhắc, bắt buộc sự tuân phục mù quáng từ một phía của dân chúng đối với nhà cai trị, con với cha, vợ với chồng, em với anh Hậu quả làm kìm hãm sự phát triển xã hội của nước Trung Hoa tiền hiện đại, dẫn tới sự phát triển chậm chạp của xã hội và văn hoá cho tới tận thế kỷ 19 Những ảnh hưởng của Nho giáo nói chung và Tống nho nói riêng về mặt bản thể, nhân sinh và nhận thức
Trang 5không chỉ sâu rộng trong xã hội Trung Quốc mà còn đối với nhiều nước phương Đông, trong đó có Việt Nam Điều này được minh chứng bằng việc các nước trên thế giới đã họp nhau lại để tổ chức hội nghị quốc tế về Nho giáo
ở Việt Nam năm 2007
Nho học vốn là truyền thống của văn hoá Trung Quốc, nó có ảnh hưởng sâu sắc đối với dân tộc Hoa Hạ Nhưng từ sau thế kỷ XII - XIII, Tân Nho học Tống Minh (Neo - Confucianisim), còn gọi là lý học Tống Minh, được khởi nguồn từ Trung Quốc, không chỉ là dòng chảy văn hoá, nghệ thuật chính của Trung Quốc, mà thậm chí còn mở rộng sang cả các nước xung quanh, trở thành biểu hiện chung của văn minh Đông Á, là nguồn tư tưởng chung của dòng văn hoá chữ Hán Điều đáng chú ý là, sự phát triển của Tân Nho học Tống Minh, nhất là Chu Tử học, đã lan truyền theo hai hướng: Đông và Tây Hướng phát triển sang phía Đông của Tân Nho học truyền đến Triều Tiên, ảnh hưởng đến thể chế chính trị và tư tưởng văn hoá hơn năm trăm năm (thời
kỳ 1392 - 1910), thậm chí đến cả thời Cận đại của Triều Tiên Cũng theo hướng Đông, Tân Nho học truyền sang cả Nhật Bản và có ảnh hưởng to lớn đối với chính trị, xã hội, văn hoá của Nhật Bản thời đại Đức Xuyên (1600-1868) Một hướng phát triển khác của Tân Nho học là hướng Nam, sang Việt Nam, ảnh hưởng đến thời đại Hậu Lê (1428-1784) và thời nhà Nguyễn (1802-1945) của Việt Nam, tạo ra thời kỳ hưng thịnh của Nho học Việt Nam Có thể nói, từ sau thế kỷ XV, Tân Nho học (đặc biệt là Chu Tử học) đã có ảnh hưởng
to lớn đối với cả Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam Xét từ góc độ Nho học Đông Á, việc phát triển sang phía Đông và phía Nam của Tân Nho học không chỉ ăn sâu vào văn hoá của Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, mà còn tạo ra nét đặc trưng khu vực cho Nho học ở ba nước này Bản thân Nho học cũng chuyển thành mầm văn hoá tiềm tàng và trở thành truyền thống văn hoá quan trọng của ba nước này
Trang 6Thời nhà Hồ, giặc Minh xâm lược nước ta đem Tống Nho vào truyền
bá Từ đây Tống Nho ngày càng phổ biến và đến khi nhà Hậu Lê, Tống Nho dần dần chiếm địa vị độc tôn trong thượng tầng kiến trúc của xã hội phong kiến Đối với xã hội phong kiến, ảnh hưởng của Nho giáo đã được lịch sử chứng minh, nhất là tầng lớp nho sĩ Có thể khẳng định Nho giáo đã tạo ra cho các nhà tư tưởng phong kiến Việt Nam một thế giới quan, cách nhìn nhận và
tư duy trong suốt thời phong kiến Sau khi đánh đuổi hết quân Minh, giải phóng đất nước, vương triều Lê chính thức được kiến lập (1428) và bắt đầu công việc xây dựng, phát triển nền văn hóa độc lập dân tộc Lê Thái Tông lên ngôi năm Giáp Dần (1434) Thái Tông đã họp triều đình bàn định việc mở khoa thi Tiến sĩ và đưa ra điều lệ thi Hương, thi Hội cùng phép thi ở các kỳ
Để tỏ rõ lòng tôn sùng Nho học, vào tháng 2 mùa Xuân năm Ất Mão (1435), vua Lê Thái Tông cho chọn ngày Thượng đinh, sai Thiếu bảo Lê Quốc Hưng làm lễ cúng Khổng Tử ở Văn miếu, vị tổ khai sáng ra đạo Nho, từ đấy về sau định làm thường lệ Văn miếu thờ Khổng Tử tại các lộ được Nhà nước cấp phu trông nom quét dọn Đạo đức Nho giáo như lòng trung với vua, sự tiết hạnh của phụ nữ được cổ vũ, tuyên dương Nho giáo ở thời Lê thế kỷ XV đến triều Thánh Tông Thuần Hoàng đế (1460-1497) thì đạt tới đỉnh cao thịnh vượng Danh Nho đời Lê có Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ, Lương Thế Vinh, Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung, Lương Đắc Bằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Giáp Hải, Nguyễn Mậu Nghi, Phạm Công Trứ, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Hãng, Phạm Đình Trọng, Lê Quý Đôn, Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên
Như chúng ta đã biết điểm khác biệt giữa đối tượng của triết học phương Tây và phương Đông là Triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ
tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi
Trang 7trội là duy vật Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài Đa số trường phái thiên về duy tâm
Thích ứng với điều đó, Nho giáo cũng như Tống Nho từ trước đến nay
ở nước ta chủ yếu được nghiên cứu ở các khía cạnh chính trị - xã hội và đạo đức, mà ít được xét ở khía cạnh nhận thức luận, hơn nữa vấn đề ảnh hưởng của nhận thức luận này tới các nhà Nho ở Việt Nam thì hầu như chưa có công trình nào đề cập tới Nói cách khác, theo tìm hiểu của tác giả thì mảng đề tài nghiên cứu riêng về vấn đề nhận thức luận trong Nho giáo Tống nho cho đến nay vẫn là một khoảng trống Nó chỉ là một ý được các học giả viết khi trình bày toàn bộ tư tưởng của các triết gia Vấn đề ảnh hưởng của nhận thức Tống Nho đối với cách tư duy của các nhà tư tưởng Việt Nam thời phong kiến cũng chỉ được trình bày một cách tổng thể, chung chung Điều này làm cho người dạy gặp khó khăn khi truyền thụ tri thức, còn người học chỉ thấy một cách chung chung, thấy được toàn bộ tư tưởng nhưng không thấy được chi tiết Với tầm hiểu biết còn hạn chế của mình, người viết luận văn này tập trung vào tiếp cận trên một khía cạnh nhỏ trong toàn bộ hệ thống tư tưởng của Nho giáo trong một giai đoạn lịch sử cụ thể: Nhận thức Nho giáo dưới thời Tống và ảnh hưởng của nó đối với Việt Nam thông qua Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Có thể khẳng định rằng với ảnh hưởng sâu rộng của Nho giáo thì việc các nhà nghiên cứu viết về Nho giáo rất nhiều không còn là chuyện đáng ngạc nhiên Năm 2007 Hội thảo quốc tế về Nho giáo Việt Nam đã bổ sung rất nhiều các bài viết về vấn đề này Tuy nhiên viết riêng về Tống Nho thì lại rất
ít nhất là vấn đề nhận thức trong Tống Nho thì chưa có công trình nào cả Đây chính là khó khăn cho tác giả khi viết đề tài này Chính vì vậy trong lịch sử nghiên cứu đề tài tác giả đi tìm hiểu việc nghiên cứu về Nho giáo nói chung
từ đó tìm hiểu về một vấn đề trong một giai đoạn trong toàn thể hệ thống to lớn của Nho giáo là Tống nho mà cụ thể ở đây là nhận thức trong Tống Nho
Mảng về lịch sử Nho giáo: Ở Việt Nam có “Nho giáo” của Trần Trọng
Kim, “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm, “Kinh dịch” của Ngô Tất Tố,
“Kinh dịch trong vũ trụ quan phương Đông” của Nguyễn Hữu Lương, “Ngữ văn Hán nôm - Tứ thư” của Nxb Khoa học Xã hội (2002), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc do Doãn Chính chủ biên, Nxb CTQG (2009)… Ở Trung Quốc có “Đại cương triết học sử Trung Quốc” của Phùng Hữu Lan (2007);
“Kinh điển văn hoá 5000 năm Trung Hoa” của Dương Lực,… Trong các tác phẩm này đã đề cập đến tất cả các vấn đề trong tư tưởng của các nhà Nho về bản thể, nhân sinh và nhận thức Nhưng nếu so sánh với các lĩnh vực khác nhau thì tư tưởng về nhận thức của Nho giáo chỉ được đề cập như một ý nhỏ
trong tổng thể những tư tưởng đã được trình bày Trong đó cuốn Đại cương triết học sử Trung Quốc của nhà nghiên cứu Trung Quốc Phùng Hữu Lan,
một công trình đồ sộ và quan trọng của văn hóa Trung Quốc, được xem như một giáo trình căn bản về triết học Trung Quốc tại các Đại học Tây phương, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, là tài liệu cơ bản chứa đựng nhiều thông tin quan trọng về triết học Trung Quốc các thời kì, đặc biệt đối với tác giả là thời kì nhà Tống Dù vậy cũng như các tác phẩm đã giới thiệu thì vấn đề nhận
Trang 9thức cũng chỉ được viết như một nội dung rất nhỏ trong tổng thể các nội dung tác giả trình bày
Tác phẩm “Nho giáo Trung Quốc” của Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hóa Thông tin (2005) là một tác phẩm chuyên sâu về Nho giáo qua các thời
kì Nho giáo là một tôn giáo bản địa sản sinh ra đã vài ngàn năm trên đất Trung Quốc Đây còn là một tôn giáo hợp nhất cao độ giữa chính trị và tôn giáo thành một thể thống nhất Để tìm hiểu sâu hơn về tôn giáo này Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin cho xuất bản cuốn sách “Nho giáo Trung Quốc” cuối năm 2005 của Nguyễn Tôn Nhan dày hơn 1.600 trang khổ lớn Riêng về số lượng trang, đây có thể được coi là bộ Nho giáo lớn nhất Việt Nam cho đến
thời điểm này (dày gấp bốn lần Nho giáo của Trần Trọng Kim) Nhưng quan
trọng hơn, theo chính tác giả, tuy kiến giải về Nho giáo của Trần Trọng Kim
là đúng đắn, nhưng Trần Trọng Kim có khuynh hướng nghiêng về phần "học" hơn là phần "giáo" (tôn giáo và giáo hóa) nên chưa nêu bật được "chân diện mục" tôn giáo của Nho giáo về phương diện tế lễ, nghi thức và lối sống của Nho giáo trong quá trình lịch sử ở Trung Quốc (và Việt Nam) Thuận theo quá trình phát triển của Nho giáo, sách được chia làm các giai đoạn như sau:
1 Thời kỳ trước khi có Nho giáo = Trước thời Tần, Hán
2 Thời kỳ chuẩn bị của Nho giáo = Hai đời Hán (Đông và Tây Hán)
3 Thời kỳ tam giáo = Ngụy Tấn - Tùy Đường
4 Thời kỳ Nho giáo hình thành = Bắc Tống với Trương Tải và hai anh
em Trình Đạo, Trình Di
5 Thời kỳ Nho giáo hoàn thành = Nam Tống với Chu Hi
6 Thời kỳ Nho giáo ngưng kết = Minh và Thanh
Trong đó Nho giáo thời Tống được tác giả trình bầy đầy đủ từ khi khởi phát, nguyên nhân, biểu hiện của Nho giáo qua các học giả tiêu biểu thời kì này: Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hi,… trong tác phẩm tác giả cũng
đề cập đến phương pháp tu dưỡng của các học giả thời kì này
Trang 10Ngoài ra còn có một cuốn sách viết riêng về giai đoạn lịch sử Nho giáo thời Tống là quyển “Tống Nho” của Bửu Cầm do Trần Trọng Kim viết tựa xuất bản năm 1954 Đây là tác phẩm khá cũ, văn dịch chưa được chau chuốt
và hơi khó hiểu nhưng đây cũng là tác phẩm duy nhất tác giả tìm thấy đề cập riêng về Nho giáo thời Tống Trong tác phẩm tác giả đề cập sơ lược lịch sử thời Tống, những nguyên nhân chính trị làm cho Nho học thời kì này được phát triển toàn thịnh, tiếp đó tác giả đi sâu tìm hiểu học thuật của các triết gia thời Tống trong đó có mảng về nhận thức mà chủ yếu tác giả gọi là “phương pháp tu vi” Đây là vốn tư liệu quý giá để tác giả có cơ sở tài liệu viết đề tài của mình
Mảng về tư tưởng của các triết gia Nho giáo: Ở Việt Nam có “Khổng
Tử”, “Mạnh Tử” của Nguyễn Hiến Lê; “Tuân Tử” của Giản Chi - Nguyễn Hiến Lê;… Có nêu ra tư tưởng nhận thức của các nhà Nho nhưng chưa đi sâu nghiên cứu Ở Trung Quốc có “ trí tuệ Khổng Tử” của Lí Anh Hoa; “Khổng Tử” của Lí Tường Hải;… Cũng chỉ nêu ra quan niệm ở mức khái quát chứ chưa đi sâu nghiên cứu
Về Ảnh hưởng của Nho giáo thời Tống ở Việt Nam có thể thấy trong
các tác phẩm văn học, sử học của các nhà sử học thời Lê: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Ngô Thời Nhậm,… Trong các tác phẩm, các công trình nghiên cứu về các nhà tư tưởng Việt Nam tiêu biểu qua các thời kì lịch sử:
“Lê Quý Đôn: truyện lịch sử” của Bùi Hạnh Cấn; “Lê Quý Đôn toàn tập, tập
2 - Kiến văn tiểu lục” của Phạm Trọng Điềm; “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm” của Đinh Gia Khánh; các tác phẩm của Lê Quý Đôn như Vân đài loại ngữ, Phủ biên tạp lục, Âm chất văn chú, Thư kinh diễn nghĩa, Quần thư khảo biện,…
Trong “Đại cương lịch sử triết học Việt Nam” của giáo sư Nguyễn Hùng Hậu xuất bản năm 2010, Nxb Chính trị quốc gia, tác giả trình bày tư tưởng triết học Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử từ buổi đầu dựng nước cho
Trang 11đến ngày nay Trong đó đối với luận văn của mình tác giả tiếp thu được từ phần triết học Việt Nam trung đại
Về Nguyễn Bỉnh Khiêm: Trong tác phẩm “Nguồn suối Nho học và thơ văn Bạch vân cư sĩ” của tác giả Lê Nguyễn Lưu xuất bản năm 2000 đã đề cập một cách toàn diện sự ảnh hưởng của nho giáo thời Tống đối với tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tư tưởng về sự vận hành của trời đất, âm dương, thịnh suy, tư tưởng về con người, cuộc đời, về thời thế, về tấm lòng của một nhà Nho đối với đất nước, về công việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Đây
là một tác phẩm có khá nhiều tư liệu quan trọng cần thiết cho việc hoàn thiện chương hai của tác giả và cũng là tài liệu còn khá mới Ngoài ra viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Trần Nguyên Việt với đề tài luận án tiến sĩ: “Những quan điểm triết học của Nguyễn Bỉnh Khiêm” năm 1995, Công trình của Lê Trọng Khánh “Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý” năm 1957,…
Về Lê Quý Đôn có tác phẩm của nhà nghiên cứu Hà Thúc Minh “Lê Quý Đôn nhà tư tưởng Việt Nam thế kỉ XVIII” giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của Lê Quý Đôn, những tư tưởng cơ bản của Lê Quý Đôn trong các tác phẩm của ông và giá trị lịch sử của nó đối với thế kỉ XVIII Bài viết “Mấy
tư tưởng cơ bản của Lê Quý Đôn trong Quần thư khảo biện” của Nguyễn Tài Thư năm 1971 đề cập đến tư tưởng của Lê Quý Đôn về các phạm trù cơ bản của Tống Nho như lý, khí, con người, về phương pháp tu dưỡng bản tâm phục
vụ cho chế độ phong kiến đương thời Luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu nho học
Lê Quý Đôn” của Nguyễn Tài Đông năm 2006 đã trình bầy khá đầy đủ tư tưởng của Lê Quý Đôn
Tuy vậy vấn đề ảnh hưởng của nhận thức trong Tống Nho đến các nhà
tư tưởng Việt Nam như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn là chưa có công trình chuyên biệt nào Nó chỉ được đề cập như một ý rất nhỏ Vì vậy dù được
đề cập đến ở rất nhiều tác phẩm khác nhau, song vần đề nhận thức vẫn là
Trang 12mảng đề tài còn bỏ ngỏ Tác giả mong muốn đi sâu vào nghiên cứu để góp phần lấp dần khoảng trống đó trong quá trình tiếp cận với Nho giáo thời Tống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận văn là bước đầu tìm hiểu những tư tưởng về nhận thức của Nho giáo thời Tống và ảnh hưởng của nó đối với tư duy của hai nhà
tư tưởng tiêu biểu của Việt Nam thời phong kiến là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn
Để đạt mục đích trên luận văn có nhiệm vụ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ tư tưởng về nhận thức của Nho giáo thời Tống thông qua một
số triết gia tiêu biểu
- Trình bày ảnh hưởng của những tư tưởng nhận thức của Nho giáo thời Tống đối với nhận thức của các nhà Nho ở Việt Nam thời phong kiến, tiêu biểu là Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tư tưởng về nhận thức trong Nho giáo thời
Tống và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn dưới ảnh hưởng của nhận thức đó
- Phạm vi nghiên cứu: Nho giáo thời Tống và tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn
5 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Tài liệu làm cơ sở cho sự nghiên cứu là các tác phẩm kinh điển của Nho giáo: Tứ thư, Ngũ kinh, các sách báo, bài viết bàn về Nho giáo và về tư tưởng Việt Nam, các sách báo về lịch sử Trung Quốc dưới thời Tống, các tài liệu viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn
Cơ sở lí luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhận thức
Trang 13Phương pháp nghiên cứu là vận dụng phương pháp luận của lịch sử triết học, nhất là lịch sử triết học phương Đông, kết hợp phương pháp logic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, so sánh đối chiếu
6 Đóng góp của luận văn
Về lí luận: Luận văn góp phần làm sáng tỏ những giá trị cũng như hạn
chế về tư tưởng nhận thức của Tống Nho và ảnh hưởng của nó đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn
Về thực tiễn: Rút ra phương pháp nhận thức và giáo dục đối với quá
trình nhận thức và giáo dục giá trị truyền thống tinh thần ở Việt Nam
Ngoài ra luận văn còn được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn lịch sử triết học phương Đông, lịch sử tư tưởng Việt Nam, văn hoá học, tôn giáo học,…
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương, 4 tiết:
Chương 1: Vấn đề nhận thức trong Tống Nho
Chương 2: Ảnh hưởng nhận thức trong Tống Nho đối với nhận thức
của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Lê Quý Đôn
Trang 14Chương 1 VẤN ĐỀ NHẬN THỨC TRONG TỐNG NHO
1.1 Cơ sở hình thành nhận thức trong Nho giáo Thời Tống
1.1.1 Cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội thời Tống
Năm 960, trước tình hình loạn lạc của thời kì “ngũ đại thập quốc”, một đại thần của Hậu Chu là Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn phát động cuộc binh biến Trần Kiều, cướp ngôi nhà Hậu Chu sáng lập lên Nhà Tống, tính đến năm 1279 khi nhà Tống bị nhà Nguyên tiêu diệt, cả thảy đã tồn tại 319 năm Nhà Tống được chia làm hai thời kỳ Bắc Tống (960 - 1127) và Nam Tống (1127 - 1279) Việc thành lập nhà Tống đánh dấu sự tái thống nhất Trung Quốc lần đầu tiên kể từ khi nhà Đường sụp đổ, chấm dứt cục diện thời kì Ngũ đại thập quốc đầy chia cắt
Tống Thái Tổ cai trị trong mười lăm năm Ông và người con kế tiếp (là vua Thái Tông) thống nhất những phần lãnh thổ Trung Quốc không bị người nước ngoài cai trị - chinh phục từng quận huyện, và ngăn cản quân lính không cướp bóc dân địa phương, ân xá cho các thủ lĩnh quân đội địa phương đã chống lại ông Các thủ lĩnh địa phương được cho về nghỉ với khoản lương hưu lớn, và họ bị thay thế bởi các quan hành chính dân sự Kiểu chính trị giết hại và chiến tranh dường như đã kết thúc
Tống Thái Tổ xây dựng nên một hệ thống quan lại trung ương tập quyền
có hiệu quả với các học thức xuất phát từ bình dân Các lãnh chúa quân phiệt địa phương và hệ thống quan lại riêng của họ bị thay thế bằng cách quan chức
do trung ương chỉ định Hệ thống cai trị dân sự này dẫn tới sự tập trung quyền lực to lớn trong tay hoàng đế và triều đình trung ương mạnh hơn nhiều so với các triều đại trước đó
Nhưng gần một thế kỉ từ khi lập nước, Bắc Tống đã phải chinh chiến liên miên để tiêu diệt các thế lực cát cứ cũng như chống lại sự xâm lược của quân
Trang 15Liêu và Tây Hạ làm hao người tốn của Tính tự phụ của tầng lớp ưu tú Trung Quốc làm họ tin rằng họ không cần phải điều chỉnh lại thực tế quân sự Họ tin rằng các nước láng giềng sẽ nể sợ sự vĩ đại của Trung Quốc cùng sự ưu ái của Trời với họ Thực thi Khổng giáo, họ tin rằng nếu quốc gia Trung Quốc chỉ cần đơn giản thực thi nhiều đạo đức hơn thì các vị vua láng giềng sẽ phải tỏ ra kính trọng Trung Quốc, rằng họ sẽ công nhận vai trò đích thực của Trung Quốc như một siêu cường và sẽ phải nộp cống đầy đủ cho Trung Quốc Các quan chức bản thân là nhà Nho là những người chịu trách nhiệm về sự yếu kém của quân đội Tầng lớp Nho giáo ưu tú luôn muốn có hoà bình Họ coi binh lính là nhóm người thấp nhất trong mọi nhóm Rèn luyện thể chất và các
kỹ năng chiến đấu không được quý trọng Trung Quốc có quân đội nhưng không có tầng lớp chiến binh chuyên nghiệp, và quân đội của họ cũng bị sao lãng, ít quan tâm tới các chiến thuật tác chiến Các buổi tập trận và kỷ luật quân đội bị coi nhẹ Trung Quốc tìm cách thoả mãn nhu cầu quân sự của mình bằng cách mướn lính đánh thuê nhưng bản thân điều này chưa đủ giải quyết tình hình Trung Quốc đã không thể đối mặt với sự thật rằng sức mạnh quân
sự của họ đã luôn bị thử thách với những cuộc chạm trán liên tục với người Khiết Đan (Khitan), một dân tộc sống ở hầu hết vùng Mãn Châu và đang chiếm đóng vùng cực bắc của họ Sau khi nhiều lần bị người Khiết Đan đánh bại, Vua Tống Chân Tông, năm 1004 đã ký một thoả ước với người Khiết Đan, nhường lại vĩnh viễn cho người Khiết Đan phần đất Trung Quốc mà họ đang chiếm, gồm cả Bắc Kinh và ông đồng ý nộp cống hàng năm cho họ
Ở Tây Bắc, Người Trung Quốc chiến đấu chống lại người Tây Hạ (Tangut) - một bộ tộc Tây Tạng - và Trung Quốc cũng phải chịu với người Tây Hạ điều họ chịu với người Khiết Đan, cho phép Tây Hạ chiếm đất đai Trung Quốc Năm 1044, Trung Quốc có hoà bình với người Tây Hạ bằng cách đồng ý nộp cống giống như nộp cống cho người Khiết Đan
Trang 16Dân số tăng vượt quá mức tăng kinh tế Các chi phí chiến tranh cộng với chi phí ở biên giới phía bắc làm chảy máu nền kinh tế Trung Quốc, cũng như chi phí tăng kỷ lục cho bộ máy quan liêu Hơn nữa, sự quan liêu còn bị chia
xẻ bởi các phe cánh đưa ra các biện pháp khác nhau nhằm về vấn đề cải cách thuế và phân phối ruộng đất Các vua nhà Tống bắt đầu cảm thấy sự thiếu thốn về thuế Nhân dân phải đóng góp sưu thuế hết sức nặng nề, chính sách thuế má bất công, dân nghèo thì phải đóng góp nhiều, kẻ giàu thì được miễn nhiều thứ thuế mà lại giỏi trốn thuế, nên kẻ nghèo càng nghèo, người giàu càng giàu, nhất là thuế mỗi ngày một tăng, nên dân chúng đói quá phải nổi loạn, mỗi khi lụt hoặc mất mùa Như 1075, ở Hồ Châu lụt, mùa màng hư hết, nửa triệu người chết đói, mặc dù triều đình đã phát chẩn 1.250.000 hộc lúa cho dân nghèo Nạn đói vì thiên tai là nạn lớn nhất của dân Trung Hoa Có người đã làm thống kê thấy rằng trong 2.300 năm từ thế kỷ thứ VIII trước T.L tới cuối đời trước sau họ bị 1057 cơn nắng hạn và 1030 vụ lụt, ấy là chưa kể nạn chiến tranh Vì thế nông dân nhiều nơi đã đứng lên khởi nghĩa, trong đó tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa do Vương Tiểu Ba lãnh đạo, nổ ra ở Tứ Xuyên năm 993 Để cứu vãn tình hình đất nước Vương An Thạch (1021- 1086), một nhà tư tưởng có tài về chính trị được Tống Thần Tông phong làm tể tướng đã thực hiện một cuộc cải cách toàn diện về các mặt xã hội phong kiến như tài chính, kinh tế, quân đội,… Các cuộc cải cách đó không thành công, cũng như các cuộc cải cách trước dưới thời nhà Hán vì một số chủ trương không thực
tế, và vì một lý do cơ bản: sự chống đối từ đa phần tiểu quý tộc Khổng giáo, những người coi quyền lợi kinh tế riêng quan trọng hơn quyền lợi chung cho nên nó bị những kẻ có thế lực trong xã hội phản đối quyết liệt, nhất là bọn cựu trào, bảo thủ thuộc phái cựu đẳng như Tư mã Quang, Hà Kỳ,…
Đến đời Tống Huy Tông triều đình nhà Tống trở nên thối nát, bắt đầu thời kì suy yếu Vua chúa chỉ lo xây dựng cung thất, ao hồ, ăn chơi xa xỉ Năm 1101, vị vua lúc bấy giờ là Huy Tông, cũng là một nhà thơ, một nhà thư
Trang 17pháp và sùng Đạo giáo Huy Tông chi rất nhiều tiền cho những cuộc rước xách Đạo lão rất tốn kém và cho việc bảo dưỡng cung điện cùng các vườn hoa Ông tăng thuế Bọn quan lại địa chủ thừa cơ bóc lột nhân dân lao động tàn bạo hơn, làm cho dân rơi vào cảnh bần cùng, tha phương cầu thực tạo nên nổi loạn, và Huy Tông dẹp tan các cuộc nổi loạn như một phần hoạt động của
đế chế mà ông, thiên tử, thực hiện Từ thế kỉ XII, Nhà Tống lại đứng trước một hiểm họa lớn, đó là các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính Trung Quốc của nhà Kim Trong khi quần chúng nhân dân kiên quyết đứng lên chống xâm lược thì vua Tống và một số quan lại triều đình lại bạc nhược, chỉ chủ trương cầu hòa Tháng 11 năm 1125, Quân Kim chiếm Biện Kinh, Tống Khâm Tông phải dâng biểu xin hàng, xưng “thần” với vua Kim và hiến cả một vùng đất rộng lớn phía Nam Hoàng Hà cùng với vàng bạc, châu báu, lụa là để tạ tội Tháng 5 năm 1127, Quân kim bắt Thái thượng hoàng Huy Tông, Tống Khâm Tông cùng với hoàng hậu, vương phi, thái tử và tôn thất nhà vua đem về Phương Bắc, Nhà Bắc Tống diệt vong
Người con trai thứ chín của Huy Tông sống sót và tiếp tục vương triều Tống ở đồng bằng phía nam sông Dương Tử và kéo dài về phía Tây tới tỉnh
Tứ Xuyên Một lần nữa, Trung Quốc chỉ còn giữ được vùng phía Nam, triều đình ở đó được gọi là nhà Nam Tống Sang thời Nam Tống (1127 - 1279), vua quan nhà Tống lại càng ươn hèn bạc nhược hơn, từ đầu chí cuối đều chỉ thực hiện chính sách đầu hàng Trước những cuộc tấn công xâm lược của người Kim, trong lúc những tướng lĩnh, quan lại và nghĩa quân yêu nước vẫn kiên cường chống lại quân Kim và đã đánh bại chúng ở nhiều nơi, truy kích địch đến tận Hoàng Hà, thu hồi được nhiều vùng đất đã mất thì Tống Cao Tông lại sợ hãi bỏ chạy xuống Hàng Châu (Triết Giang) và cuối cùng phải quy hàng quân Kim một cách nhục nhã: cầu xin vua Kim tha thứ, xin bỏ danh hiệu hoàng đế làm một kẻ bề tôi tôn thờ nước Đại Kim,… Năm 1234, nhà Kim nhanh chóng bị người Mông Cổ chinh phục, sau đó Mông Cổ kiểm soát
Trang 18toàn bộ phía bắc Trung Quốc và luôn đe doạ triều đình Nam Tống Một hiệp ước hoà bình vội vàng được lập ra Khi Hốt tất Liệt nhận được tin về cái chết của Mông Kha, vua cai trị Mông Cổ Ông quay về nước để chiếm ngôi báu từ tay các đối thủ, để nhà Tống yên ổn trong một thời gian ngắn Năm 1271 Nhà Nguyên của người Mông Cổ được thành lập
Năm 1276 triều đình Nam Tống bỏ chạy bằng thuyền tới Quảng Đông trước sự xâm lược của Mông Cổ, để Tống Cung Đế lại phía sau Vai trò lãnh đạo kháng chiến được trao cho hai hoàng tử trẻ, là em của Cung Đế Người lớn tuổi hơn, Triệu Thị mới 9 tuổi, và được phong làm hoàng đế Đoan Tông Vào năm 1277, triều đình lại bỏ chạy tới Ngân Khoáng Loan hay Mai Oa ở Đại Tự Sơn và sau này ở khu vực hiện nay là Cửu Long, Hồng Kông Người anh lớn ốm chết, người em là Vệ Vương Triệu Bính mới 7 tuổi, lên kế vị Ngày 19 tháng 3 năm 1279 quân đội Tống bị đánh bại trong trận chiến cuối cùng ở đồng bằng sông Châu Giang, một vị đại thần là Lục Tú Phu đã ôm vị hoàng đế nhảy xuống biển tự vẫn, kết thúc triều đại nhà Tống
Thời Tống xã hội phong kiến Trung Quốc đã đạt đến đỉnh cao của sự thống nhất về chính trị, nhất là thời Bắc Tống Sự thống nhất về chính trị giúp mang lại sự thịnh vượng Các nguồn lợi dưới thời nhà Tống lớn gấp ba lần thời nhà Đường Trung Quốc đang ở đỉnh cao về kinh tế và văn hoá Nền kinh
tế trại ấp phong kiến phát triển rõ rệt và trở thành hình thái sở hữu thống trị Chúng ta đã biết thời đầu nhà Tống, cũng như mọi thời đầu của các nhà khác (Hán, Đường) nông nghiệp phát triển nhờ chính sách phát ruộng cho dân và nhân dân được yên ổn làm ăn Nông nghiệp phát triển còn nhiều nguyên nhân nữa; công việc thuỷ lợi, đào kinh, đắp đê ở hạ lưu sông Dương Tử phát triển, người ta biết dùng những giống lúa mới - (Theo Lombard) - và mỗi địa phương chuyên trồng một vài loại, số thu hoạch tăng lên, dân số tăng theo Các ngành sản xuất thủ công nghiệp và thương nghiệp thời kì này phát triển khá mạnh, nghề đúc thép, nghề dệt vải, nghề làm giấy và nghề in,… đều có sự
Trang 19phát triển vượt bậc cả về kĩ thuật lẫn quy mô sản xuất Các xưởng thủ công (cơ phòng) và công trường thủ công tư doanh dần dần tăng lên, hình thành một thời kì công thương nghiệp phát triển phồn vinh chưa từng có: Nuôi tằm, dệt lụa Tô Châu, gần Hàng Châu có nhiều xưởng dệt dùng cả ngàn người thợ; đáng kể nhất là đồ gốm, đồ sứ Đồ sứ đạt đến tuyệt đích ở đời Tống và nổi danh khắp thế giới Có rất nhiều lò ở khắp nơi Tại Bắc là lò Định Châu, Từ Châu, tại Trung Nguyên là lò Nhữ Châu, Quân Châu tại Nam là lò Long Tuyền (nổi danh nhất), Tu Hội Đồ sứ là những đồ gốm gần như pha lê, khoáng chất dùng là cao lanh (kaolin) và một thứ thạch anh trắng gọi là "bạch đôn tử" (quartz) Người ta nặn thành đồ, phủ lên một lớp men trắng rồi mới
bỏ vô lò nung, có khi người ta vẽ, sơn lên men rồi nung lại Có những người thợ chuyên môn vẽ hoa, loài vật, phong cảnh, tiên, thánh Các nhà chuyên môn, sành nhất về đồ sứ cho rằng không đồ sứ cổ nào hơn được đời Tống; Từ vua tới dân ai cũng thích đồ sứ, nó tràn ngập trong nước: chén, dĩa, bình, vại, chúc đài, bàn cờ
Trung Quốc xây dựng một nền công nghiệp sắt lớn - nền tảng cho một xã hội công nghiệp hiện đại Sản lượng gang hàng năm của họ gấp đôi sản lượng của Anh vào những năm 1700 Các tàu buôn Trung Quốc có số lượng rất lớn,
và ngày càng tăng Số lượng thương mại tăng lên Nhưng Trung Quốc vẫn ở dưới ảnh hưởng của Khổng giáo, và các nhà Nho không coi trọng thương mại
Ở Trung Quốc, khi một ai đó có tiền dư từ thương mại thì thay vì đầu tư vào sản xuất anh ta lại mua đất và sau đó được kính trọng Một vị thương gia độc lập và sáng tạo ở Trung Quốc không tìm cách tăng ảnh hưởng chính trị và quyền lực như ở Anh Vì thế cả thương mại tư nhân và doanh nghiệp công nghiệp tư nhân không hề phát triển Dưới thời nhà Tống, các doanh nghiệp không thuộc nhà nước được phát triển tự do nhưng các nhà buôn vẫn phụ thuộc vào quan chức chính phủ Việc trả cho họ một phần coi như là đóng góp cho hoạt động của chính phủ và quà cáp cá nhân là công việc bắt buộc khi
Trang 20làm ăn Các doanh nghiệp tư nhân trồng trọt và buôn bán nhỏ phát triển nhưng không theo kiểu tích luỹ tài sản cần thiết cho sự phát triển tư bản Trung Quốc vẫn là một nước nông nghiệp với giới nhà nho và một chút ít người thuộc các trường phái khác Con đường tốt nhất để phát triển cho một người bình thường là vào quân đội Con đường vào làm quan lại vẫn bị ngăn chặn đối với những người đó nếu họ không thuộc những gia đình giàu có
Kinh tế phát đạt thì thị trấn thành thị cũng phát triển Cuộc sống dễ chịu phát triển, và nghệ thuật nảy nở với sự phát triển dân số Các thành phố - thủ
đô văn hoá trở nên đông đúc hơn Những người chủ đất cũng mò về đấy, và những người giàu có thì hàng đống Các khu vườn điểm tô cho thành phố Có các trung tâm vui chơi, với các tiệm trà hay rượu, các nhà chứa, rạp hát, múa rối, xiếc và tung hứng - trong khi có rất ít người lo ngại về tính trái đạo đức của tình trạng thái quá Trung tâm kinh tế đã từ miền Bắc chuyển xuống miền Nam Kinh đô đã không còn ở trung lưu sông Hoàng Hà nữa; nó từ Trường
An chuyển lại Lạc Dương, rồi từ Lạc Dương đến Biện Kinh (Khai Phong ngày nay), đời Nam Tống nó xuống Hàng Châu Năm 1170 Hàng Châu đã có nửa triệu người Chợ búa phố xá rất đông đúc
Trên cơ sở nền kinh tế phát đạt hưng thịnh, khoa học - kĩ thuật đời Tống cũng đạt được nhiều thành tựu rực rỡ Những thành tựu kĩ thuật đạt được trong thời kì này được đánh dấu bằng việc hoàn thành ba phát minh lớn, đó là việc chế tạo ra thuốc súng, sáng chế ra la bàn và kĩ thuật in bằng sắp chữ rời Việc phát hiện ra “hỏa dược” đã có từ thời nhà Đường, nhưng đến thời đại nhà Tống đã được ứng dụng rộng rãi vào việc chế tạo vũ khí trong lĩnh vực
quân sự Thời Tống Nhân Tông đã có cuốn Vũ kinh tổng yếu của Tăng Công
Lượng giới thiệu các phương pháp chế tạo các loại hỏa tiễn, hỏa cầu,… Kỹ thuật dùng kim chỉ nam được phát minh vào cuối đời Đường và thời kì Ngũ đại thập quốc, đến đời Tống thì la bàn trở thành “Nghi khí định hướng” được
áp dụng phổ biến, giúp cho ngành hàng hải phát triển khá mạnh mẽ Theo
Trang 21cuốn Oanh nguyên tổng lục của Dương Duy Thức thì thời Bắc Tống la bàn
dùng để xác định bốn phương chính là Đông, Tây, Nam, Bắc, dựa vào kim chỉ nam chỉ hướng Bính ngọ, sau đó ở vị trí hướng Bính ngọ, chia ra mà tìm hướng Nam; trên la bàn ngọ vị là hướng chính nam, bính vị là chính nam lệch
về Đông 150 Thời Tống cũng là thời kì hoàng kim của nghệ thuật in bản khắc
gỗ ở Trung Quốc Về cơ bản có bản khắc in của quan, bản khắc in của tư gia
và bản khắc in của phường hội dùng để in các sách sử, sách y, sách toán và các bộ kinh điển của Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Vì thế đã hình thành các trung tâm khắc in sách lớn như Hàng Châu, phúc Kiến, Tứ Xuyên,… Đặc biệt thời Bắc Tống đời Khánh Lịch (1041 - 1048), Tất Thăng đã phát minh ra thuật in bằng chữ rời Thuật in từ đó đã truyền sang Nhật Bản, Triều Tiên, Ba
Tư, Ai Cập, và Châu Âu vào cuối thế kỉ thứ XIV Đây được đánh giá là những phát minh có ý nghĩa thời đại và là những cống hiến có vai trò to lớn đối với nền văn hóa của nhân loại
Trong thời kì này khoa học cũng đạt được những thành tựu quan trọng, xuất hiện nhiều nhà khoa học nổi tiếng về các môn thiên văn, đại lý, số học, y học và nông học,…
Dựa trên những kết quả đã đạt được trước đó, đến thời Tống, nền toán học có những bước phát triển rất lớn Nhà toán học đời Tống là Vưu Mậu đã viết cuốn “Toại sơ đường thư mục” nổi tiếng với 95 thể lọai khác nhau Nửa đầu thế kỉ XI thời Bắc Tống, trong tác phẩm “Hoàng đế cứu chương toán pháp tế thảo” Giả Hiến đã đề ra định lý nhị đẳng thức với chỉ số chính xác, dựa vào đó có thể giải phương trình bậc cao Từ đời Nam Tống đến thời đại nhà Nguyên đã xuất hiện bốn nhà toán học lớn như Tần Cửu Thiều, Lý Dã, Dương Huy, Châu Thế Kiệt Trong đó nổi bật nhất là sự nghiên cứu thành công phương pháp khai phương lũy thừa của Tần Cửu Châu Năm 1274 ông
đã hoàn thành tác phẩm Số học cửu chương Đặc biệt đời Tống còn có một
Trang 22nhà khoa học nổi tiếng là Thẩm Quát (1031 - 1095) với bộ bách khoa toàn thư bất hủ là “Mộng khê bút đàm”
Về y học thời kì này người ta đã dùng “ngũ vận lục khí‟ để đoán bệnh tật nặng nhẹ và môn “vật khí học” bắt đầu hình thành Sau đó từ cuốn “Bàn về thương hàn tạp bệnh” của Trương Cơ đã xuất hiện bốn ngôi sao đông y lớn đại diện cho bốn phái y học thời đó: Phái Lưu Hoàn Tố tinh thông về ứng dụng thuốc hàn Phái Lý Cảo nhấn mạnh “người lấy dạ dày làm gốc”, việc trị liệu nên lấy khí bổ tì vị làm gốc Phái Trương Tùng Chính, nhấn mạnh việc lấy ba phép ra mồ hôi, nôn mửa, đại tiện để trục xuất “tà khí” Phái Chu Chấn Thưởng cho rằng cơ thể con người “âm thường không đủ, còn dương dư thừa” cho nên chủ trương lấy bài tiết làm điều hòa âm dương
Về thiên văn học và địa lý thời Tống phải kể đến Quách Thủ Kỉnh, tập
đại thành của lịch pháp cổ đại, người biên soạn cuốn lịch pháp mới là Thụ thời lịch Sau đó các nhà địa lý tiêu biểu như Nhạc Sử với cuốn Thái bình hoàn vũ kí, Vương Tôn với cuốn Nguyên phong cửu vực chí, Âu Dương Mân với cuốn Hưng địa quảng chí thời Bắc Tống và Vương Tượng Chi với Hưng địa ký thắng, Chức Mục với Phương hưng thắng lãm thời Nam Tống,…
Trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật ở thời kì nhà Tống cũng đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, hình thành các thể tài văn học, nghệ thuật mới đó là từ
và kịch, bên cạnh các thể tài văn thơ vốn đã nổi tiếng từ thời Đường Từ là lời thơ phổ vào các điệu nhạc có sẵn, vì vậy số câu, số chữ và âm điệu tùy thuộc vào điệu nhạc không bị ràng buộc bởi những quy tắc chặt chẽ như thơ Đường Buổi đầu nhà Tống có những nhà làm từ trứ danh như Yến Thu, Yên Kỷ Đạo,
Âu Dương Tu Từ được cải cách bắt đầu từ Liễu Vịnh, đến giữa thời Bắc Tống có Tô Thức, Tần Quán, Chu Bang Ngạn Sang đến thời Nam Tống có
Lý Thanh Chiếu, từ của bà chuyên mô tả tình cảm phụ nữ, ngôn ngữ rất giản
dị và sống động, biểu lộ là một tài hoa phi phàm
Trang 231.1.2 Cơ sở tư tưởng
Tống Thái Tổ tuy là võ quan mà trọng văn hơn võ vì ông cho rằng võ quan dễ làm phản, ông ra lệnh võ quan cũng phải đọc sách Nho để hiểu đạo trị quốc, chủ trương độc tôn Nho giáo, phản đối Pháp Gia, vừa cạnh tranh vừa kế thừa những tư tưởng của các trường phái triết học khác đang tồn tại như Phật giáo, Đạo giáo sáng tạo nên một hình thái mới của Nho học là Lý học Sáng kiến đó rất mới Những biện pháp đó lập ngay lại được trật tự trong nước sau nửa thế kỷ hỗn loạn vì nạn hoành hành của bọn tiết độ sứ, nhưng về sau kết quả rất tai hại Đây là cách mà giai cấp thống trị thời Tống và những người phát ngôn cho họ sử dụng để duy trì và củng cố nền thống trị phong kiến, nô dịch đời sống tinh thần của nhân dân lao động trên lĩnh vực tư tưởng
Nhờ kĩ thuật in phát triển, thư tịch được in ra đếm không kể xiết, các tư gia thành lập những thư viện sách gia đình rất lớn Điều này đồng nghĩa với việc các bậc cha mẹ khuyến khích con cái đi học để biết đọc, biết viết, để có
cơ hội tham dự các kỳ khoa cử nhằm trở thành một quan chức trong hệ thống quan lại dân sự triều đình
Lối học từ chương manh nha từ đời Hán qua đời Tống tập quán đó vẫn còn Nhưng các nhà Nho thời Tống tự nhận thấy lối học huấn hỗ, từ chương không phải là một lối học chân chính Do đó họ nghĩ đến một cuộc cách mạng trong học thuật để thay thế những thành kiến sai lầm của cổ nhân Mặt khác Tống Thái Tổ lại khuyến khích những hoạt động văn hóa và có ý thực hiện
“văn trị chính sách” Thời đó các học giả đều được trọng dụng Học hiệu và thư viện được mở ra ở khắp nơi Học hiệu thời Tống có tên lễ hiệu, giảng đường, học xá Thư viện thời Tống nhiều không kể xiết, nhưng có 4 thư viện nổi danh nhất: Bạch Lộc Động, Nhạc Lộc, Ứng Thiên và Tung Dương Do đó
về mặt văn hoá, nhà Tống có mức phát triển cao hơn nhiều so với những thế
kỷ trước đó
Trang 24Lý học là một hình thái ý thức quan phương, giữ địa vị thống trị trong
xã hội phong kiến hậu kì Đặc điểm của Lý học là gạt bỏ lối “tầm chương trích cú” thời Hán Nho, phục hưng Thánh học (Nho học thời Tiên Tần), căn
cứ vào Dịch truyện, Trung Dung để giải thích nghĩa lý Do đó Lý học có tư tưởng chặt chẽ hơn, tinh vi hơn, với nội dung sâu sắc hơn so với Nho học truyền thống, do nó đã hấp thu được những yếu tố tích cực, những mặt tinh túy và biết gạt bỏ những yếu tố tiêu cực như tư tưởng bi quan, yếm thế, vô vi của triết học Phật giáo và Đạo giáo Đây là một yếu tố cơ bản và quan trọng làm cho Nho học thời Tống cũng như quan điểm về nhận thức thời Tống có những điểm khác biệt so với các giai đoạn lịch sử trước đó, đưa triết học Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển cao hơn cả về sắc thái lẫn nội dung
Vì thế Lý học thời Tống còn được gọi là Tân Nho học
Sự toàn thịnh của Nho giáo thời Tống có nguyên nhân tất yếu của nó Trung Quốc sau một thời gian chiến tranh loạn lạc, cát cứ liên miên với cục diện “ngũ đại thập quốc”, đến đời Tống đã thực hiện được sự thống nhất và
ổn định khá lâu về cả chính trị, văn hóa tạo điều kiện cho nền kinh tế phong kiến phát triển phồn vinh chưa từng có Để bảo vệ trật tự luân lý, cương thường của chế độ phong kiến, Các đời vua nhà Tống luôn đề cao Nho học, lấy Nho học làm hệ tư tưởng chính thống Đó là mảnh đất màu mỡ cho Nho giáo phát triển
Đương thời, Tống Nhân Tông đã thân hành đến Khúc Phụ để viếng miếu thờ Khổng Tử và truy thụy ngài là Chí Thánh Văn Tuyên Vương, đồng thời còn phong công, hầu, bá, tử cho các á thánh, môn đồ của Khổng Tử Đến đời Tống Thần Tông phong cho Mạnh Tử là Châu Quốc Vương Các vua nhà Tống còn cho sửa sang lại Quốc Tử Giám, tôn tạo lại các miếu mạo, chú giải,
điện định lại các kinh sách của Nho gia, ra lệnh lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm nội
dung cơ bản của chế độ thi cử quốc gia, coi đó là những sách giáo khoa bắt buộc phải học của người quân tử trong xã hội Bên cạnh đó sự toàn thịnh của
Trang 25nho học thời Tống còn do sự giao lưu văn hóa, tinh thần rất đa dạng, phong phú của thời Tống Trong quá trình phát triển, trải qua những biến đổi thăng trầm, Nho giáo luôn được các triều đại phong kiến Trung Hoa coi là hệ tư tưởng chính thống, nó vừa biết đấu tranh để lọc bỏ những mặt tiêu cực của các trào lưu triết học khác vừa biết tiếp thu, kế thừa những mặt tích cực của các môn phái ấy, như quan điểm về vũ trụ của Đạo giáo và thuyết tâm linh của phật giáo, làm phong phú và sâu sắc hơn nội dung tư tưởng triết học của mình, đưa Nho giáo nên đỉnh cao
Sự phát triển rực rỡ của triết học thời Tống còn được biểu hiện trong chủ nghĩa duy vật và tư tưởng biện chứng sơ khai của Trương Tải, trong vũ trụ luận đặc sắc của Chu Đôn Di, Thiệu Ung và trong cuộc đấu tranh giữa hai phái “tân học” của các nhà tư tưởng cách tân thuộc giai cấp địa chủ cấp tiến như Vương An Thạch chống lý học duy tâm của Trình Hạo, Trình Di, Chu Hi cũng như với phái cựu học trong giai cấp địa chủ quý tộc bảo thủ như Tư Mã Quang; giữa tư tưởng duy vật và chủ nghĩa công lợi của Trần Lượng, Diệp Thích với Tâm học của Lục Cửu Uyên
Đời Tống có điểm đáng khen là nhờ đạo học của các triết gia họ Chu,
họ Trình, tinh thần nhà Nho chân chính rất cao, nhiều kẻ sĩ biết trọng khí tiết
Âu Dương Tu, Tư Mã Quang, Trình Hạo, Trình Di, Tô Thức, Tô Triệt, Vương An Thạch đều có đức cả Nhờ họ mà học sinh thời đó, nhất là học sinh trường Thái học, đa số có tinh thần ái quốc, dám dâng thư vạch lỗi lầm của triều đình Xét chung thì sĩ phu thời đó đáng khen, cho nên khi triều đình Tống nhảy xuống biển tự tử, không chịu cái nhục để cho quân Mông Cổ bắt sống, trong nước có cả ngàn người tuẫn tiết theo, đàn bà cũng như đàn ông
Quan điểm vể bản thể và nhân sinh Tống Nho: xoay quanh mối quan hệ
giữa “thiên lý”, “nhân dục”, qua cuộc tranh luận về phạm trù khí và lý (đạo và khí), tâm và vật (tri và hành) hình thành nên một phái duy tâm khách quan với
các đại biểu là Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy và một phái duy tâm chủ quan
Trang 26với các đại biểu là Lục Cửu Uyên, Vương Thủ Nhân Đồng thời, xét theo một khía cạnh khác, Lý học đã xây dựng nên lý thuyết nguyên khí là bản thể - một
lý thuyết duy vật thô sơ
Về bản thể: Chu Đôn Di và Thiệu Ung vận dụng thuyết vận động tự thân của “thái cực” để giải thích sự khởi đầu và biến hóa của vũ trụ, đặt cơ sở vũ trụ
quan cho lý học Liêm Khê (Chu Đôn Di) trong sách Thái cực đồ thuyết cho
rằng trạng thái hỗn độn đầu tiên của vũ trụ là “thái cực”, vô hình, vô thanh, vô thủy, vô chung nên cũng gọi là “vô cực” “Vô cực” không phải là không mà chính là cái tự tại, không có khởi đầu, không có kết thúc, bất sinh bất diệt Điều
đó có nghĩa là Chu Đôn Di đã coi “thái cực” , “lý‟ của tinh thần khách thể là tính thứ nhất sinh ra thế giới vạn vật và thế giới vạn vật là tính thứ hai, do “thái cực” biến hóa mà thành “Thái cực” bao hàm trong đó hai thể động và tĩnh, tự vận động biến hóa sinh ra hai thế lực vật chất đối lập nhau là âm và dương Âm
và dương là hai mặt đối lập nhưng liên hệ tương tác với nhau mà sinh ra năm yếu tố vật chất kim, mộc, thủy, hỏa, thổ và mọi sự vật tồn tại trong vũ trụ đều
do năm yếu tố vật chất ấy sinh ra Thiệu Ung cũng cho rằng trạng thái nguyên
sơ của vũ trụ là “thái cực” “Thái cực” là vĩnh hằng bất biến Theo sự biến hóa tuần hoàn trong “Tiên thiên đồ” của ông, mà nhờ đó trời đất, vạn vật sinh thành, tiêu diệt, có thủy có chung Quá trình biến hóa của vạn vật theo Thiệu Ung bắt đầu từ “thái cực” Mặt khác ông lại nói “tâm là thái cực”, tức tâm là nguồn gốc sản sinh ra mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới Thậm chí ông còn quan niệm: “Trời đất tự ta mà ra, càn khôn chỉ ở thân mình"
Trương Tải cho rằng bản nguyên của thế giới là “khí” Đầu tiên gọi là
“Khí thái hư”, lúc nó chưa ngưng tụ, còn bốc hơi, luôn luôn vận động lên xuống không nhìn thấy được “Khí thái hư” là đầu nối của hư - thực, động - tĩnh, âm - dương, cứng - mềm,… nhờ đó mà “khí thái hư” luôn vận động, vừa tan, vừa tụ thành một thể thống nhất, gọi là Trường thái hòa Trong Trường thái hòa, “khí thái hư” ngưng kết, tích tụ lại, tạo thành mọi vật Mọi vật cũng
Trang 27chỉ là khí tụ nên nếu khí ấy tan ra thì sự vật không còn Khí tan ra, rồi lại hòa nhập vào “khí thái hư” Trường thái hòa cứ vận động liên tục như vậy không ngừng Do đó theo ông không có thiên mệnh, quỷ thần Ông giải thích quỷ thần chỉ là sự co duỗi của khí âm - dương
Trình Hạo coi “thiên, lý, tâm” là một thể - chỉ khác nhau về tên gọi - là cội nguồn thế giới Trình Di cho rằng bản thể của vũ trụ là “Lý” “Lý” là một trạng thái hỗn độn khi âm dương chưa phân định, hay còn gọi là “khí chân nguyên” Khi “khí chân nguyên” phân định thành âm dương thì gọi là “khí” Khí không hòa trộn với “Lý” được mà chỉ có tác dụng bao bọc, nuôi dưỡng
“Lý” “Lý” - thiên lý chính là một lực lượng tinh thần mà Nho giáo gọi là thiên trời, thiên mệnh đạo “Khí” (hai khí âm dương) là nguyên nhân sinh ra thể xác, hình khối của vạn vật Đó là lực lượng vật chất Ông kết luận “vạn vật đều chỉ một lẽ trời”, “âm dương nhị khí cùng với ngũ hành chỉ là tài liệu
để lý sáng tạo ra vạn vật trong trời đất”
Chu Hy tập hợp quan điểm của Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, bổ sung thêm học thuyết âm dương ngũ hành cho rằng “Vũ trụ có Lý và Khí Lý
là tinh thần (hình nhi thượng) là gốc của sinh vật” Chu Hy còn liên kết với thái cực (cái gốc vũ trụ của Đạo gia) cho rằng “tổng hợp cái lý của vạn vật trong trời đất ấy là “Thái cực” Thái cực là cái lớn nhất, không có hình dáng, bao trùm trời đất vạn vật Lý là thái cực, là bản nguyên thế giới Còn khi bàn
về khí âm - dương không phải là hai loại khí mà chỉ là một khí mà thôi Khí
ấy ngưng động thoái bộ thì gọi là âm, khí ấy lưu hành tăng tiến thì gọi là dương Bởi vậy mới có âm - dương tiêu trưởng, phản phục, hóa sinh được tất
cả đều do lí chi phối Khí là cái có sau, đó là lực lượng vật chất làm điều kiện
để hình thành vạn vật theo những cái lí (cái hình mẫu) đã có sẵn Chu Hy còn cho rằng, mỗi vật có đủ lí và khí nên bản thân nó đã là một thái cực rồi Đây
là quan niệm vạn vật đồng nhất thể của ông
Trang 28Lục Cửu Uyên (Tượng Sơn) lại cho rằng vũ trụ tức là tâm ta, tâm ta tức
là vũ trụ, tâm tức là lý
Về nhân sinh:
Theo Hoành Cừ con người ta ai cũng có hai tính: một tính bản nhiên của trời đất phú cho gọi là thiên tính hay “Thiên địa chi tính”, thì ai cũng lành, vì
đó là lẽ chí thiện, chí mỹ của trời đất; một tính bẩm thụ của khí chất, gọi là
“khí chất chi tính” mà khí chất có sự trong, đục, dày, mỏng khác nhau nên tính ấy tuỳ sự bất đồng của khí chất mà trở nên lành hay ác Kẻ bẩm thụ được khí chất tốt đẹp, trong lành thì tính thiện; kẻ bẩm thụ được khí mỏng manh, vẩn đục thì tính ác Tuy nhiên dù một người hung ác đến thế nào, nếu biết sửa đổi tính ác kia đi thì sẽ trở về tính lành ban đầu Ông cho rằng “điều bổ ích lớn trong sự học đạo là ở chỗ tự có thể biến hoá khí chất Không thế, rốt cuộc không phát minh được gì, không thấy được cái uyên bác của thánh nhân” Muốn biến hoá được khí chất phải giữ lòng nhân nghĩa, tự nhiên tâm hoà, thể chính, lại luôn giữ cho mọi hoạt động đúng lễ thì khí chất dần trở lại tốt đẹp Trình Di (Y Xuyên) thừa nhận tính người là thiện, thiện tâm của con người do lý chi phối Y Xuyên cho rằng người ta bẩm thụ cái lý chí thiện mà
có tính, tính tức lý nên lúc đầu tính người rất lành Nhưng vẫn có người thiện, vẫn có người ác là do khí thanh hay khí trọc quyết định Con người nếu hấp thụ khí thanh thì thành thiện Còn nếu hấp thụ khí trọc thì thành ác
Hồ Hoằng (Ngũ Phong) cho rằng Tâm và tính là nguồn vực của đạo nghĩa Tính là lý chí thiện của trời đất phú cho con người Sở dĩ có kẻ hiền, người ngu là những mối tình của người ta do tâm bị kích động mà phát ra Nói cách khác là tính của thánh nhân và phàm nhân giống nhau nhưng tâm khác nhau
Chu Hy cho rằng vũ trụ có “lí”, “khí” thì con người có “hồn” và “phách”
“Hồn” của con người là do “lí” chi phối tạo ra, còn mọi hoạt động của con người do “khí” tạo ra “Hồn” chỉ đạo mọi hoạt động của con người, còn
Trang 29“phách” chỉ là sự chỉ thực hành theo sự chỉ đạo của “hồn” Sự sống hay cái chết của con người là phụ thuộc vào “khí” tụ hay tan Khí tụ, con người được sinh
ra, tồn tại và sống “Khí” tan con người chết Khi sống “hồn”, “phách” liên hệ, tương tác, “hồn” chỉ đạo “phách”, khi chết “phách” tan, “hồn” lìa khỏi xác, Nếu chết bệnh hay chết già thì “khí” tan nhưng không mất hẳn mà truyền lại cho con cháu theo cái “lí” có trước của con cháu, giống như “khí” của cây truyền lại cho trái cây Nếu cái chết bất thường thì”khí” chưa tan ngay được
“Khí” đó được tạo thành quỷ thần, nhưng rồi cũng tan và quỷ thần cũng mất Tất cả những lý do trên làm cho Nho học thời Tống có cơ sở phát triển toàn thịnh, trong đó nội dung nhận thức được các tác giả trình bày trong các tác phẩm của mình vẫn dựa trên những quan điểm của Tứ thư, Ngũ kinh nhưng kiến giải trên quan điểm của thời đại mới là kết hợp với Phật giáo và Đạo giáo
1.2 Đặc điểm, đối tượng, mục đích và con đường nhận thức trong Tống Nho
1.2.1 Đặc điểm, đối tượng nhận thức trong Tống Nho
- Vấn đề nhận thức của Tống Nho không được các nhà Nho bàn luận một cách có hệ thống mà được xây dựng trên quan niệm của các triết gia về bản thể và nhân sinh
Đối tượng nhận thức trong Tống Nho chủ yếu bàn về tâm, cho rằng “cái đạo trời đất có đủ ở người”, do đó nhận thức lấy tâm làm chủ, mang tính chất tiên nghiệm
Thiệu Ung cho rằng “cái học (nhận thức) tiên thiên là tâm, cái học hậu
thiên là tích; sự ra vào có không, sống chết là đạo” (tiên thiên chi học, tâm dã; hậu thiên chi học, tích dã; xuất, nhập, hữu, vô, tử, sinh đạo, dạo dã) [4, tr.39] Thậm chí ông còn quan niệm: “Trời đất tự ta mà ra, càn khôn chỉ ở thân mình” (Thiên địa tự ngã xuất, càn khôn chỉ tại thân) Từ đó ông đi đến đề cao nhận thức tiên nghiệm duy tâm, cho rằng vũ trụ và vạn hữu tự tâm sinh ra
Trang 30Mọi thứ đều xuất phát từ tâm cả, chỉ cần nhìn ngược vào trong bản thân mình thì không có cái gì không đầy đủ, trọn vẹn; muốn có hiểu biết về sự vật, con người ta chẳng cần tiếp xúc với sự vật của thế giới khách quan bên ngoài mà chỉ cần quan sát nội tâm của mình là đủ Chính ông nói: “Học thuyết tiên nghiệm làm tâm pháp, tức là cái đạo lý, khuôn mẫu phải noi theo của tâm, hình ảnh đều từ đó mà ra, mọi vật sinh hóa đều sinh ra từ tâm” (Tiên thiên học, tâm pháp dã, đồ nhai trùng trùng khởi vạn hóa sự nhai sinh ư tâm dã) [9, tr.431] Thuyết ấy hoàn toàn thuộc về thuyết duy tâm chủ quan giống với thuyết “muôn vật chỉ một tâm, ngoài tâm ra không có phép gì khác” của Phật giáo
Chủ thể nhận thức là con người vì theo Liêm Khê “duy chỉ có người là bẩm thụ được khí tinh anh nên rất thiêng” Liêm Khê chia chủ thể nhận thức thành hai loại: một loại là thánh nhân có thể bẩm thụ khí tinh anh của trời đất muôn vật Loại còn lại là tiểu nhân do khí tinh anh ấy chỗ dày, chỗ mỏng, nhiều ít khác nhau Điều này có thể coi là mỗi người khác nhau thì tính tình
và hình thể khác nhau giống như quan điểm của nhận thức luận Mác-Lênin khi cho rằng kết quả nhận thức là khác nhau do chỗ đặc điểm tâm sinh lý của mỗi người khác nhau là khác nhau Nhưng do hạn chế về mặt lịch sử nên ông không đề cập đến yếu tố xã hội của sự khác nhau đó
Theo Hoành Cừ Tâm làm tổng doanh Tâm thống quát cả tính tình “Tâm
thống tính tình giả dã” Tuy nhiên, trong quan điểm về “tâm”, Trương Tái lại phân biệt, đối lập giữa “tâm của thánh nhân” và “tâm của người đời” một cách siêu hình rằng: “Tâm của người đời dừng lại ở chỗ kiến văn hẹp hòi, còn thánh nhân biết đi đến tận cùng cái tính; kiến văn không ràng buộc được tâm của thánh nhân” (Chính Mông) [9, tr.448] Trên quan điểm ấy ông phân chia nhận thức của con người làm hai loại: “biết kiến văn” và “biết đức tính”
“Biết kiến văn” theo Trương Tái là do vật tiếp xúc với vật mà biết không phải
là cái “biết đức tính” Cái “biết đức tính” là nhận thức về vũ trụ, hiểu thấu đạo
Trang 31lý của vũ trụ, vạn vật đạt tới chí thành, chí thiện, có thể không thông qua cảm giác trực tiếp kết hợp với ngoại giới, là “thiên đức lương tri”, do “thành minh
mà biết”, “Cái biết do chân thành và minh triết là cái biết lương thiện và đạo đức của đất trời, chẳng phải là cái biết nhỏ nhặt của kiến văn” [27, tr.555] Do
đó mà xét, thành (chân thành) tức là cảnh giới trời và người hợp nhất, minh (minh triết) tức là tri thức mà người ta có được khi đạt tới cảnh giới hợp nhất
đó Nó là chân tri chứ không phải là tri thức nhỏ nhặt do kiến văn mà có
Y Xuyên cũng cho rằng kết quả nhận thức của mỗi người khác nhau là
khác nhau Y Xuyên nói: “phàm đạo của việc học là chính tâm của mình, dưỡng nuôi tính của mình thế thôi” [32, tr.942] hoặc ông còn nói: “Quân tử học, tất cần trước tiên hiểu rõ tâm, biết nuôi dưỡng nó, sau cố gắng thực hành mong đến nơi đó gọi là từ sáng suốt mà thành tâm” [32, tr.942]
Chu Hi cũng như Hoành Cừ cho tâm có thể thống soát cả tính tình
Từ Hồ cho rằng vạn lượng, vạn vật giữa thế gian này đều do tâm sở tạo
và cái tâm của ta có thể làm chủ được sự sinh diệt biến hóa của trời đất và muôn loài
Tượng Sơn (Lục Cửu Uyên) cho rằng: “Tâm tức lý” cho nên tâm của ta
có đủ sự chí mỹ, chí thiện của trời đất “Vũ trụ tức là tâm ta, tâm ta tức là vũ trụ” (Vũ trụ tiện thị ngộ tâm, ngộ tâm tức thị vũ trụ) Do đó ông quan niệm:
“Cái học của thánh nhân là tâm học” [27, tr.648]
Bắc Khê cho tâm có sức dung nạp rất bao la, có thể thống quát được vạn
lý, vạn sự
Miễn Trai cũng cho rằng Người bẩm thụ được cái chất tinh tú hơn muôn
loài Thánh nhân lại bẩm thụ cái chất tinh tú hơn cả nhân loại
Đối tượng nhận thức trong Tống Nho ngoài tâm ra là nhận thức về luân
lý đạo đức:
Chu Đôn Di suy cái lý tan hợp của Thái cực, sự động tĩnh của âm dương
và vận động của ngũ hành từ đó bàn về những cách kỷ xử tiếp vật, kinh luân
Trang 32tế thế đến điển chương pháp độ, nhân nghĩa lễ nhạc của tiên vương Liêm Khê cho rằng nhân nghĩa trung chính là tiêu chuẩn cho mọi sự hành vi ở đời Vì cho rằng “Trời lấy dương sinh vạn vật, lấy âm thành vạn vật Sinh tức là nhân, thành tức là nghĩa Do đó Thánh nhân phải mô phỏng theo trời đất, âm dương,
lấy điều nhân nuôi vạn vật, lấy điều nghĩa sửa vạn vật” (Thông Thư, Hóa
Thuận) [4, tr.51], “Không trở lại cổ lễ, không biến cải kim nhạc mà muốn đến được thời thịnh trị thực xa lắm thay” Có tư tưởng ấy nên Liêm Khê cho rằng bậc quân tử muốn dân an quốc trị phải biết giữ cái tâm của mình cho thuần, tức là không làm trái bốn điều nhân, nghĩa, lễ, trí
Hoành Cừ là một người rất hiếu cổ, tin rằng bậc quân chủ nếu biết dùng
pháp độ của tiên vương để trị vì quốc gia và tổ chức xã hội, thì trong nước mới có kỉ cương, phong tục mới được thuần hậu Bởi vậy, lúc ra làm quan cũng như khi ở hương thôn, Hoành Cừ đã chủ trương thuyết “theo lễ cũ”:
“Dạy cho bọn trẻ con biết sái, tảo, ứng, đối; khuyên mọi người về những việc quan, hôn, tang, tế nên theo phép cũ của tiên vương” Hoành Cừ lại thường ca tụng phép “tỉnh điền” của nhà Chu, vì cho rằng phép ấy là công bằng hơn mọi phép khác: “trị thiên hạ không do tỉnh địa thì không được quân bình” (Trị thiên hạ bất do tỉnh địa, chung vô do đắc bình) Hoành Cừ thường nói: “Vì trời đất lập tâm, ví sinh dân lập mệnh, vì thánh nhân đời trước nối tuyệt học,
vì vạn thể mở thái bình”
Minh Đạo cho rằng: “Người học đạo nên biết điều nhân trước hết Điều
nhân, hồn nhiên cùng vạn vật đồng thể; nghĩa, lễ, trí, tín không ra khỏi điều nhân Biết được lý ấy, rồi lấy sự thành kính giữ lấy nó mà thôi” (Học giả tu tiên thức nhân Nhân giả, hồn nhiên dữ vật đồng thể; nghĩa, lễ, trí, tín giai nhân dã Thức đắc thử lý, dĩ thành - kính tồn chi nhi dĩ) [4, tr.77] Và “Sự dạy
dỗ ở nhà Tường, Nhà Tự, nhà Học, nhà Hiệu là tiên vương sở dĩ làm cho sáng
tỏ nền nhân luân để hoá thành thiên hạ Ngày nay sự học phế bỏ nên đạo đức không thuần nhất, hương xạ không còn nên lễ nghĩa không trấn hưng, cống cử
Trang 33không do ở hương lý nên hạnh thực không trau dồi, tú sĩ không được nuôi dưỡng ở học hiệu nên nhân tài phần nhiều bị phế bỏ” (Tường, Tự, Học, Hiệu chi giáo, tiên vương sở dĩ minh nhân luân hoá thành thiên hạ, giả dã Kim sư học phế nhi đạo đức bất nhất, hương xạ vong nhi lễ nghĩa bất hưng, cống cử bất bản ư hương lý nhi hạnh thực bất tu, Tú sĩ bất dưỡng ư học hiệu nhi nhân tài đa phế) [4, tr.78] Trình Hạo quan niệm trật tự chế độ phong kiến và luân
lý cương thường “quân thần phụ tử” là cái lý cố định của thiên hạ (thiên hạ chi định lý) không thể thay đổi Nhưng trong đời sống xã hội “thiên lý” bản nhiên ấy bị những ham muốn vật chất tầm thường che lấp, làm “tổn thương đến trời, phương hại thiên lý” (Thương thiên hại lý) Do đó phải giữ gìn luân
lý đạo đức, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trời phú cho, bỏ những nhục dục tổn hại đến “thiên lý” Rõ ràng học thuyết của Trình Hạo thể hiện rõ tính chất giai cấp trong triết học của ông và nó đã trở thành công cụ tinh thần đắc lực cho giai cấp thống trị đương thời
Chu Hi cho rằng “tam cương”, “ngũ thường” của Nho giáo và thể chế xã
hội phong kiến chính là sự thể hiện lý hay “thiên lý lưu hành”, “không chỗ nào thích đáng mà không có” “Lý” trị nước ấy “nó chỉ là vậy, tự là vật hằng
cổ, hằng kim, thường tại bất diệt Tuy một ngàn năm trăm năm nay bị người
ta phá hoại, mà vẫn không diệt được nó” Ông còn cho rằng tất cả những nhu cầu, ham muốn trái với trật tự, lễ nghĩa của chế độ phong kiến đều là “nhân dục” và là những cái đối lập với thiên lý, cho nên chỉ có từ bỏ nhân dục mới
có thể khiến cho thiên lý hiện ra
Tượng Sơn (Lục Cửu Uyên) cho rằng: “Việc học ngày nay là việc gì?
Người ta sinh ở trong trời đất Làm người tự nên trọn đạo người Học giả sở
dĩ theo học là theo học cái đạo làm người mà thôi” (Kim sở học quả vi hà sự? Nhân sinh thiên địa gian, vi nhân tự dương tận nhân đạo Học giả sở dĩ vi học, học vi nhân nhi dĩ, phi hữu vi dã) [4, tr.177]
Trang 341.2.2 Mục đích của nhận thức trong Tống Nho suy cho cùng là hướng tới tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ
Trong Nho giáo, “tu thân” đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, bởi “Đã
tu tập lấy được mình, thì mới sắp đặt nhà cửa cho chỉnh tề Nhà cửa đã sắp đặt cho chỉnh tề, thì nước mới sửa trị được Nước đã sửa trị, thiên hạ mới bình an” Mạnh Tử cũng từng nói: “Người ta luôn nói “Thiên hạ, nước, nhà” Gốc của thiên hạ là nước; gốc của nước là nhà; gốc của nhà là cá nhân” Như vậy, mục đích của tiến trình tu thân không chỉ bó gọn trong phạm vi phát triển nhân cách của mỗi cá nhân, mà còn liên quan chặt chẽ đến sự tạo dựng bền vững các mối liên hệ giữa con người với nhau, với xã hội và thế giới Chính thông qua tiến trình tu thân không ngừng, cá nhân con người học được cách tạo dựng gia đình yên ấm, quốc gia ổn định và thiên hạ bình an Hơn nữa, về bản chất, vì con người là một tồn tại xã hội nên quá trình tu thân không chỉ bó hẹp trong sự phát triển luân lý đơn thuần, mà còn được hiểu như một quá trình
“xã hội hóa” của cá nhân con người nhằm mục đích đạt đến sự toàn thiện của bản tính con người
Chu Đôn Di cho rằng tu dưỡng cá nhân là để an trị thiên hạ: “Trị thiên hạ
có gốc là từ chính mình; trị thiên hạ có chuẩn tắc là từ nhà của mình Gốc tất ngay thẳng, làm cho gốc ngay thẳng thì chỉ có thành tâm mà thôi; chuẩn tắc tất thiện, dùng thiện làm chuẩn tắc chỉ có hài hòa thân thuộc mà thôi Nhà mình khó mà thiên hạ dễ, Nhà mình thân mà thiên hạ sơ vậy” [32, tr.905] Nói cách khác tu thân là căn bản trị thiên hạ, mà thành tâm lại là căn bản của tu thân, mẫu mực trị thiên hạ là trị nhà mình, đây chính là tư tưởng của “Đại Học”
Trần Lượng dâng sớ cho vua viết rằng “ngày nay thần nguyện vì bệ hạ
phô trần gốc ngọn về sự lập chính của quốc gia để lập nên đại lược, luận về hình thế tiêu trưởng trong thiên hạ để quyết định đại cơ”
Minh Đạo cho rằng “Cái đạo của bậc thánh nhân phụng mệnh trời để
trị lý muôn vật tại nơi lục phủ” (Thánh nhân phụng thiên lý vật chi đạo, tại hồ lục phủ)
Trang 35Trong các đế vương thượng cổ, Chu Hi đưa ra Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn - Những đế vương này cũng là thánh nhân trong tâm mục của các nhà Nho Những nhà Nho ưu tú qua các thời đại đều nhắm tới mục tiêu nỗ lực làm cho đế vương của mình trở thành như Nghiêu, Thuấn Nhà nho là người kế thừa đạo của Khổng Tử, sự nghiệp của nhà Nho quy đến cùng chính là sự nghiệp của bậc vương giả Công việc mà họ theo đuổi không chỉ là “giáo hóa” mà còn là “chính trị”
Miễn Trai (Hoàng Cán) thì cho rằng cái học là học được những chữ
“bác” và “ước” của thánh nhân “lấy lễ chế tâm, lấy nghĩa chế sự” Cuộc đời của ông khi hành khi xử nhưng đều mang lòng ái quốc
Bắc Khê cho rằng nên làm sáng tỏ pháp độ của Tam Vương
1.2.3 Con đường nhận thức trong Tống Nho
Nhận thức của Nho giáo nói chung cũng như của Tống Nho là đi từ trong ra ngoài, từ hẹp đến rộng:
Theo Thiệu Ung là phải giữ cho cái tâm chuyên nhất, tu Tâm “Tâm
chuyên nhất không thể phân chia có thể ứng được vạn biến Ấy sở dĩ người quân
tử giữ cho tâm hư không mà bất động vậy” (tâm nhất nhi bất phân tắc năng ứng vạn biến Thử quân tử sở dĩ hư tâm nhi bất động dã) Bởi vì ông cho rằng:
“Lấy vật xem xét vật, ấy là là tính Lấy ta xem xét vật, ấy là tình Tính chung mà sáng suốt Tình riêng mà tối tăm” (Dĩ vật quan vật, tính dã Dĩ ngã quan vật, tình dã Tính công nhi minh, tình thiên nhi ám) Ông giải thích:
“Sở dĩ gọi là xem vật đó, không phải lấy mắt mà xem nó Không phải xem nó bằng mắt mà xem nó bằng tâm; không phải xem nó bằng tâm mà xem
nó bằng lý… Không để ta ngưng trệ ở vật thì có thể chi phối được vật” (Phù
sở dĩ vị chi quan vật giả, phi dĩ mục quan chi dã Phi quan chi dĩ mục, nhi quan chi dĩ tâm dã; phi quan chi dĩ tâm, nhi quan chi dĩ lý dã… bất ngã vật tắc năng vật vật)
Trang 36“Vật trong thiên hạ, chẳng gì mà không có nguyên lý, chẳng gì mà không có tính, chẳng gì mà không có mệnh Cái gọi là nguyên lý, ta phải xem xét đến cùng thì sau mới biết Cái gọi là tính ta phải xem xét đến cùng thì sau mới biết Cái gọi là mệnh ta phải xem xét đến cùng thì sau mới đạt Ba cái biết này là ba cái biết chân chính của thiên hạ Thậm chí thánh nhân cũng không vượt ngoài chúng… Thánh nhân sở dĩ có thể tổng hợp tình huống của vạn vật là vì thánh nhân có thể xem xét ngược lại, tức là không lấy bản ngã để xem xét vật; Không lấy bản ngã để xem xét vật mà lấy vật xem xét” [4, tr.40]
Ở đây ta có thể thấy Thiệu Ung chịu ảnh hưởng rất nhiều của đạo Lão Trang Phương pháp nhận thức của Khang Tiết lấy tâm làm chủ, cho rằng đạo tức là tâm, và cái tình của vạn vật đều có đủ cả ở tâm, nên thường giữ cho bản tâm được hư không bất động, thuần nhất bất phân để ứng vạn biến Thiệu Ung quan niệm chỉ có tâm là “chân” còn vạn vật vạn sự trong thế gian chỉ là “giả” Bởi vậy, Ông chỉ chuyên về mặt tu tâm Muốn cho tâm được thanh tĩnh ông thường thiền định như một nhà sư Như thế có thể thấy Khang Tiết còn chịu ảnh hưởng cả của Phật giáo nữa
Chu Đôn Di cho rằng “Thành” là bản tính thiện của con người và cũng
là chính lý trời đất phú cho vạn vật “Thánh nhân chỉ có chân thành thôi Chân thành là gốc của ngũ thường, là nguồn của trăm nết” (Thông Thư viết: Thánh thành nhi dĩ hỹ Thành ngũ thường chi bản, bách hạnh chi nguyên dã) “thành
vô vi, cơ thiện ác” [27, tr.515] nghĩa là chân thành nằm trong trạng thái vô vi, nếu hơi lay động thì tạo ra thiện ác Vì vậy phải giữ lòng chân thành, giữ tâm cho thuần mới có thể khôi phục tính bản nhiên của con người, mới đạt đến chỗ chí thành, chí thiện của sự “trung, chính, nhân, nghĩa”, trở thành thánh nhân Phương pháp tu dưỡng để trở thành thánh nhân là tĩnh “Vô dục cho nên tĩnh”, “Điều quan trọng là duy nhất Cái duy nhất cũng chính là vô dục Cái
vô dục ấy lúc tĩnh thì hư không, lúc động thì ngay thẳng Tĩnh và hư không thì sáng suốt, sáng suốt thì thông hiểu; động và ngay thẳng thì công bình,
Trang 37công bình thì phổ quát Hễ sáng suốt, thông hiểu, công bình, phổ quát thì thứ dân thành thánh nhân vậy” (Thông thư) [27, tr.517]
“Sáng suốt thì thông hiểu” khi chúng ta vô dục và tĩnh lặng thì tâm chúng ta như gương sáng, vắng lặng mà thường chiếu Hễ sáng thì có thể như thế, không sáng thì không thể như thế Về “công bình thì phổ quát” Thông Thư nói “đạo của thánh nhân chỉ là chí công thôi” Vì trời đất chí công nên che chở tất cả đó gọi là phổ Muốn vậy phải trải qua một giai đoạn đáng kể
“Thông Thư chép: Hồng Phạm nói: “suy nghĩ phải thấu triệt suy nghĩ thấu triệt sẽ thánh thiện” không suy nghĩ là căn bản, suy nghĩ thông suốt là ứng dụng Hơi lay động ở chỗ kia thì chân thành động ở chỗ này Không suy nghĩ
mà chẳng gì không không thông suốt đó là thánh nhân Nếu không suy nghĩ thánh nhân không thể thông suốt cái tế vi Nếu không thấu triệt thánh nhân không thể thông suốt khắp nơi Do đó thông suốt khắp nơi phát sinh từ thông suốt cái tế vi, ứng dụng cái tế vi phát sinh từ suy nghĩ Cho nên suy nghĩ là căn bản của công việc của thánh nhân và là sự lay động dẫn đến cát hung vậy” [27, tr.518]
Trương Tái xuất phát từ thế giới quan duy vật cho nhận thức của con
người đều bắt nguồn từ sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan: “cảm cũng cần phải có vật đã, có vật mới có cảm, không có vật thì cảm ở đâu?” Trương Tái cho rằng trong đời sống con người có những hoạt động tư duy tựa
hồ không liên quan gì đến những điều tai nghe, mắt thấy, nhưng thực ra chúng
có cơ sở của kinh nghiệm trong quá khứ; “Cũng có những điều không thấy, không nghe, tự nhiên ngồi lẵng lẽ mà cũng sinh cảm, duyên do từ những điều nghe, điều thấy trong quá khứ, không có chuyện vô sự mà cảm suông” (Ngữ lục) Phát triển tư tưởng của Tuân Tử về cái gọi là „kết hợp điều biết gọi là trí”, Trương Tái đã phân tích và chỉ ra sự thống nhất giữa cái chủ quan và khách quan, giữa cái bên trong và bên ngoài trong hoạt động nhận thức của con người: “con người nhận thức được là do nội ngoại kết hợp, Nội ngoại kết
Trang 38hợp thì từ đó mới có nhân tâm” (Chính Mông) Trương Tái cho rằng “cảm” và
“tâm” là hai hình thức cơ bản trong hoạt động nhận thức của con người Mỗi hình thức này có vai trò, vị trí và tác dụng riêng, nhưng giữa chúng có sự liên
hệ khăng khít với nhau Nếu chỉ dựa vào cảm giác không thôi thì chưa đủ để nhận thức sự vật cần phải dựa vào lý tính (tâm) mới có thể nhận thức được quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới: “nay giữa khoảng trời đất tràn đầy những vật, nếu chỉ căn cứ vào những điều mắt thấy tai nghe thì tiếp xúc được bao nhiêu? Làm sao tiếp xúc được hết mọi việc trong trời đất Cho nên phải mở rộng tâm ra, có mở rộng tâm ra mới có thể tiếp xúc được hết những vật trong trời đất” (Ngữ Lục) [9, tr.448] Để có được “thiên đức lương tri”, Trương Tái chủ trương phải rèn luyện tu dưỡng đạo đức, tri thức “đi sâu vào tận cùng tinh thần mới biết, cái biết ấy cùng với trời là một, há ta có thể
cố gắng được sao? Phải thịnh đức mới đạt được” (Chính mông) Đó chính là
sự “cùng lý”
Trên cơ sở quan niệm về tính người ông cũng cho rằng tính của khí chất không phải là bản tính của con người Người ta nên tìm phương cách sửa đổi cái gọi là “tính của khí chất” này để trở về bản tính tự nhiên sẵn có của trời đất Phương cách sửa đổi theo Trương Tải là “học tập”: “Học có ích lớn
là ở tự tìm ra biến hóa khí chất Không thế thì đều có hại cho người ta đến chết chẳng hiểu rõ được gì, không thấy được ảo diệu sâu kín của thánh nhân Cho nên người học trước tiên nên biến hóa khí chất Biến hóa khí chất với lòng khao khát học tập là một mặt trong một mặt ngoài của nhau” [32, tr.938],
“lý lẽ của xấu hay đẹp, quý hay hèn, thọ hay yểu, khí chất của người ta đều chịu ở phận đã định Như người khí chất xấu, chịu học tập có thể thay đổi được” [4, tr.63]
Minh Đạo viết: “Học là phải khiến người ta tìm ở bên trong, không tìm
ở bên trong mà tìm ở bên ngoài thì không phải là cái học của thánh nhân Chỉ
có tâm mới là trời, đi vào tận tâm mới biết tính” [9, tr.437] Để đạt tới sự hiểu
Trang 39biết cùng tận “thiên lý” (cùng lý), đồng thể với muôn vật, theo Minh đạo là phải “chính tâm thành ý” Minh Đạo cho rằng, cái đạo của trời đất có đủ ở trong điều “nhân”, Điều “nhân” có thể bao quát cả nghĩa, lễ, trí, tín Muốn nhận thức được đạo lý trước hết phải hiểu ý nghĩa của điều “nhân”, rồi dùng
sự “thành kính” mà giữ lấy nó là đủ, không cần phải phòng bị, kiểm tra, không phải tìm kiếm đến cùng Minh Đạo cho rằng: “Thể được mọi vật không
dư sót chỉ có sự thành kính mà thôi” (Thể vật nhi bất khả di giả, thành kính nhi dĩ hỹ) Lại nói: “Sự thành kính có thể thắng được trăm điều tà” (Kính thắng bách tà) Thành tức là giữ cái tâm vô vọng, chân thực, Kính là hàm dưỡng cái tâm bản nhiên, luôn lấy cái tâm là chủ, vô dục vô kỷ Có ý tưởng như vậy nên Minh Đạo thường nói: “Tính cùng đạo trời nếu không tự đắc thì không biết được” (Tính dữ thiên đạo, phi tự đắc chi, tắc bất tri.) Với những câu: “giác ngộ tức là tín” (giác ngộ tiện thị tín) và “tồn dưỡng lâu ngày trí tuệ
tự sáng suốt” (Tồn cửu tự minh),… đều nói về sự tự giác và cách hàm dưỡng của người học đạo Minh Đạo cũng đã từng khuyên học trò mặc toạ để tìm đạo lý ở trong sự thanh tĩnh vô vi Phương pháp nhận thức của Minh Đạo dùng đến trực giác rất nhiều Ngoài ra, Minh Đạo cũng đề cao vai trò của thầy
và bạn trong việc rèn luyện: “Ngày xưa từ thiên tử cho đến thứ nhân, chưa ai không cần thầy, bạn mà có thể lập đức được” (Cổ giả, tự thiên tử đạt ư thứ nhân, vi hữu bất tu sư hữu nhi thành kì đức giả) [4, tr.79] Nghĩa là phương pháp nhận thức của Minh Đạo cần đến trực giác và công phu hàm dưỡng hơn
là đọc sách, tìm nghĩa nên Minh Đạo thường khuyên người học Đạo phải biết cách tồn dưỡng để tự lĩnh hội lấy đạo thể, cho thư tịch chỉ là những vật để cho chủ thể nhận thức cùng vun bón thêm cái đạo đức đã sẵn có của mình
Theo Trình Di nhiệm vụ của nhận thức tối cao là nhận thức được chân
lí Đó là thiên lý, nhờ đó mà con người có thể quán thông cả nội giới và ngoại giới, chủ thể lẫn khách thể Thiên lý, theo Trình Di là nguyên lý tột cùng thống nhất và duy nhất Trong Ngữ Lục ông viết: nói về nguyên lý thì gọi là
Trang 40“thiên”, nói về bẩm thụ thì gọi là „tính”, nói về nuôi dưỡng ở mọi người thì gọi là “tâm” Vậy, “thiên”, “tính”, “tâm” cũng chỉ là biểu hiện của thiên lý ở
ba điều kiện khác nhau mà thôi Phương pháp tu dưỡng của Trình Di chú trọng “cùng lý”, nhưng lời ông giảng về “cùng lý” thì gần với vấn đề chỉ để biết Muốn được “Trí tri” đối với Y Xuyên cần phải “cùng lý” trước đã, Vì có
“cùng lý‟ nhiên hậu mới đủ để “trí tri” (cùng kì lý nhiên hậu túc dĩ trí tri)
“Cùng lý” cũng có nhiều cách: hoặc đọc sách để giảng minh nghĩa lý, hoặc nghị luận nhân vật xưa nay để phân biệt điều phải trái, hoặc ứng tiếp sự vật
mà thuận lẽ đương nhiên (cùng lý diệc đa đoan: Hoặc độc thư giảng minh nghĩa lý, hoặc luận cổ kim nhân vật, biệt kì thị phi, hoặc ứng tiếp sự vật nhi
xử kì đương nhiên) [4, tr.92]
Nhưng theo Y Xuyên muốn “cùng lý” lại phải cần suy nghĩ chín chắn
Vì thế Y Xuyên đã nói thêm những câu: “Không suy nghĩ chín chắn ắt không thể đến được cõi đạo lý” (bất thâm tư tắc bất năng tháo ư đạo); “Không suy nghĩ chín chắn mà đắc đạo thì sự được ấy dễ mất” (Bất thâm tư nhi đắc giả kì đắc dị thất); “Tư lự lâu ngày sự minh duệ tự nhiên sinh ra” (Tư lự cửu hậu duệ tự nhiên sinh)
Lấy sự “hàm dưỡng” và “học vấn” làm hai phương pháp chủ yếu của người học đạo, Y Xuyên đã nói rằng: “ Hàm dưỡng nên dùng sự thành kính, còn tiến học thì tại trí tri” (Hàm dưỡng tu dụng kính, tiến học tắc tại trí tri) Bởi “hàm dưỡng” là gốc, “học vấn” là ngọn; Gốc và ngọn không thể thiếu được ở cây, cũng như hai điều “hàm dưỡng” và “học vấn” không thể thiếu được ở người học đạo Trình Di nói: “Sự hàm dưỡng tinh thần là ở sự kính cẩn; sự tiến bộ của học vấn là ở trí tri” Muốn chính Tâm, dưỡng tính theo Y Xuyên phải thành kính “Không thể không khiến người giao cảm với vật, cũng khó mà bắt họ không suy nghĩ, muốn miễn điều đó duy chỉ lấy tâm làm chủ Thế nào là tâm có chủ? Kính mà thôi” (Nhị Trình Di Thư, quyển 15) [9, tr.441] Về công hiệu của sự kính cẩn, Trình Di “Kính cẩn để làm ngay thẳng