1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- TRẦN THỊ PHƯƠNG NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN HẠN CHẾ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ PHƯƠNG
NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN HẠN CHẾ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội, 2014
Trang 21
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ PHƯƠNG
NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN HẠN CHẾ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG VÀO THỰC TIỄN CỦA CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60 34 72
Người hướng dẫn khoa học: GS,TS Đinh Xuân Dũng
Hà Nội, 2014
Trang 32
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1 Lý do nghiên cứu 5
2 Lịch sử nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Mẫu khảo sát 11
6 Vấn đề nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN HẠN CHẾ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO THỰC TIỄN 13
1.1 Hệ khái niệm 13
1.1.1 Nghiên cứu khoa học 13
1.1.2 Kết quả nghiên cứu khoa học 24
1.1.3 Công bố và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học 25
1.1.4 Rào cản 28
1.2 Vai trò của việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn 29
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn 32
1.3.1 Yếu tố chủ quan 32
1.3.2 Yếu tố khách quan 33
* Tiểu kết Chương 1 35
Trang 43
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO THỰC TIỄN Ở BAN TUYÊN GIÁO TRUNG
ƯƠNG 36
2.1 Thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn ở Việt Nam và một số nước trên thế giới hiện nay 36
2.1.1 Thực trạng hoạt động ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay 36
2.1.2 Thực trạng hoạt động ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học ở một số quốc gia trên thế giới hiện nay 48
2.2 Thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương 53
2.2.1 Ban Tuyên giáo Trung ương 53
2.2.2 Thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học ở Ban Tuyên giáo Trung ương hiện nay 54
2.2.3 Kết quả khảo sát về những rào cản hạn chế trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương hiện nay 70
* Tiểu kết Chương 2 74
CHƯƠNG 3: NHỮNG RÀO CẢN HẠN CHẾ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO THỰC TIỄN Ở BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG 75
3.1 Những vấn đề khó trong hoạt động nghiên cứu khoa học và trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương 75
3.2 Nhận diện những rào cản, hạn chế trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương 79
3.2.1 Rào cản về mặt nhận thức 79
3.2.2 Rào cản về mặt tâm lý 82
3.2.3 Rào cản về cơ chế tài chính 85
Trang 54
3.2.4 Rào cản về nguồn nhân lực 88
3.2.5 Rào cản về cơ sở hạ tầng kỹ thuật 93
3.2.6 Rào cản về mặt chính sách 95
* Tiểu kết Chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
Trang 6là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong quá trình hội nhập quốc tế, đặc biệt hội nhập về kinh tế và KH&CN, nước ta đang đứng trước những khó khăn về chuyển đổi và xây dựng những thể chế mới về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, sở hữu trí tuệ, v.v phù hợp với thông lệ quốc tế Tình trạng này nếu không sớm vượt qua sẽ cản trở sự thành công của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế
Trước những cơ hội và thách thức hiện nay, nếu không có những quyết sách đột phá về đổi mới thể chế kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý KH&CN, những biện pháp mạnh mẽ tăng cường năng lực KH&CN quốc gia, thì nguy
cơ tụt hậu kinh tế và KH&CN ngày càng xa
Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn ở nước ta
gặp không ít khó khăn hạn chế, cụ thể như:
Về phía các doanh nghiệp, do thiếu thông tin về khả năng hoạt động
ứng dụng và triển khai của các nhà khoa học trong nước, thiếu sự tin cậy đối với các sản phẩm còn mang tính "nghiên cứu", chưa được thử nghiệm nên chưa mạnh dạn tìm mua những thiết bị, công nghệ được sản xuất trong nước,
mà thường chọn phương án nhập khẩu thiết bị, công nghệ nước ngoài, tuy giá cao nhưng bảo đảm, ít mạo hiểm và rủi ro hơn
Về phía nhà khoa học, do thiếu điều kiện để triển khai các ý tưởng khoa
học, triển khai thực nghiệm, hoàn thiện công nghệ từ các đề tài nghiên cứu và thiếu kinh phí để triển khai, thiếu thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp, nên hoạt động nghiên cứu chưa sát với nhu cầu của thực tế sản xuất, chưa tạo
Trang 76
được lòng tin đối với các doanh nghiệp Vì vậy, những kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa
Về phía nhà quản lý, do trong khâu tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN đầu
vào còn mang nặng tính hành chính áp đặt từ trên xuống dưới (top – down)
theo cơ chế “xin – cho”, nên phần lớn đề tài, dự án chưa xuất phát từ những nhu cầu đòi hỏi của thực tế sản xuất hay từ những vấn đề của doanh nghiệp
Bởi vậy, những thành tựu được tạo ra từ kết quả các đề tài, dự án không được các tổ chức, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp sử dụng mua bán Hơn nữa, chúng ta chưa có được một chính sách hay một chiến lược cụ thể hỗ trợ các nhà khoa học cũng như các tổ chức, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp để các kết quả nghiên cứu đến với thực tế, qua đó thương mại hóa, xã hội hóa chúng Thực tế cho thấy, chúng ta mới chỉ quan tâm làm sao để các đề tài, dự án cho
ra được kết quả, còn việc kết quả đó đến với thực tế sản xuất như thế nào thì còn thả nổi hoặc chỉ dừng lại ở những giải pháp mang tính tuyên truyền, khuyến khích một cách hình thức Trong khi, từ kết quả nghiên cứu của các
đề tài, dự án tới việc áp dụng thực tế còn một khoảng cách khá xa
Không chỉ ở Ban Tuyên giáo Trung ương việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn vẫn còn nhiều hạn chế do những rào cản thuộc về bản tính cố hữu của hoạt động nghiên cứu khoa học mà còn thuộc về
cơ chế quản lý, cách cư xử với kết quả khoa học,.v.v…
Ban Tuyên giáo Trung ương là một cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ của
Ban chấp hành Trung ương Đảng Từ thực tiễn và yêu cầu công tác, Ban Tuyên giáo Trung ương đòi hỏi các kết quả nghiên cứu khoa học phải có tính thực tiễn, tính xã hội và khả năng ứng dụng vào đời sống sinh hoạt của nhân dân Từ đó, Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện tốt hai chức năng tham
mưu và chuyên môn - nghiệp vụ của mình Đề tài luận văn “Nhận diện những
rào cản hạn chế khả năng ứng dụng vào thực tiễn của các kết quả nghiên cứu khoa học ở Ban Tuyên giáo Trung ương hiện nay” nhằm chỉ ra đâu là những
rào cản hạn chế thuộc về bản chất cố hữu trong hoạt động nghiên cứu khoa
Trang 87
học, đâu là khó khăn, rào cản thuộc về cơ chế, chính sách quản lý của nhà nước và hạn chế đặc thù của Ban Tuyên giáo Trung ương Trên cơ sở nhận diện những rào cản đó, luận văn đưa ra một số đề xuất, kiến nghị góp phần nâng cao khả năng ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu khoa học của Ban Tuyên giáo Trung ương vào thực tiễn
2 Lịch sử nghiên cứu
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học cũng luôn luôn có những rào cản, hạn chế vì hoạt động nghiên cứu khoa học luôn mang tính rủi ro khi ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống
Những nghiên cứu liên quan đến tình hình hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị của Ban Tuyên giáo Trung ương
Ban Tuyên giáo Trung ương đã có nhiều các nghiên cứu sâu về đổi mới phương thức tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, nghiên cứu nâng cao chất lượng, đổi mới hoạt động,…
- Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Dư luận xã hội “Tăng cường và
nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp định tính trong nghiên cứu dư luận
xã hội, phục vụ công tác tuyên giáo của Đảng” từ tháng 3/2012 đến tháng
3/2013 đề cập đến hiệu quả sử dụng phương pháp định tính trong ngiên cứu
dư luận xã hội Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng hạn chế trong hoạt động nghiên cứu khoa học phục vụ công tác tuyên giáo của Đảng
- Nghiên cứu của Văn phòng của Ban Tuyên giáo Trung ương “Đổi
mới quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin, văn bản của Ban Tuyên giáo Trung ương đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới” từ tháng 3/2010 đến tháng 3/2011,
nghiên cứu này đã nghiên cứu thực trạng hoạt động tác nghiệp và nghiệp vụ của Ban Tuyên giáo Trung ương Những khó khăn hạn chế trong quá trình tiếp nhận, xử lý thông tin và ban hành văn bản của Ban Tuyên giáo Trung ương cũng được đề cập, từ đó nghiên cứu đề xuất đổi mới phương thức xây dựng và xử lý thông tin của Văn phòng
Trang 98
- Đề án của Trung tâm Nghiên cứu khoa học, Nghiệp vụ và Tư liệu
“Thực trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư
liệu, thư viện phục vụ công tác tham mưu của Ban Tuyên giáo Trung ương” ,
từ tháng 3/2008 đến tháng 3/2009, trong nghiên cứu này cũng đã đề cập đến các hoạt động, khó khăn, hạn chế của Ban Tuyên giáo Trung ương và đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác thông tin thư viện phục vụ nhiệm vụ chính trị
- Đề tài nghiên cứu của Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường “Nâng
cao chất lượng công tác tham mưu về khoa học xã hội của Ban Tuyên giáo Trung ương phục vụ sự nghiệp đổi mới của Đảng” từ tháng 3/2008 đến tháng
3/2009, kết quả nghiên cứu cho thấy những khó khăn, hạn chế trong công tác tham mưu về khoa học xã hội Nghiên cứu cũng đưa ra những đề xuất có tính giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn và nghiên cứu khoa học phục vụ xây dựng đường lối chỉ đạo của Đảng
- Nghiên cứu khoa học của Vụ Khoa học xã hội “Đổi mới công tác
tham mưu, chỉ đạo và quản lý các chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước trong giai đoạn hiện nay” từ tháng 3/2007 đến tháng 3/2008, nhóm
nghiên cứu đã đưa ra phân tích những mặt mạnh và chỉ ra những hạn chế khó khăn trong công tác quản lý khoa học thuộc chương trình khoa học xã hội cấp Nhà nước Nghiên cứu cũng đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ những tồn tại hạn chế hiện nay trong hoạt động nghiên cứu khoa học thuộc chương trình khoa học xã hội
- Đề tài thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương có tên “Đánh giá hiệu quả
đề tài, đề án khoa học các ban Đảng giai đoạn 2001 – 2005, đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng các đề tài, đề án trong thời gian tới” của tác giả
Nguyễn Văn Hòa Đề tài đã có những đánh giá xác đáng về hiệu quả của các
đề tài, đề án; tuy nhiên đó là đánh giá các đề tài, đề án khoa học của các ban đảng chỉ trong giai đoạn 2001 – 2005
Trang 109
Có thể nói, trong các báo cáo kết quả hoạt động khoa học của Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương và Hội đồng khoa học của Ban Tuyên giáo Trung ương đều có đánh giá những hạn chế trong đó có việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học còn thấp Tuy vậy, đây cũng chỉ là đánh giá khái quát, chưa có những căn cứ khoa học hoặc nghiên cứu đánh giá
cụ thể
Những nghiên cứu khác liên quan đến rào cản hạn chế trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn
Đề tài khoa học với chủ đề “Giải pháp giảm thiểu rủi ro trong việc áp
dụng các kết quả nghiên cứu khoa học (nghiên cứu trường hợp tỉnh Hải Dương)” của tác giả Phạm Văn Bình Luận văn tập trung tìm hiểu những khó
khăn, hạn chế trong việc áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học trong phạm vi tỉnh Hải Dương thông qua khảo sát thực tế các đề tài nghiên cứu khoa học trong phạm vi 5 năm (1997-2005), từ đó nêu bật lên những nguyên nhân mà các đề tài/dự án không được áp dụng và không được nhân rộng
Đề tài nghiên cứu chủ đề“Khắc phục rào cản về khả năng tiếp nhận
trong chuyển giao công nghệ ở miền núi bằng mô hình trình diễn” của tác giả
Trần Văn Đoài (2012) Luận văn đã chỉ ra các rào cản hạn chế khả năng tiếp nhận trong chuyên giao công nghệ ở miền núi và đưa ra giải pháp là dùng mô hình trình diễn Tuy nhiên nội dung của luận văn đề cập thuộc về lĩnh vực công nghệ
Bài viết của GS Hoàng Tụy “Thưa Bộ trưởng, khoa học đang đi về
đâu?” đã chỉ ra thực trạng các đề tài, dự án có hiện tượng “cất ngăn kéo” một
cách rất lãng phí Giáo sư Hoàng Tụy cũng nêu ra một số rào cản, hạn chế trong công tác nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay
Trên trang thông tin điện tử, tác giả Trà My có bài viết “Hành chính
hóa hệ thống tài chính cho khoa học: Có tạo ra rào cản của sáng tạo”,
sang-tao Bài viết đã chỉ ra một trong những lý do để khoa học và công nghệ
Trang 11http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Khoa-hoc/327086/co-tao-ra-rao-can-cua-10
Việt Nam hiện vẫn ở "vùng trũng" của thế giới chính là việc giải quyết nhiều vấn đề khoa học theo kiểu hành chính hóa vẫn còn khá phổ biến; đồng thời cũng nêu ra những khó khăn, rào cản mà những quy định tài chính hiện hành mang lại, đặc biệt đối với các đề tài khoa học đòi hỏi tính ứng dụng Tuy nhiên phạm vi của bài viết mới chỉ bàn về khía cạnh rào cản tài chính
Báo điện tử có đăng tải bài viết của tác giả Thái Ngọc với chủ đề
“Khoa học Việt Nam không qua nổi sân nhà”
-http://khampha.vn/khoa-hoc/khoa-hoc-viet-nam-khong-qua-noi-san-nha c7a38768.html Bài viết đã chỉ ra việc các nghiên cứu khoa học không thể áp dụng vào thực tiễn, tình trạng này không chỉ ở các bộ, ban, ngành mà còn ở các địa phương mà chưa
có nhận định cụ thể rõ ràng về các rào cản hạn chế khả năng ứng dụng vào thực tiễn của các nghiên cứu khoa học
Như vậy, có thể nói cho đến nay đã có những đề tài đề cập đến vấn đề thực trạng hoạt động và nghiên cứu khoa học phục vụ công tác chính trị của Ban Tuyên giáo Trung ương Nhưng nghiên cứu khái quát chỉ ra những rào cản hạn chế khả năng ứng dụng vào thực tiễn của các sản phẩm nghiên cứu khoa học ở trong các ban đảng chưa có Trong luận văn này, nghiên cứu sẽ tập trung tìm hiểu về những rào cản hạn chế khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn trong phạm vi của Ban Tuyên giáo Trung ương hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ ra những rào cản hạn chế khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương
4 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Ban Tuyên giáo Trung ương
- Thời gian: từ năm 2007 đến 2012
- Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu phân tích thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học ở Ban Tuyên giáo Trung ương Trên cơ sở những phân tích phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, tổ chức thực hiện hoạt động
Trang 1211
nghiên cứu, kết quả các công trình nghiên cứu khoa học của Ban Tuyên giáo Trung ương, cũng như việc nghiên cứu các điều kiện kinh tế - xã hội trong và ngoài Ban Tuyên giáo Trung ương Từ đó chỉ ra những rào cản hạn chế việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương
5 Mẫu khảo sát
Thu thập các đề tài, đề án đã được thực hiện từ năm 2007 đến nay, nghiên cứu phân tích các kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ khoa học ở Ban Tuyên giáo Trung ương
Nghiên cứu điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội tác động đến việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, cũng như những đánh giá cơ chế chính sách chung cho hoạt động nghiên cứu khoa học và cơ chế chính sách đặc thù ở Ban Tuyên giáo Trung ương
Phỏng vấn, lấy ý kiến các nhà quản lý đang công tác, các chủ nhiệm nhiệm vụ khoa học và các cộng sự đề tài, đề án khoa học đang làm việc tại Ban Tuyên giáo Trung ương
6 Vấn đề nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học và việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học ở Ban Tuyên giáo Trung ương hiện nay như thế nào?
- Các điều kiện kinh tế, xã hội nói chung và điều kiện cụ thể của Ban Tuyên giáo Trung ương nói riêng có tác động đến khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn như thế nào?
- Những rào cản nào hạn chế khả năng ứng dụng vào thực tiễn của các
đề tài nghiên cứu khoa học ở Ban Tuyên giáo Trung ương hiện nay?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội nói chung không tác động đến khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn của Ban Tuyên giáo Trung ương
Trang 1312
- Các rào cản hạn chế khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương bao gồm: Rào cản về nhận thức; Rào cản về tâm lý; Rào cản về tài chính; Rào cản về nguồn nhân lực; Rào cản về chính sách; Rào cản về kỹ thuật là độc lập, không phụ thuộc, không tác động ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
- Khi xem xét để rút ra các rào cản khả năng ứng dụng vào thực tiễn của các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương các yếu tố tác động được xem xét, đánh giá biệt lập, không trong quá trình vận động, biến đổi hay thay đổi liên tục
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu về khoa học, nghiên cứu khoa học và các yếu tố ảnh hưởng, về rào cản, nhằm đưa ra luận cứ lý thuyết
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn đối với một số nhà quản lý và các chủ nhiệm đề tài, những thành viên đã từng tham gia một số đề tài của Ban Tuyên giáo Trung ương để thu thập ý kiến về vấn đề nghiên cứu
9 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về rào cản hạn chế khả năng ứng dụng các kết
quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn Chương 2 Thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào
thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương Chương 3 Rào cản hạn chế khả năng ứng dụng các kết quả nghiên cứu
khoa học vào thực tiễn ở Ban Tuyên giáo Trung ương
Trang 1413
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RÀO CẢN HẠN CHẾ KHẢ NĂNG ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO THỰC TIỄN
1.1 Hệ khái niệm
1.1.1 Nghiên cứu khoa học
1/ Khái niệm
Thuật ngữ “Nghiên cứu khoa học” ở nước ta được hiểu rất khác nhau
Có quan niệm cho rằng nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm tòi khám phá các lý thuyết khoa học mới, các nguyên lý công nghệ mới Từ quan niệm này được thể hiện cụ thể hơn trong một số cách định nghĩa sau:
Định nghĩa theo quan điểm triết học duy vật biện chứng như sau:
Nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi, khám phá bản chất các sự vật (tự nhiên, xã hội, con người), nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, đồng thời sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, biến đổi sự vật theo mục đích sử dụng
Định nghĩa theo quan điểm miêu tả hoạt động khoa học:
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội, với chức năng tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới
Về cơ bản, nghiên cứu khoa học là sự tìm tòi khám phá bản chất các sự vật hoặc hiện tượng vốn tồn tại trong tự nhiên và xã hội và sáng tạo các sự vật hoặc hiện tượng mới dựa trên các phương pháp khoa học [6, tr.35]
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 đinh nghĩa: Nghiên cứu khoa
học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn Nghiên cứu khoa học bao gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng [18,
điều 2]
Trang 1514
Trong định nghĩa này phân định nghiên cứu khoa học chỉ gốm có hai loại nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Đinh nghĩa này còn nhiều hạn chế do chưa thể hiện hết các loại hình nghiên cứu khoa học và phạm vi của hoạt động nghiên cứu khoa học
Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 có điều chỉnh và đưa ra định
nghĩa như sau: Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm
hiểu bản chất, quy luật của sự vật hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn [19, điều 3]
Để làm rõ thêm đinh nghĩa về “nghiên cứu khoa học”, các lý giải dưới đây nhằm mục đích làm rõ thuật ngữ này:
Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà
khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạo thế giới
Chủ thể của nghiên cứu khoa học vừa là cá nhân vừa là tập thể - sự
sáng tạo khoa học bao giờ cũng được bắt đầu từ một ý tưởng của cá nhân và sau đó được sự hỗ trợ, hợp tác nghiên cứu của một tập thể, theo ý tưởng định hướng nghiên cứu của người đề xuất Hơn nữa, trong giai đoạn phát triển hiện nay, quá trình nghiên cứu khoa học thường được thực hiện trong một cơ quan nghiên cứu với một tập thể có tiềm lực mạnh, được tổ chức chặt chẽ, và có chương trình chiến lược hoạt động
Mục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và các
quy luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới, nhằm ứng dụng chúng vào sản xuất vật chất hay tạo ra những giá trị tinh thần, để thoả mãn nhu cầu cuộc sống của con người
Phương pháp nghiên cứu khoa học là phương pháp nhận thức thế giới
bao gồm những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các thao tác cụ thể để tác động vào đối tượng để làm bộc lộ bản chất của đối tượng Bên cạnh đó, nghiên cứu khoa học còn phải sử dụng những công cụ đặc biệt, có tiêu chuẩn
Trang 1615
kỹ thuật khắt khe trong định tính và định lượng để thí nghiệm, thực nghiệm
đo lường và kiểm định sản phẩm sáng tạo
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học là hệ thống thông tin mới về thế
giới và về những giải pháp cải tạo thế giới Cho nên có thể nói khoa học luôn hướng tới cái mới Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đi trước thời đại và có giá trị dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn
Sản phẩm khoa học luôn được kế thừa, hoàn thiện, bổ sung theo đà tiến
bộ của xã hội loài người và ngày một tiệm cận tới chân lý khách quan Mỗi lý thuyết khoa học được hình thành, phát triển hưng thịnh, rồi lại lạc hậu nhường chỗ cho cái mới, cái tiến bộ, cái có triển vọng hơn
Giá trị của khoa học được quyết định bởi tính thông tin, tính ứng dụng
và sự đáp ứng nhu cầu của cuộc sống Thông tin khoa học phải có tính khách quan, có độ tin cậy, có thể kiểm tra được bằng các phương pháp khác nhau
Quá trình nghiên cứu khoa học diễn ra phức tạp, luôn chứa đựng những
mâu thuẫn, liên tục xuất hiện những xu hướng, các trường phái lý thuyết, các giả thuyết, các dự báo khác nhau, thậm chí trái ngược nhau và kết cục cái nào phù hợp với hiện thực, đem lại lợi ích cho con người là cái chiến thắng Khoa học là cách mạng với ý nghĩa đó
Kết quả của nghiên cứu khoa học có chứa những yếu tố mạo hiểm, bởi
vì nghiên cứu khoa học không phải lúc nào cũng thành công Sự thành công
sẽ tạo ra giá trị mới cho nhân loại; nhưng những thất bại, rủi ro - đó là sự phải trả giá của khoa học - ít nhất cũng cho một thông tin có ích để không lặp lại những sai lầm tương tự
Phạm trù lợi nhuận trong nghiên cứu khoa học rất khó xác định vì
nghiên cứu khoa học là một hoạt động khó hạch toán kinh tế Sản phẩm nghiên cứu khoa học có thể là một tài sản vô giá đem lại những giá trị to lớn cho nhân loại, nhưng cũng có thể là sự chi phí rất tốn kém mà không đem lại kết quả gì
2/ Phân loại
Trang 17Trình độ mô tả: Là những nghiên cứu dừng lại ở mức mô tả sự vật:
hình thái và cấu trúc của sự vật; phát hiện quy luật vận động của sự vật Cụ thể hơn, mô tả khoa học là trình bày lại những kết quả nghiên cứu một hiện tượng hay một sự kiện khoa học làm sao cho đối tượng đó được thể hiện đến mức độ nguyên bản tối đa
Tri thức mô tả là những tri thức thu nhận được qua quan sát, điều tra và được trình bày bằng hệ thống ký hiệu có tính trực quan; đồng thời, là những khái niệm có liên quan đến hệ thống ký hiệu này Mô tả là biện pháp quan trọng để chuẩn bị tư liệu cho việc giải thích khoa học
Mô tả khoa học tuy đã cố gắng cho ta hình ảnh đầy đủ về đối tượng hiện thực, nhưng mô tả chưa đạt tới trình độ thiết lập được các mối liên hệ có tính quy luật, bản chất bên trong của đối tượng, vì thế nó vẫn còn dừng ở mức
độ nhận thức thực tiễn và kinh nghiệm
Trình độ giải thích
Giải thích khoa học là trình bày một cách tường minh bản chất của đối tượng nghiên cứu, bằng cách chỉ ra đối tượng ấy đã tuân thủ một phần hay toàn bộ các quy luật chung của sự phát triển hiện thực
Cơ sở cần thiết cho mọi sự giải thích khoa học là các tài liệu về đối tượng phải đầy đủ, chính xác, ngôn ngữ rõ ràng, lập luận chặt chẽ, phù hợp với các quy tắt lôgic của suy luận, tư tưởng học thuật phải phù hợp với các lý thuyết khoa học đã được chứng minh
Giải thích khoa học cố gắng phản ánh trung thực các sự kiện của hiện thực, chỉ ra nguồn gốc phát sinh, phát triển, mối quan hệ của sự kiện vớicác
Trang 18Tuy nhiên đạt tới trình độ chính xác đến đâu, còn phụ thuộc vào khả năng của người nghiên cứu và mức độ tự bộc lộ của đối tượng
Trình độ phát hiện
Trình độ phát hiện là trình độ nghiên cứu hướng tới bản chất của các
sự kiện, hiện tượng khách quan một cách chủ động nhằm khám phá các quy luật vận động và phát triển của chúng Phát hiện đồng nghĩa với phát minh, với quá trình sáng tạo ra chân lý mới làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại
Trình độ phát hiện khoa học là trình độ nhận thức sáng tạo cao nhất của con người, được thực hiện bằng những phương thức đặc biệt, với những công
cụ, phương tiện tinh xảo và với những quy trình kỹ thuật khắt khe làm cho đối tượng bộc lộ nguyên hình với những dấu hiệu bản chất, với các quy luật vận động và phát triển khách quan
Tri thức phát hiện tạo nên các khái niệm, phạm trù, các quy luật, các lý thuyết, học thuyết mới, những phương pháp nghiên cứu mới, những quy trình công nghệ mới, đó là những tri thức có giá trị đối với lý luận và thực tiễn
(2) Tiếp cận theo giai đoạn (sản phẩm) nghiên cứu
Với các trình độ nhận thức như trên, nghiên cứu khoa học được tiến hành bằng các loại hình theo các giai đoạn nghiên cứu sau đây:
Nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm tòi, sáng tạo ra những tri thức mới, những giá trị mới cho nhân loại Nghiên cứu cơ bản
đi sâu khám phá bản chất và quy luật vận động và phát triển của thế giới ở cả
Trang 19Có hai loại nghiên cứu cơ bản
Nghiên cứu cơ bản thuần tuý có mục tiêu là phát hiện, sáng tạo ra giá trị mới, những quy luật, những lý thuyết khoa học mới dù chưa có địa chỉ ứng dụng
Nghiên cứu cơ bản định hướng có mục tiêu tìm ra những kiến thức mới, giải pháp mới theo yêu cầu của thực tiễn xã hội hay sản xuất, đã có sẵn địa chỉ ứng dụng
Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu ứng dụng là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm cách vận động những tri thức cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới, những nguyên lý mới trong quản lý kinh tế và xã hội
Đây là một loại hình nghiên cứu phù hợp với quy luật phát triển của khoa học hiện đại, nó làm rút ngắn thời gian từ khi phát minh đến khi ứng dụng Chính nghiên cứu ứng dụng đã làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển cả khoa học lẫn sản xuất
Nghiên cứu ứng dụng là một trong những con đường quan trọng nhất giúp cho các nước phát triển nhanh chóng, bỏ qua giai đoạn nghiên cứu cơ bản tốn kém để tiến kịp các nước phát triển có tiềm lực khoa học mới
Nghiên cứu triển khai
Trang 20Nghiên cứu triển khai là loại hình nghiên cứu nối liền khoa học và đời sống, là con đường đưa khoa học tới nơi cần sử dụng, chính nó làm cho ý tưởng khoa học trở thành hiện thực, làm phát triển nền kinh tế, văn hoá xã hội, làm tăng chất lượng cuộc sống của con người
Hoạt động triển khai gồm 3 giai đoạn:
Tạo vật mẫu (prototype), là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm, chưa quan tâm đến quy trình sản xuất
Tạo công nghệ còn gọi là giai đoạn “làm pilot”, là giai đoạn tìm kiếm
và thử nghiệm công nghệ để sản xuất ra sản phẩm theo mẫu vừa thành công trong giai đoạn thứ nhất
Sản xuất thử loạt nhỏ, còn gọi là sản xuất “Série 0” (Loạt 0) Đây là
giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ
Nghiên cứu dự báo
Nghiên cứu dự báo là loại hình nghiên cứu có mục tiêu là phát hiện những triển vọng, những khả năng, xu hướng mới của sự phát triển của khoa học và thực tiễn Nghiên cứu dự báo dựa trên các quy luật và tốc độ phát triển của khoa học hiện đại, trên cơ sở các tiềm lực khoa học quốc gia
và thế giới Nghiên cứu dự báo dựa trên kết quả phân tích và tổng hợp một
số lượng lớn các thông tin khách quan về các thành tựu của khoa học, đồng thời dựa vào nhu cầu và khả năng phát triển cuộc sống của xã hội hiện đại Các dự báo bao gồm:
Những thành tựu của khoa học và thực tiễn có thể đạt được trong tương lai Những triển vọng của những phát minh, số lượng và chất lượng thông tin mới
Trang 21Số phận của dự báo chịu ảnh hưởng của sự phát triển xã hội và những bí mật của thiên nhiên được phát hiện
3/ Các tính chất cơ bản của hoạt động nghiên cứu khoa học
Tính khoa học, tính sáng tạo, tính mới, được thể hiện ở việc vận dụng
đúng đắn tổng hợp các kiến thức khoa học đã được tính luỹ của loài người, và việc vận dụng linh hoạt hợp lý các phương pháp khoa học thích hợp với đối tượng và điều kiện nghiên cứu cụ thể để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát huy cao độ tư duy sáng tạo trong nghiên cứu phân tích và đề xuất các kiến
nghị khoa học, có những đóng góp mới so với những nhiệm vụ nghiên cứu
tương tự đã được thực hiện trước đó
Tính hữu ích, đa lợi ích, thể hiện rõ trong mục đích của hoạt động
nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng những yêu cầu cần thiết của con người trong tìm tòi các giải pháp để nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện điều kiện sinh hoạt của con người, mở rộng kiến thức, kể cả những nghiên cứu dẫn đến kết luận "là sai, là thất bại" cũng có tác dụng giúp người ta tránh không lặp lại sai lầm thất bại như thế
Mỗi hoạt động nghiên cứu khoa học vừa có lợi ích kinh tế, vừa có lợi ích xã hội, lợi ích chính trị, có ý nghĩa nhân văn, vừa có giá trị về phát triển
khoa học Cũng do vậy, trong đánh giá kết quả và hiệu quả của nghiên cứu khoa học không thể chỉ nhìn vào hiệu quả kinh tế thuần tuý, mà phải xem xét hiệu quả tổng hợp về nhiều mặt
Trang 2221
Tính trễ, thể hiện ở kết quả của nghiên cứu khoa học chưa thể có ngay
sau khi kết thúc đầu tư cho nghiên cứu, mà phải chờ một thời gian nhất định, ngắn cũng phải 1-2 năm, có khi phải hàng chục năm hoặc còn dài hơn mới thấy được kết quả và hiệu quả của việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học Đồng thời, kết quả và hiệu quả của nghiên cứu khoa học có nhiều trường hợp là tích luỹ cả quá trình nhiều năm đã ứng dụng tốt kết quả nghiên cứu đó
Tính không chắc chắn, hay gọi là tính rủi ro - bởi việc đầu tư cho
nghiên cứu không thể định trước sẽ có kết quả như thế nào, vì không phải bao giờ các mục tiêu nghiên cứu được đề ra cũng có thể đạt được như mong muốn
Bảng 1.1: Thống kê tỷ lệ thành công, thất bại của nghiên cứu khoa học
(Nguồn: UNESSCO)
Đối với các hoạt động nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai, ngoài các tính chất cơ bản trên đây còn có một số tính chất khác cũng rất quan trọng, đó là:
Tính hiện thực, thông qua mục tiêu chủ yếu của nghiên cứu khoa học
phải nhằm giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra
Tính phổ cập, với kết quả được ứng dụng có hiệu quả phải nhanh chóng
được chuyển giao ứng dụng rộng rãi
4/ Các hình thức tổ chức thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học
Hoạt động nghiên cứu khoa học bao gồm nhiều loại hình khác nhau, tùy thuộc vào yêu cầu và mục đích nghiên cứu cụ thể Trong thực tế, việc tổ
thành công
Xác suất không thành công
Nghiên cứu cơ bản thuần tuý
Nghiên cứu cơ bản định hướng
Nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu triển khai thử nghiệm
Cải tiến kỹ thuật nhỏ
Trang 2322
chức thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học có thể có thể được tiến hành theo một số hình thức cơ bản sau đây:
Đề tài nghiên cứu khoa học
Là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học phổ biến nhất, được đặc trưng bởi một nhiệm vụ nghiên cứu, và và do một người hoặc một nhóm người thực hiện Nội dung chủ yếu của đề tài được hướng vào việc hoàn thiện
và làm phong phú thêm hệ thống tri thức khoa học
Theo Vũ Cao Đàm, đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học,
trong đó có một nhóm người (nhóm nghiên cứu) cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu [5, tr 49] Nhóm nghiên cứu có thể là một người hoặc nhiều hơn
một người Đề tài định hướng vào việc trả lời những câu hỏi về ý nghĩa học thuật, chưa quan tâm nhiều đến việc hiện thực hóa trong hoạt động thực tế
Dự án nghiên cứu khoa học
Đây là hình thức tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tế, mở rộng ứng dụng thành quả của nghiên cứu cơ bản trong phòng thí nghiệm vào trong các điều kiện của thực tế, đem lại kết quả với quy mô lớn, có hiệu quả kinh tế - xã hội cụ thể Nên hình thức tổ chức thực hiện hoạt động nghiên cứu này còn được gọi
là dự án sản xuất thử nghiệm
Trong thực tế, dự án sản xuất thử nghiệm là hình thức nghiên cứu khoa học tiếp nối của Đề tài triển khai thực nghiệm, tạo ra những sản phẩm có tính mới, có chất lượng cao để chuẩn bị chuyển giao cho sản xuất đại trà, cho áp dụng rộng rãi trong quản lý, phục vụ phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống con người
Hình thức này có vị trí rất quan trọng đối với sự phát triển của sản xuất
và cải thiện đời sống, đóng góp vào sự đổi mới về chất trong các lĩnh vực, thể hiện rõ rệt hiệu quả thiết thực của các hoạt động nghiên cứu khoa học với phát triển kinh tế - xã hội
Chương trình
Trang 24Tổng kết thực tiễn, nhằm thu thập tình hình và phân tích đúc kết các
vấn đề có tính mới từ thực tiễn, có thể phát hiện ra những mô hình mới, những phương thức hoạt động mới có giá trị phổ biến rộng rãi, có ý nghĩa đúc kết bổ sung phát triển về mặt lý luận Hình thức tổng kết thực tiễn được thực hiện khá phổ biến, nhất là trong nghiên cứu khoa học xã hội
Hội thảo khoa học, được diễn ra trong khoảng thời gian không dài,
nhằm trao đổi ý kiến khoa học về một hoặc một số vấn đề cụ thể Chủ đề của hội thảo khoa học phải rõ, gọn để tập trung hướng ý kiến trao đổi Kết quả của hội thảo khoa học là tổng hợp những ý kiến phân tích khác nhau về một chủ
đề, qua đó rút ra hướng ý kiến nổi bật nhất, có lập luận khoa học nhất về vấn
đề được nêu ra
Lấy ý kiến chuyên gia, nhằm thăm dò ý kiến của những chuyên gia am
hiểu về vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu Hình thức lấy ý kiến chuyên gia thường áp dụng theo Phiếu hỏi, với những câu hỏi ngắn gọn, cụ thể, có thể gợi ý sẵn một số cách trả lời để lựa chọn, và yêu cầu trả lời cũng ngắn gọn, rõ ràng Kết quả tổng hợp ý kiến được phân loại theo các hướng trả lời khác nhau về từng câu hỏi, cho thấy xu hướng ý kiến về các vấn đề được nêu ra Hình thức phiếu hỏi cũng được áp dụng nhiều trong thăm dò ý kiến các đối tượng nghiên cứu, (tuy nhiên những người này không phải là các chuyên gia
am hiểu vấn đề), là một dạng tương tự của hình thức lấy ý kiến chuyên gia
Trang 2524
1.1.2 Kết quả nghiên cứu khoa học
Kết quả nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Có thể là những thông tin về quy luật của sự vật, là những giải pháp trong tổ chức và quản lý; cũng có thể là những mẫu vật với những thông số có giá trị khả thi về mặt kỹ thuật,v.v…[4, tr.157]
Kết quả nghiên cứu khoa học được định nghĩa như sau:
Kết quả nghiên cứu khoa học là những thông tin tri thức Có thể đó là tri thức mới về các quy luật của sự vật hoặc hiện tượng; có thể đó là tri thức
về các giải pháp mới, công nghệ mới hoặc vật liệu mới
Từ định nghĩa “kết quả nghiên cứu khoa học” ở trên cho thấy, có nhiều cách định nghĩa thông tin tri thức, hay thông tin khoa học và công nghệ:
(1) là các thông tin nhận được và tích luỹ được trong quá trình phát
triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người;
(2) là một tập hợp có hệ thống những xuất bản phẩm tồn tại trên các vật
mang tin khác nhau được lựa chọn và sử dụng phục vụ nhiệm vụ của các cơ quan KH&CN
Theo Nghị định số 159/2004/NĐ-CP về hoạt động thông tin KH&CN, Điều 2:
- "Thông tin khoa học và công nghệ" là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện,
tin tức, tri thức khoa học và công nghệ (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội
- "Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ" là hoạt động nghiệp
vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ, phổ biến thông tin khoa học và công nghệ; các hoạt động khác có liên quan trực tiếp và phục vụ cho các hoạt động nghiệp vụ thông tin khoa học và công nghệ
Nội dung của hoạt động thông tin KH&CN được nêu rõ tại Điều 4 Nghị định 159
Trang 2625
Có thể nói, kết quả nghiên cứu khoa học được đề cập là những sản phẩm thu được sau một quá trình nghiên cứu Đó có thể là một bài báo khoa học, một báo cáo khoa học, tác phẩm khoa học…
1.1.3 Công bố và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học
Yêu cầu của giai đoạn này là: thực hiện xã hội hoá kết quả nghiên cứu khoa học Trong đó, quan trọng là các hình thức công bố kết quả nghiên cứu,
và ứng dụng rộng rãi kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất và đời sống
a) Đăng ký kết quả nghiên cứu
Với các đề tài nghiên cứu khoa học, sau khi đã được đánh giá nghiệm thu chính thức kết quả nghiên cứu, cần phải thực hiện việc đăng ký kết quả nghiên cứu tại cơ quan quản lý nhà nước về khoa học Việc đăng ký kết quả nghiên cứu nhằm: tổng hợp vào kho dữ liệu thông tin các kết quả nghiên cứu khoa học của Nhà nước để phổ biến, khai thác ứng dụng, giới thiệu cho các
cơ quan đơn vị có nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu để tránh việc phải nghiên cứu lặp lại, thực hiện việc công nhận chính thức về mặt Nhà nước đối với bản quyền tác giả kết quả nghiên cứu khoa học và thực hiện bảo hộ bản quyền tác giả đó
Các đề tài nghiên cứu khoa học do các tổ chức, cá nhân tự thực hiện bằng kinh phí riêng có thể đăng ký hoặc hiến, tặng tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và được lưu giữ tại cơ quan lưu trữ của Nhà nước
b) Công bố kết quả nghiên cứu
Việc công bố kết quả nghiên cứu chủ yếu do Chủ nhiệm Đề tài hoặc Tổ chức chủ trì Đề tài tiến hành Các nội dung công bố có thể là từng phần kết quả, hoặc toàn bộ kết quả nghiên cứu, kể cả những nội dung nghiên cứu còn đang được trao đổi và theo các ý kiến riêng của các tác giả
Giá trị khoa học và giá trị vận dụng rất khác nhau giữa các kết quả nghiên cứu trung gian và các kết quả nghiên cứu chính thức Do vậy, khi công
bố kết quả nghiên cứu cần cân nhắc về hình thức công bố Nói chung, kết quả nghiên cứu có thể được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau:
Trang 2726
- Các bài báo đăng trên các tập san, tạp chí;
- Các báo cáo khoa học đăng trong tuyển tập khoa học chuyên ngành, tạp chí, tập san;
- Các sách chuyên khảo
Đối với các kết quả nghiên cứu trung gian thường công bố dưới dạng các bài báo đăng trên tập san, tạp chí Những kết quả nghiên cứu trung gian
có kết luận rõ ràng có thể đăng trong tuyển tập báo cáo khoa học, hoặc có thể
in thành sách dùng tham khảo nội bộ Phạm vi lưu hành và sử dụng của các sản phẩm công bố về kết quả nghiên cứu trung gian có hạn chế, chủ yếu nhằm trao đổi thông tin khoa học lẫn nhau giữa các nhà khoa học trong cùng lĩnh vực chuyên môn Trách nhiệm đối với các sản phẩm công bố về kết quả nghiên cứu trung gian hoàn toàn ở tác giả đứng tên
Đối với các kết quả nghiên cứu chính thức, đã được hội đồng khoa học
đánh giá nghiệm thu công nhận, và được đăng ký kết quả nghiên cứu tại cơ quan quản lý khoa học, thì khi công bố kết quả nghiên cứu dưới dạng báo cáo khoa học hoặc sách lưu hành rộng rãi, trách nhiệm đối với sản phẩm công bố
ngoài các tác giả là chủ yếu, còn có hội đồng khoa học đánh giá nghiệm thu
và cơ quan quản lý khoa học cùng chịu trách nhiệm
Với các đề tài nghiên cứu khoa học do các tổ chức, cá nhân tự tiến hành bằng kinh phí riêng, nếu kết quả nghiên cứu có phạm vi ứng dụng rộng rãi hoặc có ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, quốc phòng, an ninh, môi trường, sức khoẻ và đời sống của nhân dân thì phải được cơ quan quản lý nhà nước về khoa học có thẩm quyền tổ chức thẩm định trước khi công bố rộng rãi và ứng dụng
Nhà nước bảo hộ quyền tác giả đối với sản phẩm nghiên cứu khoa học
đã được công bố chính thức Việc sử dụng và khai thác các kết quả nghiên cứu chính thức được công bố đó, phải theo đúng Luật Sở hữu trí tuệ
c) Ứng dụng kết quả nghiên cứu
Trang 2827
Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được Nhà nước cấp kinh phí cho thực hiện, sau khi đã được đánh giá nghiệm thu chính thức, tất cả kết quả nghiên cứu đó là thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Cơ quan quản lý khoa học của Nhà nước được giao quyền xem xét kiến nghị việc ứng dụng thích hợp từng kết quả nghiên cứu thuộc diện này vào thực tế theo các điều kiện cho phép Tuy nhiên, việc khai thác kết quả nghiên cứu nói chung và tài sản trí tuệ nói riêng tại các cơ quan, tổ chức có hoạt động nghiên cứu khoa học còn rất hạn chế, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn còn nhiều rào cản Nguyên nhân chủ yếu được cho là do các quy định về quản lý và khai thác kết quả nghiên cứu có sử dụng kinh phí từ ngân sách Nhà nước còn tồn tại nhiều vấn đề: quy định quan hệ chủ sở hữu chưa rõ ràng, quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý đến đâu, cơ chế phân chia lợi ích giữa các chủ thể như thế nào…
Nhiều nhà nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài, người chủ trì đề án tại các viện, trường phản ánh chính sách, cơ chế quản lý, khai thác kết quả nghiên cứu hiện nay chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tiễn và chưa tạo động lực cho các chủ thể tham gia khai thác kết quả nghiên cứu tạo ra Thực tế là hầu hết giá trị của các kết quả nghiên cứu do tác giả hoặc nhóm tác giả nắm giữ dưới dạng tài sản vô hình, bí quyết kỹ thuật, bí mật thương mại
Các kết quả nghiên cứu từ nguồn kinh phí Ngân sách hiện nay vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và do cơ quan hoặc tổ chức chủ trì quản lý Tuy nhiên, việc quản lý của các cơ quan, tổ chức chỉ mang tính hình thức và không hiệu quả Tùy theo chất lượng của kết quả nghiên cứu và nhu cầu của thị trường, đa số các kết quả các đề tài, đề án được xếp vào kho sau khi nghiệm thu
Một số kết quả đề tài, đề án có sản phẩm có khả năng ứng dụng, khai thác thương mại thì bị cản trở do quy định về mức thưởng cho tác giả theo Thông tư số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN quá thấp nên chưa khuyến khích các tác giả, nhóm tác giả, chủ nhiệm đề tài, đề án khai thác kết quả do mình
Trang 2928
tạo ra Trong nhiều trường hợp, các giao dịch mua bán, li-xăng, chuyển giao công nghệ tạo ra trên cơ sở đề tài, đề án do Nhà nước cấp kinh phí được thực hiện một cách không chính thức, không công khai giữa tác giả, chủ nhiệm đề
án với các đối tác có nhu cầu
Vấn đề về ứng dụng các kết quả nghiên cứu, quản lý tài sản trí tuệ cần tập trung nghiên cứu một khía cạnh khác của chế độ quản lý, khai thác kết quả nghiên cứu từ nguồn kinh phí của Nhà nước Đó là cơ chế phân chia lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ sở hữu, quản lý, khai thác thương mại kết quả nghiên cứu, tài sản trí tuệ được tạo ra trên cơ sở kết quả nghiên cứu từ nguồn kinh phí của Nhà nước
1.1.4 Rào cản
Theo từ điển Tiếng việt: Rào cản là rào để ngăn, không cho vượt qua; dùng để ví sự trở ngại lớn khiến ngăn cách, cản trở trong việc giao lưu, thông thương
Rào cản là những yếu tố có hướng đi không cùng chiều, tác động làm hạn chế quá trình phát triển, ngăn cản việc đạt mục tiêu của tổ chức, cá nhân hoặc hoạt động cụ thể [8, tr.21]
Rào cản trong ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học được hiểu
như sau: Rào cản trong ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học là những
yếu tố tác động gây khó khăn, hạn chế trong quá trình đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn cuộc sống
Có 2 loại rào cản: [8, tr.22]
Rào cản khách quan là những yếu tố bên ngoài tổ chức, cá nhân hoặc
sự vật, hiện tượng, nảy sinh trong quá trình phát triển, tác động, quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác
Rào cản chủ quan là yếu tố bên trong tổ chức, cá nhân, sự vật, hiện tượng, nảy sinh trong quá trình phát triển, tác động, quan hệ giữa các bộ phận cấu thành tổ chức, cá nhân, sự vật, hiện tượng
Trang 3029
Trong hai loại rào cản này, rào cản do yếu tố chủ quan là khó khắc phục hơn vì rào cản này do chính con người tạo ra, vì vậy để xóa bỏ rào cản loại này rất cần sự thay đổi về căn bản trong nhận thức của mỗi người
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học và áp dụng nghiên cứu khoa học, rủi ro là một đặc điểm luôn tồn tại Đó chính là những rào cản khiến cho sản phẩm nghiên cứu của nhà khoa học không áp dụng được vào thực tiễn cuộc sống Nhà quản lý khi xác định nhiệm vụ và đặt đầu bài cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu khoa học bao giờ cũng xác định vấn đề nghiên cứu với mục tiêu kết quả nghiên cứu sẽ được áp dụng ngay và nhân rộng vào cuộc sống, giải quyết nhu cầu bức xúc của phát triển kinh tế xã hội Nhưng do những yếu
tố khác nhau tác động đến quá trình nghiên cứu và áp dụng dẫn đến chất lượng nghiên cứu thấp hoặc có những đề tài, đề án khoa học chất lượng nghiên cứu tốt nhưng chưa có phương pháp tổ chức áp dụng phù hợp
1.2 Vai trò của việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn
Sang đầu thế kỷ 21, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn gặp nhiều thách thức hơn bao giờ hết Đó là những áp lực từ nhiều phía đặt lên vai các nhà nghiên cứu khoa học về hiệu quả của nghiên cứu khoa học Thế kỷ 20, dựa trên cơ sở các tri thức của nền khoa học hiện đại mà cuộc cách mạng khoa học đầu thế kỷ 20 mang lại và những xuất hiệu nhiều khuynh hướng nghiên cứu liên ngành, đa ngành Hiển nhiên hệ thống khoa học phải dựa vào các tiền đề mà hệ thống khoa học và nền tảng tư tưởng
cũ đã tạo ra, nhưng đồng thời cũng phải giải quyết các bế tắc mà hệ thống cũ
để lại
Như vậy có thể nói các kết quả nghiên cứu khoa học khi được ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống đã mang lại những thay đổi hết sức to lớn cho nhân loại Nhờ có khoa học và công nghệ mà chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao thông qua cách tiếp cận thông tin và cung cấp dịch vụ Khoa học là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, làm cho con người ngày
Trang 3130
càng văn minh hơn, nhân ái hơn, sống tốt hơn và vững tin hơn vào chính bản thân mình trong cuộc sống Cụ thể như:
Thứ nhất, đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội
Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần quan trọng lý giải và khẳng định giá trị khoa học và thực tiễn của Chủ nghĩa Mác-Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; góp phần vào thành công của công cuộc đổi mới nói chung và vào quá trình đổi mới tư duy kinh tế nói riêng
Các kết quả điều tra cơ bản và nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên đã phục vụ xây dựng luận cứ khoa học cho các phương án phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ, thích nghi và khai thác có hiệu quả nền khoa học
từ nước ngoài Nhờ đó, trình độ khoa học trong một số ngành sản xuất, dịch
vụ đã được nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn Đặc biệt, trong lĩnh vực nông nghiệp trình độ khoa học đã tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa nước ta từ chỗ là nước nhập khẩu lương thực trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo, cà phê, v.v hàng đầu trên thế giới
Hoạt động ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng cao trình độ nhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc
Thứ hai, cơ chế quản lý từng bước được đổi mới
Hệ thống quản lý nhà nước được tổ chức từ trung ương đến địa phương
đã đẩy mạnh góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương
Trang 3231
Thực hiện Luật Khoa học và công nghệ, các chương trình, đề tài, dự án nghiên cứu khoa học đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Cơ chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ nghiên cứu khoa học đã bước đầu được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai
Hoạt động của các tổ chức khoa học đã mở rộng từ nghiên cứu - phát triển đến ứng dụng thực tiễn Quyền tự chủ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động khoa học bước đầu được tăng cường Quyền tự chủ về hợp tác quốc
tế của tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học được mở rộng Vốn huy động cho khoa học từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất - kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác, tăng đáng kể nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho khoa học Đã cải tiến một bước việc cấp phát kinh phí đến nhà khoa học theo hướng giảm bớt các khâu trung gian
Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KH&CN từng bước được hoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Thứ ba, trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học của nhân dân ngày càng được nâng cao
Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động tích cực của các tổ chức KH&CN, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư và công tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của khoa học đến sản xuất và đời sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức khoa học của người dân trong thời gian qua đã tăng lên rõ rệt Hoạt động khoa học ngày càng được xã hội hoá trên phạm vi cả nước
Nền kinh tế tri thức bắt đầu từ giữa thế kỷ 20 , dần dần hình thành vào cuối thế kỷ 20 và sẽ tiếp tục phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 21 để trở thành nền kinh tế mới của nhân loại Hiện tượng trên đây đang lan tỏa và được sự
hỗ trợ to lớn của công nghệ thông tin, tạo ra các đột biến quan trọng để giải
Trang 3332
đáp những yêu cầu của thời đại trong nhiều lĩnh vực hàng đầu cả về khoa học
xã hội và khoa học tự nhiên
Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn đặt ra quá nhiều đòi hỏi Đó là:
a) Điều kiện chính trị, kinh tế - xã hội Kết quả khoa học phải hướng
vào các sản phẩm, hay địa chỉ ứng dụng cụ thể theo nhu cầu của việc phát triển nền tảng kinh tế - xã hội, nhất là khi yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như ở Việt Nam
b) Điều kiện kỹ thuật Ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào thực
tiễn bao giờ cũng sử dụng công cụ hỗ trợ, đi kèm là thiết bị, công cụ hỗ trợ Các phương tiện, công cụ này được dùng trong quá trình triển khai, và bản thân công việc bao giờ cũng đòi hỏi trang thiết bị và vật liệu thỏa mãn các tính năng xác định, nghĩa là phải đảm bảo các điều kiện kỹ thuật cần thiết Có thể giai đoạn đầu vẫn phải sử dụng các điều kiện kỹ thuật của hệ thống cũ và chỉ sau một quá trình liên tục đổi mới thì các điều kiện kỹ thuật mới hoàn chỉnh và đáp ứng được các yêu cầu của công việc mới
c) Điều kiện về nguồn nhân lực Đây chính là điều kiện đảm bảo thành
công cho mọi quá trình tiếp thu ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn
d) Và rất nhiều các điều kiện phát sinh khác
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng các kết quả
nghiên cứu khoa học vào thực tiễn
1.3.1 Yếu tố chủ quan
Thứ nhất, đối với chủ nhiệm đề tài: Việc các chủ nhiệm đề tài, đề án
chưa quen với công tác nghiên cứu khoa học sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình nghiên cứu Nếu ngay từ khâu viết thuyết minh đề cương đã bộc lộ sự lúng túng dẫn tới việc triển khai các chuyên đề không đi vào trọng tâm thì cuối cùng khi viết báo cáo tổng quan của đề tài, đề án sẽ không tóm lược được các
ý từ các chuyên đề, không có chất liệu để làm thành báo cáo tổng quan Vì
Trang 3433
vậy năng lực nghiên cứu của chủ nhiệm đề tài, đề án ảnh hưởng quyết định đến chất lượng, sản phẩm đầu ra của đề tài Ngoài ra, cũng có nhiều chủ nhiệm đề tài, đề án là lãnh đạo các cơ quan, lãnh đạo cấp vụ bận rộn khá nhiều công việc nên không có thời gian dành cho công tác nghiên cứu khoa học, hơn nữa cũng chưa quan tâm đúng mức tới việc triển khai nghiên cứu khiến cho đề tài bị chậm tiến độ Ngược lại đối với các chủ nhiệm đề tài, đề
án có học hàm học vị, cũng như có kiến thức uyên thâm, am hiểu sâu sắc lĩnh vực của mình và khả năng quản lý, xây dựng hướng nghiên cứu đúng đắn sẽ làm cho đề tài có chất lượng cao và đúng tiến độ
Thứ hai, về nội dung đưa ra nghiên cứu: Nội dung nghiên cứu được
thông qua từ khâu phê duyệt đề tài, đề án nghiên cứu Đối với nội dung nghiên cứu ở một số đề tài, đề án không xuất phát từ thực tiễn, mang tính giáo điều, nặng về lý thuyết sẽ khó áp dụng vào trong đời sống thực tiễn, không được xã hội quan tâm mặc dù kết quả của nó đã được đánh giá và nghiệm thu của hội đồng khoa học là thành công và có nhiều yếu tố mới Khả năng ứng dụng của đề tài, đề án còn phụ thuộc vào việc nội dung nghiên cứu của nhiều
cơ quan còn sa vào nhiệm vụ thường xuyên, chưa hướng vào những vấn đề cấp bách, chưa nhanh nhạy phục vụ nhiệm vụ của cơ quan; còn lặp lại một số nội dung đã nghiên cứu
1.3.2 Yếu tố khách quan
Thứ nhất, thiết chế quản lý: Nhận thức của lãnh đạo đối với việc sử
dụng, vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo hiện thực thực tiễn Trên thực tế yếu tố này ảnh hưởng lớn đến số phận của các kết quả nghiên cứu của đề tài Đối với ban lãnh đạo quan tâm tới tình hình nghiên cứu, coi đó là nhiệm vụ chính trị phục vụ cho công tác tham mưu cho lãnh đạo thì những vấn đề cần tư vấn để đưa ra nghiên cứu cũng như việc đôn đốc, kiểm tra các chủ nhiệm được thực hiện đúng tiến độ cũng như đảm bảo chất lượng các đề tài, đề án phục vụ công tác tham mưu được tốt Ngược lại đối với nhiều cơ quan, chưa quan tâm tới tình hình nghiên cứu khoa học ở
Trang 3534
đơn vị mình thì kết quả đạt được rõ ràng không cao, chưa kể đến việc chậm trễ tiến độ so với hợp đồng…
Thứ hai, tổ chức điều hành (Hội đồng khoa học): Chất lượng và hiệu
quả của đề tài, đề án phụ thuộc nhiều vào trình độ tổ chức và quản lý của chính các công tác về soạn thảo, tổ chức và thực hiện các kế hoạch đã được đề
ra Để hoàn thiện những công tác này, thì cần thiết là trong hội đồng khoa học phải xây dựng được cho mình một bộ máy tổ chức hoạch định mạnh và đội ngũ nhân viên có đủ năng lực, trình độ nghiệp vụ chuyên môn cần thiết Liên quan đến hoạt động tổ chức điều hành là một yếu tố nữa hạn chế khả năng ứng dụng vào thực tiễn của đề tài, đề án đó là tính thời sự Sự chậm trễ trong nhiều khâu như phê duyệt, thực hiện không đảm bảo đúng thời gian; công tác nghiệm thu không đảm bảo đúng kế hoạch làm cho đề tài, đề án sau khi được nghiệm thu không phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn xã hội do vậy hạn chế khả năng ứng dụng vào thực tiễn
Thứ ba, nguồn kinh phí: Kinh phí cho đề tài đề án cũng khiến cho công
việc nghiên cứu rất khó khăn, các nhà khoa học không thể tiến hành nghiên cứu nếu không có kinh phí Đây là một nguồn lực trong bốn nguồn lực: nhân lực, tài lực, vật lực, tin lực không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu khoa học Mặt khác, nếu kinh phí cấp chậm, đồng nghĩa với việc không có nguồn kinh phí để triển khai công việc, dễ dẫn đến việc chậm trễ của đề tài, đề án Một số chủ nhiệm đề tài, đề án vừa không có nghiệp vụ về tài chính vừa không quan tâm đúng mức tới vấn đề này Do vậy, việc thanh quyết toán của các đề tài, đề án phần lớn là bị chậm, ảnh hưởng tới công việc triển khai chung của đề án Ngoài ra nguồn kinh phí cấp cho đề tài đề án thấp sẽ ảnh hưởng tới mức độ khảo sát thực tế của các đề tài, đề án Kinh phí thấp khiến ban chủ nhiệm đề tài tiết kiệm, cân đối bỏ nội dung này đi, bớt nội dung kia một chút,… do vậy ảnh hưởng tới tính thực tế cũng như khả năng ứng dụng của các kết quả nghiên cứu khoa học về sau
Trang 3635
Thứ tư, chế độ thù lao trả cho các thành viên tham gia đề tài, đề án
không phù hợp cũng khiến cho chất lượng đề tài, đề án bị giảm Thù lao thấp khiến cho người nghiên cứu không hứng thú với công việc họ làm, Thực tế hiện nay, công việc tham gia nghiên cứu đề tài, đề án vẫn chỉ được coi là việc cải thiện thu nhập
* Tiểu kết Chương 1
Trong Chương 1, Luận văn đã trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu khoa học, kết quả nghiên cứu khoa học, công bố và ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học, rào cản, cũng như chỉ ra vai trò của các kết quả nghiên cứu khoa học khi ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống Nhờ có những thành tựu nghiên cứu khoa học mà thế giới chúng ta đang sống thay đổi, nhân loại đã tiến lên một tầm cao mới Ngày nay khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh và đã trở thành một nhân tố không thể thiếu trong xây dựng tiềm lực sức mạnh của một quốc gia, tạo ra tính quyết định cạnh tranh trong sản xuất hàng hóa
Đồng thời người viết cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng của các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn Yếu tố chủ quan chính là
từ chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học, nội dung nghiên cứu của đề tài đó Yếu
tố khách quan là thiết chế quản lý, tổ chức điều hành, nguồn kinh phí không
đủ, chế độ thù lao không phù hợp, môi trường nghiên cứu không thuận lợi, tính dân chủ, vai trò của cá nhân trong khoa học không được tôn trọng; năng lực chuyển giao, năng lực tiếp thu, tập quán, thói quen
Trang 3736
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀO THỰC TIỄN Ở BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG
2.1 Thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn ở Việt Nam và một số nước trên thế giới hiện nay
2.1.1 Thực trạng hoạt động ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay
1/ Tình hình hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
Quá trình đổi mới đất nước đã tạo ra những tiền đề mới cho sự phát triển KH&CN của nước ta trong thời gian qua Nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian qua là điều kiện thuận lợi để tăng đầu
tư cho phát triển KH&CN Đảng ta đã có nhiều nghị quyết khẳng định chủ trương phát triển KH&CN trong định hướng chiến lược phát triển KH&CN phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã coi tạo lập thị trường công nghệ là giải pháp đầu tiên trong tám giải pháp chủ yếu nhằm đạt được các mục tiêu phát triển KH&CN trong định hướng chiến lược đến năm 2020 Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa IX khẳng định tiếp tục theo định hướng của Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII nói trên trong phương hướng hoạt động KH&CN Hai trong số ba nhiệm vụ chủ yếu đặt ra trong Kết luận nói trên đề cập tới vấn đề gắn kết KH&CN với sản xuất kinh doanh và phát triển thị trường công nghệ Ba trong số bốn giải pháp đề ra trong văn kiện này đề cập tới việc phát triển doanh nghiệp KH&CN tại các khu vực nghiên cứu, khu vực sản xuất kinh doanh và tạo lập, phát triển thị trường KH&CN
Thực hiện chủ trương này, Chính phủ đã đưa ra Chương trình hành động thực hiện Kết luận của Hội nghị Trung ương 6 khóa IX, coi phát triển thị trường KH&CN là một trong năm mục tiêu chính trong phương hướng hoạt động KH&CN Hai nội dung đầu tiên của Chương trình hành động là
Trang 3837
đổi mới quản lý, tổ chức hoạt động KH&CN và tạo lập, phát triển thị trường KH&CN Những hành động để thực hiện hai nội dung trên gồm: Phát triển nhanh doanh nghiệp KH&CN; Chuyển hoạt động của các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển theo cơ chế doanh nghiệp;Thành lập cơ chế liên kết giữa đào tạo - nghiên cứu - sản xuất kinh doanh; Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ; và Hoàn thiện cơ chế chính sách hỗ trợ và thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ
Chiến lược phát triển KH&CN Việt Nam đến năm 2020 xác định một trong ba mục tiêu chủ yếu của KH&CN là góp phần quyết định nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá; phấn đấu đưa tiềm lực KH&CN nước ta đạt trình độ trung bình tiên tiến
trong khu vực
Ngoài ra, Văn kiện Đại hội XI của Đảng (Chiến lược phát triển kinh tế
xã hội 2011 - 2020 của Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 2/4/2010) tiếp
tục khẳng định vai trò KH&CN: "Phát triển KH&CN thực sự là động lực then
chốt của quá trình phát triển nhanh và bền vững" Theo đó cần "Đổi mới
mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý KH&CN Phát triển mạnh thị
trường công nghệ Phát triển các doanh nghiệp KH&CN, các quỹ đổi mới công nghệ và quỹ đầu tư mạo hiểm"
Sự định hướng đúng đắn của Đảng, sự quan tâm của nhà nước về nhiệm vụ phát triển KH&CN làm tiền đề thuận lợi mở ra cho hoạt động KH&CN Việt Nam
Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế, với đường lối đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế, vị thế địa chính trị của Việt Nam cao, tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực và thế giới Cơ hội khơi thông các nguồn lực cho phát triển KH&CN ở nước ta là rất lớn, bao gồm:
Khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực KH&CN và hệ thống tổ chức KH&CN Việt Nam Hiện nay nước ta đang có khoảng 1.600 cơ sở
nghiên cứu đang hoạt động chưa thống kê các cơ sở thuộc khu vực tư nhân và
Trang 3938
khu vực doanh nghiệp, trong đó có 474 cơ sở thuộc các bộ, ngành, 02 viện nghiên cứu lớn trực thuộc Chính phủ, 366 cơ sở thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, 337 cơ sở thuộc các hội, Liên hiệp hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam Các cơ sở này đang quản lý nguồn nhân lực có trình độ cao: khoảng 15.000 người đang làm việc trong biên chế tại các viện nghiên cứu Hiện nay nước ta có khoảng 470 trường đại học và cao đẳng, gần 60.000 cán
bộ giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng Hàng năm có khoảng hơn 150.000 sinh viên tốt nghiệp đại học và khoảng 80.000 sinh viên tốt nghiệp cao đẳng trong nước, chưa kể số lượng khá lớn sinh viên, nghiên cứu sinh, tu nghiệp sinh được đào tạo ở nước ngoài Với nguồn nhân lực và hệ thống cơ sở nghiên cứu, đào tạo dồi dào nói trên, chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được mục tiêu xây dựng được 5.000 doanh nghiệp KH&CN đến năm 2015 và 10.000 doanh nghiệph KH&CN đến năm 2020 [17, tr.1]
Phát huy các vườn ươm công nghệ và doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam Một số cơ sở đã bắt đầu hoạt động như: Vườn ươm công nghệ FPT,
Vườn ươm doanh nghiệp công nghệ Tinh Vân, Vườn ươm CRC (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), Vườn ươm Phú Thọ (Trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh), Vườn ươm doanh nghiệp chế biến thực phẩm Hà Nội (HBI), Vườn ươm doanh nghiệp phần mềm thành phố Hồ Chí Minh (SBI), Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao Hoà Lạc (Ban quản lý Khu Công nghệ cao Hoà Lạc).Các vườn ươm đã đạt được một số kết quả bước đầu đáng khích lệ về số lượng doanh nghiệp KH&CN được ươm tạo (ví dụ: CRC: 22; HBI: 4 và hỗ trợ trên 20 doanh nghiệp KH&CN ngoài vườn ươm; SBI: 10; Trung tâm ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao Hoà Lạc: 25
và đã tập trung được vào một số lĩnh vực công nghệ quan trọng có tác động đến nhiều ngành, lĩnh vực như: công nghệ thông tin truyền thông; công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thuỷ sản, y tế; công nghệ tự động hoá, vi điện tử; công nghệ vật liệu mới; công nghệ nano; công nghệ chế biến, xử lý chất thải…
Trang 4039
Thị trường công nghệ và thiết bị Đến nay, Luật KH&CN 2013, một
loạt các văn bản luật và hướng dẫn luật được ban hành, tạo khung pháp lý cho thị trường công nghệ hoạt động Với chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp trong thời gian ba năm qua đã có gần 200 dự án được phê duyệt Bên cạnh đó, từ 2006-2013 Bộ KH&CN đã chủ trì hoặc phối hợp với các địa phương tổ chức 20 chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) với trên 4.000 đơn vị tham gia, trên 7.000 gian hàng chào bán hơn 30.000 công nghệ
và thiết bị công nghệ, gần 10.000 hợp đồng được ký kết với giá trị trên 70 ngàn tỷ đồng Cùng với chợ công nghệ và thiết bị được tổ chức tại các địa phương khác nhau trong cả nước, các sàn giao dịch công nghệ ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh,… được thành lập và đi vào hoạt động Số lượng và khối lượng giao dịch mua bán công nghệ trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng tại các sàn giao dịch công nghệ thường xuyên tại một số địa phương
Hệ thống tổ chức trung gian môi giới, tư vấn, dịch vụ định giá, kiểm định công nghệ đang được hình thành ở các bộ, ngành, địa phương, trường đại học, viện nghiên cứu, kể cả ở khu vực nhà nước và tư nhân Các tổ chức trung gian này đóng vai trò rất quan trọng trong việc kết nối, xúc tiến giao dịch mua bán công nghệ giữa các doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN
Tiếp thu kinh nghiệm phong phú của các nước đi trước trong phát triển KH&CN Tận dụng những thành tựu của cuộc cách mạng KH&CN và phương
thức quản lý KH&CN hiện đại, nước ta có thể đi thẳng vào những công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và khoảng cách phát triển kinh tế so với các nước đi trước
2/ Một số hạn chế trong việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học ở Việt Nam
Đối với nước ta, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn luôn được quan tâm và khẳng định qua các kỳ họp Đại hội Chẳng hạn như Nghị quyết về phát triển thị trường KH&CN trên cơ sở đổi mới cơ
chế, chính sách để phần lớn các sản phẩm KH&CN (từ nghiên cứu cơ bản,