1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hoa Kỳ với quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong thời kỳ chiến tranh lạnh : Luận án TS. Lịch sử: 62 22 50 05

216 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ABM Hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo ASBM Máy bay chiến lược mang tên lửa đạn đạo không đối đất BPRUSA-USSR Hiệp định về những nguyên tắc cơ bản trong q

Trang 1

đại học quốc gia Hà Nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Nguyễn Thị Thanh Thủy

Hoa Kỳ với quá trình kiểm soát và

Trang 2

Hà Nội - 2006

đại học quốc gia Hà Nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Nguyễn Thị Thanh Thủy

Hoa Kỳ với quá trình kiểm soát và

Trang 3

của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân trên thế giới 18

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA MỸ VỀ KIỂM SOÁT VŨ KHÍ HẠT NHÂN 291.2.1 Những kiến nghị của người Mỹ về vấn đề vũ khí hạt nhân 29 1.2.2 Quan điểm của chính quyền Mỹ về kiểm soát vũ khí hạt nhân 34

1.3 CUỘC KHỦNG HOẢNG TÊN LỬA CUBA 471.3.1 Tiền đề và diễn biến của cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba 47 1.3.2 Hệ quả của cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba 54

CHƯƠNG 2 HOA KỲ VỚI VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT VÀ HẠN CHẾ

VŨ KHÍ HẠT NHÂN (1963-1976) 61

2.1 TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ VŨ KHÍ HẠT NHÂN 612.1.1 Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Mỹ 61 2.1.2 Thực trạng của sự phổ biến vũ khí hạt nhân trên thế giới 72 2.1.3 Chính sách hạt nhân của các chính quyền Mỹ 76

2.2 HOA KỲ VỚI NHỮNG HIỆP ƯỚC BAN ĐẦU CỦA QUÁ TRÌNH

THƯƠNG LƯỢNG VỀ KIỂM SOÁT VŨ KHÍ HẠT NHÂN 822.2.1 Hiệp ước hạn chế thử vũ khí hạt nhân (LTB) năm 1963 82 2.2.2 Hiệp ước về không gian vũ trụ (OST) năm 1967 89 2.2.3 Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) năm 1968 95

2.3 HOA KỲ VÀ CÁC HIỆP ƯỚC THEN CHỐT VỀ HẠN CHẾ VŨ KHÍ

HẠT NHÂN CHIẾN LƯỢC 102 2.3.1 Hiệp ước hạn chế hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo

Trang 4

CHƯƠNG 3 HOA KỲ VỚI VẤN ĐỀ CẮT GIẢM VŨ KHÍ

HẠT NHÂN CHIẾN LƯỢC (1977-1991) 118

3.1 TÌNH HÌNH QUỐC TẾ VÀ VẤN ĐỀ VŨ KHÍ HẠT NHÂN 118

3.1.1 Tình hình quốc tế và chính sách đối ngoại của Mỹ 118

3.1.2 Thực trạng của sự phổ biến vũ khí hạt nhân và phong trào

chống chạy đua vũ trang hạt nhân trên thế giới 128

3.1.3 Chính sách hạt nhân của các chính quyền Mỹ 138

3.2 HOA KỲ VỚI CÁC HIỆP ƯỚC THEN CHỐT VỀ CẮT GIẢM VŨ KHÍ

HẠT NHÂN CHIẾN LƯỢC 149

3.2.1 Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược giai đoạn II (SALT II)

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 188

Phụ lục 1: Một số thuật ngữ về vũ khí hạt nhân và các vấn đề

liên quan đến năng lượng hạt nhân 199

Phụ lục 2: Một số hình ảnh minh họa 203

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ABM Hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo

ASBM Máy bay chiến lược mang tên lửa đạn đạo không đối đất BPRUSA-USSR Hiệp định về những nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa

Hoa Kỳ và Liên Xô CHDC Cộng hòa Dân chủ (Đức)

CHLB Cộng hòa Liên bang (Đức)

CIA Cơ quan tình báo Mỹ

CND Phong trào đấu tranh giải trừ vũ khí hạt nhân (Anh)

COCOM Ủy ban phối hợp kiểm soát xuất khẩu đa phương

CSCE Hội nghị An ninh và Hợp tác ở châu Âu

CTBT Hiệp ước cấm thử hạt nhân toàn diện

DCCH Dân chủ Cộng hòa

ExCom Ủy ban điều hành Hội đồng An ninh Quốc gia (Mỹ)

GKO Ủy ban Quốc phòng Nhà nước (Liên Xô)

IAEA Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế

ICBM Tên lửa đạn đạo xuyên lục địa

INF Hiệp ước hủy bỏ vũ khí hạt nhân tầm trung và tầm ngắn KLK (Phong trào) Không liên kết

LTB Hiệp ước hạn chế thử vũ khí hạt nhân

MIRV Tên lửa mang đầu đạn tự tách

MTCR Cơ chế kiểm soát kỹ thuật tên lửa

NATO Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương

NPT Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân

NWEP Chính sách sử dụng vũ khí hạt nhân mới (Mỹ)

OAS Tổ chức các nước châu Mỹ

OST Hiệp ước về không gian vũ trụ

PNET Hiệp ước hạn chế các vụ nổ hạt nhân ngầm dưới đất PNW Hiệp định về ngăn ngừa chiến tranh hạt nhân

PRO-SALT Hiệp định hạn chế các hệ thống chống tên lửa đạn đạo SACT Hiệp ước phi quân sự dưới đáy đại dương

SALT Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược

SDI Sáng kiến phòng thủ chiến lược (Mỹ)

SIPRI Viện Nghiên cứu Hòa bình Stockholm (Thụy Điển)

SLBM Bệ phóng tên lửa đạn đạo đặt trên tầu ngầm

START Hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược

TTBT Hiệp ước hạn chế thử hạt nhân ngầm dưới đất

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Bước đầu của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân Mỹ – Xô 27 Bảng 1.2 Số lượng vũ khí hạt nhân trên thế giới (1945-1962) 28 Bảng 2.1 Số lượng vũ khí hạt nhân của năm nước (1963-1976) 73 Bảng 2.2 Tương quan lực lượng vũ khí hạt nhân chiến lược giữa

Hoa Kỳ và Liên Xô (1968-1972) 74 Bảng 2.3 Số lượng các vụ thử hạt nhân của năm cường quốc hạt nhân

từ 1945 đến 1963 (trước khi ký Hiệp ước LTB) 82 Bảng 3.1 Số lượng vũ khí hạt nhân của năm nước (1977-1991) 130 Bảng 3.2 Lực lượng vũ khí hạt nhân chiến lược của Hoa Kỳ và

Liên Xô cuối những năm 70 đầu những năm 80 141 Bảng 3.3 Số lượng đầu đạn hạt nhân dùng cho các loại vũ khí

hạt nhân chiến lược của Hoa Kỳ và Liên Xô năm 1990 168

Trang 7

MỞ ĐẦU

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hoa Kỳ là nước đầu tiên chế tạo được vũ khí hạt nhân năm 1945 và cũng

là nước đầu tiên sử dụng loại vũ khí này trong Chiến tranh thế giới thứ hai Những năm sau đó khi còn độc quyền về vũ khí hạt nhân, chính quyền Mỹ đã

sử dụng nó như một “con bài” để đe dọa các nước khác trong khung cảnh của cuộc Chiến tranh Lạnh và sự đối đầu giữa hai khối Mỹ - Xô Để chống lại sự

đe dọa về quân sự của Hoa Kỳ và các nước tư bản phương Tây, Liên Xô, cường quốc đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa, cũng tăng cường nghiên cứu kỹ thuật hạt nhân và chế tạo vũ khí hạt nhân Kết quả là Liên Xô đã phá vỡ sự độc quyền về vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ sau khi thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên năm 1949 Từ đó, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa hai siêu cường từng bước tăng tốc Ngoài Hoa Kỳ và Liên Xô, một số quốc gia phát triển như Anh, Pháp và một số nước đang phát triển như Trung Quốc

và Ấn Độ cũng nghiên cứu kỹ thuật hạt nhân và chế tạo vũ khí hạt nhân Đến giữa thập niên 60 của thế kỷ XX,*

thế giới đã có năm cường quốc hạt nhân là Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Quốc Từ thập niên 70, về cơ bản Liên

Xô đã đạt được mức cân bằng tương đối về lực lượng vũ khí hạt nhân so với Hoa Kỳ Trong khi đó ngoài năm cường quốc hạt nhân, ngày càng có nhiều nước khác nắm được kỹ thuật hạt nhân và có khả năng chế tạo vũ khí hạt nhân Sự phổ biến của kỹ thuật hạt nhân và vũ khí hạt nhân phát triển mạnh trong thập niên 80 Tổng số vũ khí hạt nhân của các nước đã lên đến con số vài chục nghìn với nhiều chủng loại và rất hiện đại Vấn đề chạy đua vũ trang

*

Để thuận tiện cho việc trình bày, tác giả xin phép không nhắc lại cụm từ “của thế kỷ XX” khi đề cập đến

Trang 8

hạt nhân, chủ yếu giữa Hoa Kỳ và Liên Xô, là một bộ phận quan trọng của cuộc Chiến tranh Lạnh

Song song với chạy đua vũ trang hạt nhân, ngay từ năm 1945 Hoa Kỳ đã chú ý tới vấn đề kiểm soát năng lượng nguyên tử và vũ khí hạt nhân Từ năm

1946, chính quyền Mỹ chính thức đưa ra các kế hoạch đối với vấn đề này Khi Liên Xô chế tạo được vũ khí hạt nhân và từng bước đạt được những tiến bộ lớn về kỹ thuật hạt nhân, Hoa Kỳ đẩy mạnh các cuộc đàm phán với Liên Xô

về vấn đề kiểm soát vũ khí hạt nhân Từ sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 cho đến năm 1991, Hoa Kỳ đã ký một số hiệp ước và văn kiện quan trọng, chủ yếu với Liên Xô, về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân Những hiệp ước và văn kiện này, ở những mức độ khác nhau, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ song phương Mỹ - Xô mà còn có ý nghĩa đối với vấn đề hòa bình và an ninh của thế giới cũng như các vấn đề trong quan hệ quốc tế trong suốt mấy thập kỷ của cuộc Chiến tranh Lạnh Đáng chú ý là sau khi ký những hiệp ước và văn kiện này, Hoa Kỳ trên thực tế vẫn giữ được ưu thế về vũ khí hạt nhân

Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu, chủ yếu là của các học giả nước ngoài, về hoạt động của Hoa Kỳ trong quá trình kiểm soát và cắt giảm

vũ khí hạt nhân thời kỳ Chiến tranh Lạnh Tuy nhiên, những công trình này mới chỉ đề cập đến từng vấn đề riêng lẻ hoặc ở một số giai đoạn nhất định Có một vài công trình của các học giả nước ngoài trình bày khái quát một số sự kiện lớn trong quá trình thương lượng về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Liên Xô Các công trình đó chưa đánh giá một cách hệ thống về động cơ và vai trò của Hoa Kỳ đối với quá trình này trong suốt thời

kỳ Chiến tranh Lạnh Mặc dù cuộc chiến tranh này đã qua đi nhưng những tác động của vấn đề vũ khí hạt nhân đối với tình hình an ninh chính trị quốc tế chưa chấm dứt Những bài học của Chiến tranh Lạnh vẫn còn có ý nghĩa đối

Trang 9

với các vấn đề trong quan hệ quốc tế ngày nay, trong đó có vấn đề kiểm soát

và cắt giảm vũ khí hạt nhân

Với những lý do trên, cần có một công trình nghiên cứu có tính hệ thống

về hoạt động của Hoa Kỳ trong lĩnh vực kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân thời kỳ Chiến tranh Lạnh Việc nghiên cứu này nhằm đáp ứng nhu cầu tìm hiểu động cơ và vai trò của Hoa Kỳ trong quá trình này và tác động của

nó đối với tình hình an ninh chính trị và quan hệ quốc tế Đồng thời, kết quả của công trình nghiên cứu góp phần tìm hiểu một lĩnh vực quan trọng của cuộc Chiến tranh Lạnh, đó là vấn đề vũ trang hạt nhân và giải trừ quân bị Qua đó có thể rút ra một số bài học cho các vấn đề đang đặt ra hiện nay đối với tình hình an ninh chính trị quốc tế có liên quan đến vũ khí hạt nhân Ngoài

ra, công trình nghiên cứu này nhằm góp phần hoàn thiện chương trình nghiên cứu và giảng dạy về Hoa Kỳ học của Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Với những lý do

trên, việc nghiên cứu đề tài „Hoa Kỳ với quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, 1945-1991‟ vừa có tính khoa

mà Hoa Kỳ đã tham gia và ý nghĩa của vấn đề giải trừ quân bị nói chung và

vũ khí hạt nhân nói riêng đối với hòa bình và an ninh của thế giới trong thời

Trang 10

kỳ Chiến tranh Lạnh Hoặc cuốn sách khác cùng chủ đề là „Arms Control and National Security: An Introduction‟ do Hiệp hội kiểm soát vũ trang Mỹ xuất

bản năm 1989 Có một số công trình nghiên cứu quan điểm của Hoa Kỳ về

vai trò của vũ khí hạt nhân đối với vấn đề an ninh - chính trị Cuốn sách „The Nuclear Dilemma in American Strategic Thought‟ của tác giả Robert E

Osgood, xuất bản năm 1988, là một ví dụ Trong sách, Osgood đã trình bày hai quan điểm nổi bật của chính giới Mỹ: 1) Hòa bình và an ninh phụ thuộc chủ yếu vào tính chất ngăn chặn của vũ khí hạt nhân; 2) Việc sử dụng vũ khí hạt nhân có rất nhiều khả năng dẫn đến tự hủy diệt ở mức độ không lường hết được Tác giả cho rằng hai quan điểm này đã chi phối việc sản xuất và tàng trữ vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ Chúng còn là cơ sở cho việc đàm phán của các chính quyền Mỹ với các cường quốc hạt nhân khác về vấn đề kiểm soát

và cắt giảm vũ khí hạt nhân Hai quan điểm này cũng đồng thời phản ánh vấn

đề nan giải của vũ khí hạt nhân đối với Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

„Nuclear Weapons: A Comprehensive Study‟ là một báo cáo tổng quan

của Ban Giải trừ quân bị của Liên hợp quốc về tình hình vũ khí hạt nhân trên thế giới được công bố năm 1991 Bản báo cáo dày trên 140 trang tóm tắt chiến lược hạt nhân của các nước lớn, quá trình giải trừ vũ khí hạt nhân, mối liên hệ giữa vũ khí hạt nhân và an ninh thế giới Các vấn đề trình bày trong báo cáo này mang tính khái quát cao Tuy nhiên, những nội dung liên quan đến Hoa Kỳ chiếm một tỉ lệ hạn chế (khoảng 15 trang) Trong cuốn sách

„Modern American Diplomacy‟ do John M Carroll và George C Herring chủ

biên được Nhà xuất bản SR Books phát hành năm 1996 có một chương của

tác giả Walter L Hixson viết về „Nuclear Weapons and Cold War diplomacy‟

(Vũ khí hạt nhân và ngoại giao Chiến tranh Lạnh) Trong chương này, Hixson

đã khái quát quá trình phát triển vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ qua các đời tổng

Trang 11

thống Mỹ, từ Franklin D Roosevelt đến Ronald Reagan Hixson cũng tóm tắt các hiệp ước quan trọng về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân mà Hoa Kỳ

đã ký với Liên Xô qua các đời tổng thống này Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu vấn đề còn mang tính tổng quan và dung lượng còn hạn chế

Những thông tin về cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa hai siêu cường

Mỹ - Xô và quá trình đàm phán để cắt giảm kho vũ khí hạt nhân của hai nước

trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh có thể tìm thấy trong cuốn sách „America, Russia, and the Cold War, 1945-1996‟ Tác giả của cuốn sách là Walter

LaFeber Sách được The McGraw-Hill Companies, Inc., tái bản lần thứ 8 năm

1997 Vì đây là một cuốn lịch sử quan hệ Mỹ - Xô nên vấn đề vũ khí hạt nhân được trình bày rải rác, xen kẽ với với nhiều sự kiện khác trong quan hệ song phương giữa hai nước theo dòng thời gian Mặc dù vậy, cuốn sách đã cung cấp nhiều thông tin về vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân Đây là một trong những vấn đề nổi bật trong quan hệ song phương giữa hai siêu cường Mỹ - Xô trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh Một công trình khác là

„American Foreign Policy: Past, Present, Future‟ do Glenn P Hastedt chủ

biên và được Nhà xuất bản Prentice Hall tái bản lần thứ 5 năm 2003 Toàn bộ chương 16 và chương 17 của cuốn sách đã trình bày một cách tổng quát quá trình phát triển của vũ khí hạt nhân và các cuộc đàm phán giữa Hoa Kỳ và Liên Xô về cắt giảm vũ khí hạt nhân từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến thập niên đầu tiên của thời kỳ sau Chiến tranh Lạnh Do dung lượng hạn chế nên công trình này chưa phản ánh đầy đủ những quan điểm của hai cường quốc hạt nhân và tác động của quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân đối với tình hình an ninh chính trị thế giới trong suốt giai đoạn đó Tuy có những hạn chế nhất định, các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài là nguồn tư liệu tốt cho việc thu thập thông tin và tìm hiểu các quan điểm khác

Trang 12

nhau ở Hoa Kỳ và trên thế giới về chính sách đối ngoại và chính sách hạt nhân của các chính quyền Mỹ

Nguồn tài liệu bằng tiếng Việt về chủ đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân nhìn chung còn ít Có một số công trình của các tác giả Việt Nam về

cuộc đấu tranh đòi giải trừ quân bị và chống chiến tranh hạt nhân Đó là „Đấu tranh đòi triệt để cấm vũ khí nguyên tử‟ của Tạ Quang Bửu, do Ủy ban bảo vệ

hòa bình Việt Nam xuất bản năm 1955 Một ấn phẩm đáng chú ý của Nhà

xuất bản Sự Thật - Hà Nội là „Tăng cường đoàn kết bảo vệ hòa bình, phá tan

âm mưu chuẩn bị chiến tranh hạt nhân của đế quốc Mỹ‟ xuất bản năm 1963

Cuốn sách đã vạch trần âm mưu và kế hoạch của đế quốc Mỹ lợi dụng hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân từng phần để đẩy mạnh việc thử vũ khí hạt nhân dưới mặt đất, gây chia rẽ giữa Liên Xô và Trung Quốc trong phong trào hòa

bình thế giới Năm 1984, Nhà xuất bản Sự Thật phát hành ấn phẩm „Đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hòa bình và sự sống‟ của Hoàng Tùng

Ngoài ra còn một vài ấn phẩm tương tự của các tác giả khác Năm 1985, Hãng

Thông tấn Novosti của Liên Xô xuất bản cuốn „Vì an ninh ở châu Á: Những sáng kiến hòa bình của các nước xã hội chủ nghĩa‟ Đây là một tập văn kiện

về tình hình quốc tế và quan điểm của các nước xã hội chủ nghĩa trong việc

đề ra những biện pháp giải quyết các vấn đề ở Đông Nam Á và giảm bớt nguy

cơ chiến tranh hạt nhân ở Viễn Đông Cùng chủ đề này, năm 1986 Nhà xuất

bản Lao động - Hà Nội phát hành ấn phẩm „Ngăn chặn thảm họa hạt nhân: khả năng và hiện thực‟ của tác giả Phạm Dương

Một tác phẩm đáng chú ý khác của Nhà xuất bản Sự Thật được phát

hành năm 1988 là „Một bước mở đầu tốt đẹp của cuộc đấu tranh loại trừ vũ khí hạt nhân‟ Cuốn sách đã trình bày tổng quát quá trình chạy đua vũ trang

của các thế lực đế quốc và cuộc đấu tranh của các lực lượng hòa bình và tiến

bộ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh chống chạy đua vũ trang, đặc biệt là vũ

Trang 13

trang hạt nhân Cuốn sách cũng nêu rõ nguyên nhân và ý nghĩa thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh loại trừ vũ khí hạt nhân qua việc ký kết Hiệp ước Mỹ -

Xô năm 1987 về hủy bỏ các tên lửa tầm trung và tầm ngắn Đồng thời, cuốn sách thể hiện quan điểm của chính phủ Việt Nam hoan nghênh việc ký kết hiệp ước này, coi đó là bước ngoặt quan trọng trong việc mở đường đi tới loại

bỏ vũ khí hạt nhân và tạo bầu không khí hòa hoãn trong quan hệ quốc tế

Các học giả Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu bước đầu về chủ đề vũ khí hạt nhân và an ninh - chính trị thế giới Võ Như Dũng có

hai bài đăng trong tạp chí Lịch sử quân sự số 2-1990 là „Những quả bom nguyên tử đầu tiên của Mỹ‟ và „Làm việc cho ma quỷ‟ Hai bài viết cung cấp

tư liệu về việc chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên ở Hoa Kỳ và quan điểm của các nhà khoa học Mỹ về vấn đề này Lê Vinh Quốc có bài nghiên cứu về

„Bom nguyên tử và sự kết thúc cuộc chiến tranh Thái Bình Dương‟, đăng trên

tạp chí Lịch sử quân sự số 4-1996 Bài viết phân tích mưu toan chính trị của chính quyền Mỹ trong việc ném bom nguyên tử ở Nhật Bản năm 1945 có liên

quan đến quan hệ Mỹ - Xô Nguyễn Chung Tú có công trình mang tên „Bạn biết gì về vũ khí hạt nhân‟ do Nhà xuất bản Trẻ TP Hồ Chí Minh xuất bản

năm 1996 Cuốn sách tìm hiểu sơ lược lịch sử phát triển bom hạt nhân trên thế giới, đề cập tới mối quan hệ giữa chính trị và vấn đề sử dụng các loại bom hạt nhân của một số cường quốc hạt nhân Một tác phẩm có nhiều thông tin bổ ích và lý thú về quan hệ Mỹ - Xô nói chung và vấn đề vũ trang hạt nhân nói riêng là cuốn hồi ký của Anatoly Dobrynin Dobrynin là cựu Đại sứ Liên Xô ở Hoa Kỳ từ năm 1962 đến năm

1986 và sau đó là Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô Cuốn hồi ký

mang tên „Đặc biệt tin cậy: Vị đại sứ ở Oasinhtơn qua sáu đời Tổng thống Mỹ‟ Cuốn sách được Nhà xuất bản Tác giả của Nga xuất bản năm 1997 và

được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia dịch sang tiếng Việt và xuất bản năm

Trang 14

2001 Cuốn hồi ký đã trình bày gần như toàn bộ các sự kiện quan trọng trong quan hệ Xô - Mỹ từ năm 1962 đến năm 1991 Ngoài ra, tác giả cũng trích dẫn những quan điểm của chính phủ Liên Xô và chính phủ Mỹ về các vấn đề trong quan hệ quốc tế và quan hệ song phương Xô - Mỹ, kể cả vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong giai đoạn này Theo Đại sứ Dobrynin, vấn đề vũ khí hạt nhân luôn luôn là một trong những vấn đề quan trọng, chi phối lớn mối quan hệ song phương Xô - Mỹ cũng như mối quan hệ giữa Liên

Xô - Hoa Kỳ - Tây Âu trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh Với trên 1.000 trang sách, cuốn hồi ký của một quan chức cao cấp Liên Xô là một nguồn tư liệu quan trọng và đáng tin cậy cho việc nghiên cứu của đề tài

Trong cuốn „Chiến tranh Lạnh và di sản của nó‟ của tác giả Trương

Tiểu Minh, một học giả Trung Quốc, có một chương nói về vũ khí hạt nhân

và Chiến tranh Lạnh Cuốn sách được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia dịch

và xuất bản năm 2002 Theo Trương Tiểu Minh, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân “là nội dung và phương thức chủ yếu của cuộc đấu tranh giữa Đông - Tây” Như vậy, Trương Tiểu Minh cũng khẳng định vấn đề vũ trang hạt nhân

là một nội dung quan trọng của cuộc Chiến tranh Lạnh Ngoài ra, tác giả cũng phân tích vai trò của vũ khí hạt nhân trong quan hệ Đông - Tây và hòa bình thế giới cả trong và sau thời kỳ Chiến tranh Lạnh

Nhìn chung, số lượng các công trình của các học giả Việt Nam về vấn đề

vũ trang hạt nhân có liên quan tới các vấn đề trong quan hệ quốc tế và an ninh chính trị thế giới chưa nhiều Hơn nữa, nội dung nghiên cứu chưa chuyên sâu

và chưa có tính hệ thống Ngoài ra, số lượng các công trình nghiên cứu của học giả nước ngoài về chủ đề này được dịch sang tiếng Việt cũng còn ít Vì vậy, đây là mảng nghiên cứu và tư liệu cần bổ sung

MỤC TIÊU VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Trang 15

Động cơ và vai trò của Hoa Kỳ trong quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân là gì? Những hiệp ước về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân

mà Hoa Kỳ tham gia có ý nghĩa gì đối với quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ cũng như đối với vấn đề an ninh - chính trị của thế giới trong khung cảnh của cuộc Chiến tranh Lạnh? Trả lời những câu hỏi này là mục tiêu nghiên cứu chính của luận án Ngoài ra, luận án góp phần luận giải về cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, một nội dung quan trọng của cuộc Chiến tranh Lạnh Luận án cũng bước đầu nghiên cứu quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề vũ trang hạt nhân cũng như phong trào đấu tranh chống chạy đua vũ trang, chống vũ khí hạt nhân và chiến tranh hạt nhân trên thế giới Trên cơ sở đó luận án rút ra những bài học cho các vấn đề có liên quan đến kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân hiện nay

Về giới hạn, đề tài chọn thời điểm cho vấn đề nghiên cứu bắt đầu từ năm

1945 vì một số lý do sau Ngay từ năm 1945, đặc biệt sau khi Hoa Kỳ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản (8-1945), đã xuất hiện những dấu hiệu của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô Cũng từ năm 1945, vấn đề kiểm soát và hạn chế vũ khí hạt nhân đã được chính người Mỹ đặt ra Đó là những kiến nghị của các nhà khoa học và của Bộ trưởng Quốc phòng Henry

L Stimson dưới chính quyền Truman Chính quyền Mỹ đã có những phản ứng tiêu cực đối với những khuyến nghị này Tuy nhiên từ năm 1946, Hoa Kỳ

đã chính thức đưa ra một số kế hoạch đầu tiên về kiểm soát năng lượng nguyên tử và vũ khí hạt nhân Sau đó Hoa Kỳ tiếp tục đưa ra những đề nghị mới cho vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ ký một số văn kiện quan trọng về lĩnh vực này, chủ yếu

là với Liên Xô Ngày 31-7-1991, Hoa Kỳ ký Hiệp ước cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược giai đoạn I (START I) với Liên Xô, 5 tháng trước khi Liên

Xô hoàn toàn sụp đổ Hiệp ước START I đã đặt cơ sở cho việc tiếp tục đàm

Trang 16

phán giữa Hoa Kỳ và Liên bang Nga, nước thừa kế Liên Xô, để ký các hiệp ước khác nhằm cắt giảm hơn nữa kho vũ khí hạt nhân của hai nước Vì thế, đề tài chọn năm 1991 là điểm dừng của vấn đề nghiên cứu

Do đây là một đề tài thuộc chuyên ngành Lịch sử, các vấn đề nghiên cứu

có liên quan đến vũ khí hạt nhân không đi sâu vào lĩnh vực khoa học và kỹ thuật quân sự Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình Hoa Kỳ tham gia vào các vấn đề chạy đua vũ trang, kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trên phương diện lịch sử quan hệ quốc tế và tác động của nó đối với các vấn đề an ninh - chính trị và hòa bình thế giới Do khuôn khổ hạn chế của luận án, việc nghiên cứu giới hạn ở vấn đề vũ khí hạt nhân, không mở rộng phạm vi nghiên cứu đối với các loại vũ khí khác như vũ khí qui ước (hay vũ khí thông thường), vũ khí hóa học và vũ khí sinh học

NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các tài liệu tham khảo chính là các văn bản hiệp ước song phương và đa phương về các vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân mà các chính quyền Mỹ đã tham gia ký kết Việc nghiên cứu sẽ tập trung vào một số hiệp ước quan trọng hàng đầu như: Hiệp ước hạn chế thử vũ khí hạt nhân (LTB, 1963), Hiệp ước về không gian vũ trụ (OST, 1967), Hiệp ước không phổ biến

vũ khí hạt nhân (NPT, 1968), Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược giai đoạn I

(SALT I, 1972), Hiệp ước hạn chế vũ khí chiến lược giai đoạn II (SALT II, 1979), Hiệp ước hủy bỏ các vũ khí hạt nhân tầm trung và tầm ngắn (INF, 1987) và Hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược giai đoạn I (START I, 1991) Nguồn tài liệu tham khảo chính khác là các bản tuyên bố của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và các cường quốc hạt nhân có liên quan Có nhiều tập văn kiện có

thể tham khảo Ví dụ cuốn „The American Atom: A Documentary History of Nuclear Policies from the Discovery of Fission to the Present, 1939-1984‟, do

Trang 17

Robert C Williams và Philip L Cantelon biên soạn, được University of Pennsylvania Press, Philadelphia xuất bản năm 1984 Một tập văn kiện khác

là „Major Problems in American Foreign Relations‟, Volume II: Since 1914,

Documents and Essays, do Thomas G Paterson và Dennis Merrill chủ biên,

D C Heath and Company xuất bản năm 1995 Đề tài cũng tham khảo các công trình nghiên cứu và các bài viết trong các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành Đây cũng là nguồn tư liệu quan trọng để trích dẫn Ngoài ra những thông tin từ một số báo trong nước và nước ngoài cũng như thông tin từ các trang web điện tử cũng sẽ được lựa chọn để tham khảo

Vì những vấn đề nghiên cứu trong luận án mang tính liên ngành nên phương pháp nghiên cứu sẽ là sự kết hợp của phương pháp khoa học lịch sử

và phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế Việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở tập hợp những nguồn thông tin đáng tin cậy kết hợp với hai phương pháp nghiên cứu trên Những thông tin này sẽ được phân tích và tổng hợp để đưa ra những nhận định và đánh giá cho vấn đề được nghiên cứu trong luận

án

ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần hệ thống hóa các vấn đề có liên quan đến lĩnh vực vũ trang hạt nhân trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh Đồng thời luận án góp phần luận giải về thực chất vai trò của Hoa Kỳ trong lĩnh vực kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân cũng như tác động của nó đối với các vấn đề trong quan hệ quốc tế và an ninh chính trị thế giới Từ đó rút ra những bài học cho vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân hiện nay Ngoài ra, luận án tổng hợp quan điểm của thế giới và Việt Nam đối với vấn

đề vũ trang hạt nhân, đấu tranh đòi hủy bỏ vũ khí hạt nhân, chống chiến tranh

Trang 18

hạt nhân, giữ gìn sự ổn định về an ninh - chính trị và hòa bình trong khu vực cũng như trên toàn thế giới

Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ được sử dụng trong nội dung giảng dạy về quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ trong khuôn khổ của chương trình giảng dạy và nghiên cứu về Hoa Kỳ học của Khoa Quốc tế học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận án đóng góp vào nguồn tư liệu tham khảo còn hạn chế bằng tiếng Việt về quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ nói chung và về các vấn đề có liên quan đến vũ trang hạt nhân nói riêng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh

KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận án được trình bày trong ba chương Chương 1 nghiên cứu những vấn đề liên quan đến vũ khí hạt nhân từ năm 1945 đến năm 1962 Năm 1945 là thời điểm Hoa Kỳ chế tạo thành công vũ khí nguyên tử đầu tiên và cũng là lần đầu tiên vũ khí này được sử dụng trong chiến tranh Việc Hoa Kỳ ném bom nguyên tử ở Nhật Bản năm 1945 đã để lại những hậu quả nghiêm trọng Một trong những hậu quả đó là gây ra cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân trên thế giới, chủ yếu giữa Hoa Kỳ và Liên Xô Cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba tháng 10-1962 chính là một biểu hiện của cuộc chạy đua giữa hai siêu cường Mỹ - Xô và đặt thế giới trước nguy cơ của một cuộc chiến tranh hạt nhân Từ sau sự kiện này, các cuộc đàm phán Mỹ - Xô về vũ khí hạt nhân bước sang một giai đoạn mới Các sự kiện liên quan đến vũ khí hạt nhân trong giai đoạn 1945-1962 đã đặt

cơ sở cho quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong những giai đoạn tiếp theo

Chương 2 nghiên cứu động cơ và vai trò của Hoa Kỳ trong quá trình kiểm soát và bước đầu hạn chế vũ khí hạt nhân từ năm 1963 đến 1976 Năm

Trang 19

1963 là thời điểm Hoa Kỳ ký hiệp ước đa phương đầu tiên về hạn chế thử vũ khí hạt nhân, một phần do hậu quả của cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm

1962 Tiếp sau đó, Hoa Kỳ tham gia ký kết những hiệp ước đa phương và song phương khác về lĩnh vực kiểm soát vũ khí hạt nhân trong khung cảnh của sự hòa dịu trong quan hệ Mỹ - Xô từ đầu thập niên 70 Năm 1976 là năm cuối cùng của chính quyền Ford Đồng thời trong tình hình chính trị nội bộ

Mỹ lúc này xuất hiện quan điểm chống lại sự hòa dịu Mỹ - Xô Sự kết thúc của chính quyền Ford cũng là khởi đầu của một giai đoạn mới trong quan hệ

Mỹ - Xô và ảnh hưởng trực tiếp tới các cuộc đàm phán giữa hai nước về vấn

đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong giai đoạn này

Chương 3 nghiên cứu các hoạt động của Hoa Kỳ trong lĩnh vực cắt giảm

vũ khí hạt nhân chiến lược từ năm 1977 đến năm 1991 Năm 1977 là thời điểm bắt đầu của một chính quyền mới ở Mỹ, chính quyền Carter, đồng thời cũng là lúc sự hòa dịu trong quan hệ Mỹ - Xô từng bước bị phá vỡ Trong khi

đó cục diện thế giới có nhiều biến động lớn Những thực tế này ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân Mặc dù vậy trong giai đoạn này Hoa Kỳ và Liên Xô đã ký được một số văn kiện quan trọng về cắt giảm vũ khí hạt nhân chiến lược trước khi Liên Xô sụp đổ tháng 12-1991 Những văn kiện này không chỉ ảnh hưởng đến quan hệ song phương

Mỹ - Xô mà còn tác động đến những vấn đề quan trọng trong quan hệ quốc tế

và tình hình an ninh chính trị thế giới

Những vấn đề đã trình bày trong luận án được kết luận thành bốn điểm chính: 1) Nhận xét chung về vấn đề vũ khí hạt nhân và quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong thời kỳ 1945-1991; 2) Tổng hợp và đánh giá các hoạt động của Hoa Kỳ trong cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân và quá trình kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân trong giai đoạn 1945-1991; 3) Nhận xét

về phong trào chống chạy đua vũ trang hạt nhân và chống chiến tranh hạt

Trang 20

nhân; 4) Tổng hợp quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề vũ khí hạt nhân nói chung và các văn kiện về kiểm soát và cắt giảm vũ khí hạt nhân nói riêng

từ 1963 đến 1991

Phần „Danh mục công trình khoa học của tác giả liên quan đến luận án‟

có sáu bài viết đăng trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành Mục tài liệu tham khảo có trên 170 đầu sách và bài báo bằng tiếng Việt và tiếng Anh Phần phụ lục có một bảng giải thích các thuật ngữ về vũ khí hạt nhân và năng lượng hạt nhân Ngoài ra, phần phụ lục có một số hình ảnh minh họa liên quan đến vũ khí hạt nhân cũng như các loại vũ khí hạt nhân chiến lược của

Mỹ

Trang 21

CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ CỦA QUÁ TRÌNH KIỂM SOÁT VÀ CẮT GIẢM VŨ KHÍ HẠT NHÂN (1945-1962)

1.1 CỤC DIỆN THẾ GIỚI VÀ VẤN ĐỀ VŨ KHÍ HẠT NHÂN

1.1.1 Khái quát về việc sản xuất và sử dụng bom nguyên tử của Hoa Kỳ

trong Chiến tranh thế giới thứ hai

Từ cuối thập niên 30, những kỹ thuật nguyên tử đầu tiên được các nhà khoa học vật lý gốc Âu du nhập vào Hoa Kỳ khi họ đến định cư ở tân thế giới Ngay trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, một số nhà khoa học vật lý hàng đầu ở Hoa Kỳ, trong đó có Albert Einstein, đã cảnh báo chính phủ Mỹ

về sự nguy hiểm của vũ khí hạt nhân và khả năng nước Đức phát xít của Adolf Hitler có thể chế tạo và sử dụng loại vũ khí này trong chiến tranh Sự cảnh báo của họ lúc đó chưa được chính quyền Mỹ thật sự chú ý Những diễn biến khốc liệt của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt sự kiện Nhật Bản tấn công Hoa Kỳ ở Trân Châu Cảng tháng 12-1941 gây tổn thất lớn về người

và phương tiện quân sự cho Hoa Kỳ, đã có ảnh hưởng lớn tới chính sách hạt nhân của chính quyền Mỹ Sau sự kiện Trân Châu Cảng, Tổng thống F D Roosevelt quyết định tài trợ cho việc nghiên cứu và chế tạo bom nguyên tử Roosevelt cũng như nhiều quan chức chính phủ Mỹ lúc đó cho rằng bom nguyên tử sẽ nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến tranh ác liệt đang xảy ra Họ

cũng nhằm mục tiêu đầu tiên của quả bom là Nhật Bản [119, tr 226; 140, tr 25]

Ngày 23-8-1942, Tổng thống Roosevelt phê chuẩn “Dự án Manhattan”

về nghiên cứu và chế tạo bom nguyên tử Dự án Manhattan trị giá 2 tỷ đô la

Mỹ (USD) với sự tham gia của nhiều nhà khoa học nổi tiếng và đặt dưới sự

Trang 22

chỉ đạo trực tiếp của nhà vật lý lừng danh Julins Robert Oppenheimer Một số nhà khoa học Anh và Canada cũng được mời tham gia dự án Trong khi đó, những thông tin về dự án được giữ bí mật đối với Liên Xô vì chính quyền Mỹ quyết định không chia sẻ kỹ thuật hạt nhân với Liên Xô Đầu năm 1945, dự

án Mahattan đã thành công Ngày 16-7-1945, Hoa Kỳ tiến hành vụ thử vũ khí hạt nhân đầu tiên mang mật danh Trinity tại Alamogordo, bang New Mexico

Vụ thử đã thành công và Hoa Kỳ độc quyền sở hữu một thứ vũ khí mới - bom nguyên tử Theo các học giả Mỹ, chính quyền Truman đã nhanh chóng lợi dụng sự kiện này để tạo lợi thế về ngoại giao trong việc đàm phán với Liên

Xô về các vấn đề sau chiến tranh tại Hội nghị Potsdam tháng 7-1945 [119, tr 228; 140, tr 25] Nhận xét này có những cơ sở thực tế là Tổng thống Truman

đã trì hoãn chuyến đi đến Potsdam để tham dự hội nghị cho đến sát ngày Hoa

Kỳ dự định thử quả bom nguyên tử Và ngày Hoa Kỳ thử quả bom cũng là ngày Hội nghị Potsdam khai mạc Tại Hội nghị, Truman đã thông báo với Joseph Stalin - người đứng đầu Đảng và Nhà nước Liên Xô - về việc Hoa Kỳ

đã có một thứ vũ khí mới với sức mạnh khủng khiếp Sự thông báo của Truman có thể nhằm gây sức ép với Stalin để phía Liên Xô nhượng bộ Hoa

Trang 23

Lý do mà chính quyền Truman bào chữa cho việc ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản là để nhanh chóng chấm dứt chiến tranh và tránh hy sinh thêm sinh mạng của lính Mỹ trong cuộc chiến tranh với người Nhật Trong khi đó, nhiều người Mỹ, kể cả các nhà khoa học đã trực tiếp tham gia chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên, đã lên tiếng phản đối việc chính quyền Mỹ sử dụng bom nguyên tử giết hại dân thường Họ cho rằng Hoa Kỳ không nhất thiết phải sử dụng bom nguyên tử vào cuộc chiến vì chính quyền Mỹ có những lựa chọn khác cho việc kết thúc chiến tranh Theo họ những lựa chọn này bao gồm: 1) Tranh thủ sự ủng hộ của những người Nhật yêu hòa bình; 2) Phong tỏa và ném bom thông thường ở Nhật Bản; 3) Để Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản; 4) Cảnh báo Tokyo về quả bom nguyên tử và đe dọa sử dụng nó; 5) Cho nổ quả bom nguyên tử ở khu vực không có người sinh sống với sự chứng kiến của quan sát viên quốc tế và Nhật Bản; 6) Đổ bộ lên đảo Kyushu

của Nhật Bản [119, tr 226] Những lựa chọn này mang tính răn đe đối với

Nhật Bản và có tính khả thi đối với Hoa Kỳ Mặc dù vậy, chính quyền Truman vẫn quyết định dùng bom nguyên tử để giải quyết chiến tranh với Nhật Bản Theo nhận xét của các học giả Mỹ, có ba động cơ chính trong việc chính quyền Truman quyết định ném bom nguyên tử ở Nhật Bản tháng 8-

1945 Thứ nhất, Hoa Kỳ muốn trả thù Nhật Bản vì vụ Trân Châu Cảng năm

1941 Thứ hai, chính quyền Mỹ tin rằng bằng cách ném bom Nhật Bản, Hoa

Kỳ sẽ không phải tiến hành cuộc chiến tranh trên bộ với Nhật Bản vì thế sẽ hạn chế thương vong lớn cho lính Mỹ, đồng thời sẽ sớm chấm dứt chiến tranh

với Nhật Bản Thứ ba, đây là cách để Hoa Kỳ tranh giành chiến thắng về

ngoại giao với Liên Xô và tạo lợi thế chính trị cho Hoa Kỳ sau Chiến tranh

thế giới thứ hai [31, tr 111-113; 118, tr 266; 119, tr 226-227]

Khi xem xét các sự kiện quan trọng liên tiếp xảy ra trong mấy ngày liền vào đầu tháng 8-1945 sẽ thấy được dụng ý của chính quyền Mỹ trong việc sử

Trang 24

dụng bom nguyên tử Ngày 6-8-1945 Hoa Kỳ ném quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Hiroshima, hai ngày trước khi Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản (8-8-1945) Ngày 9-8-1945 Hoa Kỳ ném quả bom thứ hai xuống Nagasaki, ngày 10-8-1945 chính phủ Nhật chấp nhận “tuyên cáo Postdam” và chính thức tuyên bố đầu hàng Đồng minh ngày 15-8-1945 Tuy nhiên, việc Nhật Bản nhanh chóng tuyên bố đầu hàng sau khi Hoa Kỳ ném quả bom nguyên tử thứ hai không có nghĩa là sự đầu hàng của Nhật Bản do hậu quả của vụ ném bom nguyên tử của Hoa Kỳ Chính người Mỹ cũng thừa nhận rằng sự tuyên chiến của Liên Xô với Nhật Bản ngày 8-8-1945 làm cho chính phủ Nhật Bản

lo sợ hơn là sự kiện Hoa Kỳ ném quả bom nguyên tử đầu tiên ở Hiroshima

[119, tr 228] Thực tế là ngay sau khi tuyên chiến với Nhật Bản, Liên Xô đã

sử dụng ba phương diện quân bao gồm hơn 1,5 triệu quân tấn công Nhật Bản

ở Đông Bắc Trung Quốc, Triều Tiên, các đảo Kuril và Sakhalin Trước sức mạnh như vũ bão của quân đội Xô viết, sự thất bại của quân đội Nhật là điều không thể tránh khỏi Hơn nữa lúc này nhiều thành phố lớn của Nhật Bản đã

bị máy bay của quân đội Mỹ tàn phá nặng nề Những thất bại về quân sự cùng với những tổn thất to lớn về người và của cải vật chất chính là nguyên nhân quan trọng làm cho Nhật Bản phải nhanh chóng đầu hàng quân Đồng minh Việc Hoa Kỳ ném bom nguyên tử ở Nhật Bản về thực chất chính quyền Mỹ muốn răn đe thế giới bằng thứ vũ khí mà lúc đó Hoa Kỳ đang độc quyền sở hữu, đó là bom nguyên tử

Ngoài ra, việc chính quyền Truman sử dụng bom nguyên tử trong chiến tranh không chỉ gây ra những tổn thất lớn về con người và vật chất cho Nhật Bản mà còn để lại hậu quả trong lĩnh vực an ninh chính trị quốc tế Đó là đã gây ra một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân Trên thực tế, ngay từ năm 1943 khi phát hiện Hoa Kỳ tiến hành nghiên cứu và sản xuất bom nguyên tử, chính phủ Liên Xô đã quyết định xây dựng chương trình nghiên cứu kỹ thuật hạt

Trang 25

nhân Tuy nhiên, phải mất hai năm sau, khi điều kiện cho phép Liên Xô mới

có thể nghiên cứu sản xuất bom nguyên tử Ngày 20-8-1945, Chủ tịch Joseph Stalin, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Nhà nước Liên Xô (GKO),

đã ký quyết định thành lập một “Ủy ban Đặc biệt” gồm 9 người trực thuộc GKO Ủy ban này có các nhiệm vụ chính là: 1) Phát triển việc nghiên cứu khoa học về năng lượng nguyên tử từ chất uranium; 2) Tìm kiếm và khai thác các nguồn quặng uranium ở cả bên ngoài Liên Xô (đặc biệt là ở Bungari và Tiệp Khắc); 3) Tổ chức chế biến uranium và sản xuất các thiết bị đặc biệt và nguyên liệu phục vụ cho việc sử dụng năng lượng nguyên tử; 4) Xây dựng các

cơ sở năng lượng nguyên tử và nghiên cứu chế tạo bom nguyên tử [106, tr 269] Những nỗ lực của Ủy ban GKO đã đưa đến kết quả Ngày 29-8-1949

Liên Xô đã thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên, phá vỡ sự độc quyền

vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ Cũng từ đây, cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa hai siêu cường bắt đầu diễn ra quyết liệt và kéo dài trong suốt mấy thập

kỷ sau đó Cuộc chạy đua này trở thành một bộ phận quan trọng của cuộc Chiến tranh Lạnh, đồng thời chi phối lớn các vấn đề trong quan hệ song phương Mỹ - Xô cũng như quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai

1.1.2 Cục diện thế giới sau Chiến tranh thế giới thứ hai và bước đầu của

cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân trên thế giới

Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tạo ra một cục diện thế giới mới trong đó Hoa Kỳ và Liên Xô đóng vai trò chủ đạo Hoa Kỳ đứng đầu khối tư bản chủ nghĩa còn Liên Xô đứng đầu phe xã hội chủ nghĩa Sự đối đầu giữa hai khối trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh còn gọi là sự đối đầu Đông - Tây Những diễn biến xung quanh trục quan hệ Mỹ - Xô và hai khối đứng sau hai siêu cường đã chi phối tình hình thế giới trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh

Trang 26

Trong quan hệ song phương Mỹ - Xô, sự liên minh của Hoa Kỳ với Liên

Xô trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít chỉ là một sự liên minh do tình thế bắt buộc Theo cách nói của một sử gia Mỹ, Giáo sư Walter LaFeber,

đó là “cuộc hôn nhân không có tuần trăng mật” [109, tr 6] Ngay trước khi

chiến tranh kết thúc, hai nước có nhiều bất đồng lớn trong việc sắp đặt lại trật

tự thế giới sau chiến tranh Cũng theo các sử gia Mỹ, những bất đồng với Liên

Xô đã làm cho cuộc Chiến tranh Lạnh trên thực tế đã ngự trị trong đời sống

chính trị nước Mỹ ngay từ năm 1945 [109, tr 1] Vì vậy, sau khi Chiến tranh

thế giới thứ hai kết thúc, chính quyền Mỹ đã bộc lộ thái độ thù địch với Liên

Xô Điều này thể hiện rất rõ trong các văn kiện về an ninh chính trị của chính quyền Mỹ Đặc biệt trong bức điện của George F Kennan, Tham tán Sứ quán

Mỹ tại Moscow, gửi cho chính quyền Truman ngày 22-2-1946, Kennan đã phê phán các nhà lãnh đạo Liên Xô Đồng thời, Kennan đưa ra những kiến nghị về chính sách “ngăn chặn” đối với Liên Xô trong giai đoạn trước mắt và

đối với việc xóa bỏ chủ nghĩa cộng sản trong giai đoạn lâu dài [118, tr 241] Những kiến nghị của Kennan sau đó đã trở thành cơ sở cho việc xây

238-dựng chiến lược “ngăn chặn”, chiến lược toàn cầu của chính quyền Mỹ Chiến lược “ngăn chặn” được cụ thể hóa qua Học thuyết Truman và chủ trương ngăn chặn sự mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô cũng như chủ nghĩa cộng sản ở bất cứ đâu trên thế giới Vì vậy, chiến lược này đã gây ra sự đối đầu gay gắt giữa hai khối do Hoa Kỳ và Liên Xô đứng đầu Nó cũng gây ra tình hình căng thẳng trong quan hệ quốc tế, tạo nên một cục diện thế giới hai cực mà sử sách gọi là “Cục diện Yalta” trong khung cảnh của một cuộc chiến tranh lạnh

Trong cuộc đối đầu Mỹ - Xô, cả hai siêu cường cùng ra sức xây dựng và củng cố sức mạnh của khối mình để làm đối trọng với khối kia trên mọi phương diện Về phía Hoa Kỳ, sự hùng mạnh về kinh tế và quân sự của nước

Trang 27

Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đã thúc đẩy tham vọng bá chủ thế giới của chính quyền Mỹ Trong bài phát biểu trước Quốc hội Mỹ ngày 12-3-1947, Tổng thống Truman cho rằng Hoa Kỳ không được do dự trong việc đảm đương vai trò lãnh đạo thế giới Đồng thời Truman đe dọa Hoa Kỳ sẽ can thiệp ở bất cứ nơi nào trên thế giới dưới danh nghĩa đảm bảo tự do và hòa

bình cho các dân tộc trên thế giới [94, tr 403-407] Bài phát biểu sau đó

được nâng lên thành học thuyết, gọi là “Học thuyết Truman” Học thuyết Truman là nội dung cụ thể của chiến lược toàn cầu - chiến lược ngăn chặn - sau Chiến tranh thế giới thứ hai của chính quyền Mỹ Một trong những mục tiêu cơ bản của chiến lược này là chống Liên Xô, các nước dân chủ nhân dân

và phong trào cộng sản quốc tế, đồng thời ngăn chặn và chống phá phong trào

giải phóng dân tộc trên thế giới [45, tr 22]

Thực hiện chiến lược ngăn chặn, chính quyền Mỹ đã can thiệp ở khắp nơi trên thế giới Sự can thiệp của Hoa Kỳ ở châu Âu được thể hiện trước hết

là việc Hoa Kỳ tiến hành “Kế hoạch Marshall” từ năm 1947 nhằm cung cấp viện trợ, tái thiết châu Âu Về thực chất, Kế hoạch Marshall là giải quyết hàng

ế thừa của Mỹ sang châu Âu cũng như xuất khẩu tư bản vào khu vực này Đồng thời Kế hoạch Marshall chính là cơ hội tốt để Hoa Kỳ từng bước khống chế về kinh tế và chính trị các nước Tây Âu Cùng với việc thực hiện Kế hoạch Marshall, Hoa Kỳ lập ra khối quân sự Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) năm 1949 Đối với Hoa Kỳ, NATO vừa nhằm mục đích quân sự vừa nhằm mục đích chính trị Về bản chất, NATO chính là một sự mở rộng của Học thuyết Monroe của Mỹ sang châu Âu Chính quyền Mỹ muốn mượn bàn tay NATO để can thiệp trước hết vào châu Âu và sau đó là những khu vực khác trên thế giới Ngoài ra, NATO còn là công cụ để Hoa Kỳ khống chế các đồng minh Tây Âu về quân sự, đe dọa Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu Vì thế ngày 14-5-1955, Liên Xô đã thành lập khối quân sự Vácsava

Trang 28

để làm đối trọng với khối NATO Từ đây, châu Âu đã trở thành nơi đối đầu trực diện của hai khối quân sự lớn nhất trên thế giới, là chiến trường chính của cuộc Chiến tranh Lạnh giữa hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Xô

Đối với châu Á, hai khu vực quan trọng nhất nằm trong chiến lược “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản của chính quyền Mỹ là Đông Bắc Á và Đông Nam

Á Ở khu vực Đông Bắc Á, lợi dụng việc đóng quân ở Nhật Bản theo Hiệp ước phòng thủ Mỹ - Nhật ký năm 1951, Hoa Kỳ đã ủng hộ các lực lượng thân

Mỹ, biến Nhật Bản thành một đồng minh, một căn cứ quân sự của Mỹ ở Viễn Đông Đối với Trung Quốc, chính quyền Mỹ thi hành chính sách “hai nước Trung Hoa”, một mặt không công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mặt khác ủng hộ chính quyền của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan Hoa Kỳ còn

là nước chủ chốt tiến hành cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) Sự can thiệp của Hoa Kỳ ở bán đảo Triều Tiên góp phần tạo ra hai nhà nước Triều Tiên đối địch và làm cho tình hình Viễn Đông trở nên phức tạp Ở Đông Nam

Á, từ tháng 4-1954 chính quyền của Tổng thống Eisenhower đã áp dụng “Học thuyết Domino” để ngăn chặn cái gọi là sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản trong một khu vực mà họ cho là thuộc lợi ích sống còn của nước Mỹ

[118, tr 536-537] Một trong những hệ quả của “Học thuyết Domino” là Hoa

Kỳ đã từng bước can thiệp vào Việt Nam, phá hoại sự thống nhất của Việt Nam theo qui định của Hiệp định Geneva năm 1954 và sau đó gây ra cuộc chiến tranh ở Việt Nam, một cuộc chiến tàn khốc và kéo dài nhất trong lịch sử nước Mỹ Để thực hiện chính sách chống cộng ở Đông Nam Á, Hoa Kỳ đã lôi kéo các nước trong khu vực đi theo quỹ đạo của Mỹ Thái Lan và Philippin là hai đồng minh thân cận nhất của Mỹ trong khu vực Trên thực tế, các chính quyền Mỹ đã biến khu vực Đông Dương và Đông Nam Á thành một chiến trường của cuộc Chiến tranh Lạnh

Trang 29

Khu vực Trung Đông có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới Dầu mỏ ở khu vực này là một nguồn nhiên liệu chiến lược quan trọng đối với một nước tiêu thụ dầu lửa hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ Theo quan điểm của chính quyền Mỹ, Trung Đông còn có vị trí chiến lược quan trọng, nằm trên con đường ngăn chặn Liên Xô tiến xuống phía nam Vì vậy nếu kiểm soát được Trung Đông, Hoa Kỳ không những làm chủ được một trong những tuyến đường hàng hải quan trọng của thế giới, kiểm soát được nguồn nhiên liệu chiến lược có tầm quan trọng sống còn đối với nền kinh tế Mỹ mà còn ngăn chặn sự bành trướng ảnh hưởng của Liên Xô Như vậy, tầm quan trọng to lớn của Trung Đông trong các lĩnh vực an ninh chính trị, giao thông và kinh tế chính là động cơ của sự can thiệp của Hoa Kỳ vào khu vực này Ở mức độ nhất định, sự can thiệp của Hoa Kỳ là một nhân tố gây ra những cuộc xung đột vũ trang giữa Ixraen và các nước Arập, đẩy Trung Đông vào tình trạng bất

ổn triền miên

Chịu ảnh hưởng của phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, từ giữa những năm 50 phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Phi có bước phát triển mới Châu Phi vì thế được gọi là “lục địa mới trỗi dậy” Một số nước Bắc Phi và Tây Phi giành được độc lập trong nửa sau thập niên 50 Năm

1960, 17 nước châu Phi giành được độc lập dân tộc vì thế năm 1960 được ghi nhận là “Năm châu Phi” Lúc này cũng là giai đoạn tranh giành ảnh hưởng quyết liệt giữa hai khối Đông - Tây Vì thế, Hoa Kỳ không thể bỏ qua sự can thiệp vào châu lục này để ngăn chặn cái gọi là “sự xuất khẩu cách mạng” sang các nước châu Phi và cũng là để ngăn chặn cái gọi là “sự bành trướng của cộng sản” ở châu lục này Hơn nữa, châu Phi có nhiều tài nguyên khoáng sản quí Sự can thiệp của Hoa Kỳ ở châu Phi thường tập trung ở những nơi mà các chính quyền Mỹ coi là có tầm quan trọng đặc biệt đối với các nguồn nguyên liệu và nhiên liệu chiến lược

Trang 30

Đối với khu vực Mỹ Latinh, sau một quá trình can thiệp mạnh mẽ và liên tục suốt từ đầu thế kỉ XIX, Hoa Kỳ về cơ bản đã làm chủ khu vực này, coi nó

là “sâu sau” của nước Mỹ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Để tiếp tục kiểm soát khu vực Mỹ Latinh, Hoa Kỳ tiến hành ký với các nước trong khu vực các hiệp ước quân sự đa phương và song phương, như Hiệp ước phòng thủ chung Tây bán cầu (Rio Pact-1947), thành lập các tổ chức khu vực với sự khống chế chặt chẽ của Hoa Kỳ như Tổ chức các nước châu Mỹ (OAS-1948) Tháng 8-1961, chính quyền Kennedy đưa ra “Kế hoạch liên minh vì sự tiến bộ”, hứa hẹn cùng với các tổ chức quốc tế tài trợ cho các nước Mỹ Latinh khoản tín dụng 20 tỷ USD để giúp các nước này tiến hành cải cách kinh tế và cải thiện điều kiện xã hội Trên thực tế, phần lớn số tiền này được phục vụ cho các mục đích quân sự, nhất là xây dựng các lực lượng an ninh của các quốc gia Mỹ Latinh Lãnh tụ Cuba Fidel Castro nhận xét rằng “Kế hoạch liên minh vì sự tiến bộ” của chính quyền Mỹ nhằm đẩy lùi làn sóng cách mạng Còn các học giả Mỹ đánh giá rằng kế hoạch này đã trở thành một công cụ để Hoa Kỳ duy trì sự bá quyền ở Tây bán cầu và tiến hành Chiến tranh Lạnh

[119, tr 331-332] Do những chính sách áp đặt của Hoa Kỳ với các nước Mỹ

Latinh, nhiều nước về hình thức là những nước độc lập nhưng lại là những nước lệ thuộc Sự can thiệp của Hoa Kỳ là một trong những nguyên nhân làm bùng phát phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới ở Mỹ Latinh, kéo dài trong vài thập kỷ kể từ sau năm 1945

Như vậy, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ đã can thiệp ở khắp các châu lục, làm cho cuộc Chiến tranh Lạnh ngày càng căng thẳng Ngoài Hoa Kỳ, Liên Xô cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống chính trị quốc tế Là nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, Liên Xô đã chủ động thiết lập hệ thống xã hội chủ nghĩa Đầu tiên là ở Đông Âu Liên Xô

đã tích cực giúp đỡ các nước này phục hồi kinh tế sau chiến tranh thông qua

Trang 31

việc ký kết các hiệp ước hữu nghị và hợp tác Tính đến năm 1952, tổng giá trị

tín dụng đầu tư của Liên Xô ở các nước Đông Âu là 15 tỷ rúp [20, tr 176]

Ngoài ra, Liên Xô còn giúp các nước Đông Âu củng cố chính quyền, xây dựng quân đội, trở thành chỗ dựa về vật chất và tinh thần của các nước này

Để đảm bảo an ninh của các nước Đông Âu và làm đối trọng với khối NATO của các nước Tây Âu dưới sự chi phối của Hoa Kỳ, Liên Xô và các nước Đông Âu đã thành lập tổ chức Hiệp ước Vácsava Như vậy ở châu Âu xuất hiện hai khối quân sự đối đầu lớn nhất thế giới Đây cũng là một biểu hiện của

sự đối đầu Đông - Tây trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh

Ngoài việc trực tiếp giúp đỡ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Liên

Xô công nhận và thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (DCCH), mở rộng phạm vi ảnh hưởng của phe xã hội chủ nghĩa ở châu Á Tuy nhiên từ giữa những năm 50, quan hệ Xô - Trung bắt đầu nảy sinh những bất đồng, gây ra những bất lợi cho phe xã hội chủ nghĩa Cũng như Hoa Kỳ, Liên Xô mở rộng phạm vi ảnh hưởng trên thế giới Trong thập niên 50 và 60, Liên Xô phát triển mối quan hệ hữu nghị với các nước mới giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh Trong số này đáng chú ý là mối quan hệ hữu nghị của Liên Xô với Cuba - một nước ở ngay sát Hoa Kỳ Ngoài sự ủng hộ về chính trị, Liên Xô còn hỗ trợ về kinh tế với nhiều khoản viện trợ không hoàn lại cho các nước

này thông qua các hiệp định hợp tác và thương mại [20, tr 217-218] Những

nỗ lực mở rộng phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô cho thấy tính chất quyết liệt của cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa hai siêu cường Mỹ - Xô trên trường quốc tế

Một đặc điểm nổi bật của tình hình quốc tế từ đầu thập niên 60 là sự ra đời của Phong trào không liên kết (KLK) Trên thực tế, Phong trào KLK bắt nguồn từ phong trào đoàn kết của các nước Á - Phi đang đấu tranh giành độc

Trang 32

lập, với mốc son là Hội nghị Bandung năm 1955 Từ sau thời điểm này, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nhiều nước tiếp tục dâng cao Nhiều nước mới được giải phóng vẫn tiếp tục nêu cao khẩu hiệu độc lập dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc và thực dân Vào lúc này sự đối đầu giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa ngày càng căng thẳng Trong hoàn cảnh đó, nhiều nước đã chọn con đường không liên kết để không bị lôi kéo vào cuộc đối đầu Mỹ - Xô Các nước này đã tập hợp trong một phong trào chung là Phong trào KLK Mục tiêu của Phong trào KLK là “tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại cho hòa bình, độc lập dân tộc và

phát triển” [50, tr 13] Với chủ trương không tham gia các liên minh hay

khối quân sự trong khuôn khổ xung đột giữa các nước lớn, Phong trào KLK trở thành một lực lượng chính trị độc lập Các nước KLK tích cực đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới, chống chạy đua vũ trang, nhất là vũ trang hạt nhân Những vấn đề này luôn nằm trong chương trình nghị sự của các Hội nghị cấp cao Phong trào KLK Vì vậy, Phong trào KLK trở thành một lực lượng chính trị tích cực đấu tranh chống chạy đua vũ trang trong suốt mấy thập kỷ của thời

kỳ Chiến tranh Lạnh

Sự đối đầu Mỹ - Xô và hai khối đứng sau hai siêu cường trở thành tiêu điểm của cuộc Chiến tranh Lạnh Trong cuộc đối đầu này, chạy đua vũ trang đóng vai trò quan trọng Ngoài vũ khí thông thường, cả hai siêu cường đều chú trọng phát triển vũ khí hạt nhân, coi đó là yếu tố để đảm bảo giành chiến thắng về quân sự trước đối phương cũng như để bảo vệ các đồng minh của họ Cuộc chạy đua vũ trang với vũ khí hạt nhân được coi là then chốt đã diễn ra quyết liệt trong khung cảnh của cuộc đối đầu ngày càng tăng giữa hai khối do Hoa Kỳ và Liên Xô đứng đầu Năm 1949 Liên Xô thử thành công bom nguyên tử, phá vỡ thế độc tôn về vũ khí nguyên tử của Mỹ Cũng từ đây, hai siêu cường Mỹ - Xô lao vào cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân để giành ưu thế

Trang 33

về quân sự Từ cuối thập niên 50, Liên Xô đạt được tiến bộ lớn về kỹ thuật chế tạo vũ khí hạt nhân, từng bước làm thay đổi cán cân lực lượng hạt nhân của Liên Xô so với Hoa Kỳ Hơn nữa, cả Hoa Kỳ và Liên Xô cùng có khả năng chế tạo các loại vũ khí hạt nhân chiến lược quan trọng như tên lửa đạn đạo xuyên lục địa mang đầu đạn hạt nhân và máy bay ném bom hạt nhân tầm

xa Tuy nhiên, ở giai đoạn này Hoa Kỳ vẫn chiếm ưu thế về chủng loại và số lượng Ngoài ra, Hoa Kỳ hơn hẳn Liên Xô về các loại tầu ngầm nguyên tử và tầu sân bay Sự chênh lệch lớn về lực lượng vũ khí hạt nhân là một nguyên nhân quan trọng thúc đẩy cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường

Đáng lưu ý là ngoài việc chạy đua chế tạo vũ khí hạt nhân, Hoa Kỳ tăng cường triển khai các loại vũ khí hạt nhân cho các đồng minh của Mỹ Từ năm

1948, Hoa Kỳ triển khai máy bay ném bom tầm trung B-29 ở Anh Trong thời gian từ năm 1954 đến 1958, Hoa Kỳ lắp đặt các loại tên lửa Upiter, Top và Matador ở Tây Đức, Anh, Italia và Thổ Nhĩ Kỳ Những tên lửa này nhằm vào các mục tiêu ở Liên Xô và các nước Đông Âu, tạo ra một vòng vây hạt nhân đối với các nước thuộc khối Xô viết Thực tế này chính là một trong những tiền đề quan trọng của cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 Trong sự kiện này, Liên Xô đã triển khai tên lửa mang đầu đạn hạt nhân ở Cuba để làm đối trọng với sự bao vây hạt nhân của Hoa Kỳ và các nước NATO

Để đối phó với sự bao vây hạt nhân của khối NATO và xóa bỏ sự mất cân đối về lực lượng vũ khí hạt nhân so với Hoa Kỳ, Liên Xô đẩy mạnh cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân Đặc biệt, Liên Xô đạt được những tiến bộ lớn trong một thời gian ngắn về kỹ thuật chế tạo tên lửa đạn đạo xuyên lục địa và trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ Tháng 8-1957, Liên Xô đã phóng thử thành công tên lửa xuyên lục địa với tầm bắn 5.000km Điều này làm tăng khả năng tấn công của Liên Xô vào các mục tiêu trong phạm vi xa hơn Tháng 10-1957, Liên Xô đã phóng thử thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên mang tên Sputnik

Trang 34

vào quỹ đạo trái đất Trong khi đó phải đến tháng 2-1958 Hoa Kỳ mới làm được điều này Như vậy, Liên Xô đã đi trước một bước trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ Trong thập niên 60, Liên Xô tiếp tục phát triển vũ khí hạt nhân tiến công thế hệ thứ hai Đáng lưu ý là các loại vũ khí hạt nhân thế hệ mới của

cả Hoa Kỳ và Liên Xô lúc này mạnh gấp nhiều lần hai quả bom nguyên tử mà Hoa Kỳ đã ném xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản năm 1945 Như vậy lúc này sự nguy hiểm của vũ khí hạt nhân không những

do sự tăng lên về số lượng mà còn do mức độ tàn phá khủng khiếp gấp nhiều lần của nó Đồng thời những tiến bộ nhanh chóng về kỹ thuật vũ khí hạt nhân

và nghiên cứu vũ trụ của Liên Xô cũng là một nguyên nhân làm cho cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu cường Mỹ - Xô thêm quyết liệt

Cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân trong thập niên 50 và đầu thập niên 60 góp phần làm cho cuộc Chiến tranh Lạnh ngày càng căng thẳng Trong giai đoạn này, cuộc chạy đua chủ yếu diễn ra giữa Hoa Kỳ và Liên Xô Ngoài ra, Anh, Pháp và Trung Quốc cũng bắt đầu tham gia vào cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân nhưng mức độ thành công khác nhau

Bảng 1.1 Bước đầu của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân Mỹ - Xô

Bom nguyên tử:

- 1945: chế tạo thành công bom nguyên tử

đầu tiên trên thế giới

- 1-1950: nghiên cứu và chế tạo thử bom H

(bom khinh khí) với sức công phá từ 100 đến

1.000 lần các quả bom đã ném xuống Nhật

- 8-1953: chế tạo thành công bom

H, phá vỡ thế độc quyền của Mỹ

về loại vũ khí này

- 11-1955: thử nghiệm thành công bom H có sức công phá tương đương một triệu tấn thuốc

nổ TNT

Trang 35

Máy bay ném bom:

- 10-1956: chế tạo thành công máy bay “Chim

ưng nhà trời”, có khả năng mang 3.000 kg

bom thông thường hoặc bom nguyên tử, tầm

hoạt động 3.380 km

Tầu ngầm, tầu sân bay:

- 6-1952: chế tạo thành công tầu ngầm

nguyên tử lớn nhất thế giới (tầu Nautilus)

chạy bằng năng lượng nguyên tử

- 4-1956: hạ thủy hàng không mẫu hạm

Saragota, chạy bằng năng lượng nguyên tử

lớn nhất thế giới; 11-1960: hạ thủy tầu ngầm

nguyên tử Ethan Allen, được trang bị 16 tên

lửa mang đầu đạn hạt nhân, tầm bắn 2.400km;

10-1961: hạ thủy tàu sân bay Constellation,

tàu được trang bị 40 quả tên lửa Terrior

Máy bay ném bom:

- 7-1949: chế tạo thành công máy bay tiêm kích MiG-15, có vận tốc tối đa 1.072 km/giờ, tầm hoạt động 800 km

- 1955: chế tạo thành công máy bay ném bom chiến lược TU-16,

có thể mang 2 quả bom nguyên

tử và hơn 9 tấn bom thông thường

- 1956: chế tạo thành công máy bay ném bom chiến lược TU-20,

có thể mang 4 quả bom H và hơn

20 tấn bom thông thường, tốc độ tối đa gần 1.000 km/giờ, phạm vi hoạt động tối đa 1.300 km

Tên lửa:

- 4-1957: chế tạo thành công tên lửa mang

đầu đạn hạt nhân Hercule, 12-1957: phóng

thử thành công tên lửa xuyên lục địa Atlas

- 2-1960: phóng thử thành công tên lửa xuyên

lục địa Minuteman I, tầm bắn trên 5.500 km

- 7-1962: chính thức trang bị tên lửa đạn đạo

Titan II và tên lửa Minuteman cho quân đội

Tên lửa:

- 26-8-1957: phóng thử thành công tên lửa xuyên lục địa, tầm bắn 5.000 km, vận tốc 22.000 km/giờ

- 1957: chính thức đưa tên lửa đất đối không SAM-2 vào trang bị cho quân đội

Vệ tinh:

- 1-2-1958: phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên

mang tên Explorer vào quỹ đạo trái đất

Vệ tinh:

- 4-10-1957: phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên mang tên Sputnik vào quỹ đạo trái đất

Nguồn: [55]

Khi Hoa Kỳ tiến hành Dự án Manhattan chế tạo bom nguyên tử năm

1942, Anh được Hoa Kỳ chia sẻ thông tin về dự án và một số nhà khoa học Anh được mời tham gia nghiên cứu trong dự án này Tuy nhiên, phải đến năm

1953 Anh mới chế tạo được vũ khí hạt nhân đầu tiên Anh trở thành nước thứ

ba sở hữu vũ khí hạt nhân, sau Hoa Kỳ và Liên Xô Pháp cũng là nước nắm được kỹ thuật hạt nhân khá sớm và cũng tăng cường nghiên cứu và chế tạo vũ khí hạt nhân Ngày 13-2-1960, lần đầu tiên Pháp thử bom nguyên tử tại tây nam Rigan thuộc sa mạc Sahara, châu Phi Quả bom có sức công phá từ 60

Trang 36

đến 70 kilôtôn, mạnh gấp ba lần so với các quả bom đầu tiên của Anh và Mỹ Sau vụ thử này, Tổng thống Pháp Charles De Gaulle ra lệnh cho các nhà khoa học tiếp tục phát triển “Chương trình bom A” bất chấp sự phản đối của Hoa

Kỳ và Liên hợp quốc Tuy nhiên, phải đến năm 1964 Pháp mới chế tạo được

vũ khí hạt nhân hoàn chỉnh đầu tiên, trở thành cường quốc hạt nhân thứ tư trên thế giới sau Hoa Kỳ, Liên Xô, và Anh Như vậy, việc Anh và Pháp tham gia vào cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân cho thấy mặc dù hai nước là đồng minh của Hoa Kỳ nhưng họ vẫn muốn có vũ khí hạt nhân của riêng mình Điều này chứng tỏ Anh và Pháp muốn độc lập hơn với Hoa Kỳ trong vấn đề phòng thủ, không muốn bị lệ thuộc hoàn toàn vào “cái ô” hạt nhân của Hoa

Kỳ Hơn nữa, ở mức độ nhất định, khi Anh và Pháp có vũ khí hạt nhân họ sẽ

có thêm điều kiện để mặc cả với Hoa Kỳ và những đối thủ khác trong một số vấn đề thuộc quan hệ song phương của họ với Hoa Kỳ và với những nước đó

Bảng 1.2 Số lượng vũ khí hạt nhân trên thế giới (1945-1962)

độ của cuộc chạy đua giữa hai nước rất nhanh và số lượng vũ khí hạt nhân của hai nước liên tục tăng Liên Xô đã đạt được nhiều tiến bộ trong một thời gian ngắn nhưng tương quan lực lượng vũ khí hạt nhân của Liên Xô so với Hoa Kỳ vẫn còn chênh lệch lớn Ngoài ra, số lượng vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ và

Trang 37

Liên Xô bỏ xa số lượng vũ khí hạt nhân của Anh Thực tế này càng làm cho cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân giữa Hoa Kỳ và Liên Xô nói riêng và giữa các cường quốc hạt nhân nói chung thêm quyết liệt

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA MỸ VỀ KIỂM SOÁT VŨ KHÍ HẠT NHÂN 1.2.1 Những kiến nghị của người Mỹ về vấn đề vũ khí hạt nhân

Ngay sau khi Hoa Kỳ sản xuất được quả bom nguyên tử đầu tiên, các nhà khoa học Mỹ - những người trực tiếp tham gia sản xuất quả bom này - đã cảnh báo chính quyền Truman về sự nguy hiểm của năng lượng nguyên tử và

về khả năng của một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân trong tương lai Kiến nghị sớm nhất của người Mỹ về vấn đề kiểm soát vũ khí hạt nhân là kiến nghị của một nhóm các nhà khoa học tham gia nghiên cứu và chế tạo bom nguyên

tử ở các phòng thí nghiệm ở Chicago trong một ủy ban do Jerome Frank đứng đầu Ngày 11-6-1945, Ủy ban Frank đã gửi kiến nghị lên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Henry L Stimson đề nghị chính quyền Mỹ cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản Đồng thời, họ nêu bật tầm quan trọng của việc đạt được một hiệp định quốc tế, đặc biệt là với Liên Xô,

để ngăn ngừa chiến tranh hạt nhân Bản kiến nghị cho rằng điều kiện tốt nhất cho việc đạt được một hiệp định quốc tế là Hoa Kỳ tuyên bố với thế giới rằng:

“Các bạn đã biết thứ vũ khí mà chúng tôi (Hoa Kỳ) có nhưng chúng tôi không

sử dụng nó Chúng tôi sẵn sàng không dùng nó trong tương lai và tham gia cùng với các nước khác trong việc đạt được một sự giám sát đầy đủ về việc sử

dụng loại vũ khí này” [118, tr 241-242]

Trong một văn kiện của Bộ Quốc phòng Mỹ đề ngày 26-6-1945 cho biết các nhà khoa học nguyên tử Mỹ đã khuyến nghị chính phủ Mỹ không sử dụng quả bom nguyên tử mới chế tạo để “chống lại bất cứ nước thù địch nào trong

Trang 38

lúc này” Theo họ, nếu chính quyền Mỹ cố tình sử dụng bom nguyên tử sẽ có thể “làm mất đi tư cách đạo đức” của nước Mỹ và sẽ “gây khó khăn cho vai trò lãnh đạo” của Hoa Kỳ trong việc thiết lập và điều hành “một hệ thống kiểm soát quốc tế đối với việc duy trì hòa bình thế giới” Họ cũng khuyến nghị cần thiết lập một cơ chế kiểm soát quốc tế có hiệu quả đối với vấn đề năng lượng hạt nhân và cần phải có sự tham gia của người Nga vào cơ chế

này [140, tr 64-66] Ngày 17-7-1945, nhóm các nhà khoa học ở Chicago gửi

thư cho Tổng thống Truman Trong thư, họ không tán thành việc dùng quả bom mới chế tạo để chống lại Nhật Bản và đề nghị chính quyền Truman không được sử dụng bom nguyên tử trong chiến tranh Họ cũng cho rằng nước Mỹ giờ đây giữ độc quyền về vũ khí nguyên tử thì cũng phải có trách

nhiệm ngăn ngừa việc sử dụng loại vũ khí này trong tương lai [140, tr 67] Như vậy, chính các nhà khoa học nguyên tử Mỹ là những người đầu tiên

66-đề xuất vấn 66-đề kiểm soát vũ khí hạt nhân và ngăn ngừa một cuộc chiến tranh hạt nhân trên thế giới

Sau khi Liên Xô thử thành công quả bom nguyên tử đầu tiên tháng

7-1949, chính quyền Truman đẩy mạnh kế hoạch nghiên cứu và chế tạo bom nhiệt hạch và bom hyđrô Đây là những loại vũ khí hạt nhân mạnh hơn nhiều lần hai quả bom nguyên tử mà Hoa Kỳ đã ném xuống Nhật Bản năm 1945

Kế hoạch của chính quyền Truman đã vấp phải sự phản đối của các nhà khoa học nguyên tử Mỹ Julins Robert Oppenheimer, cha đẻ của quả bom nguyên

tử đầu tiên của Mỹ, là một trong số các nhà khoa học này Ngày 30-10-1949, Oppenheimer với tư cách là Chủ tịch Ủy ban tư vấn nguyên tử của Mỹ đã cùng với các đồng nghiệp của mình gửi báo cáo cho Ủy ban năng lượng nguyên tử Mỹ Trong bản báo cáo, các nhà khoa học đã cảnh báo về khả năng tàn phá của bom H mạnh từ 20 đến 100 lần so với bom nguyên tử thông thường Bản báo cáo cho rằng “việc sử dụng loại vũ khí này (bom H) sẽ đưa

Trang 39

đến sự giết hại số lượng lớn sinh mạng con người Thứ vũ khí này không chỉ hủy diệt các mục tiêu quân sự và bán quân sự mà còn hơn cả bom nguyên tử

là tiêu diệt tất cả dân thường” Vì thế họ gọi loại vũ khí này là “mối đe dọa đối với tương lai của loài người” và là “thứ vũ khí diệt chủng” Do tính chất hủy diệt ghê gớm của bom H, Oppenheimer và các đồng nghiệp của ông khuyến nghị chính phủ Mỹ đàm phán với Liên Xô để không phát triển loại vũ khí này Họ cho rằng trong trường hợp không đạt được sự nhất trí của Liên

Xô, Hoa Kỳ vẫn có đủ bom nguyên tử để đối phó với Liên Xô mà không cần

phải phát triển bom H [140, tr 124-127] Một nhà khoa học khác là Hans

Bethe, một trong những người tham gia nghiên cứu về bom H từ năm 1942, ủng hộ mạnh mẽ cho quan điểm đàm phán với Liên Xô về việc không phát triển bom H Bethe cho rằng chính phủ Mỹ nên tuyên bố trước về việc không phát triển bom H mặc dù Hoa Kỳ đang là nước đi đầu trong lĩnh vực vũ khí nguyên tử cả về chất lượng và số lượng Bethe tin rằng nếu chính quyền Mỹ tuyên bố không sản xuất bom H thì nhất định Liên Xô sẽ làm theo Theo quan điểm của Bethe, việc phát triển bom H là một thảm họa và việc đạt được một hiệp định với Liên Xô về vấn đề bom H quan trọng hơn là sản xuất loại vũ khí

này [140, tr 139-140]

Những kiến nghị của các nhà khoa học nguyên tử Mỹ đã bị Tổng thống Truman bác bỏ Hơn nữa, chính quyền Truman đã tìm cách chống lại những nhà khoa học kiên quyết phản đối việc chế tạo bom H Vụ xét xử nhà bác học Oppenheimer đầu những năm 50 là một trường hợp điển hình Sự phản đối bom H đã làm cho Oppenheimer bị chính quyền Truman buộc tội là dính líu với các tổ chức cánh tả, trong đó có Đảng Cộng sản Mỹ Ông cũng bị buộc tội che giấu vụ gián điệp Liên Xô tìm kiếm kỹ thuật nguyên tử của Mỹ năm

1943, tội trì hoãn dự án chế tạo bom H và những tội khác [140, tr 145-146]

Với những lời buộc tội này, chính quyền Truman đã từ chối đảm bảo an ninh

Trang 40

cho Oppenheimer, sa thải ông khỏi Ủy ban năng lượng nguyên tử Mỹ và không cho phép ông tiếp cận với công việc nghiên cứu và chế tạo vũ khí hạt nhân Việc chính quyền Truman xét xử Oppenheimer đã gây ra sự phản đối lớn trong công luận Mỹ Nhiều đồng nghiệp của Oppenheimer đã ủng hộ ông, bào chữa cho ông và phản đối những quyết định của chính quyền Truman đối với Oppenheimer Tuy nhiên, những cố gắng của họ đều không có kết quả

Vụ Oppenheimer cho thấy bất chấp tài năng và những đóng góp to lớn của ông đối với việc nghiên cứu năng lượng nguyên tử, chính quyền Truman đã loại bỏ ông khi ông trở thành vật cản đối với chính sách hạt nhân của họ Sự bác bỏ những kiến nghị và cảnh báo của các nhà khoa học nguyên tử chứng tỏ chính quyền Mỹ quyết tâm theo đuổi cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân

Đối với quan điểm của quan chức Mỹ về vấn đề vũ khí hạt nhân, đáng chú ý là quan điểm của Henry L Stimson, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dưới chính quyền Truman Không lâu sau sự kiện Hoa Kỳ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản, ngày 11-9-1945 Stimson gửi thư cho Tổng thống Truman bày tỏ quan điểm về vấn đề vũ khí nguyên tử Trong thư, Stimson viết rằng việc Hoa Kỳ sử dụng bom nguyên tử trong chiến tranh “đã có tác động lớn tới các vấn đề chính trị của thế giới” Stimson tin rằng việc Hoa Kỳ sử dụng bom nguyên tử không gây được áp lực với Liên Xô trong việc thay đổi chính sách của nước này Trái lại, các nhà lãnh đạo chính trị và quân sự Liên Xô càng quyết tâm “có được loại vũ khí nguyên tử trong thời gian ngắn nhất” và hơn thế nữa, một cuộc chạy đua vũ trang tuy lặng lẽ diễn ra nhưng chắc chắn là

“quyết liệt” Chính vì vậy, Stimson cho rằng vấn đề bom nguyên tử sẽ là một vấn đề trọng yếu trong quan hệ Mỹ - Xô thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai Với quan điểm đó, Stimson đề nghị chính quyền Truman cùng với Anh, nước hợp tác với Hoa Kỳ trong việc nghiên cứu và sản xuất bom nguyên tử, cần đàm phán ngay với Liên Xô về việc “kiểm soát và hạn chế sử dụng bom

Ngày đăng: 22/09/2020, 00:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w