1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biến đổi không gian làng Dục Nội, xã Việt Hùng, huyện Đông Anh, Hà Nội

17 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người, trước nhất, là sinh thể cư trú trong k h ông gian cụ thể, với người Việt là không gian làng.. Q uá trình cư trú n gàn đời trong không gian làng đã qui định các bản chất của ng

Trang 1

BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN LÀNG DỤC NỘI,

XÃ VIỆT HÙNG, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI99

Ngô Thị Chang*

Tóm tắt: Lịch sử Việt Nam, từ trên dưới 2000 năm, làng được biết đến là một sản phẩm tiêu biểu của cư dân nông nghiệp lúa nước, hình thành cũng với sự định cư và quần tụ của người Việt, với hình thức ban đầu là chiềng, chạ (Nguyễn Thừa Hỷ, 2012, tr.180) Các tri thức thời phong kiến đã từng có những tìm hiểu nhất định về làng Nhưng, sự tìm hiểu chỉ trở nên thực sự có hệ thống; "gắt gao" hơn klii nảy sinh va chạm Đông - Tây mà cùng với nó là công cuộc xâm lược của phương Tây vào Việt Nam Làng được đặt ra như một vắn đề hạt nhân nhằm tìm hiểu những bản chất sâu thẳm cái đã khai sinh và định hình thực thể, số phận Việt Nam Vậy, làng là gì? Làn<ị đang biến đổi ra sao? Câu hỏi mang tính bản thể ấy của hoạt động nghiên cứu làng đã nhận được mối quan tâm thường trực vào bất kỳ thời điểm nào, tuy nhiên, trong khuôn khổ bài viết, để có được một cái nền, dù là hết sức khái lược, vẫn phải đưa ra cái nhìn về thực thể làng và gợi mở

từ đó một hướng tiếp cận mới: tiếp cận không gian qua trường hợp làng cụ thể.

Từ khóa: Biến đổi, biến đổi không gian làng Việt, làng Dục Nội

1 NGHIÊN CỨU LÀNG VIỆT - TIẾP CẬN KHÔNG GIAN

Làng Việt nói riêng hay làng ở k hu vực châu Á nói chung từ lâu đã là đối tư ợ ng nghiên cứu của nhiều nh à khoa học Làng theo dòn g thời gian lịch sử, đã được n h ận thức, "tưởng tượng" ra với các hệ đặc tín h khác

n hau, tùy thuộc vào góc q uan sát, mối quan tâm của các n h à n g h iên cứu, hay các "cộng đồn g tư ởng tượng" Để hiểu văn hóa Việt N am , k h ô n g gì

q uan trọ n g hơn xuất p h á t từ căn cước văn hóa của nó là làng (và, do đó, kéo theo là họ). N ỗ lực đ ầu tiên, phải kể đến các học giả Đông D ư ơng m à tiêu biểu là Rouilly (1929), M alot (1903), Gourou (19936) (N guyễn Thừa

HVCH, Khoa Nhân học, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

Trang 2

1 9 6 Ngô Thị Chang

Hỷ, 2012) Sau đấy, rất q uan trọng là đóng góp học giả Việt N am thời đầu thế kỷ XX n h ư P han Kế Bính (2005, lần đầu 1913-1914), Trần Trọng Kim (1920), N guyễn Văn H u y ên (1939), N guyễn Văn K hoan (1930) Đấy là

n h ữ n g tác giả với n h ữ n g công trình đỉnh cao, có ý h ư ớ n g khảo tả, tổng hợp, n h ận đ ịn h về n h ữ n g nét nổi bật của làng và nền văn hóa Việt N am theo hướng dân tộc chí N h ữ n g nỗ lực nền tảng ấy với đa p h ần các kiến giải vẫn còn có tính kinh điển ữ o n g hiểu biết, nghiên cứu làng

Tiến theo sự p h át triển khoa học của các nghiên cứu làng Việt,

n h ữ n g hình d u n g về làng từ các nghiên cứu hiện đại đ ạt đến n h ữ n g chiều sâu mới N h ữ n g công trình nghiên cứu, đ án h giá chuyên sâu về bản chất làng từ nhiều cạnh khía Đ áng kể là, nghiên cứu về lịch sử của quá trình p h át triển kinh tế - xã hội nông thôn [của Phan Đại Doãn (2001), Đào Thế Tuấn (1997)]; n h ữ n g cách nhìn mới từ cấu trúc luận, thuyết kinh tế đạo đ ứ c về làng truyền thống [Trần Từ (1984), J.Kleinen (2007), J.Scott (1976), S.Popkin (1979), ]; các nghiên cứu n h ữ n g n ét đặc thù của xã hội nôn g th ô n trong quá khứ và hiện tại n h ư nghiên cứu cơ cấu sở h ữ u ru ộ n g đất n ô n g nghiệp, từ cơ sở p h ân tích địa bạ [Phan H uy

Lê (1959), Trương H ữ u Q u ý n h (1982-1983), N guyễn Đ ìn h Đ ầu (1992), nghiên cứu sở h ữ u công và tư, sự b u ô n bán của các làng nghề th ủ công [Nguyễn Q uang Ngọc (1993), N guyễn Đức N ghinh - N gô Kim C h u n g (1987) ]; về các p h ư ơ n g thức trao đổi và các hợp tác n ô n g nghiệp, về

n h ữ n g thay đổi trong cơ cấu xã hội của làng hiện đại theo h ư ớ n g xã hội học [EHutart-G.Lemercinier, (2001)], về tập quán, luật tục, tôn giáo ở nôn g thôn [Bùi Xuân Đ ính (1985), N guyễn D uy H in h (1996) ], vấn đề thư ơng thảo trong tái lập và sáng tạo truyền thống, lễ hội [Lương Văn

H y (1992), Trương H u y ền Chi (2001)] v.v

Ở k hu vực Việt học nước ngoài, n h ữ n g năm đ ầu của thập kỷ 80 đã

đ án h dấu m ột bước đổi m ới tro n g nghiên cứu về làng xã không chỉ với các nh à nghiên cứu Việt N am m à còn đối với các học giả nước ngoài Trong đó, nghiên cứu với kết quả m à bề ngoài tư ở ng n h ư m âu th u ẫ n của Scott (1976) và Popkin (1979) đã đ á n h dấu m ột bước ngoặt là khơi dậy lại cuộc tranh luận về đề tài nôn g dân Việt N am bằng cách m ở ra

m ột lĩnh vực p h ân tích mới, giới h ạn ở hai khái niệm chủ chốt được các

Trang 3

B IẾN e ổ l KHÔNG G IA N LÀ N G DỤC NỘI, XÃ V IỆT HÙN G, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI 197

tác giả gọi là kinh tế dân tộc và kinh tế khẩu p h ần (Papin và Tessier 2002,

tr.21-23) C ũng từ đó, các công trình nghiên cứu về Việt Nam hiện đại đã

tăn g m ột cách n h a n h chóng, đặc biệt từ sau chính sách m ở cửa tạo điều

kiện th u ận lợi cho hợp tác và thực địa N hữ ng nghiên cứu trước đây mới

chỉ n h ìn nông thôn trong lịch sử với sự n h ận diện cấu trúc làng làng xã,

tức m ặt tĩnh của nôn g th ô n thì cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu đã m ở ra

d iện rộng, tức là chú trọ n g hơn tới n h ữ n g thay đổi xã hội của làng quê Việt N am N ghiên cứu sau này, vì thế, m ang tính linh động hơn, đã góp

m ột cách nhìn độn g vào xã hội n ông thôn Việt Nam Làng Việt N am trở th à n h tâm điểm của nghiên cứu khoa học xã hội Việt N am đương đại (G.c Hickey, N Ịam ieson, Lương Văn Hy, H outart - Lemercinier, J.Kleinen ), đặc biệt từ sau chính sách m ở cửa (B KerkvUet, N guyễn

T ùng ) N h ữ n g nghiên cứu trước đây mới chỉ nhìn nông thôn trong lịch sử với sự n h ậ n diện cấu trúc làng làng xã, tức m ặt tĩnh của nông

th ô n thì cuối thế kỷ XX, các nghiên cứu đã m ở ra diện rộng, tức là n h ữ n g thay đổi xã hội của làng quê Việt Nam Làng xã mà điển hình của nó ở

m iền Bắc Việt N am còn thường được p hản ảnh trong sự can thiệp của

N hà nước n h ằm kiểm soát nguồn lực của làng n h ư đất đai và lao động

N ghiên cứu có tính hệ th ố n g về di cư nội địa, sự xáo trộn các khối cư dân của làng là thú vị bởi tín h linh động và phức tạp của vấn đề, xu hướng

này mới chỉ bắt đầu từ Li Tana (1996), Nguyễn Văn Chính (1997),

M ột trong n h ữ n g q u an sát hiện đại đáng chú ý và nhiều triển vọng

về làng là hư ớng tiếp cận từ không gian N ắm bắt tổ chức không gian làng quê m iền Bắc Việt N am đã và đ ang là m ột hướng tiếp cận nghiên cứu trong liên n g àn h khoa học xã hội Con người, trước nhất, là sinh thể

cư trú trong k h ông gian cụ thể, với người Việt là không gian làng Q uá trình cư trú n gàn đời trong không gian làng đã qui định các bản chất của người Việt về v ă n hóa, kinh tế, chính trị và tôn giáo người nông d ân làng quê C hính vì thế, việc nghiên cứu không gian hiển nhiên có ý nghĩa quan trọng tro n g nắm b ắ t các đặc điểm nông thôn Việt Nam

Các học giả nước ngoài đã xây d ự n g n h ữ n g cách nhìn khác n h au

về k h ông gian n h ư Nigel Thriít (2006), Setha Low và Denise Lavvrence-

Z u n u g a (2007) và Lisa D ru m m o n d (2000) Cách nhìn n h ận không gian

Trang 4

1 9 8 Ngô Thị Ch an g

không chỉ d ừ n g lại ở n h ữ n g phạm trù có thể đ ịn h nghĩa được m à còn

là n h ữ n g phạm trù/loại không gian không định nghĩa rõ ràng Đó là

"không gian xã hội", theo Condom inas, ngoài n h ữ n g chiều cạnh vốn có

là m ang tính không gian và thời gian m à còn m ang tính lịch sử và tộc người Không gian xã hội m ang cả chiều cạnh không gian và thời gian, thay đổi tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, đặc điểm kinh tế, xã hội của

m ột cộng đồng (N guyễn Công Thảo, 2008) Sự đa d ạng của nghiên cứu không gian trên thế giới là đa d ạng và sâu sắc, nó tạo ra cơ sở lí thuyết trong nghiên cứu, xử lý không gian N ghiên cứu không gian làng Việt,

m ột chủ đề trọng tâm để hiểu biết chính Việt Nam , do vậy, cũng có sự quan tâm Một trong n h ữ n g công trình nghiên cứu n hấn m ạnh hướng tiếp cận đó chính là "Làng Việt ở vù n g châu thổ sông Hồng" do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên Tiếp đó là ấn phẩm do N guyễn T ùng chủ biên m ang tên "M ông Phụ - một làng ở Đồng bằng Sông Hồng". H ướng tiếp cận không gian trong Làng ở vùn g châu thổ sông H ồng được thể hiện rõ nét qua hai bài viết của N guyễn Tùng và Olivier Tessier (Papin

và Tessier 2002) Q uan điểm của N guyễn Tùng về làng được n h ấn m ạnh, làng chỉ là đơ n vị cư trú cơ sở m à người dân quê gắn bó về tình cảm

n h ư n g hoàn toàn không có bộ máy h ành chính (Nguyễn Tùng, 2003) riêng biệt, khô n g thể đ án h đồng làng vỡi xã n h ư m ột số quan điểm trước

đó Làng bao gồm các không gian được tổ chức xen kẽ: xứ và xứ đồng, không gian cư trú, không gian canh tác Q ua n h ữ n g p hân tích của Oliver Tessier về m ột làng v ùng tru n g du cho thấy rằng "Không gian là m ột quần thể địa điểm cũng chư các cá n h ân được coi là n hữ ng điểm mốc trong nhóm " (Levi Strauss, 1962, tr.141) Tác giả hư ớ ng nghiên cứu của

m ình vào việc tổ chức các không gian của một làng cụ thể Theo tác giả, việc p h ân loại các không gian cần dựa vào các đặc điểm tự nhiên, m ục đích sử d ụ n g của chính các không gian ấy (Papin và Tessier, 2002, tr.139- 179) Với các tính chất n h ư thế, cả N guyễn Tùng và Tessier đều có giá trị tham khảo để tiếp cận làng Dục Nội, n h ư n g vẫn cần m ột m ô hình p h ân loại không gian tương thích với điều kiện địa bàn nghiên cứu

Cái n h ìn về làng n h ư m ột tổ chức không gian cũng đã xuất hiện trong tư d u y của các học giả Đ ông D ương mà G ourou là đại diện tiêu

Trang 5

BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN LÀNG DỤC NỘI, XÃ V IỆT HÙN G, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI 199

biểu N ghiên cứu về n ô n g thôn, n ô n g dân nói chu n g và cụ thể tại châu

thổ sông H ồ n g nói riêng, cuốn sách "Người nông dân châu thổ Bắc K ỳ"

của Pierre G ourou cho ta thấy được làng Việt hiện lên thật cụ thể, sống

đ ộng và rõ nét Cụ thể được tái hiện trong chương IV viết về làng mạc châu thổ Bắc Kỳ Các k h ông gian n h ư lũy tre, hệ thống đường làng, cổng làng, ao làng, giếng làng, đ ìn h và điếm được tác giả coi n h ư

n h ữ n g th à n h p h ầ n tạo lên h ìn h hài, d áng vẻ m à ta có thể quan sát được

về làng M ột v ấn đề m à tác giả nhắc đến đó chính là yếu tố p h o n g thủy

có vai trò đối với diện m ạo của làng xã Việt Nam

Với tính chất tổng quát, bài viết của nhóm tác giả N guyễn Văn Sửu

và C hu Thu H ường (2015) cho chúng ta thấy rõ các hướng tiếp cận làng Việt được khái quát m ột cách rõ nét, trọng tâm qua trục t ì n h bày về tiếp

cận lịch sử, tiếp cận chủ thể và tiếp cận không gian làng, về tiếp cận không gian, điều đó càng cụ thể hơn khi nhóm tác giả p hân tích và lý giải về sự biến đổi không gian qua thời gian ở m ột làng ven đô cụ thể ờ đồng bằng sông Hồng Một bài viết khác của tác giả N guyễn Công Thảo qua phân tích sự thay đổi không gian thiêng trong kí ức người dân khi có sự tác

động của đô thị hóa khiến các không gian dần biến m ất và tâm thức của người dân cũng bị phai mờ Dưới chiều cạnh văn hóa, tôn giáo, quá trình

"giải thicng" là một trong những lí do quan trọng dẫn đến sự biến đổi của

các không gian sinh thái làng Việt (Nguyễn Công Thảo, 2008)

Q uan sát về làng, d ù không chỉ định trực tiếp n h ư n g người ta khó tránh được lối m ã hóa tro n g nhìn n h ận từ ấn tượng và trải nghiệm không gian Vậy, thực sự đặc điểm bản chất của không gian làng Việt là gì?

K hông gian làng Việt đã biến đổi n h ư thế nào dưới tác động của đô thị hóa Việc chọn lựa m ột làng cụ thể để quan sát từ cái nhìn không gian, làng Dục Nội, là cách thức mà từ đó tôi tiếp cận không gian làng Việt

2 BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN LÀNG DỤC NỘI

Trước khi tìm hiểu sự biến đổi k h ô n g gian làng Dục Nội, tôi cần

n h ấ n m ạ n h về m ột số điểm tro n g p h â n đ ịn h các k h ông gian Ở đây tôi liệt kê m ột số k h ô n g gian như: k h ông gian cư trú, k h ông gian canh

Trang 6

200 Ngô Thị C han g

tác, k h ô n g gian th iên g 1 Trong đó, k h ô n g gian cư trú là nơi cư trú của

d ân làng K hông gian canh tác là k h u vực sản xuất n ô n g n g h iệ p Còn

k h ông gian thiêng là nơi chứa đ ự n g các vật thể và h o ạt đ ộ n g tô n giáo, tín ngưỡng, m an g tín h thiêng (N guyễn Văn Sửu và C hu T h u H ư ờng, 2015) Tuy nhiên, việc p h â n đ ịn h k h ô n g gian chỉ m an g tín h ch ất tư ơ ng đối vì th ật khó có thể xác đ ịn h được ra n h giới giữa các k h ô n g gian bởi yếu tố con người - sự kiện địa lý q u an trọng n h ấ t (Pierre G ou ro u , 2003) luôn có n h ữ n g tác đ ộ n g k h ô n g n g ừ n g đ ến k h ô n g gian m à họ cư trú

Mốc thời gian m à tôi đư a ra để thấy được sự biến đổi của k h ô n g gian làng Dục N ội là từ n h ữ n g năm 90 của thế kỷ XX Vì d u n g lượng báo cáo có hạn n ê n tôi k h ô n g có tham vọng mô tả và p h â n tích sự biến đổi của tất cả các loại h ìn h k h ô n g gian Thay vào đó, tôi chỉ n h ấ n m ạn h

đ ến m ột số điểm nổi bật của sự biến đổi trong m ột số loại h ìn h k h ông gian ở làng Dục N ội qua n h ữ n g phác họa k h ô n g gian tru y ề n th ố n g

m ột cách khái lược củng n h ư sự biến đổi của từ n g k h ông gian

3 BIẾN ĐỔI TRONG KHÔNG GIAN TRUYỂN THỐNG d DỤC NỘI

3.1 Không gian cư trú

Tổ chức không gian cư trú và không gian canh tác ở D ục Nội được

p h ân định rõ, không phải hỗn canh hỗn cư n h ư các làng tru n g d u miền núi phía Bắc Việt Nam K hông gian cư trú nằm bến trong lũy tre bao quanh làng và được tạo thành bởi đường làng, ngõ xóm và nh à ở Theo số liệu cung cấp của chính quyền xã, diện tích đất tự nhiên của Dục Nội n ăm 1998

là 391 ha, ừ ong đó đất thổ cư là 112 ha, chiếm 28,6 % diện tích của làng

(1) Đ ường làng, ngõ xóm: Bất kì về m ột ngôi làng ở đ ồ n g b ằ n g Bắc Bộ nào ta cũng b ắt gặp h ìn h ả n h n h ữ n g con đ ư ờ n g làng b ằn g đ ấ t q u an h

co, d ẫn đ ế n từ n g ngõ xóm Làng D ục Nội cũng vậy Cách đây 10 năm ,

đ ư ờ n g làng vẫn là n h ữ n g con đ ư ờ n g đ ất quen thuộc Đ ư ờ ng là n g có ba trục đ ư ờ n g chính: đ ư ờ n g N am làng trước đó chỉ là v ư ờ n h o an g , được khôi p h ụ c n h ữ n g năm 1964 -1965; đ ư ờ n g chạy giữa làng v ố n là đ ư ờ n g

1 Đây chi là một số không gian tiêu biểu ở làng Dục Nội tôi muốn tập trung phân tích Cách phân chia là sự tiếp thu từ nghiên cứu của Nguyễn Tùng (2002)

Trang 7

BIẾN DỔI KH Ô N G GIAN LÀNG DỤC NỘI, XÃ V IỆT HÙN G, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI 201

cổ lát gạch; đ ư ờ n g phía Bắc làng chạy theo tuyến đ ư ờ n g sắt Từ năm

1996 - 2000, công tác xây d ự n g cơ bản đã có bước p h át triển mới Được

sự hỗ trợ của cấp trên, xã đã n ân g cấp được hệ thống giao thông với 3

tu y ến đ ư ờ n g trải nhự a dài 5.746 km và 1.642 m đ ư ờ n g gạch, 3.666 m

đ ư ờ n g rải vôi Trong nhiệm kỳ 2000 - 2005, với ngu ồ n vốn do dân đón g góp, xã củ n g đã tiến h à n h xây mới được 1.100 m đư ờ ng gạch, trị giá

187 triệu đồng; 90m đ ư ờ n g bê tông với diện tích 405m2, trị giá 81 triệu đồng; trải vôi được 600m, diện tích 2.400 m 2, trị giá 72 triệu đồng Riêng

th ô n Lỗ Giao được N hà nước đầu tư đổ đ ư ờ n g bê tông dài 1.500 m trị giá h ơ n 400 triệu đồng Trong nhiệm kỳ 2005 - 2010, với n g uồn v ố n từ

hỗ trợ đ ề n bù giải p h ó n g m ặt bằng, đấu giá đất, xã đã xây d ự n g được

21 tu y ến đ ư ờ n g liên th ô n b ằng bê tông với tổng chiều dài 7.930 m 1

Sự tác đ ộ n g của quá trìn h đô thị hóa p h át triển cơ sở hạ tầng là yếu tố chính thúc đẩy sự n â n g cấp hệ th ố n g đư ờ n g làng, ngõ xóm Tuy nhiên,

k h ông gian đ ư ờ n g làng lu ô n gắn liền với n h ữ n g ngôi nh à tầng áp sát hai bên đ ư ờ n g khiến cho d iện tích ngày càng thu hẹp Ta có th ể bắt gặp n g ay hệ th ố n g th o át nước thải chật hẹp, để lộ thiên ngay b ên lối

đi N gôi làn g dư ờng n h ư đã bị "thôn tính" và sau đó th u h ú t vào quá trình m ở rộ n g đô thị Tuy vậy, môi trư ờng xây d ự n g vẫn là môi trư ờng của m ột làng n ô n g th ô n (Trịnh D uy Luân, H ans Schenk, 2001, tr.108)

(2) C ổng làng, giếng làng: c ổ n g làng và giếng làng là hai không

gian k h á đặc trư ng cho làng xã Bắc Bộ Trải qua thời gian và cả n h ữ n g cuộc chiến tran h cũng n h ư quá trình p h á t triển kinh tế - xã hội, n h iều giếng, cổng làng Dục N ội đã bị ph á d ỡ để làm đư ờ n g giao thông, làm

nh à d â n sinh n h ư giếng Đ ình (thôn Đoài); giếng Đ ồng, giếng Khúc, giếng K huyển (thôn Trung); cổng Dâm, cổng G iếng (thôn Đoài); cổng

G iếng Đ ồng, cổng Sang, cổng H ầu, cổng Gạch (thôn Trung); cổng

G iếng Đ ồng, cổng C hùa, cổng Tỵ (thôn Đông)

(3) N hà ở:Trong q u a n niệm của ngư ời d â n làng Dục N ội xưa, nh à ngói đ ư ợ c coi là biểu tư ợ n g của sự giàu có Chỉ có người nào có chức sắc tro n g làn g hay là đ ìn h , chùa, n h à th ờ họ và điếm , và m ột số n h à

1 Tư liệu cung cấp bời chính quyền địa phương năm 2013

Trang 8

202 Ngô Thị C han g

giàu là n h à ngói (5%), toàn bộ còn lại là n h à tran h Có thể n h ậ n thấy, cho tới thời điểm n g h iê n cứu năm 2013, h ơ n 80% ngôi n h à tro n g làng

là n h à tầng, n h ữ n g ngôi n h à m ái ngói chỉ còn lác đác Đô th ị hó a

p h á t triển đặc biệt là tru n g tâm thị trấn Đ ô n g Anh cũng đã có sự ả n h

h ư ở n g đ ến việc lựa chọn kiến trúc nh à tần g , nh à ố ng thay th ế n h à ngói Từ năm 2000 đ ế n nay, p h o n g trào xây d ự n g n h à tần g p h á t triển

n h a n h chó n g khi người d â n thoát ly có đ iề u kiện xây d ự n g n h à cửa

Q uá trìn h bê tô n g hóa đã lột xác n h ữ n g căn n h à lợp ngói, tra n h ngàv nào để p h ú t chốc k h iến người ta cảm n h ậ n được hơi th ở của kiến trúc th à n h thị Tuy n h iên , sự tiếp n h ận và áp d ụ n g cái mới, cái h iện đại m ột cách v ụ n g về vào k h ô n g gian ngôi n h à tru y ền th ố n g n h ư m ở rộng, xóa bỏ kết cấu vốn có của ngôi nh à sẽ k h ô n g th ể cải th iệ n tốt được k h ô n g gian m à còn vô h ìn h p h á h ủ y ch ín h k h ô n g gian đó Đò thị hóa đã ăn sâu vào tâm thức của thế hệ trẻ với m o n g m u ố n th ay đổi

k h ô n g gian tro n g ngôi n h à n h ư n g khi chưa có đ ủ điều kiện tài chính

và am hiểu về n h ữ n g giá trị tru y ền thống th ì hệ lụy p h ải n h ậ n về vô cùng n ghiêm trọng

Thêm vào đó, khác với cách bố trí tạo k h ô n g gian ch u n g tối đa tro n g ngôi nhà tru y ền th ố n g thì trong ngôi n h à tầng hiện n ay chia

th à n h n h ữ n g p h ò n g riêng biệt cho mỗi người Sự kết nối, giao tiếp, chia sẻ giữa các th à n h viên trong gia đình trở n ên lỏng lẻo, n h ạ t nhòa

đi khiến k h oảng cách giữa các thế hệ ngày m ộ t xa Thời gian g ần đây tại làng xuất hiện trào lưu xây n h à cổ Khi k in h tế các gia đình, d ò n g họ được cải thiện, chất lượng cuộc sống n ân g cao thì các dòn g họ m u ố n

p h ụ c hồi lại n h à th ờ họ của m ình N ửa cuối th ập niên th ế kỷ XXI, nh à

cổ đã trở th à n h biểu tư ợng cho sự sành điệu, văn m inh trong suy nghĩ

m ột số bộ p h ậ n người dân Điều đó cho thấy, sự thay đổi tro n g n h ận thức của người dân cùng với tác độn g của đô thị hóa thì n h ữ n g quan niệm về các giá trị cuộc sống của người dần cũ n g thay đổi K hông gian

vư ờn q u an h n h à cũng sự đổi thay, trước kia vườn rộng, n h iều các loại cây ăn quả, rau được trồng cung cấp cho bữa ăn h ằn g ngày Từ khi nhà tần g xuất hiện, d â n số gia tăng, vườn m ất đi để chia đất, xây n h à cho con cháu H iện nay, m ột số người d ân tiến h à n h trồng rau trong n h ữ n g

th ù n g xốp, chậu cảnh thay vì n h ữ n g khu v ư ờ n rộng xưa

Trang 9

BIẾN ĐỔI KHỔNG GIAN LÀNG DỤC NỘI, XÃ V IỆ T HÙN G, HUYỆN ĐÔNG ANH, HÀ NỘI

(4) Chợ: Chợ Dộc ban đ ầu nằm ngoài làng, gần ga c ổ Loa là nơi giao lưu buôn bán không chỉ của người làng m à còn giữa các làng với nhau N ăm 1972, do vị trí gần ga nên chợ đã bị tàn phá bởi bom B52 của Mỹ N h ữ n g năm 1989 - 1990, chợ đã chuyển về gần tru n g tâm trạm

y tế xả, các quầy hàng được bán ở ven đường Lý do để chợ chuyển

về đây không thể không nhắc đến sự có m ặt của một cửa hàng m ậu dịch Đây là giai đoạn m à đời sống sinh hoạt, kinh tế, xã hội diễn ra dưới sự q u ản lý, p h ân phối của N hà nước theo chế độ tem phiếu, chưa được m ua bán tự do và nó còn dư âm đến tận n h ữ n g năm 1990 Cửa

h àn g m ậu dịch này đã tạo điều kiện cho việc chuyển chợ làng về đày bởi đây cũng là nơi tập tru n g đ ến đổi tem phiếu lấy thực phẩm , các m ặt

h àn g gia d ụ n g của người dân trong làng N hữ ng năm 1991 - 1992, hợp tác xã giải thể, cửa h àn g m ậu dịch đóng cửa đất được chia ô để bán, đấu thầu cho các hộ d â n - m ột dấu hiệu của sự kết thúc thời kỳ bao cấp kéo dài, thì chợ làng củng dần dịch chuyển đến vị trí khác gần đó

N ăm 1993 -1994, chợ chính thức chuyển về vị trí hiện nay N ền chợ hiện tại vốn là sân kho của hợ p tác xã, được đấu thầu bán cho người dân Họ

m ua đất xây nhà, m ở các của h àn g bán hoa quả, hàng m ã và tạp h ó a ,

Có thể n h ậ n thấy rằ n g qu á trình biến đổi k h ông gian chợ chịu sự tác đ ộ n g của ba yếu tố khác n h au Đó là chiến tranh; cải cách kinh tế,

t h à n h l ậ p h ợ p t á c x ã v à đ ô t h ị h ó a p h á t t r i ể n c ơ s ở h ạ t ầ n g , p h á t t r i ể n

d o an h n g h iệp nước ngoài đ ã h ìn h th àn h lên khu thư ơ ng m ại th ứ ba

Sự p h á t triển của k h ô n g gian th ư ơ n g mại làng cũng vì thế ở ba cấp độ khác nhau:

• T hứ n h ất, chợ m an g tín h tự cung tự cấp các m ặt h àn g tiêu d ù n g của làng Dục Nội

• T hứ hai, chợ là nơi b u ô n bán, trao đổi của làng, xã và liên xã

• T hứ ba, hình th à n h k h u thư ơ ng m ại m ang tính chất giao lưu,

b u ô n b án của vùng

2.1.2 Không gian canh tác

K hông gian canh tác là k h u đồng, cùng với hệ thống kênh, m ương, cầu, ngòi chiếm diện tích chủ đạo của làng Làng trước kia có các loại

Trang 10

204 Ngô Thị C h an g

ru ộ n g như: ru ộ n g đình, ru ộ n g q uan viên (hàng năm người nào đ ạt tiêu chuẩn thì được n h ậ n làm q uan viên và được cấp ruộng), ru ộ n g chùa, ru ộ n g lính (người th a n h niên bị gọi đi lính thì người nh à sê được cấp từ 1 - 2 sào Bắc Bộ góp p h ầ n nuôi gia đình Khi đi lính về rồi thì

ru ộ n g đó sẽ được chuyển cho nh à khác), ru ộ n g N g u y ên Đ án (ở đ ìn h , làng, họ có ru ộ n g sẽ được giao cho m ột người cấy để th u làm lễ h à n g năm n h ư ngày m ù n g 1 Tết), ru ộ n g đèn hư ơng (làng/họ) để th u h o a lợi phục vụ việc đ èn h ư ơ n g th ờ p h ụ n g quanh năm Tất cả các loại ru ộ n g đều n h ằm p hục vụ cho thể lệ của làng Cải cách ru ộ n g đ ất h a y tập tru n g ru ộ n g đ ất vào hợp tác xã n ô n g nghiệp cũng đã làm biến d ạn g

m ột p h ầ n địa giới đ ấ t canh tác n h ư n g cho đ ế n n h ữ n g năm 90 của thế

kỷ XX dân số tăng n h a n h , kinh tế p h át triển, ảnh h ư ở n g của đ ô thị hóa khiến nghề n ô n g k h ô n g còn là sinh kế chính của người d â n làng Dục Nội Cho đ ến thời điểm nghiên cứu năm 2013, n ô n g n g h iệ p chỉ được coi n h ư m ột p h ư ơ n g thức an toàn lương thực trong các h ộ gia

đ ìn h ở làng và đổi lại, n g u ồ n th u n h ập chính từ kinh d oanh, b u ô n bán

và th am gia lao đ ộng tro n g các k hu công nghiệp là chủ yếu

2.1.3 Không gian thiêng

(1) Đình: L à n g Dục Nội có hai đình Đ ình Trung vốn là tru n g tâm sinh hoạt văn hóa cộng đồn g của người dân thôn Đ ông và thôn Trung

Đ ình Trung có kiến trúc bề thế với nhiều hạng m ục n h ư Nghi m ôn, Tiền

tế, Đại đình, tả vu, h ữ u vu Đ ình Trung thờ ba vị là Đ ống Linh Lang Đại vương, Thiên C ương Đại vương và tướng q uân Ngô Đễ Cuối năm

1949, do tiêu thổ khán g chiến nên đình Trung bị tháo dỡ và phá hủy, đất của đình hiện nay làm trụ sở UBND xã Việt H ùng Bên cạnh đó, đình Đoài cũng là m ột tru n g tâm sinh hoạt cộng đồn g quan trọng ở làng

Đ ình th ờ Đ ống Lang Linh th ần Đại vương và Thiên Cương thần tướng Đại vương Đ ình hư ớng Đông, phía trước có sân rộng lát gạch, nghi

m ôn liền tường bao phía trước, ngoài cổng có dấu tích ao đình h ìn h bán nguyệt N gày nay, tả vu, h ữ u vu của đình được tận d ụ n g làm n h à giữ trẻ Sân đình vì thế cũng là nơi vui chơi, học tập của trẻ em trong làng Chức n ăng tôn giáo, tín ngư ỡng của đình vì thế được ph a trộn với đời sống thế tục Tuy vậy, vào ngày hội làng, đình vẫn là nơi diễn ra các nghi

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w