1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoàn thiện các thiết chế nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của spin-off trong các trường đại học của Việt Nam

92 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu của Consiglo và Antonelli 2001 về sự hình thành và phát triển của DN spin-off trong tổ chức hàn lâm academic spin-off thực hiện đã đưa ra khái niệm cơ bản, nhận dạng sự hình

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội-2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60.34.72

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Học

Hà Nội-2014

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU 6

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

3 Mục tiêu nghiên cứu 15

4 Phạm vi nghiên cứu 15

5 Mẫu khảo sát 16

6 Câu hỏi nghiên cứu 16

7 Giả thuyết nghiên cứu 16

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết 17

9 Kết cấu luận văn 17

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SPIN-OFF TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 18

1.1 Spin-off 18

1.1.1 Định nghĩa về Spin-off 18

1.1.1.1 Trong nước 19

1.1.1.2 Quốc tế 18

1.1.2 Các điều kiện hình thành và phát triển của spin-off 22

1.1.2.1 Vấn đề công nghệ trong các spin- off 23

1.1.2.2 Người sáng lập 25

1.1.2.3 Vốn đầu tư 26

1.1.2.4 Mạng lưới 28

1.2 Thiết chế 30

1.2.1 Định nghĩa về thiết chế 30

1.2.2 Chính sách trong hệ thống thiết chế quản lý 32

1.3 Hiệu quả hoạt động của các Spin-off trong trường Đại học 32

1.3.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động hoạt động 32

1.3.2 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của spin-off trong trường đại học 33

Trang 4

1.3.2.1 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phục vụ mục tiêu đào

tạo 33

1.3.2.2 Tạo ra văn hóa kinh doanh và tăng cường mối liên kết đại học – doanh nghiệp 34

1.3.2.3 Khuyến khích sáng tạo và đổi mới 35

Kết luận chương 1 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC THIẾT CHẾ ĐỐI VỚI SPIN-OFF TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 36

2.1 Khái quát chung về các loại hình tổ chức trong trường Đại học tại Việt Nam hiện nay 36

2.1.1 Các loại hình tổ chức thường thấy trong trường đại học tại Việt Nam 36

2.1.2 Cơ bản về loại hình doanh nghiệp trong trường đại học tại Việt nam 36

2.2 Các thiết chế đối với Spin-off trong trường Đại học tại Việt Nam 37

2.2.1 Nguồn gốc của spin-off 37

2.2.2 Chính sách đối với spin-off trong trường đại học 38

2.3 Chính sách hỗ trợ phát triển spin-off trong trường đại học 44

2.3.1 Thành lập và đăng ký hoạt động của spin-off 44

2.3.2 Hình thức sở hữu 44

2.3.3 Chính sách hỗ trợ spin-off và doanh nghiệp KH&CN 44

2.3.3.1 Chính sách của nhà nước 44

2.3.3.2 Chính sách của trường đại học 47

2.4 Trường hợp Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội 48

2.4.1 Khái quát về trường đại học Khoa học Tự nhiên 48

2.4.2 Một số điều kiện cho sự hình thành và phát triển của spin-off 49

2.4.2.1 Nguồn nhân lực 49

2.4.2.2 Hoạt động khoa học và công nghệ 50

2.4.2.3 Hoạt động đăng ký sở hữu trí tuệ và dịch vụ khoa học và công nghệ 52

2.4.3 Một số rào cản và nguyên nhân 54

2.4.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoa học Tự nhiên 55

2.4.2.1 Đôi nét về công ty trách nhiệm hữu hạn Khoa học Tự nhiên 55

2.4.2.2 Thực trạng hoạt động 55

Trang 5

2.4.2.3 Một số điều kiện để hình thành và phát triển các spin-off trong trường đại

học Khoa học Tự nhiên 58

Kết luận chương 2 60

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THIẾT CHẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP SPIN-OFF TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA VIỆT NAM 61

3.1 Các thiết chế chung 61

3.1.1 Hoàn thiện cơ chế sử dụng và chuyển giao quyền sử dụng các kết quả từ các nghiên cứu tạo ra bằng nguồn ngân sách nhà nước 61

3.1.2 Chính sách hỗ trợ của chính phủ cho spin-off 64

3.2 Các thiết chế trong trường đại học 68

3.2.1 Quản lý tài sản trí tuệ trong trường đại học 68

3.2.2 Lập bộ phận quản lý và chuyển giao tài sản trí tuệ 70

3.2.3 Chính sách đầu tư cho nghiên cứu khoa học và phát triển nguồn nhân lực KH&CN 72

3.2.4 Xây dựng chương trình đào tạo tinh thần kinh thương trong trường đại học 74

3.2.5 Chính sách thu hút đầu tư của trường đại học 75

3.3 Khuyến nghị đối với Chính phủ 75

3.4 Khuyến nghị đối với các nhà sáng lập của spin-off trong trường đại học 76

3.5 Các khuyến nghị đối với nghiên cứu trường hợp Trường đại học Khoa học Tự nhiên và công ty Trách nhiêm hữu hạn Khoa học Tự nhiên 77

Kết luận chương 3 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 80

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Tiến sĩ Nguyễn Văn Học, giáo viên hướng dẫn của tôi trong suốt thời gian tiến hành luận văn Thầy đã cho tôi rất nhiều uỹ thời gian quý báu của thầy để bình luận, đóng góp những ý kiến xác đáng và khơi gợi cho tôi những ý tưởng hay từ những trang viết đầu tiên đến khi luận văn dược hoàn thành

Tôi xin được gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Thầy Vũ Cao Đàm và Thầy Đào Thanh Trường Các thầy đã cho tôi những định hướng từ khi có ý tưởng sơ khai của đề cương cho đến khi tôi chọn được hướng đi phù hợp cho đề tài của mình

Lời cảm ơn của tôi xin được gửi đến Anh Nguyễn Ngọc Dương, phòng khoa học – công nghệ, chị Nguyễn Thị Hải, công ty TNHH Khoa học Tự nhiên Một phần kiến thức thực tiễn lớn trong luận văn với nghiên cứu trường hợp trường Đại học KHTN sẽ không được hoàn thành nếu không có sự giúp đỡ nhiệt tình và góp ý của các anh chị Cùng rất nhiều thầy cô của trường mà tôi đã có dịp trao đổi xung quanh một số vấn đề của luận văn trong quá trình tôi tiến hành khảo sát

Trong quá trình làm luận văn sẽ rất khó khăn nếu thiếu sự giúp đỡ về tài liệu và kinh nghiệm thực tế của Anh Hoàng Văn Tuyên, chị Nguyễn Thị Minh Nga, Viện Chiến lược và Chính sách khoa học và công nghệ; Chị Lê Thanh Hiếu, chị Nguyễn Thị Hiền, Sở khoa học và công nghệ Hà Nội; Anh Trần Văn Dũng, cựu học viên chuyên

ngành khoa học và công nghệ khóa 2005-2008 của trường

Lời cảm ơn chân thành xin được gửi đến người bạn đặc biệt của tôi, anh Jürgen Ott bởi những kinh nghiệm thực tiễn mà anh cung cấp, những quan tâm và động viên của anh trong suốt thời gian tôi làm luận văn

Cảm ơn những người bạn thân thiết của tôi, bạn Đỗ Thị Loan Phượng, Nguyễn Thị Thanh Phương vì những hỗ trợ và quan tâm chân thành của các bạn

Cảm ơn gia đình, bố, mẹ, các anh, chị của tôi vì tất cả

Trang 8

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU

1 Sơ đồ 1.1 Khuôn khổ cho việc thiết lập spin-off trong trường đại học

2 Hình 1.1 Các lĩnh vực hoạt động của spin-off

3 Hình 1.2 Top 20 trường có số lượng spin-off nhiều nhất tại Anh

4 Bảng 2.1: Cơ cấu các tổ chức đào tạo và nghiên cứu Trường đại học Khoa

học Tự Nhiên từ năm 2006 – 2011

5 Bảng 2.2: Cơ cấu đội ngũ cán bộ khoa học Trường đại học Khoa học Tự

Nhiên từ năm 2006 – 2011

6 Bảng 2.3: Số lượng đề tài các cấp và kinh phí thực hiện từ năm 2006-2011

Trường đại học Khoa học Tự Nhiên

7 Bảng 2.4: Số lượng các công trình công bố giai đoạn 2006-2011 Trường đại

học Khoa học Tự Nhiên

8 Bảng 2.5: Đăng ký sở hữu trí tuệ giai đoạn 2006-2011 Trường đại học Khoa

học Tự Nhiên

9 Bảng 2.6: Khen thưởng về khoa học và công nghệ giai đoạn 2006-2011

Trường đại học Khoa học Tự Nhiên

Trang 9

về hình thức và cách thức hoạt động của các trường ĐH, mối liên hệ của ĐH với Chính phủ, khu vực tư nhân, khu vực công nghiệp, thị trường Với 3 chức năng chính của trường ĐH là nơi sản sinh ra tri thức, chuyển tải tri thức ra cộng đồng và ứng các tri thức đó trong thực tiễn để tạo ra của cải cho xã hội, ĐH là nơi hội tụ của mọi nguồn tri thức, và trong một thế giới đang thay đổi, biến động mạnh mẽ, các trường ĐH đang có bước chuyển mình mạnh mẽ để thích ứng và phù hợp hơn với thời đại Thật không quá ngạc nhiên khi ngày nay chúng ta thấy sự xuất hiện của rất nhiều hình thức tổ chức trong một trường ĐH như vườn ươm DN, các công ty trong trường ĐH, các trung tâm thực hiện chức năng dịch vụ xã hội, trong đó không thể không kể đến một loại hình tổ chức trong trường ĐH đó là các spin-off

Về khía cạnh thực tế: mô hình spin-off trong trường ĐH đã tồn tại từ lâu trên thế giới Đây là một mô hình hiện đại và có tính ưu việt rất lớn khi nó nằm trong một trường ĐH, tuy nhiên dường như những ưu điểm của mô hình này chưa thật sự được phát huy trong các trường ĐH ở Việt Nam và chưa thật sự dành được sự quan tâm nhất định ở cả tầm vĩ mô (chính phủ) và vi mô (bản thân các trường ĐH)

Về khía cạnh học thuật: ở Việt Nam, không nhiều các công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và đầy đủ về spin-off, có chăng chỉ đề cập ở một hay những khía cạnh có liên quan đến mô hình này Các nghiên cứu lý luận và phương pháp luận còn khuyết thiếu, chưa đưa ra được một cách hệ thống

Trang 10

Có thể nói, những hạn chế trên cả hai bình diện lý thuyết và thực tế này xuất phát

từ nhiều nguyên nhân ở cả vĩ mô và vi mô, khách quan và chủ quan Ở tầm vĩ mô, mặc

dù đã có những nỗ lực to lớn trong việc đầu tư vào các trường ĐH nhiều hơn, cải cách

hệ thống trường ĐH, tăng cường các chính sách ưu đãi cho ĐH, tuy nhiên điều quan

trọng nhất là thiết chế cho sự hoạt động của các tổ chức đa dạng như Spin-off trong

trường ĐH lại chưa hoàn thiện, chưa tạo được động lực và khuyến khích cho sự phát triển Ở tầm vi mô, có một khoảng trống khi nhận thức về giá trị mà Spin-off tạo ra cho trường ĐH (tổ chức mẹ của các Spin-off), do vậy mà chưa có chiến lược phát triển đúng đắn cũng như là các hỗ trợ đầy đủ mang tính khuyến khích đối với Spin-off Bên cạnh còn nhiều yếu tố khác như năng lực KH&CN nói chung, khả năng đổi mới và tiềm lực của trường ĐH

Là một trường ĐH có thế mạnh về đào tạo và NCKH thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, trường ĐH Khoa học Tự nhiên là nơi hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi về nguồn lực Hoạt động NCKH phát triển mạnh hoàn toàn có khả năng ứng dụng vào thực tiễn các kết quả nghiên cứu theo những dạng thức khác nhau Để đẩy nhanh việc ứng dụng

và chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, năm 2004 nhà trường đã thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Khoa học tự nhiên với mục tiêu Tuy nhiên do mô hình tổ chức và hoạt động vẫn chưa hoàn thiện nên hiệu quả trên thực tế còn nhiều hạn chế Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ cố gắng nhận diện thực trạng spin-off trong các trường ĐH, các rào cản và hạn chế ở tiếp cận liên quan đến các thiết chế cho spin-off trong trường ĐH từ đó có thể đề xuất được giải pháp hoàn thiện thiết chế nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các spin-off trong trường ĐH thông qua một trường hợp nghiên cứu Tác giả hy vọng đóng góp thêm cho các vấn đề lý thuyết về spin-off trong trường ĐH cũng như thực tiễn trong chính sách cho sự ra đời và phát triển của spin-off trong trường ĐH Đó chính là lý do tôi lựa chọn đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý

KH&CN về “ Hoàn thiện các thiết chế nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các

Spin-off trong trường ĐH của Việt Nam”

Trang 11

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong nước

Ở Việt Nam, loại hình này đã được bàn đến theo cách tiếp cận trực tiếp hoặc gián tiếp nhưng còn rất hạn chế Một số tác giả có nhắc đến spin-off thông qua các nghiên cứu khác nhau như:

Tác giả Bạch Tân Sinh và cộng sự (2005) trong nghiên cứu bàn về khái niệm và

quá trình hình thành DN KH&CN.Trong đó phân tích rõ bản chất loại hình DN KH&CN, xác định các điều kiện hình thành DN KH&CN, nghiên cứu mô hình chuyển đổi tổ chức NC&TK sang cơ chế DN

Nghiên cứu của Hoàng Văn Tuyên (2005) – Viện chiến lược và chính sách

KH&CN khi nghiên cứu về khái niệm và kinh nghiệm quốc tế về mô hình DN KH&CN, các hình thức đầu tư tài chính cho loại hình DN này

Tác giả Trần Xuân Định (2005) – Bộ KH&CN bàn về mô hình DN KH&CN và

khả năng áp dụng ở Việt Nam [9, tr10]

Tác giả Võ Văn Tới (2005) – ĐH Tufft Hoa Kỳ lại bàn về việc phát triển loại

hình DN này ở Mỹ và khả năng phát triển ở Việt Nam theo hai cách thức chính để đưa sản phẩm nghiên cứu ra thị trường dưới dạng sản phẩm hàng hóa: Cách thứ nhất là do chính phủ tài trợ, theo hai chương trình (1) SBIR – Small Business Innovation Research, người chủ trì dự án phải thuộc một công ty nhỏ, có thời gian làm cho dự án cũng như trong công ty đó ít nhất 51% trong khoảng thời gian được tài trợ (2) STTR – Small Business Technology Transfer, theo chương trình này người chủ trì dự án phải

có liên hệ với một công ty nhỏ, người đó có quyền tiếp tục công việc của mình trong trường ĐH hoặc trong cơ quan nghiên cứu khi làm dự án và thời gian làm việc cho dự

án phải ít nhất là 30% [9, tr 10]

Tác giả Nguyễn Quân (2006), Bộ KH&CN đề cập đến khái niệm về DN

KH&CN, chính sách đối với DN KH&CN, một số vấn đề cần quan tâm khi chuyển đổi các tổ chức KH&CN công lập thành DN KH&CN Tác giả coi đây là “quả đấm thép„ của nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập

Trang 12

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Học - Viện chiến lược và chính sách KH&CN đã đề cập đến kinh nghiệm quốc tế như của Canada, Liên Bang Nga, Mỹ,

Nhật Bản, Hàn Quốc về tổ chức và hoạt động của DN KH&CN và khả năng áp dụng vào Việt Nam, kinh nghiệm quản lý nhà nước về DN KH&CN trong các bài có liên quan

Tác giả Nguyễn Thị Minh Nga và cộng sự (2006) - Viện chiến lược và chính

sách KH&CN bàn về các khía cạnh pháp lý của DN KH&CN như các thủ tục thành lập

DN, hình thức hoạt động, tổ chức và quản lý, liên kết nghiên cứu, các chính sách hỗ trợ

DN KH&CN

Đề cập trực tiếp đến spin-off trong luận văn thạc sĩ của Trần Văn Dũng (2008)

về Điều kiện hình thành DN spin-off trong các trường ĐH ở Việt Nam (Nghiên cứu

trường ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐHQGH, tác giả đưa ra 3 điều kiện hình thành được

DN spin-off trong các trường ĐH, đó là: CN có bản quyền, đội ngũ nhà khoa học có tinh thần kinh thương và có vốn đầu tư

Bên cạnh đó DN spin-off cũng được đề cập đến trong một số các nghiên cứu có liên quan đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, các nghiên cứu về ĐH DN (Trần Anh Tài, Trịnh Ngọc Thạch, 2013; Đặng Duy Thịnh, 2003); nghiên cứu đổi mới (Nguyễn Văn Học, 2008), nghiên cứu về quản lý, chính sách (Vũ Cao Đàm, 2007, 2009)

Những nghiên cứu trên đây phần lớn mang tính tổng luận về DN spin-off Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy bức tranh tổng thể của loại hình này, hình thức tổ chức và hoạt động cũng như một số bài học gợi suy cho Việt Nam Tuy nhiên, một mô hình cụ thể trong trường ĐH và các cơ chế cần thiết cho mô hình này hoạt động thì chưa được nghiên cứu thấu đáo và là vấn đề còn bỏ ngỏ

Quốc tế:

Có số lượng lớn các công trình nước ngoài đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau

về Spin-off Khái niệm DN Spin-off đã xuất hiện đầu tiên tại Hoa Kỳ vào những năm cuối của thập kỷ 1980 xuất phát từ việc nhằm khuyến khích người nghiên cứu biến ý

Trang 13

tưởng khoa học thành sản phẩm, sản xuất và thương mại hóa được những kết quả này Cuối thập kỷ 1980, chính phủ Hoa Kỳ đã có chương trình nghiên cứu đổi mới (SBIR)

và hỗ trợ chuyển giao (SBTT) hướng vào các DN nhỏ Thông qua các chương trình này, nhiều mô hình DN KH&CN dưới dạng spin-off đã được hình thành Theo đó DN spin-off là một dạng công ty mẹ, công ty con Công ty con được tách ra từ mẹ để triển khai một kết quả nghiên cứu, nhưng vẫn chịu sự điều hành, chi phối của công ty mẹ

Mô hình này cũng được áp dụng để kết nối mối liên hệ giữa các công ty và tổ chức thuộc khối nghiên cứu hàn lâm [5,tr 22]

Steffensen, Rogers, Speakman (1999) và Roberts, Malone (1996) tập trung làm

rõ hơn vai trò của bốn nhóm tác nhân chính tham gia vào quá trình hình thành spin-off bao gồm: (1) người tạo ra CN - technology originator; (2) Tổ chức mẹ - Parent Organization; (3) Nhà nghiên cứu hoặc một nhóm nhà nghiên cứu có tinh thần kinh thương – the entrepreneur or the entrepreneurial team; (4) Nhà đầu tư mạo hiểm – the venture investor

Nghiên cứu của Consiglo và Antonelli (2001) về sự hình thành và phát triển của

DN spin-off trong tổ chức hàn lâm (academic spin-off) thực hiện đã đưa ra khái niệm

cơ bản, nhận dạng sự hình thành của các DN spin-off do các nhà khoa học thành lập trong đó đánh giá vai trò của các nhóm tác nhân xã hội đóng góp vào sự hình thành loại

tổ chức mẹ Đây là quá trình chuyển giao những tri thức dưới dạng ẩn nằm trong những

Trang 14

nhà khoa học, khác với cơ chế thương mại hóa CN thông qua bán CN, chuyển nhượng hay bán quyền sử dụng bản quyền hoặc liên doanh

Ndonzuau, Pirnay và Surlemont (2002) phân tích quá trình hình thành DN

spin-off dưới góc độ chuyển giao kết quả nghiên cứu từ tổ chức R&D vào thị trường, hình thành DN khoa học là hình thức chuyển giao CN có hiệu quả Hàng loạt các vấn đề đặt

ra khi hình thành DN spin-off được đề cập đến như sự cần thiết hình thành vốn đầu tư mạo hiểm cho các nhà khoa học có tinh thần kinh thương, vai trò của khu CN cao trong việc tạo điều kiện cho các spin-off hoạt động trong giai đoạn đầu Theo nghiên cứu của các tác giả, quá trình hình thành DN khoa học spin-off gồm 4 giai đoạn: (1) Tạo nên ý tưởng kinh doanh từ kết quả nghiên cứu; (2) Hình thành những dự án đầu tư dựa trên những ý tưởng kinh doanh; (3) Thành lập DN spin-off từ những dự án đầu tư trên; (4) Tiếp tục hoàn thiện và khẳng định sự phát triển của DN

Nghiên cứu của Achim Walter, Michael Auer, Thomas Ritter (2005) về “Tác

động của năng lực mạng lưới và định hướng kinh doanh đến hiệu quả của spin-off trong trường ĐH„ Dựa trên cơ sở dữ liệu của 149 spin-off trong trường ĐH , nghiên

cứu điều tra tác động của năng lực mạng lưới, được định nghĩa là khả năng của một tổ chức phát triển và sử dụng các mối quan hệ liên tổ chức và định hướng kinh doanh về hoạt động của tổ chức Kết quả cho thấy hiệu suất của một spin-off chịu ảnh hưởng tích cực của năng lực mạng lưới và định hướng thương mại của spin-off thúc đẩy lợi thế cạnh tranh [41,tr 401]

Luận án tiến sĩ của Elco Van Burg (2010) đề cập đến các phương thức để thúc

đầy việc hình thành các spin-off trong các trường ĐH Trong đó tác giả đi trả lời câu hỏi quan trọng như: làm thế nào mà cách thức tổ chức của một trường ĐH có thể thúc đẩy sự hình thành của các spin off trong trường ĐH? Cách nhìn nhận đúng đắn về tinh thần kinh thương trong trường ĐH? Các mối liên hệ nào ảnh hưởng đến sự phát triển của các spin-off trong trường ĐH? Đây là công trình công phu của tác giả với hai phần trong chương 5 và 6 rất được tác giả nhấn mạnh đó là chiến lược tạo ra các spin-off và đánh giá ở khía cạnh đạo đức của việc hình thành các spin-off trong trường ĐH

Trang 15

Bên cạnh đó, có một số nghiên cứu đề cập đến vai trò của DN spin-off đối với

nền kinh tế địa phương, còn có nghiên cứu của OECD (2003) đưa ra khuyến nghị về

chính sách trong đó nhấn mạnh quan điểm cho rằng chính sách hỗ trợ hình thành các

DN khoa học spin-off không chỉ đề cập đến việc sản nghiệp hóa các CN do các tổ chức R&D nhà nước tạo nên Nhà nước cần sử dụng các DN khoa học spin-off như là phương thức khuyến khích phát triển vùng, hỗ trợ các mạng lưới viện và DN ở địa phương, phát triển các ngành công nghiệp mới dựa trên CN và tạo nên môi trường thuận lợi hỗ trợ các nhà khoa học có tinh thần kinh thương Vai trò của các tổ chức DN khoa học spin-off không chỉ thuần túy được thể hiện ở kết quả kinh tế thông qua sản nghiệp kết quả nghiên cứu mà còn được thể hiện trong việc liên kết giữa khu vực R&D với khu vực sản xuất

Cùng đề cập đến tác động spin-off đến kinh tế địa phương Có thể kể đến nghiên

cứu của Bruce P Clayman và Adam Holbrook (2003) về mối quan hệ của spin-off với

phát triển kinh tế địa phương (The Survival of University Spin-offs and their relevance

to regional development) Nghiên cứu của Paul Benneworth, David Charles (2006) về

Chính sách cho spin-off trong trường ĐH và phát triển kinh tế ở những vùng khó khăn,

kinh nghiệm thực tiễn chính sách từ hai thập kỷ (University spin-off policies and

economic development in less sucessful regions: learning from two decades of policy

practice).Nghiên cứu của Harald Bathelt, Dieter F Kogler, Andrew K.Munro (2010)

về spin-off trong trường ĐH – mô hình DN dựa trên tri thức khoa học trong phát triển

kinh tế địa phương, (A knowledge-based typology of university spin-offs in the context

of regional economic development) Nghiên cứu của Bruce P Clayman và Adam

Holbrook (2003) về thương mại hóa tài sản trí tuệ như là một yếu tố có tầm quan trọng

đặc biệt đối với đổi mới ở Canada

Theo tổng hợp trong nghiên cứu của tác giả Bạch Tân Sinh và cộng sự (2005),

bên cạnh những nghiên cứu về DN khoa học spin-off ở các nước phát triển, còn xuất hiện những nghiên cứu về DN khoa học spin-off ở các nước đang chuyển đổi từ kinh tế

chỉ huy tập trung sang nền kinh tế thị trường Trong đó có nghiên cứu của Gu Shulin

Trang 16

(1994) với nhận dạng 3 hình thức DN khoa học spin-off chủ yếu gồm: (1) DN khoa

học hình thành từ một bộ phận của viện nghiên cứu; (2) DN khoa học hình thành từ những tài năng đơn lẻ trong viện nghiên cứu; (3) DN khoa học hình thành từ việc tổ chức lại một phòng, ban của viện để hoạt động thương mại nhưng vẫn duy trì như một

bộ phận của viện mẹ

Cùng với đó, spin-off còn được đề cập đến ở nhiều giác độ khác nhau trong các

nghiên cứu về thương mại hóa CN (Manuela Pérez Pérez,Angel Martínez Sánchez, 2003), Kevin T Wayne, Rivier Colleague (2010); đổi mới quản lý của viện công lập (Andy Lockett, Donald Siegel, Mike Wright, Michael D Ensley, 2005), vai trò của

spin-off với đổi mới (Anna Lejpras, 2012); vai trò của spin-off trong trường ĐH trong việc tăng cường liên kết khu vực hàn lâm (trường ĐH, viện nghiên cứu) với khu vực công nghiệp (John Ssebuwufu, Teralynn Ludwick, Margaux Béland, 2012; M.Esham,

2008),

Ngoài ra còn có các nghiên cứu trường hợp thành lập spin-off trong trường ĐH

tại các quốc gia khác nhau như nghiên cứu của Rebecca De Coster, Clive Butler (2003) về đặc điểm của các công ty trong trường ĐH ở Anh (Assessment of proposals

for new technology ventures in the UK: characteristics of university spin-off

companies) Nghiên cứu của Vittorio Chiesa , Andrea Piccaluga (2000) về sự phổ biến

các nghiên cứu công thông qua thành lập các DN vệ tinh hàn lâm (academic spin-off

companies) kinh nghiệm từ Italia ( Exploitation and diffusion of public research: the

case of academic spin-off companies in Italy) và Barbara Bigliardi, Francesco Galati,

Chiara Verbano (2013), Evaluating Performance of University Spin-Off Companies:

Lessons from Italy Nghiên cứu của Réjean Landry, Nabil Amara, Imad Rherrad (

2006) về sự hình thành của các spin-off trong trường ĐH ở Canada (Why are some

university researchers more likely to create spin-offs than others? Evidence from

Canadian universities) Nghiên cứu của Philippe Mustar, Mike Wright and Bart

Clarysse (2008) về kinh nghiệm của các nước châu Âu đối với các spin-off trong

trường ĐH đồng thời khuyến nghị các chính sách cần thay đổi đối với hình thức tổ

Trang 17

chức này Nghiên cứu của hai tác giả Henning Kroll, Ingo Liefner (2008) về các DN

spin-off như một công cụ để thương mại hóa CN trong nền kinh tế chuyển đổi, nghiên

cứu trường hợp 3 trường ĐH ở Trung Quốc (Spin-off enterprises as a means of

technology commercialisation in a transforming economy—Evidence from three universities in China)

Như vậy, có thể nói DN spin-off trong trường ĐH đã được đề cập đến ở một mức

độ sâu rộng, trên nhiều bình diện, ở nhiều đối tượng và khu vực được khảo sát Các nghiên cứu đã thể hiện các nhìn đa chiều và phân tích sâu sắc về đặc điểm, vai trò, tác động, sự hình thành và phát triển của spin-off trong trường ĐH trong hàng thập kỷ qua

từ khi mô hình này xuất hiện và được công nhận rộng rãi với vai trò quan trọng của

nó Đặc biệt sự quan tâm về mô hình này những nghiên cứu thời gian gần đây càng khẳng định hơn nữa mô hình này vẫn đang giữ một vị trí quan trọng, có ý nghĩa lớn trong sự phát triển của trường ĐH nói riêng, đối với địa phương và quá trình phát triển kinh tế và đổi mới nói chung

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đưa ra giải pháp hoàn thiện về thiết chế cho spin-off trong các trường Đại học tại Việt Nam nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động cho loại hình tổ chức này

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Thực trạng spin-off trong trường ĐH

- Thực trạng các thiết chế đối với spin-off Có các chính sách nào điều chỉnh đối với spin-off Các chính sách nào tốt đang tạo điều kiện thuận lợi cho Spin-off Các chính sách nào có hạn chế, là rào cản đối với spin-off trong trường ĐH

- Phân tích nguyên nhân của các rào cản

- Đưa ra giải pháp hoàn thiện về mặt thiết chế nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các spin-off trong trường ĐH

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: các thiết chế đối với spin-off trong trường ĐH

- Phạm vi thời gian: 1987 đến nay (Quyết định 134/HĐBT năm 1987)

Trang 18

- Phạm vi không gian: Một số trường ĐH khu vực miền Bắc

5 Mẫu khảo sát

- Nghiên cứu trường hợp Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội

6 Câu hỏi nghiên cứu

- Câu hỏi chủ đạo:

• Hoàn thiện thiết chế cho spin-off trong các trường ĐH như thế nào?

- Câu hỏi bổ trợ:

• Thực trạng hoạt động của spin-off trong trường ĐH như thế nào?

• Nhận diện thiết chế đối với Spin-off ? Các thiết chế này đã và đang điều chỉnh spin-off như thế nào?

7 Giả thuyết nghiên cứu

- Giả thuyết cho câu hỏi chủ đạo:

 Việc hoàn thiện thiết chế bao gồm:

Hoàn thiện về mặt cơ cấu tổ chức và chức năng của các loại hình trong việc

tham gia và hỗ trợ vào quá trình hình thành và phát triển của spin-off (bao gồm: trường

ĐH, các tổ chức trong trường ĐH như văn phòng CGCN, văn phòng SHTT; các cơ quan thuộc chính phủ, các Doanh nghiệp trong mạng lưới liên kết với trường ĐH)

Hoàn thiện các chính sách cả vĩ mô (chính phủ) và vi mô (trường ĐH) cho việc

hình thành và phát triển của spin-off trong trường ĐH

- Giả thuyết cho câu hỏi bổ trợ:

• Hình thức công ty, doanh nghiệp trong trường ĐH đã tồn tại từ lâu nhưng chưa thật sự mang dáng dấp của DN spin-off, cũng như chưa tận dụng và phát huy được kết quả của các nghiên cứu và thế mạnh của trường ĐH, chưa thực hiện được vai trò là động lực và cầu nối giữa trường ĐH với DN, nghiên cứu với sản xuất, thị trường

• Các thiết chế được xem xét ở hai tầm: Vĩ mô và vi mô, các thiết chế này bao gồm:

- Vĩ mô: chính sách của chính phủ: bao gồm luật và một số văn bản dưới luật

như luật DN, luật KH&CN, luật đất đai

Trang 19

- Vi mô: Các chính sách của trường ĐH đối với DN thành lập trong trường ĐH

8 Phương pháp chứng minh giả thuyết

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: nghiên cứu tài liệu và thu thập thông tin về

trường ĐH, spin-off, thương mại hóa kết quả nghiên cứu của trường ĐH, chính sách của chính phủ đối với doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng công nghiệp và thực trạng mạng lưới tổ chức tham gia hỗ trợ hình thành spin-off

- Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia: phỏng vấn các chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong nghiên cứu về trường ĐH, các cá nhân thuộc các phòng ban khác nhau trong trường ĐH, chuyên gia phân tích chính sách, chuyên gia về Spin-off, chuyên gia về quản lý KH&CN

9 Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về Spin-off trong trường Đại học

Chương 2 Thực trạng các thiết chế đối với Spin-off trong trường Đại học tại Việt Nam hiện nay

Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện thiết chế đối với doanh nghiệp spin-off trong trường đại học của Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SPIN-OFF TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Spin-off

1.1.1 Định nghĩa về Spin-off

1.1.1.1 Trong nước

Theo tác giả Phạm Huy Tiến, spin-off là những “DN được hình thành do một

(hoặc nhóm) nhà khoa học – sáng lập viên có tinh thần kinh thương tách khỏi “ tổ chức mẹ„ (trường ĐH, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm quốc gia hay một DN để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh độc lập mới Tổ chức mẹ hỗ trợ cho DN spin-off bằng cách cho phép chuyển giao tri thức, năng lực hoặc các phương tiện trực tiếp„ 1

Theo tác giả Trần Xuân Hoài, “ DN spin-off là một bộ phận hữu cơ của cơ sở

nghiên cứu (viện hay trường ĐH) nhưng hoạt động theo Luật DN “ Hàm lượng chất xám„ chính là điều kiện tiên quyết của DN và khiến nó khác biệt với các DN khác DN

là một khối gắn kết cố định phòng thí nghiệm – nhà khoa học – nhà sản xuất, nó vừa tạo quyền chủ động cho nhà khoa học, vừa giúp nhanh chóng đưa sản phẩm CN cao ra thị trường„2

Tác giả Nguyễn Quân cho rằng “ hình thức DN spin-off do người sáng tạo hoặc

người chủ sở hữu CN đó sáng lập (góp phần và huy động vốn) nhằm đưa kết quả NCKH vào ứng dụng trong sản xuất, tạo ra sản phẩm hàng hóa mang hàm lượng chất xám cao cho xã hội là phương thức để nhà khoa học tự chủ, tự chịu trách nhiệm đến cùng với kết quả nghiên cứu của mình DN spin-off gắn bó hữu cơ với cơ sở nghiên cứu, hình thành trên nền kết quả KH&CN của cơ sở nghiên cứu tạo ra và do những người sáng tạo ra cùng với cơ sở nghiên cứu sáng lập và điều hành, hoạt động theo quy định của luật DN và các quy định khác của pháp luật hiện hành„3

Trang 21

Trong nghiên cứu về “Kinh nghiệm một số nước về tổ chức và hoạt động của DN

KH&CN, khả năng áp dụng vào Việt Nam„tác giả Nguyễn Văn Học đưa ra khái niệm

Xí nghiệp spin-off: “Là loại hình DN trưởng thành trên cơ sở thương mại hóa một

hoặc nhiều CN được ươm tạo trực tiếp tại viện/trường, vườn ươm CN Nó là giai đoạn cuối của xí nghiệp khởi nghiệp 4 - giai đoạn trưởng thành„[8, tr2]

Tác giả Trần Văn Dũng (2008) đưa ra khái niệm DN off như sau: “DN

spin-off là một hệ thống (hệ con) được hình thành do một số phần tử nòng cốt là những nhà khoa học có tinh thần kinh thương, nắm giữ một hoặc một số bí quyết CN, sau một quá trình hoạt động và tích lũy trong tổ chức mẹ (hệ mẹ: trường ĐH, viện nghiên cứu, hoặc

tổ chức KH&CN khác) gặp điều kiện thuận lợi về môi trường, được tổ chức mẹ tạo điều kiện chủ động tự tách ra (hoặc được tách ra) thành lập DN độc lập để thực hiện mục tiêu tạo ra sản phẩm CN và sản xuất, kinh doanh các sản phẩm CN„

Như vậy, một số định nghĩa của các tác giả chia sẻ những điểm chung với DN

spin-off đó là là loại hình DN dựa trên tiềm năng về KH&CN, và khả năng áp dụng tri thức khoa học, tri thức CN như là một lợi thế cạnh tranh của loại hình DN này

1.1.1.2 Quốc tế

Khái niệm spin-off về bản chất xuất phát từ lĩnh vực vật lý nguyên tử là một quá trình mà ở đó điện tử chuyển động quay quanh hạt nhân khi tích đủ năng lượng thì điện

tử đó văng khỏi quỹ đạo chuyển động [5, tr 27]

Consiglo và Antonelli (2001) đưa ra khái niệm:“spin-off là quá trình ở đó một

DN độc lập được hình thành với những người đã từng làm việc trước đây hoặc làm việc cho một tổ chức khác„ Khái niệm DN spin-off được xem xét thông qua hai khía cạnh:

- Đặc tính của người khởi xướng Đó là:

4

Xí nghiệp khởi nghiệp (Start-up firm): theo nghĩa thông thường đây là DN mới thành lập Trên thực tế, tại các nước công nghiệp mới và các nước phát triển thì xí nghiệp khởi nghiệp là giai đoạn đầu của một DN vừa và nhỏ với tư cách là chìa khóa của đổi mới công nghiệp nói riêng và của hệ thống đổi mới nói chung Nó được “ấp” tại một lọai hình vườn ươm nào đó (của trường ĐH, của khu CNC, của làng khoa học…)

Trang 22

+ Chiếm giữ một bí quyết CN cụ thể và có thể áp dụng được bí quyết đó để tạo ra hoặc đổi mới sản phẩm hay quy trình CN

+ Quan tâm đến việc khai thác một cách tối đa bí quyết CN cụ thể và tạo ra được + Có khả năng tạo ra sản phẩm hay dịch vụ cụ thể dựa trên bí quyết CN của mình

để có khả năng cạnh tranh trên thị trường

- Cách thức khai thác kết quả nghiên cứu: sự hình thành DN spin-off thường gắn liền với việc chuyển giao bí quyết CN và di chuyển nhân lực tham gia vào tạo nên bí quyết đó

Rebecca De Coster, Clive Butler (2003) định nghĩa về công ty spin-off trong

trường ĐH là một công ty CN cao xuất phát từ nghiên cứu trong trường ĐH, hình thành nên từ thương mại hóa tài sản trí tuệ với sự tham gia của các nhà khoa học then chốt

Theo Thorburn , L (2000), Bernard, Y và cộng sự (2002), định nghĩa spin-off

(DN vệ tinh hàn lâm) là những DN được tạo ra để thương mại hóa bí quyết kỹ thuật do

tổ chức nghiên cứu và phát triển sở hữu Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp giấy phép SHTT cho cán bộ nghiên cứu và trên cơ sở đó hình thành SHTT của DN

Theo Reinhilde Veugelers và Elena Del Rey (2014) trong báo cáo về “Sự đóng

góp và vai trò của các trường ĐH trong các hoạt động đổi mới, vấn đề phát triển và nguồn lao động„ đề cập: Trường hợp các nhà khoa học lập ra DN để triển khai ý tưởng khoa học của mình vào sản xuất, kinh doanh gọi là DN spin – off

Định nghĩa DN spin-off của ETH Zurich Thụy Sĩ (thường được gọi là Viện CN

liên bang Thụy Sĩ) : “Một DN Spin-off của ETH là một DN mới được thành lập dựa

trên kết quả nghiên cứu cuả ETH do các cán bộ của ETH hoặc học viên của ETH tham gia„

Theo khái niệm của ĐH Alberta (Canada): “Một công ty spin-off của ĐH

Alberta là một DN mà hoạt động sản xuất kinh doanh của nó chủ yếu khởi nguồn từ sự ứng dụng hoặc sử dụng một CN và/hoặc một Know-how do một chương trình nghiên cứu của ĐH Alberta đã hoặc đang phát triển ra DN mới này được lập ra nhằm (1)

Trang 23

chuyển giao một bản quyền phát minh, (2) tài trợ nghiên cứu để phát triển tiếp một CN hoặc phát minh mà công ty sẽ chuyển giao, hoặc (3) để cung cấp một dịch vụ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của ĐH tạo ra„

Trong tài liệu của Ủy ban kinh tế Liên hợp quốc về “Thúc đẩy tinh thần kinh

doanh sáng tạo„ (Fostering Innovative Entrepreneurship, 2012) đã đề cập đến các

cách thức để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, trong đó có việc thành lập các

spin-off “Các DN Spin-off được thành lập trong trường ĐH hoặc bởi các nhà khoa

học nhằm thương mại hóa các kết quả nghiên cứu Chúng thường được đặt trong khuôn viên của các trường ĐH„

Như vậy, có thể thấy rằng DN spin-off nói chung, spin-off trong trường ĐH nói

riêng đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu với các góc độ tiếp cận khác nhau Có thể thấy các khái niệm được đề cập có phạm vi tiếp cận rộng, hẹp khác nhau, là các khái niệm chung hoặc được định nghĩa cho riêng tổ chức đó (ví dụ như spin-off trong trường ĐH Alberta, Canada) nhưng chủ yếu là đề cập đến đặc điểm chung, cơ bản để hình thành nên spin-off, trong đó các nội dung được đề cập và có tần suất xuất hiện nhiều trong các định nghĩa này là sự khẳng định về nguồn gốc hình thành từ nhà khoa học có tinh thần kinh thương làm việc trong một tổ chức, sở hữu và có khả năng áp dụng các kết quả nghiên cứu trong tổ chức mẹ (viện nghiên cứu, trường ĐH) vào thực tiễn sản xuất, thành lập DN để kinh doanh, thương mại hóa kết quả nghiên cứu/tài sản trí tuệ của trường ĐH, viện nghiên cứu trên thị trường Đồng thời một số nghiên cứu đề cập đến các DN này là DN hoạt động trong ngành công nghiệp CN cao

Tóm lại: Từ tổng quan nghiên cứu quốc tế và trong nước, kết hợp với tình hình thực tế của Việt Nam, tác giả đưa ra khái niệm DN spin-off như sau: DN spin-off là loại hình DN hình thành trên cơ sở một số nhà khoa học trong tổ chức mẹ (trường đại học, viện nghiên cứu) sở hữu tài sản trí tuệ hoặc được chuyển giao tài sản trí tuệ

có khả năng thương mại hóa thành lập nên DN trong trường đại học để sản xuất, kinh doanh sản phẩm công nghệ đó

Trang 24

1.1.2 Các điều kiện nền tảng cho sự hình thành và phát triển của spin-off

Trong phần này tác giả dựa trên khung phân tích các yếu tố tham gia trong hình

thành và phát triển của spin-off trong trường ĐH của Rory P O’shea, Harveen Chugh;

Thomas J.Allen (2007) [34, pg 11] Có thể thấy trong sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 Khuôn khổ cho việc thiết lập spin-off trong trường ĐH 5

Qua việc sơ đồ các yếu tố tham gia trong quá trình thiết lập nên spin-off trong trường

ĐH, các tác giả đi phân tích sâu đến các nhóm yếu tố then chốt như: đặc điểm của tổ chức, nguồn lực của tổ chức; đặc điểm cá nhân; chính sách của chính phủ, mối quan hệ công nghiệp, các mạng lưới hỗ trợ Tuy nhiên, trong khuôn khổ của đề tài tác giả chỉ đi phân tích sâu vào 4 nhóm yếu tố chính đó là công nghệ, nhà khoa học, vốn đầu tư và mạng lưới quan hệ

5

Rory P O’shea, Harveen Chugh; Thomas J.Allen (2007), Determinants and consequences of university spin-off activity: a conceptual framework, Springer Science &Business Media

Trang 25

1.1.2.1 Vấn đề công nghệ trong các spin-off

- Loại hình công nghệ của spin-off trong trường đại học

Theo Cooper, A.C (1971) cho rằng một DN vệ tinh hàn lâm sẽ tập trung vào

nghiên cứu và phát triển hoặc khai thác tri thức CN mới [10, tr 4]

Theo Rebecca De Coster, Clive Butler (2003) cho rằng bản chất của một công ty

spin-off trong trường ĐH là một công ty CN cao xuất phát từ nghiên cứu trong trường

ĐH, hình thành nên từ thương mại hóa tài sản trí tuệ với sự tham gia của các nhà khoa học then chốt

Theo Shane, 2001a; Shane, 2001b; Shane, 2004 thì các công ty spin-off thường

khai thác các công nghệ mới, có bảo hộ sáng chế mạnh, đa năng và liên quan đến các đột phá về CN„6

Tại Anh: Trong một nghiên cứu gần đây của tác giả Nabhassorn Baines, Birkbeck

và Helen Lawton Smith, Birkbeck[28; pg 8], thuộc Đại học London, theo thống kê các lĩnh vực hoạt động của spin-off trong trường đại học ở Anh thì chiếm số lượng đông đảo nhất là trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ - engineering and technology (34%); tiếp theo là công nghệ sinh học và khoa học sự sống – Biotech and life science (29%); tiếp theo sau lần lượt là Dược phẩm;phần mềm; năng lượng và môi trường; Kinh doanh

và quản lý; viễn thông; sản xuất công nghiệp; giải trí và các lĩnh vực khác

6

“Spin-offs occur in situations where technologies are at an early stage, have strong patent protection,

multipurpose and involve technological breakthrough’’(Shane, 2001a; Shane, 2001b; Shane, 2004

Trang 26

Hình 1.1 Các lĩnh vực hoạt động của spin-off 7

Theo tác giả Nguyễn Văn Học, loại hình DN này thường được thành lập trong

các hướng KH&CN mới nổi lên (các CN cao, mới, CN nền )

Có thể nói căn cứ vào vai trò của spin-off được đề cập ở trên, tác giả đồng tình với quan điểm của nhiều học giả khi cho rằng yếu tố tiềm năng công nghệ có ý nghĩa quyết định đối với DN spin-off , và CN của spin-off phải tập trung vào ngành CN mới,

CN có tính đột phá và đóng góp vào vai trò dẫn dắt đổi mới

- Nguồn gốc của công nghệ

Trang 27

spin-+ Thứ hai là CN được chuyển giao từ tổ chức mẹ

Công nghệ và việc lựa chọn CN nào để thương mại hóa chính là bài toán đảm bảo

cho thành công của DN spin-off Theo Mc Adam và cộng sự (2004) thì lựa chọn sai

lầm về công nghệ và khả năng thị trường dẫn đến sự gia tăng con số của các spin-off

có chất lượng thấp, là nguyên nhân tạo ra sự yếu kém và không bền vững (Lambert,

2003; Raven, 2006)[31;pg 105]

1.1.2.2 Người sáng lập

Người sáng lập không phải là người kinh doanh các sáng chế, người sáng lập spin-off không chỉ có ý nghĩa về chức danh, chức vụ mà phải là một người được xã hội công nhận có tố chất kinh doanh ưu tú Chức năng của nhà sáng lập là không ngừng sáng tạo và ứng dụng công nghệ nhằm cải tiến sản phẩm để giúp spin-off có được lợi nhuận tốt nhất

Một nhà sáng lập spin-off thực sự cần có được những ý thức sau:

Thứ nhất là ý thức đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm mới: Nhà sáng lập

spin-off khác với người kinh doanh thông thường ở chỗ họ có thể dự đoán được một cơ hội đầu tư mới hoặc một cơ hội đem tới lợi nhuận mà một người kinh doanh thông thường không thể dự đoán được Nhà sáng lập spin-off phải là người đi đầu lãnh đạo và đích thân thực hiện hoạt động này Muốn cho kế hoạch đổi mới công nghệ thành công thì không thể bảo thủ Nhà sáng lập spin-off phải có kỹ năng chuyên ngành và kiến thức phong phú về thị trường, vạch ra chiến lược sản xuất, chiến lược thị trường một cách thành thạo và chính xác Đây vẫn là một sự đảm bảo quan trọng để sản phẩm mới của doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh thị trường Ý thức đổi mới quan trọng là ở chỗ phải tạo ra được tư tưởng kinh doanh linh hoạt, không phải tất cả mọi việc đều phải chờ đợi

sự sắp xếp của cấp trên

Thứ hai là ý thức về thành tựu: Trong quá trình đổi mới công nghệ và phát triển

sản phẩm mới, các nhà sáng lập spin-off có được sự đền đáp nhất định về mặt kinh tế

Đó là lẽ đương nhiên Cảm giác có được thành tựu mới thực sự khiến cho các nhà sáng lập spin-off có được tinh thần cống hiến Để có được thành công trong đổi mới công

Trang 28

nghệ, họ không sợ khó khăn, giày vò và thất bại, tinh thần yêu nghề Điều này giúp họ theo đuổi sự nghiệp lớn để được xã hội thừa nhận, được mọi người kính trọng

Thứ ba là ý thức cơ hội: nhà sáng lập spin-off phải hết sức coi trọng việc tìm

kiếm và sử dụng cơ hội công nghệ và cơ hội thị trường đến từ bên ngoài Kinh tế thị trường không còn thuộc về những doanh nghiệp hùng mạnh mà thuộc về người biết cố gắng Chỉ khi nhà sáng lập spin-off biết suy nghĩ trước một bước so với những nhà doanh nghiệp khác họ mới có thể chiến thắng về mặt thời gian và có được ưu thế cạnh trạnh Nhà sáng lập spin-off chính là người thúc đẩy phong trao đổi mới, nghiên cứu và phát triển công nghệ Họ là linh hồn của spin-off Chỉ có họ mới có khả năng tạo nên những nhà sáng lập spin-off tốt nhất, dám mạnh dạn sáng tạo, biết tận dụng tất cả mọi thành quả KH&CN tiên tiến nhất để cho ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng

Có vô số việc nhà sáng lập spin-off cần làm để thúc đẩy thực hiện tự đổi mới công nghệ, nhưng quan trọng nhất có thể tổng kết lại như sau:

Thứ nhất, phải giải quyết được vấn đề về tính tích cực trong đổi mới công nghệ

của spin-off, tức là vấn đề động lực;

Thứ hai, spin-off phải có được người đi đầu đổi mới công nghệ, tức là giải quyết

được vấn đề ai sẽ làm lãnh đạo phong trào đổi mới;

Thứ ba, spin-off phải có được chiến lược thích đáng để có được phương hướng

phấn đấu, tức là có được đường lối đúng đắn;

Thứ tư, spin-off giải quyết được vấn đề thực hiện đổi mới công nghệ, tức là tổ

Trang 29

hình và tài sản vô hình) và vốn lưu động (tiền của toàn bộ tài sản lưu động: trong sản xuất và lưu thông) 8 „

Vốn của DN spin-off được huy động từ nguồn thân thiết nhất chính là tổ chức mẹ (trường ĐH), tổ chức mẹ có thể đầu tư nhiều hoặc ít về cơ sở vật chất và tiền cho spin-off, tham gia giữ cổ phần trong spin-off

DN có một số kênh khác nhau để huy động vốn như vay ngân hàng; quỹ đầu tư mạo hiểm của tổ chức, cá nhân hay quốc gia; nhà khoa học tự bỏ vốn Tuy nhiên trong trường hợp này kênh huy động vốn từ ngân hàng cho DN dường như là bất khả thi vì

DN này không có tiêu chí đáp ứng yêu cầu được vay vốn từ ngân hàng như có tài sản thế chấp cũng như các thủ tục khác trong quá trình thẩm định vay vốn của ngân hàng cũng chưa thể tạo điều kiện cho các DN non trẻ và có mức độ rủi ro lớn như loại hình

DN này

Nguồn vốn mạo hiểm có vai trò đặc biệt quan trọng Tác giả Hoàng Văn Tuyên

(2005) đề cập đến Vốn đầu tư mạo hiểm Đó là “đó là phần đầu tư vào cổ phần có tính kiên nhẫn và chấp nhận rủi ro cao trong những DN mới ra đời và mang tính đổi mới cao hoặc những DN có tiềm năng tăng trưởng nhanh Yếu tố then chốt đối với quá trình đầu tư vốn mạo hiểm là người có tinh thần kinh thương và năng lực CN„

Cùng chia sẻ quan điểm về sự cần thiết phải có vốn mạo hiểm đối với các DN

KH&CN, theo tác giả Phạm Đại Dương (2008) giải pháp về hình thức đầu tư ở đây là

nhà đầu tư mạo hiểm nắm giữ cổ phần trong DN, tham gia chia sẻ thành công nếu DN phát đạt song cũng gánh chịu rủi ro nếu thất bại Chính điều này đảm bảo rằng những khuyến khích đối với các nhà đầu tư và DN khởi nghiệp là thống nhất với nhau

Có nhiều nguồn huy động đầu tư theo cách truyền thống thường thấy, tuy nhiên với spin-off thì tìm được nguồn đầu tư, đặc biệt là giai đoạn đầu là rất khó khăn Quan trọng ở đây là các nhà đầu tư cần nhận thức được rằng các công nghệ mới cần một thời

8

Học viện tài chính Hà Nội, Giáo trình tài chính DN, 2005

Trang 30

gian dài hơn để tìm kiếm thị trường có khả năng cho nó, trong khi bản thân công nghệ mới cần nhiều thời gian và tiền của trước khi sẵn sàng để tung ra thị trường

1.1.2.4 Mạng lưới

- Tổ chức mẹ (trường đại học)

Xét ở góc độ đặc điểm tổ chức: Truyền thống và văn hóa trường ĐH có ảnh

hưởng lớn đến việc thúc đẩy tinh thần NCKH và tinh thần kinh thương của nhà khoa học Đồng thời các tuyên bố sứ mệnh, tầm nhìn, mục đích một cách rõ ràng của trường tác động đến khả năng định hướng đầu tư và sản phẩm nghiên cứu Nhà khoa học cảm thấy có động lực và quyết tâm hơn khi họ nhận thấy chính sách, phần thưởng là xứng đáng cho công sức của họ

Xét ở góc độ nguồn lực tổ chức có thể nhận thấy các yếu tố đó là:

+ Chất lượng NCKH các khoa (nghiên cứu đa ngành, liên ngành)

+ Nguồn nhân lực chất lượng cao: Nhà khoa học, chuyên gia

+ Các kênh hỗ trợ như văn phòng chuyển giao công nghệ, nơi giúp các spin-off trong tư vấn sáng chế, sở hữu công nghiệp

+ Các nghiên cứu định hướng thương mại

+ Mạng lưới quan hệ trường ĐH với khu vực công nghiệp

Bên cạnh đó, còn có rất nhiều yếu tố thuộc tổ chức mẹ ảnh hưởng đến hình thành spin-off cũng được đề cập đến như: năng lực, thứ hạng của tổ chức mẹ (ranking) Cũng trong nghiên cứu của Nabhassorn Baines, Birkbeck và Helen Lawton Smith, Birkbeck, thuộc Đại học London, các tác giả thống kê top 20 trường ở Anh có nhiều spin-off được thành lập[28; tr 9]

Hình 1.2 Top 20 trường có số lượng doanh nghiệp spin-off nhiều nhất 9

9

Nabhassorn Baines, Helen Lawton Smith(2013), Demystify product and service innovation of University off companies in UK, University of London

Trang 31

spin-Trong top 20 trường bao gồm Đại học Oxford, Cambridge, Imperial College London, UCL, Đại học Edinburgh nằm trong top 5 trường tạo ra nhiều nhất các spin-off 5 trường ĐH này nằm trong top 40 các trường ĐH hàng đầu thế giới (năm 2012/2013) theo Times Higher Education với ĐH Cambridge ở vị trí thứ 7, Oxford ở vị trí thứ 2, Imperial College London thứ 8, UCL thứ 17 và Đại học Edinburgh thứ 32 Cùng với đó thì 14 ĐH khác nằm ngoài nhóm 20 này cũng nằm trong nhóm Russel là nhóm các ĐH tinh hoa ở Anh, là các ĐH có nền học thuật xuất sắc, nổi bật với kinh nghiệm trong đào tạo và giảng dạy và có mối quan hệ lý tưởng với khu vực Kinh doanh

và công nghiệp Các luận cứ này nhằm làm sáng tỏ hơn quan điểm của các tác giả khi cho rằng: rõ ràng là có một sự dễ dàng hơn nhiều của các trường với chất lượng dẫn đầu này trong việc huy động nguồn lực để tạo ra các spin-off vì danh tiếng và sự đáng tin cậy của các trường này

- Chính sách của chính phủ

+ Tạo môi trường pháp lý, cơ chế, chính sách

+ Đầu tư, định hướng phát triển nghiên cứu

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20

1 Đại học cambrige 2 Đại học Oxford 3 Đại học Hoàng gia London 4 UCL 5 Đại học Edinburgh 6 Đại học Strathclyde 7 Đại học Newcastle 8 Đại học Warwick 9 Đại học Manchester 10 Đại học Belfast 11 Đại học Aberdeen 12 Đại học Bristor 13 Đại học Heriot Watt 14 Đại học Southampton 15 Đại học Nottingham 16 Đại học Sheffield 17 Đại học Dundee 18 Đại học Leeds 19 Đại học York 20 Đại học Durham

Số lượng các doanh nghiệp spin-off Đang hoạt động

Trang 32

+ Khuyến khích và áp chế để DN đổi mới CN thông qua khai thác ứng dụng kết quả nghiên cứu

+ Hỗ trợ, thúc đẩy các hoạt động khai thác thương mại kết quả nghiên cứu, sáng

chế

- Mạng lưới tổ chức hỗ trợ

+ Vườn ươm

+ Quỹ tài trợ nghiên cứu

+ Chương trình phát triển tinh thần kinh thương (nhiều trường ĐH trên thế giới tổ chức nhiều khóa đào tạo ngắn hạn và dài hạn về tinh thần kinh doanh và thúc đẩy các ý tưởng kinh doanh cho cả nhà khoa học và sinh viên khi còn trên giảng đường ĐH)

- Các đối tác kinh doanh, mạng lưới công nghiệp

Mối quan hệ với khu vực công nghiệp được xem là đóng vai trò rất quan trọng Trong nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề này thì mối quan hệ chặt chẽ và mạng lưới quan hệ của trường ĐH cũng như các nhà khoa học với khu vực công nghiệp càng chặt chẽ bao nhiêu thì càng có nhiều hơn các cơ hội và gia tăng khả năng tồn tại và tăng trưởng của DN spin-off Bởi vì thông qua mối quan hệ này nhiều nguồn lực được huy động như: vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng, các hợp đồng công nghệ và đặc biệt là khu vực công nghiệp tham gia trên thị trường và chính họ là khách hàng của DN spin-off

1.2 Thiết chế

1.2.1 Định nghĩa về thiết chế

Từ điển Bách khoa Việt Nam - NXB Từ điển Bách khoa - Hà Nội 2005 có đưa ra định nghĩa về thiết chế xã hội như sau: “Thiết chế xã hội là khái niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động xã hội Nhờ các thiết chế xã hội mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng”

“Các nhóm xã hội, hay tổ chức xã hội là một tập hợp người được liên kết với

nhau bởi các dạng quan hệ xã hội Các quan hệ xã hội này được hình thành từ những tương tác thường xuyên, ổn định, lâu dài, có định hướng Trong quá trình tương tác

Trang 33

này các khuôn mẫu hành vi, vai trò được thiết kế hóa, tức là biến thành các thiết chế

Thiết chế xã hội là một tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, quy tắc, khuôn mẫu

đã được xã hội thừa nhận” [4, tr197]

Thiết chế được tổ chức thành cơ cấu Những yếu tố tạo thành thiết chế xã hội có khuynh hướng kết hợp lại với nhau và tăng cường lẫn nhau Khi có sự thay đổi trong

thiết chế có thể đưa đến sự thay đổi đáng kể ở các lĩnh vực khác

- Chức năng chủ yếu của thiết chế xã hội

Thiết chế xã hội có những chức năng chủ yếu sau:

Tổ chức thực hiện một hoạt động xã hội theo những mục tiêu nhất định của thiết chế

Khuyến khích, điều chỉnh, điều hòa hành vi của con người phù hợp với quy phạm

và chuẩn mực của thiết chế

Chế định, kiểm soát, giám sát nhu cầu hoạt động đặc biệt những hành vi sai lệch

so với các chuẩn mực và đòi hỏi của thiết chế

- Đặc điểm của thiết chế xã hội

Thiết chế xã hội được hình thành trên những giá trị, chuẩn mực khá bền vững của

xã hội, bởi vậy khi hình thành rồi, thiết chế cũng tỏ ra khá bền vững của xã hội và khó biến đổi, nó phản ứng lại những biến đổi của xã hội rất chậm

Các thiết chế xã hội thường duy trì những giá trị và chuẩn mực chung, phản ánh những mục tiêu và ưu tiên xã hội chung, bởi vậy các thiết chế có xu hướng phụ thuộc lẫn nhau Một mặt, bất cứ một thiết chế nào cũng được thể hiện một phần trong các thiết chế khác và là một mặt, một bộ phận của toàn xã hội Mặt khác, khi một thiết chế

xã hội cơ bản thay đổi thì thường kéo theo sự thay đổi của một loạt các thiết chế khác

Vì các thiết chế được thiết lập trên cơ sở những nhu cầu xã hội cơ bản, do vậy bất

kỳ một khía cạnh nào của thiết chế xã hội cũng trở thành những vấn đề nóng bỏng của

xã hội [1, tr 28]

Trang 34

1.2.2 Chính sách trong hệ thống thiết chế quản lý

Khái niệm thiết chế quản lý là một phạm trù của khoa học quản lý, những thiết chế đó bao gồm: chiến lược, chính sách và pháp luật

Chính sách là một thiết chế xã hội, đến lượt mình mỗi chính sách lại bao gồm một tập hợp các thiết chế Bao gồm thiết chế thành văn, thiết chế bất thành văn, thiết chế công bố, thiết chế ngầm định 10 Trong đó:

Thiết chế thành văn: là loại thiết chế được viết ra dưới dạng các điều khoản trong những văn bản quy phạm pháp luật

Thiết chế bất thành văn: là loại thiết chế không được viết ra

Thiết chế công bố: là loại thiết chế được công bố công khai

Thiết chế ngầm định: là loại thiết chế không được viết ra, có thể hoặc không thể hiểu ngầm với nhau, nhưng có tác động một cách ngấm ngầm

Như vậy trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm thiết chế bao gồm cơ cấu về mặt tổ chức và hoạt động, các chính sách (cơ chế) có vai trò hỗ trợ cho cơ cấu đó

1.3 Hoạt động của Spin-off trong trường đại học

1.3.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động

Nhiều nhà quản trị học cho rằng, hiệu quả hoạt động là một vấn đề phức tạp liên quan đến các yếu tố trong quá trình hoạt động kinh doanh Đứng trên nhiều góc độ khác nhau có những quan niệm khác nhau về hiệu quả hoạt động

-Nếu hiểu hiệu quả theo mục đích thì hiệu quả hoạt động là hiệu số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Cách hiểu này đồng nhất với lợi nhuận của DN

- Nếu đứng trên góc độ từng yếu tố để xem xét, hiệu quả thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh

Muốn đạt hiệu quả cao phải có sự kết hợp giữa 2 yếu tố: chi phí và kết quả, chi phí là tiền đề để DN thực hiện kết quả đặt ra

Để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động, ta có công thức chung:

10

Vũ Cao Đàm (2011), Kỹ năng phân tích và hoạch định chính sách, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, quỹ Rosa Luxemburg

Trang 35

Kết quả đầu ra

Hiệu quả hoạt động = -

Các yếu tố đầu vào

Theo cách hiểu như trên thì hiệu quả hoạt động là đại lượng so sánh giữa chi phí

bỏ ra và kết quả đạt được Hiệu quả hoạt động được nâng cao trong trường hợp kết quả tăng, chi phí giảm và cả trong trường hợp chi phí tăng nhưng tốc độ tăng kết quả nhanh hơn tốc độ tăng chi phí đã chi ra để đạt được kết quả đó11 Trong luận văn này thì hiệu quả hoạt động của tổ chức cũng được tiếp cận dưới góc độ hiệu quả hoạt động của một

DN, bởi vì sản phẩm của spin-off cũng tham gia vào thị trường hàng hóa và cạnh tranh trên thị trường với đầy đủ đặc tính của một DN Tuy nhiên với đặc điểm riêng biệt, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của một DN spin-off trong trường ĐH cần được xem xét với một số tiêu chí đánh giá khác cho phù hợp sẽ được làm rõ ở phần sau của luận văn

1.3.2 Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của spin-off trong trường đại học

1.3.2.1 Thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phục vụ mục tiêu đào tạo

Bản thân trường ĐH có chức năng chính là đào tạo, nghiên cứu và phục vụ xã hội Việc thành lập các DN spin-off trong trường ĐH nhằm mục tiêu thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, vừa nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nhưng là để phục vụ xã hội Là cây cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất, các spin-off này còn là nơi kiểm chứng trong thực tiễn các kết quả nghiên cứu trong các phòng thí nghiệm và là kênh phản hồi thông tin hữu ích đến các nhà nghiên cứu, nhà khoa học trong khu vực hàn lâm

Hiệu quả đào tạo: các kết quả nghiên cứu được thương mại hóa và thương mại hóa thành công có tác động quay trở lại phục vụ mục tiêu đào tạo Thể hiện qua:

- Cập nhật kiến thức mới trong nội dung bài giảng

- Những phương pháp mới trong công nghệ đào tạo

11

Xin xem thêm tại luanvan.net.vn/luận văn phân tích hiệu quả họat động của DN, cập nhật ngày 25/6/2014

Trang 36

- Những công cụ, phương tiện mới trong giảng dạy12

1.3.2.2 Tạo ra văn hóa kinh doanh và tăng cường mối liên kết đại học – doanh nghiệp

Cùng với đó, một thực tế không thể phủ nhận là trường ĐH trong mối tương quan

của nó với DN vốn được coi là hai nền “văn hóa„ khác nhau Trong khi DN mục tiêu

trên hết của tổ chức là lợi nhuận, thị trường thì nghiên cứu trong trường ĐH chú trọng đến tính mới do đó mà rủi ro của các nghiên cứu trong trường hợp này cũng tăng lên

Vì lí do này dù CN được tạo ra trong các phòng thí nghiệm của trường ĐH có là giải pháp CN đột phá, sáng tạo cũng chưa chắc đã được khu vực công nghiệp, các DN hưởng ứng và áp dụng ngay vì đi kèm với đó là nhiều rủi ro Hơn nữa, DN còn cần phải căn cứ vào hạ tầng cơ sở mà mình đang có Cho nên rõ ràng có một khoảng cách trong mối quan hệ này, và vấn đề ở đây là làm sao duy trì được vị thế dẫn dắt của CN,

và tính tự đào thải của CN đó là “vòng đời CN„ trong khi mà trông chờ quá nhiều từ phía DN Chúng ta cần một tổ chức để hỗ trợ cho quá trình này và spin-off chính là lý tưởng để giải quyết tình trạng này

Hơn nữa, với vai trò của mình, các spin-off còn tạo ra văn hóa trong nghiên cứu cho trường ĐH đó là tính hướng đích của các NCKH, khuyến khích nghiên cứu mang tính ứng dụng và tạo ra động lực thực sự cho cộng đồng các nhà khoa học, các sinh viên trong nghiên cứu và phát triển tinh thần kinh thương ngay trong trường ĐH

Hiệu quả liên kết ĐH- công nghiệp có thể đánh giá qua:

- Mức tăng từ đầu tư khu vực công nghiệp vào trường ĐH

- Các nhà khoa học có kinh nghiệm tham gia trong khu vực công nghiệp (vai trò

tư vấn quản lý, tư vấn công nghệ)

Trang 37

1.3.2.3 Khuyến khích sáng tạo và đổi mới

Xét theo khía cạnh thị trường, loại hình DN này có thể là công cụ hữu dụng trong việc khuyến khích ứng dụng CN mới tại các thị trường nhỏ, đưa đến sự sáng tạo mới thông qua việc hội nhập giữa CN mới và năng lực truyền thống [10, tr 12]

Đóng góp cho đổi mới: đó là đóng góp của DN này đối với phát triển CN, nắm giữ CN, phổ biến CN, CGCN trong mạng lưới đổi mới, được nhìn nhận như là cầu nối xuất sắc trong phổ biến CN hơn là những động lực tăng trưởng trực tiếp (Fontes, M và

Coombs, R, 2001) Cùng chia sẻ quan điểm này, Oakey, R, 1991; Stankiewicz, R 1994

phân tích hai nhân tố có quan hệ mật thiết trong một DN dựa trên nền tảng công nghệ

Kết luận chương 1

Trong chương 1 tác giả đã tổng hợp, phân tích các nội dung thông tin quan trọng

có tính chất xác lập cơ sở lý luận về spin-off, thiết chế cho spin-off làm nền tảng cho toàn bộ nội dung phân tích của luận văn Đối với các nội dung thông tin liên quan đến spin-off, thiết chế đối với spin-off trong trường đại học tác giả đã cố gắng khai thác từ các tài liệu trong nước và quốc tế nhằm cung cấp một cách nhìn tương đối toàn diện, cập nhật, đóng góp về mặt lý thuyết cho nghiên cứu về spin-off nói chung

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÁC THIẾT CHẾ ĐỐI VỚI SPIN-OFF TRONG TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Khái quát chung về các loại hình tổ chức trong trường Đại học tại Việt Nam hiện nay

2.1.1 Các loại hình tổ chức thường thấy trong trường đại học tại Việt Nam hiện nay

Cùng với xu thế hiện đại hóa mô hình đại học, xu thế trong phát triển trường đại học trên thế giới và yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với các trường đại học bên cạnh nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo, nghiên cứu Hiện nay trong trường đại học đang song song hình thành nhiều loại hình tổ chức nhằm thực hiện những chức năng khác nhau như:

- Các trung tâm trong trường đại học

- Các viện trong trường đại học

- Vườn ươm DN trong trường đại học

- Các công ty trong trường đại học

- Phòng khoa học và chuyển giao công nghệ

Những loại hình tổ chức ở quy mô to nhỏ và mức độ khác nhau đang đảm nhận một hoặc nhiều phần chức năng đó là một kênh chuyển giao tri thức khoa học của trường đại học, tạo ra các giá trị thương mại trên thị trường tri thức

2.1.2 Cơ bản về loại hình doanh nghiệp trong trường đại học tại Việt Nam

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo đến năm 2009 cả nước có 376 trường

ĐH, cao đẳng với số lượng sinh viên là khoảng trên 1.7 triệu

Hình thức DN trong trường ĐH đã xuất hiện khá lâu Có thể điểm lại những quyết định chính dẫn đến ra đời của DN trong trường ĐH đó là:

Thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ hai ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển KH&CN đến năm 2020, thủ tướng Chính phủ

đã ban hành quyết định 68/1998/QĐ-TTg về việc cho phép thí điểm thành lập DN nhà nước trong các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu Sau đó các bộ liên quan đã ban hành thông tư liên bộ số 11/1999 hướng dẫn về mối quan hệ giữa các tổ chức này với DN

Trang 39

Bộ tài chính ban hành thông tư 73 năm 1998 hướng dẫn chế độ quản lý tài chính Sau hai năm thử nghiệm, ngày 25/6/2001, chính phủ ban hành công văn số574/CP-ĐMDN tạm dừng việc thành lập DN nhà nước Tính đến thời điểm đó đã có 17 DN (có nghiên cứu khác là 20 DN) nhà nước thuộc cơ sở đào tạo và nghiên cứu được thành lập, trong

đó có 10 DN thuộc viện nghiên cứu13

Trước đó, ngày 5 tháng 6 năm 1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trường đã ban hành Quyết định số 196/CT về việc chuyển các tổ chức kinh tế đã đăng ký và đang hoạt động theo quyết định số 268/CT ngày 30 tháng 7 năm 1990 sang đăng ký và hoạt động theo loại doanh nghiệp mới phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành Ngày 22/8/1992 chính phủ có thông tư 40 – TC/TCT/CS hướng dẫn thi hành quyết định này

Như vậy xuất phát điểm cho việc thành lập các DN này là DN nhà nước được thành lập trong trường ĐH theo quyết định của chính phủ Thống kê đến năm 2002, cả nước có 21 DN trong các trường ĐH, Cao đẳng ĐH Mỏ địa chất, ĐH Xây dựng, ĐH Giao thông vận tải là 3 đơn vị đầu tiên thành lập DN nhà nước trong trường ĐH Có thể nói sự ra đời của các DN này phần nào đã góp phần thương mại hóa các tri thức khoa học và công nghệ từ trường ĐH đến DN, đóng góp vào mục tiêu phục vụ xã hội Tuy nhiên bên cạnh đó còn tồn tại nhiều mặt hạn chế nhất định

2.2 Chính sách đối với Spin-off trong trường Đại học tại Việt Nam hiện nay

2.2.1 Nguồn gốc của spin-off

Xét về nguồn gốc hình thành, quá trình hình thành doanh nghiệp spin-off thường xuất phát từ 3 khu vực: viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp

Do đặc điểm và chức năng khác nhau mà doanh nghiệp spin-off hình thành trong các loại hình tổ chức này có các đặc điểm khác nhau nhất định

Trong Viện nghiên cứu:

Viện nghiên cứu có chức năng chính là nghiên cứu, đào tạo, hoạch định chính sách phục vụ xã hội Quá trình hình thành doanh nghiệp spin-off dựa trên nền tảng chủ

13

Trần Văn Dũng (2007) Luận văn thạc sĩ, Điều kiện hình thành doanh nghiệp Spin-off trong các trường đại học tại Việt Nam (nghiên cứu trường hợp trường đại học Khoa học tự nhiên – ĐHQG HN)

Trang 40

yếu là các hướng nghiên cứu và triển khai kế thừa từ các đề tài, dự án, chương trình đã

và đang được thực hiện ở các viện phục vụ cho quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu và đẩy mạnh các kết quả NCKH vào sản xuất

Trong trường đại học:

Trường đại học có chức năng chính là đào tạo, NCKH và phục vụ xã hội Việc hình thành spin-off trong trường đại học nhằm đẩy mạnh chức năng phục vụ xã hội của trường đại học ngày một thiết thực hơn, đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn xã hội thông qua các sản phẩm và nghiên cứu có khả năng ứng dụng, thương mại hóa thành công trên thị trường Đồng thời tạo động lực đối với các nhà khoa học

có tinh thần kinh thương và góp phần tạo nên bước đột phá trong NCKH và xây dựng văn hóa của trường đại học

Trong doanh nghiệp:

Chức năng của doanh nghiệp là sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Để có được các sản phẩm công nghệ mới và cao doanh nghiệp phải chú trọng vào hoạt động nghiên cứu và triển khai, phôi thai và tạo ra các sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường Khi một sản phẩm hoặc một nhánh sản phẩm đủ khả năng đứng vững và độc lập, công ty có thể tách bộ phận ra thành lập công ty spin-off chuyên về sản xuất kinh doanh sản phẩm công nghệ đó Có thể nói con đường hình thành spin-off trong các doanh nghiệp nhanh hơn trong trường đại học hoặc các viện nghiên cứu Đặc biệt, ưu thế vượt trội của doanh nghiệp là vốn và nhanh nhạy với thị trường, khả năng cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp rõ ràng là có ưu thế hơn so với doanh nghiệp trong trường đại học và viện nghiên cứ

2.2.2 Chính sách đối với doanh nghiệp spin-off trong trường đại học

Có thể nói để ra đời một doanh nghiệp spin-off trong trường ĐH cần có rất nhiều nhân tố trong đó các chính sách đóng một vai trò quan trọng, các chính sách này giúp xây dựng nền tảng và năng lực nội sinh cho nghiên cứu và thương mại hóa kết quả NCKH vào sản xuất

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w