1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vấn đề xây dựng nông thôn mới trên kênh truyền hình VTC16 ( Khảo sát 2 chương trình truyền hình: " Nông thôn chuyển động" và " Sao Thần nông" từ 6/2014 - 6/2015)

167 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về vấn đề này nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra bản chất của sự mâu thuẫn trong quá trình phát triển của xã hội nông thôn hiện nay, theo PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái: “Khi định

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===========

NGUYỄN THỊ ANH

VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN KÊNH

TRUYỀN HÌNH VTC 16 (Khảo sát 2 chương trình truyền hình:“Nông thôn chuyển động” và “Sao

Thần Nông” từ 6/2014 – 6/2015)

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Chuyên ngành: Báo chí học

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60320101

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Minh Thái

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của riêng tôi được thực hiện sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái Tài liệu và số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và đáng tin cậy Những kết quả

nghiên cứu khoa học trong luận văn "Vấn đề xây dựng Nông thôn mới trên

kênh truyền hình VTC16” chưa được công bố ở bất cứ công trình khoa học

nào

TÁC GIẢ

NGUYỄN THỊ ANH

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đối với PGS TS Nguyễn Thị Minh Thái, người đã gợi lên ý tưởng, cụ thể hóa đề tài, tạo mọi điều kiện tiếp cận tài liệu, tận tình hướng dẫn khoa học để tôi có thể hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ban chỉ đạo quốc gia về xây dựng Nông thôn mới; tập thể cán bộ lãnh đạo, biên tập viên, phóng viên của kênh truyền hình VTC16; đặc biệt là các biên tập viên, phóng viên

trực tiếp thực hiện hai chương trình mà tôi khảo sát là “Nông thôn chuyển

động” và “Sao Thần Nông” đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể tiếp cận tư liệu

và tìm hiều quá trình sản xuất chương trình phục vụ cho luận văn thạc sĩ về

“Vấn đề xây dựng Nông thôn mới trên kênh VTC16”

Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn các nhà quản lý, lãnh đạo các ngành và các đơn vị liên quan; bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về tinh thần, vật chất, về kiến thức chuyên môn để tôi

có thể theo học cao học và hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy, cô giáo ở Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia – những người đã trực tiếp giảng dạy, bồi dưỡng cho tôi một cách toàn diện về kiến thức cũng như nhân cách trong quá trình học tập; tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện và bảo vệ luận văn

TÁC GIẢ

NGUYỄN THỊ ANH

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

GS.TS: Giáo sƣ, Tiến sỹ

ND-NN-NT: Nông dân, nông nghiệp, nông thôn

NTM: Nông thôn mới

BTT&TT: Bộ Thông tin và Truyền thông

BNN&PTNT: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

IPSARD: Viện Chính sách Chiến lƣợc Phát triển nông nghiệp, nông thôn VTC 16: Kênh truyền hình Nông nghiệp - Nông thôn

VTV: Đài truyền hình Việt Nam

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 10

7 Bố cục của luận văn 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 12

1.1 Khái niệm 12

1.1.1 Nông nghiệp 12

1.1.2 Nông dân 13

1.1.3 Nông thôn 13

1.1.4 Nông thôn mới 13

1.1.5 Văn hóa 14

1.1.6 Văn hóa nông nghiệp 16

1.1.7 Báo chí 17

1.1.8 Truyền hình 17

1.1.9 Chương trình truyền hình 18

1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 19

1.2.1 Chủ trương và những vấn đề chung 19

1.2.2 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới 20

1.2.3 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới 21

1.2.4 Trình tự các bước tiến hành xây dựng nông thôn mới 22

1.2.5 Bộ tiêu chí về nông thôn mới 22

Trang 7

1.2.6 Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông

thôn mới 25

1.3 Vai trò, nhiệm vụ của báo chí trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới 26

1.4 Nhu cầu cần được truyền hình một cách chuyên biệt về vấn đề xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam 30

1.5 Tính hiệu quả của ngôn ngữ truyền hình khi truyền thông về vấn đề xây dựng Nông thôn mới 34

Tiểu kết chương 1 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN HAI CHƯƠNG TRÌNH “NÔNG THÔN CHUYỂN ĐỘNG” VÀ “SAO THẦN NÔNG” CỦA KÊNH TRUYỀN HÌNH VTC16 38

2.1 Kênh truyền hình chuyên biệt về Nông nghiệp- Nông thôn VTC16 38

2.1.1 Lịch sử và hoạt động của kênh VTC 16 38

2.1.2 Nội dung các chương trình của kênh VTC16 40

2.1.3 Chương trình “Nông thôn chuyển động” 43

2.1.4 Chương trình “Sao Thần Nông” 43

2.2 Tổ chức thông tin trên VTC16 43

2.2.1 Sản xuất dạng bản tin và chuyên mục 43

2.2.2 Phương thức sản xuất chương trình 49

2.3 Phân tích thực trạng vấn đề xây dựng nông thôn mới trên 2 chương trình “Nông thôn chuyển động” và “Sao Thần nông” của kênh VTC16 53

2.3.1 Định dạng chương trình “Nông thôn chuyển động” 53

2.3.2 Định dạng chương trình “Sao Thần nông” 60

2.4 Phân tích nội dung và hình thức của Chương trình “Nông thôn chuyển động” và “Sao Thần Nông” trong việc tuyên truyền về vấn đề xây dựng Nông thôn mới 61

Trang 8

2.4.1 Khảo sát chung về một số chương trình tiêu biểu 61

2.4.2 Nội dung, hình thức và mức độ tiếp nhận của công chúng trên hai chương trình khảo sát 65

2.5 Hiệu quả và hạn chế của các chương trình tuyên truyền về vấn đề Xây dựng Nông thôn mới trên kênh VTC16 77

2.5.1 Thành công 77

2.5.2 Hạn chế: 80

Tiểu kết chương 2 84

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 86

3.1 Xây dựng đội ngũ phóng viên chuyên nghiệp, hiện đại, có tình yêu sâu sắc đối với nhân dân 86

3.2 Đổi mới công tác quản lý và tổ chức sản xuất 87

3.3 Đổi mới về nội dung, hình thức của chương trình 88

3.3.1 Về đề tài 88

3.3.2 Về tính thời sự 89

3.3.3 Về hình thức thể hiện 90

3.4 Tăng cường đội ngũ đội ngũ cộng tác viên là nông dân, cán bộ quản lý, nhà khoa học 90

3.5 Thường xuyên đổi mới trang thiết bị, công nghệ, nâng cao khả năng sử dụng phương tiện hiện đại 92

Tiểu kêt chương 3 94

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Số lượng các Bản tin thời sự và các chương trình chuyên mục có nội dung chuyên sâu phục vụ cho xây dựng nông thôn mới được phát sóng trên kênh

VTC16 51

Bảng 2 Phân chia tin bài theo đề tài 52

Bảng 3: Thống kê số lượng và ngành nghề của các nhóm đối tượng khảo sát 67

Bảng 4: Đánh giá về nguồn thông tin người dân tìm kiếm 68

Bảng 5 Tỷ lệ người trả lời tiếp nhận đầy đủ thông tin từ các chương trình (Kết quả khảo sát của Kênh VTC16 năm 2014) 69

Bảng 6: Các chương trình về sản xuất nông nghiệp được nhiều nông dân yêu thích 71

Bảng 7: Mật độ xem các chương trình trên VTC16 72

Bảng 8: Tỷ lệ đã xem các chương của VTC16 73

Bảng 9 Chương trình tạo dấu ấn trong năm 2014 với khán giả nông dân của VTC16 75

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam vốn là một đất nước nông nghiệp, với dân số tuyệt đại đa số

là nông dân Hiện nay, sau một thời gian dài đô thị hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thay đổi cơ cấu sản xuất, tình hình đã có nhiều chuyển biến Song, nông thôn vẫn là một địa bàn rộng lớn, nông dân vẫn là chủ yếu Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2013, trong tổng số 89,7 triệu người dân Việt Nam thì vẫn có 60,7 triệu người sống ở khu vực nông thôn (chiếm hơn 2/3 tổng dân số) Tổng diện tích cả nước 330.951 km2, đất nông nghiệp

là 262.805 km2 (chiếm tới 79,4%) bao gồm đất sản xuất nông nghiệp là 101.511 km2, đất lâm nghiệp là 153.731 km2, đất nuôi trồng thuỷ sản là 7.120 km2 và đất ở tại nông thôn là 5.496 km2 (chiếm 79,5% tổng diện tích đất ở của cả nước) Trong tổng số 51,7 triệu lao động (năm 2013) vẫn còn tới gần 24,5 triệu lao động làm việc trong khu vực nông lâm thuỷ sản (chiếm 47,4%) (http://www.nhandan.com.vn/kinhte/nhan-dinh/item/23204102-nong-nghiep-nong-dan-nong-thon-dang-%E2%80%9Ckhat%E2%80%9D-von.html

Sau 30 năm đổi mới, đến năm 2015 đã có khoảng 30% cư dân nông nghiệp chuyển sang phi nông nghiệp Người nông dân có nhiều ưu điểm, là động lực của cách mạng Tuy nhiên, cũng có nhiều hạn chế Cùng với người nông dân thực thụ, bộ phận nông dân khi chuyển sang giai tầng khác, khi chuyển sang cuộc sống đô thị vẫn mang theo căn cốt nông dân, mang theo lối sống, cách nghĩ của văn hóa nông nghiệp và điều này đã dẫn đến “Bi kịch của

sự phát triển” Về vấn đề này nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra bản chất của sự mâu thuẫn trong quá trình phát triển của xã hội nông thôn hiện

nay, theo PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái: “Khi định danh nền văn hóa nông

nghiệp đặc thù của người Việt, cố GS Trần Quốc Vượng đã chỉ đích tên bằng

"ba hằng số”: nông dân - nông nghiệp - nông thôn, sau này gọi tắt là "tam nông” Trong đó, nông dân là chủ thể văn hóa nông nghiệp Việt Nam Họ

Trang 11

ngàn đời làm nghề nông và nơi cư trú truyền thống của họ là ở làng Cũng chính GS Trần Quốc Vượng cho rằng, ba hằng số này đã để lại cho sự phát

triển văn hóa Việt hôm nay một hành trang khá nặng nề, đó là căn tính nông

dân, với phép tư duy truyền thông nghiêng lệch hẳn về duy tình mà coi nhẹ lý

lẽ của lý trí Học giả Đào Duy Anh gọi đó là cách ứng xử cơ bản của người Việt "luôn lấy cái cảm tình mà đặt lên hàng đầu” Điều này đang trở nên sức cản trong xã hội hiện đại, nhất là trong bối cảnh Việt nam đang hội nhập quốc

tế mạnh mẽ ở đó “cái lý” được cho là thước đo của sự phát triển Và để hội nhập được người Việt Nam, Nông dân Việt Nam phải từ bỏ tư duy “Một bồ cái lý không bằng 1 tí cái tình” làm cản trở quá trình hội nhập Còn nhìn từ góc khác phải thấy một sự thật: việc ăn, mặc, ở, đi lại là 4 phạm trù căn cơ của cuộc sống, vốn tạo lập giá trị văn hóa vật chất cho sự phát triển xã hội, thì không ít người đã và đang tồn tại những thói hư tật xấu, cần phê phán và loại

bỏ khỏi hành trang phát triển của chính mình Rồi cách ứng xử văn hóa với môi trường xã hội hiện đại, bắt đầu từ ứng xử trong tế bào nhỏ nhất của xã hội

là gia đình, cho đến rộng ra ngoài xã hội, từ xã hội trong nước đến xã hội người Việt ở nước ngoài (với hơn 4 triệu người gốc Việt đang định cư ở nước ngoài), tất thảy đều đang có những chuyện đáng quan ngại, đáng âu lo, cần phải rút kinh nghiệm sửa đổi và gấp gáp điều chỉnh Vì vậy không phải vô lý khi GS Trần Quốc Vượng chỉ ra "căn tính nông dân” đã và đang gây cản trở cho sự phát triển văn hóa Việt hiện đại Và căn tính này liên quan đến "bi kịch của phát triển” mà cụ Đào Duy Anh cũng đã chỉ ra trong "Việt Nam văn hóa

sử cương”

Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới theo hướng hiện đại, văn minh Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên căn tính nông dân với nhiều phong tục cổ hủ, thói quen cũ của người nông dân đã làm nảy sinh trong xã hội nông thôn Việt Nam những mâu thuẫn gay gắt, thậm chí

Trang 12

sống còn giữa cái cũ và cái mới Các “bi kịch của sự phát triển” này ngày càng rõ nét khi đất nước ta hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới

Cách mạng XHCN, sự nghiệp CNH, HĐH chỉ thật sự thành công khi

nó thành công ở địa bàn nông thôn, khi nó giải phóng được người nông dân

Sự phát triển bền vững của đất nước chỉ có thể có được trên sự phát triển ổn định, bền vững ở khu vực nông nghiệp, nông thôn

Hội nghị TW7, Khóa X (Tháng 8- 2008) đã ra một nghị quyết vừa có tầm chiến lược, vừa giải quyết những vấn đề cấp bách đáp ứng đòi hỏi của

cuộc sống đó là Nghị quyết 26 Về nông dân, nông nghiệp, nông thôn (mà nhân dân thường gọi tắt là NQ Tam nông) Nghị quyết khẳng định: Nông

nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước

Để hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 26, Hội nghị TW 7, Khóa X về nông dân, nông nghiệp, nông thôn; ngày 16-4-2009, Chính phủ ký quyết định ban hành Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới (Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16-4-2009 do Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký) gồm

19 tiêu chí Ngày 4-6-2010, Chính phủ ký quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 Ngày 8-

6-2011 Thủ tướng Chính phủ phát động Phong trào thi đua “Cả nước chung

sức xây dựng nông thôn mới”

Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” được

chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2011 đến 2015 và giai đoạn 2 từ năm 2016 đến 2020 Sau 7 năm triển khai nghị quyết TW 7, và hơn 4 năm

thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”,

bộ mặt nông thôn Việt Nam đã có sự thay đổi tích cực, đời sống vật chất và

Trang 13

tinh thần của người dân được cải thiện, từng bước nâng cao Tuy nhiên, n ền nông nghiệp của nước ta vẫn trong tình trạng sản xuất nhỏ, canh tác vẫn còn lạc hậu, năng suất lao động chưa cao, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chưa cân đối, thiếu vững chắc, nhiều mặt hàng nông sản chất lượng thấp, giá cả bấp bênh Tình hình nông thôn cũng còn nhiều vấn đề nổi cộm Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn chưa đạt kết quả như mong muốn; việc xây dựng nông thôn mới còn nhiều vướng mắc, mô hình nông thôn xưa

cũ đã mất dần trong khi mô hình mới chưa được định hình nên nhiều vùng quê đang trong tình trạng chắp vá, “quê chẳng ra quê, phố không ra phố” Trong các tầng lớp dân cư hiện nay, nông dân vẫn là giai cấp chịu nhiều thiệt thòi nhất Hưởng thụ của nông dân từ những thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn rất hạn chế Đời sống nông dân đã cao hơn trước nhưng còn thấp hơn nhiều so với nhu cầu Đã vậy những vấn đề tiêu cực đang nảy nở ở nông thôn như ma túy, nghiện hút, tình trạng nông dân bị thu hồi đất, thiếu việc làm v.v đang làm mất sự yên ổn, trong lành ở vùng quê

Để nghị quyết TW7 và Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây

dựng nông thôn mới” đi vào cuộc sống, việc tuyên truyền về vấn đề xây dựng

Nông thôn mới trên các cơ quan báo chí có vai trò rất quan trọng nhằm tạo ra

sự chuyển biến tích cực từ nhận thức đến hành động của người dân Trong các loại hình báo chí hiện nay thì truyền hình với thế mạnh về hình ảnh, độ chân thực, sinh động lôi cuốn người xem là một kênh thông tin quan trọng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng Nông thôn mới

Trên thực tế, các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương đều xây dựng chương trình riêng để tuyên truyền về vấn đề ND-NN-NT Theo thống

kê sơ bộ hiện nay có gần 70 kênh truyền hình trên cả nước có chương trình tuyên truyền về vấn đề NTM Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, các chương trình đó vẫn còn nhiều hạn chế về nội dung cũng như thời lượng

Trang 14

phát sóng Thời lượng sóng chuyên biệt dành cho khu vực nông thôn của Đài Truyền hình Việt Nam, bình quân chưa tới 30 phút mỗi ngày Cụ thể, trên

VTV1: Nhà nông làm giàu năm 2008 là 8 phút/ ngày, hiện còn 6 phút/ngày,

Nông thôn mới 30 phút/tuần, Bản tin nông nghiệp 6 phút/ngày, Thời tiết nông

vụ 2phút 30/ngày; trên VTV2: Bạn của nhà nông 60 phút/tuần, Cùng nông dân bàn cách làm giàu 45 phút/tuần Tạp chí khoa học nông nghiệp 30

phút/tuần So với thời lượng của các chương trình dành cho các đối tượng tại thành thị thì thời lượng dành cho nông dân còn quá ít

Trong bối cảnh đó, tháng 4 năm 2010, Đài truyền hình kỹ thuật số VTC phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chính thức cho ra đời Kênh truyền hình nông nghiệp – nông thôn 3NTV – VTC16 Đây là kênh

truyền hình đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam chuyên biệt về “tam nông”,

hướng tới phục vụ 4 nhóm đối tượng, bao gồm nông dân, nhà hoạch định chính sách, nhà khoa học và các tổ chức liên quan tới nông nghiệp nông thôn Nhằm mục tiêu xây dựng thành công nông thôn mới để xã nội nông thôn Việt Nam phát triển bền vững phù hợp với xu hướng hội nhập của đất nước

Chọn đề tài “Vấn đề xây dựng Nông thôn mới trên kênh truyền hình VTC16” , một mặt để thiết thực thực hiện NQ 26 của Trung ương; mặt khác,

từ nghiên cứu sâu về một kênh truyền hình chuyên biệt cụ thể, rút ra những

kinh nghiệm cần thiết cho việc tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình chuyên biệt nói chung Trước mắt, giúp VTC 16 khắc phục những hạn chế, cải tiến quy trình, nâng cao chất lượng tác phẩm truyền hình; không chỉ phục vụ sự nghiệp xây dựng nông thôn mới mà còn dem lại cho người nông dân nói riêng và công chúng truyền hình nói chung

những món ăn tinh thần hấp dẫn và bổ ích

2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề xây dựng nông thôn mới, vấn đề liên quan đến NN-ND-NT, vai trò của báo chí trong việc xây dựng nông thôn mới là một đề tài rộng lớn, có

Trang 15

tính liên ngành Do đó, cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này ở các thể loại khác khác nhau, có thể kể ra các công trình nghiên cứu như:

Công trình nghiên cứu của GS.TS Hoàng Ngọc Hòa: “Nông nghiệp,

Nông dân, Nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH – HĐH ở nước ta”, Nxb

Chính trị quốc gia, năm 2009 Tác giả đã làm sáng tỏ những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề Nông dân, nông nghiêp, nông thôn để tìm ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế

cũng như đề xuất những kiến nghị, giải pháp nhằm tiếp tục đưa “Tam nông”

phát triển lên trình độ mới Hay Công trình nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn

Văn Bích: “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới, quá

khứ và hiện tại”, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2007 Tác giả khái quát tình

hình nông nghiệp, nông thôn, trong đó người nông dân làm chủ thể, suốt trong một quá trình dài với nhiều giai đoạn khác nhau; từ đó hệ thống hóa logich lịch sử và phân kỳ theo các mốc quan trọng của đất nước để đưa ra những

định hướng cho nông nghiệp Việt Nam phát triển trong tương lai - “Công

nghiệp hóa, hiện đại hóa và vấn đề tam nông” – GS.TS Vũ Văn Hiền

Trong quá trình hội nhập của đất nước, Việt Nam đã và đang tham gia nhiều hiệp định thương mai tự do để mở cửa tạo đà cho kinh tế phát triển Do

đó, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về sự chuyển mình của nền nông nghiệp, xã hội nông thôn Việt Nam trong thời kỳ hội nhập, chỉ ra những cơ hội và thách thức mà quá trình hội nhập mang lại Điển hình như công trình

nghiên cứu “Vấn đề tam nông ở Việt Nam trong thực thi cam kết WTO” của

PGS.TS Lại Ngọc Hải, Viện khoa học xã hội nhân văn quân sự, Bộ quốc

phòng Hay công trình nghiên cứu “Vai trò và mối quan hệ giữa nông nghiệp,

nông dân, nông thôn trong phát triển theo hướng hiện đại ở Việt Nam” –

GS.TS Đỗ Hoài Nam (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) Công trình nghiên

cứu “Đô thị hóa ở Việt Nam – Từ góc nhìn nông nghiệp, nông thôn, nông

dân” – GS.TS Phùng Hữu Phú Đặc biệt là công tình nghiên cứu “Vấn đề về

Trang 16

Tam Nông” - TS Đặng Kim Sơn (Viện nghiên cứu chiến lược & Chính sách

NN&PTNT, Bộ NN&PTNT) đã chỉ ra những những đề cơ bản của nông dân, nông nghiệp và nông thôn việt nam thời kỳ hội nhập Đồng thời đưa ra những giải pháp để chúng ta hội nhâp thành công, qua đó thiết thực nâng cao đời sống nông dân, làm thay đổi bộ mặt nông thôn theo hướng bền vững, gắn phát triển kinh tế với bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Bên cạnh các công trình nghiên cứu, cũng có nhiều đề tài luận văn xoay

quanh vấn đề “Xây dựng nông thôn mới” như: Luận văn “Giải pháp đẩy

mạnh xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ

An” của tác gải Phan Đình Hà, Đại học Nông nghiệp Hà Nội Luận văn “Phát

huy vai trò của người nông dân trong phong trào xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay” của tác giả Trần Tiến Dũng, Đại học Cần Thơ; Luận

văn Đánh giá tình hình thực hiện chủ trương xây dựng nông thôn mới của nhà nước tại xã Phú Lâm huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh, tác giả Đỗ Thị Hà, Đại học Nông nghiệp Hà Nội…

Và đặc biệt gần đây nhất có luận văn “Vấn đề hội tụ truyền thông phục

vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên kênh VTC16” của tác giả Nguyễn

Trung Đại, trường Học viện báo chí và tuyên truyền đã có những nghiên cứu đánh giá về tác động của hội tụ truyền thông trong tuyên truyền về Nông nghiêp, nông thôn trên kênh VTC16

Có thể nói, các công trình nghiên cứu và các bài viết nêu trên đề cập đến tầm quan trọng của ND-NN-NT trong đối với nền kinh tế quốc dân và chứng minh sự cần thiết phải cung cấp thông tin cho người nông dân mà đặc biệt là thông qua cánh sóng truyền hình Việc xây dựng Nông thôn mới người nông dân đóng vai trò chủ thể nhưng không thể một mình nông dân làm được

mà cần có các cơ chế chính sách cũng như những giải pháp cụ thể của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương triển khai, hướng dẫn cho nông dân thực hiện Xây dựng nông thôn mới thực chất là làm cho cuôc sống của người nông dân

Trang 17

được cải thiện nâng cao cả về vât chất, tinh thần, làng quê khang trang sạch đẹp, bền vững Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những thiệt thòi của người nông dân so với các cư dân đô thị trong việc tiếp cận các thông tin khiến họ gặp nhiều khó khăn trong quan hệ thương mại, gặp nhiều rủi ro khi tham gia thị trường và gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất vì vậy cần phải tăng cường cung cấp thông tin cho nông dân thông qua truyền thông, đặc biệt là vấn đề Xây dựng Nông thôn mới để họ hiểu và biến nhận thực thành hành động cụ thể Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề xây dựng

Nông thôn mới trên kênh truyền hình Vì vậy, Đề tài “Vấn đề xây dựng Nông thôn mới trên kênh truyền hình VTC16” sẽ là công trình nghiên cứu có tính

độc lập

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn này qua khảo sát hai chương trình

“Sao Thần Nông” và “Nông thôn chuyển động” trên kênh VTC16, từ những

ưu điểm và hạn chế, thấy được nguyên nhân của chúng để rút ra những bài học kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng của chương

trình truyền hình “Sao Thần Nông” và “Nông thôn chuyển động” nói riêng;

kênh truyền hình VTC 16 nói chung nhằm nâng cao vai trò, tác dụng của báo chí đối với sự nghiệp xây dựng nông thôn mới hiện nay

Đồng thời, rút ra những kinh nghiệm nhất định trong việc xây dựng và vận hành một kênh truyền hình chuyên biệt

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xây dựng cơ sở lý luận và làm rõ cơ sở thực tiễn của đề tài

- Khảo sát thực trạng về cách thức tổ chức các thông tin, chất lượng nội

dung và hình thức của hai chương trình “Sao Thần Nông”, “Nông thôn

chuyển động” trên kênh VTC16, chỉ rõ tính hiệu quả, hạn chế của mỗi

chương trình

Trang 18

- Đề xuất những khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình vấn đề xây dựng nông thôn mới trên kênh VTC16, góp phần phục vụ sự nghiệp xây dựng nông thôn mới và nhu cầu thông tin của công chúng nông thôn

4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nội dung, hình thức của các tác phẩm truyền hình trong hai chương

trình “Sao Thần Nông”, “Nông thôn chuyển động” về vấn đề xây dựng nông

thôn mới trên kênh VTC16

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu, khảo sát: Khảo sát nghiên cứu chương trình

“Nông thôn chuyển động” và “Sao Thần Nông” trên kênh truyền hìnhVTC 16

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sưu tầm, phân tích, tổng hợp, hệ

thống hóa và khái quát hóa những lý thuyết cũng như các công trình đã được đăng tải trên sách báo, tạp chí và những công trình nghiên cứu thực tiễn của các tác giả có liên quan đến vấn đề nghiên cứu làm nền tảng lý luận, từ đó rút

ra những thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 19

- Phương pháp phân tích nội dung: dùng để phân tích nội dung và hình

thức của các chương trình về xây dựng nông thôn mới trên kênh VTC16 để rút ra những ưu, nhược điểm của chúng

- Phương pháp so sánh: dùng để so sánh các chương trình, các giai

đoạn; so sánh kênh VTC 16 với các kênh truyền hình khác; so sánh giữa báo hình và các loại hình báo chí khác nhằm thấy vị trí, đặc trưng, thế mạnh, yếu của đối tượng khảo sát

- Phương pháp điều tra: nhằm tìm thêm cứ liệu và đánh giá từ các

chuyên gia, những người thực hiện chương trình và công chúng để có căn cứ rút ra những kết luận khoa học xác đáng hơn

Phương pháp tổng hợp: từ những kết quả nghiên cứu tài liệu, phân tích,

so sánh… đúc kết thành những kết luận khoa học

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Đây là đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các dữ liệu từ các chương trình truyền hình về nông thôn mới trên kênh VTC16 từ tháng 6/2014 đến tháng 6/2015 Thông qua công tác nghiên cứu đã cho thấy nhưng ưu điểm, hạn chế về vấn đề xây dựng Nông thôn mới qua ngôn ngữ truyền hình hiện nay, từ đó đưa ra giải pháp để việc tuyên truyền về vấn đề nông dân, nông nghiệp nông thôn qua ngôn ngữ truyền hình hiệu quả nhất, phù hợp với sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, luận văn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc

Hệ thống hóa các quan điểm, cách tiếp cận và khả năng ứng dụng của vấn đề nghiên cứu, nhằm góp phần từng bước tham gia tổng kết thực tiễn, góp phần đánh giá vai trò của truyền hình trong đời sống xã hội Trên cơ sở đó, bổ sung vào lý luận báo chí về ngôn ngữ truyền hình

Luận văn không chỉ có giá trị đối với các nhà nghiên cứu mà còn giúp ích cho các đài truyền hình trong việc xây dựng các chương trình truyền hình chuyên biệt về nông dân, nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh đó, đề tài còn

Trang 20

giúp cho các nhà báo trang bị cho mình những kiến thức và kinh nghiệm trong quá trình tác nghiệp

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới và vai trò của báo chí trong việc xây dựng nông thôn mới

- Chương 2: Thực trạng thông tin về xây dựng nông thôn mới trên

“Sao Thần Nông” và “Nông thôn chuyển động” của kênh truyền hình VTC16

- Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng chương tình truyền hình về xây dựng nông thôn mới

Trang 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI

Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam bản chất là hiện đại hóa nông thôn, công nghiệp hóa nông nghiệp; xây dựng và phát triển nông thôn một cách toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Người nông dân ở đây vừa là chủ thể, đồng thời vừa là đối tượng trong công cuộc cải tạo

đó Cũng vậy, văn hóa, văn minh nông nghiệp vừa là điểm tựa, vừa là đối tượng cải hoán Do đó, đây là một quá trình phức tạp, lâu dài, cần những bước

đi thích hợp; tránh nóng vội, duy ý chí

Báo chí không chỉ là người tuyên truyền chủ trương, chính sách của

Đảng và Nhà nước, cổ vũ phong trào mà còn phản biện, theo sát bước đi của

phong trào ở từng địa phương để không chỉ nêu ra những gương điển hình, những nhân tố mới mà còn giúp điều chỉnh chính sách, điều chỉnh công tác chỉ đạo, điều hành

Để thực hiện đề tài nghiên cứu về truyền hình với xây dựng nông thôn mới, học viên phải sử dụng kiến thức liên ngành, cần đến những khái niệm công cụ của báo chí, văn hóa, chính trị, xã hội học

1.1 Khái niệm

1.1.1 Nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành sản xuất truyền thống, cơ bản của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới; là ngành sản xuất sử dụng đất đai, mặt nước để trồng trọt và chăn nuôi (trong đó bao gồm cả trồng và khai thác rừng, nuôi trồng và khai thác thủy sản…) để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu Sản xuất nông nghiệp trước đây mang tính chất tự cấp, tự túc, dựa trên sức người; ngày nay trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, được công nghiepj hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ Trong tương lai, sản phẩm nông nghiệp ngày càng có giá trị, nông

Trang 22

nghiệp vẫn là ngành kinh tế quan trọng, thiết yếu, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của mọi nền kinh tế

Về văn hóa, xã hội, nông thôn có cố kết cộng đồng chặt chẽ từ trong gia đình, họ tộc đến làng xã; đồng hương huyện, tỉnh Đặc trưng này thể hiện trên rất nhiều khía cạnh, bao gồm quan hệ giao tiếp, phong tục tập quán, đời sống tinh thần, cách thức sinh hoạt, hệ giá trị, chuẩn mực hành vi, hệ thống

hạ tầng, dịch vụ…

Nông thôn là vùng có nhịp điệu sống chậm hơn thành thị, nơi có nhiều giá trị văn hóa được bảo tồn nhưng cũng là nơi có trình độ kinh tế, văn hóa phát triển chậm, người dân có mức sống thấp; nơi sản sinh và duy trì các tư tưởng bảo thủ Nông thôn là nơi có nguồn nhân lực dồi dào nhưng ít lao động được đào tạo…

1.1.4 Nông thôn mới

Nông thôn mới là một khái niệm tương đối Nông thôn hiện nay đã là nông thôn mới so với trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, so với thời chống Mỹ

Trang 23

“Nông thôn mới” trong luận văn được hiểu là nông thôn đạt các tiêu chí trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới được ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16-4-2009 do Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký Xây dựng nông thôn mới là Chương trình mục tiêu quốc gia do Thủ tướng phê

duyệt ngày 4-6-2010 bằng Quyết định 800 / QĐ-TTg Đó là một nông thôn có

có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1.5 Văn hóa

Văn hóa theo nghĩa rộng là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu của mình Văn hóa mang ý nghĩa tiến bộ, nhân văn, vừa có tính phổ quát nhân loại vừa mang tính đặc thù của vùng miền, dân tộc

“Văn hóa” được hiểu ở đây như những giá trị tinh thần, tức là một nghĩa hẹp hơn

Năm 2002, UNESCO trong Tuyên bố chung về đa dạng văn hóa đã đưa

ra dịnh nghĩa vè văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học

và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”

Năm 1943, phía sau bìa cuốn Ngục trung nhật ký, Hồ Chí Minh ghi:

“Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người

đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, tr.431, NXB Chính trị quốc gia, 1995)

Trang 24

Nhằm miêu tả những nội dung mà văn hóa bao hàm, nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) xác định: “Văn hóa hay văn minh hiểu theo nghĩa rộng trong dân tộc học là một tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bất cứ những khả năng, tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội”

Dưới góc nhìn nhân bản và lịch sử, Edward Sapir (1884 - 1939), nhà nhân loại học, ngôn ngữ học người Mỹ cho rằng: “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”

Dựa trên chuẩn mực thì người ta lại nhấn mạnh đến các quan niệm về giá trị Nhà xã hội học Mỹ William Isaac Thomas (1863 - 1947) coi văn hóa

là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, phản ứng cư xử, ) Các nhà tâm lý học nhấn mạnh văn hóa là quá trình thích nghi với môi trường Viện sĩ William Graham Sumner (1840 - 1910) giáo sư Đại học Yale coi tổng thể những thích nghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay văn minh

Tuy các khái niệm trên có những điểm khác nhau nhưng đều có những điểm giống nhau cơ bản sau: Thứ nhất, văn hoá là những biểu hiện cơ bản của con người trong quá trình đấu tranh sinh tồn và phát triển, đồng thời là những hoạt động nhận thức thực tiễn nhằm tạo ra những biến đổi của xã hội, của môi trường xung quanh và bản thân con người Thứ hai, văn hóa tác động theo ba quá trình: quá trình cải tạo vật chất, quá trình cải tạo cơ cấu xã hội, quá trình cải tạo tâm lý xã hội (quan hệ giữa con người với con người).Thứ ba, văn hóa

là sản phẩm có tính cộng đồng, từ đó triển khai thành một sản phẩm có tính cá

nhân với tư cách là một thành viên của cộng đồng.Thứ tư, văn hoá có các đặc

trưng riêng và những chức năng khác nhau như: Văn hoá có tính hệ thống,

Trang 25

bao gồm các mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng và sự kiện trong một nền văn hoá Đặc trưng hệ thống này tạo cho văn hoá chức năng tổ chức xã hội, làm nền tảng ổn định cho xã hội Văn hoá có tính giá trị, bao gồm giá trị vật chất và tinh thần, giá trị sử dụng, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ, giá trị đồng đại, giá trị lịch đại Đặc trưng giá trị tạo cho văn hoá có chức năng điều chỉnh xã hội, giúp xã hội duy trì trạng thái cân bằng động Văn hoá có tính nhân sinh, phân biệt hiện tượng văn hoá xã hội và văn hoá tự nhiên Đặc tính nhân sinh tạo cho văn hoá chức năng giao tiếp Văn hoá có tính lịch sử, nó được hình thành và tích lũy qua nhiều thời đại và được duy trì bằng truyền thống văn hoá Đặc tính này tạo cho văn hoá có chức năng giáo dục và chức năng phát sinh

1.1.6 Văn hóa nông nghiệp

Biểu hiện tinh hoa của văn hóa tinh thần ở thượng tầng kiến trúc là văn học nghệ thuật

Biểu hiện chủ yếu của văn hóa trong đời sống sinh hoạt là ứng xử của con người với con người

“Văn hoá nông nghiệp” là một khái niệm chỉ phương cách tổ chức đời sống, phương thức tư duy, cách ứng xử… của những cư dân nông nghiệp

Văn hóa nông nghiệp sản sinh và và phát triển trên nền tảng của ngành trồng trọt, thường tập trung ở các vùng đồng bằng, miền núi phương Đông Nguồn gốc kinh tế là dựa vào trồng trọt là chủ yếu, từ đó tạo cho con người

có thói quen thích ổn định và sống định cư Có thể xem kinh tế nông nghiệp thuộc trạng thái “tĩnh” – ổn định

Do nông nghiệp mang tính ổn định, chỉ sử dụng những nguồn lực sẵn

có của tự nhiên, từ đó tạo ra tâm lý không thích mạo hiểm, ít tư duy sáng tạo, nhưng lại có tính tập thể cao (do sống định cư bên nhau lâu đời) và thường phản đối sự cạnh tranh giữa các thành viên vì mục đích riêng Họ thường có thói quen vô kỷ luật, thích sống bình quân, theo triết lý âm dương, tư duy lưỡng hợp và tôn trọng kinh nghiệm

Trang 26

Văn hóa nông nghiệp áp dụng nguyên tắc trọng tình, trọng đức, trọng hòa hiếu, quyền lợi cá nhân thường không xem trọng và đề cao lợi ích tập thể

Do đó cộng động và tổ chức xã hội được tổ chức linh hoạt để thích hợp với những hoàn cảnh cụ thể, nên thường thiếu tính chặt chẻ và tính kỷ luật không cao Nhà nước chú trọng đến giáo dục, phúc lợi xã hội, chú tâm đến xây dựng

cơ sở hạ tầng và lập các doanh nghiệp Nhà nước (chủ yếu), bảo hộ kinh tế

Trong ứng xử với tự nhiên, cộng đồng - xã hội, văn hóa nông nghiệp thể hiện lối lệ thuộc vào tự nhiên, tôn trọng hoà hợp với tự nhiên, điềm tĩnh

và chậm rãi trong thao tác làm việc, trong ứng xử với tự nhiên, do đó con người thường có tâm lý rụt rè, e ngại, ít tham vọng Đối với cộng đồng - xã hội, dung hoà trong tiếp nhận, mềm dẻo trong ứng phó, tôn trọng kinh nghiệm, đề cao đạo hiếu, lễ nghĩa, ít khi bộc lộ sự bất đồng một cách cực đoan nóng nảy mà giải quyết nó một cách khéo léo

1.1.7 Báo chí

Trong luận văn này, chúng tôi thống nhất với định nghĩa được ghi trong Điều 3, Luật Báo chí sửa đổi năm 2013: “Báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài"

1.1.8 Truyền hình

Truyền hình (tiếng Anh là Television) có nghĩa đen là nhìn được từ xa Theo G.V Cudơnhetxốp, X.L Xvich và A Ia.Iurôpxky trong giáo trình

Báo chí truyền hình thì "truyền hình có khả năng đến với tất cả các tầng lớp

dân chúng rộng rãi, thậm chí đến tận các tầng lớp nằm bên ngoài ảnh hưởng của các phương tiện thông tin đại chúng khác Truyền hình có được khả năng

là do những đặc điểm về bản chất vật lý của nó Những đặc điểm ấy quyết

Trang 27

định tính chất đặc thù của truyền hình với tư cách là phương tiện tạo ra và chuyển tải thông tin Đó là khả năng của những giao động điện từ, khả năng chuyển tải thông tin dưới hình thức những hình ảnh chuyển động có kèm theo

âm thanh, khả năng thông tin dưới hình thức âm thanh – hiển thị, về hành động, về sự việc vào đúng thời điểm không lặp lại của chính thời điểm diễn

ra sự việc đó".[31, tr 43]

Theo cuốn "Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản" của PGS, TS

Nguyễn Văn Dững thì: "Truyền hình là kênh truyền thông truyền tải thông điệp bằng hình ảnh động và hầu như đầy đủ màu sắc vốn có của cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ "

1.1.9 Chương trình truyền hình

Chương trình truyền hình (tiếng Anh: television program, television show) là một hay nhiều tác phẩm báo chí có liên quan với nhau trong một đề tài nhất định, vì một mục tiêu nhất định; được phát sóng theo một giờ nhất định, thời lượng nhất định và thời kỳ nhất định Có người hiểu rộng ra một show giải trí hay chiếu phim cũng là một chương trình truyền hình Nhưng

nó dứt khoát không phải là đoạn phim quảng cáo thương mại hay quảng cáo phim.truyền hình, mà không phải là một đoạn quảng cáo thương mại, quảng cáo kênh hay quảng cáo phim Nó có thể là một bản sản xuất duy nhất, chỉ phát một lần, cũng có thể là một loạt các phần liên quan, được phát sóng trong một thời gian dài

Trang 28

Chu trình của một chương trình truyền hình từ sản xuất đến tiêu thụ có thể biểu diễn bằng sơ đồ dưới đây:

1.2 Xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam

1.2.1 Chủ trương và những vấn đề chung

Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, nông thôn mới

là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại;

cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Với tinh thần đó, nông thôn mới có năm nội dung cơ bản Thứ nhất là nông thôn có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại Hai là sản xuất bền vững, theo hướng hàng hóa Ba là đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao Bốn là bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển Năm là xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ Để xây dựng nông thôn với năm nội dung đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ký Quyết định

số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19

Trình diễn thu băng hình

Trang 29

Việc xây dựng nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế

Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn làm phát sinh nhiều vến đề xã hội bức xúc

Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước Đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn

1.2.2 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư đại phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn ở ấp, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

- Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình

hỗ trợ các mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn

Trang 30

- Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,

dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá

- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới

1.2.3 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới

- Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến;

- Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;

- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ;

- Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao

Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2020, 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới

Trang 31

1.2.4 Trình tự các bước tiến hành xây dựng nông thôn mới

Gồm 7 bước như sau:

Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện;

Bước 2: Tổ chức thông tin, tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới (được thực hiện trong suốt quá trình triển khai thực hiện);

Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng, nông thôn theo 19 tiêu chí của

Bộ tiêu chí đã ban hành;

Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã;

Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới của xã;

19 tiêu chí Bộ tiêu chí căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới Cụ thể như sau:

Nhóm 1: Quy hoạch

1 Tiêu chí Quy hoạch và thực hiện quy hoạch

Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ

Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới Chỉ tiêu: Đạt

Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp

Trang 32

Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội

2 Tiêu chí giao thông

Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hoá hoặc bê tông hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT Chỉ tiêu: 100%

Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hoá đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT Chỉ tiêu: 75%

Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa Chỉ tiêu 100% (70% cứng hoá)

Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hoá, xe cơ giới đi lại phải thuận tiện Chỉ tiêu: 70%

3 Tiêu chí Thủy lợi

Hệ thống thuỷ lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh Chỉ tiêu: Đạt

Tỷ lệ km đường mương do xã quản lý được kiên cố hoá Chỉ tiêu 85%

6 Tiêu chí cơ sở vật chất văn hoá

Nhà văn hoá và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT và Du lịch Chỉ tiêu: Đạt

Tỷ lệ thôn có nhà văn hoá và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT và Du lịch Chỉ tiêu: 100%

7 Tiêu chí Chợ nông thôn

Trang 33

Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng Chỉ tiêu: Đạt

8 Tiêu chí Bưu điện

Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông Chi tiêu: Đạt

Có internet đến nông thôn Chỉ tiêu: Đạt

Tỷ lệ hộ nghèo dưới mức 6% Chỉ tiêu: 5%

12 Tiêu chí cơ cấu lao động

Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực, nông thôn, nghề nghiệp Chỉ tiêu: 35%

13 Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất

Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã sinh hoạt có hiệu quả Chỉ tiêu: Có

14 Tiêu chí giáo dục

Phổ cập giáo dục trung học Chỉ tiêu: Đạt

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục họcTHPT Chỉ tiêu: 85%

15 Tiêu chí Y tế

Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế Chỉ tiêu: Đạt

Y tế xã đạt chuẩn quốc gia Chỉ tiêu: Đạt

16 Tiêu chí Văn hoá

Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hoá theo quy định của Bộ VH-TT&DL Chỉ tiêu: Đạt

Trang 34

Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia Chỉ tiêu: 85%

17 Tiêu chí Môi trường

Các cơ sở sản xuất đạt tiêu chuẩn về môi trường Chỉ tiêu: Đạt

Không có hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh - sạch - đẹp Chỉ tiêu: Đạt

Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch Chỉ tiêu: Đạt

Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định Chỉ tiêu: Đạt

19 Tiêu chí An ninh - Trật tự xã hội

An ninh xã hội được giữ vững Chỉ tiêu: Đạt

1.2.6 Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới

Có thể nói, xây dựng nông thôn cũng đã có từ lâu tại Việt Nam Trước đây, có thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay chúng ta xây dựng nông thôn mới ở cấp xã Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn trước đây với xây dựng nông thôn mới chính là ở những điểm sau

Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí chung cả nước được định trước

Trang 35

Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước, không thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm

Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới, không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng

Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn

1.3 Vai trò, nhiệm vụ của báo chí trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới

Báo chí dưới chế độ ta được coi là một lĩnh vực quan trọng của công tác tư tưởng Báo chí là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành chính quyền, giành độc lập và xây dựng đất nước Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh, người làm báo là người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận báo chí Báo chí có nhiệm vụ phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam Bác Hồ từng viết: “Đối với những người viết báo chúng

ta, cây bút là vũ khí sắc bén, bài báo là tờ hịch cách mạng để động viên quần chúng đoàn kết đấu tranh, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, vì độc lập, tiến bộ xã hội và hòa bình thế giới”( Hồ Chí Minh về vấn đề báo chí, Tạ Ngọc Tấn biên soạn, Cục xuất bản, Hà Nội 1995, tr 23)

Điều 1 Luật Báo chí hiện hành quy định: “Báo chí ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội ; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức) ; là diễn đàn của nhân dân’.Điều 6 quy định cụ thể các nhiêm vụ và quyền hạn của báo chí:

1- Thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới ; 2- Tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí ; góp phần nâng cao kiến

Trang 36

thức, đáp ứng nhu cầu văn hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc ;

3- Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội ; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân ;

4- Phát hiện, biểu dương gương tốt, nhân tố mới ; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác ;

5- Mở rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ

Năm 1945, bài báo, cũng là chỉ thị của Trung ương “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã chuẩn bị tinh thần cho cả nước thực hiện cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, kêu gọi chống Mỹ cứu nước của Bác Hồ được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam đã thức dậy sức mạnh của cả một dân tộc Những bài xã luận của Hoàng Tùng trong chiến tranh biên giới như “Cả nước đánh giặc, toàn dân là lính” dã dựng nên một thành đồng Những năm đầu Đổi mới, báo chí là nơi khai thông

tư tưởng, góp phần thay đổi cơ chế quan liêu, bao cấp…

Trang 37

Báo chí không thể thiếu được trong mọi cuộc vận động cách mạng Sử dụng tốt vũ khí báo chí, trong mỗi việc, trong cả sự nghiệp đều mau chóng dẫn đến thắng lợi

Trong sự nghiệp xây dựng nông thôn mới, cũng không thể thiếu được vai trò tiên phong của báo chí Và Nhà nước cũng đã có những quyết sách cụ thể

Ngày 20 tháng 01 năm 2011 Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án số

119/QĐ-TTg “Phát triển thông tin, truyền thông nông thôn giai đoạn

2011-2020” với các nội dung chủ yếu:

Thông tin, truyền thông vừa là thành phần quan trọng của kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, vừa là ngành dịch vụ kinh tế mũi nhọn do vậy phải ưu tiên đầu tư phát triển trước một bước; việc đầu tư cơ sở hạ tầng thông tin, truyền thông khu vực nông thôn phải đồng bộ với các cơ sở hạ tầng khác có liên quan để phát huy hết năng lực và đạt hiệu quả đầu tư cao, tránh lãng phí

Phát triển thông tin và truyền thông nông thôn phải phù hợp với các chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược và quy hoạch phát triển thông tin và truyền thông chung của cả nước và của từng địa phương, từng vùng

Phát triển thông tin, truyền thông nông thôn theo nhu cầu thị trường bằng nguồn lực chung của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân Đối với các khu vực đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Nhà nước thực hiện hỗ trợ phát triển bằng các chính sách ưu đãi về thuế, vốn, kinh phí, nhân lực theo quy định của pháp luật

Phát triển thông tin, truyền thông nông thôn cần thực hiện tập trung, thống nhất, đồng bộ và lồng ghép với các đề án, chương trình, dự án khác có liên quan để đạt được các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao, đồng thời tránh trùng lặp, gây lãng phí về tài chính và thời gian

Trang 38

Đối với công tác tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới, Ban chỉ đạo Trung ương chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới đã phê duyệt “Kế hoạch tuyên truyền Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020” nhằm làm cho mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân (nhất là khu vực nông thôn), các đối tác phát triển quốc tế hiểu đầy đủ hơn về chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới để tự giác tham gia, đóng góp tích cực vào chương trình…nhằm thực hiện được các mục tiêu đề ra cho giai đoạn 2011-2015

Quyết định số 2331/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Danh mục các Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2011 trong đó có

Chương trình mục tiêu quốc gia Đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo Chương trình xây dựng và phát triển

mạng lưới thông tin cơ sở nhằm rút ngắn khoảng cách về hưởng thụ thông tin, tuyên truyền giữa các vùng miền; tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng dân tộc ít người

Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng đặc biệt coi trọng vấn đề truyền thông, thông tin về nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới Ngày 24 tháng 03 năm 2010 Nghị quyết liên tịch số 09 giữa Bộ Thông tin và Truyền thông với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về phối hợp chỉ đạo xây dựng Kênh truyền hình Nông nghiệp - Nông thôn được ký với các nhiệm vụ cụ thể nhằm:

Thông tin tuyên truyền kịp thời về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn góp phần xây dựng nền nông nghiệp Việt Nam toàn diện, theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; nâng cao nhận thức, ý thức

Trang 39

trách nhiệm của các cấp chính quyền cơ sở và nông dân, thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ triển khai nghị quyết của Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn

Cung cấp thông tin về khoa học, kỹ thuật , quản lý liên quan tới sản xuất, nông, lâm, ngư nghiệp và các sản phẩm tiểu thủ công nghiệp; thông tin

về thị trường trong và ngoài nước liên quan tới nông sản; cung cấp thông tin

về quá trình xây dựng, phát triển văn hóa ở nông thôn, xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là những mô hình nông thôn mới có cách thức làm hay, hiệu quả tới mọi đối tượng quan tâm; thông tin về đời sống, phong tục, tập quán của người nông dân trong cả nước

Bồi dưỡng từ xa các kỹ năng, kiến thức phổ thông về nghề nông và các nghề khác phục vụ chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập của nông dân

Phản ánh những vấn đề thực tiễn đặt ra về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, tạo ra diễn đàn để người nông dân có thể thể hiện tâm tư, nguyện vọng, những kinh nghiệm tốt, những vấn đề tồn tại, cần được nghiên cứu, giải quyết trong cuộc sống hàng ngày, tạo sự quan tâm của toàn xã hội đối với vấn

đề bảo vệ môi trường, y tế, văn hóa, giáo dục ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa

1.4 Nhu cầu cần được truyền hình một cách chuyên biệt về vấn đề xây dựng Nông thôn mới ở Việt Nam

Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn

“Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” đã và đang được triển khai thực hiện trong cả nước Trong đó có nhiều xã, nhiều huyện được chọn làm điểm chỉ

Trang 40

đạo ở các cấp Nhìn chung qua gần 5 năm thực hiện đã đem lại kết quả thiết thực, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn Tuy nhiên, nhận thức về NTM trong một số cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa thông suốt nên quá trình thực hiện còn gặp khó khăn và tiến trình chưa như mong muốn Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn làm phát sinh nhiều vến đề xã hội bức xúc Do đó, để xây dựng thành công Nông thôn mới đòi hỏi sự vào cuôc đồng bộ của cả hệ thống chính trị đặc biệt là người dân cùng đồng lòng chung tay thực hiện các tiêu chí của chương trình một cách hiệu quả Muốn làm được điều này truyền thông để thay đổi nhận thức đóng vai trò đặc biệt quan trọng Trong đó, truyền hình với lợi thế về âm thanh, hình ảnh sinh động chân thực sẽ góp phần đắc lực vào nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ để phong trào xây dựng nông thôn mới thực sự tạo sự chuyển biến cho bức tranh nông thôn Việt Nam thời kỳ mới

Trên hầu hết các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin NNNT cũng đã được chuyển tải với một số chuyên mục/nội dung, vào các thời điểm

và theo các hình thức chuyển tải khác nhau, ở cả cấp trung ương và địa phương

Ở cấp trung ương, Đài truyền hình Trung ương ( VTV), kênh InfoTV, Báo Nông nghiệp Việt Nam - Cơ quan ngôn luận của Bộ NN và PT nông thôn, Báo Nông thôn ngày nay – Cơ quan ngôn luận của Trung ương Hội nông dân, Kinh tế nông thôn – Tiếng nói của Trung ương Hội làm vườn Việt Nam … là những tờ báo chuyên đăng tải các tin tức về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Bên cạnh đó, Đài truyền hình Việt Nam cũng đã dành một thời lượng đáng kể để sản xuất và phát sóng một số chương trình theo ngày và tuần về thông tin nông nghiệp, phát triển nông thôn, vấn đề nông thôn, thông

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w