Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thế giới quan của Nguyễn Trãi, do đó chúng tôi quyết định chọn hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HÀ
THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA TÁC PHẨM “ QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”
VÀ “ QUỐC ÂM THI TẬP”
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
6 quyển – X
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ HÀ
THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA TÁC PHẨM “ QUÂN TRUNG TỪ MỆNH TẬP”
VÀ “ QUỐC ÂM THI TẬP”
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
6 quyển – XB 16
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hạnh
HÀ NỘI – 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Hạnh
Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Hà nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hà
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Triết học là một khoa học ra đời sớm dựa trên sự phát triển của lực lượng sản xuất, của sự phân hóa xã hội Vấn đề lớn nhất mà mọi triết học quan tâm là vũ trụ quan và nhân sinh quan Vì lẽ đó, nghiên cứu thế giới quan
và phương pháp luận triết học mang lại ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho toàn bộ cuộc sống của con người, từ đó con người xác lập lý tưởng, hệ giá trị, lối sống, nếp sống của mình Đây cũng là một trong những tiêu chuẩn cơ bản đánh giá sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội
Thế giới quan có thể hiểu đơn giản là cái nhìn về các mặt của thế giới,
là bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ của con người và tự nhiên, của con người và con người Thế giới quan bao gồm những nguyên tắc, quan điểm, niềm tin, khái niệm, biểu tượng về toàn bộ thế giới, sự vật, hiện tượng, những quy luật chung, là sự chỉ dẫn phương hướng hoạt động của con người
Trong triết học phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, vấn đề
vũ trụ quan, nhân sinh quan có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng nặng về vấn đề nhân sinh quan, xã hội quan hơn là các vấn đề về tự nhiên và các hình thức của tư duy Mục đích của thế giới quan triết học phương Đông nói chung
và triết học Việt Nam nói riêng là xây dựng lý lẽ cho chính trị - xã hội và luân
lý nhằm giáo dục đạo đức cho con người
Ở Việt Nam, tư tưởng về thế giới quan được hình thành rất sớm tuy chưa mang tính hệ thống song các nhà tư tưởng đã đưa ra những quan niệm sơ khai về thế giới quan như quan niệm của Lý Thường Kiệt, Lý Công Uẩn…
Và đến Nguyễn Trãi (1380 - 1442), tư tưởng về thế giới quan đã được hình thành một cách rõ nét, và hệ thống Bởi thông qua thế giới quan của mình, Nguyễn Trãi đã phản ánh được tương đối hoàn chỉnh hiện trạng xã hội Đại
Trang 5Việt cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV Ngoài ra, thế giới quan của Nguyễn Trãi còn mang lại những bài học giá trị về: cách xử thế của con người với tự nhiên, về đạo thông qua mối quan hệ giữa con người với con người Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về thế giới quan của Nguyễn Trãi, do đó chúng tôi quyết định chọn hai tác phẩm
“Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập” trong di sản của Nguyễn Trãi
làm đề tài nghiên cứu, bởi trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy ẩn đằng sau những tư tưởng thiên mệnh, con người, đạo đức …đó chính là lòng yêu nước, thương dân, là nỗi niềm đau đáu được ra giúp dân, giúp đời của Nguyễn Trãi từ lúc ông còn trẻ đến lúc tuổi già Đó là nhân cách cao quý của một con người vĩ đại
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Thế giới quan của Nguyễn
Trãi qua tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập” làm đề
tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Nguyễn Trãi là một đề tài lớn đối với các nhà nghiên cứu, việc nghiên cứu này chính thức được bắt đầu từ năm 1464, khi Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, được chia thành các loại công trình nghiên cứu sau:
- Loại công trình nghiên cứu thứ nhất: nghiên cứu triết học phương
Đông thì khá nhiều, song chưa có công trình nào cụ thể tìm hiểu về thế giới quan triết học của phương Đông nói chung, ngoài công trình Luận án tiến sĩ
“Thế giới quan trong triết học Trung Quốc cổ đại”(2002) của Nguyễn Văn
Vịnh, nội dung chủ yếu là nghiên cứu thế giới quan của triết học Trung Quốc bao gồm vũ trụ quan, xã hội quan và nhân sinh quan thông qua xem xét một
số học thuyết tiêu biểu làm nên đặc trưng của thế giới quan triết học Trung
Trang 6của thế giới quan triết học Trung Quốc cổ đại với thế giới quan của các nền triết học cổ đại khác Công trình đã có vai trò khái quát chung nhất về về thế giới quan triết học Trung Quốc
- Loại công trình thứ hai nghiên cứu về một số luận điểm có tính chất
làm cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành: Lịch sử tư
tưởng Việt Nam; tập 1 (Nguyễn Tài Thư chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, 1993), trong cuốn sách có phần trình bày, phân tích khái quát thân thế,
sự nghiệp của Nguyễn Trãi, đồng thời đi nghiên cứu một số tư tưởng triết học
được thể hiện qua thơ văn của Nguyễn Trãi Cuốn Đại cương triết học Việt
Nam (Nguyễn Hùng Hậu, Nxb Chính trị quốc gia, 2010) nghiên cứu về tư
tưởng của các nhà triết học Việt Nam, trong đó có Nguyễn Trãi, nhằm góp phần tìm về cội nguồn của dân tộc, tìm ra cái logich ngầm trong sự phát triển
của dân tộc
- Loại công trình thứ ba là những nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi
+ Nhóm thứ nhất là tổng tập, tuyển tập thơ văn của Nguyễn Trãi được
sưu tầm, phiên âm và chú giải: Quốc âm thi tập (Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điền phiên âm và chú giải, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, 1956); Nguyễn
Trãi toàn tập (Nxb Khoa hoc xã hội, Hà Nội, 1976) ; Nguyễn Trãi toàn tập, Tân biên tập1; 2, (Nxb Văn hóa, 2000) Trong luận văn của mình, chúng tôi
sử dụng bản Nguyễn Trãi toàn tập (Nxb Khoa hoc xã hội, Hà Nội, 1976) để
nghiên cứu thế giới quan của Nguyễn Trãi
+ Nhóm thứ hai là các công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp
của Nguyễn Trãi: Mấy vấn đề về sự nghiệp và thơ văn Nguyễn Trãi: nhân kỉ
niệm 520 năm ngày Nguyễn Trãi mất (của nhiều nhà nghiên cứu, Nxb Khoa
học, Hà Nội, 1963) Đây là những bài viết, những nhận định sâu sắc về Nguyễn Trãi nhân kỷ niệm 520 năm ngày mất của ông – người anh hùng dân
Trang 7tộc, nhà quân sự lỗi lạc thông qua thơ văn của ông; Văn chương Nguyễn Trãi
(Bùi Văn Nguyên, Nxb Đại học và trung cấp chuyên nghiệp, Hà Nội, 1984);
Kỉ niệm sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi (của Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên
Giáp , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1982) Đây là tập kỷ yếu của hội thảo khoa học nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của Nguyễn Trãi, gồm các bài viết, tham luận của các giáo sư, tiến sĩ, nhà khoa học đọc tại hội thảo, trong
đó có rất nhiều đánh giá xác đáng về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của
Nguyễn Trãi; Sáu trăm năm sinh Nguyễn Trãi (của nhiều tác giả, Nxb thành phố mới hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, 1980); Tư tưởng Nguyễn Trãi trong
tiến trình lịch sử Việt Nam (Võ Xuân Đàn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội,
1996) Công trình này đưa đến một cái nhìn khái quát về tiến trình lịch sử
Việt Nam và vị trí, vai trò của Nguyễn Trãi; Nguyễn Trãi cuộc đời và sự
nghiệp (Trần Huy Liệu, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000) Cuốn sách tái
hiện lại bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, gia đình, thân thế, sự nghiệp và các hoạt động của Nguyễn Trãi; nguồn gốc và nội dung
tư tưởng của Nguyễn Trãi, sự chỉ đạo chiến thuật trong thời kỳ kháng chiến
chống quân Minh và ý tưởng xây dựng đất nước của ông; Nguyễn Trãi và Nho
giáo, Nguyễn Trãi và văn hóa Việt Nam trung cận đại (Trần Đình Hượu, Nxb
Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000) Các công trình nghiên cứu này chủ yếu tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp về thế giới quan của Nguyễn Trãi, chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, đạo đức trong tư tưởng của Nguyễn Trãi Cuốn
“Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước” (Nguyễn Lương Bích, NXB Quân đội
nhân dân, 1973) Tác phẩm trình bày toàn bộ sự nghiệp đánh giặc, cứu nước
và những hoạt động của Nguyễn Trãi trong suốt 15 năm từ khi chiến thắng giặc Minh đến lúc ông mất Nội dung trong tác phẩm thể hiện ở những điểm sau Thứ nhất, Nguyễn Trãi là một người yêu nước, thương dân Ông tận trung với nước, tận hiếu với dân Đây là tư tưởng về đạo làm người lớn, hiếm
Trang 8quân sự mà ông còn là một nhà chính trị lỗi lạc.Tư tưởng chính trị của ông ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng chính trị thời kỳ ông sống và cho đến tận ngày nay Thứ ba là, Nguyễn Trãi là một nhà yêu nước tha thiết, đồng thời là một nhà dân chủ chính trị kiên cường Ở ông, tư tưởng đi kèm với hành động
- Ngoài ra còn có một số bài viết trên các tạp chí: Nhân cách nhà Nho
trong con người Nguyễn Trãi, của Nguyễn Văn Bình, Tạp chí Triết học số 4
(104), T8 – 1998; Về tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi, của Doãn Chính, Tạp chí Triết học số 9 (220), 2009, Nguyễn Bá Cường (2013), Con người
trong tư tưởng Nguyễn Trãi, Tạp chí Triết học, số 7 (266), tr 61 – 67, Nguyễn
Bá Cường (2013), Quan niệm về tự nhiên trong tư tưởng của Nguyễn Trãi,
Tạp chí Khoa học xã hội tp Hồ Chí Minh, số 9 (181), tr 6-12
Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp văn thơ và tư tưởng của Nguyễn Trãi, rất ít công trình nghiên cứu chuyên về
tư tưởng thế giới quan của Nguyễn Trãi Vì vậy, trên cơ sơ kế thừa và phát triển những thành quả của các nhà nghiên cứu trước đó, nhưng do điều kiện hạn chế, nên chúng tôi chỉ nghiên cứu thế giới quan của Nguyễn Trãi qua tác
phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập”
3 Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích: Phân tích, làm rõ nội dung thế giới quan trong tư tưởng
Nguyễn Trãi thông qua hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm
thi tập”, từ đó đưa ra đánh giá về thế giới quan của Nguyễn Trãi
Trang 9- Đưa ra một số giá trị về thế giới quan của Nguyễn Trãi
4 Cơ sở lí luận và phạm vi nghiên cứu
* Cơ sở lí luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận Mácxít để nghiên cứu những quan điểm, quan niệm trong thế giới quan của Nguyễn Trãi
* Phạm vi nghiên cứu: trong luận văn của mình, chúng tôi nghiên cứu
thế giới quan của Nguyễn Trãi thông quan hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh
tập” và “Quốc âm thi tập”
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội, phương pháp Logic và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp… để hoàn thành nhiệm vụ mà luận văn đặt ra
6 Ý nghĩa của luận văn
* Về mặt lí luận: Luận văn chỉ ra và phân tích nội dung các quan niệm
về thế giới quan của Nguyễn Trãi, góp phần nghiên cứu cơ bản lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XV
* Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể làm tham khảo cho những nghiên cứu tư tưởng triết học của Nguyễn Trãi nói riêng, và nghiên cứu về tư tưởng triết học Việt Nam nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương, sáu tiết
Trang 10NỘI DUNG
Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CƠ BẢN HÌNH THÀNH THẾ GIỚI
QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI 1.1 Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - văn hóa – xã hội Đại Việt cuối thế kỳ XIV đầu thế kỷ XV
Trải qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, triều đình phong kiến tuy có lúc hưng lúc suy, song nhìn chung nó có những bước phát triển mạnh
mẽ, nhà nước phong kiến ngày càng được củng cố và trưởng thành về mọi mặt, đặc biệt giai đoạn nhà Trần được đánh giá là một trong số thời kỳ hưng thịnh của triều đại phong kiến
Tuy nhiên đến cuối thế kỷ XIV, địa vị thống trị của nhà Trần có dấu hiệu lung lay, xã hội bước vào giai đoạn khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực
Về kinh tế, sau một thời gian phát triển, chế độ điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ trở nên lỗi thời, kìm hãm sự phát triển của sản xuất Mặt khác, sự phát triển của địa chủ làm lung lay chế độ điền trang thái ấp
Bên cạnh đó, từ giữa thế kỷ XIV, nước ta liên tiếp gặp thiên tai mất mùa, nạn đói thường xuyên xảy ra, đời sống nhân dân ngày càng cực khổ Theo tài liệu sử học ghi chép: nạn đói thường xuyên diễn ra, đặc biệt vào những năm 1358; 1362; 1370; 1375, “chết đói nhiều nơi, triều đình phải kêu gọi nhà giàu, các phủ nộp thóc để chuẩn cứu dân nghèo” Ngô Thì Sĩ phải thốt lên rằng “Mười năm năm đã sáu lần nhật thực, ba lần thủy tai, ba lần hạn hán, một lần sâu cắn lúa, lại luôn năm mất mùa đói kém Đến đây từ mùa xuân đến mùa thu nào là núi lở, nào là động đất, không tháng nào không có tai biến” [15; 284]
Về chính trị - xã hội, tầng lớp quý tộc nhà Trần từ vua cho đến vương hầu, quan lại sa vào ăn chơi sa đọa, chỉ lo bóc lột, vơ vét của nhân dân để sống xa hoa, phóng túng Trong khi đó, nông dân bị bóc lột tô thuế, lao dịch
Trang 11nặng nề, ruộng đất bị địa chủ cướp Điều này làm cho mâu thuẫn trong xã hội trở nên gay gắt Các cuộc khởi nghĩa xảy ra ở nhiều nơi, tuy thất bại, song đã giáng những đòn đả kích quyết liệt vào nền thống trị của nhà Trần, vào chế độ điền trang thái ấp và chế độ nông nô, nô tỳ
Trên lĩnh vực văn hóa – tư tưởng xuất hiện nhiều biến động Phật giáo sau một thời gian hưng thịnh đã bắt đầu suy thoái cùng với đó là sự ủng hộ nhà chùa thái quá của triều đình Những công thần như Trương Hán Siêu, Lê Quát … bắt đầu công kích thế lực Phật giáo, tố cáo việc dựng chùa quá nhiều, lãng phí nhân lực, vật lực, các ông muốn “dùng đạo Thánh để giáo hóa dân chúng” nhưng không được Trần Minh Tông chấp thuận Đến thời kỳ của Trần
Dụ Tông đã xây dựng xã hội theo mô hình của Nho giáo nhưng mang tính chất kỳ thị, thay thế thái độ mềm dẻo bằng một thái độ cứng ngắc, thay thế tinh thần khoan dung bằng một tinh thần nghiêm khắc, thay thế tinh thần hòa đồng tự do bằng một tinh thần độc tôn
Như vậy, tính đến cuối thế kỷ XIV, tình hình kinh tế - xã hội nhà Trần
đã khủng hoảng nay lại càng khủng hoảng hơn Tình thế này đặt ra một yêu cầu cấp thiết cần phải thủ tiêu chế độ điền trang thái ấp và quan hệ nông nô,
nô tỳ, thay đổi về đường lối trị nước để mở đường cho chế độ phong kiến tiến lên một giai đoạn mới, cao hơn
Trong hoàn cảnh đó, năm 1400, Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, dựng triều Hồ, tiến hành cải cách về mọi mặt
Hồ Quý Ly thi hành chính sách hạn điền hạn nô và thanh lọc sư tăng, bắt nhà sư chưa đến năm mươi tuổi phải hoàn tục Về ruộng đất, Hồ Quý Ly
ra quy định “Đại vương, trưởng công chúa không có hạn đình, dưới đến thứ dân không được có quá mười mẫu Người nào nhiều ruộng được phép lấy
ruộng chuộc tội, số ruộng thừa ra thì sung công” [15]
Trang 12Với chính sách này Hồ Quý Ly đã thu hẹp thế lực của quý tộc tôn thất, phân tán quyền chiếm hữu ruộng đất của một số đại địa chủ, giải phóng cho nông nô và nô tỳ trở thành những người dân được sử dụng đất công, tạo
đà cho sản xuất
Ngoài ra Hồ Quý Ly còn tiến hành cải cách thuế, kiểm kê tài sản, cải cách tiền tệ, phát hành tiền giấy Những cải cách này đã tác động mạnh vào sở hữu của quý tộc, địa chủ, làm suy yếu tầng lớp thương nhân
Về văn hóa , tư tưởng, Hồ Quý Ly vừa muốn thanh lọc Phật giáo, vừa muốn phê phán, xét lại Nho giáo, nhưng ông cũng chưa xây dựng được ý thức
hệ mới, làm cốt lõi cho nền văn hóa Việt Nam Ông cho mở khoa thi đầu tiên, Nguyễn Trãi ra thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sỹ) Sau khi thi đỗ, Nguyễn Trãi được Hồ Quý Ly trao chức Ngự sử đài chánh chưởng
Những cải cách của Hồ Quý Ly mang tính nửa vời, thiếu triệt để, không giải quyết được đời sống cực khổ của nhân dân, đặc biệt là bộ phận nông dân, nông nô, không cố kết được nhân tâm, không lấy được lòng dân Nguyễn Trãi đã tổng kết: “Họ Hồ dùng gian trí để cướp lấy nước, lấy gian trí
để hiếp lòng dân Lệnh sao ban bố mà mọi người oán nỗi thương sinh, việc di dân thi hành mọi người kêu bề thất sở Gia dĩ thuế mà phiền, giao dịch nặng, pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm, chỉ vụ ích kỷ, phì gia, chẳng nghĩ khổ dân, lại nước, yêu gần vị tình riêng Họ hàng thì người thấp cũng tôn quý, tiểu nhân mà nịnh cũng tin dùng Nhân mừng mà khen thưởng, nhân giận mà phạt giết Người trung phải khóa miệng, kẻ lương thiện thì ngậm oan” [15; 237]
Sự thất bại của hai triều đại Trần – Hồ cho thấy vai trò to lớn của nhân dân trong việc dựng và giữ nước Bên cạnh đó là vai trò của nhà cầm quyền, của quan lại trong việc hoạch định đường lối trị nước, nhằm đem lại cuộc sống bình yên cho nhân dân và sự vững chắc của triều đại Điều này đã được
Trang 13Nguyễn Trãi nhận thấy và hoạch định trong “Bình ngô sách” dâng cho Lê Lợi
sau này
Trước tình hình đất nước ngày càng rối ren do nhà nước và các tầng lớp trong xã hội không có lợi ích thống nhất, năm 1406, quân Minh mang quân sang xâm lược nước ta Từ năm 1407 đến năm 1427, nhà Minh chính thức đặt ách thống trị lên nước ta Về chính trị - xã hội, chúng đổi tên nước ta thành quận Giao Chỉ, tổ chức chính quyền gồm ba ty, lệ thuộc trực tiếp vào triều đình nhà Minh Bên cạnh đó, chúng ra sức đào tạo đội ngũ tay sai người bản xứ gọi là thổ quan, nhằm phục vụ đắc lực cho việc áp bức, bóc lột nhân dân ta
Về kinh tế, chúng đặt ra vô số thứ thuế nặng nề đánh vào mọi hạng người và mọi nghề nghiệp Chúng nắm độc quyền mua bán một số ngành nghề quan trọng như nghề làm muối Ngoài ra, chúng còn bắt nhân dân ta đi phu, đi lao dịch nhằm khai thác nguồn tài nguyên của đất nước
Về văn hóa, chúng thủ tiêu nền văn hóa lâu đời của dân tộc ta, đồng thời tiến hành đồng hóa về mặt phong tục, tập quán Chúng bắt nhân dân ta thay đổi cách ăn mặc, phong tục tập quán theo phong tục và lễ giáo của nhà Minh Đối với Phật giáo, Đạo giáo chúng đốt kinh, sách, tuyên truyền mê tín
dị đoan trong nhân dân
Về giáo dục, nhà Minh ra sức hạn chế việc học, việc thi, biến nhà trường thành nơi đào tạo tay sai, phục vụ cho chính quyền đô hộ
Dưới ách đô hộ của nhà Minh, xã hội Đại Việt bị kìm hãm sự phát triển, đời sống nhân dân lâm vào tình trạng lầm than, cơ cực Điều nà y làm cho nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, như cuộc khởi nghĩa của Phạm Trân - một thổ hào ở Đông Triều (Hải Dương) đã lãnh đạo nhân dân nổi lên lập Trần
Nguyệt Hồ làm vua, và tổ chức quân khởi nghĩa gọi là “Trung nghĩa Quân”
Trang 14lên khởi nghĩa ở Yên Mô (Ninh Bình), sau lui về Nghệ An, được hào kiệt khắp nơi theo về hưởng ứng rất đông, trong đó có cả những cựu thần nhà Trần như Đặng Tất, Trần Triệu Cơ đã làm quan cho nhà Minh cũng quay lại tham gia nghĩa quân Tuy các cuộc khởi nghĩa đều thất bại song nó đã khơi gợi tinh thần yêu nước trong nhân dân, đồng thời cho thấy sự khủng hoảng trong việc tìm ra người có đủ đức, đủ tài đánh giặc cứu nước
Năm 1396, khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hóa) nổ ra, đã được toàn thể nhân dân hưởng ứng Khởi nghĩa đã tập hợp được những hào kiệt trong nước tham gia Trải qua hơn ba mươi năm chiến đấu gian khổ, năm 1427, khởi nghĩa giành thắng lợi Năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà nước chuyên chế trung ương tập quyền, lấy tên nước là Đại Việt Đây là một bước ngoặt lịch sử, một sự chuyển đổi mô hình từ nền quân chủ quý tộc thời Lý – Trần, mang đậm tính Phật giáo, sang nền quân chủ tập quyền thời
Lê sơ Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa là chiến thắng của sự gắn bó sâu sắc và kết hợp hài hòa trong thể thống nhất của tướng lĩnh với quân dân, của tập thể anh hùng và toàn thể dân tộc, mà đứng đầu là Lê Lợi, và người tham mưu kiệt xuất Nguyễn Trãi Sau khi giành thắng lợi, Nguyễn Trãi tiếp tục cống hiến sức mình giúp Lê Lợi xây dựng và quản lý đất nước
Về mặt hành chính: Lê Thái Tổ chia đất nước thành năm đạo, sau đó
Lê Thái Tông cải tổ lại, chia thành 13 đạo (sau đổi thành 13 thừa tuyên), đứng đầu là các tuyên phủ sứ Số lượng được bổ sung thông qua các kỳ thi Như vậy, chế độ phong kiến phân quyền quý tộc bị thủ tiêu, thay vào đó là chế độ phong kiến trung ương tập quyền Vua là biểu hiện tối cao của quyền lực, là người toàn quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Trong việc trị nước thì dựa trên học thuyết của Nho giáo, bài xích Phật giáo và Đạo giáo, bên cạnh mặt lễ giáo, các vua thời Lê Sơ còn rất chú trọng đến việc chế định pháp luật Thời
kỳ này, nhà vua Lê Thánh Tông đã ban hành bộ luật Hồng Đức
Trang 15Song song với việc kiện toàn nhà nước về mặt hành chính, nhà nước
Lê sơ còn tiến hành cải cách về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội Về kinh tế: Nhà
Lê kế thừa những cải cách của Hồ Quý Ly, hạn chế tối đa sự tồn tại và hình thành của những điền trang, bằng cách ban hành chế độ lộc điền trong triều đình và chế độ quân điền ở làng xã Điều này đã góp phần tích cực làm ổn định kinh tế tiểu nông, hạn chế việc phân hóa ruộng đất Về thủ công nghiệp, chủ yếu mở rộng quân xưởng chuyên sản xuất tiền tệ, vũ khí, đồ trang sức, xác lập một nền sản xuất bao cấp Về thương nghiệp, thi hành chính sách ức thương
Về văn hóa thì xa rời vốn liếng dân gian Từ sách giáo khoa, việc học, việc thi, việc “bảng vàng bia đá đề danh”, cho đến âm nhạc, mỹ thuật đều nhất nhất mô phỏng theo thể chế nhà Minh
Chính sách cai trị như vậy gây ra sự tranh giành địa vị, nạn tham ô diễn ra ở nhiều nơi Nhân dân lao động chưa vui mừng được bao nhiêu thì lại phải hứng chịu sự vơ vét của quan lại và triều đình, trong hoàn cảnh này xuất hiện một nhà tư tưởng lớn – Nguyễn Trãi Tư tưởng của ông vượt qua ranh giới của giai cấp, vượt lên trên tư tưởng của đại đa số các nhà Nho lúc bấy giờ, để hướng tới con người, tới những người lao động cực khổ Ông dành hết cuộc đời mình đấu tranh chống bọn giặc cướp nước, chống bọn quan lại tham
ô, kêu gọi trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với nhân dân, trách nhiệm xây dựng một xã hội tốt đẹp như xã hội Nghiêu, Thuấn
1.2 Tiền đề tư tưởng hình thành thế giới quan của Nguyễn Trãi
1.2.1 Khái luận chung về thế giới quan
Theo Từ điển Triết học Nga (chủ biên: Rodentan), Nxb Sự thật 1976 thì “Theo nghĩa tổng quát nhất, thế giới quan là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội, các quan điểm triết học,
Trang 16Giáo trình Triết học Mác – Lênin: “Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và
vị trí của con người trong thế giới đó” [2; 12]
Cuốn Triết học, hỏi và đáp của Trường Đại học Quốc gia Lômônôxốp (Trần Nguyên Việt dịch), Nxb Đà Nẵng 2004, không đưa ra một khái niệm cụ thể về thế giới quan Nhưng trong chương “Con người trong vũ trụ: bức tranh của triết học, của tôn giáo và khoa học thế giới” đã cho rằng “Cơ cấu của sự hiểu biết thế giới có thể được hiểu là sự thống nhất bốn yếu tố: nguyên tắc xuất phát của hệ thống hóa tri thức về thế giới, và về con người, phương thức hay phương pháp nhận thức chỉnh thể, cơ sở triết học và định hướng thế giới quan, đạo đức” [43; 171]
Công trình Luận án tiến sĩ “Thế giới quan trong triết học Trung Quốc
cổ đại”(2002) của Nguyễn Văn Vịnh đưa ra định nghĩa về thế giới quan như
sau: “Thế giới quan triết học là hệ thống lý luận về tồn tại và vận động của thế giới khách quan, mang tính định hướng cho con người trong hoạt động thực tiễn” [55; 20]
Trong cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt Nam” do Nguyễn Tài Thư chủ biên cũng phân tích khá rõ về thế giới quan triết học Việt Nam, chỉ rõ sự khác biệt của thế giới quan triết học Việt Nam so với thế giới quan của triết học phương Tây Theo đó, “thế giới quan triết học Việt Nam thuộc loại thế giới quan phức hợp, nó khác với thế giới quan phương Tây bởi nó là một thể kết hợp Nho, Phật, Đạo” “Thế giới quan triết học Việt Nam khác với các thế giới quan khác Nó nặng về các vấn đề xã hội và nhân sinh mà nhẹ về các vấn đề
tự nhiên và các hình thức của tư duy con người, nó chú trọng xây dựng lý lẽ cho chính trị - xã hội và luân lý hơn là xét mối quan hệ giữa các chủ thể và khách thể, giữa các thành phần của tư tưởng để hình thành nhận thức luận và logich học, nó thiên về giáo dục đạo làm người hơn là cung cấp cho con người những nhận thức mới mẻ về thế giới giới khách quan bên ngoài cũng
Trang 17như thế giới nội tâm, nó thường xuất phát từ những định đề có sẵn hơn là từ
sự phát triển của thực tế khách quan để khái quát lên thành các nguyên lý
khác trước làm cơ sở cho luận chứng,…” [35; 22-23]
Trên cơ sở đưa ra các định nghĩa về thế giới quan trong dòng lịch sử
tư tưởng nhân loại, chúng tôi lấy định nghĩa “thế giới quan là toàn bộ những
quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và
vị trí của con người trong thế giới đó” làm cơ sở để từ đó tìm hiểu rõ hơn về
thế giới quan trong tư tưởng của Nguyễn Trãi được thể hiện qua hai tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tâp”
1.2.2 Ảnh hưởng của truyền thống dân tộc đến thế giới quan của Nguyễn Trãi
Chủ nghĩa yêu nước, ý thức về một dân tộc độc lập, có chủ quyền
được hình thành trong mỗi con người Việt Nam, trở thành tư tưởng chủ đạo trong dòng chảy tư tưởng triết học Việt Nam Tinh thần đó được thể hiện qua các câu chuyện thần thoại về Thánh Gióng đánh giặc Ân, truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thủy; hay các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, của Lý Bí, Ngô Quyền… Chủ nghĩa yêu nước còn được thể hiện trong khí tiết khẳng khái của các anh hùng thời kỳ Lý – Trần Tất cả chứng minh tinh thần yêu nước, ý thức đoàn kết, đồng thời mang lại cho thế hệ con cháu những bài học to lớn về nghệ thuật giành và giữ nước của cha ông
Trong thời kỳ đó, cha ông ta đã hình thành quan niệm sơ khai về thế giới quan, tiêu biểu trong số đó là quan niệm của Lý Thường Kiệt, thể hiện qua bài thơ
“Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rõ ràng phân định ở sách trời
Trang 18Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”[15; 289]
Với trình độ nhận thức đương thời, Lý Thường Kiệt quy mọi sự về mệnh trời Ông cho rằng cơ sở để xác lập chủ quyền, ranh giới đó chính là ý trời, mệnh trời Lý Thường Kiệt đã khéo vận dụng tư tưởng mệnh trời để củng
cố niềm tin cho quân dân Đến Nguyễn Trãi, ông đã kế thừa quan niệm này của cha ông, song đề cao hơn vai trò của con người trong cuộc đấu tranh giành và giữ nước của dân tộc
Tinh thần khoan dung, đạo lý nhân nghĩa, đặc biệt là tư tưởng lòng dân và ý dân được coi là cơ sở của mọi quốc sách của mọi đất nước Trong Chiếu dời đô năm 1010, Lý Công Uẩn khẳng định việc dời đô là “trên vâng
mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi, cho nên vận nước lâu
dài, phong tục phồn thịnh” [56; 50] Chiếu rời đô đánh dấu sự trưởng thành
trong tư duy chính trị Việt Nam, phản ánh ý chí, chủ quyền dân tộc
Lý Thường Kiệt cũng khẳng định “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân” [44; 16]
Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn khẳng định nhân dân là cơ sở để tiến hành những cuộc chiến tranh giữ nước “….khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách để giữ nước” [14] Như vậy, trong lịch sử tư tưởng dân tộc, yêu nước đồng nghĩa với việc lấy ý dân làm gốc Và đến với tư tưởng Nguyễn Trãi chủ nghĩa yêu nước, tinh thần khoan dung, vì dân, ý dân được ông tiếp thu và phát triển đến đỉnh cao
1.2.3 Ảnh hưởng của Nho giáo đến thế giới quan của Nguyễn Trãi
Nho giáo là học thuyết do Khổng Tử sáng lập thế kỷ thứ 5 TCN Sự phát triển của Nho giáo trải qua các thời kỳ từ Nho giáo nguyên thủy (với các tên tuổi tiêu biểu là Khổng Tử, Mạnh Tử), đến thời kỳ Hán Nho (Đổng Trọng Thư, Vương Sung), và đến thời Tống Nho (với tên tuổi của Chu Đôn Di,
Trang 19Trương Tải, Trình Hạo,Trình Di) … dần dần đã biến đổi làm cho Nho giáo trở lên phong phú, đa dạng so với hệ thống khác đương thời
Vấn đề trọng tâm mà các nhà Nho ở các thời kỳ khác nhau quan tâm
đó chính là vấn đề về nguồn gốc, bản chất của thế giới, vạn vật và con người,
về sự vận động, biến hóa của vạn vật Từ đó các nhà Nho đưa ra vai trò của con người trong thế giới ấy, được biểu hiện qua các thuật ngữ mà các nhà Nho sử dụng là trời, đất, càn khôn, mệnh trời, đạo
Quan niệm của Nho giáo về nguồn gốc của thế giới, vạn vật Trải qua
các thời kỳ khác nhau thì quan niệm của các nhà Nho chia làm hai quan điểm: quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật
Theo quan điểm duy tâm khẳng định nguồn gốc của thế giới, vạn vật
và con người “Vạn vật hồ thiên, nhân bản hồ tổ” nghĩa là thế giới, vạn vật có nguồn gốc từ trời, gốc của con người là tổ tiên, mà tổ tiên của con người đều
có nguồn gốc từ trời Như vậy gốc của thế giới, vạn vật và con người đều từ trời
Trên cơ sở đó, Khổng Tử trong tư tưởng của mình còn khẳng định quyền năng của trời đất Ông cho rằng trời là lực lượng hóa sinh ra muôn vật, trời là thực thể có ý chí, có nhân cách và quyền năng vô hạn, tối cao Số của con người là do trời quyết định “Sống chết có mệnh, giàu sang tại trời” [11] Ông còn khẳng định tiêu chuẩn cơ bản để trở thành người quân tử là phải biết
“tri thiên mệnh, úy thiên mệnh”[11] Bên cạnh đó, trời trong quan niệm của Khổng Tử còn được hiểu như là quy luật của tự nhiên “Trời có nói gì đâu mà bốn mùa xuân, hạ, thu, đông xoay vần, vạn vật cứ sinh hóa mãi”[11]
Đến thời kỳ của Đổng Trọng Thư, quan niệm về trời tuy vẫn chịu ảnh hưởng của các nhà Nho đi trước, nhưng đã mang tính chất duy tâm thần bí và yếu tố cực đoan Ông khẳng định “Trời là tổ của vạn vật, vạn vật không có
Trang 20điều nhân nghĩa” Ông cho rằng trời đất sinh ra vạn vật để nuôi sống con người Hình dáng, tinh thần, đạo đức của con người đều do trời tạo ra theo hình mẫu của trời “Cái đầu tròn của con người là tượng dung mạo của trời, tóc là tượng các vì sao, tai mắt tượng mặt trời, mặt trăng, mũi miệng là tượng gió, mưa Lòng tốt, lòng xấu của con người là tương hợp với sự nóng lạnh,
ẩm ráo của trời” Từ đây ông có quan niệm cực đoan khi cho rằng mọi hiện tượng xảy ra trong tự nhiên cũng như trong xã hội là biểu hiện của sự vui buồn, mừng giận và là sự trừng phạt của trời
Thời kỳ Tống Nho, đại diện tiêu biểu là Trình Hạo, Trình Di và Chu
Hy, với quan niệm về “lý” và “khí” Nhị Trình đều đồng nhất “lý” với “trời”
“trên trời chỉ có một lý”, “cái gọi là trời chính là lý vậy” Hai ông cho rằng trời – “lý là cái tuyệt đối vĩnh cửu, ta không thể thêm bớt, không thể sờ thấy cũng không thể nghe thấy, nhưng nó vẫn tồn tại Lý như là hư không, chẳng
có gì mà lại đủ cả, cái ấy làm sao nói được còn mất, thêm bớt” [39] Từ đây hai ông khẳng định vũ trụ, giới tự nhiên, con người không chỉ có nguồn gốc
từ trời, mà bị chi phối bởi trời
Tiếp tục phát triển tư tưởng của Nhị Trình về “lý” và “khí”, Chu Hy cho rằng “lý” là nguồn gốc, là cơ sở tồn tại của mọi sự vật, hiện tượng trong
vũ trụ Cho nên loài người và muôn vật sinh ra phải bẩm thụ cái lý, cái khí ấy, sau đó mới có hình và thể của người và muôn vật “Lý” là cái bản nguyên, cái
có trước của trời đất, vạn vật
Như vậy tư tưởng của đa số các nhà Nho từ thời kỳ của Khổng – Mạnh qua thời kỳ Hán nho, Tống nho đều khẳng định thế giới vạn vật và con người đều có nguồn gốc từ trời
Đối lập với quan điểm duy tâm, một số nhà Nho theo quan điểm duy vật có những lý giải khác về nguồn gốc của thế giới, van vật và con người
Trang 21Theo Kinh Dịch, nguồn gốc của thế giới vạn vật và con người được lý giải như sau: thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quát, bát quát sinh vạn vật, trong đó thái cực được hiểu là cực lớn, là cái hỗn độn ban đầu, được gọi là khí, lưỡng nghi trong đó một nghi là những khí đục, nặng rơi xuống tạo thành đất (âm), còn nghi kia là những khí nhẹ, trong, lơ lửng trong không trung hợp thành trời (dương) Sự kết hợp âm dương tạo ra vạn vật, con người Trong Kinh dịch còn ghi có trời đất rồi mới
có muôn vật, có muôn vật rồi mới có gái trai, có gái trai mới có vợ chồng, có
vợ chồng mới có cha con, có cha con mới có vua tôi, từ đó mới có trên dưới,
và lễ nghĩa được
Tuân Tử cho rằng toàn bộ thế giới gồm ba bộ phận “Trời có bốn mùa, đất có sản vật, người có văn trị” [41], như vậy Tuân Tử cho rằng trời chỉ là một bộ phận của tự nhiên, bản thân tự nhiên là cơ sở hình thành biến hóa của vạn vật Đồng thời, ông khẳng định con người không thể tùy tiện thay đổi quy luật của tự nhiên mà con người nên nhận thức và tuân thủ theo quy luật của tự nhiên, như vậy con người sẽ có được hạnh phúc “Trời không vì người ta ghét cái lạnh mà bỏ mùa đông, đất không vì người ta ngại xa mà bỏ bề rộng” [41] Điều này đã được Nguyễn Trãi đã tiếp thu trong tư tưởng của mình sau này
Từ đây ông đưa ra quy luật phát triển của thế giới vạn vật: mọi vật trong tự nhiên đều nằm trong quá trình phát triển từ thấp đến cao, con người có nguồn gốc từ giới tự nhiên, đồng thời là thực thể cao nhất “nước lửa có khí nhưng vô sinh, cỏ cây có sinh nhưng vô tri, cầm thú có tri những vô lễ nghĩa, con người
có khí, có tri, có sinh và có cả lễ nghĩa” [41]
Như vậy đến với tư tưởng của Tuân Tử thì thế giới quan của Nho giáo
đã được bổ sung và phát triển mang nhiều yếu tố duy vật trong việc giải thích nguồn gốc của thế giới vạn vật và con người
Trang 22Quan niệm của các nhà Nho về sự vận động, biến hóa của thế giới vạn vật Đây được coi là nội dung chủ yếu trong thế giới quan Nho giáo Về
quan niệm này, nhìn chung các nhà nho đều khẳng định vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến đổi không ngừng Khổng Tử cho rằng quá trình biến đổi của vạn vật như dòng chảy không ngừng, không có điểm khởi đầu hay kết thúc
“Cũng như nước sông chảy đi, mọi vật đều qua đi không có gì ngừng nghỉ” [11]
Khi bàn về nguồn gốc của sự vật động và biến hóa ấy, các nhà nho có các tư tưởng khác nhau Trong Kinh Dịch thì cho rằng nguồn gốc là do sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập “cương, nhu tương thôi nhi sinh biến hóa” Có nhà nho như Đổng Trọng Thư thì luôn khẳng định nguồn gốc của sự vận động và biến hóa ấy là từ trời “thiên bất biến, đạo diệc bất biến” Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng nó thể hiện một bước tiến quan trọng trong thế giới quan Nho giáo thời kỳ bấy giờ
Quan niệm của Nho giáo về vị trí và vai trò của con người trong thế giới Với quan niệm này, chúng ta xem xét ở hai khía cạnh Một là vai trò của
con người đối với trời đất và vạn vật Trong quan niệm của các nhà Nho, con người là một bộ phận cao nhất của tự nhiên, con người đứng trên vạn vật Vì vậy, vai trò của con người có thể sánh ngang cùng trời đất hóa sinh muôn vật Tuy nhiên để có được vị trí đó con người cần phải “biết thực hành đúng theo đạo trời, mệnh trời, kính trời, phải bẩm thụ được đạo đức nhân, lễ, nghĩa, tín
mà trời ban cho”[4; 26] Như vậy trong quan niệm của Nho giáo, vai trò của con người chỉ có thể có khi con người phục tùng theo quyền uy tối cao của trời, phải tuân theo đạo, theo mệnh trời “Lớn thay đạo của thánh nhân! Mênh mông vô bờ bến, phát dục muôn vật, cao vút tận trời, đầy đủ mà dồi dào thay” [11] Mệnh trời trong quan niệm của Nho giáo chính là quyền uy tối cao, thể hiện vai trò của trời với sự sinh thành và phát triển của vạn vật, con người, cho nên cái tính, cái đức của con người, việc con người trở nên thiện nhân và
Trang 23sang – hèn, sinh – tử … đều do trời quyết định “Người quân tử căn cứ vào địa vị của mình mà hành động, không được ham cái ở ngoài bổn phận Ở địa
vị giàu sang thì làm theo cách giàu sang, ở địa vị nghèo hèn thì làm theo cách nghèo hèn, ở thân di dịch thì phải chịu thân di dịch… Quân tử dù ở cảnh nào cũng tự tìm thấy niềm vui của mình” [12]
Tóm lại, quan niệm của Nho giáo về vai trò của con người trong mối quan hệ với trời về cơ bản mang tính duy tâm Trước trời con người chỉ là lực lượng thụ động, con người chỉ có giới hạn ở việc đem cái đạo, cái mệnh của trời lưu hành khắp vũ trụ mà thôi Đây là điểm hạn chế trong thế giới quan Nho giáo Nguyên nhân cơ bản xuất phát từ quan niệm phân biệt đẳng cấp của
xã hội lúc bấy giờ Và đến với Nguyễn Trãi, ông đã đưa ra những tư tưởng khắc phục điều này khi thấy được vai trò của con người tác động trở lại trời đất, vũ trụ Tuy nhiên, tư tưởng thiên – nhân hợp nhất vẫn là tư tưởng chủ đạo trong thế giới quan Nguyễn Trãi
Hai là vai trò của con người trong các mối quan hệ xã hội cơ bản Nho giáo đưa năm mối quan hệ cơ bản trong xã hội, trong đó mối quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ là ba mối quan hệ rường cột của Nho giáo Từ đây, Nho giáo đưa ra những quy phạm, chuẩn mực đạo đức để ràng buộc trách nhiệm của con người trong xã hội, mà các nhà Nho gọi đó là đạo làm người, với năm đức chủ yếu: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín
Từ những phân tích trên chúng ta thấy, tuy chịu ảnh hưởng của Nho giáo song Nho giáo của Nguyễn Trãi là một thứ “Nho học khai phóng”, với nhiều nội dung vượt lên trên Nho giáo chính thống, không còn mang tính chất kinh viện nữa mà luôn gắn với thực tiễn xã hội Việt Nam, luôn xuất phát từ lòng yêu nước, thương dân không biết mệt mỏi của Nguyễn Trãi Điều đó đã làm nên những mới mẻ, tiến bộ trong tư tưởng về thế giới quan của ông
Trang 241.2.4 Ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo gia đến thế giới quan của Nguyễn Trãi
* Phật giáo và thế giới quan của Nguyễn Trãi
Phật giáo được ra đời vào thế kỷ thứ VI TCN, dựa trên nền tảng xây dựng một học thuyết giúp con người tìm ra nguyên nhân và cách thức diệt của nỗi đau khổ nhân thế
Theo Phật giáo, thế giới này do danh và sắc kết hợp với nhau mà thành Hai yếu tố này liên hệ mật thiết với nhau, không có cái này thì cũng không có cái kia và ngược lại Vì mọi sự vật, hiện tượng đều do nhân duyên sinh nên thế giới này sinh ra không nhớ một đấng sáng tạo nào, mà do nhân quả nối tiếp nhau thành
Từ đây, Phật giáo đưa ra quan niệm về vô thường, vô ngã, vô tạo giả, trong đó, vô thường tức là mọi vật thường hằng, thường sinh, có diệt, biến đổi, trôi chảy không ngừng, không có sự vật nào tồn tại vĩnh viễn, có sống tất
có chết Sự biến đổi này theo chu kỳ “thành – trụ - hoại – không” Từ đây, Phật giáo đi đến khái niệm vô ngã, tức là không có cái tôi, cái ta Thế giới quan Phật giáo phủ định con người là sản phẩm của Barhman, và giải thích về các yếu tố hình thành nên con người theo thuyết Danh – Sắc Theo thuyết này, con người được cấu tạo bởi hai yếu tố danh và sắc, hay vật chất và tinh thần, trong đó danh chỉ yếu tố tinh thần, sắc chỉ yếu tố vật chất Thuyết lục đại cũng giải thích nguồn gốc hình thành con người bởi sáu yếu tố: Địa – Thủy – Hỏa – Phong – Không – Thức, trong đó năm yếu tố đầu thuộc về vật chất, chỉ có yếu
tố thứ sáu thuộc về tinh thần
Thuyết Ngũ uẩn cho rằng con người được cấu tạo bởi năm yếu tố: Sắc – Thụ - Tưởng – Hành –Thức
Phật giáo đưa ra quan niệm về cuộc đời con người, cách thức giải thoát cho con người trong Tứ diệu đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế
Trang 25Như vậy, từ quan niệm về thế giới quan đên nhân sinh quan của Phật giáo đều hướng con người đạt tới một trạng thái thanh tịnh, an nhàn, ung dung, tự tại Tuy nhiên khi du nhập vào Việt Nam, thế giới quan Phật giáo mang thêm những đặc điểm riêng
Thứ nhất, thế giới quan Phật giáo mang tính dân gian, có sự giao thoa với tín ngưỡng bản địa
Thứ hai, thế giới quan Phật giáo là sự kết hợp chặt chẽ giữa việc đời và việc đạo
Thứ ba, thế giới quan Phật giáo có mối quan hệ chặt chẽ với thế giới quan Nho – Đạo, tạo nên sự dung thông tam giáo
Vì lẽ đó “Phật giáo Việt Nam xuất phát từ dân gian, ăn sâu vào tâm thức quảng đại quần chúng, trở thành một yếu tố tâm lý dân tộc, và vì vậy mang tính dân tộc xuyên suốt lịch sử Đó là một sự thực khách quan” [16;
19] Và đây cũng là lí do để Nguyễn Trãi - một nhà Nho đã lựa chọn triết lý
của Phật giáo, nhằm đem lại cho ông sự thư thái cũng như một triết lí nhân sinh mới bổ sung cho nhân cách của một nhà Nho Sau hơn ba mươi năm, Nguyễn Trãi thấy được sự đời không diễn biến như những gì sách thánh hiền
đã xây dựng Những lí tưởng mà ông và các nhà Nho không quản ngại khó khăn xây dựng lại quá xa vời Ông nhận ra rằng mọi công danh chỉ là hão huyền, tỉnh rồi phải có những quyết định dứt khoát cho bước đi tiếp theo của cuộc đời Vì vậy, ông tự nhủ mình hãy lui vào thủ phận, để tìm ra cho mình phương pháp tu thân mới là Phật giáo, là đạo Lão – Trang chứ không phải là Nho giáo nữa Từ đây ông đưa ra lẽ sống cho mình là trước hết phải chú ý đến
hành thiện, bởi vì “họa phúc gây mầm không một chốc”, mà cả một quá trình
lâu dài Sửa mình làm điều thiện, dù là việc nhỏ hay việc lớn – đây cũng
Trang 26một cái nghiệp tốt Điều đó đã giúp Nguyễn Trãi như thấy mình nhẹ nhõm khi
rời bỏ chốn quan trường, bởi ông không còn phải chịu lụy cái danh “hão
huyền” Tinh thần tự do, tự tại giúp ông hứng thú hơn với cuộc sống đạm bạc,
với mái lều tranh nơi rừng núi Côn Sơn
Tuy Nguyễn Trãi là một nhà Nho song ông lại quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu nền Phật học, đặc biệt là Thiền học Lý - Trần và tỏ rõ sự hiểu biết sâu sắc với triết lý uyên thâm của đạo Thiền Điều đó cho thấy một trí tuệ và một cách nhìn hơn người của Nguyễn Trãi so với nhiều nhà Nho lúc bấy giờ khi đã kế thừa những giá trị tư tưởng của Phật giáo với tư cách là di sản văn
hóa dân tộc theo phương châm “gạn đục khơi trong”, khi mà chính quyền và
giới Nho sĩ đang ra sức kỳ thị, đả kích và có ý định phủ định sạch trơn tất cả những gì mà nền Phật học nước nhà dày công xây dựng nên Đó là công lao của Nguyễn Trãi và một số nhà Nho tiến bộ bấy giờ
* Đạo Lão – Trang và thế giới quan của Nguyễn Trãi
Đạo Lão – Trang có nguồn gốc từ Trung Quốc do Lão Tử sáng lập
Nền tảng chung của tư tưởng Lão – Trang là quan niệm về “đạo” và “đức”
Quan niệm chính của Lão Tử là quay trở về với thiên nhiên, sống tự do, không màng đến quyền lợi, danh vọng, kẻ cầm quyền phải lấy đức tự nhiên để cảm hóa dân chúng, dùng hạnh phúc,vô sự để thu phục dân chúng
Đạo Lão – Trang được truyền bá vào Việt Nam từ thời kỳ Bắc thuộc Những tư tưởng của nó ít nhiều phù hợp với nhà nước phong kiến tập quyền, với tâm lí, tín ngưỡng, và đáp ứng được nhu cầu tâm lí của con người Chính
tư tưởng của Đạo gia về cuộc đời, về công danh, về thái độ đối với cuộc sống làm người, đã làm cho Nguyễn Trãi nói riêng và các nhà Nho nói chung tìm thấy thú vui, nhất là tìm thấy sự bình yên trong tâm hồn, nhất là khi những tư tưởng nhân nghĩa, đạo trung hiếu, tấm lòng vì dân, vì nước, chủ nghĩa nhân
Trang 27đạo của ông gặp phải sự đối kháng với tư tưởng tập quyền chuyên chế ích kỷ giai cấp của tầng lớp quý tộc Lê
Như vậy, tìm đến tư tưởng của đạo Lão – Trang là Nguyễn Trãi tìm đến một phương tiện tự an ủi, tự giải tỏa khỏi những trớ trêu, bế tắc trong cuộc đời cũng như là một phương thức giúp ông vượt qua nỗi thất vọng khi hoài bão giúp đời của ông không có cách nào thực hiện được
Giống như Phật giáo, ảnh hưởng của đạo Lão – Trang chỉ giữ vai trò thứ yếu tuy có tính hệ thống Trước hoàn cảnh xã hội, Nguyễn Trãi cảm thấy bất lực, ông tự nhận mình là kẻ kém đức, kém tài, không dám ra làm quan, chỉ
ở nhà sống ẩn dật
Nguyễn Trãi muốn trở thành một cư sĩ, một đạo sĩ sống với tự nhiên;
từ đó phóng tầm mắt ra nhìn những đám mây trắng bay từ trong núi ra một cách vô tâm Đây là bước ngoặt quan trọng của bậc đại phu ưu thời mẫn thế,
đó là sự thức tỉnh bởi nhận ra danh lợi chỉ là “gió thổi hoa”, Nguyễn Trãi đã
chuyển cuộc đời mình gắn bó với tự nhiên, tự tại, cảm thấy nhẹ nhõm và tự
nhận thấy mình là “người cày trong thanh nhàn” và câu “trong hiu quạnh”
Ông nhận ra rằng cuộc đời chỉ như là một giấc mộng, không thực, danh phận chỉ là hão huyền, vô nghĩa
Từ quan niệm đời là hư vô, giá trị cuộc sống là tương đối, ông đi đến thái độ bất tranh, mà bất tranh là nguyên tắc quan trọng nhất trong triết lí sống của đạo Lão – Trang, việc thực hiện nguyên tắc này sẽ đạt tới cuộc đời tự do, dứt mọi ưu phiền của cuộc sống và có thái độ sống ưu việt nhất Đây là điều
mà Nguyễn Trãi và các nhà nho đương thời tìm được khi dung thông với quan niệm của Đạo gia
Từ quan niệm sống bất tranh, Nguyễn Trãi chọn lối sống tu tiên, tiêu dao, hoà mình với tự nhiên giống như quan điểm của Đạo gia Ông nâng niu
Trang 28từng cành cây, ngọn cỏ, quý sự hài hòa của thiên nhiên mà không nỡ chặt cây làm mất chỗ của chim muông
Tư tưởng yếm thế của Đạo gia được Nguyễn Trãi thể hiện một cách khá đầy đủ và hệ thống Tuy nhiên, nó chỉ ảnh hưởng trong một phạm vi nhất định trong cuộc đời của Nguyễn Trãi khi ông gặp những bước hoạn nạn, truân chuyên Bởi mặc dù xác định lối sống vô vi, nhàn tản, lãng quên nhưng toàn
bộ trí tuệ, tâm khảm của Nguyễn Trãi vẫn hướng tới cuộc đời, mong ước được sử dụng, được cống hiến cho đời theo đúng nghĩa của một nhà Nho chân chính
Đây chính là cơ sở cho sự dung thông Nho – Phật – Đạo của Nguyễn Trãi, dung thông để giải quyết vấn đề tạm thời nhưng không quên đi bản chất của mình là một nhà Nho, và lí tưởng của mình là giúp đời, giúp nước Tư tưởng vô vi, hoà mình với tự nhiên chỉ là cái nền để khẳng định thêm tấm lòng trung với nước, yêu thương dân chúng của Nguyễn Trãi mà thôi
1.2.5 Ảnh hưởng của truyền thống gia đình và tài năng của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi là một con người đầy tài năng, với một truyền thống gia đình đáng tự hào - một môi trường thuận lợi cho lòng yêu nước, tinh thần thương dân phát triển trong tư tưởng của ông Dòng họ nội của Nguyễn Trãi ngay từ xưa đã có nhiều người làm quan cho triều đình với những chức vụ quan trọng Tiến sĩ Nguyễn Quốc đời Lý Anh Tông, từng làm Thượng thư bộ Hình, từng làm Đại tư đồ, đi sứ nhà Tống năm 1158 Cuối cùng vì đấu tranh cho công lí mà bị Đỗ Anh Vũ buộc uống thuốc độc chết Ở chi thứ ba, tức chi Nguyễn Phúc có Tiến sĩ Nguyễn Thuyên làm Thượng thư bộ Hình ở thời vua Trần Nhân Tông Ông còn là người biết áp dụng luật thơ Đường vào thơ quốc
âm, mà về sau người ta gọi là thơ Hàn luật Cách làm thơ quốc âm đó được
Trang 29nhiều người hưởng ứng như Chu An, Hồ Quý Ly Và Nguyễn Trãi đã nối chí ông tổ mình để lại cho chúng ta một tập thơ mấy trăm bài bằng chữ Nôm
Dòng họ ngoại của Nguyễn Trãi là dòng dõi tôn thất nhà Trần Ông ngoại của Nguyễn Trãi là Trần Nguyên Đán - cháu bốn đời của Trần Quang Khải, một người vốn tính thâm trầm, nhưng lại giàu lòng thương người Tuy ngồi ngôi Tể tướng, sống trong dinh nguy nga, nhưng vẫn nghĩ đến đời sống lầm than của dân Lối sống và tâm hồn của ông ngoại có ảnh hưởng rất lớn đến Nguyễn Trãi
Mẹ của Nguyễn Trãi, bà Trần Thị Thái là một người phụ nữ dòng dõi quý tộc, được giáo dục lề lối, nề nếp, văn hóa Lối sống và cách sử dụng chữ Nôm của Nguyễn Trãi là được kế thừa từ người mẹ của mình
Cha của Nguyễn Trãi - Nguyễn Phi Khanh, là người có tài Ông là một người giàu lòng yêu nước, thương dân
Với một truyền thống gia đình hết sức tốt đẹp, Nguyễn Trãi đã được hình thành và phát triển cho mình ý thức về lòng yêu nước, về phương châm sửa mình, phong cách xử thế
Hơn nữa, bản thân Nguyễn Trãi là người có trí thông minh và đức tính chăm học “Lục tuế nhi đồng phả ái thư” [22; 398] Đến tuổi thanh niên, ông
đã nổi tiếng học giỏi trong giới Nho học “thanh niên phương dự ái Nho lâm” [45; 364] Tuy nhiên, tuổi thơ của Nguyễn Trãi cũng đầy sóng gió Lên tám tuổi, ông đã mồ côi mẹ Năm ông mười tuổi, Trần Nguyên Đán qua đời, ông mất đi người luôn ở bên ông để nuôi dạy ông bằng truyền thống dân tộc và đạo lý làm người Ông theo cha trở về làng quê sống cuộc sống bình dân Tại đây, cuộc sống của Nguyễn Trãi được hòa vào cuộc sống của bao tầng lớp lao động nghèo khổ, cùng sống và lao động với họ Điều này làm cho ông càng cảm thấy yêu quý và mang ơn họ “Ăn lộc nhờ ơn kẻ cấy cày” Cuộc sống
Trang 30tình cảm và nguyện vọng của người dân lao động, cộng với lòng yêu nước, thương dân của mình đã giúp xây dựng lên một Nguyễn Trãi suốt đời chỉ trăn trở làm sao để xây dựng một xã hội như thời Ngu, Thuấn
Như vậy, nhân tố chủ quan thiên tài cộng với truyền thống yêu nước quý báu của dân tộc đã góp phần tạo nên vóc dáng nhà tư tưởng vĩ đại - Nguyễn Trãi một nhà Nho có bản lĩnh, giàu lòng yêu nước, vừa là một nhà thơ, nhà văn, nhà chiến lược, một nhà tư tưởng kiệt xuất Sự vĩ đại của nhà tư tưởng này không chỉ dừng lại ở những học thuyết, những tư tưởng cao siêu
mà còn thể hiện qua hành động của việc biến những tư tưởng thành hiện thực
“Sự học của tiên sinh vốn khởi phát tự gia đình, nhưng sâu sa và rộng rãi,
ngay thẳng, lớn lao, cứng rắn, vuông vắn thì tự mình bấm chí đi tới” [22; 107] Ngoài ra, tư tưởng của Nguyễn Trãi còn được hình thành thông qua việc
tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực thế giới quan của Nho – Phật – Đạo Chính ba học thuyết này đã tạo nên một hệ tư tưởng thống nhất trong đa dạng, tạo sức mạnh cố kết cộng đồng, bồi đắp cho triết lý khoan dung, khoan hòa của người Việt Cùng với dân tộc, cùng với lịch sử, Nguyễn Trãi đã biết chọn lọc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm phong phú thêm tư duy của bản thân, tạo nên nền tảng tư tưởng của mình với những sắc thái và giá trị
riêng biệt trong dòng tư tưởng lịch sử của dân tộc
1.3 Cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và
“Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi – vị anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, là một nhà Nho tiêu biểu nhất của thế kỷ XV, đồng thời là một nhà tư tưởng vĩ đại trong lịch sử tư tưởng Việt Nam Cuộc đời của nhà tư tưởng vĩ đại này gắn với những thăng trầm và biến cố của dân tộc
Trang 31Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380, quê ở xã Chi Ngại, huyện Phương Sơn, tức Phương Nhãn, nay là huyện Chí Linh (Hải Dương), sau mới dời đến làng Nhị Khê Là cháu ngoại của quan tư đồ Trần Nguyên Đán Là con của Trần Thị Thái và Nguyễn Ứng Long, sau đổi tên thành Nguyễn Phi Khanh Cha Nguyễn Trãi là một người có tài Năm 1374, đời vua Trần Huệ Tông mở khoa thi ở trong hành cung, Nguyễn Phi Khanh đỗ đệ nhất giáp, đệ nhị danh tức bảng nhãn Thượng hoàng Trần Nghệ Tông cho rằng ông là con thường dân, lại lấy con gái họ tôn thất nên không bổ nhiệm ông ra làm quan Vì vậy, trong suốt hai bảy năm trời, Nguyễn Phi Khanh làm thầy đồ dạy học Năm 20 tuổi, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh dưới triều Hồ, rồi sung chức ngự sử đài chánh chưởng
Năm 1407, giặc Minh cướp nước ta, nhà Hồ sụp đổ Cha con Hồ Quý
Ly và các triều thần bị bắt và giải về Trung Quốc trong đó có Nguyễn Phi Khanh Được tin cha bị bắt, Nguyễn Trãi cùng người em là Nguyễn Phi Hùng đến chỗ quân Minh giam giữ tìm cha, rồi hai anh em lên ải Nam Quan với ý định sang bên kia biên giới để phụng dưỡng cha Nhưng Nguyễn Phi Khanh
đã nói với Nguyễn Trãi rằng:
“Con là người có học, có tài nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu Lọ là cứ phải đi theo cha, khóc lóc như đàn
bà ấy mới là hiếu hay sao?” [28]
Nguyễn Trãi nghe lời cha trở về thành Đông Quan, bị giặc Minh bắt Biết ông là người có tài, giặc Minh mời ông ra làm quan nhưng ông kiên quyết và khẳng khái từ chối Việc Nguyễn trãi nghe lời cha trở về và lời từ chối với giặc Minh đánh dấu một sự trưởng thành trong tư tưởng đồng thời khẳng định tấm lòng yêu nước của Nguyễn Trãi
Trong khoảng thời gian ông ở thành Đông Quan, các cuộc khởi nghĩa
Trang 32đến tư tưởng Nguyễn Trãi, thôi thúc ông tìm đường cứu nước Trong khi Nguyễn Trãi chưa tìm được những người cùng ý chí, cùng quan điểm để cùng nhau xả thân cứu nước, thì tại Thanh Hóa, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã lan rộng khắp nơi, vang dội khắp đất nước và đến với Nguyễn Trãi Ông tìm cách thoát khỏi thành Đông quan, cùng Trần Nguyên Hãn lặn lội núi rừng, đi tìm gặp nghĩa quân Lê Lợi – người lãnh tụ của phong trào đó Việc Nguyễn Trãi đến với Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa là sự kiện có tính chất bước ngoặt trong cuộc đời ông, vì đến với Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã từ bỏ giai cấp của mình để đến với nhân dân và tầng lớp địa chủ mới, đang là lực lượng tiến bộ lúc bấy giờ
Năm 1420, Nguyễn Trãi dâng “Bình Ngô Sách”, gồm ba kế sách lớn đáh giặc Tiếc rằng bản “Bình Ngô Sách” không còn lại tới ngày nay, nhưng
chắc chắn nó là kế hoạch tốt với những đường lối sáng suốt và tài giỏi để đẩy mạnh cuộc đấu tranh giải phóng đến ngày thắng lợi hoàn toàn Người đời sau
lưu truyền lại rằng “Bình Ngô Sách”: “hiến mưu chước lớn, ông không nói
đến việc đánh thành mà lại nói đến việc đánh vào lòng người, cuối cùng nhân dân, đất đai của mười lăm đạo nước ta sẽ đem về cho ta tất cả”
Điều này chứng tỏ Nguyễn Trãi là một hiểu thời cuộc Ông đã vận
dụng “Bình Ngô Sách” để trù tính, giải quyết việc quân, việc nước Đường lối
cơ bản của ông là nhân nghĩa, nhân dân, dân chủ, đoàn kết Với tư tưởng và đường lối của Nguyễn Trãi, nghĩa quân Lam Sơn đã đánh giặc bằng mọi cách quân sự, chính trị, ngoại giao, binh vận tạo thành một sức mạnh to lớn, thế tiến công và cuối cùng đã chiến thắng
Năm 1428, sau khi toàn bộ quân xâm lược đã rút khỏi nước ta, Nguyễn Trãi vô cùng phấn khởi, thay mặt Lê Lợi, ông viết Cáo Bình Ngô – là bản tuyên cáo đánh thắng giặc Minh của nghĩa quân Lam Sơn, đồng thời là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta sau này
Trang 33Từ đây, Nguyễn Trãi muốn thực hiện lí tưởng dựng nước của mình, là
phải làm thế nào để cho “dân yêu”, “thế nước yên”, Nguyễn Trãi đã cùng Lê
Lợi lo ngay việc củng cố nền độc lập dân tộc, giữ vững khối thống nhất tổ quốc, xây dựng lại đất nước Nguyễn Trãi mơ ước về một xã hội lí tưởng như thời vua Nghiêu, vua Thuấn
Sau khi Lê Lợi lên ngôi, Nguyễn Trãi được ban quốc tính, được phong tước quan phục hầu, Nhập nội hành khiển Lại bộ thượng thư kiêm quản công việc Khu Mật viện Nhưng chức vụ này chỉ ở bậc trung của triều đình, không
cho phép ông trổ tài kinh bang tế thế Hơn nữa, những sách lược “tâm công”
của ông lại vấp phải sự phản đối trong bộ máy quan lại triều đình, gây ra những điều dị nghị về ông
Năm 1430, bọn gian thần thấy ý thức dân chủ của vua quan triều thần
có chiều hướng đi lên, đe dọa nghiêm trọng đến địa vị, quyền lợi và vận mệnh của chúng Chúng tìm mọi cách hãm hại những công thần vì nước như việc vua cho bắt Trần Nguyên Hãn, khiến ông phải nhảy ông tự tử Bản thân
Nguyễn Trãi theo sử cũ Dương Bá Cung cho biết Nguyễn Trãi từng có việc hạ
ngục rồi lại được tha Mặc dù Lê Lợi tha cho Nguyễn Trãi, nhưng không còn
tin Nguyễn Trãi nữa Vì vậy, một thời gian sau, ông lui về ở ẩn ở Côn Sơn ở
ẩn Cuộc sống của Nguyễn Trãi ở đó nghèo túng cực khổ
Sau khi Lê Thái Tổ chết, Lê Thái Tông mời Nguyễn Trãi ra làm quan, giữ chức Tả Gián nghị đại phu ở Môn hạ sảnh
Năm 1437, Lê Thái Tông giao cho hoạn quan Lương Đãng cùng hành khiển Nguyễn Trãi trông nom công việc làm xe loan, làm nhạc cụ, dạy nhạc Một người có tài kinh bang tế thế, giỏi chăm dân, trị nước như Nguyễn Trãi
mà chỉ để làm như vậy thật uổng công sức, nhưng Nguyễn Trãi vẫn vui lòng nhận Ông tranh thủ thời cơ để nói về nguyên lí của nhạc và khuyên vua phải
Trang 34Trong thời gian này, Nguyễn Trãi có bất đồng với Lương Đãng nên ông xin thôi, và về tạm nghỉ ở Côn Sơn Hơn mười năm làm quan, Nguyễn Trãi tuy phải gánh chịu nhiều bất công nhưng ông kiên trì đấu tranh cho lí tưởng của mình
Năm 1438, vua Lê Thái Tông lại ra chiếu mời ông ra làm quan với chức cũ và coi việc quân và dân ở hai đạo Đông Bắc
Năm 1439, vừa tuổi sáu mươi, ông cáo quan, Lê Thái Tông muốn giữ ông không cho ông về hưu, nhưng bọn hoạn quan, gian thần không muốn ông can thiệp vào việc triều chính Lê Thái Tông trao cho ông làm đề cử chùa Tư Phúc ở Côn Sơn
Năm 1442, Nguyễn Trãi với danh nghĩa là Hàn Lâm Viện thừa chỉ kiêm Quốc Tử giám ra chủ trì kỳ thi tiến sĩ, và đã lấy Nguyễn Trực đỗ trạng nguyên Ngày 19, tháng 9, năm 1442, vụ án Lệ chi viên xảy ra, Nguyễn Trãi
và Nguyễn Thị Lộ cùng các con chịu họa chu di tam tộc Sau này, vua Lê Thánh Tông đã rửa oan cho Nguyễn Trãi và hết lòng ca ngợi con người và sự
nghiệp của ông “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo”
Về sự nghiệp văn chương: Nguyễn Trãi viết nhiều, nhưng sau vụ án thảm án Trại vải, nhiều tác phẩm của ông bị bè lũ triều thần thiêu hủy Nay còn lại những tác phẩm tiêu biểu sau:
- Băng hồ di sự lục (1428)
- Bình ngô đại cáo (1428)
- Văn bia Vĩnh lăng (1433)
- Dư địa chí (1435) là tác phẩm địa lí xưa nhất Việt Nam, có 54 đoạn văn ngắn gọn, xúc tích, Nguyễn Trãi đã tổng kết khái quát về địa lí… là cơ sở cho kế hoạch xây dựng đất nước thời Lê
Trang 35Đáng giá chung về sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi, chúng ta
có thể nhất trí với khẳng định rằng: “Văn chương của tiên sinh tinh vi, thâm thúy, rộng rãi, chính đáng, cứng rắn, là tự tiên sinh rèn luyện và phát huy được Tiên sinh vốn không có ý đức chuốt văn chương, nhưng một khi lời nói thổ lộ đều sáng sủa, đẹp đẽ, mạnh mẽ, dồi dào không có cái gì có thể che lấp được…Những lời nói đó có thể làm bài học dạy cho đời bấy giờ và lưu truyền mãi mãi đời sau” [17; 266] “… Một nhà chính trị, một nhà chiến lược thiên tài, một nhà ngoại giao lão luyện, và đồng thời cũng là một học giả uyên bác, một nhà văn và một nhà thơ lỗi lạc; một đời sống lộng lẫy và… một kết cục quá tàn nhẫn Đó là vận mệnh của Nguyễn Trãi Nhưng Nguyễn Trãi cũng là một con người mà sự nghiệp, tên tuổi đã vượt qua tất cả sự bất công của “vận mệnh” để sống mãi một đời sống huy hoàng trong lịch sử nước nhà, trong tâm hồn biết ơn của mọi thế hệ ngày sau” [25; 20]
1.3.2 Tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập” và “Quốc âm thi tập”
* “Quân trung từ mệnh tập” được viết năm 1423, gồm các thư từ viết
cho tướng lĩnh quân Minh hoặc cho bọn ngụy quân, vừa là biểu cầu phong, hoặc bài dụ gửi tướng sỹ ta ở Thanh Hóa, Nghệ An để khen thưởng vì có
công đánh giặc Theo Ức Trai di tập, Quân trung từ mệnh tập có tất cả 42 bài
Đến năm1961, trong Quân trung từ mệnh tập do Nhà xuất bản Sử học xuất bản có them 4 bài do ông Phan Duy Tiếp và Đinh Gia Khánh sưu tầm
Trang 36Như vậy, những văn kiện tìm thấy đã đưa số bài trong Quân trung từ mệnh tập thành 69 bài, gồm
1 Thư xin hàng
2 Thư cho tổng binh cùng quan phủ vệ Thanh Hóa
3 Thư cho Thái giám sơn thọ
4 Thư cho Phương Chính
5 Thư trả lời Phương Chính
6 Lại thư trả lời Phương Chính
7 Lại thư cho Phương Chính
8 Lại thư trả lời Phương Chính
9 Thư trả lời bọn tổng binh Vương Thông thái giám Sơn Thọ
10 Thư gửi bọn Hoa đại nhân
11 Thư cho Thái công
12 Thư cho Hình nội quan cùng bọn Đả Trung và Lương Nhữ Hốt
13 Lại thư cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt
14 Lại thư trả lời Vương Thông
15 Lại thư gửi cho Vương Thông Sơn Thọ
16 Lại thư cho Vương Thông
17 Lại thư cho Vương Thông
… 69 Chiếu về việc làm bài “Hậu tự huấn” để răn bảo thái tử
* “Quốc âm thi tập” là một tập thơ chữ Nôm, gồm 254 bài chia làm ba
phần lớn
*Phần Vô đề gồm
Trang 37- Bảo kính cảnh giới (61 bài)
- Về Côn Sơn ngẫu tác ngỳ trùng cửu
Trang 38vô vi của Đạo gia Tập thơ cũng là bức tranh sống động về sự mâu thuẫn trong tư tưởng của Nguyễn Trãi
Tiểu kết chương 1: Nguyễn Trãi được sinh ra và lớn lên trong hoàn
cảnh xã hội đầy những biến động phức tạp: sự suy thoái của nhà Trần, sự đảo chính của nhà Hồ, sự xâm lược của nhà Minh, và sự đấu tranh giành độc lập của nghĩa quân Lam Sơn, cộng với một truyền thống gia đình tốt đẹp và tài năng bẩm sinh và việc tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng Nho – Phật – Đạo
đã tạo lên một cốt cách của Nguyễn Trãi mang tầm vóc của thời đại, trở thành một nhà tư tưởng – chính trị - văn hóa … lớn của dân tộc, được mọi thế hệ biết đến Thế giới quan của ông không chỉ là việc chỉ ra mối quan hệ đơn thuần giữa trời – con người – vạn vật, mà thông qua đó là những lời răn về chữ “thời”, về những chuẩn mực đạo đức, là yêu cầu trách nhiệm của nhà cầm quyền, quan lại, và của những con người với nhau, để xây dựng một nhà hội tốt đẹp như thời kỳ vua Nghiêu, Thuấn Đây chính là nỗi niềm đau đáu trong tấm lòng trung với nước, hiếu với dân của Nguyễn Trãi
Trang 39Chương 2: MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG THẾ GIỚI QUAN CỦA NGUYỄN TRÃI QUA TÁC PHẨM “QUÂN TRUNG TỪ MỆNH
TẬP” VÀ “QUỐC ÂM THI TẬP”
2.1 Quan niệm của Nguyễn Trãi về thế giới
2.1.1 Quan niệm của Nguyễn Trãi về tự nhiên
Nguyễn Trãi xuất thân từ một nhà Nho, tư tưởng về tự nhiên của ông chịu ảnh hưởng nhiều từ Nho giáo
Theo quan niệm của người Trung Hoa thượng cổ, vũ trụ lúc đầu là cõi hỗn mang, mờ tịt Trong cái hỗn mang ấy có cái “lý” gọi là “thái cực” – chứa hai mặt tiềm ẩn, đối lập, liên hệ với nhau là âm – dương Sự tương tác, chuyển hóa giữa âm – dương gọi là đạo biến hóa của trời đất Âm – dương tạo
ra thanh khí và trọng khí Thanh khí làm trời, trọng khí làm đất, sự điều hòa giữa âm – dương, trời đất sẽ sinh ra vạn vật, tùy theo độ đậm nhạt của thanh khí và trọng khí mà làm quỷ, làm người hay làm vật
Trong quan niệm của người Trung Hoa cổ đại, thế giới được xếp ngôi thứ gồm trời, quỷ thần, người và vạn vật, trong đó trời không phải là đấng sáng tạo ra vũ trụ mà chỉ giữ ngôi cao nhất trong vũ trụ
Dưới ảnh hưởng của người Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử cho rằng vạn
vật đều có chung nguồn gốc, và vận động không ngừng theo “đạo” của nó
Khổng Tử rất tin ở trời Ông coi trời như một quan tòa công minh, cầm cân nảy mực Trời quyết định sự thành bại của cuộc đời con người Vì vậy, Khổng Tử khuyên con người phải phục tùng ý chí đó Ông coi việc hiểu biết mệnh trời như một điều kiện trở thành con người lý tưởng và gọi đó là thiên mệnh Trong Luận ngữ, Khổng Tử viết “Đắc tội với trời không thể cầu vào đâu được” Ông khuyên “người quân tử có ba điều sợ: sợ mệnh trời, sợ
Trang 40Dưới ảnh hưởng của Nho giáo, tự nhiên được Nguyễn Trãi gọi bằng các tên khác nhau: Trời (Thiên), Trời đất (Thiên địa), sông núi, cỏ cây, muôn thú… Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng về tự nhiên của Nguyễn Trãi được ông phản ánh qua các khái niệm: Thiên địa, càn khôn, thiên đạo, thiên lý, thiên cơ,
âm dương… và cả các khái niệm huyền bí: mệnh trời, ý trời, số… mà theo nhận xét của Nguyễn Tài Thư cho rằng: Các khái niệm lẽ trời, vận trời, lòng người …sức người, sức mình thì trước đó đã có, nhưng trình bày chúng trong quan hệ gắn bó hữu cơ và giải thích một cách phù hợp với thực tế thì Nguyễn Trãi là người đầu tiên Sự giải thích của ông vừa có lợi ích cho hành động, vừa có tác dụng chống thái độ tùy tiện, chủ quan duy ý chí cũng như chống cả chủ nghĩa duy tâm mệnh trời thần bí
Về vai trò của trời đất, Nguyễn Trãi khẳng định trời đất rất linh thiêng
“Tôi cùng các ngài ngày trước đã có lời giao ước với nhau, trên có trời đất quỷ thần tưởng đã chứng giám” [33; 122], luôn luôn vận động và biến hóa không ngừng Trong thư gửi cho các tướng giặc là Đả Trung, Lương Như Hốt, Vương Thông Ông viết “Vả lại vận trời tuần hoàn đi rồi lại lại, từ xưa đến nay bao giờ cũng thế” [33; 122] Nguyễn Trãi nhấn mạnh vai trò sản sinh
ra con người và muôn vật “Trời đất sinh muôn vật” “ơn tạo hóa của trời
đất”[33; 102]
Bên cạnh đó, trời đất còn có đức hiếu sinh, có nhân cách, có tình cảm, giống như tình cảm của cha mẹ đối với con cái.“Thành thực yêu vật là lòng trời đất, thành thực yêu con là lòng cha mẹ Nếu yêu vật không thành thực thì
cơ sinh hóa có lúc đình, yêu con không thành thực thì niềm từ ái có khi thiếu
Vì thế nên trời đất đối với muôn vật, cha mẹ đối với con cái chẳng qua chỉ vì một chữ “thành” mà thôi” [33; 127] “Xua mạng người vào trong đám dáo mác, ta sợ rằng lòng hiếu sinh của thượng đế tất không để làm cho như thế
đâu” [33; 152] Quan niệm này của Nguyễn Trãi tuy ảnh hưởng bởi yếu tố tôn
giáo, song mang lập trường dân tộc và nhân dân Ông khẳng định sự chuyển