1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thơ Chử Văn Long nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật

119 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 758,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ Chử Văn Long không có nhiều sự cách tân, đổi mới về hình thức nghệ thuật nhưng bằng cảm hứng phê phán hiện thực, những sáng tác của ông cho chúng ta thấy được những mặt trái của xã h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

LÊ THỊ HIỀN THU

THƠ CHỬ VĂN LONG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TƯ DUY NGHỆ THUẬT

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Bá Thành

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn “Thơ Chử Văn Long nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật”

là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực Nếu có gì sai phạm, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2014

Người cam đoan

Lê Thị Hiền Thu

Trang 3

Lời cảm ơn!

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, gia đình và bạn bè Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người

Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Bá Thành, thầy đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Văn học, phòng

Tư liệu Khoa Văn học, phòng Quản lý đào tạo sau đại học, thư viện Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2014

Lê Thị Hiền Thu

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp khoa học của đề tài 6

6 Bố cục luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT 8

VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC THƠ CỦA CHỬ VĂN LONG 8

1.1 Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật 8

1.1.1 Khái niệm tư duy 8

1.1.2 Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ 10

1.1.2.1 Tư duy nghệ thuật 10

1.1.2.2 Tư duy thơ 13

1.2 Quá trình sáng tác và quan niệm thơ của Chử Văn Long 18

1.2.1 Vài nét về tiểu sử Chử Văn Long 18

1.2.2 Quá trình sáng tác của Chử Văn Long 20

1.2.3 Quan niệm thơ của Chử Văn Long 27

Tiểu kết chương 1: 32

Chương 2: 33

CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ CHỬ VĂN LONG 33

2.1 Khái niệm cái tôi trữ tình trong thơ 33

2.2 Cái tôi trữ tình trong thơ Chử Văn Long 36

2.2.1 Cái tôi trữ tình thế sự chiêm nghiệm, suy tư về cuộc đời 36

2.2.2 Cái tôi đằm thắm, chân thành trong tình yêu 48

2.3 Cảm hứng chủ đạo trong thơ Chử Văn Long 58

2.3.1 Cảm hứng về quê hương, đất nước 58

2.3.2 Cảm hứng đời tư và yếu tố bi kịch trong cuộc sống 64

Tiểu kết chương 2: 73

Trang 5

Chương 3: BIỂU TƯỢNG VÀ NGÔN NGỮ TRONG THƠ CHỬ VĂN LONG 75

3.1 Biểu tượng 75

3.1.1 Khái niệm biểu tượng 75

3.1.2 Phân biệt hình tượng với biểu tượng 76

3.1.3 Tư duy thơ là quá trình sáng tạo nên các biểu tượng trực quan 77

3.2 Biểu tượng trong thơ Chử Văn Long 78

3.2.1 Trăng 78

3.2.2 Mùa xuân 82

3.2.3 Chim 84

3.2.4 Dòng sông 88

3.2.5 Cỏ 91

3.2.6 Mộng 93

3.3 Ngôn ngữ trong thơ Chử Văn Long 96

3.3.1 Ngôn ngữ giàu chất văn xuôi, đậm chất đời thường trong thơ tự do 99

3.3.2 Ngôn ngữ mang hồn quê trong thơ lục bát 103

Tiểu kết chương 3: 1079

KẾT LUẬN 1080

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1113

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ giữa con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng phương tiện ngôn ngữ Điều đó đã cho chúng ta thấy rằng việc tiếp cận văn học nghệ thuật nói chung, thơ ca nói riêng từ góc độ tư duy nghệ thuật là một hướng tiếp cận mang tính hệ thống, có chiều sâu và toàn diện

Tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, hay nói cách khác tư duy nghệ thuật

nhằm phản ánh hiện tượng có thẩm mỹ PGS.TS Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam đã làm rõ vấn đề này: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi

phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan” [53, tr.57]

Tư duy thơ là một hình thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, một vấn đề lý luận còn rất mới nhưng đầy hấp dẫn Việc tìm hiểu khám phá tư duy thơ cũng chính

là quá trình khám phá gốc tích, cội nguồn của tâm lý học sáng tạo Trong tư duy thơ không chỉ tồn tại yếu tố cá nhân mà còn bao hàm cả yếu tố dân tộc, yếu tố thời đại

và yếu tố nhân loại Nó là vấn đề nằm trên cả bình diện nội dung và hình thức, trong mối quan hệ tương tác giữa chủ thể và khách thể

Xuất phát từ những cơ sở trên chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu thơ ca từ góc độ tư duy là một yêu cầu nghiên cứu toàn diện đối với hiện tượng thi ca Nó có khả năng mở ra những cánh cửa đi vào thế giới nghệ thuật phong phú và bí ẩn Nghiên cứu thơ từ góc độ tư duy tạo những khả năng tiếp cận mới, khám phá phong cách nghệ thuật của nhà thơ từ nhiều góc độ khác nhau

1.2 Thơ Việt Nam sau năm 1975 diễn ra những thay đổi đáng kể trong quan niệm nghệ thuật, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp sáng tác Thơ trong việc nắm bắt lấy những xúc cảm tinh thần đã phản ánh tất cả các mặt phong phú của đời sống và

mở ra nhiều chiều kích Tư duy nghệ thuật thơ từ hướng ngoại bắt đầu chú ý đến

Trang 7

hướng nội, thơ ưu tiên thể hiện con người cá thể mang nặng tâm tình về đời tư, thế

sự và những suy tư mang tính triết lý Bắt gặp được tinh thần đổi mới và cảm hứng dân chủ đang tạo điều kiện cho người nghệ sĩ “tự do sáng tạo”, Chử Văn Long xuất hiện trên thi đàn là một cây bút đầy nhiệt huyết với số lượng lớn thơ đã được xuất bản từ năm 1976 đến nay

Bén duyên thơ từ khá sớm, ở tuổi hai mươi ông đã bắt đầu làm thơ trong những năm tháng đi xây dựng kinh tế lâm nghiệp Quảng Ninh Thời kỳ này, thơ đã cho ông niềm vui hai lần nhận giải những cuộc thi thơ đề tài lâm nghiệp và nhiều bài được in trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội Nhà thơ đã khẳng định được mình với hai lần tặng thưởng thơ Hà Nội, giải nhì cuộc thi báo Văn nghệ với bài “Người gánh rơm vào thành phố” Trong suốt chặng đường sáng tác của mình, nhà thơ đã đóng góp cho nền thơ dân tộc tám tập thơ, một tiểu luận văn chương Thơ Chử Văn Long không có nhiều sự cách tân, đổi mới về hình thức nghệ thuật nhưng bằng cảm hứng phê phán hiện thực, những sáng tác của ông cho chúng ta thấy được những mặt trái của xã hội đằng sau nền kinh tế thị trường Ý thức nhìn cuộc đời bằng cái nhìn tỉnh táo, nhà thơ không ngần ngại phơi bày những bi kịch nhân sinh với khát vọng về một cuộc sống tốt đẹp Cái nhìn tỉnh táo, đầy suy tư của nhà thơ về hiện thực ẩn chứa một tình yêu con người, quê hương, đất nước thiết tha của tác giả

1.3 Với đề tài “Thơ Chử Văn Long nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật”, chúng ta sẽ

có một cái nhìn toàn diện về thơ ông, có thể cắt nghĩa được hiện thực đời sống qua những trải nghiệm, suy ngẫm; hiểu hơn nỗi niềm ưu tư khắc khoải luôn đau đáu trong trái tim mẫn cảm của thi nhân Nghiên cứu tư duy nghệ thuật thơ Chử Văn Long, chúng tôi mong muốn sẽ có những đánh giá xác thực về một nhà thơ giàu tâm huyết và góp phần mở ra những khám phá mới về thơ đương đại Việt Nam trên hành trình hướng đến một nền thơ rực rỡ trong tương lai

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chử Văn Long là nhà thơ có số lượng sáng tác lớn, ông có 8 tập thơ đã xuất bản từ năm 1976 đến nay, trong đó có không ít những bài thơ hay, những câu thơ đẹp Tuy nhiên, Chử Văn Long và sự nghiệp của ông chưa được giới nghiên cứu

Trang 8

quan tâm giới thiệu và nghiên cứu đầy đủ mà chỉ có một số bài phê bình nhỏ lẻ chưa làm nên tiếng vang trên thi đàn Việt Nam

Trong cuốn Cảm nhận thi ca (Nxb Văn học, 1999), tác giả Trần Văn Lý xếp

Chử Văn Long vào một trong năm ngôi sao thơ ca thế kỷ XX (Hàn Mặc Tử, Xuân

Diệu, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Chử Văn Long) và cho rằng tập thơ Ru những trăm năm của Chử Văn Long là tập thơ hay nhất từ năm 1975 đến 2000 Tác giả đánh giá

ông là người đầu tiên bắc được chiếc cầu giữa thơ phương Đông uyển chuyển

sương khói và thơ phương Tây dồn nén, ấn tượng Vẫn biết, việc sắp xếp ngôi vị trong làng văn hoàn toàn là quyền riêng của mỗi người, song cách sắp xếp nói trên của Trần Văn Lý xếp Chử Văn Long "chung hàng" với các đấng bậc như Hàn Mặc

Tử, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tố Hữu là chưa thuyết phục bởi Chử Văn Long, một nhà thơ có sức ảnh hưởng xã hội còn "khiêm tốn" hơn rất nhiều, và về tuổi tác lại chỉ thuộc hàng con cháu của họ Điều đó không chỉ gây bất lợi cho Trần Văn Lý mà còn gây cho nhà thơ Chử Văn Long những mối bận tâm không đáng có Thực tế, ngay khi cuốn sách ra đời đã làm dấy lên cuộc tranh luận gay gắt trên thi đàn Bên cạnh số ít đồng tình, tán thưởng cuốn phê bình, có nhiều nhà thơ phản ứng giận dữ, đòi thu hồi sách và bày tỏ ý kiến cá nhân trên nhiều tờ báo Trong cuộc trò chuyện với nhà thơ Chử Văn Long về thời điểm cuốn sách của Trần Văn Lý ra đời, tôi nhận thấy trong giọng nói của ông, vết thương lòng ngày nào lại đang mưng mủ: “Quyển sách ra đời vào đúng lúc nhà tôi qua đời, tôi không còn tâm trí để cảm ơn tác giả đã

để tên tôi trong sách đó Khi tôi đọc tên mình trên báo với nhiều lời lẽ khó nghe như thể tôi ngồi mất chiếc ghế nhà thơ lớn thật, tâm trạng đang buồn tôi lại thấy càng đau lòng hơn, tôi không có thú vui giành giật, cạnh tranh Tôi làm thơ để động viên mình, động viên con người, còn ảo ảnh vinh quang nhiều khi phải đổi bằng cả cuộc đời mình” Nhà thơ cho rằng: “Mỗi người có cách cảm thơ văn khác nhau và Trần Văn Lý đưa ra những đánh giá của mình là có cách cảm riêng của anh ấy về thơ tôi…” Những tâm sự giãi bày của nhà thơ cho tôi hiểu rõ hơn về quan niệm làm thơ của tác giả, ông coi thơ là một người bạn tri kỷ để tìm niềm an ủi trong cuộc đời nhiều đa đoan, bất hạnh còn địa vị trên văn đàn ông không mưu cầu hay tranh giành

Trang 9

với ai Không rõ từ cơ sở nào dẫn tác giả Trần Văn Lý tới cách sắp xếp trên, có thể Trần Văn Lý là một người hâm mộ thơ của Chử Văn Long, nhưng chúng tôi tin rằng tiếng thơ của Chử Văn Long vẫn có sức hấp dẫn đối với những đọc giả nếu họ

có dịp tiếp xúc với thơ ông Những phản hồi từ nhiều bài viết của các nhà phê bình, nhà thơ liên tục xuất hiện trên nhiều tạp chí đã không tiếc lời lẽ xúc phạm đến nhà

thơ Chử Văn Long Thậm trí có bài viết Lệch chuẩn hay lệch tâm in trên tạp chí

Văn nghệ quân đội số 68 (6/2000) mà nhà thơ Chử Văn Long cho rằng đã “mạt sát” ông thậm tệ và dùng những lời lẽ bỗ bã để bàn về văn chương, đặc biệt là câu nói:

“Không thể là nhốt một con đại bàng, một con phượng hoàng cùng với vài ba chú

gà què chuyên ăn quẩn cối xay” khiến Chử Văn Long phải bức xúc viết thư ngỏ buộc tác giả nọ chứng minh “Ai trong những nhà thơ nói trên đã làm điều gì không tốt đẹp với đất nước này” Tuy nhận định của Trần Văn Lý về nhà thơ Chử Văn Long thiếu khách quan, chưa thuyết phục nhưng thơ Chử Văn Long vẫn có một sức sống và đi vào lòng người đọc bằng sự đồng cảm và sẻ chia về nhân tình thế thái, về những khúc gấp tâm trạng đa chiều trong xã hội hiện đại

Không ít người yêu thơ Chử Văn Long bởi những vần thơ mộc mạc, dung dị, chân chất như chính đời thường đang diễn ra Nhà phê bình Nguyễn Thiết là một

trong số người tìm được sự đồng cảm trong thơ ông, tác giả có bài viết Chênh vênh giữa mộng và đời in trên báo Văn nghệ - số 4 ngày 23/1/2010 Tác giả bài viết đã

thâu lược được chặng đường thơ Chử Văn Long gắn với những bước ngoặt số phận của nhà thơ Nguyễn Thiết nhận xét: “Nhìn lại đời thơ Chử Văn Long thấy như anh sinh ra để hát về những buồn vui thắc thỏm đời thường, những nổi chìm phận số, để vươn lên khát vọng làm người.” Tác giả bài viết ca ngợi về tài sử dụng ngôn từ trong thơ của Chử Văn Long: “Anh đã tạo ra được nét đẹp riêng về tài sử dụng ngôn

từ chính xác mà uyển chuyển… Ở bất cứ thể thơ nào, lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn hay tự do… khi đọc, ta bị cuốn hút bởi vần điệu trong hồn, không còn để ý đến vần điệu thật câu thơ ấy nữa, bởi trong đó chứa đựng cái hơi thở phập phồng cuộc sống quanh ta Thấy được điều này mới cảm nhận được hết chất thi sĩ trong thơ và cả những trang văn của anh chênh vênh giữa mộng và đời.” Bài viết của tác giả đã nắm

Trang 10

bắt được cái hồn cốt chung nhất về thơ Chử Văn Long; tuy nhiên, bài viết mới chỉ ở phạm vi nhỏ chưa phải là một công trình nghiên cứu đầy đủ về thơ Chử Văn Long

Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu thơ Chử Văn Long dưới góc độ tư duy nghệ thuật, chúng tôi hy vọng sẽ mở ra nhiều hướng tiếp cận và nghiên cứu thơ Chử Văn Long

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn khảo sát 8 tập thơ đã xuất bản của Chử Văn

Long: Nguồn yêu thương (1976); Tán bàng xanh góc phố (1985); Lời ca từ đất (1987); Bông hồng bỏ quên (1991); Ru những trăm năm (1997); Ngôi sao đã khóc (2000); Người gánh rơm vào thành phố (2001); Đẹp và Buồn(2008) Ngoài ra

chúng tôi liên hệ khảo sát thêm những tiểu luận, phê bình, tản văn của tác giả để góp phần khám phá sâu sắc hơn thế giới nghệ thuật thơ trong ngòi bút của ông

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về thơ Chử Văn Long từ phương diện

tư duy nghệ thuật, trên cơ sở khảo sát hình tượng thông qua nội dung và hình thức biểu hiện như: hình tượng cái tôi trữ tình, thế giới biểu tượng, ngôn ngữ, giọng điệu

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng một cách thích hợp những kiến thức về lý luận văn học, văn học sử và một số phương pháp chủ yếu sau:

Phương pháp nghiên cứu lịch sử xã hội

Đặt đối tượng nghiên cứu trong tiến trình lịch sử và chú ý đặc trưng cơ bản của thể loại nghiên cứu để xem xét quá trình sáng tác qua các thời kỳ khác nhau của Chử Văn Long, chỉ ra sự vận động, chuyển đổi tư tưởng cũng như quan niệm và phương thức biểu hiện, từ đó tìm hiểu những đóng góp riêng của tư duy thơ Chử

Văn Long đối với thơ ca dân tộc

Phương pháp nghiên cứu loại hình

Trong phương pháp loại hình, chúng tôi dựa vào những đặc trưng cơ bản của thơ trữ tình để tìm hiểu tư duy thơ Chử Văn Long

Trang 11

Phương pháp so sánh đối chiếu

Để tìm ra những nét chung mang tính thời đại và những nét đặc sắc, riêng biệt cùng những biến đổi trong tư duy thơ Chử Văn Long, đòi hỏi chuyên luận có sự vận dụng so sánh, đối chiếu giữa các tập thơ của Chử Văn Long với nhau; so sánh

đối chiếu giữa thơ của Chử Văn Long với một số nhà thơ cùng thời

Phương pháp phân tích, tổng hợp

Vận dụng tổng hợp những quan điểm triết học, mỹ học, tâm lý học Mác xít

để thấy được mối giao thoa giữa khoa học – nghệ thuật – thơ ca Đặc biệt trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã vận dụng thi pháp học để khảo sát những vấn đề có tính quy luật nói chung của nghệ thuật thơ ca, những vấn đề mang tính quan niệm

để chỉ ra những đặc trưng tiêu biểu của tư duy thơ Chử Văn Long Dùng phương pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở những số liệu thống kê, chúng tôi tiến hành khảo sát 8 tập thơ của Chử Văn Long và dựa trên kết quả thống kê trên từng bình diện, chúng tôi đã phân tích và khái quát để tìm ra những đặc điểm của tư duy thơ Chử Văn Long

Đồng thời, luận văn vận dụng những thành tựu khoa học của các ngành: lí luận văn học, lí thuyết tiếp nhận, thi pháp học, phương pháp luận nghiên cứu văn học… trong quá trình nghiên cứu và triển khai

5 Đóng góp khoa học của đề tài

Chử Văn Long là nhà thơ có số lượng thơ xuất bản tương đối lớn Việc nghiên cứu tư duy thơ qua sự vận động và phát triển của cái tôi trữ tình, qua hệ thống biểu tượng, qua ngôn ngữ sẽ góp phần tìm ra những đối sánh giữa số lượng

và chất lượng thơ Chử Văn Long

Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu thơ Chử Văn Long từ góc nhìn tư duy nghệ thuật Đề tài có ý nghĩa đóng góp đối với việc nghiên cứu một cách toàn diện sự nghiệp thơ ca của Chử Văn Long và mong muốn có thể rút ra những kết luận chân xác, thuyết phục về thơ Chử Văn Long trên cả hai mặt nội dung và nghệ

Trang 12

thuật Qua đó khẳng định hướng nghiên cứu từ góc độ thơ nghệ thuật đối với các hiện tượng văn học thực sự là một hướng nghiên cứu tích cực, cần được tiếp tục và phát triển

Chương 2: Cái tôi trữ tình và cảm hứng chủ đạo trong thơ Chử Văn Long

Chương 3: Biểu tượng và ngôn ngữ trong thơ Chử Văn Long

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT

VÀ SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC THƠ CỦA CHỬ VĂN LONG

1.1 Một số vấn đề lý luận về tư duy nghệ thuật

1.1.1 Khái niệm tư duy

Tư duy là một thuật ngữ có tính chất mở với một nội hàm tương đối rộng Tư duy là phạm trù liên quan đến lính vực triết học, tâm lý học,… trong đó có lĩnh vực

nghệ thuật Trong Từ điển triết học của M.Rodentan, P.Iudin có định nghĩa về tư duy như sau: “Tư duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con người khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi gần 16 tỷ tế bào thần kinh”

[59, tr.676] Tư duy không chỉ là một sản phẩm xã hội hay chỉ là sản phẩm tự nhiên,

mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại Tư duy là kết quả phát triển của vật chất tự tổng hợp qua hàng vạn, hàng triệu năm Sự ra đời của tư duy chính là bằng chứng về sự xuất hiện của con người Bởi vậy, có thể định nghĩa:

“Con người là một động vật có tư duy” Tư duy (Pensée) là toàn bộ những hoạt động tâm lý của con người, chỉ có con người mới có, đó là đời sống trí tuệ của con người

Để hiểu rõ hơn về khái niệm tư duy ta tìm hiểu trong quan hệ của nó với các thuật ngữ khác: Tư duy và ý thức, tư duy và tư tưởng, tư duy và lý trí, tư duy và ngôn ngữ, tư duy và lôgic…

Tư duy được phân biệt với ý thức (conscience) Nói đến ý thức là nói đến sự

“phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lý Hay nói đúng hơn, ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh, và tư duy là ý thức ở trạng thái động, tư duy là hành động nhận thức của con người

Tư duy phân biệt với trí tuệ, trí thông minh (intelligence) Ở một mức độ nào

đó, có những con vật có trí thông minh mặc dù chúng không có tư duy

Trang 14

Tư duy và lí trí (raison) không phải là một Nói đến lí trí là nói đến cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thể của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lí trí nhằm mục đích nhận thức

Tư tưởng (Idée) hay còn gọi là quan niệm tư tưởng, vừa là kết quả vừa là xuất phát điểm của tư duy Quan hệ con người với con người, con người với xã hội, con người với hoàn cảnh sống… là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tư tưởng ở mỗi con người Tư tưởng, do đó, mang một nội dung quyền lợi, một nội dung tình cảm nào đó Tư tưởng mang tính chất dân tộc, đoàn thể, quốc gia, tính giai cấp… nghĩa là mang tính chủ quan hơn so với tư duy Tư tưởng nằm ở phạm trù nội dung, tư duy nằm ở phạm trù phương pháp

“Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng Truy tìm các mối quan hệ, biểu diễn các mối quan hệ đó bằng phương tiện ngôn ngữ Đó là toàn bộ các chức năng nhận thức của tư duy”[53,tr.40] Theo V.I.Lê nin: “Cái quan trọng đối với tư duy là cái mà con người chưa biết đến” Nói

đến tư duy là nói đến những hoạt động của bộ óc người ở trạng thái sống động của

nó Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của các tế bào não Đó là một quá trình xử lý lượng thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận được

Nói đến “sự sống” trong vận động tư duy chính là nói đến cơ sở sinh lý của

tư duy Yếu tố “sống” đó sẽ tạo cho tư duy một thuộc tính quan trọng, đó là sự trao đổi tinh thần có tính chất giao tiếp, tính chất “cảm ứng” “giao cảm” giữa người với người Bởi vậy, giao tiếp ngôn ngữ là một giao tiếp có tính bề ngoài, còn trao đổi tinh thần, giao lưu tư tưởng và tình cảm là bản chất của hoạt động tư duy Tư duy là một “trạng thái bên trong của vật chất” (Plêkhanôp) nhưng chỉ có ở vật chất đặc biệt, phát triển ở trình độ cao, tức là ở đầu óc con người Mọi quan niệm cho rằng tư duy, tinh thần hay ý niệm tồn tại độc lập, bên ngoài đầu óc con người, đều là quan niệm tư duy phi chủ thể, hoặc là tạo ra một chủ thể siêu nhiên đối lập với con người

Tư duy định hướng đến sự thành thục, khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc

Trang 15

Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chưa có thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc

Phương tiện để diễn đạt tư duy chính là ngôn ngữ, ngôn ngữ là công cụ của

tư duy, là cái vỏ vật chất của tư tưởng Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những

dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính chất bản năng trước hiện thực Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tinh xảo, ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy đi sâu vào bản chất sự vật hơn

Tư duy là hoạt động nhận thức của con người Hoạt động đó ở mỗi thời đại, mỗi dân tộc có những đặc trưng phổ biến, tạo thành các phương pháp tư duy Phương pháp tư duy phản ánh những bước tiến của nhận thức ở từng thời đại Về phương diện triết học, căn cứ vào khả năng bao quát hiện thực và trình độ hệ thống hóa, có thể chia phương pháp tư duy thành hai loại hình: 1) Phương pháp tư duy siêu hình; 2) Phương pháp tư duy biện chứng Phương pháp tư duy triết học dù có

ưu thế đến đâu, bao quát đến đâu thì cũng không thể thay thế cho các phương pháp

tư duy của các ngành khoa học cụ thể, chính xác Cho nên, chúng ta có một con đường phân loại thứ hai là căn cứ vào các tập hợp của hình thái ý thức xã hội theo cách phân loại này chúng ta có các nhóm lớn: 1) Tư duy khoa học; 2) Tư duy nghệ thuật; 3) Tư duy tôn giáo Đối với tư duy nghệ thuật, chúng ta có tư duy âm nhạc, tư duy hội họa, tư duy thơ ca… Trong đó, tư duy thơ ca có ảnh hưởng chi phối và phổ biến hơn cả

1.1.2 Quan niệm về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ

1.1.2.1 Tư duy nghệ thuật

Tư duy nghệ thuật là phương thức sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, tuy nhiên chúng tôi thống nhất với quan điểm của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi

trong cuốn Từ điển thuật ngữ Văn học, Nhà xuất bản Giáo dục 2006 và ý kiến của tác giả Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam, Nhà xuất bản

Trang 16

Đại học Quốc gia Hà Nội 2012 Trong Từ điển thuật ngữ Văn học có nhận định: Tư

duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định Sự chuyên môn hóa lối tư duy này tạo thành đặc trưng nghệ thuật và tiềm năng nhận thức của nó Tư duy nghệ thuật là một phương thức hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được Cơ sở của nó là tình cảm Dấu hiệu bản chất của tư duy nghệ thuật là: ngoài tính giả định, ước lệ, nó hướng tới việc nắm bắt những sự thật đời sống cụ thể, cảm tính mang nội dung khả nhiên - cái có thể có, có thể cảm nhận, theo xác suất khả năng và tất yếu Chính nhờ đặc điểm này mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tính phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt Bằng trí tưởng tượng sáng tạo vốn là chất xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các bộ phận còn bị che khuất của thực tại, lấp đầy các “lỗ hổng chưa biết” Tính cấu trúc của tư duy nghệ thuật gắn với năng lực nhìn thấy thế giới một cách toàn vẹn, nắm bắt nó qua các dấu hiệu phát sinh đồng thời, phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra…

Trên cơ sở nghiên cứu và khái quát những vấn đề về tư duy nghệ thuật,

PGS.TS Nguyễn Bá Thành trong cuốn Tư duy thơ hiện đại Việt Nam đã bàn về vấn

đề tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng, tác giả đã đưa đến kết luận:

“Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Đó là điểm phân biệt đầu tiên của tư duy nghệ thuật với tư duy khoa học.” [53, tr.57]

Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo Theo V.I Lênin: “Chúng tôi không hề coi nhiệm vụ của tư duy là làm biến hóa tồn tại, nhiệm vụ của nó chỉ là sắp xếp tồn tại về mặt hình thức”[61, tr.497] Như vậy tồn tại là nội dung của tư duy nhưng “hình thức” của nó thuộc về chủ thể sáng tạo Đối với tư duy khoa học thì “hình thức” ấy được khách quan hóa theo quy luật vận động của khái niệm và quan hệ lôgic giữa các khái

Trang 17

niệm Đối với tư duy nghệ thuật “hình thức” ấy là sự biểu hiện trực tiếp của quan niệm về vũ trụ, nhân sinh và trình độ văn hóa của người sáng tạo

Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ “tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy…” [53,tr.58] Hình tượng nghệ thuật được coi là hình tượng của cảm xúc, nghĩa là

“năng lượng” tình cảm còn đọng lại trong hình tượng như là một yếu tố nội dung, một bộ phận hợp thành Tuy vậy, nếu đối lập lý trí với tình cảm, tư duy khoa học với tư duy nghệ thuật, chúng ta sẽ đi đến chỗ coi nghệ thuật chỉ bao hàm những yếu

tố trực giác, những ấn tượng cảm tính mà không có ý nghĩa sâu sắc, không mang nội dung trí tuệ

Sự vận động của ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện trực tiếp của quá trình tư duy Ngôn ngữ nghệ thuật mang những đặc điểm loại hình nhất định Các biểu tượng trực quan do quá trình quan sát thu nhận được là công cụ trực tiếp của tư duy Nhưng mỗi loại hình nghệ thuật lại hướng về một loại biểu tượng nhất định Chẳng hạn nhạc sĩ chỉ quan tâm đến sức biểu hiện của âm thanh, sắc thái thẩm mỹ của âm thanh, nghĩa là chú ý đến các biểu tượng thính giác Còn họa sĩ gắn cuộc sống tinh thần của mình với những biểu tượng thị giác, với đường nét và màu sắc, với quy luật phôi hợp sáng – tối Ngôn ngữ thể hiện của các ngành nghệ thuật như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, kiến trúc… dường như đã thoát khỏi thứ ngôn ngữ thường ngày

mà vươn tới một hệ thống ký hiệu thẩm mỹ riêng biệt Cho nên tư duy nghệ thuật không đơn thuần là biểu hiện của tư duy cụ thể, gắn liền với các biểu tượng trực quan mà còn phản ánh trình độ tư duy trừu tượng và khái quát ở giai đoạn cao

Hoạt động nghệ thuật là hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng, tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động ấy nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mỹ Tư duy nghệ thuật vì thế lấy phương tiện tư duy là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được với cơ sở là tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ, thông qua trí tưởng tượng phong phú và sự liên tưởng tinh tế mà người nghệ sĩ sáng tạo nên những hình tượng, biểu tượng mới Qua trình sáng tạo

đó luôn được bắt nguồn từ lý tính và trí tuệ có kinh nghiệm của nhà văn, trên cơ sở

Trang 18

tư duy nghệ thuật nhà văn tạo ra những tư tưởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn

và sử dụng những phương tiện và biện pháp phù hợp Tư duy nghệ thuật luôn thăng hoa cùng những tài năng biết cảm nhận một cách nhạy bén về viễn cảnh lịch sử, biết nắm bắt tinh thần thời đại, biết dự báo tương lai và một tài năng sáng tạo nghệ thuật Tư duy nghệ thuật vì vậy gắn liền với quá trình sáng tác, bị chi phối bởi tư tưởng, quan niệm của từng nhà văn, từng thời đại, đồng thời nó cũng thể hiện cách nhìn, cách khái quát hiện thực của riêng nhà văn, thể hiện riêng bản sắc, cá tính sáng tạo của nhà văn, ở một góc độ nào đó thì tư duy nghệ thuật có sự giao cắt và làm nên phong cách nghệ thuật của nhà văn

1.1.2.2 Tư duy thơ

Thơ ca là một loại hình nghệ thuật nằm trong phương thức biểu hiện trữ tình,

là một thể loại văn học quen thuộc và gần gũi với con người ở mọi thời đại Khác với thể loại truyện, kí, kịch, thơ trực tiếp gắn với tâm hồn con người, nó xác lập nhờ mối rung cảm thầm kín của con người đối với cuộc sống Thơ gắn liền với chiều sâu tâm hồn, với thế giới nội tâm con người Trong sự vận động của cảm xúc, hình thái vận động thơ là từ cảm xúc đến suy nghĩ, từ những rung động trực tiếp đến chiều sâu nhận thức Ở tác phẩm tự sự, tác giả xây dựng bức tranh về cuộc sống, trong đó các nhân vật có đường đi và số phận của chúng Bằng những đối thoại và độc thoại, tác gải kịch thể hiện tính cách và hành động con người qua những mâu thuẫn xung đột Ở tác phẩm trữ tình thế giới quan của con người, cảm xúc, tâm trạng, ý nghĩ được trình bày trực tiếp và làm thành nội dung chủ yếu

Tư duy thơ đã được đề cập đến khá nhiều lần trong các công trình mỹ học, tâm lý học sáng tác, ngôn ngữ học và lý luận văn học… nhưng chưa thực sự trở thành một đối tượng nghiên cứu của một ngành khoa học xã hội nào Thuật ngữ “tư duy thơ” còn chưa có được một vị trí xác lập trong hệ thống các thuật ngữ mỹ học hay lý luận văn học Tuy vậy, tần số xuất hiện của nó ngày càng nhiều hơn trong các tác phẩm lý luận văn học và thi pháp học hiện đại

Trang 19

Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật, nhưng nó mang trong mình một khả năng biểu hiện phong phú nhờ ngôn ngữ thơ Phương tiện ngôn ngữ của tư duy thơ là một phương tiện giao tiếp có tính xã hội hóa cao độ Cho nên thơ có thể biểu hiện được nhiều tâm trạng, nhiều dạng cảm xúc, nhiều nội dung cụ thể và trực tiếp Biểu tượng thi ca vừa mang tính chất biểu tượng thính giác, vừa mang tính chất thị giác, nghĩa là trong thơ vừa có nhạc, vừa có họa

Bàn về đặc điểm của tư duy thơ, PGS.TS Nguyễn Bá Thành nhận định: “Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp Thơ trữ tình coi trọng biểu hiện cái chủ thể đến mức như là nhận vật số một trong mọi bài thơ” [53, tr.59]

Do sự chi phối của quan niệm thơ và phương pháp tư duy của từng thời đại mà vị trí của cái tôi trữ tình có những thay đổi nhất định Lịch sử phát triển của thơ ca Việt Nam là lịch sử phát triển của thơ trữ tình Đã là thơ trữ tình thì không thể gọi là hoàn toàn “phi ngã”, cho dù trong thơ chỉ có “mây, gió, trăng, hoa” Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Tản Đà đều đã tự xưng tên mình trong một số bài thơ Nhưng do quan niệm về cái cá nhân và ý thức về cái bản ngã chưa mạnh mẽ nên cái tôi trữ tình còn ẩn khuất sau những nhân vật trữ tình khác Các nhà thơ thời kỳ phong kiến đa số không trực tiếp viết về cái tôi như ở thời kỳ thơ lãng mạn Thơ Mới ra đời, cái tối trữ tình dành lấy vị trí trung tâm trong mọi bài thơ Nhưng cả thơ bác học thời phong kiến và thời kỳ Thơ Mới, tư duy thơ đều thiên về hướng nội, nghĩa là mục đích nhận thức và phản ánh của thơ không phải là cái khách thể, cái hoàn cảnh tự nhiên và xã hội có tính lịch sử cụ thể mà nhà thơ đang sống Tuy vậy,

về mặt ý nghĩa khách quan của nó, thơ bao giờ cũng phản ánh được một khía cạnh nhất định của tư tưởng và tình cảm một thời đại, qua thơ, chúng ta có thể nắm bắt được sự phát triển và bối cảnh lịch sử của từng thời đại

Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại Về mặt nội dung nhận thức, có thể coi tư duy thơ là biểu hiện cụ thể và sinh động của những tư tưởng triết học, chính trị, đạo đức dưới dạng phổ biến nhất của một cộng

Trang 20

đồng người Tập hợp các sáng tác thơ theo nội dung tư tưởng và đối tượng phản ánh, ta tháy rằng thơ ca là sự phản ánh tinh vi của ý thức hệ có tính giai cấp, có tính lịch sử Thơ ca phong kiến phản ánh những tâm trạng tiêu biểu, những con người điển hình của giai cấp quý tộc phong kiến, phản ánh những quan niệm tình cảm đạo đức theo mô hình giá trị mà xã hội phong kiến đã thiết lập Thơ ca thời kỳ tư bản chủ nghĩa cũng phản ánh tâm tư tình cảm của những con người trong xã hội đó Thơ

ca cách mạng lấy hiện thực cách mạng làm đối tượng nhận thức và phản ánh Sự thay đổi của cơ chế xã hội đã kéo theo sự thay đổi của toàn bộ thượng tầng kiến trúc, thay đổi các quan niệm về cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ Đó là nguyên nhân làm thay đổi hướng vận động của tư duy thơ

So với tư duy logic thì tư duy hình tượng có được một phạm vi rộng rãi hơn cho sự liên tưởng và quyền tưởng tượng của người sáng tạo Tư duy thơ chấp nhận một khả năng tưởng tượng dường như vô tận của nhà thơ Trí tưởng tượng là biểu hiện trực tiếp của năng lực tư duy hình tượng Nhà thơ Sóng Hồng đã nói: “Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng tưởng” Trí tưởng tượng của nhà khoa học khác với nhà thơ ở chỗ, nhà khoa học thì mã hóa các tài liệu cảm tính, quy chúng về các đại lượng, các ký hiệu và con số, quan sát và biểu diễn sự vận động của hiện thực thành sự vận động của khái niệm, của ký hiệu Khả năng tưởng tượng của tư duy khoa học là ở chỗ trừu tượng hóa, vô hình hóa các sự vật và hiện tượng Còn nhà thơ thì cụ thể hóa, hình tượng hóa hiện thực khách quan theo một đường dây liên tưởng Đối với sáng tác thơ, trí tưởng tượng tạo nên tứ thơ, ý thơ và cả lời thơ Liên tưởng trong thơ càng đa dạng thì biểu tượng càng sinh động, nhận thức càng sâu sắc, cảm xúc càng dồi dào và phong phú hơn Tuy vậy, chúng ta không thể nào quy mọi liên tưởng thơ thành sự lựa chọn tất yếu theo con đường của tư duy lôgic

Tư duy nghệ thuật chứa nhiều yếu tố ngẫu nhiên trong quá trình sáng tạo Lôgic thơ

ca gắn liền với các yếu tố ngẫu nhiên, phi lý tính Cái tất yếu trong mục đích biểu hiện, trong nội dung tư tưởng và ý đồ sáng tác đã không gạt bỏ cái ngẫu nhiên theo lôgic chủ quan: Lôgic chủ quan bao hàm cả cái hợp lý và cái phi lý, cả lý trí và tình cảm, cái ngẫu nhiên và cái tất yếu Nhà thơ Tố Hữu tâm sự rằng cái tư tưởng chủ đề

Trang 21

“đồng bào miền Nam bất khuất” thì đã có từ lâu, nhưng khi gặp chị Trần Thị Lý thì bài thơ “Người con gái Việt Nam” mới ra đời Tư duy thơ là sự khôi phục là sáng tạo nên các biểu tượng trực quan để biểu hiện tư tưởng và cảm xúc, nhưng không phải do nhận định cảm tính quyết định Những quan niệm về thơ, về nhân sinh, về thời đại và bản thân cá tính của nhà thơ sẽ làm cho nhà thơ chú ý nhiều hơn đến loại biểu tượng này hay biểu tượng khác Những biểu tượng tưởng như vô tình và muôn hình muôn vẻ ấy bao giờ cũng có một điểm chung ở tư tưởng chủ đề mà nhà thơ muốn thể hiện Hành trình của trí tưởng tượng mang tính chất ngẫu nhiên bao nhiêu

về mặt hình ảnh trực quan, thì mang tính chất tất yếu bấy nhiêu về mục đích biểu hiện Chúng được lựa chọn theo những tiêu chí nhất định, đáp ứng được nhu cầu bộc lộ của nhà thơ, thỏa mãn với tư tưởng chủ đề, hợp với phong cách và phương pháp sáng tác… Đúng như tác giả Nguyễn Bá Thành đã cho rằng: “Tư duy thơ là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo lôgic chủ quan” [53, tr.65]

Tư duy thơ đối với người sáng tác, với nhà thơ là việc “làm thơ” Ngôn ngữ đối với nhà thơ, vừa có ý nghĩa phương tiện, vừa có ý nghĩa mục đích Mặt khác, trạng thái tình cảm của nhà thơ là trạng thái đầy cảm hứng, không phải là trạng thái bình thường, lao động giản đơn của người thợ thủ công, mà bao hàm một ý nghĩa sáng tạo: Nghĩa là nhà thơ vừa là người thiết kế, vừa là người thi công cho chính ngôi nhà nghệ thuật của mình Nhà nghệ sĩ là người phóng đại một mặt nào đấy, một khía cạnh nào đấy của sự vật hiện tượng nhằm biểu hiện tình cảm và tư tưởng của mình Căn cứ vào mức độ phóng đại mà ta đánh giá tác phẩm chân thực hay không chân thực, hiện thực hay lãng mạn Do tính chất lý tính của loại chất liệu ngôn ngữ, tư duy thơ đòi hỏi các biểu tượng phải gợi cảm, khắc phục tính chất ký hiệu của ngôn ngữ để tạo nên chất thơ trực tiếp Đề cao tính tạo hình trong ngôn ngữ thơ là để tăng thêm tính chất trực quan của hình tượng thơ Nhạc điệu của một dòng thơ, một bài thơ chính là sự hình tượng hóa âm thanh đời sống thực tại bằng cách khuếch đại âm thanh của từ ngữ

Trang 22

Nói về hướng tư duy thơ, chúng ta có thể thấy có các khả năng: hướng nội, hướng ngoại, và sự kết hợp hướng nội và hướng ngoại Hướng ngoại là nhằm vào đối tượng miêu tả, trình bày nó dưới ánh sáng của một quan niệm thẩm mỹ Hướng nội là tác giả tự nghĩ về mình, tự quan sát và biểu hiện cái tôi nội cảm của mình Sự kết hợp giữa hướng nội và hướng ngoại, hay nói đúng hơn là không theo một hướng định duy nhất, mà có sự đi về vô hướng, sự phối hợp hài hòa Có thể tác giả nhân danh một nhân vật trữ tình nào đó, nhân danh một cái ta rộng lớn, nhưng không dấu mình hoàn toàn mà hiện ra khi thì trực tiếp khi thì gián tiếp Hướng nội một phần hay hướng nội hoàn toàn, tư duy thơ vẫn sử dụng những hình ảnh, những biểu tượng có tính trực quan như các hình thức tư duy nghệ thuật khác

Tư duy thơ thường được biểu hiện thành từng dòng phát ngôn trên văn bản

và từng quãng ngắt hơi trong khi đọc Như vậy, sự tồn tại của dòng thơ đã làm ảnh hưởng đến tư duy thơ, tính nhạc điệu của ngôn ngữ cũng chi phối tư duy thơ Tư duy thơ bị chi phối bởi một số tiêu chí có tính hình thức Những tiêu chí đó nhằm làm cho những câu thơ gắn bó với nhau thành một chuỗi thống nhất, cô kết các ý nghĩ riêng lẻ thành một trật tự hình thức Đó chính là các yêu cầu về liên kết vần và liên kết ý

Tìm hiểu tư duy thơ chính là tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ Sự vận động của hình tượng thơ không phải là tùy tiện và vô hướng, tuy rằng tính chất ngẫu nhiên và tự do của trí tưởng tượng thơ ca là rất cao Khả năng tự do của tư duy thơ thể hiện trong khả năng co dãn của dòng thơ, khả năng kéo dài của lời thơ, ý thơ, câu thơ Những cấu trúc thể loại truyền thống giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong hành trình vận động của hình tượng thơ Thơ 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ, thơ lục bát… là những thể thơ ổn định, lâu đời đã làm đa dạng hóa nhưng đồng thời cũng đơn điệu hóa các kiểu tư duy thơ Tư duy thơ là sự khôi phục và sáng tạo ra các biểu tượng trực quan, vai trò của nhận thức cảm tính là vô cùng quan trọng, nhưng không phải quyết định Những quan niệm thơ, về nhân sinh, về thời đại sẽ làm cho nhà thơ chú ý nhiều hơn đến loại biểu tượng này hay loại biểu tượng khác Ngay ở giai đoạn “trực quan sinh động” ấy đã bao hàm sự hướng dẫn của lý tính,

Trang 23

của tư tưởng Một quan niệm mới về nhân sinh, về thế sự, về nghệ thuật ra đời sẽ làm thay đổi hướng tư duy thơ Những tình cảm mạnh mẽ và sâu sắc, nhu cầu bộc lộ những tư tưởng mới, ý thức về sự vận động và phát triển của thời đại, của dân tộc, quốc gia… Tất cả đều có thể chi phối tư duy thơ

Những biểu tượng trực quan tưởng như ngẫu nhiên, tình cờ ấy đã trải qua một quá trình được gọt rũa, trau truốt chọn lọc theo những yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật mà ta gọi đó là quá trình điển hình hóa nghệ thuật Quá trình điển hình hóa nghệ thuật trong thơ là quá trình xây dựng hình tượng, làm sáng rõ tư tưởng của mình, trình bày quan niệm sống của mình bằng những biểu tượng trực quan Do đó những biểu tượng muôn hình muôn vẻ đó bao giờ cũng có một điểm chung nào đó, tức là đều chứa đựng một phần của cái chung, cái tư tưởng chủ đề của bài thơ mà nhà thơ muốn thể hiện

Như vậy, tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng gần với đời sống hiện thực hơn so với tư duy khoa học vì tính chất trực quan của các biểu tượng Từ góc độ sáng tạo, tư duy thơ là làm thơ, là những thao tác lựa chọn hình ảnh, biểu tượng, ngôn từ để bộc lộ tư tưởng và tình cảm Từ góc độ tiếp nhận, đọc thơ, thưởng thức thơ chính là tái hiện hình tượng thơ theo sự vận động của ngôn ngữ thơ, theo hành trình tưởng tượng của nhà thơ, hay là quá trình tư duy lại tư duy của nhà thơ Tư duy nghệ thuật thường xuyên bị chi phối bởi đặc trưng của các thể loại nghệ thuật Tư duy thơ là một phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật Công việc nghiên cứu tư duy nghệ thuật nói chung và tư duy thơ nói riêng là một quá trình khám phá, tìm hiểu thú vị, cần thiết, hiệu quả để khám phá thế giới nghệ thuật trong tác phẩm của nhà thơ

1.2 Quá trình sáng tác và quan niệm thơ của Chử Văn Long

1.2.1 Vài nét về tiểu sử Chử Văn Long

Chử Văn Long sinh ngày 12 tháng 10 năm 1942 ở làng Vạn Phúc, Thanh Trì ngoại thành Hà Nội, một làng quê vùng bờ bãi sông Hồng Khi còn nhỏ, cha mất sớm, được mẹ và ba chị em gái chăm lo cho ăn học ở trường quê rồi vào học trường

Trang 24

Trung cấp cơ điện ngành Xe hơi máy nổ Tốt nghiệp năm 1963, Chử Văn Long xung phong đi xây dựng kinh tế lâm nghiệp Quảng Ninh Cũng từ đây ông bắt đầu làm thơ Gần chục năm ở vùng than, cuộc sống thiếu thốn khó khăn đã trau dồi cho nhà thơ nhiều suy ngẫm và trải nghiệm Suốt những năm tháng xa nhà, ông không yên tâm về người vợ một vai gồng gánh mưu sinh cho mẹ già và các con, ông làm đơn trình bày khó khăn xin về làm ở Hà Nội Những ngày ấy, ông sống trong sự giúp đỡ của bạn bè, mất nửa năm sau mới có hộ khẩu chính thức để đi làm

Năm 1973, ông về Hà Nội làm quản đốc cơ khí ở xí nghiệp gạch ngói Văn Điển Suốt ba năm liền ông thầm hứa với mình “cắt đứt với thơ”, không đọc sách báo, không cầm bút viết một câu Trớ trêu thay, nơi làm việc của ông lại kề sát

nghĩa trang thành phố Một lần không ngăn được cảm xúc ông đã viết bài thơ Xí nghiệp bên nghĩa trang Bài thơ không được ông giám đốc đồng tình nhưng lại

được nhà thơ Ngô Quân Miện phụ trách báo Chính nghĩa chọn in bài thơ, đó cũng là bước ngoặt trong đời thơ ông sau này

Năm 1979 ông làm biên tập cho tạp chí của Hội Văn nghệ Hà Nội (tiền thân báo Người Hà Nội bây giờ) Thuở ấy người viết nghiệp dư về làm báo, một cơ quan văn nghệ là một điều vui mừng lớn Tuy vậy, chặng đường này nhà thơ bị ghì chặt vào cuộc sống lo toan cơm áo cực nhọc Vừa đảm nhiệm công việc cơ quan, Chử Văn Long vừa làm thêm nhiều công việc khác để mưu sinh Với ruộng đất hợp tác

xã chia cho vợ con ở nhà, hai tay nhà thơ cày cuốc Mùa rau cỏ, có ngày hàng trăm gánh nước tưới rau, phần rau nhập cho hợp tác xã, phần còn lại ông chở lên thành phố bán Có thể nói chặng đường hơn mười năm này là quãng đời gian nan cực nhọc nhất của nhà thơ Cùng năm, ông được cử đi học trường Viết văn Nguyễn Du khóa I, nhưng học được ba tháng, do chuyện buồn cơ quan nên bỏ dở

Cuối năm 1980, Hội Văn nghệ cử ông đi sưu tầm ca dao ngoại thành được nhà văn Tô Hoài khen trước Đại hội Văn nghệ Hà Nội

Năm 1999, người vợ lâm bệnh nặng qua đời để lại nỗi tiếc thương vô vàn trong ông Những ngày tháng tiếp theo lòng dạ ông vẫn đau buồn khôn nguôi Một hôm bất ngờ người đưa thư đem đến lá thư của người con gái không quen biết mãi

Trang 25

tận miền Trung Trong thư chị giới thiệu mình là hội viên Hội văn nghệ Hà Tĩnh Sau khi đọc được tập thơ “Ru những trăm năm” của ông, cảm động viết lá thư này muốn được nhà thơ giúp đỡ thêm kinh nghiệm, sách báo nghề văn Rồi bạn bè vun vén cho hai người cô đơn nên tựa đỡ vào nhau lúc tuổi già yếu Mấy năm sau “Đám cưới thơ” được tổ chức Ông viết bài thơ, tưởng tượng ngày cưới của mình không

chỉ có hai người, mà còn có “Con tàu lăn bánh song song/ Dòng xe nườm nượp lượn vòng vào ra/ Ruộng đồng trải thảm cài hoa/ Núi cao khép cửa mây xa buông rèm/ Anh làm đám cưới với em/ Đắm say mơ mộng thần tiên giữa đời…” Thấy

chuyện cảm động mà vui, nhà thơ Bế Kiến Quốc, Tổng biên tập cho in nguyên

khuôn khổ tấm thiệp lên báo Người Hà Nội còn tặng 200 tờ báo để ông biếu người

thân bạn bè Những biến cố và sự kiện này ảnh hưởng lớn đến hồn thơ của ông

1.2.2 Quá trình sáng tác của Chử Văn Long

Làm thơ chủ yếu trong thời bình, những tác phẩm trữ tình của ông không bị ảnh hưởng trực tiếp tư duy chính trị của thời kỳ bom đạn ác liệt mà mang đậm tính đời tư thế sự Mỗi một tập thơ của tác giả ra đời gắn liền với những suy nghĩ tình cảm riêng tư của tác giả Những tập thơ nối tiếp nhau ra đời trong hơn ba mươi năm trải nghiệm, trăn trở với cuộc đời là hành trình đến với tha nhân đầy mất mát, thương đau của tác giả Chử Văn Long

Chử Văn Long là nhà thơ xuất phát từ lao động quần chúng, ông bước vào sự nghiệp thơ ca không được thuận lợi và dễ dàng như bao người khác do không được học hành đầy đủ về nghề văn trên ghế nhà trường Nhưng với niềm khát khao giao cảm với đời và một trái tim nhạy cảm, Chử Văn Long vẫn gặt hái được nhiều niềm vui trong đời thơ của mình Năm 1964, tác giả đạt giải nhì cuộc thi thơ đề tài Lâm

nghiệp lần thứ nhất với bài thơ Ngôi nhà người quy hoạch rừng, cùng cuộc thi tổ chức vào năm sau, ông đạt giải ba với bài Vét suối Ngựa lồng Năm 1979, nhà thơ được tặng thưởng thơ hay báo Văn nghệ với bài Tiếng chày và tặng thưởng thơ Hà

Nội Năm 1982, Chử Văn Long đạt giải nhì cuộc thi Thơ báo Văn nghệ với bài

Người gánh rơm vào thành phố; cùng năm này tác giả đạt giải nhì cuộc thi viết cho

Trang 26

trẻ em của Ủy ban bảo vệ trẻ em Việt Nam và tổ chức UNICEP với bài Làng em cơn bão đi qua Năm 1991, ông nhận giải thưởng thơ Hà Nội với tập Tán bàng xanh góc phố Thơ Chử Văn Long chưa được nhiều đọc giả biết đến nhưng những trang

thơ của ông vẫn luôn có sức sống riêng để ru những yêu thương ngọt ngào, những khổ đau cay đắng… của kiếp người cho cuộc đời mãi mãi xanh tươi

Chử Văn Long là một nhà thơ tâm huyết, cả cuộc đời ông miệt mài với công việc làm thơ, sự nghiệp thơ ca của ông có một dung lượng đồ sộ với tám tập thơ đã xuất bản và nhiều bài thơ in lẻ trên các tạp chí, số lượng ước tính hơn 500 bài thơ

Đó là một con số lớn, hiếm có đối với một đời người, đời thơ trên thi đàn Việt Nam Những cây cổ thụ, những nhà thơ tên tuổi hoạt động sáng tạo tích cực trong làng thơ như Xuân Diệu – ông hoàng thơ tình yêu, nhà thơ cách mạng Tố Hữu cả đời thơ cũng chỉ dừng số lượng sáng tác ở con số hơn 300 bài thơ, ít hơn rất nhiều so với số lượng thơ Chử Văn Long Mặc dù cống hiến biết bao nhiệt huyết cuộc đời cho thơ, thơ Chử Văn Long đến nay có ít người biết đến, tầm ảnh hưởng đến xã hội dừng ở mức độ khiêm tốn Điều đó cho thấy sự chênh lệch về số lượng và chất lượng thơ Chử Văn Long Tuy vậy, thơ ông vẫn gặt hái được những thành công nhất định và nhận được không ít đồng cảm từ các đọc giả Dưới đây là những tập thơ đã xuất bản của tác giả:

+ Nguồn yêu thương (1976);

Trang 27

đến 1973, được nhà xuất bản Lao động in năm 1976 Tập thơ chứa đựng những cảm xúc trong lành về làng quê thân thuộc, về tình cảm thiêng liêng của cha mẹ, vợ chồng, con cái đã có từ ngàn đời như ta vẫn gặp ở rất nhiều nhà thơ khi bắt đầu cầm bút Chử Văn Long đã khai thác đề tài ở những gì gần gũi tác động đến trái tim đễ rung cảm của mình Người đọc có cảm giác như tự cuộc sống thương yêu gắn bó của con người đã rung lên trong câu chữ chân thành ấy mà nên thơ So với lớp nhà thơ cùng xuất hiện thời chống Mỹ, ở thơ Chử Văn Long đã gợi lên những thao thức nghĩ suy theo cách khai thác những khía cạnh riêng tư, nhỏ bé, khuất lấp của cá nhân con người Tuy vậy, đây là tập thơ đầu tay của tác giả với những sáng tác còn bộc lộ sự hạn chế cả hình thức và nội dung, tư tưởng và chủ đề Có thể gọi những sáng tác này là sự tập làm thơ, là những bước đi chập chững vào nghề còn mờ nhạt

và “non nớt” của Chử Văn Long

So với tập thơ đầu, Tán bàng xanh góc phố, Nhà xuất bản Hà Nội năm 1985,

đã được mở rộng hơn về đề tài cũng như trải nghiệm trong thơ Tập thơ gồm 38 bài viết từ 1976 đến 1985, bao gồm những sáng tác trên nhiều vùng đất mà tác giả đã đặt chân cùng với biết bao con người mà ông gặp gỡ trong gần mười năm đi xây dựng kinh tế vùng Đông Bắc Quảng Ninh Những gian khổ, ly biệt, những sống chết đạn bom của đất nước thời ấy đã in đậm thêm những nét nghĩ suy thao thức trong thơ, trong lẽ sống cầm bút mà ông đặt ra về những khát vọng trao gửi với cuộc đời, với người đời Tập thơ toát lên một niềm tin yêu con người, tin yêu cuộc sống của tác giả bắt nguồn từ những gì thân thuộc bình dị nhất; một tán bàng hay búp lá non tơ vừa mở mắt cho đến dòng sông, bờ vịnh, bầu trời xanh… tất cả đều khơi gợi và đánh thức những khát khao vào đời cháy bỏng của nhà thơ Từ tập thơ

Nguồn yêu thương đến tập thơ này đã có sự định hình về quan niệm thơ của Chử

Văn Long, một tâm hồn mẫn cảm với đời sống xung quanh, bắt đầu có những trăn trở, băn khoăn về kiếp người Tiếp xúc với thực tế, tầm quan sát hiện thực của tác giả được mở rộng, sự phức tạp trong quan hệ xã hội đã dội lại trong thơ ông những chín chắn và cái nhìn chân xác hơn về thế thái nhân tình đa đoan, đa chiều kích Thơ ông trong thời kỳ này bớt đi những mơ mộng của thuở ban đầu mà đi vào chiều

Trang 28

sâu nội tâm, chú ý quan sát những rung cảm đến từ đời thường, từ những con người lao động nghèo khó

Lời ca từ đất là tập thơ in chung với Những giọt mưa đồng hành tác giả

Nguyễn Thụy Kha, Nhà xuất bản Tác phẩm mới năm 1987 với 24 bài thơ Đề tài

trong tập thơ được phát triển theo mạch của tập Tán bàng xanh góc phố Ở đây, tác

giả vẫn sử dụng các thể thơ thông dụng bốn chữ, năm chữ, tám chữ,… nhưng thật phóng túng, tự do về biên độ câu thơ như chính hơi thở phập phồng của cuộc sống dội lại Cũng từ tập thơ này, tác giả đã khẳng định một quan niệm thơ riêng của mình:

Anh yêu và đên với em không thể theo lối mòn cũ Người đã hái hết hương hoa trên nẻo ấy

Anh sẽ tìm cho mình lối khác để đi…

(Với thơ)

Và đây là con đường thơ mà Chử Văn Long đã chọn:

Anh sẽ hát tặng những ai anh gặp trên đường Lời ca về em say đắm

Mong họ vui hơn sau vất vả mỗi ngày

Và trong lòng mọi người sẽ nảy sinh những bài ca khác

Họ mang tặng người mình yêu với tất cả đắm say

sự trau truốt ngôn từ khiến thơ Chử Văn Long mờ nhạt, không nổi bật, thiếu sức ám ảnh đối với người đọc

Tập thơ Bông hồng bỏ quên, Nhà xuất bản Lao động 1991 gồm 26 bài viết từ

1988 đến 1990 của tác giả Tập thơ đánh dấu cho một chặng đường thơ mà Chử

Trang 29

Văn Long đã đi qua gần nửa đời người ghi dấu những buồn vui lẫn lộn Không còn những non nớt trong cách nhìn đời như chặng đầu, cũng bớt đi phần náo nức, hăm

hở vào đời với “mộng” và “say đắm” của thuở ban đầu lưu luyến Tập thơ là những trăn trở, suy tư của nhà thơ về cuộc đời, tình người được khái quát lên thành những quy luật buồn vui vĩnh cửu của con người:

Có một ngày anh bỗng nhớ về em

Ơi bông hồng bị bỏ quên

Nở và tàn nào ai biết

Mà cho đến hôm nay anh mới nhớ

Em không thể lần thứ hai lại nở…

đơn chìm nổi số phận Chị tôi vào nghề làm đường, Nhớ Khôi Viên, Những người chuyển đến thành phố ở, Bạn ở cuối đường, Hòn đá mồ côi…

Tập thơ Ru những trăm năm, Nhà xuất bản Thanh niên 1997 gồm 78 bài, viết

trong khoảng 1990 – 1997 Tập thơ không chỉ chứa đựng hơi thở nồng nàn của cuộc sống làng quê mà còn mở ra cho người đọc những tư duy của tác giả về thế giới bên ngoài rộng lớn bằng chính sự chiêm nghiệm, trăn trở trong lòng mình Tập thơ là sự bứt phá trong tư tưởng chủ đề của tác giả, thể hiện sự trưởng thành qua trải nghiệm

va chạm thực tế của nhà thơ Nếu như trong những tập thơ trước, thơ Chử Văn Long tràn đầy hơi thở của một trái tim yêu đời, tin đời đến say mê thì đến tập thơ này, cái tôi trữ tình bộc lộ một nỗi đau đời, chán nản, mất hết niềm tin vào lẽ sống, tình đời Những câu thơ luôn chứa đựng nỗi “phập phồng” của những âu lo:

Trang 30

Vào xưởng thủy tinh, gặp toàn chai lọ Lòng bỗng phập phồng, điều chi dễ vỡ

(Vào xưởng thủy tinh) Khi niềm tin vào cuộc sống bị phụ bạc, nhà thơ có cái nhìn hoài nghi với tất

cả những gì xảy ra xung quanh, ngay khi bên người yêu thân thuộc cái tôi trữ tình cũng “run rẩy, e ấp thẹn thùng, cứ sợ chỉ chạm vào bàn tay là em sẽ biến đi đâu mất” [37,tr.88] Cả tập thơ là nỗi băn khoăn, trăn trở về thế sự ở đời: Bao nhiêu nước mắt cho con người tìm ra hạnh phúc? Vì sao con người luôn mơ ước khát khao ấm êm mà đổi lại là những khổ đau, day dứt khôn cùng? Nhìn thẳng vào thực

tế, nhà thơ thể hiện thái độ phê phán gay gắt những mặt trái của xã hội dưới cơ chế của nền kinh tế thị trường, những băng hoại về nhân cách con người, những giá trị truyền thống bị đảo lộn, xuống dốc Từ đó, nhà thơ ý thức “giữ cho được ngọn lửa chính lòng mình mỗi ngày không lạnh”[37, tr.89] chính là giữ cho phẩm giá của mình trong sạch và bản lĩnh trước cơn lốc thị trường đang điên đảo Tập thơ thể hiện cái nhìn chân xác hiện thực xã hội của tác giả đồng thời thể hiện thái độ, quan điểm của Chử Văn Long trước thế sự đa chiều đang diễn ra trước thềm thế kỷ mới

Năm 2000, tập thơ Ngôi sao đã khóc được phát hành bởi Nhà xuất bản Hội

nhà Văn Hà Nội gồm 77 bài viết từ 1997 – 1999 là một hiện tượng lạ trên thi đàn bấy giờ bởi chưa ai “khóc vợ” bằng cả mấy chục bài thơ mà bài nào đọc cũng xúc động lòng người Tập thơ ra đời từ tiếng khóc đứt lòng của tác giả khi người vợ qua đời đã tạo ra những cảm thức hoài niệm về hạnh phúc nơi kiếp sống con người ngắn

ngủi mà lắm dằn vặt buồn thương Nếu như Ru những trăm năm là tiếng thở dài

ngao ngán về thế sự đổi thay, là hồi chuông cảnh tỉnh xã hội trước sự tha hóa, băng hoại môi trường văn hóa, lối sống, tình người thì ở tập thơ này, nhà thơ tìm đến tư duy hướng nội, bộc lộ tiếng nói đời tư đau khổ trước mất mát chia ly ở đời Tiếng thơ trở nên trầm lắng trong tâm trạng xót xa, ngậm ngùi như thể hiện chiều sâu nội tâm và bi kịch nhân sinh đời thường Trong tập thơ này còn có chùm thơ viết về lần

đi Trung Quốc của tác giả, dù không mượn Trường Thành, Cố cung… mà gợi nhiều nét rất Trung Hoa

Trang 31

Tập thơ Người gánh rơm vào thành phố (2001) gồm 233 bài thơ chọn lọc

trong hơn ba mươi năm cầm bút của nhà thơ Chử Văn Long, giai đoạn 1967 – 2000 Tập thơ ra đời đánh dấu một chặng đường thơ khá dài mà tác giả đã làm việc sáng tạo nghiêm túc và nhiệt thành Tập thơ được Chử Văn Long coi là “gương mặt thơ” của ông khi kết thúc thế kỷ XX Tác giả tâm sự rằng: “Ngồi chọn lại thơ cho tập sách, những câu thơ đã đánh thức dạy trong tôi giấc mơ màu hồng từng có thật… Vì sao cái thời vật chất còn đơn sơ đến vậy, mà hồn ta lại thanh thản lạ kỳ Tôi bỗng nhận ra giữa những đầy đủ vật chất áo cơm với hạnh phúc trong lành, ấm êm ta từng mơ ước cách nhau một khoảng cách xa vợi.” Phải chăng, cái “khoảng cách xa vợi” ấy được sinh ra từ những điều ấu trĩ trong xã hội hôm nay mà tác giả đã nhận

ra Cả tập thơ là sự “sục sạo kiếm tìm cái ý nghĩa nhân sinh của cuộc sống con người ngắn ngủi mà sao lắm dằn vặt khổ đau” [39, tr.313], ẩn sau những kiếm tìm hoang hoải khôn nguôi ấy là khát vọng sống hết mình với cuộc đời của nhà thơ Nhưng càng khao khát hòa nhập với đời bao nhiêu, cái tôi trữ tình càng rơi vào ưu phiền, thất vọng bấy nhiêu Bởi nhà thơ nhận ra rằng “chân lý thuộc về kẻ có tiền,

có quyền, có thể xáo trộn, đổi thay đen trắng cả xã hội” [39, tr.314] Chán nản và bất lực trước xô bồ cuộc sống, nhà thơ tìm về “chum dụm” với đời thường nơi làng quê đẫm hồn trăng gió Điều đáng trân trọng trong đời thơ Chử Văn Long có lẽ đó

là cái khí chất trung thực với hiện tại, dũng cảm nhìn nhận và phê phán nó bằng trách nhiệm, ý thức của người cầm bút hôm nay

Tập thơ Đẹp và buồn, nhà xuất bản Hội Nhà Văn 2008 gồm 64 bài thơ

Trong đó chủ yếu sưu tầm những sáng tác ở các tập thơ đã xuất bản nhằm cho người đọc thấy được sự thống nhất tư tưởng, quan niệm nghệ thuật của tác giả Thơ Chử Văn Long vẫn xoay quanh những chủ đề quen thuộc, gắn bó với cuộc đời tác giả nhưng gợi lên những thao thức số phận ở mỗi con người dù ở bất cứ nơi nào trong cái thế giới còn khoảng cách giàu nghèo phân chia Tập thơ thể hiện tư tưởng chủ đề như chính cái tên tác giả đã đặt “Đẹp” và “Buồn”, hai mảng khía cạnh tưởng chừng như đối lập nhưng lại cùng tồn tại, song hành trong kiếp sống nhân sinh của thế thái nhân tình đa đoạn, phức hợp “Đẹp” với những tháng ngày hạnh phúc, đầm

Trang 32

ấm trong tình cảm gia đình, làng xóm, bè bạn “Đẹp” trong mộng tưởng và giấc mơ khao khát kiếm tìm lý tưởng, hoài bão, công danh của tuổi trẻ căng tràn nhiệt huyết

“Buồn” vì niềm tin vào cuộc đời bị trà đạp bởi sự tha hóa nhân cách con người, bởi

sự đảo lộn của các giá trị xã hội “Buồn” vì hạnh phúc mong manh dễ tan vỡ với những bất hạnh diễn ra chưa bao giờ có điểm kết thúc đối với kiếp người nhỏ nhoi,

cô đơn Có thể nói, tập thơ là dòng tiếp nối liền mạch về bi kịch thế sự, đời tư của tác giả thể hiện bước đường trưởng thành và chiêm nghiệm của Chử Văn Long về hiện thực cuộc sống mà trước đó chưa có tập thơ nào diễn tả rành mạch nét biểu trưng ấy Có thể tìm thấy trong tập thơ cả tư duy hướng ngoại và hướng nội trong tư duy thơ của Chử Văn Long với quan điểm đánh giá, phê phán của tác giả về các mặt tiêu cực từ thế sự đến đời tư

Trong năm 2012 vừa qua, nhà xuất bản Hội nhà văn đã in và phát hành rộng

rãi Tuyển thơ văn chọn lọc Chử Văn Long như một món quà tri ân cùng người đọc

Bên cạnh những tập thơ đã, đang và sẽ tới tay bạn đọc thì những áng phê bình, tản mạn thơ văn của ông đã đánh thức tâm hồn người đọc với những phát hiện tinh tế

(tiểu luận văn chương Niềm khao khát vĩnh hằng (2003), những áng văn trong Tuyển thơ văn chọn lọc Chử Văn Long (2012)) Dù chưa gặt hái nhiều thành công

trong sự nghiệp thơ ca, nhưng Chử Văn Long cũng đã có những đóng góp nhất định trên thi đàn Việt Nam hiện đại cũng như dâng hiến cho đời những vần thơ đẹp

1.2.3 Quan niệm thơ của Chử Văn Long

Từ xưa đến nay, khi sáng tạo người nghệ sĩ tất yếu phải có một quan niệm về nghệ thuật Mỗi nhà thơ trong suốt quá trình sáng tạo luôn trăn trở, tìm tòi để trả lời cho câu hỏi “Thế nào là thơ?”

Có dịp ngồi hầu chuyện với nhà thơ Chử Văn Long, tôi mạnh dạn hỏi ông về quan niệm sáng tác thơ Để trả lời vấn đề tôi gợi mở, nhà thơ dẫn dắt câu chuyện trở

về một cuộc thi thơ trên báo Người Hà Nội năm 2000 giúp tôi không những tìm ra

đáp án cho câu hỏi của mình mà khiến tôi càng hiểu hơn về con người sâu sắc của tác giả Ở phần chung khảo cuộc thi đã có sự tranh luận trái chiều giữa các ý kiến

Trang 33

khi biểu quyết những tác phẩm xét giải, điển hình là sự bất đồng quan điểm “Thế nào là thơ hay ?” giữa nhà thơ với Trần Đăng Khoa, một nhà thơ tên tuổi trên thi đàn Việt Nam hiện đại Nhà thơ Chử Văn Long đọc lại cho tôi nghe bài thơ của tác giả Quỳnh Hoa mà ông giới thiệu để xét giải:

CHIẾC KHĂN QUÀNG Tiễn người thân vào cõi vĩnh hằng Tôi trở về với nỗi buồn rười rượi Rồi lòng lại tự mình an ủi

Cái chết chẳng thiên vị ai Giản đơn như giấc ngủ dài…

Cuộc sống trần gian Ngỡ chiếc khăn quàng cổ

Mà con người chẳng thể nào tháo gỡ!

Khi biết sống trên đời thật đẹp

Là lúc cái chết nghiệt ngã chẳng buông tha Nhưng cái chết cũng là bàn tay nhân từ

tháo bỏ chiếc khăn quàng cổ!

Trước bài thơ Chử Văn Long giới thiệu, nhà thơ Trần Đăng Khoa phát biểu:

“Có lẽ bác Chử Văn Long quá nhạy cảm với đau khổ nên thấy bài thơ này hay chứ bài thơ này không có gì” Nhà thơ tâm sự rằng ông thật sự ngỡ ngàng về cách nhận định của Trần Đăng Khoa và giải thích rằng: “Người cầm bút làm thơ nào cũng hiểu đời buồn có thơ buồn, đời vui có thơ vui, nhạy cảm với nỗi khổ đau nếu không là tiêu chuẩn hàng đầu, tiêu chuẩn số một để viết được thơ hay, có lẽ nào vì nhạy cảm

đau khổ mà tôi nhìn thơ dở ra thơ hay được” Sau đó bài thơ Chiếc khăn quàng

cũng không được xét chọn, song lời phát biểu của nhà thơ Trần Đăng Khoa vẫn còn

ám ảnh tâm trí của Chử Văn Long và ông cũng đã thông suốt với ý nghĩ: “Trần Đăng Khoa ít hơn mình gần nửa tuổi đời lại được nhận vinh quang thơ ngay từ nhỏ, bước đường vào nghề văn rất thuận lợi còn mình đã thấm hết khổ đau ở đời, từng trải hết mọi mất mát, đắng cay… một người thường trực với nỗi buồn đau, một

Trang 34

người đang bình tĩnh với tài năng tuổi trẻ, thì sự cảm thụ khác nhau có gì là khó hiểu!” Trong những lời bộc bạch tâm can của nhà thơ Chử Văn Long, chúng ta hẳn

đã nhận thấy quan niệm về thơ của tác giả Ông luôn tâm đắc với quan điểm nổi tiếng của Gớt: “Niềm đau vĩ đại nâng ta diệu kỳ” Như vậy, với nhà thơ sự từng trải

ở đời và nỗi đau khổ là ngọn nguồn cho thơ ông cất cánh Người thưởng thức thơ cũng vậy, nếu không có sự đồng cảm, không quặn thắt, đớn đau thì không thể nào người đọc hiểu được những ý thơ thăm thẳm

Trong quá trình sáng tạo, Chử Văn Long là nhà thơ quan tâm và coi trọng vấn đề cảm xúc, vì chỉ có những cảm xúc chân thật khi sáng tác mới tạo nên sức sống lâu bền cho thi ca Theo Chử Văn Long: “Thơ cũng như đời có sâu, nông, cao, thấp Có thứ thơ dễ thuộc dễ nhớ Có thứ thơ có thể thấm đến tận cùng xương tuỷ qua những cơn đau…Thơ hay đâu chỉ vì nhớ và thuộc Nhớ thuộc thơ mới chỉ là lời,

là chữ Những sợi dây vô hình đằng sau mỗi chữ, mỗi lời mới giằng buộc xoắn quyện hồn ta cùng với buồn vui mơ hồ xa xăm không dứt.”[42, tr.255]

Mở đầu tập thơ Bông hồng bỏ quên (1991), Nhà xuất bản Lao động, tác giả

tri ân cùng bạn đọc bằng bài thơ “Cùng bạn đọc” mở đầu cho cả tập thơ đã bao quát

tư tưởng chủ đề trong tập thơ nói riêng, sự nghiệp sáng tác thơ nói chung của ông:

Cùng bạn đọc thơ tôi thân cảm Khi thơ tôi hay nhắc đến nỗi buồn Hay gợi tới niềm đau, hay nói về thương tiếc Thì có đâu mong bạn phải buồn

Nhận thức về vai trò, trách nhiệm của người nghệ sĩ, nhà thơ Chử Văn Long quan niệm phải dấn thân vào cuộc đời, phải tôn trọng sự thật, thơ phải phán ánh đúng bản chất sự việc dù muốn hay không muốn:

Tôi muốn viết thơ vui tặng bạn Nhưng đã là thơ đâu thể dối lòng?

(Cùng bạn đọc) Với thái độ khá quyết liệt về trách nhiệm công dân cũng như đạo đức người nghệ sĩ trong hành trình tìm kiếm các giá trị xã hội, tác giả nhìn thẳng vào hiện thực

Trang 35

và phán xét lại nó nhằm khơi gợi trong mỗi con người lòng tin vào tình yêu sự sống Cùng với đó là sự nỗ lực hòa nhập vào hơi thở của thời đại để trả lời những câu hỏi

về thời đại mà mình đang sống, để nhận thức sâu sắc về tâm nguyện của con người đương đại Bởi vậy tác giả đã phát biểu “Những bài ca trái tim tôi hát/ Không giành

cho những kẻ lọc lừa” (Bài ca trái tim tôi hát)

Chử Văn Long gọi những vần thơ của mình là “bài ca trái tim”, là

“thơ lòng” vì đến với thơ, ông không mưu cầu danh lợi hay vật chất mà đơn giản là bọc lộ nỗi lòng mình trước nhân tình thế thái, trước đời tư thế sự, để bạn đọc tìm được nguồn an ủi và đồng cảm trong thơ Thơ ông hát về những con người nhỏ bé, nhưng cái nhỏ bé lại đang làm nên quê hương, đất nước Việt Nam:

Hát về bạn gian lao cày cuốc Suốt một đời dầu dãi nắng mưa

(Bài ca trái tim tôi hát) Với Chử Văn Long, mục đích của thơ là “nhằm đánh thức trái tim”, với tác giả “Thơ là bạn của lẻ loi cô đơn hốt hoảng…Thơ đi tìm ước mơ trên đường đời xa

vợi” (Thơ và bóng đá) Để viết thơ, có thành thơ và thơ có hay không phải là do cái

hồn của người cầm bút hiện lên trang giấy, rung động tỏa sáng được hay không là

do cái hồn ấy Văn chương nghệ thuật muôn đời vẫn phải trông cậy vào thứ “trời cho” chứ không phải là “mượn” mà có được tài năng, năng khiếu hơn người

Thơ của Chử Văn Long là tiếng thơ của tình đời, đi sâu vào ngóc ngách tâm hồn cá nhân của con người, của chính nhà thơ Ông coi thơ như một người tri kỷ, một người bạn tâm tình giãi bày cảm xúc cùng ông đi qua những năm tháng buồn vui của cuộc đời Điều đặc biệt làm nên hồn thơ Chử Văn Long chính là cái hồn quê dân dã, tình quê và người quê chân chất, thật thà:

Anh sẽ chọn sắc màu dân dã Anh sẽ thổi bài ca bằng cây sáo trúc quê nhà Nỗi đau khổ của anh, niềm vui cũng của anh, không gì vay mượn

(Với thơ)

Trang 36

Quan niệm về thơ của Chử Văn Long như chúng tôi chỉ ra ở trên được bộc lộ

rõ nét hơn khi chúng ta đi sâu tìm hiểu tư duy thơ Chử Văn Long ở những chương tiếp theo Quan niệm thơ của tác giả cũng là cơ sở và giúp chúng tôi nghiên cứu theo đúng định hướng mà đề tài yêu cầu

Trang 37

Tiểu kết chương 1:

Trong chương một, chúng tôi đã nghiên cứu những vấn đề chung nhất về tư duy nghệ thuật, tư duy thơ Điều quan trọng nhất trong tư duy nghệ thuật là sự sáng tạo và phương tiện biểu hiện nằm trong những biểu tượng nghệ thuật Tư duy thơ là một cách tư duy hình tượng, cho phép nhà thơ có khả năng liên tưởng phong phú,

đa dạng Nghiên cứu thơ dưới góc độ tư duy nghệ thuật là một cách tiếp cận tương đối toàn diện những nét đặc sắc trong sáng tác của một nhà thơ, giai đoạn thơ… Vì vậy, chúng tôi chọn cách tiếp cận thơ Chử Văn Long dưới góc độ tư duy nghệ thuật Quá trình sáng tác trong sự nghiệp thơ Chử Văn Long là một chặng đường với những bước đi trưởng thành về mặt nội dung tư tưởng trong thơ, thể hiện nhân sinh quan của tác giả trước đời tư thế sự đa chiều kích Cùng với sự nghiệp thơ ca, những nét khát quát trong tư duy thơ của tác giả là những yếu tố mở đầu quan trọng làm tiền đề cho việc đi sâu phân tích tư duy thơ Chử Văn Long ở những chương tiếp theo

Trang 38

Chương 2:

CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO

TRONG THƠ CHỬ VĂN LONG

2.1 Khái niệm cái tôi trữ tình trong thơ

Cái tôi thực chất là một khái niệm triết học, một phạm trù mang tính chỉnh thể phổ quát của cấu trúc nhân cách, thể hiện rõ mối tương quan giữa vật chất và ý thức, giữa chủ quan và khách quan, giữa các cá nhân và xã hội, góp phần bộc lộ chức năng tự ý thức của chủ thể

R.Descartes (1596-1650) đã đưa ra một mệnh đề nổi tiếng “Tôi tư duy là tôi tồn tại” Quan điểm này đề cao giá trị của sự tư duy trong quá trình con người tồn tại, đồng thời cũng khẳng định: nếu không có sự tư duy, con người không có nhận thức và có nghĩa là con người không tồn tại

Hêghen (1770-1831) xuất phát từ quan điểm duy ngã mà cho rằng: cái tôi hoàn toàn trừu tượng và hình thức cái tôi của mỗi cá nhân được biểu hiện ở cá tính,

ở cách biểu hiện mình và khẳng định mình của mỗi cá nhân

Nhà triết học Bergson (1859-1941) thì lại cho rằng: con người có hai cái tôi Một là cái tôi bề mặt, chỉ các mối quan hệ của con người với xã hội Hai là cái tôi

bề sâu, đây chính là phần sâu thẳm của ý thức Bergson khẳng định: đối tượng hướng tới của nghệ thuật chính là ý thức

Còn theo S.Freud (1856-1939) thì cái tôi là sự hiện diện của động cơ bên trong ý thức con người

Xét từ góc độ triết học, cái tôi vừa mang bản chất xã hội vừa có quan hệ gắn

bó, khăng khít với hoàn cảnh lại vừa mang bản chất cá nhân độc đáo Cái tôi thực

sự luôn mang dấu ấn của sự riêng biệt, phản ánh rõ tính sáng tạo của mỗi chủ thể Triết học Mác – Lênin đã khẳng định: Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người, có quan hệ tích cực đối với thế giới và đối với bản thân mình Chỉ

Trang 39

có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng tái hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình

Sáng tạo thơ chính là một hoạt động chủ quan, chịu sự chi phối lớn của quá trình sáng tạo cá nhân và được biểu hiện cụ thể bằng cái tôi trữ tình Như vậy, cái tôi có tác động lớn đến quá trình sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca trữ tình nói riêng Điều này thể hiện rõ sự kết hợp, thống nhất giữa cái chung và cái riêng, giữa cảm tính và lý tính, giữa yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan

Thơ trữ tình “là thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình Trong đó, cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thực hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của sự thể hiện là dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học”[18, tr.31] Cho đến nay, đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về cái tôi trữ tình, nhưng xuyên suốt các khái niệm vẫn trùng nhau ở nội hàm: tính trữ tình và tính chủ thể

Thơ trữ tình luôn gắn với cái tôi trữ tình Khái niệm về cái tôi trữ tình tuy còn nhiều ý kiến, nhiều quan niệm nhưng tựu chung lại vẫn trùng nhau ở nội hàm: tính trữ tình và tính chủ thể Thơ trữ tình là bản tốc ký nội tâm Nghĩa là sự tuôn trào của hình ảnh, từ ngữ trong một trạng thái cảm xúc mạnh mẽ của người sáng tạo Chính vì vậy, về bản chất mọi nhân vật trữ tình trong thơ chỉ là những biểu hiện

đa dạng của cái tôi trữ tình Thơ trữ tình là tiếng nói trực tiếp biểu lộ những cảm xúc suy tư, chiêm nghiệm Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện bản chất của thơ trữ tình Với thơ, thi sĩ giãi bày những tư tưởng, những cung bậc cảm xúc về thế giới nội tâm của mình

Trong quá trình sáng tác, cái tôi nghệ sĩ bước vào thế giới nghệ thuật và trở thành một hình tượng trọn vẹn Hình tượng cái tôi có mối quan hệ tương đồng với chủ thể trữ tình đang tự bộc lộ với toàn bộ sức mạnh nhân cách với mọi khả năng của nó Hình tượng cái tôi này là nhân vật trung tâm trong tác phẩm thơ Có khi nhà thơ là nhân vật, là “cái tôi”, là hình tượng trung tâm Đọc thơ khi đó, ta tưởng như

Trang 40

giữa nhà thơ và cuộc đời thống nhất chỉ là một Đấy chính là lúc “cái tôi” đích thực

là “cái tôi - nhà thơ” Cái tôi trữ tình là cái tôi được nghệ thuật hóa, điển hình hóa Hình tượng cái tôi không hoàn toàn đồng nhất với con người tác giả mà là kết quả của sự điển hình hóa nghệ thuật khi cá nhân nhà thơ tìm thấy những rung cảm của mình với con người, sự việc, hiện tượng trong cuộc sống Vì vậy, có trường hợp, nhân vật trong thơ vẫn là “tôi” nhưng không phải là nhà thơ Có sự khác biệt rõ nét hoàn toàn giữa nhà thơ – con người của cuộc sống thực với thế giới suy tư nhiều màu sắc do nhà thơ tạo nên Đấy chính là khi nhà thơ đồng nhất cảm xúc với đối tượng miêu tả, nhà thơ đã hóa thân thành cái tôi trữ tình Ta có thể thấy rõ sự không đồng nhất giữa cái tôi và con người tác giả bởi lẽ cái tôi trong thơ chỉ là một khoảnh khắc, một thời điểm mà cái tôi tác giả bộc lộ trong đó Dù vậy, thơ không bao giờ là

sự sao chép hiện thực khô cứng cho nên cái tôi tác giả không hoàn toàn đồng nhất với cái tôi trữ tình

Cái tôi – nhà thơ được nghệ thuật hóa theo quy luật sáng tạo nghệ thuật, còn cái tôi trữ tình lại được biểu hiện dưới muôn vạn sắc thái thẩm mỹ khác nhau, nhưng ẩn sâu trong đó vẫn có bóng dáng tâm hồn và cuộc đời nhà thơ Như vậy, dù

ở dạng cái tôi – nhà thơ hay cái tôi trữ tình, nhà thơ vẫn là con người thống nhất, thông báo cho người đọc những khát khao, những vui sướng, những đau buồn… có điều phải chân thành, xuất phát từ trái tim giàu yêu thương và trách nhiệm của nhà thơ

Vậy để làm nên sáng tạo, biến đổi không ngừng của nghệ thuật thì không thể thiếu được cái tôi Cái tôi thực sự là gốc rễ vững chắc của chủ thể trữ tình Cái tôi trữ tình là nhân lõi của sáng tạo thi ca, là cây cầu của mối quan hệ giữa thi ca và thế giới Cái tôi trữ tình bao quát cả mở đầu và kết thúc cũng như toàn bộ quá trình sáng tạo nghệ thuật, nó tổ chức điểm nhìn, tổ chức sự vận động cảm xúc cũng như

tổ chức toàn bộ các phương tiện nghệ thuật nhằm xây dựng hình tượng trữ tình Việc ý thức về cái tôi, phát triển cái tôi là vấn đề cần thiết không chỉ khi nghiên cứu

về một tác giả mà còn cho sự phát triển của thơ ca – nghệ thuật nói chung

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:37

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w